A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận · Quyển 1
阿毘達磨集異門足論 · T1536
Hán văn
尊者舍利子說 三藏法師玄奘奉 詔譯 1 緣起品 緣起品第一 世尊一時遊力士生處,至波波邑,住折路迦 林。時彼邑中諸力士眾,於恒聚戲東西村間 嗢跋諾迦舊制多所,共造臺觀,瑩飾初成,未 有沙門婆羅門等及諸力士曾所受用。時力 士眾聞佛世尊將苾芻僧住近林內,互相慶 慰咸共議言:「我等所修勝妙臺觀,應先請佛 及苾芻僧無上福田於中止住,然後我等隨 勝善業所獲資財於中受用。由斯我等長夜 獲得利益安樂,豈不善哉。」諸力士眾作是議 已,各集徒侶并諸眷屬,出波波村往如來所。 到已頂禮世尊雙足,右遶三匝退坐一面。時 薄伽梵以慈軟音,慰問力士并諸眷屬,復以 種種微妙法門示現教導讚勵慶喜,說是事 已默然而住。諸力士輩聞佛所說,歡喜踊躍 即從座起,合掌恭敬俱白佛言:「我此邑中諸 力士眾,於恒聚戲東西村間嗢跋諾迦舊制 多所,共造臺觀,瑩飾初成,未有沙門婆羅門 等及諸力士曾所受用。唯願世尊哀愍我等, 將諸弟子於中止住,令我長夜利益安樂。」爾 時如來哀愍彼故,將諸弟子往住其中,復以 妙音為諸力士宣揚種種施果差別。問答往 還過初夜分,諸力士輩并其眷屬聞法歡喜 禮佛而去。 爾時世尊告舍利子:「吾今背痛,暫當寢息。汝 可代吾為苾芻眾宣說法要,勿空度也。」時舍 利子默然受教。佛便四疊嗢怛羅僧敷為臥 具,大衣為枕,端身累足右脇而臥,如理作意 住光明想及當起想,具念正知,如大寶山寂 然無動。 爾時舍利子告苾芻眾言:「此波波村離繫親 子,處無慚眾自號為師,其人命終未逾旬月, 諸弟子輩兩兩結朋,諍訟紛紜互相𣣋蔑,各 言法律我解非餘,如我所知是法是律,我之 所說應理合儀;汝等於斯悉皆絕分。於其師 教各隨己執,迴換前後或減或增,破析支離 遂成多部。欲知勝負便共激論,為脫過難遞 相誹斥,雖有論言而無論道,口出刀矟以相 殘害。諸有白衣信彼法者,見其弟子乖諍如 斯,皆共瞋嫌毀而捨去。」 時舍利子復告眾言:「此波波村離繫親子所 有法律惡說惡受,不能出離、不趣正覺,是可 壞法、無趣無依。我等如來、應、正等覺大師法 律,善說善受,能永出離、能趣正覺,非可壞法 有趣有依。我等今應聞佛住世,和合結集法 毘奈耶,勿使如來般涅槃後世尊弟子有所 乖諍,當令隨順梵行法律,久住利樂無量有 情,哀愍世間諸天人眾,令獲殊勝義利安樂。」 2 一法品 集異門足論一法品第二 時舍利子復告眾言:「具壽當知,佛於一法自 善通達現等覺已,為諸弟子宣說開示。我等 今應和合結集,佛滅度後勿有乖諍,當令隨 順梵行法律久住,利樂無量有情,哀愍世間 諸天人眾,令獲殊勝義利安樂。」 一法云何?嗢 柁南曰: 一法謂有情,依食依行住, 於一切善法,不放逸為尊。 一切有情皆依食住、一切有情皆依行住、於 諸善法不放逸勝,是謂一法。一切有情依食 住者,何等是食而言有情皆依食住?如世尊 說:苾芻當知食有四種,能令部多有情安住, 及能資益諸求生者。何謂四食?一者段食, 若麁若細;二者觸食;三者意思食;四者識食。 由此四食,說諸有情皆依食住。何緣故知諸 有情類皆依食住?謂諸有情於彼彼聚,由此 諸食未盡為因,有想等想施設言說,活住存 濟差別而轉。若諸有情於彼彼聚,由此諸食 已盡為因,有想等想施設言說,死歿殞逝差 別而轉。由此故知諸有情類皆依食住。 問:如是四食,當言有為、當言無為?答:應言有 為。問:如是四食,當言常、當言無常?答:應言無 常。問:如是四食,當言恒、當言非恒?答:應言非 恒。問:如是四食,當言變易、當言不變易?答:應 言變易。問:如是四食,當言緣已生、當言非緣 已生?答:應言緣已生。問:如是四食,當言名攝、 當言色攝?答:段食應言色攝,餘三食應言名 攝。問:如是四食,當言有見、當言無見?答:應言 無見。問:如是四食,當言有對、當言無對?答:段 食應言有對,餘三食應言無對。問:如是四食, 當言是心、當言非心?當言是心所、當言非心 所?當言心相應、當言心不相應?答:段食應言 非心、非心所、心不相應;觸、意思食應言是心 所與心相應;識食應言唯是心。問:如是四食, 當言善、當言不善、當言無記?答:段食應言無 記,餘三食應言或善或不善或無記。云何善 觸食?答:若善有漏觸為緣,能令諸根長養大 種增益,又能滋潤隨滋潤、充悅隨充悅、護隨 護、轉隨轉、持隨持,是謂善觸食。云何不善觸 食?答:若不善觸為緣,能令諸根長養大種增 益,又能滋潤隨滋潤乃至持隨持,是謂不善 觸食。云何無記觸食?答若無記觸為緣,能令 諸根長養大種增益,又能滋潤隨滋潤乃至 持隨持,是謂無記觸食。云何善意思食?答:若 善有漏觸相應諸思等思、現前等思、已思思 類造心意業,是謂善意思食。云何不善意思 食?答:若不善觸相應諸思等思乃至意業,是 謂不善意思食。云何無記意思食?答:若無記 觸相應諸思等思乃至意業,是謂無記意思 食。云何善識食?答:若善有漏思相應諸心意 識,是謂善識食。云何不善識食?答:若不善思 相應諸心意識,是謂不善識食。云何無記識 食?答:若無記思相應諸心意識,是謂無記識 食。問:如是四食,當言有漏、當言無漏?答:應言 有漏。問:如是四食,當言學、當言無學、當言非 學非無學?答:應言非學非無學。問:如是四食, 當言欲界繫、當言色界繫、當言無色界繫?答: 段食應言欲界繫,餘三食應言或欲界繫、或 色界繫、或無色界繫。 問:諸食皆是段食耶?答:諸段食皆是食,有是 食非段食,謂餘三食及世俗。問:諸食皆是觸 食耶?答:諸觸食皆是食,有是食非觸食,謂餘 三食及世俗。問:諸食皆是意思食耶?答:諸意 思食皆是食,有是食非意思食,謂餘三食及 世俗。問:諸食皆是識食耶?答:諸識食皆是食, 有是食非識食,謂餘三食及世俗。問:諸段皆 是食耶?答:應作四句。有是段而非食,謂段為 緣,諸根損減大種變壞。有是食而非段,謂餘 三食及世俗。有是段亦是食,謂段為緣,諸根 長養大種增益,又能滋潤隨滋潤乃至持隨 持。有非段亦非食,謂除前相。問:諸觸皆是食 耶?答:應作四句。有是觸而非食,謂無漏觸及 有漏觸為緣,諸根損減大種變壞。有是食而 非觸,謂餘三食及世俗。有是觸亦是食,謂有 漏觸為緣,諸根長養大種增益,又能滋潤隨 滋潤乃至持隨持。有非觸亦非食,謂除前相。 如觸食有四句,意思識食應知亦爾。頗有食 為緣,生食、生非食、生食非食耶?答:生。云何食 為緣生食?答:段食為緣,生餘三食。云何食為 緣生非食?答:段食為緣,生受、想、作意等。云何 食為緣生食非食?答:段食為緣,生餘三食及 受、想、作意等。頗有非食為緣,生非食、生食、生 食非食耶?答:生。云何非食為緣生非食?答:如 眼及色為緣,生受、想、作意等。云何非食為緣 生食?答:如眼及色為緣,生觸、意思、識食。云何 非食為緣生食非食?答:如眼及色為緣,生觸、 意思、識食,及受、想、作意等。頗有食非食為緣, 生食非食、生食、生非食耶?答:生。云何食非食 為緣生食非食?答:如眼及色、眼識為緣,生觸、 意思、識食,及受、想、作意等。云何食非食為緣 生食?答:如眼及色、眼識為緣,生觸、意思、識食。 云何食非食為緣生非食?答:如眼及色、眼識 為緣,生受、想、作意等。問:若段食已斷已遍知, 觸食亦爾耶。答:若觸食已斷已遍知,段食亦 爾。有段食已斷已遍知,非觸食,謂已離欲染 未離上染。如以段食對觸食,對意思、識食亦 爾。問:若觸食已斷已遍知,意思食亦爾耶?答: 如是。如以觸食對意思食,對識食亦爾。問:若 意思食已斷已遍知,識食亦爾耶?答:如是。問: 若於食已斷已遍知,彼於欲、色、無色界已離 染耶?答:若於段食已斷已遍知,彼於欲界已 離染,非於色、無色界。若於餘三食已斷已遍 知,彼於欲、色、無色界皆已離染。爾時於一切, 一切事、一切種、一切位、一切處、一切結,皆已 離染故。 一切有情依行住者,何等是行,而言有情皆 依行住?如世尊說:苾芻當知,若諸有情於彼 彼聚不死不殞、不破不沒、不失不退,皆由壽 住命根相續。此壽命根說名為行,由此行故 一切有情存濟住活。此行於彼能護隨護、能 轉隨轉,由此故說一切有情皆依行住。何緣 故知諸有情類皆依行住?謂諸有情於彼彼 聚,由此壽行未盡為因,有想等想、施設言說、 活住存濟差別而轉。若諸有情於彼彼聚,由 此壽行已盡為因,有想等想、施設言說、死沒 殞逝差別而轉。由此故知諸有情類皆依行 住。 問:如是壽行,當言有為、當言無為?答:應言有 為。問:如是壽行,當言常、當言無常?答:應言無 常。問:如是壽行,當言恒、當言非恒?答:應言非 恒。問:如是壽行,當言變易、當言不變易?答:應 言變易。問:如是壽行,當言緣已生、當言非緣 已生?答:應言緣已生。問:如是壽行,當言名攝、 當言色攝?答:應言名攝。問:如是壽行,當言有 見、當言無見?答:應言無見。問:如是壽行,當言 有對、當言無對?答:應言無對。問:如是壽行,當 言是心、當言非心?當言是心所、當言非心所? 當言心相應、當言心不相應?答:應言非心、非 心所、心不相應。問:如是壽行,當言善、當言不 善、當言無記?答:應言無記。問:如是壽行,當言 有漏、當言無漏?答:應言有漏。問:如是壽行,當 言學、當言無學、當言非學非無學?答:應言 非學非無學。問:如是壽行,當言欲界繫、當言 色界繫、當言無色界繫?答:應言或欲界繫、或 色界繫、或無色界繫。云何欲界繫?答:欲界壽。 云何色界繫?答:色界壽。云何無色界繫?答:無 色界壽。 問:若欲界壽已斷已遍知,色界壽亦爾耶?答: 若色界壽已斷已遍知,欲界壽亦爾。有欲界 壽已斷已遍知,非色界壽,謂已離欲染未離 色染。問:若欲界壽已斷已遍知,無色界壽亦 爾耶?答:若無色界壽已斷已遍知,欲界壽亦 爾。有欲界壽已斷已遍知,非無色界壽,謂已 離欲染未離無色染。問:若色界壽已斷已遍 知,無色界壽亦爾耶?答:若無色界壽已斷已 遍知,色界壽亦爾。有色界壽已斷已遍知,非 無色界壽,謂已離色染未離無色染。問:若於 壽行已斷已遍知,彼於欲、色、無色界已離染 耶?答:若於欲界壽行已斷已遍知,彼於欲界 已離染,非於色、無色界。若於色界壽行已斷 已遍知,彼於欲色界已離染,非無色界。若於 無色界壽行已斷已遍知,彼於欲、色、無色界 皆已離染。爾時於一切,一切事、一切種、一切 位、一切處、一切結,皆已離染故。 於一切善法不放逸勝者,云何不放逸?答:若 為斷不善法、為圓滿善法,常習常修、堅作恒 作,數修不止,名不放逸。 3 二法品1 集異門足論二法品第三之一 時舍利子復告眾言:「具壽當知。佛於二法自 善通達,現等覺已,為諸弟子宣說開示。我等 今應和合結集,佛滅度後勿有乖諍,當令隨 順梵行、法律久住,利樂無量有情,哀愍世間 諸天人眾。令獲殊勝義利安樂。」 二法云何? 嗢柁南曰: 二法謂名色,乃至盡無生, 總二十七門,應隨次別釋。 有二法,謂名、色。復有二法,謂無明、有愛。復有 二法,謂有見、無有見。復有二法,謂無慚、無愧。 復有二法,謂慚、愧。復有二法,謂惡言、惡友。復 有二法,謂善言、善友。復有二法,謂入罪善巧、 出罪善巧。復有二法,謂入定善巧、出定善巧。 復有二法,謂界善巧、作意善巧。復有二法,謂 質直、柔和。復有二法,謂堪忍、可樂。 復有二法,謂和順、供養。復有二法,謂具念、正 知。復有二法,謂思擇力、修習力。復有二法,謂 不護根門、食不知量。復有二法,謂能護根門、 於食知量。復有二法,謂匱戒、匱見。復有二法, 謂破戒、破見。復有二法,謂具戒、具見。復有二 法,謂淨戒、淨見。復有二法,謂見、如理勝。復有 二法,謂厭、如理勝。復有二法,謂於善不喜足、 於斷不遮止。復有二法,謂奢摩他、毘鉢舍那。 復有二法,謂明、解脫。復有二法,謂盡智、無生 智。 此中有二法,謂名、色者,名云何?答:受蘊、想 蘊、行蘊、識蘊,及虛空、擇滅、非擇滅,是謂名。色 云何?答:四大種及所造色,是謂色。 復有二法,謂無明、有愛者,無明云何?答:如《法 蘊論》說。有愛云何?答:色無色界諸貪等貪,執 藏防護耽著愛染,是謂有愛。 復有二法,謂有見、無有見者,有見云何?答:若 謂我世間常,由此發起忍樂觀見,是謂有見。 云何無有見?答:若謂我世間斷,由此發起忍 樂觀見,是謂無有見。 復有二法,謂無慚、無愧者,無慚云何?答:如世 尊說,有無慚者,於可慚法而不生慚。可慚法 者,謂諸惡不善法,順雜染、順後有,有熾然苦 異熟,順當來生老死。彼於如是惡不善法生 時,無慚、無所慚、無別慚,無羞、無所羞、無別羞, 無崇敬、無所崇敬,無隨屬、無所隨屬,於自在 者無怖畏轉,是謂無慚。無愧云何?答:如世尊 說,有無愧者,於可愧法而不生愧。可愧法者, 謂諸惡不善法,乃至順當來生老死。彼於如 是惡不善法生時,無愧、無所愧、無別愧,無恥、 無所恥、無別恥,於諸罪中不怖不畏,不見怖 畏是謂無愧。 復有二法,謂慚、愧者,慚云何?答:如世尊說,諸 有慚者,於可慚法而生於慚。可慚法者,謂諸 惡不善法,乃至順當來生老死。彼於如是惡 不善法生時,有慚、有所慚、有別慚,有羞、有所 羞、有別羞,有崇敬、有所崇敬,有隨屬、有所隨 屬,於自在者有怖畏轉,是謂慚。愧云何?答: 如世尊說,諸有愧者,於可愧法而生於愧。可 愧法者,謂諸惡不善法,乃至順當來生老死。 彼於如是惡不善法生時,有愧、有所愧、有別 愧,有恥、有所恥、有別恥,於諸罪中有怖有畏, 能見怖畏是謂愧。 復有二法,謂惡言、惡友者,惡言云何?答:如《法 蘊論》說。惡友云何?答:亦如《法蘊論》說。 復有二法,謂善言、善友者,善言云何?答:如有 一類,若親教、若同親教,若軌範、若同軌範, 若餘隨一尊重可信往還朋友,如法告言:「汝 從今去,勿壞身業、勿壞語業、勿壞意業、勿行 不應行處、勿親近惡友、勿作三惡趣業。」如是 教誨稱法應時,於所修道隨順磨瑩,增長嚴 飾宜便常委。助伴資糧於此教誨,欣喜愛樂 信受隨順,不左取而右取,不拒逆、不毀訾、不 非撥,是謂善言。善友云何?答:如《法蘊論》說。 復有二法,謂入罪善巧、出罪善巧者。入罪善 巧云何?答:罪謂五部五蘊罪。何等為五?一者 他勝;二者眾餘;三者墮煮;四者對首;五者惡 作。入罪善巧,謂如實知見,如是苾芻犯他勝 罪、如是苾芻犯眾餘罪、如是苾芻犯墮煮罪、 如是苾芻犯對首罪、如是苾芻犯惡作罪。復 次如實知見,如是苾芻犯趣他勝罪、如是苾 芻犯趣眾餘罪、如是苾芻犯趣墮煮罪、如是 苾芻犯趣對首罪、如是苾芻犯趣惡作罪。復 次如實知見,此苾芻犯如是他勝罪、此苾芻 犯如是眾餘罪、此苾芻犯如是墮煮罪、此苾 芻犯如是對首罪、此苾芻犯如是惡作罪。復 次如實知見,此苾芻犯趣如是他勝罪、此苾 芻犯趣如是眾餘罪、此苾芻犯趣如是墮煮 罪、此苾芻犯趣如是對首罪、此苾芻犯趣如 是惡作罪。復次如實知見,諸苾芻所犯罪,若 重若輕、若深若淺、若有餘若無餘、若隱覆若 不隱覆、若顯了若不顯了、若已發露若未發 露、若已除滅若未除滅、若可說若不可說、若 可作若不可作,於如是入種種罪中,解了等 了近了遍了,機黠通達審察聰叡,覺明慧行 毘鉢舍那,是謂入罪善巧。出罪善巧云何?答: 罪謂五部五蘊罪,如前說出。罪善巧,謂如實 知見眾餘、墮煮、對首、惡作四罪。可出其事云 何?如有說言,我如是說、如是顯,於如是罪非 說非顯。我如此說如此顯,於如是罪是說是 顯。我如是顯了、如是發露、如是作法,於如是 罪非發露非除滅。我如此顯了、如此發露、如 此作法,於如是罪,是發露、是除滅。於如是出 種種罪中解了、乃至毘鉢舍那、是謂出罪善 巧。
Việt dịch
QUYỂN 1 Phẩm 1: DUYÊN KHỞI Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đến ngụ tại khu rừng Chiết-lộ-ca, gần ấp huyện Ba Ba, nơi sinh sống của số đông các lực sĩ. Bấy giờ, trong ấp huyện, tại thôn Đông Tây nơi các lực sĩ thường đến tụ họp vui chơi gọi là Ốt-bạt-nhã-ca-cựu-chế-đa, vừa mới xây xong một đài trang sức bằng ngọc quý. Nơi nầy chưa hề có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn, lực sĩ nào đến ở và sử dụng các tiện nghi. Khi biết được Đức Thế Tôn cùng quý Tăng sĩ Bí-sô vừa đến ngụ nơi khu rừng gần đó, thì họ hết sức vui mừng, hội họp nhau lại và bàn: “Chúng ta vừa mới sửa sang xây dựng xong tòa đài đẹp tuyệt ấy. Vậy trước hết nên thỉnh Phật cùng các thầy Bí-sô có phước điền vô thượng đến ở tại đây. Nhân đó nghề nghiệp của chúng ta sẽ phát đạt, có bao nhiêu tiền bạc để chi dụng, do đó an ổn vui sướng, suốt đêm an giấc chẳng lo toan chi, như thế chẳng tốt lắm sao?”. Các lực sĩ sau khi bàn luận xong, đều chiêu tập bạn bè và bà con quyến thuộc cùng ra khỏi ấp Ba Ba đến thẳng chỗ Như Lai. Đến nơi cùng lễ dưới chân Phật, đi nhiễu quanh Phật ba vòng rồi cùng ngồi sang ===== PAGE 4 ===== 4 BỘ TỲ ĐÀM 1 một phía. Bấy giờ, Đức Bạc-già-phạm dùng lời lẽ hiền hòa dịu dàng thăm hỏi an ủi các lực sĩ và bà con quyến thuộc của họ, lại đem đủ các pháp môn mầu nhiệm để chỉ bày dạy bảo, và khích lệ khen ngợi hết sức vui vẻ. Khi nói xong thì Đức Phật im lặng ngồi yên. Đám người lực sĩ khi nghe Đức Phật nói pháp xong thì vui mừng hớn hở, liền đứng dậy và chấp tay cung kính cùng bạch Phật: - Lực sĩ chúng con, trong ấp nầy thường đến tụ tập vui chơi ở thôn Đông Tây nơi Ốt-bạt-nhã-ca-cựu-chế-đa, vừa mới xây dựng một đài trang sức bằng ngọc quý, nhưng chưa có vị Sa-môn hay Bà-la-môn và các lực sĩ nào đến ở đó cả. Nay mong Thế Tôn thương xót chúng con, Ngài hãy cùng quý vị đệ tử đến ở nơi ấy, khiến chúng con được nhiều lợi ích, luôn được an ổn hạnh phúc. Khi ấy, Đức Như Lai thương xót họ liền đem chúng đệ tử đến ở tại đây. Nhân đấy Ngài dùng pháp âm vi diệu vì các lực sĩ giảng nói những sự sai khác của quả báo bố thí, hỏi qua đáp lại mãi đến đêm xuống đã lâu. Đám người lực sĩ cùng số quyến thuộc được nghe pháp hết sức vui mừng đồng lễ Phật rồi ra về. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-tử: - Lưng Ta khá đau, cần phải nghỉ ngơi. Vậy thầy hãy thay Ta giảng nói các pháp thiết yếu cho chúng Bí-sô, chớ nên bỏ phí thời giờ vô ích. Khi ấy, Tôn giả Xá-lợi-tử yên lặng vâng lời. Bấy giờ, Đức Phật liền dùng bốn lớp Ốt-đát-la-tăng trải làm ngọa cụ, xếp y làm gối rồi thẳng mình chồng chân nằm nghiêng về hông mặt, thâu giữ tâm đúng pháp nhập quang minh tưởng. Trong khi nhập định vẫn đầy đủ các niệm chánh tri nhưng tâm thì yên lặng vững vàng, bất động như ngọn núi Đại Bảo. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-tử bảo chúng Bí-sô: - Vùng đất Ba Ba nầy trước đây có một vị Đạo sĩ, giữa chốn đông người đã tự phong mình là bậc Tôn sư. Sau khi người ấy qua đời chưa đầy một tháng thì các hàng đệ tử bày ra việc kết bạn thành từng đôi một. Cả hai người mãi phân vân tranh cãi nhau, có khi lại miệt thị chê bai dữ dội. Ai nấy tự bảo chỉ mình là kẻ thông suốt giáo luật của thầy mà không phải là ai khác. Chỉ có mình hiểu rõ luật pháp ấy thì lời phán quyết của mình mới đúng lý hợp nghi thức. Sự việc nầy đối với các ông là dứt phần. Thế là những điều thầy, dạy ai nấy tự cho là của riêng mình, tự tiện đổi trước ra sau, hoặc thêm hoặc bớt, phân chia chi li vụn vặt và lập thành nhiều môn phái khác nhau. Rồi tranh giành ngôi vị hơn ===== PAGE 5 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 1 5 thua, nên khích bác, tranh luận. Để tránh lỗi lầm, khó khăn, họ càng chê bai, bài xích lẫn nhau. Tuy có tranh luận, nhưng không bàn về đạo lý mà chỉ phun ra những dao mác bén nhọn để tàn hại nhau. Những kẻ tín đồ bạch y tin theo đạo đó thấy đám đệ tử tranh chống nhau như thế liền nổi giận, khinh bỉ bỏ đi. Tôn giả Xá-lợi-tử lại bảo đại chúng: - Ông Đạo sĩ ở thôn Ba Ba lìa thân tộc ấy chủ trương: Nói ác là phải chịu khổ, chẳng thể ra khỏi (giải thoát), chẳng thể đạt đến chánh giác. Đây là pháp hư hoại không thể đạt đến, không thể nương nhờ. Trái lại Đức Như Lai bậc Chánh Đẳng Giác, là vị Đại sư của chúng ta, có giáo pháp chủ trương: Nói thiện được thiện, luôn được giải thoát, xuất ly, có thể đạt đến giác ngộ hoàn toàn (chánh giác), là pháp chẳng hư hoại, có thể đạt tới, có chỗ nương nhờ. Chúng ta hiện nay được nghe những giáo pháp Phật nói, hiện Ngài đang còn sống đây, hãy hòa hợp kết tập lại thành pháp Tỳ-nại-da. Chớ nên để sau khi Như Lai nhập Niết-bàn rồi thì có việc đệ tử đệ tử tranh cãi chống đối nhau. Trái lại ta sống rất hòa thuận, siêng năng tuân giữ các pháp luật phạm hạnh thanh tịnh. Thương xót hàng trời, người ở thế gian, khiến họ thọ hưởng được nhiều phước báo an lạc thù thắng. ------------ Phẩm 2: MỘT PHÁP Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-tử lại bảo đại chúng: Toàn thể quý thầy nên biết Phật là người đã hiểu biết một cách thấu triệt đầy đủ về pháp môn duy nhất, và đã ân cần giảng nói, dạy bảo chỉ bày cho toàn thể đệ tử, môn đồ. Chúng ta hiện nay cần nên hòa hợp thu thập, kết tập lại đầy đủ. Để sau nầy khi Đức Phật diệt độ thì không xảy ra việc tranh cãi và khiến cho tất cả mọi người nên hòa thuận tuân giữ các pháp luật và phạm hạnh thanh tịnh tạo các lợi lạc lâu dài cho vô số các loài hữu tình. Thương xót hàng trời, người ở thế gian khiến họ thọ hưởng được nhiều phước báo an lạc thù thắng. Thế nào là một pháp? Có kệ (Ốt-đà-nam) nói: Một pháp là hữu tình Nương ăn, nương nghiệp sống Đối tất cả pháp thiện Chớ phóng dật làm trọng. Tất cả các loài hữu tình đều nương vào việc ăn uống mà sống. ===== PAGE 6 ===== 6 BỘ TỲ ĐÀM 1 Tất cả các loài hữu tình đều nương vào nghiệp báo (hành) mà sống. Đối với các pháp thiện chớ nên khinh thường, sống phóng dật... đó gọi là “một pháp duy nhất”. Thế nào là tất cả loài hữu tình đều nương vào việc ăn uống mà sống? Còn ăn là sao, mà nói loài hữu tình đều phải nương nhờ việc ăn uống mà sống còn. Nầy quý thầy Bí-sô nên biết, như Đức Thế Tôn đã nói: Việc ăn uống có bốn cách, nhờ đó khiến nhiều chủng loại hữu tình được yên sống và có thể hoạt động giúp ích cho các nhu cầu của đời sống. Bốn cách ăn uống ấy là gì? (Sự nuôi sống ấy là gì?) 1. Là ăn một nắm cơm dù lớn hay bé, nhiều hay ít. 2. Là ăn bằng cách xúc chạm. 3. Là ăn bằng ý tưởng nghĩ đến. 4. Là ăn bằng thức biết. Do bốn cách ăn nầy nên nói các loài hữu tình đều phải nương nhờ ăn uống mà sống. Hỏi: Do nguyên cớ gì biết được các loài hữu tình đều phải nhờ ăn uống mà sống còn? Đáp: Ấy là các loài hữu tình đối với thân thể họ do sự tụ họp tạo nên, và khi thức ăn chưa đầy đủ là nguyên nhân chính cho loài có tưởng, và khi thức ăn đầy đủ là nguyên nhân chính cho loài có tưởng, có suy nghĩ làm việc nói năng hoạt động sống còn, và bao nhiêu biến chuyển khác nhau... Trái lại cũng đối với loài hữu tình đó mà sự cạn kiệt thiếu thốn thức ăn là nguyên nhân chính khiến các suy nghĩ hoạt động nói năng kia phải chết chóc, tan nát và biến chuyển đổi khác. Do đó biết được các loài hữu tình đều phải nương nhờ thức ăn mà sống còn. Hỏi: Như thế, với bốn cách ăn uống đó, nên nói đó là hữu vi hay vô vi? Đáp: Nên nói là hữu vi. Hỏi: Như thế, với bốn cách ăn uống đó, nên gọi là thường hay vô thường? Đáp: Nên nói là vô thường. Hỏi: Với bốn cách ăn đó, nên nói là còn mãi lâu dài hay chẳng lâu dài, còn mãi? Đáp: Nên nói là chẳng lâu dài mãi. Hỏi: Với bốn cách ăn đó, nên nói là biến đổi hay chẳng biến đổi? Đáp: Nên nói là biến đổi. ===== PAGE 7 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 1 7 Hỏi: Với bốn cách ăn đó, nên nói là do duyên sinh hay nói chẳng phải do duyên sinh? Đáp: Nên nói là do duyên sinh ra. Hỏi: Với bốn cách ăn đó, nên nói nó thuộc về danh hay thuộc về sắc? Đáp: Về đoàn thực thì nói thuộc về sắc, còn ba cách ăn kia thì nên nói thuộc về danh. Hỏi: Với bốn cách ăn đó, nên nói là hữu kiến hay bảo là vô kiến? Đáp: Nên nói là vô kiến. Hỏi: Với bốn cách ăn đó, nên nói là hữu đối hay là vô đối? Đáp: Với đoàn thực (ăn từng nắm) nên nói là hữu đối, còn ba thứ ăn kia thì nói là vô đối. Hỏi: Với bốn cách ăn đó, nên nói là tâm hay chẳng phải tâm, nên nói là tâm sở hay chẳng phải tâm sở, nên nói là tâm tương ưng hay nói tâm chẳng phải tương ưng? Đáp: Với đoàn thực nên nói là chẳng phải tâm, chẳng phải tâm sở, và tâm chẳng tương ưng. Còn ăn bằng cách xúc chạm và bằng ý nghĩ, nên nói là tâm sở và tâm tương ưng. Riêng ăn bằng thức biết thì nói đó là tâm. Hỏi: Với bốn cách ăn đó, nên nói là thiện, bất thiện hay vô ký? Đáp: Với đoàn thực nên nói là vô ký, còn ba cách ăn kia nên nói là thiện, hoặc bất thiện, hoặc là vô ký. Hỏi: Thế nào là ăn bằng cách xúc chạm thiện? Đáp: Nếu xúc chạm có pháp thiện hữu lậu làm điều kiện thì có thể giúp muôi lớn các căn và thêm nhiều ích lợi đối với thân tứ đại. Nơi nào cần thấm đượm thì đượm thấm, nơi nào cần làm cho tươi trẻ thì làm cho tươi trẻ, cần che chở, chuyển đổi, giữ gìn thì sẵn sàng che chở, chuyển đổi, và giữ gìn. Đó gọi là cách ăn xúc chạm thiện. Hỏi: Thế nào là ăn bằng cách xúc chạm bất thiện? Đáp: Nếu do xúc chạm bất thiện làm điều kiện thì từ đó có thể nuôi lớn các căn và thân tứ đại được nhiều lợi ích. Lại hay thấm nhuần những chỗ (những lúc) cần thấm nhuần..., cho đến chuyển đổi, giữ gìn v.v... thì đó gọi là cách ăn xúc chạm bất thiện. Hỏi: Thế nào là ăn bằng cách xúc chạm vô ký? Đáp: Nếu nhờ xúc chạm vô ký làm điều kiện, từ đó có thể nuôi lớn các căn thân tứ đại được thêm lợi ích, lại hay thấm đượm những chỗ, những chỗ cần được thấm đượm cho đến chuyển đổi, giữ gìn..., thì gọi ===== PAGE 8 ===== 8 BỘ TỲ ĐÀM 1 là cách ăn xúc chạm vô ký. Hỏi: Thế nào là cách ăn bằng ý tưởng nghĩ đến thiện? Đáp: Nếu lúc đó có các pháp thiện hữu lậu tương ưng với ý nghĩ, nghĩ các việc đang xảy ra trước mắt, nghĩ những việc, những ý đã nghĩ qua, nghĩ đến các loại ý nghiệp tạo nên tâm ý đó. Đó gọi là cách ăn bằng ý tưởng nghĩ thiện. Hỏi: Thế nào là cách ăn bằng ý tưởng nghĩ đến bất thiện? Đáp: Nếu chạm việc bất thiện lại ứng hợp với các ý nghĩ lúc đó, mà nghĩ việc trước mắt v.v... cho đến nghĩ đến các ý nghiệp tạo ra nên tâm ý đó..., thì gọi đó là cách ăn bằng ý tưởng nghĩ đến bất thiện. Hỏi: Thế nào là cách ăn bằng ý tưởng nghĩ đến vô ký? Đáp: Nếu chạm việc vô ký ứng hợp với các ý nghĩ lúc đó..., cho đến nghĩ đến các ý nghiệp v.v... thì gọi là cách ăn bằng ý tưởng nghĩ đến vô ký. Hỏi: Thế nào là cách ăn bằng thức biết thiện? Đáp: Nếu có pháp thiện hữu lậu tương ưng với các tâm ý thức lúc đó, thì gọi là cách ăn bằng thức biết thiện. Hỏi: Thế nào là cách ăn bằng thức biết bất thiện? Đáp: Nếu ý nghĩ bất thiện tương ưng với các tâm ý thức lúc đó, thì gọi là ăn bằng thức biết bất thiện. Hỏi: Thế nào là cách ăn bằng thức biết vô ký? Đáp: Nếu ý nghĩ vô ký tương ưng với tâm ý thức lúc đó, thì gọi là ăn bằng thức biết vô ký. Hỏi: Như thế, với bốn cách ăn đó, nên gọi là học hay vô học, hay gọi là phi học phi vô học. Đáp: Nên nói phi học phi vô học. Hỏi: Với bốn cách ăn đó, nên nói thuộc cõi Dục, cõi Sắc hay cõi Vô sắc? Đáp: Về đoàn thực nên nói thuộc cõi Dục, còn ba cách ăn kia thì hoặc thuộc cõi Sắc hoặc cõi Vô sắc. Hỏi: Các thức ăn đều là đoàn thực chăng? Đáp: Chỉ các đoàn thực thì đều là ăn. Có những cái ăn nhưng không cần phải đoàn thực, tức ba cách ăn kia và thế tục (sống ở đời). Hỏi: Các thức ăn đều là ăn bằng xúc chạm chăng? Đáp: Xúc chạm đều là ăn, nhưng có thức ăn chẳng phải là ăn bằng xúc chạm. Tức là ba cách ăn kia và thế tục. Hỏi: Các thức ăn đều là ăn bằng ý nghĩ chăng? Đáp: Các ý nghĩ đều là ăn, nhưng có những thức ăn chẳng phải ăn ===== PAGE 9 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 1 9 bằng ý nghĩ. Tức là ba cách ăn kia và thế tục. Hỏi: Các thức ăn đều là ăn bằng thức chăng? Đáp: Cách ăn của thức đều là ăn, nhưng có những thức ăn chẳng phải là ăn bằng thức. Tức là ba cách ăn khác kia và thế tục. Hỏi: Các phần ăn từng nắm đều là ăn chăng? Đáp: Nên quy thành bốn luận chứng: 1. Có những nắm từng phần ăn nhưng chẳng phải là ăn, là có các phần ăn nầy làm duyên đấy nhưng các căn hư hoại, ốm gầy, thân thể biến đổi hư hoại. 2. Lại có cách ăn nhưng chẳng cần phần ăn. Tức là ba cách ăn kia và thế tục. 3. Lại có phần ăn mà cũng là ăn, đó là các phần ăn nầy làm duyên khiến các căn tăng trưởng, thân thể đầy đủ thêm hơn, và có thể thấm đượm nơi cần thấm đượm, cho đến tùy sự giữ gìn v.v... 4. Lại còn có chẳng có phần ăn mà cũng chẳng phải ăn, tức là trừ tướng trước vừa kể. Hỏi: Các thứ chạm xúc đều gọi là ăn chăng? Đáp: Nên chia ra bốn luận chứng: 1. Là có chạm xúc mà chẳng có ăn, tức là có chạm xúc với pháp vô lậu và hữu lậu để làm duyên, nhưng các căn lại bị hao gầy, thân thể bị biến đổi hư hoại. 2. Lại có cách ăn mà chẳng cần phải chạm xúc, là khác với ba cách ăn kia và thế tục. 3. Lại có xúc chạm mà cũng là ăn, là có xúc chạm với hữu lậu để làm duyên, giúp các căn thêm lớn, thân thể đầy đủ ích lợi và lại có thể thấm đượm tùy nơi cần thấm đượm, cho đến giữ gìn tùy nơi cần giữ gìn v.v... 4. Lại có chẳng cần xúc chạm mà chẳng phải là ăn, tức là trừ ba tướng trước vừa kể. Như cách ăn do xúc chạm có bốn thứ đó, cách ăn về ý nghĩ và về thức biết thì cũng như thế, nên biết. Hỏi: Lại có khi nào do ăn làm điều kiện rồi sinh ra ăn, sinh ra chẳng phải ăn, hoặc sinh ra ăn nhưng chẳng phải ăn chăng? Đáp: Có sinh ra. Hỏi: Thế nào là do ăn làm duyên mà sinh ra ăn? Đáp: Khi có phần ăn làm duyên thì sinh ra ba thứ ăn kia. Hỏi: Thế nào là do ăn làm duyên mà sinh ra chẳng phải ăn? Đáp: Do đoàn thực làm duyên mà sinh ra thọ, tưởng, tác ý v.v... ===== PAGE 10 ===== 10 BỘ TỲ ĐÀM 1 Hỏi: Thế nào là do ăn làm duyên mà sinh ra ăn nhưng chẳng phải ăn? Đáp: Do đoàn thực làm duyên mà sinh ra ba thứ ăn kia và thọ, tưởng, tác ý v.v... Hỏi: Lại có khi nào chẳng phải ăn làm duyên mà sinh ra chẳng phải ăn, sinh ra ăn, sinh ra ăn mà chẳng phải ăn chăng? Đáp: Có sinh ra. Hỏi: Thế nào là chẳng phải ăn làm duyên mà sinh ra chẳng phải ăn? Đáp: Như mắt và sắc làm duyên thì sinh ra thọ, tưởng, tác ý v.v... Hỏi: Thế nào là chẳng phải ăn làm duyên mà sinh ra ăn? Đáp: Như mắt và sắc làm duyên mà sinh ra các cách ăn về chạm xúc, ý nghĩ và thức biết. Hỏi: Thế nào là chẳng phải ăn làm duyên mà sinh ra ăn nhưng chẳng phải ăn? Đáp: Như mắt và sắc làm duyên mà sinh ra các cách ăn về chạm xúc, ý nghĩ và thức biết cùng thọ, tưởng, tác ý v.v... Hỏi: Lại có khi nào ăn, chẳng phải ăn làm duyên mà sinh ra chẳng phải ăn, sinh ra ăn, sinh ra ăn chẳng phải ăn chăng? Đáp: Có sinh ra. Hỏi: Thế nào là ăn, chẳng phải ăn làm duyên mà sinh ra chẳng phải ăn? Đáp: Như mắt, sắc và nhãn thức làm duyên mà sinh ra các cách ăn về xúc chạm, ý nghĩ và thức biết cùng thọ, tưởng, tác ý v.v... Hỏi: Thế nào là ăn, chẳng phải ăn làm duyên mà sinh ra ăn? Đáp: Như mắt, sắc và nhãn thức làm duyên mà sinh ra các cách ăn về xúc chạm, ý nghĩ và thức biết. Hỏi: Thế nào là ăn, chẳng phải ăn làm duyên mà sinh ra ăn chẳng phải ăn? Đáp: Như mắt, sắc và nhãn thức làm duyên thì sinh ra thọ, tưởng, tác ý v.v... Hỏi: Nếu đoàn thực (có phần ăn thực) đã dứt, đã biết khắp thì cách ăn bằng chạm xúc cũng như thế chăng? Đáp: Nếu ăn bằng cách xúc chạm đã dứt, đã biết cách thì đoàn thực cũng thế. Có đoàn thực đã dứt, đã biết khắp mà chẳng phải là thức ăn xúc chạm, tức là chỉ mới lìa dục nhiễm, chưa lìa được thượng nhiễm. Như lấy đoàn thực đối chiếu với ăn bằng xúc chạm, đối chiếu với ăn bằng ý nghĩ và thức biết cũng như thế. ===== PAGE 11 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 1 11 Hỏi: Nếu ăn bằng chạm xúc đã dứt, đã biết khắp thì ăn bằng ý nghĩ có như thế chăng? Đáp: Có như thế. Nếu lấy cách ăn do chạm xúc mà đối chiếu với cách ăn bằng ý nghĩ thì đối với cách ăn bằng thức cũng như vậy. Hỏi: Nếu ăn bằng ý nghĩ đã dứt, đã biết khắp thì cách ăn bằng thức cũng như thế chăng? Đáp: Cũng như thế. Hỏi: Nếu đối với sự ăn uống đã dứt, đã biết khắp, thì đó là lìa được cách nhiễm trước cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc chăng? Đáp: Nếu đối với đoàn thực đã dứt, đã biết khắp, thì nó chỉ lìa nhiễm trước ở cõi Dục, chứ không phải ở cõi Sắc và Vô sắc. Còn như đối với cả ba cách ăn kia mà đã dứt, đã biết khắp, thì nó đã lìa được các nhiễm ở cõi Dục, Sắc và Vô sắc. Khi đó thì đối với tất cả, tất cả sự việc, tất cả mọi thứ, tất cả ngôi vị, tất cả chỗ, tất cả các ràng buộc kết chặt đều đã lìa nhiễm ô. Còn tất cả loài hữu tình đều phải nương vào hành mà sống. Hỏi: Thế nào là hành mà nói là loài hữu tình phải nương vào hành mà sống? Đáp: Nầy quý thầy Bí-sô nên biết, như Đức Thế Tôn đã nói: Nếu các loài hữu tình đối với thân thể mình, do tụ họp tạo nên, mà chẳng chết mất, chẳng hao mòn, chẳng bị phá vỡ, chẳng lỗi lầm, chẳng lui sụt..., thì đều là do đời sống (thọ) giữ cho thân xác (mạng căn) luôn liên tục nối tiếp mãi. Cuộc sống (thọ) nầy gọi là hành. Do cái hành đó mà cả loài hữu tình sống còn hoạt động được chính hành nầy đối với những việc cần che chở giữ gìn hay chuyển đổi thì nó sẽ tùy theo mà che chở giữ gìn chuyển đổi. Do đó nên nói tất cả các loài hữu tình đều nương nhờ hành mà sống. Hỏi: Do điều kiện nào mà biết được các loài hữu tình đều nương vào hành mà trụ? Đáp: Nghĩa là tất cả loài hữu tình đối với thân tụ họp nầy, khi nào cuộc sống của hành còn đầy đủ là nguyên nhân chính để có suy nghĩ, làm việc, nói năng, hoạt động, sống còn và các sự chuyển biến khác nhau. Còn như các loài hữu tình đó đối với thân tụ hợp nầy khi nào cuộc sống của hành đã thiếu vắng là nguyên nhân chính khiến các suy nghĩ nói năng hoạt động sống còn kia đều phải chết chóc tan nát rụi tàn và chuyển biến đổi khác. Do đó nên biết các loài hữu tình đều phải nương nhờ vào hành mà sống còn. Hỏi: Như thế mạng sống phải nói là hữu vi hay vô vi? ===== PAGE 12 ===== 12 BỘ TỲ ĐÀM 1 Đáp: Nên nói là hữu vi. Hỏi: Với mạng sống nên nói là thường hay vô thường? Đáp: Nên nói là vô thường. Hỏi: Như thế mạng sống đó nên nói là còn mãi lâu dài hay chẳng còn mãi lâu dài? Đáp: Nên nói là chẳng còn mãi lâu dài. Hỏi: Như thế mạng sống đó nên nói là biến đổi hay chẳng biến đổi? Đáp: Nên nói là biến đổi. Hỏi: Như thế mạng sống đó nên nói là do duyên sinh hay chẳng phải do duyên sinh ra? Đáp: Nên nói là do duyên sinh ra. Hỏi: Như thế mạng sống đó nên nói thuộc về sắc hay thuộc về danh? Đáp: Nên nói thuộc về danh. Hỏi: Như thế mạng sống nên nói là có thấy hay chẳng thấy? Đáp: Nên nói không thấy. Hỏi: Như thế mạng sống nên nói là có đối hay không có đối? Đáp: Nên nói không đối. Hỏi: Như thế mạng sống nên nói là tâm hay chẳng phải tâm, nên nói là tâm sở hay chẳng phải tâm sở, nên nói là tâm tương ưng hay tâm chẳng tương ưng? Đáp: Nên nói là chẳng phải tâm, chẳng phải tâm sở, và tâm chẳng tương ưng. Hỏi: Như thế mạng sống đó nên nói là thiện, bất thiện hay vô ký? Đáp: Nên nói là vô ký. Hỏi: Như thế mạng sống đó nên nói là hữu lậu hay vô lậu? Đáp: Nên nói là hữu lậu. Hỏi: Như thế mạng sống đó nên nói là học hay vô học? Đáp: Nên nói là chẳng phải là học cũng chẳng phải là vô học. Hỏi: Như thế mạng sống đó nên nói thuộc cõi Dục, cõi Sắc, hay cõi Vô sắc? Đáp: Nên nói là thuộc cõi Dục, hoặc thuộc cõi Sắc, hoặc thuộc cõi Vô sắc. Vì sao nói là thuộc cõi Dục? Vì đó là mạng sống ở cõi Dục. Vì sao nói là thuộc cõi Sắc? Vì đó là mạng sống ở cõi Sắc. Vì sao nói là thuộc cõi Vô sắc? Vì đó là mạng sống ở cõi Vô sắc. ===== PAGE 13 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 1 13 Hỏi: Nếu mạng sống ở cõi Dục đã dứt, đã biết khắp, thì mạng sống ở cõi Sắc cũng như thế chăng? Đáp: Nếu mạng sống ở cõi Sắc đã dứt, đã biết khắp, thì mạng sống ở cõi Dục cũng thế. Có mạng sống ở cõi Dục đã dứt, đã biết khắp thì chẳng phải là mạng sống ở cõi Sắc. Nghĩa là đã lìa được cái nhiễm ở cõi Dục, nhưng chưa lìa được cái nhiễm của cõi Sắc. Hỏi: Nếu mạng sống ở cõi Dục đã dứt, đã biết khắp, thì mạng sống ở cõi Vô sắc cũng như thế chăng? Đáp: Nếu mạng sống ở cõi Vô sắc đã dứt, đã biết khắp thì mạng sống ở cõi Dục cũng như thế. Có mạng sống ở cõi Dục đã dứt, đã biết khắp thì chẳng phải là mạng sống ở cõi Vô sắc. Nghĩa là đã lìa nhiễm cõi Dục, nhưng chưa lìa được nhiễm cõi Vô sắc. Hỏi: Nếu mạng sống ở cõi Sắc đã dứt đã biết khắp thì mạng sống cõi Vô sắc cũng như thế chăng? Đáp: Nếu mạng sống ở cõi Vô sắc đã dứt đã biết khắp, thì mạng sống ở cõi Sắc cũng như thế. Có mạng sống ở cõi Sắc đã dứt đã biết khắp thì chẳng phải là mạng sống ở cõi Vô sắc. Nghĩa là đã lìa nhiễm cõi Sắc, nhưng chưa lìa được nhiễm cõi Vô sắc. Hỏi: Nếu đối với mạng sống đã dứt, đã biết khắp, thì nó có lìa được các nhiễm của cả ba cõi Dục, cõi Sắc và Vô sắc chăng? Đáp: Nếu mạng sống ở cõi Dục đã dứt, đã biết khắp, thì nó đã lìa nhiễm ở cõi Dục, chẳng phải ở cõi Sắc và Vô sắc. Nếu mạng sống ở cõi Sắc đã dứt, đã biết khắp, thì nó chỉ mới lìa nhiễm ở cõi Dục, Sắc, chứ không phải ở cõi Vô sắc. Còn nếu mạng sống ở cõi Vô sắc đã dứt, đã biết khắp thì khi ấy nó đã lìa hết các nhiễm của cả ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc. Bấy giờ, đối với tất cả, tất cả sự việc, tất cả mọi thứ, tất cả ngôi vị, tất cả chỗ, tất cả sự ràng buộc, kết chặt đều được lìa tất cả ô nhiễm. Đối với tất cả pháp thiện không có buông lung. Thế nào là buông lung? Đáp: Nếu đoạn dứt các pháp bất thiện, thực hiện đầy đủ các pháp thiện, luôn luôn luyện tập trau giồi, lúc nào cũng tu trì, luôn thực hiện các việc một cách bền bỉ, lâu dài mãi mãi, tu trì nhiều lần nhiều ngày không bao giờ ngưng nghỉ. Đó gọi là chẳng buông lung hay là bất phóng dật. -------------- ===== PAGE 14 ===== 14 BỘ TỲ ĐÀM 1 Phẩm 3: HAI PHÁP - Phần 1 Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-tử bảo đại chúng: Tất cả quý thầy nên biết! Đức Phật là người đã hiểu biết thấu suốt đầy đủ về hai pháp, đã vì các hàng đệ tử, môn đồ ân cần giảng dạy chỉ bày. Vậy nay chúng ta cần nên hòa hợp kết tập lại, để sau nầy khi Đức Phật đã diệt độ thì không xảy ra việc tranh cãi và khiến tất cả mọi người cần hòa thuận tuân giữ các pháp luật và phạm hạnh thanh tịnh để tạo nên các lợi lạc lâu dài cho vô số các loài hữu tình. Thương xót hàng trời, người ở thế gian, khiến họ thọ hưởng các phước báo an lạc thù thắng. Thế nào là hai pháp? Kệ nói: (Ốt-đà-nam) Hai pháp là Danh, Sắc, Cho đến hết không sinh Gồm hai mươi bảy thứ Sẽ giải thích chương sau. Có hai pháp gọi là danh và sắc. Lại có hai pháp, đó là vô minh và hữu ái. Lại có hai pháp, đó là có thấy và không thấy. Lại có hai pháp, đó là không hổ, không thẹn. Lại có hai pháp, đó là hổ và thẹn. Lại có hai pháp, đó là lời ác, bạn ác. Lại có hai pháp, đó là lời lành, bạn lành. Lại có hai pháp, đó là khéo léo gây tội và khéo léo thoát tội. Lại có hai pháp, đó là khéo léo nhập định và khéo léo xuất định. Lại có hai pháp, đó là giới hạn khéo léo và tác ý khéo léo. Lại có hai pháp, đó là thật thà ngay thẳng và hiền hòa. Lại có hai pháp, kham nhẫn (nhẫn nhục) và luôn vui. Lại có hai pháp, đó là hòa thuận và cúng dường. Lại có hai pháp, đó là niệm đủ và biết đúng. Lại có hai pháp, đó là sức suy nghĩ chọn lọc và sức tu tập. Lại có hai pháp, đó là chẳng giữ gìn căn môn và ăn chẳng biết lường đủ. Lại có hai pháp, đó là giỏi giữ gìn căn môn và ăn biết lường đủ. Lại có hai pháp, đó là thiếu giới, thiếu kiến. Lại có hai pháp, đó là phá giới, phá kiến. Lại có hai pháp, đó là đủ giới, đủ kiến. Lại có hai pháp, đó là tịnh giới, tịnh kiến. Lại có hai pháp, đó là thấy đúng, như lý thù thắng. Lại có hai pháp, đó là chán đúng, như lý thù thắng. ===== PAGE 15 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 1 15 Lại có hai pháp, đó là đối với pháp thiện chẳng mừng đủ và đối với sự đoạn dứt chẳng ngăn trở. Lại có hai pháp, đó là Xa-ma-tha và Tỳ-bát-xá-na. Lại có hai pháp, đó là sáng suốt và giải thoát. Lại có hai pháp, đó là trí tận và trí vô sinh. Trong đây có hai pháp: Đó gọi là danh - sắc. Hỏi: Thế nào là danh? Đáp: Đó là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn cùng hư không trạch diệt và phi trạch diệt, đó gọi là danh. Hỏi: Thế nào là sắc? Đáp: Thân tứ đại (đất, nước, gió, lửa) và sự tạo ra sắc chất. Lại có hai pháp: Đó gọi là vô minh và hữu ái. Hỏi: Vô minh là gì? Đáp: Như trong Luận Pháp Uẩn nói. Hỏi: Hữu ái là gì? Đáp: Các sự tham lam ở cõi Sắc và Vô sắc vì tham lam nên cất chứa, giữ gìn, đam mê đắm vướng và yêu thương chấp nhiễm, đó là hữu ái. Lại có hai pháp: Đó là có thấy (hữu kiến) và không thấy (vô kiến). Hỏi: Có thấy là sao? Đáp: Như bảo cõi thế gian của ta là thường còn. Do đó phát khởi sự nhận chịu ham thích nhìn thấy, thì gọi đó là có thấy. Hỏi: Không thấy là sao? Đáp: Như bảo cõi thế gian của ta là đoạn diệt do đó khởi lên sự nhận chịu ham thích nhìn thấy, đó gọi là không thấy. Lại có hai pháp: Gọi là không hổ, không thẹn. Hỏi: Không hổ là sao? Đáp: Như Thế Tôn đã nói: “Kẻ không biết xấu hổ là đối với các việc đáng xấu hổ mà lại không biết xấu hổ. Các việc đáng xấu hổ đó là sự xấu xa độc ác, chẳng lành, lại tùy thuận theo các thói ô nhiễm xen tạp, tùy thuận vào kiếp sau bị các khổ não dị thục và tùy thuận theo cuộc sống ở vị lai với sinh, già, chết, rồi sau nầy khi các việc ác xấu xa chẳng tốt lành sinh ra nhưng không biết xấu hổ, không có điều xấu hổ, không tự xấu hổ riêng mình, không trẽn (trơ trẽn), không bị làm trẽn, không có hổ thẹn, không tôn sùng kính trọng ai, không được tôn sùng kính trọng, không tùy thuộc người khác, không có kẻ khác tùy thuộc mình, đối với mình lúc nào cũng luôn tự tại không hề biết sợ sệt áy ===== PAGE 16 ===== 16 BỘ TỲ ĐÀM 1 náy... đó gọi là không xấu hổ”. Hỏi: Không thẹn là sao? Đáp: Như Thế Tôn đã nói: “Không biết thẹn, đối với các việc đáng hổ thẹn mà chẳng sinh lòng hổ thẹn. Việc đáng hổ thẹn đó là các việc xấu xa ác độc chẳng thiện cho đến tùy thuận có thân thời vị lai với đủ cả sinh, già, chết, và sau nầy khi các sự xấu xa chẳng tốt lành sinh ra thì không biết hổ thẹn, không có điều kiện hổ thẹn, chẳng tự thẹn riêng mình, không biết hổ thẹn, không có điều hổ thẹn, cũng chẳng biết tự hổ thẹn riêng. Đối với các tội lỗi đã làm mà chẳng hề biết sợ hãi lo lắng, chẳng thấy có điều chi sợ sệt bối rối cả. Đó gọi là chẳng biết thẹn”. Lại có hai pháp: Đó là biết hổ, biết thẹn. Hỏi: Biết hổ là sao? Đáp: Như Thế Tôn đã nói: “Có kẻ biết hổ là đối với các việc đáng xấu hổ thì sinh lòng xấu hổ. Việc đáng xấu hổ đó là những việc xấu xa chẳng thiện, cho đến tùy thuận, đến cuộc sống ở tương lai có đủ sinh, già, chết. Và sau nầy khi các việc xấu xa chẳng tốt lành sinh ra thì có biết xấu hổ, có điều xấu hổ, có tự biết xấu hổ riêng. Có sai khiến, bị sai khiến, có sai lầm riêng. Có tôn sùng kính trọng và được tôn sùng kính trọng, có tùy thuộc và được người khác tùy thuộc. Đối với sự tự tại thì biết sợ sệt, đó gọi là biết xấu hổ”. Hỏi: Biết thẹn là sao? Đáp: Như Thế Tôn đã nói: “Có những kẻ biết thẹn là đối với các việc đáng hổ thẹn thì sinh lòng hổ thẹn. Việc đáng hổ thẹn tức là các việc xấu xa độc ác chẳng tốt lành, cho đến gây nên kiếp sống ở vị lai với sinh, già, chết. Và sau nầy khi các việc ác chẳng lành đó sinh ra thì biết hổ thẹn, có hổ thẹn riêng mình. Biết hổ thẹn các điều đã hổ thẹn, có sự hổ thẹn riêng mình. Đối với các tội ác lỗi lầm đã gây ra thì biết sợ sệt áy náy lo lắng, thấy được các việc đáng e dè sợ sệt. Đó là biết thẹn”. Lại có hai pháp: Đó là lời nói xấu ác và bạn xấu ác. Hỏi: Thế nào là lời nói xấu ác? Đáp: Như Luận Pháp Uẩn nói. Hỏi: Thế nào là bạn xấu ác? Đáp: Cũng trong Luận Pháp Uẩn đã nói. Lại có hai pháp: Đó là lời nói lành và bạn lành. Hỏi: Lời nói lành là sao? Đáp: Trong cùng một hạng người, nghề nghiệp, khi nào cần thân thiết chỉ bày dạy bảo nhau thì cùng thân thiết giúp nhau để được như ===== PAGE 17 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 1 17 nhau. Khi nào cần dùng mẫu mực, thì cũng tùy thuận mà thực hiện. Đối với người khác có tài đức thì một lòng kính trọng tôn quý, tin tưởng giao tế qua lại để trở thành nhóm bạn hiền, đúng như pháp mà khuyên bảo nhau như nói từ nay trở đi chớ làm xấu thân nghiệp, chớ làm xấu ngữ nghiệp, chớ làm xấu ý nghiệp, chớ làm, sống theo nó. Chớ nên gần gũi với các bạn xấu. Chớ nên gây tạo các nghiệp ác sẽ bị đọa vào ba đường dữ. Cứ như thế mà khuyên răn dạy bảo những lời hay ý đẹp đúng lúc, đúng nơi. Còn đối với các việc tu hành đạo pháp thì cần nên tùy thuận mà gia công bền bỉ khéo léo như mài giũa ngọc quý, để đạo đức ngày càng trở nên tôn quý đẹp đẽ hơn. Hãy giúp đỡ bạn bè những tài sản quý báu lớn lao bằng những lời khuyên răn dạy bảo quý báu, cùng nhau mến yêu, chia ngọt xẻ bùi đồng cảm, đồng sở thích, cùng tin tưởng giúp đỡ nhau hết lòng. Chẳng lấy trộm, cái gì cho mới lấy đàng hoàng. Không nên chống cự nghịch thù cũng không bắt bẻ, chống báng chê bai nhau, hay bài bác hất hủi nhau tàn tệ... Đó là lời nói lành. Hỏi: Còn bạn lành là thế nào? Đáp: Như Luận Pháp Uẩn nói. Lại có hai pháp: Đó là khéo léo gây tội và khéo léo thoát tội. Hỏi: Thế nào là khéo léo gây tội? Đáp: Tội tức là có năm thứ tội của thân ngũ uẩn. Năm thứ tội đó là: 1. Là hơn người khác. 2. Nhiều thứ khác. 3. Là đọa vào địa ngục bị nấu đốt. 4. Là đối thú. 5. Là làm ác. Khéo gây tội tức là đúng như thật mà thấy biết: Thầy Bí-sô phạm tội hơn người là như thế, thầy Bí-sô phạm nhiều tội khác là như thế, thầy Bí-sô phạm tội chưng nấu là như thế, thầy Bí-sô phạm tội đối thú là như thế, thầy Bí-sô phạm tội làm ác là như thế. Lại cần phải như thật mà thấy biết: Thầy Bí-sô đã khởi lên phạm tội hơn người. Thầy Bí-sô đã khởi lên phạm nhiều thứ tội khác. Thầy Bí-sô đã khởi lên phạm tội bị đọa vào nơi nấu đốt. Thầy Bí-sô đã khởi lên phạm tội đối thú. Thầy Bí-sô đã khởi lên phạm tội làm ác. Lại cần phải như thật mà thấy biết: Thầy Bí-sô nầy đã phạm tội hơn người như thế. Thầy Bí-sô nầy đã phạm nhiều tội khác như thế. Thầy Bí-sô nầy đã phạm tội chưng nấu như thế. Thầy Bí-sô nầy đã phạm tội đối thú như thế. Thầy Bí-sô nầy đã phạm tội làm ác như thế. ===== PAGE 18 ===== 18 BỘ TỲ ĐÀM 1 Lại cần phải như thật mà thấy biết: Thầy Bí-sô nầy đã khởi lên phạm tội hơn người. Thầy Bí-sô nầy đã khởi lên phạm nhiều tội khác. Thầy Bí-sô nầy đã khởi lên phạm tội chưng nấu. Thầy Bí-sô nầy đã khởi lên phạm tội đối thú. Thầy Bí-sô nầy đã khởi lên phạm tội làm ác. Lại phải như thật mà thấy biết: Các thầy Bí-sô đã phạm tội hoặc nặng hay nhẹ, hoặc sâu hay cạn, hoặc có dư hay không dư, hoặc che giấu hay không che giấu, hoặc rõ ràng hay không rõ ràng, hoặc đã phát lồ hay chưa phát lồ, hoặc đã diệt trừ hết hay chưa diệt trừ hết, hoặc có thể nói hay không nói được, hoặc làm được hay chẳng thể làm được. Như thế mà gây tạo ra các thứ tội, là đã hiểu rõ ràng, hiểu tất cả, hiểu mọi việc gần gũi, hiểu rõ khắp mọi nơi, thấy mình hiểu biết lượng định kỹ, sáng suốt, tuệ hạnh hiểu biết thông tỏ Tỳ-bát-xá-na... đó gọi là khéo léo gây tội. Hỏi: Thế nào là khéo léo thoát tội? Đáp: Tội là năm thứ tội của thân ngũ uẩn. Như trước đã nói rõ. Các tội khéo léo, nghĩa là đúng như thật mà hiểu biết với bốn tội sau đây thì có thể thoát ra, đó là: các thứ khác, chưng nấu, đối thú, làm ác. Việc thoát ra như thế nào? Như nói thế nầy: Tôi là... (như thế), từ trước nay chưa hề bày tỏ cùng ai. Hôm nay tôn xin nói lời nầy để trình bày việc đó. Với tội lỗi như thế nay xin thưa bày... Tôi vừa trình bày xong, nay xin phát lồ sám hối. Đối với tội như thế, nay xin làm đúng theo pháp đã được quy định. Nếu không phát lồ sám hối thì chẳng được tiêu trừ. Nên hôm nay tôi xin trình bày rõ ràng các việc như thế và xin chân thành phát lồ sám hối đúng như điều quy định với tội lỗi như thế... nay phát lồ sám hối như thế rồi thì tội lỗi kia sẽ được tiêu trừ. Và như thế là biết được rằng mình đã thoát ra các tội lỗi..., cho đến Tỳ-bát-xá- na. Đó gọi là thoát tội một cách khéo léo. ===== PAGE 19 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 2 19 LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC