VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận Quyển 2 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 1

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

五百大阿羅漢等造
三藏法師玄奘奉 詔譯
序
阿毘達磨發智大毘婆沙論序
問誰造此論。答佛世尊。所以者何。以一切
種所知法性甚深微妙。非佛世尊一切智者。
誰能究竟等覺開示。若爾此中誰問誰答。或
有說者。尊者舍利子問。佛世尊答。復有說
者。五百阿羅漢問。佛世尊答。有作是說。諸
天神問。佛世尊答。有餘師說。化苾芻問。佛世
尊答。所以者何。諸佛法爾所知法性。於諸世
間定應開示。然無問者。爾時世尊化作苾
芻。形容端正眾所樂見。剃除鬚髮服僧伽
胝。令彼請問佛世尊答。猶如徵問義品因
緣。問若爾此論何故傳言。尊者迦多衍尼子
造。答由彼尊者受持演說廣令流布。是故此
論名稱歸彼。然是佛說。復有說者。此論即
彼尊者迦多衍尼子造。問豈不前言以一切
種所知法性甚深微妙。非佛世尊一切智者
誰能究竟等覺開示。云何彼尊者能造此論
耶。答以彼尊者亦有微妙甚深猛利善巧覺
慧。善知諸法自相共相。通達文義及前後
際。善解三藏離三界染成就三明。具六
神通及八解脫。得無礙解。獲妙願智。曾於
過去五百佛所。積修梵行發弘誓願。我於
未來釋迦牟尼佛般涅槃後造阿毘達磨。故

如是說。一切如來應正等覺弟子眾中。法
爾皆有二大論師任持正法。若在世時如
尊者舍利子。若般涅槃後如尊者迦多衍尼
子。故彼尊者以願智力觀法所益而造此
論。問若爾佛說阿毘達磨。何者是耶。答世尊
在世於處處方邑。為諸有情以種種論道。
分別演說阿毘達磨。佛涅槃後或在世時。諸
聖弟子以妙願智。隨順纂集別為部類。是故
尊者迦多衍尼子佛去世後。亦以妙願智隨
順纂集造發智論。謂於佛說諸論道中安立
章門。摽舉略頌造別納息制總蘊名。謂集
種種異相論道。制為雜蘊。集結論道制為
結蘊。集智論道制為智蘊。集業論道制為
業蘊。集大種論道制為大種蘊。集根論道
制為根蘊。集定論道。制為定蘊。集見論
道制為見蘊。猶如一切鄔拕南頌。皆是佛
說。謂佛世尊於處處方邑。為種種有情隨
宜宣說。佛去世後大德法救。展轉得聞隨順
纂集制立品名。謂集無常頌立為無常品。
乃至集梵志頌立為梵志品。此亦如是。阿
毘達磨本是佛說。亦是尊者隨順纂集。又若
佛說若弟子說不違法性。世尊皆許苾芻受
持。故彼尊者展轉得聞。或願智力觀察纂集。
為令正法久住世故制造此論。
復次諸佛出世皆說三藏。謂素怛纜。毘㮈
耶。阿毘達磨。如是三藏有何差別。或有說
者。無有差別。所以者何。一切佛教從一智海
之所生故。隨一覺池之所出故。等力無畏
所攝受故。同一大悲所等起故。復有說者。

亦有差別。且名即差別。謂此名素怛纜。此名
毘㮈耶。此名阿毘達磨。復次依處亦有差別。
謂若依增上心論道是素怛纜。若依增上戒
論道是毘㮈耶。若依增上慧論道是阿毘達
磨。問於一切中一切可得。謂素怛纜中亦
有依增上戒增上慧論道。毘㮈耶中亦有
依增上心增上慧論道。阿毘達磨中亦有依
增上心增上戒論道。如是三藏應無差別。
答依增勝說。謂素怛纜中依增上心論道增
勝。毘㮈耶中依增上戒論道增勝。阿毘達磨
中依增上慧論道增勝。有作是說。素怛纜
中依增上心論道是素怛纜。依增上戒論
道即毘㮈耶。依增上慧論道即阿毘達磨。
毘㮈耶中依增上戒論道是毘㮈耶。依增上
心論道即素怛纜。依增上慧論道即阿毘達
磨。阿毘達磨中依增上慧論道是阿毘達磨。
依增上心論道即素怛纜。依增上戒論道
即毘㮈耶。故由依處亦有差別。復次所顯
亦有差別。謂素怛纜次第所顯。謂素怛纜
中應求次第。何故世尊此品無間宣說彼
品若毘㮈耶緣起所顯謂毘㮈耶中。應
求緣起。世尊依何緣起制立彼彼學處。阿
毘達磨性相所顯。謂阿毘達磨中應求諸法
真實性相。不應求彼次第緣起。或前或後
或無緣起俱無過失。復次等流亦有差別。謂
素怛纜是力等流。毘㮈耶是大悲等流。阿毘
達磨是無畏等流。復次所說亦有差別。謂種
種雜說是素怛纜。說諸學處是毘㮈耶。分
別諸法自相共相是阿毘達磨。

復次所為亦有差別。謂未種善根者令種善
根故說素怛纜。已種善根者令相續成熟
故說毘㮈耶。相續已成熟者令得正解脫
故說阿毘達磨。
復次分位亦有差別。謂依始業位說素怛
纜。依已串習位說毘㮈耶。依超作意位說
阿毘達磨。
復次進趣亦有差別。謂未入正法令入正
法故說素怛纜。已入正法令受持學處故
說毘㮈耶。已受持學處令通達諸法真實
相故說阿毘達磨。是故三藏亦有差別。
問何故尊者造此論耶。答為饒益他故。
謂彼尊者作是思惟。云何當令諸有情類
於佛聖教無倒受持。精進思惟籌量觀察。
由此無量煩惱惡行不現在前。便得悟入甚
深法性。故造斯論。譬如有人為饒益他故
於黑闇處然大明燈。令有目者見種種色。
尊者亦爾為饒益他於佛滅後制造此論。
令有智者入深法性。又如諸佛為饒益他。
開示演說十二分教。一契經二應頌三記別
四諷頌五自說六緣起七譬喻八本事九本生
十方廣十一希法十二論議。所以者何。諸有
情類。雖有因力若無緣力而覺發者。終不
能修勝進之行。要遇緣力乃能修行。譬如
池中雖有種種嗢鉢羅等眾妙蓮華。若日月
光不照觸者。則不開發出種種香。要日月
光之所照觸。乃得隨類開發出香。又如闇
中有種種物。若無燈照終不可見。要假燈
照乃得見之。有情亦爾。雖有因力若無

緣力。廣說如前。如有頌言。
譬如闇室中雖有種種物
無燈闇所隱有目不能見
如是雖有智不從他聞法
是人終不能分別善惡義
譬如有目者因燈見眾色
有智依多聞能別善惡義
多聞能知法多聞離不善
多聞捨無義多聞得涅槃
又如經說。有二因緣。能生正見。一外聞他
法音。二內如理作意。又契經說。有四法人
多有所作。一親近善友。二從他聞法。三如
理作意。四法隨法行。復有經言。若我弟子一
心屬耳聽聞正法能斷五蓋。及能修行七
覺分滿。故如諸佛為饒益他說十二分教。
如是彼尊者為饒益他制造此論。復次為
破無明闇故。如燈破闇能發光明。阿毘達
磨亦復如是。破無明闇發智慧明。故彼尊
者制造此論。復次為顯無我像故。譬如鏡
面極善磨瑩。種種色像皆於中現。阿毘達
磨亦復如是。分別諸法自相共相。令無我
像分明顯現。故彼尊者制造此論。復次為
度生死河故。如牢船筏百千眾生依之無
畏從河此岸渡至彼岸。阿毘達磨亦復如
是。無數諸佛及諸有情。依之無畏。從生死
此岸。至涅槃彼岸。故彼尊者制造此論。復
次為照契經等故。如人執燈入諸闇室。
能見眾色而無迷亂。如是行者以阿毘
達磨照契經等義而無迷惑。故彼尊者制

造此論。復次為觀察善等諸法故。如別寶
人能善觀察金剛等寶。阿毘達磨亦復如是。
能善分別善等諸法。故彼尊者制造此論。復
次為顯阿毘達磨。諸大論師不傾動故。如
妙高山踞金輪上一切猛風搖鼓飄擊不能
傾動。阿毘達磨諸大論師。亦復如是。住淨
尸羅。諸惡見者輕毀邪論不能摧伏。故彼尊
者制造此論。復次尊者以三因緣制造此
論。一為增益智故。二為開覺意故。三為
遮計我故。增益智者。謂於內外諸經論中。
令智增益無有能如阿毘達磨。開覺意者。
謂諸有情無明所昏。如睡未覺不能了知。
何者是遍行。何者非遍行。何者自界緣。何者
他界緣。何者有漏緣。何者無漏緣。何者有為
緣。何者無為緣。云何為攝。云何相應。云何
因。云何緣。誰成就。誰不成就。何者順前句。
何者順後句。何者四句。何者如是句。何者不
如是句。於如是等所知境中。令諸有情開
發覺意。無有能如阿毘達磨。遮計我者。尊
者所造阿毘達磨。未曾說有補特伽羅。恒
顯諸行空無有我。以如是等種種因緣。故
彼尊者制造此論。
問阿毘達磨。自性云何。答無漏慧根。以為
自性。一界一處一蘊所攝。一界者謂法界。
一處者謂法處。一蘊者謂行蘊。若兼相應及
取。隨轉三界二處五蘊所攝。三界者謂意
界法界意識界。二處者謂意處法處。五蘊者
謂色蘊乃至識蘊。如契經說。此藥叉天於
長夜中其心質直無有諂誑。諸有所問皆

為了知不為嬈亂。我以甚深阿毘達磨恣
彼意問。此中何者甚深阿毘達磨。謂無漏慧
根。
又契經說。此筏蹉氏及善賢外道并梵壽婆
羅門。皆於長夜其性質直無諂無誑。諸有
所問皆為了知不為嬈亂。我以甚深阿毘
達磨恣彼意問。此中何者甚深阿毘達磨。
謂無漏慧根。又如佛告西儞迦言。我有甚
深阿毘達磨。難見難覺不可尋思非尋思
境。唯有微妙聰叡智者。乃能知之。非汝淺
智之所能及。所以者何。汝於長夜異見異
忍異欲異樂。此中何者甚深阿毘達磨。謂空
無我及如實覺。所以者何。以彼外道恒妄計
我。空無我性非彼所及。又如佛告鄔陀夷
言。汝是愚夫盲無慧目。云何乃與上座苾
芻共論甚深阿毘達磨。此中何者甚深阿毘
達磨。謂滅定退及如實覺。又如佛告阿難
陀言。我有甚深阿毘達磨。謂諸緣起。難見
難覺不可尋思非尋思境。唯有微妙聰叡
智者。乃能知之。此中何者甚深阿毘達磨。謂
因緣性及如實覺。又契經說。我有甚深阿
毘達磨。謂緣性緣起此處甚深難見難覺。不
可尋思非尋思境。唯有微妙聰叡智者。
乃能知之。復有甚深阿毘達磨。謂一切依皆
永捨離。愛盡離染寂滅涅槃。此最甚深難見
難覺。廣說如前。此中何者甚深阿毘達磨。
謂因緣性及彼寂滅并如實覺。又如佛告阿
難陀言。復有甚深阿毘達磨。謂有餘法相
似甚深我於其中自覺正說。此中何者甚

深阿毘達磨。謂諸見趣及如實覺。又契經說。
我有甚深阿毘達磨。謂一切法甚深故難見。
難見故甚深。此中何者甚深阿毘達磨。謂一
切法性及如實覺。雖此等經中隨別意趣
作種種異說。然阿毘達磨勝義自性唯無漏
慧根。即由此故發起世間修所成慧。謂煖
頂忍世第一法。以能別觀四聖諦故。亦得
名為阿毘達磨。又由此故發起殊勝思所成
慧。謂不淨觀持息念等。以能別總觀諸蘊
故。亦得名為阿毘達磨。又由此故發起殊
勝聞所成慧。分別諸法自相共相建立諸法
自相共相。害實物愚及所緣愚。以於諸法
不增減故。亦得名為阿毘達磨。又由此故
發起殊勝生處得慧。以於三藏十二分教
能受能持思量觀察不謬轉故。亦得名為
阿毘達磨。復由如是資糧攝持無漏慧根
轉得明盛。是故亦名阿毘達磨。
問若阿毘達磨唯無漏慧根為自性者。何故
此論復名阿毘達磨。答阿毘達磨具故亦名
阿毘達磨。如處處經中於彼彼具立彼彼
名。此亦如是。謂如於樂具立以樂名。如
伽他說。
食所乞食樂衣隨得衣樂
經行山林樂栖隱巖窟樂
飲食衣等體實非樂。勝義樂者謂諸樂受。或
有說者。亦輕安樂。然衣食等是樂具故。於
伽他中亦說為樂。又如於垢具立以垢名。
如伽他說。
女是梵行垢女損害眾生

苦梵行所淨非由水能洗
女實非垢。勝義垢者謂貪瞋癡。然伽他中說
女為垢。是垢具故。又如於漏具立以漏
名。如說七漏是損害是燒然是苦惱。根等實
非漏。是漏具故立以漏名。勝義漏唯三。謂
欲漏有漏無明漏。又如於隨眠具立隨眠
名。如契經說。苾芻當知。色是隨眠隨增隨
死。若隨增即隨死。若隨死即隨取。若隨取即
隨縛。色非隨眠。勝義隨眠唯有七種。然經
說色是隨眠者。隨眠具故。又如於味具立
以味名。如契經說。苾芻當知。眼味妙色。
色是魔鉤。眼實非味。勝義味者謂所生愛。
然契經說。眼味色者是味具故。又如於欲
具立以欲名。如契經說。欲者是何。謂五妙
欲。又如頌言。
如是五妙欲可愛可欣樂
可意欲所牽能令心染著
色等非欲。勝義欲者。謂於彼愛然經頌說。
彼是欲者是欲具故。又如於退具立以退
名。如契經說。有五因緣令時解脫阿羅漢
退。一營事業。二樂戲論。三和諍訟。四好遠
行。五遇長病。非營事等是能退體。勝義退
者。謂一切不善有覆無記法。然契經中說營
事等是能退者。謂退具故。又如於業具立
以業名。如契經說。有三種意。故思惡不善
業。若作增長感非愛異熟。謂貪欲瞋恚邪
見。非貪欲等是實意業勝義意業。謂意俱
思。然契經中名意業者。謂是不善意業具
故。又如於異熟因具立異熟因名。如彼

尊者無滅所說。我由一食異熟因故。七生
天上七生人中。於最後身得盡諸漏。非
即一食是異熟因。勝義異熟因者。謂諸不善
善有漏法。然彼尊者即說一食為異熟因。
是彼具故。如於此等處處經中以彼彼名
說彼彼具。此論亦爾。是阿毘達磨具故亦名
阿毘達磨。如是勝義阿毘達磨自性。唯是無
漏慧根。一界一處一蘊所攝。若兼相應及取
隨轉三界二處五蘊所攝。餘資糧等皆是世
俗阿毘達磨。是名阿毘達磨自性。如說自
性我物自體相分本性。應知亦爾。
已說自性。所以今當說。以何義故名阿毘
達磨。阿毘達磨諸論師言。於諸法相能善決
擇能極決擇故。名阿毘達磨。復次於諸法
性能善覺察能善通達故。名阿毘達磨。復次
能於諸法現觀作證故。名阿毘達磨。復次
法性甚深能盡原底故。名阿毘達磨。復次
諸聖慧眼由此清淨故。名阿毘達磨。復次
能善顯發幽隱法性故。名阿毘達磨。所知
法性無始幽隱。離此無有能顯發故。復次
所說法性無有乖違故。名阿毘達磨。若有
能於阿毘達磨自相共相極善串習。必無
有能如法問難。令於法性有少違故。復
次能伏一切外道他論故。名阿毘達磨。阿
毘達磨諸大論師。邪徒異學無能敵故。尊者
世友作如是說。常能決擇契經等中諸法性
相故。名阿毘達磨。復次於十二支緣起法
性善覺了故。名阿毘達磨。復次以能現觀
四聖諦法故。名阿毘達磨。復次善說修習

八聖道法故。名阿毘達磨。復次能證涅槃
故。名阿毘達磨。復次能於諸法以無量門
數數分別故。名阿毘達磨。大德說曰。於雜
染清淨繫縛解脫流轉還滅法。以名身句身
文身次第結集安布分別故。名阿毘達磨。脇
尊者言。此是究竟慧。此是決斷慧。此是勝義
慧。此是不謬慧故名阿毘達磨。尊者妙音作
如是說。求解脫者修正行時。能為分別
所未了義。謂此是苦此是苦因。此是苦滅此
是趣滅道。此是加行道。此是無間道。此是解
脫道。此是勝進道。此是向道。此是得果。能正
分別如是等義故。名阿毘達磨。法密部說。
此法增上故。名阿毘達磨。如有頌言。
慧於世間尊能決擇趣向
以正了知故老死盡無餘
化地部說。慧能照法故。名阿毘達磨。如契
經說。一切照中我說慧照最為上首。譬喻
者說。於諸法中涅槃最上。此法次彼故。名
阿毘達磨。聲論者言。阿謂除棄。毘謂決擇。此
法能除棄決擇故。名阿毘達磨。何所除棄。
謂結縛隨眠隨煩惱纏。何所決擇。謂蘊界處
緣起。諦食及沙門果菩提分等。尊者佛護作
如是說。阿毘者。是助言顯現前義。此法能
引一切善法。謂諸覺分皆現在前故。名阿毘
達磨。尊者覺天作如是說。阿毘者。是助言
顯增上義。如增上慢者名阿毘慢。增上覺
者。名阿毘覺。增上老者名阿毘老。此亦如
是。此法增上故。名阿毘達磨。尊者左受作
如是說。阿毘助言顯恭敬義。如恭敬稽首

者名阿毘稽首。恭敬供養者名阿毘供養。
此亦如是。此法尊重可恭敬故。名阿毘達
磨。
問何故此論名發智耶。答諸勝義智。皆從
此發此為初基。故名發智。復次此論應名
智安足處。諸勝義智此為根本依此而立。
是故名為智安足處。復次諸勇健智此最能
發。發勇智緣故名發智。復次諸智彼岸依
此能到故名發智。開發諸法自相共相。無
有能如此論者故。復次世出世智。皆依
此發智之妙門故名發智。
問此論勝利其相云何。答隨順解脫斷除繫
縛。順空無我違我我所。顯無我理遮數取
趣開覺意息昏迷。遣愚癡生智慧。斷疑
網與決定。背雜染向清淨。訶流轉讚還
滅。捨生死得涅槃。摧破一切外道邪論。成
立一切佛法正論。此論勝利其相如是。

Việt dịch

( QUYỂN 1 |50 )


HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH  
 

 
www.daitangkinh.org  


SỐ 1545

LUẬN
A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Năm trăm Đại A-la-hán cùng tạo luận.
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch Phạn sáng Hán

QUYỂN 1

PHẨM TỰA

Hỏi: Ai tạo ra luận này?
Đáp: Phật Thế Tôn. Nguyên cớ thế na øo? Bởi vì trí Nhất thiết
chủng đã biết được pháp tánh vô cùng sâu xa vi diệu, không phải là bậc
Nhất thiết trí Phật Thế Tôn, thì ái có thể chứng được  Đẳng Giác cứu
cánh để khai bày rõ ràng? Nếu như vậy thì trong luận này ai hỏi-ai đáp?
Hoặc có thuyết cho rằng: Tôn giả  Xá-lợi-tử hỏi, Phật Thế Tôn đáp.
Lại có thuyết cho rằng: Năm trăm A-la-hán hỏi, Phật Thế Tôn đáp. Có
thuyết lại cho rằng: Các Thiên thần hỏi, Phật Thế Tôn đáp. Có sư khác
cho rằng: Hóa Tỳ kheo hỏi, Phật Thế Tôn đáp. Nguyên cớ thế nào? Bởi
vì chư Phật từ nơi pháp vốn như vậy mà biết pháp tánh, cần phải khai
bày rõ ràng cho các thế gian nên cách chắc chắn. Nhưng mà không có
người hỏi, bấy giờ Đức Thế Tôn hóa làm Tỳ kheo, hình tướng và dung
mạo đoan chánh khiến cho mọi người th ích trông thấy, cạo bỏ râu tóc
khoác y Tăng-già-chi, để cho hóa Tỳ kheo thưa hỏi và Phật Thế Tôn
đáp, giống như đưa ra nhân duyên thưa hỏi về ý nghĩa của các pháp.
Hỏi: Nếu như vậy thì luận này tại vì sao có lời truyền tụng là do
Tôn giả  Ca-đa-diễn-ni-tử tạo ra?
4 BỘ TỲ ĐÀM 3
 
 
Đáp: Bởi vì nhờ Tôn giả ấy thọ trì và diễn thuyết rộng ra khiến
cho truyền bá khắp nới, cho nên danh xưng của luận nầy thuộc về Tôn
giả, nhưng thật sự là Đức Phật thuyết  ra. Lại có thuyết cho rằng: Luận
này chính là Tôn giả Ca-đa-diễn-ni-tử tạo ra.
Hỏi: Há không phải trước đây nói bởi  vì trí Nhất thiết chủng đã
biết được pháp tánh vô cùng sâu xa vi diệu, không phải là bậc Nhất
thiết trí Phật Thế Tôn thì ai có thể chứng được Đẳng Giác cứu cánh để
khai bày rõ ràng; tại sao Tôn giả ấy có thể tạo ra luận này vậy?
Đáp: Bởi vì Tôn giả ấy cũng c ó Giác Tuệ khéo léo và sắc bén
vô cùng sâu xa vi diệu, dễ dàng biết rõ tự tướng và cọng tướng của các
pháp, thông suốt văn nghĩa và phạm vi trước sau, dễ dàng hiểu rõ ba
tạng lìa xa nhiễm ô của ba cõi và thành tựu Tam minh, đầy đủ sáu thần
thông và tám giải thoát, đạt được kiến giải vô ngại, có được nguyện trí
tuyệt vời, đã từng ở nơi năm trăm vị Phật quá khứ, tu tập phạm hạnh lâu
dài phát khởi thệ nguyện rộng lớn: Con ở đời vị lai, sau khi Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni nhập Niết-bàn, sẽ soạn ra A-tỳ-đạt-ma. Cho nên nói
như vậy. Trong chúng đệ tử của tất cả Như lai Ứng Chánh Đẳng Giác,
pháp vốn như vậy đều có hai Đại Lua än sư duy trì chánh pháp, nếu lúc
còn tại thế thì như Tôn giả Xá-lợi-tử, nếu sau khi nhập Niết-bàn thì như
Tôn giả Ca-đa-diễn-ni-tửû, cho nên Tôn giả ấy dùng lực của nguyện trí
quán về pháp có lợi ích mà soạn ra luận này.
Hỏi: Nếu như vậy thì Đức Phật thuyết ra A-tỳ-đạt-ma, là như thế
nào vậy?
Đáp: Đức Thế Tôn tại thế ở kha ép mọi xứ sở, vì các hữu tình mà
dùng các loại luận bàn về đạo, phân biệt phát triển thuyết A-tỳ-đạt-ma.
Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn hoặc  lúc còn tại thế, các Thánh đệ tử
dùng nguyện trí tuyệt vời, tùy thuận biên tập tách ra làm thành bộ loại.
Vì vậy, Tôn giả Ca-đa-diễn-ni-tử sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, cũng
dùng nguyện trí vi diệu tùy thuận biên tập soạn ra luận Phát Trí, nghĩa
là từ trong các luận về đạo do Đức Phật thuyết ra mà sắp xếp thiết lập
chương môn, nêu ra tụng tóm tắt soạn thành từng chương riêng biệt, chế
định tên gọi chung là Uẩn. Đó là tập hợp các luận nói về những loại Dị
tướng, chế định làm thành Tạp uẩn; tập hợp các luận nói về Kiết, chế
định làm thành Kiết uẩn; tập hợp cá luận nói về Trí, chế định mà thành
Trí uẩn; tập hợp các luận nói về Nghiệp, chế định làm thành Nghiệp
uẩn; tập hợp các luận nói về Đại chủng, chế định làm thành Đại chủng
uẩn; tập hợp các luận nói về Căn, chế định làm thành căn uẩn; tập hợp
các luận nói về Định, chế định làm thành Định uẩn; tập hợp các    luận
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 1 5  
www.daitangkinh.org  
nói về Kiến, chế định làm thành Định uẩn. Giống như tất cả Ô-đà-nam
tụng, đều là Đức Phật thuyết ra, nghĩa là Phật Thế Tôn ở khắp mọi xứ
sở, vì các hữu tình tùy theo sự th ích hợp mà tuyên thuyết. Sau khi Đức
Phật nhập Niết-bàn, các Đại đức  cứu giúp chánh pháp, lần lượt được
nghe tùy thuận biên tập lại, chế định thiết lập tên gọi phẩm loại, đó là
tập hợp các tụng về vô thường mà lập thành phẩm Vô thường, cho đến
tập hợp các tụng về Phạm chí mà lập thành Phạm chí. Ở đây cũng như
vậy, A-tỳ-đạt-ma vốn là Đức Phật thuyết ra, hoặc đệ tử thuyết ra mà
không trái với pháp tánh, thì Đức  Thế Tôn đều cho phép Tỳ kheo thọ
trì. Vì vậy, Tôn giả ấy lần l ượt được nghe, hoặc là dùng lực nguyện trí
quán sát biên tập lại, vì khiến cho cha ùnh pháp tồn tại lâu dài mà chế
định soạn ra luận này.
Vả lại, chư Phật xuất thế đều chế ra ba Tạng, đó là Tố-đát-lãm
(Kinh), Tỳ-nại-da (Luật), A-tỳ-đạt-ma (Luận). Ba Tạng như vậy có gì
sai biệt? Có thuyết cho rằng: không có gì sai biệt. Nguyên cớ thế nào?
Bởi vì tất cả giáo thuyết của chư Phật từ nên biển trí mà sinh ra, tùy theo
nên biển giác mà phát ra, cùng ch ung lực vô úy mà thâu nhiếp, cùng
chung nên Đại bi mà phát khởi như nhau. Lại có thuyết cho rằng: Cũng
có sai biệt. Vả lại tên gọi chính là sự sai biệt, nghĩa là Tạng này tên gọi
Tố-đát-lãm, Tạng này tên gọi Tỳ-na ïi-da, Tạng này tên gọi A-tỳ-đạt-
ma. Lại nữa, dựa vào xứ sở cũng có sai biệt, nghĩa là nếu dựa vào tâm
tăng thượng mà luận bàn về đạo thì đó là Tố-đát-lãm, nếu dựa vào giới
tăng thượng mà luận bàn về đạo thì đó là Tỳ-nại-da, nếu dựa vào tuệ
tăng thượng mà luận bàn về đạo thì đó là A-tỳ-đạt-ma.
Hỏi: Ở trong tất cả có thể đạt  được tất cả, nghĩa là trong Tố-đát-
lãm cũng có dựa vào giới tăng thượng. Tuệ tăng thượng mà luận về đạo,
trong Tỳ-nại-da cũng có dựa vào tâm tăng thượng- tuệ tăng thượng mà
luận về đạo, trong A-tỳ-đạt-ma cũng có dựa vào tâm tăng thượng- giới
tăng thượng mà luận về đạo. Như va äy ba Tạng sẽ không có gì sai biệt
chăng?
Đáp: Dựa vào sự tăng trưởng thù thắng mà nói, nghĩa là trong Tố-
đát-lãm dựa vào tâm tăng thượng để luận về đạo tăng trưởng thù thắng,
trong Tỳ-nại-da dựa vào giới tăng thượng để luận về đạo tăng trưởng
thù thắng, trong A-tỳ-đạt-ma dựa vào tăng thượng để luận về đạo tăng
trưởng thù thắng. Có thuyết cho rằng: Trong Tố-đát-lãm dựa vào tâm
tăng thượng luận về đạo thì đó là Tố-đát-lãm, dựa vào giới tăng thượng
luận về đạo thì chính là Tỳ-nại-da, dựa vào tuệ tăng thượng luận về đạo
thì chính là A-tỳ-đạt-ma; trong Tỳ-nại-da dựa vào giới tăng thượng luận
6 BỘ TỲ ĐÀM 3
 
 
về đạo thì Tỳ-nại-da, dựa vào tâm tăng thượng luận về đạo thì chính là
Tố-đát-lãm, dựa vào tuệ tăng thượng luận về đạo thì chính là A-tỳ-đạt-
ma; trong A-tỳ-đạt-ma dựa vào tuệ  tăng thượng luận về đạo thì đó là
A-tỳ-đạt-ma, dựa vào tâm tăng thượng luận về đạo thì chính là Tố-đát-
lãm, dựa vào giới tăng thượng luận về đạo thì chính là Tỳ-nại-da. Vì
vậy dựa vào xứ sở cũng có sai biệt.
Vả lại, những gì hiển bày cũng c ó sai biệt, nghĩa là Tố-đát-lãm
theo thứ tự mà hiển bày, đó là trong Tố-đát-lãm phải mong cầu theo thứ
tự, vì sao Đức Thế Tôn không ngừng phẩm này mà tuyên thuyết phẩm
kia? Nếu Tỳ-nại-da do  duyên khởi mà hiển bày, thì nói là trong Tỳ-
nại-da cần phải cầu duyên khởi, T hế Tôn dựa vào duyên khởi mà chế
lập rất nhiều học xứ? A-tỳ-đa ït-ma do tánh tướng mà hiển bày, nghĩa
là trong A-tỳ-đạt-ma cần phải cầu tánh-tướng chân thật của các pháp,
chứ không phải cần cầu duyên khởi theo t hứ tự kia, hoặc là trước hay
là sau, hoặc không có duyên khởi cũng không có gì sai trái. Lại nữa,
Đẳng lưu cũng có những sai biệt, nghĩa là Tố-đát-lãm chính là Lực của
Đẳng lưu, Tỳ-nại-da là Đại bi của Đẳng lưu, A-tỳ-đạt-ma là Vô úy của
Đẳng lưu. Lại nữa, pháp đã thuyết ra cũng có những sai biệt, nghĩa là
thuyết giảng xen lẫn nhiều loại chính là Tố-đát-lãm, thuyết về các học
xứ chính là Tỳ-nại-da, phân biệt tự tướng và cọng tướng của các pháp
chính là A-tỳ-đạt-ma.
Lại nữa, những việc làm cũng có sai biệt, nghĩa là người chưa gieo
trồng thiện căn thì khiến cho gieo trồng thiện căn mà thuyết về Tố-đát-
lãm, người đã gieo trồng thiện căn thì khiến cho nối tiếp nhau thành
thực mà thuyết về Tỳ-nại-da, nối tiếp nhau đã thành thực thì khiến cho
được giải thoát thật sự mà thuyết về A-tỳ-đạt-ma.
Lại nữa, phần vị cũng có những sai biệt, nghĩa là dựa vào phần vị
bắt đầu sự nghiệp mà thuyết về Tố-đát-lãm, dựa vào phần vị đã xuyên
suốt thói quen mà nói về Tỳ-nại-da,  dựa vào phần vị vượt lên trên tác
ý mà thuyết về A-tỳ-đạt-ma.
Lại nữa, tiến lên cũng có những sa i biệt, nghĩa là chư bước vào
chánh pháp thì khiến bước vào chá nh pháp cho nên thuyết về Tố-đát-
lãm, đã bước vào chánh pháp thì khiến thọ trì học xứ cho nên thuyết về
Tỳ-nại-da, đã thọ trì học xứ thì khiến thông suốt tướng chân thật của các
pháp cho nên thuyết về A-tỳ-đạt-ma. Vì vậy ba Tạng cũng có sai biệt.
Hỏi: Vì sao Tôn giả soạn ra luận này?
Đáp: Vì làm lợi ích cho người khác. Nghĩa là Tôn giả ấy dấy lên tư
duy như vậy: Làm thế nào mà khiến cho các loại hữu tình thọ trì không
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 1 7  
www.daitangkinh.org  
trái ngược đối với Thánh giáo của Phật? Tinh tiến tư duy trù tính quán
sát, từ đó vô lượng phiền não ác hành không còn hiện ở trước mắt, liền
được tỏ ngộ tiến vào pháp tánh rất sâu, cho nên soạn ra luận này. Ví như
có người làm lợi ích cho người khác mà ở nơi tối tăm mù mịt thắp ngọn
đèn soi sáng tỏa khắp, khiến người có mắt trông thấy cảnh sắc; Tôn giả
cũng như vậy, vì làm lợi ích cho người khác mà sau khi Đức Phật diệt
độ, chế định soạn ra luận này, khiến người có trí tiến sâu vào pháp tánh.
Lại như chư Phật vì làm lợi ích cho người khác mà khai bày rõ ràng diễn
thuyết về mười hai phần giáo, đó là:
1. Khế kinh.
2. Ứng tụng.
3. Ký biệt.
4. Phúng tụng.
5. Tự thuyết.
6. Duyên khởi.
7. Thí dụ.
8. Bổn sự.
9. Bổn sinh.
10. Phương quảng.
11. Hy pháp.
12. Luận nghị.
Nguyên cớ thế nào? Các loài hữu tình, tuy có sức mạnh của nhân
nhưng nếu không có sức mạnh của duyên mà phát khởi giác ngộ, thì
cuối cùng không có thể tu hạnh tiến lên cao hơn, cần phải gặp được sức
mạnh của duyên thì mới có thể tu hành. Ví như trong hồ tuy có các loại
hoa sen tuyệt vời như Ốt-bát-la …, nhưng nếu ánh sáng mặt trăng-mặt
trời không soi chiếu tiếp xúc, thì không nở rộ và không tỏa ra các loại
hương thơm, cần phải có sự soi chiếu tiếp xúc của ánh sáng mặt trăng-
mặt trời, thì mới có thể tùy theo lo ại mà nở rộ tỏa ra hương thơm. Lại
như trong bóng tối có các loại đồ vật, nếu không có ngọn đèn soi sáng
thì cuối cùng không thể nào trông thấy, cần phải nhờ ngọn đèn soi sáng
thì mới có thể trông thấy đồ vật. Hữu tình cũng như vậy, tuy có sức
mạnh của nhân mà nếu không có sức mạnh của duyên, thì như trước
đã nói rộng. Như có tụng  nói:
Ví như trong căn nhà tối đen, tuy có rất nhiều loại vật dụng,
Không có đèn bóng tối phủ che, c ó mắt cũng không thể thấy
được.
Như vậy tuy là người có trí,  không thuận theo người khác nghe
8 BỘ TỲ ĐÀM 3
 
 
pháp.
ác.

Người này cuối cùng không có thể, phân biệt rõ ràng nghĩa thiện-

Ví như người có đối mắt sáng, nhờ cây đèn thấy những cảnh sắc,
Người có trí dựa vào đa văn, có thể phân biệt nghĩa thiện-ác.
Đa văn có thể biết rõ pháp, đa văn rồi pháp bất thiện.
Đa văn lìa bỏ pháp vô nghĩa, đa văn đạt được cảnh Niết-bàn.
Lại như kinh nói: “Có hai nhân duyên có thể sinh ra chánh  kiến,
nên là bên ngoài nghe pháp âm của người  khác, hai là bên trong tác ý
đúng như lý”. Lại trong kinh nói: “Có bốn pháp mà người có nhiều việc
phải làm:
1. Gần gũi bạn tốt.
2. Nghe pháp từ người khác.
3. Tác ý đúng như lý.
4. Pháp tùy theo pháp hành.”
Lại có kinh nói: “Nếu đệ tử của Ta nhất tâm tập trung lắng tai
nghe Chánh pháp thì có thể trừ bỏ na êm Cái, và có thể tu hành đầy đủ
bảy giác phần.” Vì vậy như chư Phật vì lợi ích cho mọi người mà thuyết
mười hai phần giáo, như vậy Tôn giả ấy vì lợi ích cho mọi người mà
chế định ra luận này. Lại nữa, vì phá trừ bóng tối vô minh, như ngọn
đèn phá trừ bóng tối luôn luôn phát ra  ánh sáng rạng ngời; A-tỳ-đạt-
ma cũng lại như vậy, phá trừ bóng tối vô minh phát ra ánh sáng trí tuệ,
cho nên Tôn giả ấy chế định soạn ra luận này. Lại nữa, vì hiển bày ảnh
tượng vô ngã, ví như mặt gương rất khéo mài nhẵn láng bóng, các loại
cảnh sắc hình tượng đều hiện rõ ở trong gương; A-tỳ-đạt-ma cũng lại
như vậy, phân biệt tự tướng và cộng tướng của các pháp khiến cho ảnh
tượng vô ngã hiển hiện rõ ràng cho nên Tôn giả ấy chế định soạn ra
luận nầy. Lại nữa, vì vượt qua  dòng sông sinh tử, như thuyền bè vững
chắc để cho trăm ngàn chúng sinh dựa vào không còn sợ hãi, từ bờ sông
bên này vượt qua đến bờ sông bên kia; A- tỳ-đạt-ma cũng lại như vậy,
vô số chư Phật và các hữu tình, dựa vào tâm lý vô úy, từ bờ sinh tử bên
này đến được bờ Niết-bàn bên kia, cho nên Tôn giả ấy chế định soạn ra
luận này. Lại nữa, vì y theo cá c kinh, như người cầm ngọn đèn đi vào
những căn nhà tối đen, có thể trông thấy những cảnh sắc mà không có
gì làm mê lầm hỗn loạn; như vậy người thực hành dùng A-tỳ-đạt-ma y
theo nghĩa lý của các kinh mà không có gì làm mê lầm hỗn loạn, cho
nên Tôn giả ấy chế định soạn ra luận này. Lại nữa, vì quán sát các pháp
như thiện…, như người phân biệt vật báu có năng lực dễ dàng quán  sát
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 1 9  
www.daitangkinh.org  
các vật báu như Kim cang…, A-tỳ-đạt -ma cũng lại như vậy, có năng lực
dễ dàng phân biệt các pháp như thiện …, cho nên Tôn giả ấy chế định
soạn ra luận này.
Lại nữa, vì hiển bày A-tỳ-đạt-ma,  mà các Đại Luận Sư không bị
khuynh động, như núi Diệu Cao ở trên Kim luân cho dù tất cả gió mạnh
gầm gào tung cuộn chấn động nhưng không thể nào lay động được; A-
tỳ-đạt-ma của các Đại Luận Sư cũng lại như vậy, trú trong Thi-la thanh
tịnh, những loại ác kiến khinh mạn-phá hoại và tà luận không thể nào
phá hoại được, cho nên Tôn giả ấy chế định soạn ra luận này. Lại nữa,
Tôn giả dùng ba nhân duyên mà chế định soạn ra luận này:
1. Làm cho trí tuệ tăng thêm.
2. Làm cho ý hiểu rõ thông suốt.
3. Vì ngăn chặn chấp ngã.
Làm cho trí tăng thêm, nghĩa là ở trong các kinh luận nội-ngoại,
làm cho trí tăng thêm chứ không có gì có thể sánh bằng A-tỳ-đạt-ma.
Làm cho ý hiễu rõ thông suốt, nghĩa là các hữu tình bị vô minh làm cho
mờ mịt, như còn ngủ vùi chưa tỉnh giấ c thì không thể nào biết rõ ràng,
cái gì là Biến hành, cái gì chẳng phải biến hành, cái gì duyên với cảnh
giới của mình, cái gì duyên với cảnh giới của người, cái gì duyên với
hữu lậu, cái gì duyên với vô lậu, ca ùi gì duyên với hữu vi, cái gì duyên
duyên với vô vi? Thế nào là thâu nhiếp, thế nào là tương ưng, thế nào là
nhân, thế nào là duyên? Ai thành tựu, ai không thành tựu? Cái gì thuận
với câu trước, cái gì thuận với câu sa u, cái gì là bốn câu, cái gì là câu
như vậy, cái gì là câu không như vậy? Ở trong những cảnh như vậy mà
biết rõ, khiến cho các hữu tình mở mang tâm ý giác ngộ, không có gì có
thể sánh bằng A-tỳ-đạt-ma. Ngăn chặn chấp ngã, Tôn giả đã soạn A-tỳ-
đạt-ma, chưa từng nói là có Bổ-đặc-già-la, luôn luôn hiển bày các hành
trống rỗng và không hề có ngã. Dùng các loại nhân duyên như vậy, cho
nên Tôn giả ấy chế định soạn ra luận này.
Hỏi: A-tỳ-đạt-ma có tự tánh thế nào?
Đáp: Tuệ căn vô lậu, bởi vì là tự tánh mà thâu nhiếp nên giới-nên
xứ-nên uẩn. Nếu cùng tương ưng với Thủ, thì tùy the chuyển biến mà
thâu nhiếp ba giới-hai xứ-năm uẩn. Ba giới thì gọi là Ý giới- Pháp giới
và Ý thức giới, hai xứ thì gọi là Ý xứ và Pháp xứ, năm Uẩn thì gọi là Sắc
uẩn cho đến Thức uẩn. Như trong kinh nói: “Trời Dược xoa này ở trong
đêm dài mà tâm tư chất trực không c ó gì nịnh hót lừa dối, các chúng
sinh có hỏi điều gì đều làm cho biết rõ ràng chứ không để cho rối loạn,
mình dùng A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa tùy theo ý chúng sinh đã hỏi.” Trong
10 BỘ TỲ ĐÀM 3
 
 
này cái gì là A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa? Đó gọi là tuệ căn vô lậu.
Lại trong kinh nói: “Phiệt-sa-thị này và ngoại đạo Thiện Hiền
cùng Phạm Thọ Bà-la-môn, đều ở trong đêm dài mà tánh tình chất trực
không cò gì nịnh hót lừa dối, các chúng sinh có hỏi điều gì thì đều làm
cho biết rõ ràng chứ không để cho rối loạn, mình dùng A-tỳ-đạt-ma rất
sâu xa này tùy theo ý chúng sinh đã hỏi.” Trong này cái gì gọi là A-tỳ-
đạt-ma rất sâu xa? Đó gọi là tuệ căn vô lậu. Lại như các Đức Phật bảo
với Tây-nhĩ-ca rằng: “Ta có A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa, khó thấy-khó hiểu,
không thể suy nghĩ, không phải là phạm vi của suy nghĩ, chỉ có người
trí tuệ thông minh vi diệu thì mới có thể biết được, không phải trí nông
cạn của ông mà có thể đạt đến. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì ông ở trong
đêm dài với cách nhìn sai khác, chịu đựng sai khác, ham muốn sai khác,
vui thích sai khác”. Trong này cái gì là A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa? Đó gọi
là Không-Vô ngã và hiểu biết đúng như thật. Nguyên cớ thế nào? Bởi
vì ngoại đạo kia luôn luôn vọng chấp theo ngã, tánh của - Vô ngã chẳng
phải là hạng ấy mà đạt được. Lại n hư trước Đức Phật bảo với Ô-đà-di
rằng: “Ông là kẻ ngu muội mù lòa không có mắt tuệ, làm sao có thể
cùng với hàng Tỳ kheo Thượng tọa cùng luận bàn về A-tỳ-đạt-ma rất
sâu xa được.” Trong này cái gì là A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa? Đó gọi là diệt
định lui sụt và hiểu biết như thật. Lại như Đức Phật bảo với A-nan-đà
rằng: “Ta có A-tỳ-đạt-ma rất sa âu xa, gọi là các duyên khởi, khó thấy,
khó hiểu, không thể suy nghĩ, không phải là phạm vi của suy nghĩ, chỉ
có người trí tuệ thông minh vi diệu thì mới có thể biết được.” Trong này
cái gì là A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa? Đó gọi là tánh nhân duyên và hiểu biết
đúng như thật. Lại trong kinh nói: “Ta có A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa, gọi là
tánh duyên và duyên khởi, nơi này rất sâu xa khó thấy-khó hiểu, không
thể suy nghĩ, không phải là phạm vi c ủa suy nghĩ, chỉ có người trí tuệ
thông minh vi diệu mới có thể biết được. Lại có A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa,
gọi là tất cả mọi nơi nương nhờ đề u vĩnh viễn rời bỏ, ái không còn và
rời xa ô nhiễm, đến cảnh giới Niết-b àn vắng lặng, nơi này hết sức sâu
xa, khó thấy và khó hiểu, nói rộng như trước đây.” Trong này cái gì là
A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa? Đó gọi là tánh nhân duyên va ø Niết-bàn vắng
lặng cùng sự hiểu biết đúng như thật. Lại như Đức Phật bảo với A-nan-
đà rằng: “Lại có A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa, gọi là pháp còn lại tương tự
rất sâu xa, Ta ở trong đó tự mình hiểu rõ mà đang thuyết ra.” Trong này
cái gì là A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa? Đó gọi là hướng về những cách nhìn
và hiểu biết đúng như thật. Lại trong kinh nói: “Ta có A-tỳ-đạt-ma rất
sâu xa, gọi là tất cả các pháp rất sâu xa cho nên khó thấy, khó thấy bởi
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 1 11  
www.daitangkinh.org  
vì rất sâu xa.” Trong này cái gì là A-tỳ-đạt-ma rất sâu xa? Đó gọi là tất
cả pháp tánh và hiểu biết đúng như th ật. Trong các kinh này tùy  theo
ý nghĩa khác biệt đưa ra các loại giải thích sai khác, nhưng nghĩa thù
thắng của A-tỳ-đạt-ma thì tự tánh ch ỉ là tuệ căn vô lậu.  Tức là từ đây
mà phát khởi thành tuệ nhờ Tu của thế gian, gọi là Noãn-Đảnh-Nhẫn
và Thế đệ nhất pháp. Bởi vì có th ể phân biệt quán sát bốn Thánh đế,
cho nên cũng được tên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Cũng từ đây mà phát khởi
thành tuệ nhờ Tư thù thắng, gọi là bất tịnh-giữ ý niệm bằng hơi thở…
Bởi vì có thể quán sát tách biệt  hoặc tổng quát các uẩn, cho nên cũng
được tên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Cũng từ đây mà phát khởi thành tuệ nhờ
Văn thù thắng, phân biệt tự tướng và cộng tướng của các pháp để kiến
lập tự tướng và cộng tướng của các pháp, loại bỏ cái ngu vì chấp thật có
vật và cái ngu của sở duyên. Bởi vì không tăng giảm đối với các pháp,
cho nên cũng được tên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Lại từ đây mà phát khởi đạt
được tuệ nhờ Sinh thù thắng. Bởi vì đối với mười hai phần giáo trong ba
Tạng có thể tiếp nhận-có thể duy trì, suy xét quán sát không thay đổi
sai lạc, cho nên cũng được tên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Lại nhờ vào tư lương
thâu nhiếp và duy trì như vậy mà tuệ căn vô lậu chuyển biến được rộng
rãi rõ ràng, cho nên cũng gọi là A-tỳ-đạt-ma.
Hỏi: Nếu A-tỳ-đạt-ma chỉ lấy tuệ  căn vô lậu làm tự tánh, thì tại
sao luận này lại gọi là A-tỳ-đạt-ma?
Đáp: A-tỳ-đạt-ma vốn có cho nên cũng gọi là A-tỳ-đạt-ma. Như
mọi nơi trong kinh đối với rất nhiều loại vốn có ấy để thiết lập tên gọi
của rất nhiều loại. Ở đây cũng như vậy, nghĩa là giống đối với Lạc thì
thiết lập theo tên gọi của Lạc. Như tụng nói:
Vì ăn mà vui với xin ăn, áo tùy theo niềm vui mà được áo,
Đường đi qua vui với núi rừng, dừng chân nghĩ vui với hang sâu.
Thể của ăn uống áo - quần…, thật ra chẳng phải là Lạc, nghĩa đích
thực của Lạc thì có nghĩa là những Lạc thọ. Ho ặc có người cho rằng:
Cũng là Lạc của khinh an. Nhưng áo quần-ăn uống… là Lạc vốn có, cho
nên ở trong tụng cũng nói là Lạc. Lại như đối với Cấu vốn có mà thiết
lập theo tên gọi của Cấu, như tụng nói:
Người nữ là vết bẩn phạm hạnh, người nữ làm tổn hại chúng sinh
Hết sức phạm hạnh mà th anh tịnh, không do nước có thể rửa
sạch.
Người nữ thật ra chẳng phải là Cấu, nghĩa đích thật của Cấu    thì
gọi là tham, sân, si nhưng trong tụng nói người nữ là Cấu, Bởi vì là Cấu
vốn có. Lại như đối với Lậu vốn có mà thiết lập tên gọi của Lậu,   như
12 BỘ TỲ ĐÀM 3
 
 
nói bảy Lậu là tổn hại-là đốt cha ùy-là khổ não. Các căn thật ra chẳng
phải là Lậu, Bởi vì Lậu vốn có ma thiết lập tên gọi của Lậu, nghĩa địch
thực của Lậu thì chỉ có ba, đó là Dục lậu-Hữu lậu và Vô minh lậu. Lại
như đối với Tùy miên vốn c ó mà thiết lập tên gọi của Tùy miên. Như
trong kinh nói: “Tỳ kheo nên biết! Sắc la ø tùy miên hễ tăng lên là chết,
nếu cứ tăng lên thì sẽ chết, nếu cứ c hết thì sẽ nhận chịu, nếu cứ nhận
chịu thì sẽ ràng buộc.” Sắc chẳng phải là Tùy miên, nghĩa địch thực của
Tùy miên chỉ có bảy loại, nhưng trong kinh nói Sắc là tùy miên, Bởi vì
Tùy miên là vốn có. Lại như đối với Vị vốn có mà thiết lập tên gọi của
Vị. Như trong kinh nói: “Tỳ kheo nên biết ! Vị của mắt là sắc vi diệu,
sắc là móc câu của ma.”  Mắt thật ra chẳng phải là Vị, nghĩa địch thực
của Vị thì gọi là do ái mà sinh ra, nhưng trong ki nh nói Vị của mắt là
Sắc, Bởi vì là Vị vốn có. Lại như đối  với Dục vốn có mà thiết lập tên
gọi của Dục. Như trong kinh nói: “Dục  là cái gì? Đó gọi là năm dục
tuyệt diệu.” Lại như tụng nói: Năm dục  lạc tuyệt diệu như vậy, đáng
yêu thích và đáng mừng vui.
Do vừa ý mà dục dẫn dắt, có thể làm cho tâm nhiễm trước.
Sắc… chẳng phải là Dục, nghĩa đích  thực của Dục thì gọi là đối
với tâm ý kia, nhưng trong kinh và tụng nói ái kia là Dục, bởi vì là Dục
vốn có. Lại như đối với Thối vốn có mà thiết lập tên gọi của Thối. Như
trong kinh nói: “Có năm nhân duyên khiến ch o lúc giải thoát mà A-la-
hán lui sụt:
1. Quản lý sự nghiệp.
2. Vui với hý luận.
3. Cùng nhau tranh cãi.
4. Ham thích đi xa.
5. Gặp bệnh kéo dài.”
Không phải là quản lý sự nghi ệp… đều là thể của sự thường
xuyên lui sụt, nghĩa đích thực của Thối thất, đó là tất cả các pháp bất
thiện và hữu phú vô ký, nhưng trong kinh nói quản lý sự nghiệp… đều
là nhân duyên có thể lui sụt, bởi vì la ø sự Thối thất vốn có. Lại như đối
với Nghiệp vốn có mà thiết lập tên gọi của Nghiệp. Như trong kinh
nói: “Có ba loại ý nghiệp là Tư- Ác và Bất thiện, nếu làm tăng trưởng
thì cảm lấy quả dị thục chẳng vui thích chút nào, đó là tham dục-sân
giận-tà kiến.” Không phải tham dục … là ý nghiệp thật sự, nghĩa đích
thực của ý nghiệp, đó là ý cùng có Tư  và Ác. Nhưng trong kinh gọi  là
ý nghiệp, nghĩa là ý nghiệp bất thiện này vốn có. Lại như đối với nhân
dị thục vốn có mà thiết lập tên gọi của nhân dị thục. Như Tôn giả ấy đã
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 1 13  
www.daitangkinh.org  
nói về Vô diệt: “Tôi nhờ vào nhân dị thục của nên bữa ăn, mà bảy lần
sinh lên cõi trời và bảy lần sinh trong loài người, vào đời cuối cùng được
sạch hết các lậu.” Không phải chỉ c ó nên bữa ăn là nhân dị thục, nghĩa
địch thực của nhân dị thục, nghĩa la ø pháp bất thiện và thiện hữu lậu.
Nhưng Tôn giả ấy dựa vào nên bữa ăn mà nói nhân dị thục, bởi vì nhân
dị thục kia là nhân vốn có. Như đối với các loại này, mọi nơi trong kinh
dùng tên gọi các loại ấy mà nói về cá c loại vốn có ấy, luận này cũng
như vậy, là A-tỳ-đạt-ma vốn có nên cũng gọi là A-tỳ-đạt-ma. Như vậy
nghĩa đích thực của A-tỳ-đạt-ma thì tự tánh chỉ là tuệ căn vô lậu, thâu
nhiếp nên Giới-nên Xứ và nên Uẩn, nếu cùng tương ưng với Thủ thì tùy
theo chuyển biến mà thâu nhiếp ba Gi ới - hai Xứ và năm Uẩn, những
tư lương còn lại đều là A-tỳ-đạt-ma thuộc thế tục, đó gọi là tự tánh của
A-tỳ-đạt-ma. Như nói về tự tánh thì tự thể của ngã-vật, bản tánh của
tướng phần, nên biết cũng như vậy.
Đã nói về tự tánh, cho nên nay sẽ nói bởi vì nghĩa gì mà gọi là
A-tỳ-đạt-ma? Các Luận sư nói về A-t ỳ-đạt-ma: Đối với tướng của các
pháp có thể khéo léo quyết trạch (quyết  trạch: Lựa chọn. Từ đây về
cuối chỉ dùng thuật ngữ Quyết trạch ), có thể quyết trạch cao nhất, cho
nên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Lại nữa, đối với tánh của các pháp có thể khéo
léo giám sát (tìm hiểu) và có thể dễ dàng thông suốt, cho nên gọi là
A-tỳ-đạt-ma. Lại nữa, có thể đối với các pháp hiện quán mà tác chứng,
cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Lại nữa , pháp tánh rất sâu xa mà có thể
đạt đến tận cùng nguồn gốc, cho nên là A-tỳ-đạt-ma. Lại nữa, tuệ căn
của các bậc Thánh nhờ vào đây mà được thanh tịnh, cho nên gọi là A-
tỳ-đạt-ma. Lại nữa, có thể dễ da øng biểu lộ rõ ràng pháp tánh sâu kín,
cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Biết đ ược pháp tánh sâu kín từ vô thỉ, rời
xa nơi này thì không có gì có thể biểu lộ rõ ràng được. Lại nữa, đã nói
về pháp tánh không có gì trái ngược, cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Nếu
có ai có năng lực đối với tự t ướng và cọng tướng của A-tỳ-đạt-ma hết
sức cố gắng luyện tập xuyên suốt, thì chắc chắn không có ai có thể chất
vấn đúng như pháp, khiến cho có phần nào trái ngược đối với pháp tánh.
Lại nữa, có năng lực chế phục những luận thuyết khác của tất cả ngoại
đạo, cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Các Đại Luận sư về A-tỳ-đạt-ma, thì
hàng tà ma ngoại đạo không ai có năng lực đối chọi được. Tôn giả Thế
Hữu có nói như vậy: “Luôn có thể quyết trạch tánh-tướng của các pháp
trong các kinh, cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Lại nữa, đối với pháp tánh
trong mười hai chi duyên khởi có thể dễ dàng hiểu tất cả, cho nên gọi
là A-tỳ-đạt-ma. Lại nữa, bởi vì  có năng lực hiện quán về bốn Thánh
14 BỘ TỲ ĐÀM 3
 
 
đế pháp, cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Lại nữa, khéo léo nói về pháp tu
tập tám Thánh đạo, cho nên gọi là A-t ỳ-đạt-ma. Lại nữa, có năng lực
chứng được Niết-bàn, cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma. Lại nữa, có năng lực
dùng vô lượng pháp môn để phân biệt tường tận đối với các pháp, cho
nên gọi là A-tỳ-đạt-ma.” Đại đức nói rằng: “Đối với pháp tạp nhiễm-
thanh tịnh-ràng buộc-giải thoát-lưu chuyển-hoàn diệt, dùng Danh thân-
Cú thân và Văn thân theo thứ tự kết tập an lập để phân biệt rõ ràng, cho
nên gọi là A-tỳ-đạt-ma.” Hiếp Tôn gi ả nói: “Đây là tuệ cứu cánh, đây
là tuệ quyết đoán, đây là tuệ thắng nghĩa, đây là tuệ không sai lầm, cho
nên gọi là A-tỳ-đạt-ma.” Tôn giả Diệu âm có nói như vậy: “Người cầu
giải thoát, lúc tu tập chánh hạnh, có thể phân biệt được những nghĩa mà
mình chưa hiểu rõ, nói đây là khổ-đây là nhân của khổ, đây là khổ diệt-
đây là đạo hướng về diệt, đây là đạo gia hạnh, đây là đạo vô gián, đây
là đạo giải thoát, đây là đạo thắng tiến, đây là hướng về đạo, đây là đạt
được quả. Có thể phân biệt đúng đắn những nghĩa như vậy, cho nên gọi
là A-tỳ-đạt-ma.” Pháp mật bộ nói: “Pháp này tăng thượng, cho nên gọi
là A-tỳ-đạt-ma.” Như có tụng nói:
Tuệ cao nhất đối với thế gian, có thể lựa chọn và hướng về,
Bởi vì biết rõ ràng chính xác, lão tử hết sạch không còn sót.
Hóa Địa Bộ nói: “Tuệ có năng l ực soi sáng pháp, cho nên gọi là
A-tỳ-đạt-ma.” Như trong kinh nói: “Trong tất cả mọi sự soi chiếu, Ta
nói tuệ soi chiếu là đứng đầu bậc nhất.” Ví dụ này nói: Ở trong các pháp
thì Niết-bàn là tối thượng, bởi vì pháp này tiếp theo pháp kia, cho nên
gọi là A-tỳ-đạt-ma. Thanh Luận Bộ nói: “A gọi là trừ bỏ, Tỳ gọi là lựa
chọn, pháp này có thể trừ bỏ và lựa chọn, cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma.
Trừ bỏ những gì? Đó là kiết-phược-tùy miên-tùy phiền não-triền. Lựa
chọn những gì? Đó là Uẩn-giới-xứ-duyên khởi, đế thực và quả Sa môn
cùng Bồ-đề phần.” Tôn giả Phật Hộ đưa ra luận thuyết như vậy: “A Tỳ
là sự trợ giúp của ngôn ngữ mà bi ểu hiện nghĩa lý hiện tiền, pháp này
có năng lực dẫn dắt tất cả các thiện pháp, nghĩa là các giác phần đều
hiện rõ ở trước mắt, cho nên gọi là A- tỳ-đạt-ma.” Tôn giả Giác Thiên
đưa ra giải thích như vậy: “A Tỳ là sự trợ giúp ngôn ngữ mà biểu hiện
nghĩa lý tăng thượng, như mạn tăng t hượng thì gọi là A-tỳ mạn, giác
tăng thượng thì gọi là A-tỳ giác, lão tăng thượng thì gọi là A-tỳ lão. Ở
đây cũng như vậy, pháp này tăng thượng cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma.”
Tôn giả Lão Thọ đưa ra giải thích như vậy: “A Tỳ là trợ giúp ngôn ngữ
biểu thị cho nghĩa cung kính, như cung kính khể thủ thì gọi là A-tỳ khể
thủ, cung kính cúng dường thì gọi là A-tỳ cúng dường. Ở đây cũng như
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 1 15  
www.daitangkinh.org  
vậy, pháp này tôn trọng đáng cung kính cho nên gọi là A-tỳ-đạt-ma.”
Hỏi: Vì sao luận này gọi là Phát Trí?
Đáp: Bởi vì các trí về thắng nghĩa đều phát sinh từ đây, đây là nền
tảng đầu tiên, cho nên gọi là Phát Trí. Lại nữa, luận này nên gọi là Trí
An là Trí An Túc xứ. Lại nữa, các trí dũng mãnh có thể phát sinh bắt
đầu tại đây, phát ra duyên của trí dũng mãnh, cho nên gọi là Phát Trí.
Lại nữa, các trí đến Niết-bàn (bỉ ngạn) dựa vào đây mà có thể đến nơi,
cho nên gọi là Phát Trí. Mở thông tất cả tự tướng và cọng tướng và cọng
tướng của các pháp, không có luận nào có thể bằng luận này, cho nên
gọi là Phát Trí. Lại nữa, trí thế gian  và trí xuất thế gian, đều dựa vào
diệu môn của Phát Trí này cho nên gọi là Phát Trí.
Hỏi: Luận này thù thắng lợi ích thì tướng ấy thế nào?
Đáp: Tùy thuận giải thoát-đoạn trừ-ràng buộc, thuận theo Không-
Vô ngã mà trái với ngã-ngã sở, hiển bày lý vô ngã mà ngăn chặn lối về
chấp thủ, mở thông ý hiểu biết mà chấm dứt niệm hôn mê, loại bỏ ngu
si mà phát sanh trí tuệ, đoạn dứt lư ới nghi mang lại quyết định, rời bỏ
tạp nhiễm về thanh tịnh, chỉ trích lưu chuyển mà ca ngợi hoàn diệt, từ
bỏ sanh tử đạt được Niết-bàn, phá tan tất cả ngoại đạo tà luận, thành lập
tất cả chánh luận của Phật pháp. Lu ận này thù thắng lợi ích thì tướng
ấy như vậy.
-----------------------------------------

Ghi Chú:
Ngày 27 tháng 7 năm thứ nhất niên hiệu Hiển Khánh nhà Đường, tại viện phiên
dịch kinh điển chùa Đại Từ Ân-Trường An, Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng
chiếu-dịch.
Sa môn Gia Thượng chùa Hoằng Pháp ghi lại.
Sa môn Minh Châu chùat Đại Từ Ân chứng nghĩa.
Sa môn Huệ Quý chùa Đại Từ Ân chứng nghĩa.
Sa môn Pháp Tường chùa Đại Từ Ân chứng nghĩa.
Sa môn Tuệ Cảnh chùa Tây Minh chứng nghĩa.
Sa môn Thần Thái chùa Đại Từ Ân chứng nghĩa.
Sa môn chùa Phổ Hiền chùa Đại Từ Ân chứng nghĩa.
Sa môn Thiện Lạc chùa Đại Từ Ân chứng nghĩa.
Sa môn Thê Huyền chùa Đại Từ Ân viết văn.
Sa môn Tịnh Mại chùa Đại Từ Ân viết văn.
Sa môn Tuệ Lập chùa Tây Minh viết văn.
Sa môn Huyền Tắc chùa Tây Minh viết văn.
Sa môn Nghĩa Bảo chùa Đại Từ Ân sửa chính tả.
Sa môn Huyền Ứng chùa Đại Từ Ân sửa chính tả.
Sa môn Thần Sát chùa Tây Minh cầm bút viết.
16 BỘ TỲ ĐÀM 3
 
 
Sa môn Biện Thông chùa Đại Từ Ân cầm bút viết.
Sa môn Hải Tạng chùa Ngụy Phạt-Đồng Châu ghi lại.
Sa môn Thần Phưởng chùa Ngụy Phạt-Đồng Châu ghi lại.
Sa môn Gia Thượng chùa Tây Minh ghi lại.
Sa môn đại Thừa Quang chùa Đại Từ Ân ghi lại.
Vật và tình chung giao cảm, giúp nhau tỏ ngộ giáo pháp, Đại Thánh để lại phép
tắc, thật sự dẫn dắt kẻ nghi. Nhưng mà ngày bậc tiền hiền phiên dịch, nan tre không ghi
nhớ hết, liền khiến cho hàng hậu học, lòng đầy ắp những hoài nghi. Nay vì vậy viết đầy
đủ, để làm sáng tỏ niềm tin. Nguyện bạn bè truyền bá viết chép, cùng chung chí hướng
với tôi, ngõ hầu trải qua đời kiếp, mãi mãi không còn mê hoặc.
Đại phu nội thị quân Quán Tự Tại là đệ tử Phật trong thời Đại Đường, cung kính
viết luận mới phiên dịch từ Tây Vực, nguyện hết cuộc đời còn lại này, tâm đạo không
lui sụt, ngõ hầu đem lưu thông đến những nơi nào chưa được nghe. Trộm cho rằng mặt
trời Phật lặn xuống phía Tây, chánh pháp huyền diệu suy sụp dần, dòng sông tuệ truyền
về phương Đông, tượng giáo mới lưu truyền rộng rãi. Lá bùa hiếm có ở thế gian, nghĩa
sâu xa nêu rõ nơi Bối diệp; vật báu vô cùng quý giá, rất tinh vi phát ra tại Long cung;
kéo thẳng về nguồn cội của mình, ngăn dòng hung hãn mà dừng lại vĩnh viễn; đi qua
bậc cửa huyền diệu, rời ngôi nhà mục nát mà mãi mãi cách xa. Pháp sư Huyền trang là
bậc Long tượng của Thích môn, là chim Thu lộ của Chấn Đán, vượt qua Thông Sơn mà
chịu khó học hỏi, ôm lòng mà lấy Phạm Văn mà trở về quê cũ, hơ khô thẻ tre mà hòan
thành sự nghiệp ngàn năm, truyền bá lưu thông khắp cho mọi nơi cùng biết. May mắn
được nghe chánh pháp, gieo nhân có lẽ trong sáng, nhưng bản chất không vẹn toàn, nay
dốc hết chút phước lộc này, sao chép y chỉ sâu xa ấy, dùng đôi lời chắp vá, lòng nghĩ
mắt nhìn có đủ kinh, tự mình được truyền trao bí quyết, ngõ hầu không có gì sai lầm.
Đem phước lành này, cầu chúc Thái Tông Văn Hoàng Đế an lành, từ đây truyền
bá cho tất cả Hoàng đế - vương công khanh sĩ, thân thuộc họ hàng, toàn thể dân chúng,
cho đến các loài bò bay máy cựa, bình đẳng huân tu, nhờ vào nền tảng tốt đẹp này, mới
bước lên địa vị Chánh giác.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt