Tâm sở · cetasika
Tâm sở là những pháp sinh khởi cùng với tâm, cùng đối tượng và cùng diệt với tâm, nhưng có chức năng riêng.
Đối chiếu Anh ngữ: Đối chiếu thuật ngữ Vi Diệu Pháp và từ điển Pāli–Anh Budsas.Tra Pāli–Việt, Anh–Việt, giải nghĩa Việt–Việt hoặc tìm bài thuật ngữ, chương giáo trình và nội dung thư viện.
60 kết quả đang hiển thị cho tâm sở. Có thêm kết quả; nhập từ khóa cụ thể hơn để thu hẹp.
Tâm sở là những pháp sinh khởi cùng với tâm, cùng đối tượng và cùng diệt với tâm, nhưng có chức năng riêng.
Đối chiếu Anh ngữ: Đối chiếu thuật ngữ Vi Diệu Pháp và từ điển Pāli–Anh Budsas.Tâm sở nghi là tâm sở bất thiện biểu hiện sự hoài nghi theo nghĩa kỹ thuật của Abhidhamma.
Tâm sở tợ tha là tâm sở có thể mang sắc thái thiện hay bất thiện tùy các pháp mà nó đồng sinh.
Các tâm sở được xét như pháp chân đế đồng sinh và phối hợp với tâm.
Tâm sở trí tuệ là tâm sở có chức năng hiểu biết, thấy rõ đối tượng theo mức độ tương ứng.
Tâm sở tịnh hảo là tâm sở thuộc nhóm các pháp tâm lý đẹp, chỉ đồng sinh với tâm tịnh hảo.
Tâm sở biến hành (Pāli: sabbacittasādhāraṇa) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: sự biết/cognizing một đối tượng tại một sát-na; được phân loại theo cảnh giới, nhân, thọ, trí và chức năng.
Tâm sở biến hành là cách gọi một tâm sở có phạm vi đồng sinh phổ biến trong nhóm tâm được xác định.
Tâm sở biệt cảnh là tâm sở thuộc nhóm sáu pháp có mặt tùy trường hợp, không phải trong mọi tâm.
Tâm sở bất thiện (Pāli: akusala-cetasika) được dùng theo nghĩa kỹ thuật: pháp tâm lý sinh cùng tâm, cùng diệt, cùng đối tượng và cùng căn cứ theo hệ thống Theravāda.
Tâm sở có khuynh hướng muốn chúng sinh đang khổ được thoát khỏi khổ.
Tâm sở có tính chất vui thích, phấn chấn đối với đối tượng.
Tâm sở che mờ, không thấy rõ đối tượng theo tính chất chân thật của nó.
Tâm sở có khuynh hướng muốn thực hiện hoặc hướng tới đối tượng, còn gọi là ý muốn làm.
Tâm sở bứt rứt, hối tiếc về việc đã làm hoặc chưa làm theo chiều bất thiện.
Tâm sở so sánh và nâng mình lên, hạ mình xuống hoặc ngang mình đối với người khác.
Tâm sở e ngại hậu quả và sự chê trách của điều bất thiện, hỗ trợ không làm điều sai.
Tâm sở chống đối, đẩy lui hoặc khó chịu đối với đối tượng.
Tâm sở có đặc tính thấy biết đúng, thấu hiểu đối tượng theo thực tính của pháp.
Tâm sở khiến tâm hổ thẹn đối với điều bất thiện, nhờ đó hỗ trợ tránh làm điều đáng chê trách.
Tâm sở có đặc tính tin tưởng, trong sáng và hướng tâm đến điều đáng tin.
Tâm sở không hoan hỷ trước thành tựu hoặc lợi ích của người khác và có khuynh hướng chống lại điều đó.
Tâm sở ghi nhớ và giữ đối tượng một cách không quên lãng, giúp tâm không trôi khỏi điều đang được xét.
Tâm sở có tính chất dính mắc, bám chặt và hướng đối tượng theo chiều chiếm giữ.
Tâm sở không mê mờ, có khả năng nhận biết đối tượng đúng theo phương diện trí tuệ.
Tâm sở không e ngại hậu quả hoặc sự chê trách của điều bất thiện, nên không có sự ngăn ngừa do quý.
Tâm sở không chống đối, không làm tâm nóng giận đối với đối tượng.
Tâm sở không hổ thẹn đối với điều bất thiện, nên không có sự ngăn ngừa do tàm.
Tâm sở làm tâm mềm mại, dễ thích ứng với công việc thiện.
Tâm sở làm tâm trở nên nhẹ, nhanh nhạy và ít trì trệ.
Tâm sở làm tâm dao động, không yên và khó giữ sự ổn định đối với đối tượng.
Tâm sở chấp giữ một quan niệm sai lạc về thực tại theo nghĩa Abhidhamma.
Tâm sở không dính mắc, không muốn chiếm giữ đối tượng theo tính chất tham ái.
Tâm sở làm tâm trì trệ, thiếu sức nâng đỡ để thực hiện công việc.
Nhu thân tâm sở là tính mềm mại, dễ thích nghi của các tâm sở tịnh hảo.
Đối chiếu Anh ngữ: Đối chiếu thuật ngữ Vi Diệu Pháp và từ điển Pāli–Anh Budsas.Tâm sở làm nhóm tâm sở mềm mại, dễ thích ứng và không cứng nhắc.
Tâm sở làm nhóm tâm sở trở nên nhẹ và linh hoạt.
Phối hợp tâm sở là việc xác định những tâm sở nào có thể đồng sinh với từng loại tâm.
Tâm sở có tính chất nỗ lực, nâng đỡ tâm và các pháp đồng sinh thực hiện nhiệm vụ.
Tổng hợp tâm sở (Pāli: cetasika-saṅgaha) là một mục trực tiếp về cetasika (tâm sở), tức pháp tâm lý đồng sinh với tâm và có chức năng riêng.
Tâm sở có khuynh hướng keo giữ lợi ích, địa vị hoặc những gì mình có, không muốn chia sẻ hay để người khác cùng hưởng.
Tâm sở tiết chế lời nói sai trái theo phương diện thiện.
Tâm sở làm lắng dịu tâm, giúp tâm không thô nặng hay kích động.
Tâm sở làm các tâm sở đồng sinh trở nên nặng nề, uể oải và khó hoạt động.
Tâm sở tiết chế cách nuôi mạng bất thiện theo phương diện thiện.
Khinh thân tâm sở là tính nhẹ nhàng, không nặng nề của các tâm sở đồng sinh trong tâm tịnh hảo.
Đối chiếu Anh ngữ: Đối chiếu thuật ngữ Vi Diệu Pháp và từ điển Pāli–Anh Budsas.Tâm sở làm lắng dịu nhóm tâm sở đồng sinh, khiến sự vận hành của chúng nhẹ nhàng hơn.
Tâm sở có chức năng quyết định hoặc xác định đối tượng, giúp tâm không lưỡng lự về điều đang được xét.
Nhóm ba tâm sở có chức năng tiết chế thân khẩu theo hướng thiện: chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.
Tâm sở hoan hỷ trước sự thành công, hạnh phúc và thành tựu tốt đẹp của chúng sinh khác.
Ba tâm sở giới phần là chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.
Ba tâm sở tham phần là tham, tà kiến và ngã mạn.
Bốn tâm sở sân phần là sân, tật đố, xan tham và hối quá.
Tâm sở tiết chế các hành vi thân bất thiện theo phương diện thiện.
Nhóm hai tâm sở bi và hỷ, có khả năng lấy chúng sinh làm đối tượng theo phạm vi rộng.
Năm mươi hai tâm sở là toàn bộ 52 loại tâm sở được hệ thống hóa trong Abhidhamma.
Bảy tâm sở biến hành là bảy tâm sở có mặt trong mọi tâm.
Khinh an thân tâm sở là sự lắng dịu của nhóm tâm sở đồng sinh, làm giảm trạng thái xao động và căng thẳng tâm lý.
Đối chiếu Anh ngữ: Đối chiếu thuật ngữ Vi Diệu Pháp và từ điển Pāli–Anh Budsas.Sáu tâm sở biệt cảnh là sáu tâm sở có thể sinh trong nhiều tâm nhưng không hiện diện trong mọi tâm.
Tâm sở quân bình tâm và các tâm sở, không thiên lệch về hai phía ưa-ghét.
Ưu tiên thuật ngữ và bài giải thích đã xuất bản. Nghĩa Anh được đối chiếu với từ điển Pāli–Anh có sẵn; không phải mọi mục đều có đủ bản Anh. Nội dung biên soạn được phân biệt với nguyên văn kinh điển.
Nguồn: từ điển và bài thuật ngữ đã xuất bản; đối chiếu Anh ngữ từ kho Pāli–Anh Tâm Học.