VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 160Quyển 162 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 161

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

味相應初靜慮。入當言味耶。出當言味耶。
乃至廣說。問何故作此論。答欲令疑者得
決定故。謂品類足說。初靜慮云何。答初靜慮
所攝善色受想行識。乃至第四靜慮云何。答
第四靜慮所攝善色受想行識。勿令生如
是疑靜慮唯善。欲顯靜慮非唯是善故作
斯論。以靜慮通善染無覆無記故味相應。
初靜慮入當言味耶。出當言味耶。答於能
味當言入。於所味當言出。乃至味相應
非想非非想處。入當言味耶。出當言味耶。

答於能味當言入。於所味當言出。此中
愛名為味三摩地。名初靜慮等即愛相應。諸
三摩地名味相應靜慮無色。問何故但說與
愛相應非餘煩惱。答是作論者意欲爾故。
乃至廣說。有說。亦應說餘煩惱。謂應說有
身見相應初靜慮。入當言取我我所耶。出
當言取我我所耶。答於能取當言入。於
所取當言出。廣說乃至無明相應初靜慮入
當言愚耶。出當言愚耶。答於能愚當言
入。於所愚當言出。乃至非想非非想處說
亦如是。而不作是說者應知此義有餘。有
說。此中舉愛為門。令知餘煩惱亦爾。有
說。此中說相似者。謂愛與定相似非餘煩
惱。所以者何。定於所緣流注相續愛亦如
是。復次定於所緣審諦而取愛亦如是。復
次定於所緣繫心不離。愛亦如是。復次定
於所緣攝受而轉愛亦如是。復次定能長
益諸根大種。愛亦如是。諸餘煩惱無此相
故不說相應。問味是愛非靜慮等不應言
入。以於定有入言故。靜慮等是定非愛。
不應言味。以於愛有味言故。何故二法更
互得名。答由此二法展轉相應更互受名
斯有何過。謂定愛相應故亦可名味。愛定
相應故。亦可言入。此中入出者入出有五
種。一地。二行相。三所緣。四異類心。五剎那。
地入出者。謂初靜慮等無間第二靜慮現在
前時。名入第二靜慮。出初靜慮乃至無所有
處。等無間非想非非想處現在前時。名入非
想非非想處。出無所有處。如順次入出。如

是逆次入出及順逆超入出亦爾。行相入出
者。謂無常行相等無間。苦行相現在前時。名
入苦行相。出無常行相。餘行相亦爾。所緣入
出者。謂緣色定等無間。緣受定現在前時。名
入緣受定。出緣色定緣。餘定亦爾。異類心入
出者。謂欲界心等無間。色界或不繫心現在
前時。名入色界或不繫心。出欲界心。色界心
等說亦爾。如欲界等心。學等心亦如是。餘
善等心隨應亦爾。剎那入出者。謂初剎那等
無間第二剎那現在前時。名入第二剎那。出
初剎那。餘剎那亦爾。於五入出中此依剎
那入出而作論。於能味當言入。於所味
當言出者。有作是說。此中說味相應定。流
注相續現在前時。皆以前剎那為所味是
所緣故。後剎那為能味是能緣故。於能味
當言入者。謂後後剎那。味相應靜慮無色現
在前時。名於能味已入。於已起位方成能
味故。於所味當言出者。謂前前剎那味相
應靜慮無色。已謝滅時名於所味。已出於
已滅位方成所味故。問愛相應定能緣三
世。何故唯說緣過去耶。有說。此依多分
而說。謂有情類法爾。多緣曾所受順境生
愛味故。有說。過去定於相續中已作饒益。
現在定從彼而起追戀生愛。有說。此中依
入出定而為問答。未來定未名入出。現在
定名入未名出。過去定名入已出。今欲顯
於已出位生味故。但說緣過去。有餘師
說。此中說淨定無間起味相應定。淨定為所
味是所緣故。味相應定是能味是能緣故。餘

如前說。評曰。應知初說為善。此中入出皆
依味定而作論故。諸味相應初靜慮皆有覆
無記耶。乃至廣說。問何故作此論。答前文唯
說愛相應定。今欲顯定亦與餘煩惱相應
故作斯論。諸味相應初靜慮皆有覆無記耶。
設有覆無記初靜慮皆味相應耶。答諸味相
應初靜慮皆有覆無記。有有覆無記初靜慮。
非味相應。謂除愛餘煩惱現前。乃至諸味相
應。非想非非想處皆有覆無記耶。設有覆無
記非想非非想處。皆味相應耶。答諸味相應
非想非非想處。皆有覆無記。有有覆無記。非
想非非想處非味相應。謂除愛餘煩惱現前。
此中味相應靜慮無色。皆有覆無記者。能障
聖道及聖道加行故名有覆。不招異熟果
故名無記。餘煩惱者。謂見疑慢無明。此諸煩
惱與不染污靜慮無色。展轉相續而現在前。
令瑜伽師名愛上靜慮。見上靜慮。疑上靜
慮。慢上靜慮者。亦有餘纏隨煩惱垢共相應
義。煩惱勝故但說煩惱。頗有不入初靜慮。
入第二靜慮耶。答入。乃至頗有不入無所
有處。入非想非非想處耶。答入。問何故作
此論。答欲令疑者得決定故。如品類足說。
初者謂次第隨順。相續連合中數為初故。復
次次第隨順。相續連合入諸定時此最初故。
諸契經中亦說九次第定。或有生如是疑。
若不入初靜慮等。便不能入第二靜慮等。
今欲令彼生決定解。不入初靜慮等。亦能
入第二靜慮等故作斯論。頗有不入初靜
慮。入第二靜慮耶。答入。云何入。謂從未至

定。或靜慮中間。或第二靜慮近分。或第二靜
慮。或第三靜慮近分。或第三靜慮。或第四靜
慮等無間第二靜慮現在前。此中有說。欲界
善心等無間。唯能入未至定。有說。亦能入
初靜慮。有說。亦能入靜慮中間。尊者僧伽
伐蘇說曰。亦能入第二靜慮如超定者。從
初靜慮等無間。超第二靜慮。入第三靜慮。
如是亦應從欲界善心等無間。超初靜慮
入第二靜慮此不應理。欲界善心非定心
故。不可得說與諸定心同其勢力。頗有
不入第二靜慮。入第三靜慮耶。答入。云何
入謂從初靜慮。或第三靜慮近分。或第三
靜慮。或第四靜慮近分。或第四靜慮。或空無
邊處。有說。亦從第二靜慮近分等無間。第
三靜慮現在前。頗有不入第三靜慮入第
四靜慮耶。答入。云何入。謂從第二靜慮。或
第四靜慮近分。或第四靜慮。或空無邊處近
分。或空無邊處。或識無邊處。有說。亦從第
三靜慮近分等無間。第四靜慮現在前。如是
乃至頗有不入無所有處入非想非非想
處耶。答入。云何入。謂從識無邊處。或非想
非非想處近分。或非想非非想處。有說。亦
從無所有處近分等無間。非想非非想處現
在前。此中遮剎那。不遮相續。不遮分位。
不遮眾同分。不遮無始時來。謂入此定前
剎那。不入彼定。非餘剎那亦不曾入故。
相續等於此不遮。由斯理趣應知。亦有遮
二遮三乃至遮七。謂頗有不入初第二靜
慮入第三靜慮耶。答入。謂依未至定離欲

界。乃至第二靜慮染。命終生第三靜慮。或
從上地歿生第三靜慮。即於彼第三靜慮
現在前。乃至頗有不入四靜慮下三無色。
入非想非非想處耶。答入。謂依未至定離
欲界。乃至無所有處染。命終生非想非非想
處。即於彼非想非非想處定現在前。此依
遮剎那乃至遮眾同分。不遮無始時來。說
其有亦不遮眾同分。或亦不遮分位。義亦
無違應准前說。
頗有不入初靜慮。生梵世耶。答生。乃至頗
有不入非想非非想處。生非想非非想處
耶。答生。問何故作此論。答欲令疑者得
決定故。如契經說。先此入定後生彼中。乃
至廣說。或有生疑。要入彼定方得生彼。
欲令此疑得決定故。顯雖不入彼定亦
得生彼故作斯論。問若爾經說當云何通。
答有諸有情先入彼定。後生彼中。有諸有
情不入彼定而亦生彼。契經說入定生彼
者。阿毘達磨說不入定生彼者。如是則二
說善通。問若不入彼定亦得生彼。何故世
尊唯說入定生彼處耶。答有諸外道。謂梵
天等非修定得故。世尊說先此入定後方生
彼。令決定信果由因得。復次有諸有情
耽著現在少分欲樂。不樂當來離欲勝果。
世尊為彼毀呰欲樂讚離欲果。彼有情聞
已忻樂請說所因故。佛為說先入彼定後
生彼處。復次有諸有情。聞說上界離欲勝
果不生信解。佛意欲顯若能入彼根本定
時現受勝樂。令知彼果更為勝妙故。佛為

說先此入定後生彼中。復次有瑜伽師能
入彼定。雖樂生彼。而不現入故。佛為說
先此入定後方生彼。復次有瑜伽師。雖厭
欲界苦求離欲樂。而於離欲法懈怠不修
故。佛為說先此入定後生彼處。頗有不入
初靜慮生梵世耶。答生。云何生。謂依未至
定離欲界染。最後解脫道。及後時不入初
靜慮彼若未離初靜慮染命終。必當生於
梵世。或上地歿生彼天中。問不起彼定云
何生彼無異熟因故。答順後次受業為異
熟因故得生彼。頗有不入第二靜慮。生
極光淨耶。答生。云何生。謂依未至初靜慮。
靜慮中間。第二靜慮近分隨一。離初靜慮染。
不入第二靜慮。彼若未離第二靜慮染命
終。必當生極光淨。或上地歿生彼天中。頗
有不入第三靜慮。生遍淨耶。答生。云何
生。謂依未至初靜慮。靜慮中間。第二靜慮。
第三靜慮近分隨一。離第二靜慮染。不入
第三靜慮。彼若未離第三靜慮染命終。必
當生於遍淨。或上地歿生彼天中。如是乃
至頗有不入非想非非想處。生非想非非
想處耶。答生。云何生。謂依未至定乃至無
所有處隨一。離無所有處染。未離上染。不
入非想非非想處命終。必生非想非非想
處。此中遮剎那。遮相續。遮分位。遮眾同
分。不遮無始時來。
若得初靜慮非第二靜慮。彼命終生何處。
乃至廣說。問何故作此論。答欲令疑者得
決定故。如世尊說苾芻當知。我說依初靜

慮能盡諸漏。依第二靜慮。乃至無所有處
能盡諸漏。勿有生疑唯依根本定能盡
諸漏非未至等。為令此疑得決定故。顯
依九地皆能盡漏。謂七根本未至中間餘近
分地。雖不能盡而亦能斷故作斯論。然得
有二種。一現前得。二成就得。此中依現前
得而作論。若得初靜慮非第二靜慮彼命
終生何處。答或梵世。或極光淨。或遍淨。或
廣果。或空無邊處。或識無邊處。或無所有
處。或非想非非想處。或無處。所謂現前得初
靜慮。非第二靜慮者。決定已離欲界染而
上地不定。於中若未離初靜慮染。彼命終
生梵世。若依未至定。或初靜慮。或靜慮中
間或第二靜慮近分隨一。離初靜慮染最後
解脫道。及後時不入第二靜慮。未離第二
靜慮染。彼命終生極光淨。即彼若依未至。
初靜慮。靜慮中間隨一。離第二靜慮染。未
離上染彼命終生遍淨。若即依前三地隨
一。離第三靜慮染。未離上染彼命終生廣
果。如是乃至若即依前三地隨一。離非想
非非想處染。彼命終無生處。已離三界染
故。若得第二靜慮。非第三靜慮。彼命終生
何處。答或極光淨。或遍淨。乃至或非想非非
想處。或無處。所謂現前得第二靜慮。非第
三靜慮者。決定已離初靜慮染。而上地不
定。於中若未離第二靜慮染。彼命終生極
光淨。若依未至。初靜慮。靜慮中間。第二靜
慮。第三靜慮近分隨一。離第二靜慮染。不
入第三靜慮。未離第三靜慮染。彼命終生

遍淨。即彼若依未至。初靜慮。靜慮中間。第
二靜慮隨一。離第三靜慮染。未離上染。彼
命終生廣果。若即依前四地隨一。離第四
靜慮染。未離上染彼命終生空無邊處。如
是乃至。若即依前四地隨一。離非想非非
想處染。彼命終無生處。若得第三靜慮。非
第四靜慮。彼命終生何處。答或遍淨。或廣
果。乃至或非想非非想處。或無處。所謂現前
得第三靜慮。非第四靜慮者。決定已離第
二靜慮染。而上地不定。於中若未離第三
靜慮染。彼命終生遍淨。若依未至定。乃至
第三靜慮隨一離第三靜慮染。未離上染。
彼命終生廣果。若即依前五地隨一。離第
四靜慮染。未離上染。彼命終生空無邊處。
如是乃至若即依前五地隨一。離非想非非
想處染。彼命終無生處。若得第四靜慮。非
空無邊處。彼命終生何處。答或廣果。乃至或
非想非非想處。或無處。所謂現前得第四靜
慮。非空無邊處者。決定已離第三靜慮染。
而上地不定。於中若未離第四靜慮染。彼
命終生廣果。若依未至定。乃至第四靜慮隨
一。離第四靜慮染。未離上染。彼命終生空
無邊處。若即依前六地隨一。離空無邊處
染。未離上染。彼命終生識無邊處。如是乃
至若即依前六地隨一。離非想非非想處染。
彼命終無生處。若得空無邊處。非識無邊
處彼命終生何處。答或空無邊處。乃至或無
處。所謂現前得空無邊處。非識無邊處者。
決定已離第四靜慮染。而上地不定。於中若

未離空無邊處染。彼命終生空無邊處。若
依未至定。乃至空無邊處隨一。離空無邊處
染。未離上染。彼命終生識無邊處。如是乃
至若即依前七地隨一。離非想非非想處染。
彼命終無生處。若得識無邊處。非無所有
處。彼命終生何處。答或識無邊處。乃至或無
處。所謂現前得識無邊處。非無所有處者。
決定已離空無邊處染。而上地不定。於中若
未離識無邊處染。彼命終生識無邊處。若
依未至定。乃至識無邊處隨一。離識無邊處
染。未離上染。彼命終生無所有處。如是乃
至若即依前八地隨一。離非想非非想處染。
彼命終無生處。若得無所有處。非非想非
非想處。彼命終生何處。答或無所有處。乃至
或無處。所謂現前得無所有處。非非想非
非想處者。決定已離識無邊處染。而上地不
定。於中若未離無所有處染。彼命終生無
所有處若依未至定。乃至無所有處隨一。
離無所有處染。未離上染。彼命終生非想
非非想處。若即依前九地隨一。離非想非非
想處染。彼命終無生處。由斯理趣應知亦
有得二得三乃至得七。遮亦如是。答理無
異故不具說。問若得欲界善心。非初靜慮。
此中何故不問。彼命終生何處耶。有說。亦
應說若得欲界善心。非初靜慮彼命終生
何處。答或欲界。或梵世。乃至或非想非非想
處。或無處所。謂現前得欲界善心。非初靜
慮者。彼決定在欲界而離染不定。謂彼若未
離欲界染。命終還生欲界。若依未至定離

欲界染。最後解脫道。及後時不入初靜慮。
未離初靜慮染。彼命終生梵世。即彼若依
未至定。離初靜慮染。未離上染。彼命終生
極光淨。乃至若依未至定。離無所有處染。
未離上染。彼命終生非想非非想處。若依
未至定。離非想非非想處染。彼命終無生
處應作是說。而不說者當知此義有餘。
有說。彼不應問答欲界。以此是定蘊。正
問答定及定果。欲界非定非定果是故不說。
問得初靜慮非第二靜慮等。彼命終亦生
欲界等。此中何故不說。有說。亦應說彼生
一切下地。而不說者當知此義有餘。有說
此是定蘊正顯生定地。若說生下則有生
欲界不定地過是故不說。有說。此中說得
諸定而死生者。諸生下者退捨諸定是以不
說。問諸生上者於命終時。亦捨諸定何故
則說。答諸生上者雖有所捨猶名勝進。況
有所得。諸生下者雖有所得尚名退墮。況
有所捨。今是定蘊正顯勝進是故不說。問
契經但說依初靜慮乃至無所有處能盡諸
漏。云何知有靜慮中間。及未至定依之盡
漏。答世尊。說有三三摩地能盡諸漏。謂有
尋有伺無尋唯伺無尋無伺。餘經又說。初靜
慮名有尋有伺。第二靜慮以上名無尋無伺。
若無靜慮中間更說何等名無尋唯伺。由
此知有靜慮中間依之盡漏。又契經說佛
告苾芻。我不唯說依離欲惡不善法有尋
有伺。離生喜樂初靜慮具足住等能盡諸
漏。然由慧見亦能盡漏。此經則顯有未至

定依之盡漏。又未離欲染聖者。未得靜
慮而見聖諦。若無未至定依何得起聖
道永斷諸漏。由此故知有未至定依之盡
漏。問何不即說初靜慮等能盡諸漏而說
依耶。有說。靜慮有先曾得。若世尊說初靜
慮等能盡諸漏。則無知者。謂得靜慮皆已
盡漏。是故佛說依靜慮等。起無漏道方能
盡漏。有說。諸定唯是奢摩他要毘鉢舍那
方能盡漏。故說依定應須起慧。有說。諸
定多是曾得勿有戀著不欲進修。故說依
之進求勝道不應生著。問如契經說。非想
非非想處俱行修念等覺支。餘經復說。乃至
想定能正通達能辯聖旨。前經亦說依初靜
慮。乃至無所有處能盡諸漏。如是二說豈
不相違。答初經說能引發。後二經說即依
彼。又初經說方便。後二經說成滿。問若爾
何故說俱行耶。答於前後義俱聲亦轉。如
世尊說。曼馱多王起此想俱即便墮落。又經
復說起此想俱。彼諸有情即便殞歿。又餘經
說。毘摩質多羅王。起此心俱尋見自身被
五繫繫。此皆前後而說俱聲。修覺支經應知
亦爾。問若法初靜慮為因。彼法是初靜慮果
耶。設法是初靜慮果。彼法初靜慮為因耶。答
諸法初靜慮為因。彼法是初靜慮果。有法
是初靜慮果。彼法非初靜慮為因。謂三界結
斷。及初靜慮果。欲界通果心品。乃至第四靜
慮亦應作此問答。於無色定唯應說結斷。
問諸捨初靜慮地心。得第二靜慮地心。皆初
靜慮地心滅。第二靜慮地心起耶。答應作四

句。第一句者。謂依未至定。或靜慮中間。或
第二靜慮近分。離梵世染。不入根本地。爾
時捨初靜慮地染污心。得第二靜慮地不染
污心。而非彼滅此起。第二句者。謂非離染
次第入定時。第三句者。謂初靜慮歿生第二
靜慮時。第四句者。謂除前相。問諸捨第二
靜慮地心。得初靜慮地心。皆第二靜慮地心
滅。初靜慮地心起耶。答應作四句。第一句
者。謂起欲界纏退第二靜慮時。第二句者。
謂逆次第入定時。第三句者。謂生時。第四句
者。謂除前相。問諸捨初靜慮煩惱。彼得第
二靜慮地善法耶。答應作四句。第一句者。
謂依未至定。或初靜慮。靜慮中間。入見道
四心頃。第二句者。謂依第二第三第四靜慮
入見道時。及聖者離上七地染時。第三句
者。謂離靜慮染時。第四句者。謂除前相。
問諸捨第二靜慮地功德。彼得初靜慮地煩
惱耶。答應作四句。第一句者。謂退上地對
治。及上地所修第二靜慮地功德時。第二句
者。謂上地歿生欲界及梵世時。第三句者。
謂極光淨歿生欲界及梵世時。及起下地煩
惱。退第二靜慮時。第四句者。謂除前相。於
餘定隨其所應。亦應作此問答分別。

Việt dịch

QUYỂN 161

LUẬN VỀ ĐẮC (Phần 5)

Vị tương ưng Tĩnh lự thứ nhất, tiến vào (nhập) nên nói là Vị, hay
là rời ra (xuất) nên nói là Vị? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn làm cho người hoài nghi có được quyết định, đó
là trong luận Phẩm Loại Túc nói.
Hỏi: “Tĩnh lự thứ nhất là thế nào?
Đáp: Sắc-Thọ-Tưởng-Hành-Thức thiện do Tĩnh lự thứ nhất thâu
nhiếp.
Hỏi: Cho đến Tĩnh lự thứ tư là thế nào?
Đáp: Sắc-Thọ-Tưởng-Hành-Thức thi ện do Tĩnh lự thứ tư thâu
nhiếp.” Đừng khiến cho nảy sinh nghi ngờ Tĩnh lự chỉ là thiện như vậy,
muốn hiển bày về Tĩnh lự không phải chỉ là thiện, cho nên soạn ra phần
luận này, bởi vì Tĩnh lự bao gồm thiện-nhiễm ô và vô phú vô ký.
Hỏi: Vị tương ưng Tĩnh lự thứ nhất, tiến vào (nhập) nên nói là Vị,
hay là rời khỏi (xuất) nên nói là Vị?
Đáp: Đối với Vị chủ động (năng vị) thì nên nói là tiến vào, đối với
Vị thụ động (sở vị) thì nên nói là rời khỏi.
Hỏi: Cho đến Vị tương ưng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tiến vào
nên nói là Vị, hay là rời khỏi nên nói là Vị?
Đáp: Đối với Vị chủ động thì nên nói là tiến vào, đối với Vị thụ
động thì nên nói là rời khỏi.
Trong này, Ái gọi là Vị, Tam-ma-địa gọi là Tĩnh lự thứ nhất…, tức
là Ái tương ưng, các Tam-ma-địa gọi là Vị tương ưng Tĩnh lự-Vô sắc.
Hỏi: Vì sao chỉ nói tương ưng với Ái chứ không phải là phiền não
khác?
Đáp: Bởi vì là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 161 181  
www.daitangkinh.org  
rộng ra.
Hỏi: Có người nói: Cũng nên nói đến phiền não khác, nghĩa là nên
nói “Hữu thân kiến tương ưng Tĩnh lự thứ nhất, tiến vào nên nói là giữ
lấy (thủ) ngã-ngã sở, hay là rời khỏi nên nói là giữ lấy ngã-ngã sở?
Đáp: Đối với chủ động giữ lấy (năng thủ) nên nói là tiến vào, đối
với thụ động giữ lấy (sở thủ) nên nói là rời khỏi.
Hỏi: Nói rộng ra cho đến Vô minh tương ưng Tĩnh lự thứ nhất, tiến
vào nên nói là ngu, hay là rời khỏi nên nói là ngu?
Đáp: Đối với ngu chủ động (năng ngu) nên nói là tiến vào, đối
với ngu thụ động (sở ngu) nên nói là rời khỏi; cho đến Phi tưởng phi phi
tưởng xứ nói cũng như vậy.” Mà không đưa ra cách nói này thì nên biết
là nghĩa này có khác.
Có người nói: Trong này, nêu ra Ái  làm cửa ngõ, khiến cho biết
phiền não khác cũng vậy.
Có người nói: Trong này, nói đến tương tự, đó là Ái tương tự với
Định chứ không phải là phiền não khác. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì
Định đối với sở duyên lưu chuyển nối tiếp nhau, Ái cũng như vậy.
Lại nữa, Định đối với sở duyên xe m xét kỹ càng mà giữ lấy, Ái
cũng như vậy.
Lại nữa, Định đối với sở duyên buộc tâm không rời xa, Ái cũng
như vậy.
Lại nữa, Định đối với sở duyên thâu nhiếp tiếp nhận mà chuyển,
Ái cũng như vậy.
Lại nữa, Định có thể nuôi lớn  các căn tăng thêm đại chủng, Ái
cũng như vậy. Các phiền não khác không có tướng này, cho nên không
nói đến tương ưng.
Hỏi: Vị là Ái chứ không phải là những Tĩnh lự, không nên nói là
tiến vào, bởi vì đối với Định có nói là tiến vào; những Tĩnh lự là Định
chứ không phải là Ái, không nên nói là Vị, bởi vì đối với Ái có nói là
Vị. Tại sao hai pháp lại cùng có được tên gọi của nhau?
Đáp: Bởi vì hai pháp này lần lượt chuyển đổi tương ưng, lại cùng
có được tên gọi thì có gì sai? Nghĩa là Định và Ái tương ưng cho nên
cũng có thể gọi là Vị, Ái và Định tương ưng cho nên cũng có thể nói là
tiến vào.
Trong này, tiến vào-rời khỏi có năm loại:
1. Địa.
2. Hành tướng.
3. Sở duyên.
182 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
4. Tâm khác loại.
5. Sát-na.
Địa tiến vào-rời khỏi, đó là Tĩnh lự thứ nhất Đẳng vô gián, lúc
Tĩnh lự thứ hai hiện rõ ở trước mắt, gọi  là tiến vào Tĩnh lự thứ hai, rời
khỏi Tĩnh lự thứ nhất; cho đến Vô sở hữu xứ Đẳng vô gián, lúc Phi
tưởng phi phi tưởng xứ hiện rõ ở trước mắt, gọi là tiến vào Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, rời khỏi Vô sở hữu xứ. Như tiến vào-rời khỏi tùy thuận với
thứ tự, như vậy tiến vào-rời khỏi ngược lại với thứ tự, và tiến vào-rời
khỏi-vượt qua tùy thuận-ngược lại với thứ tự cũng như vậy.
Hành tướng tiến vào-rời khỏi, đó là hành tướng Vô thường Đẳng
vô gián, lúc hành tướng Khổ hiện rõ ở trước mắt, gọi là tiến vào hành
tướng Khổ, rời khỏi hành tướng Vô thường. Những hành tướng khác
cũng như vậy.
Sở duyên tiến vào-rời khỏi, đó la ø Định duyên với Sắc Đẳng vô
gián, lúc Định duyên với Thọ hiện rõ ở trước mắt, gọi là tiến vào Định
duyên với Thọ, rời khỏi Định duyên với Sắc. Định duyên với pháp khác
cũng như vậy.
Tâm khác loại tiến vào-rời khỏi, đ ó là tâm của cõi Dục Đẳng vô
gián, lúc tâm của cõi Sắc hoặ c là tâm không hệ thuộc hiện rõ ở trước
mắt, gọi là tiến vào tâm của cõi Sắc hoặc la ø tâm không hệ thuộc, rời
khỏi tâm của cõi Dục . Tâm của cõi Sắc… nói cũng như vậy. Như tâm
của cõi Dục…, tâm Học… cũng như vậy, tâm thiện… khác tùy theo thích
hợp cũng như vậy.
Sát-na tiến vào-rời khỏi, đó là sa ùt-na thứ nhất Đẳng vô gián, lúc
sát-na thứ hai hiện rõ ở trước mắt, gọi là tiến vào sát-na thứ hai, rời khỏi
sát-na thứ nhất. Sát-na khác cũng như vậy.
Trong năm loại tiến vào-rời khỏi, ở đây dựa vào sát-na tiến vào-
rời khỏi mà soạn luận.
Đối với Vị chủ động nên nói là tiến vào, đối với Vị thụ động nên
nói là rời khỏi. Có người đưa ra ca ùch nói này: Trong này nói Vị tương
ưng Định, lúc lưu chuyển nối tiếp nha u hiện rõ ở trước mắt, đều dùng
sát-na trước làm Vị thụ động bởi vì là sở duyên, sát-na sau làm Vị chủ
động bởi vì là năng duyên.
Đối với Vị chủ động nên nói là tiến vào, nghĩa là những sát-na
sau, lúc Vị tương ưng Tĩnh lự-Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, gọi là đối với
Vị chủ động đã tiến vào, cho nên đối với  phần vị đã khởi lên mới trở
thành Vị chủ động.
Đối với Vị thụ động nên nói là rời khỏi, nghĩa là những sát-na
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 161 183  
www.daitangkinh.org  
trước, lúc Vị tương ưng Tĩnh lự-Vô sắc đa õ tàn lụi mất đi, gọi là đối với
Vị thụ động đã rời khỏi, cho nên đối với phần vị đã diệt đi mới trở thành
Vị thụ động.
Hỏi: Ái tương ưng Định có thể duyên với ba đời, vì sao chỉ nói là
duyên với quá khứ?
Đáp: Có người nói: Đây là dựa va øo phần nhiều mà nói, nghĩa là
pháp của loài hữu tình vốn như vậy, bởi vì phần nhiều duyên với cảnh
thuận đã từng thọ nhận mà sinh ra Vị của Ái.
Có người nói: Định quá khứ ở trong sự nối tiếp nhau đã làm nhiều
lợi ích, Định hiện tại từ đó mà khởi lên theo đuổi lưu luyến sinh ra Ái.
Có người nói: Trong này dựa vào Định tiến vào-rời ra mà làm
thành hỏi-đáp, Định vị lai chưa gọi là tiến vào-rời ra, Định hiện tại gọi
là tiến vào-chưa gọi là r ời ra, Định quá khứ gọi la ø tiến vào đã rời ra.
Nay muốn hiển bày về phần vị đã rời ra mà sinh Ái, cho nên chỉ nói là
duyên với quá khứ.
Có Sư khác nói: Trong này nói Định thanh tịnh(tịnh định) không
gián đoạn khởi lên Vị tương ưng Định, Định thanh tịnh làm Vị thụ động
bởi vì là sở duyên; Vị tương ưng Định là Vị chủ động bởi vì là năng
duyên. Còn lại nói như trước.
Lời bình: Nên biết cách nói thứ nhất là hợp lý, bởi vì trong này
tiến vào-rời khỏi đều dựa theo Vị và Định mà soạn luận.
Các Vị tương ưng Tĩnh lự thứ nhất đều là hữu phú vô ký   chăng?
Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Văn trước chỉ nói đến Ái tương ưng Định, nay muốn hiển
bày về Định cũng tương ưng với những phiền não khác, cho nên soạn
ra phần luận này.
Hỏi: Các Vị tương ưng Tĩnh lự thứ nhất đều là hữu phú vô ký
chăng? Giả sử hữu phú vô ký thì Tĩnh lự thứ nhất đều là Vị tương ưng
chăng?
Đáp: Các Vị tương ưng Tĩnh lự thứ nhất đều là hữu phú vô ký. Có
lúc hữu phú vô ký mà Tĩnh lự thứ nhất không phải là Vị tương ưng, đó
là trừ ra Ái, còn lại phiền não khác hiện rõ trước mắt.
Hỏi: Cho đến các Vị tương ưng Phi tưởng phi phi tưởng xứ đều là
hữu phú vô ký chăng? Giả sử hữu phú vô ký thì Phi tưởng phi phi tưởng
xứ đều là Vị tương ưng chăng?
Đáp: Các Vị tương ưng Phi tưởng phi phi tưởng xứ đều là hữu phú
vô ký. Có lúc hữu phú vô ký mà Phi tưởng phi phi tưởng xứ không phải
184 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
là Vị tương ưng, đó là trừ ra Ái, còn  lại phiền não khác hiện rõ trước
mắt.
Trong này, Vị tương ưng Tĩnh lự-Vô sắc đều là hữu phú vô ký, bởi
vì có thể ngăn cản Thánh đạo và gia hạnh của Thánh đạo, cho nên gọi
là hữu phú; không dẫn đến quả dị thục , cho nên gọi là vô ký. Còn lại
phiền não khác, đó là Kiến-Nghi-Mạn-Vô minh. Những phiền não này
cùng với Tĩnh lự-Vô sắc không nhi ễm ô, lần lượt chuyển đổi nối tiếp
nhau mà hiện rõ ở trước mắt, khiến cho Sư Du-già gọi là Ái của Tĩnh lự
trên, Kiến của Tĩnh lự trên, Nghi của Tĩnh lự trên, Mạn của Tĩnh lự trên;
cũng có nghĩa tương ưng cùng những Triền-Tùy phiền não-Cấu khác,
nhưng bởi vì phiền não mạnh hơn cho nên chỉ nói đến phiền não.
Hỏi: Có thể có lúc không tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, mà tiến vào
Tĩnh lự thứ hai chăng?
Đáp: Tiến vào.
Hỏi: Cho đến có thể có lúc không tiến vào Vô sở hữu xứ, mà tiến
vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ chăng?
Đáp: Tiến vào.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn làm cho người  nghi có được quyết định. Như
luận Phẩm Loại Túc nói: “Thứ nha át, đó là tùy thuận theo thứ tự, bởi
vì trong chuỗi liên hợp nối tiếp nhau, s ố ấy làm thứ nhất. Lại nữa, tùy
thuận theo thứ tự, bởi vì trong chuỗi liên hợp nối tiếp nhau, lúc tiến
vào các Định thì pháp này là đầu tiên.” Trong các kinh cũng nói chín
Định theo thứ tự. Có người sinh ra nghi ngờ như vậy: Nếu không tiến
vào Tĩnh lự thứ nhất…, thì không có thể tiến vào Tĩnh lự thứ hai… Nay
muốn làm cho người ấy sinh ra cách hiểu quyết định, không tiến vào
Tĩnh lự thứ nhất…, cũng có thể tiến vào Tĩnh lự thứ hai…, cho nên soạn
ra phần luận này.
Hỏi: Có thể có lúc không tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, mà tiến vào
Tĩnh lự thứ hai chăng?
Đáp: Tiến vào. Thế nào là tiến vào ? Đó là từ Định Vị chí, hoặc
là Tĩnh lự trung gian, hoặc là Cận phần Tĩnh lự thứ hai, hoặc là Tĩnh lự
thứ hai, hoặc là Cận phần Tĩnh lự thứ ba, hoặc là Tĩnh lự thứ ba, hoặc là
Tĩnh lự thứ tư Đẳng vô gián, Tĩnh lự thứ hai hiện rõ ở trước mắt.
Trong này có người nói: Tâm thiện của cõi Dục Đẳng vô gián, chỉ
có thể tiến vào Định Vị chí.
Có người nói: Cũng có thể tiến vào Tĩnh lự thứ nhất.
Có người nói: Cũng có thể tiến vào Tĩnh lự trung gian.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 161 185  
www.daitangkinh.org  
Tôn giả Tăng-già-phiệt-tô nói rằng: “Cũng có thể tiến vào Tĩnh
lự thứ hai, như người vượt qua Định, từ Tĩnh lự thứ nhất Đẳng vô gián,
vượt qua Tĩnh lự thứ hai, tiến vào Tĩnh lự thứ ba. Như vậy cũng thuận
theo từ tâm thiện của cõi Dục Đẳng vô gián, vượt qua Tĩnh lự thứ nhất,
tiến vào Tĩnh lự thứ hai.”
Cách nói này không hợp lý, bởi vì tâm thiện của cõi Dục không
phải là tâm của Định, cho nên không thể nào nói là thế lực của tâm ấy
giống như tâm của các Định.
Hỏi: Có thể có lúc không tiến vào Tĩnh lự thứ hai, mà tiến vào
Tĩnh lự thứ ba chăng?
Đáp: Tiến vào.
Hỏi: Thế nào là tiến vào?
Đáp: Đó là từ Tĩnh lự thứ nhất, hoặc là Cận phần Tĩnh lự thứ ba,
hoặc là Tĩnh lự thứ ba, hoặc là Cận phần Tĩnh lự thứ tư, hoặc là Tĩnh lự
thứ tư, hoặc là Không vô biên xứ.
Có người nói: Cũng từ Cận phần Tĩ nh lự thứ hai Đẳng vô gián,
Tĩnh lự thứ ba hiện rõ ở trước mắt.
Hỏi: Có thể có lúc không tiến vào  Tĩnh lự thứ ba, mà tiến vào
Tĩnh lự thứ tư chăng?
Đáp: Tiến vào. Thế nào là tiến vào? Đó là từ Tĩnh lự thứ hai, hoặc
là Cận phần Tĩnh lự thứ tư, hoặc là Tĩnh lự thứ tư, hoặc là Cận phần
Không vô biên xứ, hoặc là Không vô bi ên xứ, hoặc là Thức vô biên
xứ.
Có người nói: Cũng từ Cận phần Tĩnh lự thứ ba Đẳng vô gián,
Tĩnh lự thứ tư hiện rõ ở trước mắt.
Hỏi: Như vậy cho đến có thể có lúc không tiến vào Vô sở hữu xứ,
mà tiến vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ chăng?
Đáp: Tiến vào. Thế nào là tiến vào? Đó là từ Thức vô biên xứ,
hoặc là Cận phần Phi tưởng phi phi tưởng xứ, hoặc là Phi tưởng phi phi
tưởng xứ.
Có người nói: Cũng từ Cận phần Vô sở hữu xứ Đẳng vô gián, Phi
tưởng phi phi tưởng xứ hiện rõ ở trước mắt.
Trong này ngăn chặn sát-na, không ngăn chặn nối tiếp nhau,
không ngăn chặn phần vị, không ngăn chặn Chúng đồng phần, không
ngăn chặn từ vô thỉ đến nay. Nghĩa là sát-na trước tiến vào Định này,
không tiến vào Định kia, bởi vì không phải là những sát-na khác cũng
chưa từng tiến vào, cho nên đối với  nối tiếp nhau… ở đây không ngăn
chặn. Dựa vào nghĩa lý này nên biết cũng có ngăn chặn hai-ngăn chặn
186 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
ba, cho đến ngăn chặn bảy.
Hỏi: Có thể có lúc không tiến va øo Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai, mà
tiến vào Tĩnh lự thứ ba chăng?
Đáp: Tiến vào. Đó là dựa vào Định Vị chí, lìa nhiễm của cõi Dục
cho đến lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai, mạng chung sinh đến Tĩnh lự thứ
ba, hoặc là từ địa trên chết đi sinh đến Tĩnh lự thứ ba, ngay nơi ấy Tĩnh
lự thứ ba hiện rõ ở trước mắt.
Hỏi: Cho đến có thể có lúc không tiến vào bốn Tĩnh lự-ba Vô sắc,
mà tiến vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ chăng?
Đáp: Tiến vào. Đó là dựa vào Định Vị chí, lìa nhiễm của cõi Dục
cho đến lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, mạng chung sinh đến Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, ngay nơi ấy Định của Phi tưởng phi phi tưởng xứ hiện
rõ ở trước mắt.
Đây là dựa vào ngăn chặn sát-na cho đến ngăn chặn Chúng đồng
phần, không ngăn chặn từ vô thỉ đến nay. Nói đến điều ấy có lúc cũng
không ngăn chặn Chúng đồng phần, hoặc là cũng không ngăn chặn
phần vị, nghĩa cũng không có gì trái ngược, thuận theo nói như trước.
Hỏi: Có thể có lúc không tiến va øo Tĩnh lự thứ nhất, mà sinh đến
cõi Phạm Thế chăng?
Đáp: Sinh đến.
Hỏi: Cho đến có thể có lúc không tiến vào Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, mà sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ chăng?
Đáp: Sinh đến.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn làm cho người  nghi có được quyết định. Như
trong kinh nói: “Trước ở nơi này tiến vào Định, sau được sinh vào nơi
ấy…” Có người sinh ra nghi ngờ: Cần phải tiến vào Định của nơi ấy thì
mới được sinh vào nơi ấy. Bởi vì ca àn phải làm cho mối nghi này được
quyết định, hiển bày tuy không tiến va øo Định của nơi ấy nhưng cũng
được sinh vào nơi ấy, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Nếu như vậy thì kinh nói nên hiểu thế nào?
Đáp: Có những hữu tình trước tiến vào Định của nơi ấy, sau được
sinh vào nơi ấy; có những hữu tình không tiến vào Định của nơi ấy, mà
cũng sinh vào nơi ấy. Trong kinh nói về người tiến vào Định mà sinh
đến nơi ấy, A-tỳ-đạt-ma nói về người không tiến vào Định mà sinh đến
nơi ấy, như vậy thì hai cách nói dễ dàng thông hiểu.
Hỏi: Nếu không tiến vào Định của nơi ấy mà cũng được sinh vào
nơi ấy, thì tại sao Đức Thế Tôn chỉ nói tiến vào Định-sinh vào nơi ấy?
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 161 187  
www.daitangkinh.org  
Đáp: Bởi vì có các ngoại đạo cho rằng Phạm Thiên... không phải
là tu Định mà đạt được, cho nên Đ ức Thế Tôn nói trước ở nơi này tiến
vào Định sau mới sinh vào nơi ấy, khiến cho quyết định tin rằng Quả do
Nhân mà đạt được.
Lại nữa, có các hữu tình đắm say c hút ít dục lạc của hiện tại,
không thích quả lìa dục thù thắng của tương lai, Đức Thế Tôn vì điều ấy
mà chê trách dục lạc-ca ngợi quả lìa dục, hữu tình ấy nghe rồi vui mừng
thỉnh cầu nói về nhân của quả ấy, Đức Phật vì họ mà nói là trước tiến
vào Định của nơi ấy, sau sinh vào nơi ấy.
Lại nữa, có các hữu tình nghe nói về quả lìa dục thù thắng của cõi
trên, không sinh tâm tin hiểu, ý Đức Phật muốn hiển bày nếu có thể tiến
vào Định căn bản của nơi ấy thì hiện tại thọ nhận niềm vui thù thắng,
để biết rằng quả ấy thật là vi diệu thù thắng, cho nên Đức Phật vì họ mà
nói là trước ở nơi này tiến vào Định, sau được sinh vào nơi ấy.
Lại nữa, có Sư Du-già có thể tiến vào Định ấy, tuy thích sinh vào
nơi ấy, mà hiện tại không tiến vào, Đức Phật vì vậy mà nói trước ở nơi
này tiến vào Định, sau mới sinh vào nơi ấy.
Lại nữa, có Sư Du-già tuy cha ùn ngán nỗi khổ của cõi Dục, cầu
niềm vui lìa dục, mà đối với pháp lìa dục lại lười nhác không tu, Đức
Phật vì vậy mà nói trước ở nơi này tiến vào Định, sau sinh vào nơi ấy.
Hỏi: Có thể có lúc không tiến va øo Tĩnh lự thứ nhất, mà sinh đến
cõi Phạm Thế chăng?
Đáp: Sinh đến. Thế nào là sinh đến?  Đó là dựa vào Định Vị chí
lìa nhiễm của cõi Dục, cuối cùng là đạo giải thoát, và sau đó không tiến
vào Tĩnh lự thứ nhất, lúc ấy nếu chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất mà
mạng chung, thì nhất định sẽ sinh đến cõi Phạm Thế; hoặc là ở địa trên
chết đi sinh vào trong cõi trời ấy.
Hỏi: Không khởi lên Định của nơi ấy thì làm sao sinh đến nơi ấy,
bởi vì không có nhân dị thục?
Đáp: Bởi vì nghiệp thuận theo đời kế tiếp thứ hai thọ nhận làm
nhân dị thục, cho nên được sinh đến nơi ấy.
Hỏi: Có thể có lúc không tiến vào Tĩnh lự thứ hai, mà sinh đến cõi
Cực Quang Tịnh chăng?
Đáp: Sinh đến. Thế nào là sinh đến ? Đó là dựa vào Định Vị chí-
Tĩnh lự thứ nhất, Tĩnh lự trung gian, Cận phần Tĩnh lự thứ hai, tùy theo
một nơi lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, không tiến vào Tĩnh lự thứ hai,
lúc ấy nếu chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai mà mạng chung, thì nhất
định sẽ sinh đến cõi Cực Quang Tịnh; hoặc là ở địa trên chết đi sinh vào
188 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
trong cõi trời ấy.
Hỏi: Có thể có lúc không tiến vào Tĩnh lự thứ ba, mà sinh đến cõi
Biến Tịnh chăng?
Đáp: Sinh đến. Thế nào là sinh đến ? Đó là dựa vào Định Vị chí-
Tĩnh lự thứ nhất, Tĩnh lự trung gian, Tĩnh lự thứ hai, Cận phần tĩnh lự
thứ ba, tùy theo một nơi lìa nhiễm c ủa Tĩnh lự thứ hai, không tiến vào
Tĩnh lự thứ ba, lúc ấy nếu chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba mà mạng
chung, thì nhất định sẽ sinh đến cõi Bi ến Tịnh; hoặc là ở địa trên chết
đi sinh vào trong cõi trời ấy.
Hỏi: Như vậy cho đến có thể có lúc không tiến vào Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, mà sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ chăng?
Đáp: Sinh đến. Thế nào là sinh đến?  Đó là dựa vào Định Vị chí
cho đến Vô sở hữu xứ, tùy theo một nơi lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ,
chưa lìa nhiễm của địa trên, không tiến vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ
mà mạng chung, thì nhất định sẽ sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Trong này ngăn chặn sát-na, ngăn chặn nối tiếp nhau, ngăn chặn
phần vị, ngăn chặn Chúng đồng ph ần, không ngăn chặn từ vô thỉ đến
nay.
Nếu đạt được Tĩnh lự thứ nhất chứ không phải là Tĩnh lự thứ hai,
thì lúc ấy mạng chung sinh về nơi nào? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn làm cho người  nghi có được quyết định. Như
Đức Thế Tôn nói: “Tỳ kheo nên biết! Ta nói dựa vào Tĩnh lự thứ nhất
có thể trừ hết các lậu, dựa vào Tĩnh lự thứ hai cho đến Vô sở hữu xứ có
thể trừ hết các lậu.” Đừng có sinh lòng nghi ngờ là chỉ dựa vào Định căn
bản mới có thể trừ hết các lậu, chứ không phải là Định Vị chí… Bởi vì
làm cho mối nghi này được quyết định, hiển bày dựa vào chín địa đều
có thể trừ hết các lậu, đó là bảy đị a Căn bản-Vị chí-Trung gian, trừ ra
địa Cận phần, tuy không có thể trừ hết mà cũng có thể đoạn dứt, cho
nên soạn ra phần luận này.
Nhưng đạt được có hai loại:
1. Hiện tiền đạt được.
2. Thành tựu đạt được.
Trong này dựa vào hiện tiền đạt được mà soạn luận.
Hỏi: Nếu đạt được Tĩnh lự thứ nhất chứ không phải là Tĩnh lự thứ
hai, thì lúc ấy mạng chung sinh về nơi nào?
Đáp: Hoặc là cõi Phạm Thế, hoặc là cõi Cực Quang Tịnh, hoặc là
cõi Biến Tịnh, hoặc là cõi Quảng Quả, hoặc là Không vô biên xứ, hoặc
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 161 189  
www.daitangkinh.org  
là Thức vô biên xứ, hoặc  là Vô sở hữu xứ, hoặc là Phi tưởng phi phi
tưởng xứ, hoặc là không có nơi chốn.
Đó là hiện tiền đạt được Tĩnh lự thứ nhất chứ không phải là Tĩnh
lự thứ hai, quyết định đã lìa nhiễm c ủa cõi Dục, mà địa trên thì không
nhất định. Trong đó nếu chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy
mạng chung sinh đến cõi Phạm Thế.
Nếu dựa vào Định Vị chí, hoặc là Tĩnh lự thứ nhất, hoặc là Tĩnh lự
trung gian, hoặc là Cận phần Tĩnh lự thứ hai, tùy theo một nơi lìa nhiễm
của Tĩnh lự thứ nhất, cuối cùng là đạo giải thoát, và sau đó không tiến
vào Tĩnh lự thứ hai, chưa lìa nhiễm của  Tĩnh lự thứ hai, lúc ấy mạng
chung sinh đến cõi Cực Quang Tịnh.
Ngay nơi ấy nếu dựa vào Định Vị chí, Tĩnh lự thứ nhất, Tĩnh lự
trung gian, tùy theo một nơi lìa nhi ễm của Tĩnh lự thứ hai, chưa lìa
nhiễm của địa trên, thì lúc ấy mạng chung sinh đến cõi Biến Tịnh.
Nếu vẫn dựa vào ba địa trước, tùy theo một nơi lìa nhiễm của Tĩnh
lự thứ ba, chưa lìa nhiễm của địa trên, thì lúc ấy mạng chung sinh đến
cõi Quảng Quả.
Như vậy cho đến nếu vẫn dựa vào ba địa trước, tùy theo một nơi
lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì lúc ấy mạng chung không
có nơi sinh đến, bởi vì đã lìa nhiễm của ba cõi.
Hỏi: Nếu đạt được Tĩnh lự thứ ha i chứ không phải là Tĩnh lự thứ
ba, thì lúc ấy mạng chung sinh về nơi nào?
Đáp: Hoặc là cõi Cực Quang Tịnh, hoặc là cõi Biến Tịnh, cho đến
hoặc là Phi tưởng phi phi tưởng xứ, hoặc là không có nơi chốn.
Đó là hiện tiền đạt được Tĩnh l ự thứ hai chứ không phải là Tĩnh
lự thứ ba, quyết định đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, mà địa trên thì
không nhất định. Trong đó nếu chưa lìa nhi ễm của Tĩnh lự thứ hai, thì
lúc ấy mạng chung sinh đến cõi Cực Quang Tịnh.
Nếu dựa vào Định Vị chí, Tĩnh lự thứ nhất, Tĩnh lự trung gian,
Tĩnh lự thứ hai, Cận phần Tĩnh lự thứ ba, tùy theo một nơi lìa nhiễm của
Tĩnh lự thứ hai, không tiến vào Tĩnh lự thứ ba, chưa lìa nhiễm của Tĩnh
lự thứ ba, lúc ấy mạng chung sinh đến cõi Biến Tịnh.
Ngay nơi ấy nếu dựa vào Định Vị chí, Tĩnh lự thứ nhất, Tĩnh lự
trung gian, Tĩnh lự thứ hai, tùy theo  một nơi lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ
ba, chưa lìa nhiễm của địa trên, th ì lúc ấy mạng chung sinh đến cõi
Quảng Quả.
Nếu vẫn dựa vào bốn địa trước, t ùy theo một nơi lìa nhiễm của
Tĩnh lự thứ tư, chưa lìa nhiễm của địa trên, thì lúc ấy mạng chung  sinh
190 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
đến Không vô biên xứ.
Như vậy cho đến nếu vẫn dựa vào bốn địa trước, tùy theo một nơi
lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì lúc ấy mạng chung không
có nơi sinh đến.
Hỏi: Nếu đạt được Tĩnh lự thứ ba chứ không phải là Tĩnh lự thứ tư,
thì lúc ấy mạng chung sinh về nơi nào?
Đáp: Hoặc là cõi Biến Tịnh, hoặc là cõi Quảng Quả, cho đến hoặc
là Phi tưởng phi phi tưởng xứ, hoặc là không có nơi chốn.
Đó là hiện tiền đạt được Tĩnh l ự thứ ba chứ không phải là Tĩnh
lự thứ tư, quyết định đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai, mà địa trên thì
không nhất định. Trong đó nếu chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, thì lúc
ấy mạng chung sinh đến cõi Biến Tịnh.
Nếu dựa vào Định Vị chí, cho đến Tĩnh lự thứ ba, tùy theo một
nơi lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, chưa lìa nhiễm của địa trên, thì lúc ấy
mạng chung sinh đến cõi Quảng Quả.
Nếu vẫn dựa vào năm địa trước, t ùy theo một nơi lìa nhiễm của
Tĩnh lự thứ tư, chưa lìa nhiễm của địa trên, thì lúc ấy mạng chung sinh
đến Không vô biên xứ.
Như vậy cho đến nếu vẫn dựa vào năm địa trước, tùy theo một nơi
lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì lúc ấy mạng chung không
có nơi sinh đến.
Hỏi: Nếu đạt được Tĩnh lự thứ tư chứ không phải là Không vô biên
xứ, thì lúc ấy mạng chung sinh về nơi nào?
Đáp: Hoặc là cõi Quảng Qua û, cho đến hoặc là Phi tưởng phi phi
tưởng xứ, hoặc là không có nơi chốn.
Đó là hiện tiền đạt được Tĩnh lự thứ tư chứ không phải là Không
vô biên xứ, quyết định đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, mà địa trên thì
không nhất định. Trong đó nếu chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, thì lúc
ấy mạng chung sinh đến cõi Quảng Quả.
Nếu dựa vào Định Vị chí, cho đến Tĩnh lự thứ tư, tùy theo một
nơi lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, chưa lìa nhiễm của địa trên, thì lúc ấy
mạng chung sinh đến Không vô biên xứ.
Nếu vẫn dựa vào sáu địa trước, tùy theo một nơi lìa nhiễm của
Không vô biên xứ, chưa lìa nhiễm của địa trên, thì lúc ấy mạng chung
sinh đến Thức vô biên xứ.
Như vậy cho đến nếu vẫn dựa vào sáu địa trước, tùy theo một nơi
lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì lúc ấy mạng chung không
có nơi sinh đến.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 161 191  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Nếu đạt được Không vô biên xứ chứ không phải là Thức vô
biên xứ, thì lúc ấy mạng chung sinh về nơi nào?
Đáp: Hoặc là Không vô biên xứ, cho đến hoặc là không có nơi
chốn.
Đó là hiện tiền đạt được K hông vô biên xứ chứ không phải là
Thức vô biên xứ, quyết định đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, mà địa trên
thì không nhất định. Trong đó nếu chưa  lìa nhiễm của Không vô biên
xứ, thì lúc ấy mạng chung sinh đến Không vô biên xứ.
Nếu dựa vào Định Vị chí, cho đến Không vô biên xứ, tùy theo một
nơi lìa nhiễm của Không vô biên xứ, chưa lìa nhiễm của địa trên, thì lúc
ấy mạng chung sinh đến Thức vô biên xứ.
Như vậy cho đến nếu vẫn dựa vào bảy địa trước, tùy theo một nơi
lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì lúc ấy mạng chung không
có nơi sinh đến.
Hỏi: Nếu đạt được Thức vô biên xứ chứ không phải là Vô sở hữu
xứ, thì lúc ấy mạng chung sinh về nơi nào?
Đáp: Hoặc là Thức vô bi ên xứ, cho đến hoặc là không có nơi
chốn.
Đó là hiện tiền đạt được Thức vô biên xứ chứ không phải là Vô sở
hữu xứ, quyết định đã lìa nhiễm của Không vô biên xứ, mà địa trên thì
không nhất định. Trong đó nếu chưa lìa nhiễm của Thức vô biên xứ, thì
lúc ấy mạng chung sinh đến Thức vô biên xứ.
Nếu dựa vào Định Vị chí, cho đến Thức vô biên xứ, tùy theo một
nơi lìa nhiễm của Thức vô biên xứ, chưa lìa nhiễm của địa trên, thì lúc
ấy mạng chung sinh đến Vô sở hữu xứ.
Như vậy cho đến nếu vẫn dựa vào tám địa trước, tùy theo một nơi
lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì lúc ấy mạng chung không
có nơi sinh đến.
Hỏi: Nếu đạt được Vô sở hữu xứ chứ không phải là Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, thì lúc ấy mạng chung sinh về nơi nào?
Đáp: Hoặc là Vô sở hữu xứ, cho đến hoặc là không có nơi chốn.
Đó là hiện tiền đạt được Vô s ở hữu xứ chứ không phải là Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, quyết định đã lìa nhiễm của Thức vô biên xứ,
mà địa trên thì không nhất định. Trong đó nếu chưa lìa nhiễm của Vô sở
hữu xứ, thì lúc ấy mạng chung sinh đến Vô sở hữu xứ.
Nếu dựa vào Định Vị chí, cho đến  Vô sở hữu xứ, tùy theo một
nơi lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, chưa lìa nhiễm của địa trên, thì lúc ấy
mạng chung sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
192 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Nếu vẫn dựa vào chín địa trước, tùy theo một nơi lìa nhiễm của
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì lúc  ấy mạng chung không có nơi sinh
đến.
Dựa vào nghĩa lý này nên biết cũng có đạt được hai-đạt được ba,
cho đến đạt được bảy. Ngăn chặn c ũng như vậy, lý lẽ trả lời không có
gì khác nhau cho nên không nói đầy đủ.
Hỏi: Nếu đạt được tâm thiện của cõi Dục chứ không phải là Tĩnh
lự thứ nhất, tại sao trong này không hỏi, thì lúc ấy mạng chung sinh về
nơi nào? Có người nói: Cũng cần phải nói (Nếu đạt được tâm thiện của
cõi Dục chứ không phải là Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy mạng chung sinh
về nơi nào?
Đáp: Hoặc là cõi Dục, hoặc là cõi Phạm Thế, cho đến hoặc là Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, hoặc là không có nơi chốn. Đó là hiện tiền đạt
được tâm thiện của cõi Dục chứ không phải là Tĩnh lự thứ nhất, lúc ấy
quyết định ở cõi Dục, mà lìa nhiễm thì không nhất định, nghĩa là lúc ấy
nếu chưa lìa nhiễm của cõi Dục, th ì mạng chung sinh trở lại cõi Dục.
Nếu dựa vào Định Vị chí lìa nhiễm c ủa cõi Dục, cuối cùng là đạo giải
thoát, và sau đó không tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, chưa lìa nhiễm của
Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy mạng  chung sinh đến cõi Phạm Thế. Ngay
nơi ấy nếu dựa vào Định Vị chí, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, chưa lìa
nhiễm của địa trên, thì lúc ấy mạng chung sinh đến cõi Cực Quang Tịnh.
Cho đến nếu dựa vào Định Vị chí, lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, chưa
lìa nhiễm của địa trên, thì lúc ấy mạng chung sinh đến Phi tưởng phi
phi tưởng xứ. Nếu dựa vào Định Vị chí, lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi
tưởng, thì lúc ấy mạng chung không có nơi sinh đến.) Nên đưa ra cách
nói này, mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Không cần phải hỏi-đa ùp về cõi Dục, bởi vì đây là
Định Uẩn, chủ yếu hỏi-đáp về Định va ø quả của Định, cõi Dục không
phải là Định-không phải là quả của Định, vì thế cho nên không nói
đến.
Hỏi: Đạt được Tĩnh lự thứ nhất chứ không phải là Tĩnh lự thứ hai…,
lúc ấy mạng chung cũng sinh vào c õi Dục…, tại sao trong này không
nói?
Đáp: Có người nói: Cũng cần phải nói lúc ấy sinh vào tất cả các
địa dưới, mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Đây là Định Uẩn, chủ yếu hiển bày về sinh vào địa
của Định, nếu nói sinh vào địa dưới thì có lỗi sinh vào cõi Dục là địa
không phải Định, vì thế cho nên không nói.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 161 193  
www.daitangkinh.org  
Có người nói: Trong này nói về người đạt được các Định mà chết
rồi sinh ra, những người sinh vào địa dưới thì lui sụt rời bỏ các Định, vì
vậy không nói đến.
Hỏi: Những người sinh vào địa trên, vào lúc mạng chung cũng rời
bỏ các Định, tại sao lại nói đến?
Đáp: Những người sinh vào địa trên, tuy có sự rời bỏ mà vẫn gọi
là thắng tiến, huống là có sự đạt được hay sao? Những người sinh vào
địa dưới, tuy có sự đạt được mà vẫn gọi là lui sụt, huống là có sự rời bỏ
hay sao? Đây là Định Uẩn, chủ yếu hiển bày về thắng tiến, vì thế cho
nên không nói đến.
Hỏi: Trong kinh chỉ nói dựa vào Tĩ nh lự thứ nhất cho đến Vô sở
hữu xứ có thể trừ hết các lậu, vì sao bi ết là có dựa vào Định Vị chí và
Tĩnh lự trung gian trừ hết các lậu?
Đáp: Đức Thế Tôn nói có ba Ta m-ma-địa có thể trừ hết các lậu,
đó là có Tầm-có Tứ, không có Ta àm-chỉ có Tứ, không có Tầm-không
có Tứ.
Kinh khác lại nói: “Tĩnh lự thứ nhất gọi là có Tầm-có Tứ, Tĩnh lự
thứ hai trở lên gọi là không có Tầm-không có Tứ.” Nếu không có Tĩnh
lự trung gian thì lại nói loại nào gọi là không có Tầm-chỉ có Tứ? Vì vậy
biết là có dựa vào Tĩnh lự trung gian trừ hết các lậu.
Lại trong kinh nói: “Đức Phật bảo với Tỳ kheo: Ta không nói là
chỉ dựa vào có Tầm-có Tứ, Ly sinh hỷ lạc, Tĩnh lự thứ nhất, trú đầy
đủ…, lìa bỏ pháp ác bất thiện của cõi Dục có thể trừ hết các lậu, nhưng
do Tuệ-Kiến cũng có thể trừ hết các lậu.” Kinh này là nói rõ có dựa
vào Định Vị chí để trừ hết các lậu. Vả lại, Thánh giả chưa lìa nhiễm cõi
Dục, chưa đạt được Tĩnh lự mà thấy rõ Thánh đế, nếu không có Định
Vị chí thì dựa vào đâu mà có thể khởi lên Thánh đạo vĩnh viễn đoạn
trừ các lậu? Vì vậy cho nên biết là có dựa vào Định Vị chí để trừ hết
các lậu.
Hỏi: Sao không nói chính là Tĩnh lự thứ nhất… có thể trừ hết các
lậu mà nói là dựa vào?
Đáp: Có người nói: Tĩnh lự có người trước đó đã từng đạt được,
nếu Đức Thế Tôn nói Tĩnh lự thứ nhất… có thể trừ hết các lậu, thì người
không biết gì sẽ cho rằng đạt được Tĩnh lự đều đã trừ hết các lậu. Vì
thế cho nên Đức Phật nói dựa vào Tĩnh lự…, khởi lên đạo vô lậu mới có
thể trừ hết các lậu.
Có người nói: Các Định chỉ là Xa-ma-tha, cần phải là Tỳ-bát-xá-
na thì mới có thể trừ hết các lậu, cho nên nói là dựa vào Định thuận theo
194 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
cần phải phát khởi Tuệ.
Có người nói: Các Định phần nhiều là đã từng đạt được, đừng có
lưu luyến giữ lấy không muốn tiến tu, cho nên nói là dựa vào Định tiến
lên cầu đạo thù thắng không nên sinh tâm chấp trước.
Hỏi: Như trong kinh nói: “Phi tưởng phi phi tưởng xứ đi cùng với
tu Niệm đẳng giác chi.” Kinh khác lại nói: “Cho đến Tưởng Định có
thể đích thực thông đạt, có thể phân rõ thánh chỉ.” Kinh trước cũng nói
“Dựa vào Tĩnh lự thứ nhất cho đến Vô sở hữu xứ, có thể trừ hết các
lậu.” Hai cách nói như vậy không phải là trái ngược nhau hay sao? Đáp:
Kinh thứ nhất nói là có thể dẫn dắt phát khởi, hai kinh sau nói tức là dựa
vào kinh ấy. Vả lại, kinh thứ nhất nói đến phương tiện, hai kinh sau nói
đến thành tựu đầy đủ.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao nói là đi cùng?
Đáp: Thanh đi cùng(câu) cũng chuyển đối với nghĩa trước-sau.
Như Đức Thế Tôn nói: “Vua Mạn-đà-đa khởi lên Tưởng này đi cùng thì
lập tức đọa lạc.” Kinh khác lại nói: “Khởi lên Tưởng này đi cùng, các
hữu tình ấy lập tức chết đi.” Những kinh này đều là trước-sau mà nói
Thanh đi cùng, tu Niệm đẳng giác chi nên biết cũng như vậy.
Hỏi: Nếu pháp là Tĩnh lự thứ nha át làm nhân, thì pháp ấy là quả
của Tĩnh lự thứ nhất chăng? Giả sử pháp là quả của Tĩnh lự thứ nhất, thì
pháp ấy không có nhân của Tĩnh lự thứ nhất chăng?
Đáp: Các pháp là Tĩnh lự thứ nhất làm nhân, pháp ấy là quả của
Tĩnh lự thứ nhất. Có pháp là quả của Tĩnh lự thứ nhất, mà pháp ấy
không phải là Tĩnh lự thứ nhất làm nhân, đó là đoạn Kiết của ba cõi, và
quả của Tĩnh lự thứ nhất. Phẩm ta âm Thông quả của cõi Dục, cho đến
Tĩnh lự thứ tư cũng cần phải đưa ra cách hỏi-đáp này, đối với Định Vô
sắc chỉ cần nói đến đoạn Kiết.
Hỏi: Những người rời bỏ tâm của địa Tĩnh lự thứ nhất, đạt được
tâm của địa Tĩnh lự thứ hai, đều diệt mất tâm của địa Tĩnh lự thứ nhất,
khởi lên tâm của địa Tĩnh lự thứ hai chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
Câu thứ nhất, đó là dựa vào Định Vị  chí, hoặc là Tĩnh lự trung
gian, hoặc là Cận phần Tĩnh lự thứ hai, lìa nhiễm của cõi Phạm Thế,
không tiến vào địa Căn bản, lúc bấy gi ờ rời bỏ tâm nhiễm ô của địa
Tĩnh lự thứ nhất, đạt được tâm không nhiễm ô của địa Tĩnh lự thứ hai,
mà không phải là tâm kia diệt mất-tâm này khởi lên.
Câu thứ hai, đó là không phải lúc lìa nhiễm theo thứ tự tiến   vào
Định.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 161 195  
www.daitangkinh.org  
Câu thứ ba, đó là lúc từ Tĩnh lự thứ nhất chết đi, sinh vào Tĩnh lự
thứ hai.
Câu thứ tư, đó là trừ ra những tướng trước.
Hỏi: Những người rời bỏ tâm của địa Tĩnh lự thứ hai, đạt được tâm
của địa Tĩnh lự thứ nhất, đều diệt mất tâm của địa Tĩnh lự thứ hai, khởi
lên tâm của địa Tĩnh lự thứ nhất chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
Câu thứ nhất, đó là lúc khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt Tĩnh
lự thứ hai.
Câu thứ hai, đó là lúc tiến vào Định theo thứ tự ngược lại.
Câu thứ ba, đó là lúc sinh ra.
Câu thứ tư, đó là trừ ra những tướng trước.
Hỏi: Những người rời bỏ phiền não của địa Tĩnh lự thứ nhất, lúc
ấy đạt được pháp thiện của địa Tĩnh lự thứ hai chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
Câu thứ nhất, đó là dựa vào Định Vị chí, hoặc là Tĩnh lự thứ nhất,
Tĩnh lự trung gian, tiến vào Kiến đạo trong bốn tâm.
Câu thứ hai, đó là lúc dựa vào Tĩ nh lự thứ hai-thứ ba-thứ tư tiến
vào Kiến đạo, và lúc Thánh giả lìa nhiễm của bảy địa trên.
Câu thứ ba, đó là lúc lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất.
Câu thứ tư, đó là trừ ra những tướng trước.
Hỏi: Những người rời bỏ công đức của địa Tĩnh lự thứ hai, lúc ấy
mang lấy phiền não của địa Tĩnh lự thứ nhất chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
Câu thứ nhất, đó là lúc lui sụt đối trị của địa trên, và công đức của
địa trên mà địa Tĩnh lự thứ hai đã tu.
Câu thứ hai, đó là lúc ở địa trên c hết đi, sinh vào cõi Dục và cõi
Phạm Thế.
Câu thứ ba, đó là lúc ở cõi Cực  Quang Tịnh chết đi, sinh vào cõi
Dục và cõi Phạm Thế, và lúc khởi lên phiền não của địa dưới mà lui sụt
Tĩnh lự thứ hai.
Câu thứ tư, đó là trừ ra những tướng trước.
Đối với những Định khác, tùy theo sự thích hợp cũng cần phải đưa
ra cách hỏi-đáp này để phân biệt.


„
196 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt