Giáo trình Vi Diệu Pháp Dễ Hiểu – Bộ thứ bảy: Duyên Hệ (Paṭṭhāna)
Giới thiệu chương
Trong hệ thống 24 duyên (paccaya) của bộ Duyên Hệ (Paṭṭhāna), Hiện hữu duyên (Atthi-paccaya) và Bất ly duyên (Avigata-paccaya) là hai quan hệ duyên có nội dung tương ứng rất chặt chẽ.
Hiện hữu duyên là duyên thứ 21, nhấn mạnh rằng một pháp đang hiện hữu có thể hỗ trợ pháp khác. Bất ly duyên là duyên thứ 24, nhấn mạnh rằng pháp làm duyên chưa biến mất, chưa rời khỏi phạm vi hiện hữu cần thiết để hỗ trợ pháp được duyên.
Hai duyên này không nên được hiểu là hai cơ chế nhân quả hoàn toàn khác nhau. Theo cách hệ thống hóa thông dụng trong Vi Diệu Pháp Theravāda, chúng có cùng phạm vi áp dụng nhưng được diễn đạt dưới hai góc độ khác nhau.
Điều quan trọng là phải hiểu chính xác chữ hiện hữu và bất ly. Chúng không có nghĩa một pháp tồn tại vĩnh viễn, cũng không có nghĩa mọi pháp xuất hiện cùng lúc đều tự động tạo thành quan hệ duyên.
Mục tiêu học tập
Sau khi học chương này, người học có thể:
Giải thích điểm giống và khác nhau giữa Atthi-paccaya và Avigata-paccaya.
Nhận diện các trường hợp đồng sinh, tiền sinh và hậu sinh trong phạm vi Hiện hữu duyên.
Hiểu quan hệ hỗ trợ của vật thực sắc và sắc mạng quyền.
Phân biệt Hiện hữu, Bất ly với Vô hữu và Ly khứ duyên.
Vận dụng phương pháp phân tích duyên vào các trường hợp danh pháp và sắc pháp cụ thể.
54.1. Điểm giống nhau
54.1.1. Cùng thuộc hệ thống 24 duyên
Hiện hữu duyên (Atthi-paccaya) và Bất ly duyên (Avigata-paccaya) đều là những quan hệ điều kiện được trình bày trong bộ Paṭṭhāna.
Cả hai cùng giải thích sự hỗ trợ giữa các pháp khi pháp làm duyên còn hiện hữu trong khoảng thời gian thích hợp.
Theo truyền thống chú giải và hệ thống hóa Vi Diệu Pháp Theravāda, hai duyên có phạm vi quan hệ tương ứng.
54.1.2. Cùng đòi hỏi sự hiện hữu của pháp làm duyên
Đặc điểm chung quan trọng nhất là pháp làm duyên chưa diệt mất tại thời điểm thực hiện chức năng hỗ trợ.
Ví dụ, trong một sát-na tâm:
Tâm đồng sinh với các tâm sở.
Tâm và tâm sở cùng hiện hữu trong sát-na ấy.
Chúng hỗ trợ lẫn nhau theo những quan hệ duyên thích hợp.
Trường hợp này có thể được phân tích theo cả Hiện hữu duyên và Bất ly duyên.
54.1.3. Không chỉ giới hạn ở danh pháp
Cả hai duyên đều có thể áp dụng cho những quan hệ thích hợp giữa:
Danh pháp với danh pháp.
Danh pháp với sắc pháp.
Sắc pháp với danh pháp.
Sắc pháp với sắc pháp.
Tuy nhiên, từng trường hợp phải được xác định theo cấu trúc duyên trong Paṭṭhāna, không thể suy luận rằng bất kỳ hai pháp cùng tồn tại đều làm duyên cho nhau.
54.1.4. Cùng có tính chất điều kiện
Cả Hiện hữu duyên và Bất ly duyên đều cho thấy các pháp hữu vi không tồn tại và vận hành một cách độc lập.
Một pháp có thể được hỗ trợ bởi nhiều điều kiện khác nhau, trong đó có sự hiện hữu của một pháp thích hợp.
54.2. Điểm khác nhau về cách diễn đạt
54.2.1. Hiện hữu duyên – Atthi-paccaya
Atthi có nghĩa là có, hiện hữu.
Hiện hữu duyên nhấn mạnh mặt khẳng định:
Pháp làm duyên đang hiện hữu nên có thể thực hiện chức năng hỗ trợ pháp được duyên.
Ví dụ, nhãn căn đang hiện hữu và đủ điều kiện có thể hỗ trợ nhãn thức phát sinh.
54.2.2. Bất ly duyên – Avigata-paccaya
Avigata mang nghĩa chưa biến mất, chưa đi khỏi, chưa diệt mất.
Bất ly duyên nhấn mạnh mặt phủ định:
Pháp làm duyên chưa biến mất trong thời gian nó thực hiện chức năng hỗ trợ.
Ví dụ, nhãn căn chưa diệt mất trong khi nhãn thức tương ứng phát sinh và được hỗ trợ.
54.2.3. Hai cách diễn đạt cùng một quan hệ
HIỆN HỮU
Atthi-paccaya
Pháp làm duyên đang hiện hữu
BẤT LY
Avigata-paccaya
Pháp làm duyên chưa diệt mất
Cùng phạm vi quan hệ duyên
Các pháp hỗ trợ nhau trong khi pháp làm duyên còn hiện hữu theo quan hệ thích hợp
Sự khác biệt giữa hai duyên chủ yếu nằm ở cách diễn đạt, không phải ở việc một duyên tạo ra kết quả riêng mà duyên kia không tạo ra.
54.3. Phạm vi quan hệ duyên
54.3.1. Năm nhóm quan hệ cơ bản
Theo hệ thống phân loại thông dụng trong các tài liệu tổng hợp Vi Diệu Pháp Theravāda, Hiện hữu duyên được giải thích qua năm nhóm:
Câu sinh hiện hữu (sahajātatthi).
Tiền sinh hiện hữu (purejātatthi).
Hậu sinh hiện hữu (pacchājātatthi).
Vật thực hiện hữu (āhāratthi).
Quyền hiện hữu (indriyatthi), đặc biệt liên quan đến sắc mạng quyền.
Bất ly duyên có phạm vi tương ứng với những nhóm này.
54.3.2. Sơ đồ năm nhóm
HIỆN HỮU DUYÊN = BẤT LY DUYÊN
Tương ứng về phạm vi áp dụng
01
Đồng sinh
Sahajāta
02
Tiền sinh
Purejāta
03
Hậu sinh
Pacchājāta
04
Vật thực
Āhāra
05
Quyền
Indriya
54.3.3. Nguyên tắc giới hạn
Không phải mọi quan hệ có yếu tố thời gian đều thuộc Hiện hữu duyên.
Ví dụ, một nghiệp thiện đã diệt trong quá khứ vẫn có thể cho quả về sau theo Dị thời nghiệp duyên.
Nhưng nghiệp quá khứ ấy không làm Hiện hữu duyên cho quả hiện tại, bởi pháp nghiệp đã diệt không còn hiện hữu tại thời điểm quả sinh khởi.
Điều này cho thấy sự khác biệt giữa quan hệ nghiệp quá khứ sinh quả và quan hệ hỗ trợ nhờ sự hiện hữu.
54.4. Các trường hợp đồng sinh
54.4.1. Đồng sinh là gì?
Đồng sinh (sahajāta) là sự sinh khởi cùng thời điểm của các pháp.
Trong những trường hợp được quy định, các pháp đồng sinh hỗ trợ nhau khi cùng hiện hữu.
54.4.2. Tâm và tâm sở
Tâm và các tâm sở tương ưng đồng sinh, đồng diệt và cùng nhận biết một đối tượng.
Ví dụ, một tâm thiện sinh khởi cùng các tâm sở tương ưng như xúc, thọ, tưởng và tư.
Trong sát-na ấy, tâm và tâm sở hỗ trợ lẫn nhau theo:
Câu sinh duyên.
Tương ưng duyên.
Hiện hữu duyên.
Bất ly duyên.
Những duyên khác cũng có thể áp dụng tùy tính chất của các pháp.
54.4.3. Bốn đại chủng
Bốn đại chủng gồm:
Địa đại (paṭhavī-dhātu).
Thủy đại (āpo-dhātu).
Hỏa đại (tejo-dhātu).
Phong đại (vāyo-dhātu).
Theo Vi Diệu Pháp, bốn đại chủng đồng sinh và hỗ trợ lẫn nhau.
Trong trường hợp này, chúng có thể được xét theo Câu sinh duyên, Hiện hữu duyên và Bất ly duyên.
54.4.4. Danh và sắc đồng sinh
Tại thời điểm tái sinh trong những cảnh giới có cả danh và sắc, các danh pháp quả tái sinh và sắc đồng sinh thích hợp có thể hỗ trợ nhau theo những quan hệ duyên tương ứng.
Cần phân biệt quan hệ đồng sinh tại thời điểm tái sinh với các quan hệ tiền sinh diễn ra trong những sát-na tâm về sau.
54.5. Các trường hợp có trước
54.5.1. Tiền sinh là gì?
Tiền sinh (purejāta) là trường hợp pháp làm duyên đã sinh trước pháp được duyên.
Trong những trường hợp Tiền sinh hiện hữu, pháp làm duyên vẫn còn tồn tại khi pháp được duyên sinh khởi.
Đặc điểm này đặc biệt quan trọng đối với các sắc pháp làm điều kiện cho danh pháp.
54.5.2. Nhãn căn và nhãn thức
Nhãn căn (cakkhu-pasāda) là sắc thần kinh nhãn, không phải toàn bộ con mắt vật lý.
Trong tiến trình nhận thức qua mắt:
Nhãn căn đã sinh trước và còn hiện hữu.
Cảnh sắc thích hợp tác động vào tiến trình nhận thức.
Nhãn thức phát sinh khi hội đủ các điều kiện.
Nhãn căn có thể làm Tiền sinh duyên, Hiện hữu duyên và Bất ly duyên cho nhãn thức.
54.5.3. Năm căn vật chất
Sắc căn | Danh pháp được hỗ trợ |
|---|---|
Nhãn căn | Nhãn thức |
Nhĩ căn | Nhĩ thức |
Tỷ căn | Tỷ thức |
Thiệt căn | Thiệt thức |
Thân căn | Thân thức |
Các căn này cần đã sinh trước và còn hiện hữu khi thức tương ứng phát sinh.
54.5.4. Cảnh sắc tiền sinh
Một cảnh sắc đã sinh trước và còn hiện hữu có thể hỗ trợ nhãn thức theo Cảnh tiền sinh duyên và những duyên thích hợp khác.
Tuy nhiên, không phải mọi cảnh của tâm đều là sắc pháp tiền sinh. Các đối tượng danh pháp và khái niệm phải được phân tích theo những quan hệ khác.
54.5.5. Sơ đồ tiền sinh hiện hữu
Sắc căn
Sinh trước
Thức tương ứng
Sinh sau
Điều kiện bắt buộc
Sắc căn vẫn còn hiện hữu khi thức phát sinh.
54.6. Các trường hợp có sau
54.6.1. Hậu sinh là gì?
Hậu sinh (pacchājāta) là trường hợp pháp làm duyên sinh sau pháp được duyên.
Trong Hậu sinh duyên, các danh pháp sinh sau có thể hỗ trợ sắc pháp đã sinh trước và vẫn còn hiện hữu.
54.6.2. Danh pháp hỗ trợ sắc pháp
Theo Vi Diệu Pháp, các tâm và tâm sở sinh sau có thể hỗ trợ những sắc pháp thích hợp của thân đã sinh trước.
Quan hệ này không có nghĩa tâm sinh sau quay ngược thời gian để tạo ra sắc pháp đã tồn tại.
Tâm sinh sau chỉ hỗ trợ sắc pháp đã sinh trước trong khi sắc pháp ấy vẫn còn hiện hữu.
54.6.3. Ví dụ minh họa
Giả sử một nhóm sắc pháp của thân đã sinh khởi và chưa diệt.
Sau đó, một sát-na tâm thích hợp sinh khởi.
Trong khoảng thời gian các pháp còn cùng hiện hữu, danh pháp sinh sau có thể hỗ trợ nhóm sắc pháp ấy theo Hậu sinh duyên, Hiện hữu duyên và Bất ly duyên.
54.6.4. Giới hạn quan trọng
Không nên suy luận rằng mọi tâm sinh sau đều làm duyên cho mọi sắc pháp sinh trước.
Quan hệ Hậu sinh duyên có phạm vi xác định, chủ yếu liên quan đến các danh pháp sinh sau hỗ trợ sắc thân đã sinh trước và còn tồn tại.
54.6.5. Phân biệt ba trường hợp thời gian
Trường hợp | Pháp làm duyên | Pháp được duyên |
|---|---|---|
Đồng sinh | Sinh cùng lúc | Sinh cùng lúc |
Tiền sinh | Sinh trước, còn hiện hữu | Sinh sau |
Hậu sinh | Sinh sau | Sinh trước, còn hiện hữu |
Trong cả ba trường hợp, điều kiện quan trọng của Hiện hữu và Bất ly duyên là pháp làm duyên đang hiện hữu khi thực hiện chức năng hỗ trợ.
54.6.6. Vật thực và sắc mạng quyền
Ngoài ba trường hợp trên, cần ghi nhận thêm hai nhóm quan hệ:
Vật thực hiện hữu: Đoàn thực (kabaḷīkārāhāra), tức dưỡng chất vật chất, hỗ trợ những sắc pháp thích hợp trong khi còn hiện hữu.
Quyền hiện hữu: Sắc mạng quyền (rūpa-jīvitindriya) hỗ trợ duy trì các sắc pháp do nghiệp sinh đồng nhóm với nó.
Hai nhóm này cũng nằm trong phạm vi Hiện hữu duyên và Bất ly duyên, nhưng không nên giản lược hoàn toàn thành các quan hệ đồng sinh, tiền sinh hoặc hậu sinh thông thường.
54.7. Phân biệt với Vô hữu duyên
54.7.1. Vô hữu duyên là gì?
Vô hữu duyên (Natthi-paccaya) là duyên thứ 23 trong hệ thống 24 duyên.
Duyên này giải thích cách các danh pháp vừa diệt có thể làm điều kiện cho những danh pháp tiếp theo sinh khởi mà không có sự gián đoạn thích hợp.
Vô hữu duyên không có nghĩa hoàn toàn không có nguyên nhân hoặc không có pháp nào.
54.7.2. Điểm khác nhau căn bản
Hiện hữu duyên đòi hỏi pháp làm duyên còn hiện hữu.
Vô hữu duyên đòi hỏi pháp làm duyên đã diệt, nhường chỗ cho pháp tiếp theo sinh khởi.
Tiêu chí | Hiện hữu duyên | Vô hữu duyên |
|---|---|---|
Pāli | Atthi-paccaya | Natthi-paccaya |
Pháp làm duyên | Đang hiện hữu | Danh pháp vừa diệt |
Đặc trưng | Hỗ trợ khi còn tồn tại | Hỗ trợ sự tiếp nối sau khi diệt |
Quan hệ thời gian | Có thể đồng sinh, tiền sinh hoặc hậu sinh | Liên tiếp giữa các sát-na danh pháp |
Ví dụ | Tâm và tâm sở đồng sinh | Tâm trước vừa diệt, tâm sau sinh |
54.7.3. Không phải hai duyên đối lập tuyệt đối
Mặc dù một duyên nhấn mạnh sự hiện hữu và duyên kia nhấn mạnh sự không còn hiện hữu, không nên hiểu chúng là hai lực lượng đối kháng.
Chúng phân tích hai kiểu quan hệ điều kiện khác nhau trong tiến trình sinh diệt của các pháp.
54.8. Phân biệt với Ly khứ duyên
54.8.1. Ly khứ duyên là gì?
Ly khứ duyên (Vigata-paccaya) là duyên thứ 24 nếu xét theo một số cách trình bày? Không. Trong thứ tự chuẩn của 24 duyên Theravāda, Ly khứ duyên là duyên thứ 24, còn Bất ly duyên là duyên thứ 24?
Để tránh nhầm lẫn, thứ tự chuẩn của bốn duyên cuối là:
Thứ tự | Duyên | Pāli |
|---|---|---|
21 | Hiện hữu duyên | Atthi-paccaya |
22 | Vô hữu duyên | Natthi-paccaya |
23 | Ly khứ duyên | Vigata-paccaya |
24 | Bất ly duyên | Avigata-paccaya |
Như vậy, Ly khứ duyên là duyên thứ 23.
54.8.2. Nội dung Ly khứ duyên
Ly khứ duyên giải thích việc các danh pháp đã diệt hỗ trợ cho các danh pháp tiếp theo sinh khởi.
Theo hệ thống Vi Diệu Pháp Theravāda, Ly khứ duyên có phạm vi tương ứng với Vô hữu duyên.
54.8.3. Phân biệt Bất ly và Ly khứ
Tiêu chí | Bất ly duyên | Ly khứ duyên |
|---|---|---|
Pāli | Avigata | Vigata |
Ý nghĩa | Chưa biến mất | Đã biến mất |
Pháp làm duyên | Còn hiện hữu | Đã diệt |
Phạm vi tương ứng | Hiện hữu duyên | Vô hữu duyên |
Tính chất | Hỗ trợ trong khi còn hiện hữu | Hỗ trợ sự tiếp nối sau khi diệt |
54.8.4. Hai cặp duyên
Hai cặp duyên tương ứng
Cặp hiện hữu
21 · Hiện hữu
Atthi
24 · Bất ly
Avigata
Pháp làm duyên còn hiện hữu
Cặp đã diệt
22 · Vô hữu
Natthi
23 · Ly khứ
Vigata
Danh pháp làm duyên vừa diệt
54.9. Bảng đối chiếu
54.9.1. Bảng tổng hợp Hiện hữu và Bất ly
Tiêu chí | Hiện hữu duyên | Bất ly duyên |
|---|---|---|
Thuật ngữ | Atthi-paccaya | Avigata-paccaya |
Thứ tự | 21 | 24 |
Nghĩa chính | Sự hiện hữu | Sự chưa biến mất |
Cách diễn đạt | Khẳng định | Phủ định |
Pháp làm duyên | Pháp hiện hữu thích hợp | Pháp chưa diệt thích hợp |
Phạm vi | Năm nhóm quan hệ cơ bản | Tương ứng năm nhóm |
Đồng sinh | Có | Có |
Tiền sinh | Có | Có |
Hậu sinh | Có | Có |
Vật thực sắc | Có | Có |
Sắc mạng quyền | Có | Có |
Quan hệ với Natthi | Khác phạm vi | Khác phạm vi |
Quan hệ với Vigata | Khác phạm vi | Khác phạm vi |
54.9.2. Bảng nhận diện theo tình huống
Tình huống | Atthi | Avigata | Nhóm quan hệ |
|---|---|---|---|
Tâm và tâm sở đồng sinh | ✓ | ✓ | Đồng sinh |
Bốn đại chủng đồng sinh | ✓ | ✓ | Đồng sinh |
Nhãn căn hỗ trợ nhãn thức | ✓ | ✓ | Tiền sinh |
Danh pháp sinh sau hỗ trợ sắc thân sinh trước | ✓ | ✓ | Hậu sinh |
Dưỡng chất hỗ trợ sắc pháp | ✓ | ✓ | Vật thực |
Sắc mạng quyền hỗ trợ sắc do nghiệp sinh đồng nhóm | ✓ | ✓ | Quyền |
Tâm vừa diệt hỗ trợ tâm tiếp theo | — | — | Vô hữu, Ly khứ |
54.9.3. Quy tắc ghi nhớ
Có thể ghi nhớ bằng bốn câu hỏi:
Pháp làm duyên còn hiện hữu không?
Pháp được duyên thuộc trường hợp quan hệ nào?
Quan hệ ấy có được quy định trong phạm vi Atthi-paccaya không?
Nếu đúng, có thể xét cùng quan hệ ấy theo Avigata-paccaya không?
Trong hệ thống phân loại thông dụng, khi một quan hệ thuộc Hiện hữu duyên thì quan hệ ấy cũng thuộc Bất ly duyên.
54.10. Bài tập tổng hợp
Bài tập 1. Nhận diện các loại duyên
Hãy xác định loại quan hệ phù hợp:
Tình huống | Đáp án |
|---|---|
Tâm và tâm sở đồng sinh, hỗ trợ nhau | Hiện hữu và Bất ly |
Nhãn căn còn hiện hữu hỗ trợ nhãn thức | Hiện hữu và Bất ly |
Tâm trước vừa diệt hỗ trợ tâm sau | Vô hữu và Ly khứ |
Danh pháp sinh sau hỗ trợ sắc thân đã sinh trước | Hiện hữu và Bất ly |
Sắc mạng quyền hỗ trợ sắc do nghiệp sinh đồng nhóm | Hiện hữu và Bất ly |
Bài tập 2. Phân tích một tiến trình nhận thức
Giả sử nhãn căn đã sinh trước và còn hiện hữu khi nhãn thức phát sinh.
Hãy trả lời:
Nhãn căn thuộc danh pháp hay sắc pháp?
Nhãn thức thuộc danh pháp hay sắc pháp?
Nhãn căn sinh trước hay đồng sinh với nhãn thức?
Quan hệ giữa nhãn căn và nhãn thức có thể được phân tích theo Hiện hữu duyên không?
Có thể phân tích cùng quan hệ ấy theo Bất ly duyên không?
Đáp án: Nhãn căn là sắc pháp; nhãn thức là danh pháp. Nhãn căn sinh trước và còn hiện hữu khi nhãn thức phát sinh. Trong điều kiện thích hợp, nhãn căn hỗ trợ nhãn thức theo cả Hiện hữu duyên và Bất ly duyên.
Bài tập 3. Trắc nghiệm tương tác
Kiểm tra cuối chương 54
0/6 câu đã trả lời
1. Hiện hữu duyên có tên Pāli là gì?
2. Bất ly duyên nhấn mạnh điều gì?
3. Hiện hữu và Bất ly duyên có cùng phạm vi áp dụng không?
4. Danh pháp sinh sau hỗ trợ sắc thân sinh trước thuộc nhóm nào?
5. Tâm trước vừa diệt hỗ trợ tâm sau thuộc cặp duyên nào?
6. Sắc mạng quyền hỗ trợ sắc do nghiệp sinh đồng nhóm thuộc nhóm nào của Hiện hữu duyên?
Tổng kết chương 54
Hiện hữu duyên và Bất ly duyên là hai quan hệ có cùng phạm vi áp dụng trong hệ thống 24 duyên của Paṭṭhāna, nhưng nhấn mạnh hai cách diễn đạt khác nhau.
Hiện hữu duyên nhấn mạnh sự có mặt của pháp làm duyên.
Bất ly duyên nhấn mạnh sự chưa biến mất của pháp làm duyên.
Hai duyên được phân tích qua những nhóm quan hệ đồng sinh, tiền sinh, hậu sinh, vật thực và quyền.
Đối chiếu với chúng là cặp Vô hữu duyên và Ly khứ duyên, giải thích vai trò của các danh pháp vừa diệt đối với sự tiếp nối của danh pháp sau.
Ý nghĩa thực hành
Sự hiện hữu của một pháp không đồng nghĩa với tính thường hằng.
Một sắc pháp có thể đã sinh trước, còn tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, hỗ trợ các pháp khác rồi diệt mất.
Một tâm và các tâm sở có thể đồng sinh, hỗ trợ nhau và cùng diệt.
Khi quan sát các pháp theo cách này, người học có thể hiểu sâu hơn ba đặc tính:
Vô thường (anicca): các pháp hữu vi sinh rồi diệt.
Khổ (dukkha): các pháp hữu vi không thể duy trì trạng thái theo ý muốn.
Vô ngã (anattā): các pháp không có một chủ thể độc lập, thường hằng điều khiển.
Hiện hữu duyên và Bất ly duyên giúp làm rõ rằng sự hỗ trợ giữa các pháp không đòi hỏi một bản ngã đứng sau điều hành.
Tài liệu tham khảo
Paṭṭhāna – phần Atthi-paccaya và Avigata-paccaya.
Abhidhammattha-saṅgaha – phần Paccayasaṅgaha.
A Comprehensive Manual of Abhidhamma – Bhikkhu Bodhi (biên tập).
Guide Through the Abhidhamma Piṭaka – Nyanatiloka Mahāthera.
Visuddhimagga – các phần phân tích danh sắc và duyên hệ.
Các bảng, sơ đồ và tình huống trong chương là nội dung diễn giải phục vụ giáo dục. Khi xuất bản học thuật, cần đối chiếu nguyên điển và chú giải Paṭṭhāna để xác định chính xác từng trường hợp quan hệ duyên.
Kệ ghi nhớ – Bốn câu
Hiện hữu nâng nhau giữa pháp trần,
Bất ly chưa diệt, trợ tương thân.
Duyên sinh chẳng có người làm chủ,
Thấy pháp vô thường, trí sáng dần.
Giáo trình Vi Diệu Pháp Dễ Hiểu · Phần XIX · Chương 54 · vidieuphap.tamhoc.org