A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 148
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
諸根無漏緣欲界繫。此根法智相應耶。設根 無漏法智相應。此根緣欲界繫耶。答應作 四句。有根無漏緣欲界繫。此根非法智相 應。謂苦法智忍。及相應根。苦法智集法智忍。 及相應根。集法智此中苦法智忍是無漏慧 根。此根緣欲界繫。非法智相應。以忍與智 不相應故。及相應根者。謂苦法智忍相應八 無漏根。此根亦緣欲界繫。非法智相應。忍 相應故。苦法智亦是無漏慧根。此根亦緣欲 界繫。非法智相應。自體與自體不相應故。 謂三緣故自體不與自體相應。一無二自 性俱生故。二前後剎那不並故。三一切法不 觀自性與他為緣故。集法智忍。及相應根。 集法智亦如是。有根無漏法智相應。此根不 緣欲界繫。謂滅道法智相應根。此是滅道法 智相應八無漏根。此根不緣欲界繫。緣不 繫法故。 有根無漏緣欲界繫。此根亦法智相應。謂苦 集法智相應根。此是苦集法智相應八無漏 根。此根緣欲界繫。緣欲界苦集故。有根無 漏不緣欲界繫。此根亦非法智相應。謂苦 類智忍苦類智。及二相應根。集類智忍集類 智。及二相應根。滅法智忍及相應根。滅法智 滅類智忍滅類智。及二相應根。道法智忍。及 相應根。道法智道類智忍道類智。及二相應 根。此中苦類智忍苦類智俱是無漏慧根。此 根不緣欲界繫。緣色無色界繫故。亦非法 智相應。忍智與智不相應故。及二相應根 者。謂苦類智忍苦類智相應八無漏根。此根 不緣欲界繫。緣色無色界繫故。亦非法智 相應。與苦類智忍苦類智相應故。集類智忍 集類智。及二相應根。亦如是。滅法智忍是無 漏慧根。此根不緣欲界繫。緣不繫法故。亦 非法智相應。忍與智不相應故。及相應根 者。謂滅法智忍相應八無漏根。此根不緣欲 界繫。緣不繫法故。亦非法智相應。忍相應 故。滅法智亦是無漏慧根。此根不緣欲界 繫。緣不繫法故。亦非法智相應。自體與自 體不相應故。道法智忍及相應根。道法智 亦如是。滅類智忍滅類智俱是無漏慧根。此 根不緣欲界繫。緣不繫法故。亦非法智相 應。忍智與智不相應故。及二相應根者。謂 滅類智忍滅類智相應八無漏根。此根不緣 欲界繫。緣不繫法故。亦非法智相應。與滅 類智忍滅類智相應故。道類智忍道類智。及 二相應根亦如是。 諸根無漏緣色無色界繫。此根類智相應耶。 設根無漏類智相應。此根緣色無色界繫耶。 答應作四句。有根無漏緣色無色界繫。此 根非類智相應。謂苦類智忍。及相應根。苦類 智集類智忍。及相應根。集類智此中苦類智 忍是無漏慧根。此根緣色無色界繫。非類智 相應。忍與智不相應故。及相應根者。謂苦 類智忍相應八無漏根。此根亦緣色無色界 繫。非類智相應。忍相應故。苦類智亦是無 漏慧根。此根亦緣色無色界繫非類智相應。 自體與自體不相應故。集類智忍及相應 根。集類智亦如是。有根無漏類智相應。此 根不緣色無色界繫。謂滅道類智相應根。此 是滅道類智相應八無漏根。此根不緣色無 色界繫。緣不繫法故。 有根無漏緣色無色界繫。此根亦類智相應。 謂苦集類智相應根。此是苦集類智相應八 無漏根。此根緣色無色界繫。緣色無色界苦 集故。有根無漏不緣色無色界繫。此根亦 非類智相應。謂苦法智忍苦法智。及二相應 根。集法智忍集法智。及二相應根。滅法智忍 滅法智。及二相應根。滅類智忍及相應根。滅 類智道法智忍道法智。及二相應根道類智 忍及相應根。道類智此中苦法智忍苦法智。 俱是無漏慧根。此根不緣色無色界繫。緣 欲界繫故。亦非類智相應。忍智與智不相 應故。及二相應根者。謂苦法智忍苦法智相 應八無漏根。此根不緣色無色界繫。緣欲 界繫故。亦非類智相應。與忍法智相應故。 集法智忍集法智。及二相應根亦如是。滅法 智忍滅法智俱是無漏慧根。此根不緣色無 色界繫。緣不繫法故。亦非類智相應。忍智 與智不相應故。及二相應根者。謂滅法智 忍滅法智相應八無漏根。此根不緣色無色 界繫。緣不繫法故。亦非類智相應。與忍法 智相應故。道法智忍道法智。及二相應根亦 如是。滅類智忍是無漏慧根。此根不緣色 無色界繫。緣不繫法故。亦非類智相應。忍 與智不相應故。及相應根者。謂滅類智忍 相應八無漏根。此根不緣色無色界繫。緣 不繫法故。亦非類智相應忍相應故。滅類 智亦是無漏慧根。此根不緣色無色界繫。緣 不繫法故。亦非類智相應。自體與自體不 相應故。道類智忍及相應根。道類智亦如 是。 法智當言法智耶。乃至廣說。問何故此中 但依法類二智作論。答彼作論者意欲爾 故。隨彼意欲而造論。但不違法性便不 應責。彼意欲依二智作論即便作之。謂 法智類智如前智蘊。隨論者意依二智作 論。謂他心智宿住隨念智如後定蘊。隨論 者意亦依二智作論。謂盡智無生智。如此 蘊前隨論者意依四智作論。謂苦智集智 滅智道智。如前結蘊隨論者意依八智作 論。謂法智類智他心智世俗智苦集滅道智。 如所知納息。隨論者意依十智作論。謂前 八智。及盡無生智。譬如善巧陶師以濕埿 團置於輪上。隨意埏埴成種種器。於工巧 法而不相違。如是善作論者以聞思慧。行 所知境照了除癡。然後隨欲造種種論。於 諸法性亦不相違。有說。唯法類智互不相 攝。亦俱遍緣不相攝境。謂有漏無漏有為無 為四聖諦法。有說。以法類智攝一切無漏 智盡是彼根本。有說。法類二智作分齊緣。 謂法智緣下類智緣上。由此等緣故但依 此二智作論。 法智當言法智耶。當言類智他心智世俗 智苦智集智滅智道智耶。答當言法智或他 心智苦智集智滅智道智。當言。法智者。謂知 欲界諸行。諸行因。諸行滅。諸行對治道或他 心智者。謂知欲界諸行對治道他心心所法。 或苦智者。謂知欲界諸行非常相苦相空相 非我相。或集智者。謂知欲界諸行因因相集 相生相緣相。或滅智者。謂知欲界諸行滅滅 相靜相妙相離相。或道智者。謂知欲界諸行 對治道道相如相行相出相。顯自性已當顯 地。法智當言有尋有伺無尋唯伺無尋無伺 耶。答當言三種。謂在未至初靜慮名有尋 有伺。在靜慮中間名無尋唯伺。在上三靜 慮名無尋無伺。顯地已當顯相應。 法智當言樂根相應喜根相應捨根相應耶。 答當言三種謂在第三靜慮樂根相應。在 初二靜慮喜根相應。在未至靜慮中間第四 靜慮。捨根相應。顯相應已當顯行相 法智。當言空無願無相相應耶。答當言三 種。謂二行相空相應。十行相無願相應。四 行相無相相應。顯行相已當顯所緣。法智 當言緣欲界繫。緣色界繫。緣無色界繫。緣 不繫耶。答當言。緣欲界繫或不繫。緣欲界 繫者。謂苦集法智。緣不繫者。謂滅道法智。 類智當言類智耶。當言法智他心智世俗 智苦智集智滅智道智耶。答當言類智或他 心智苦智集智滅智道智。當言類智者。謂 知色無色界諸行諸行因諸行滅諸行對治 道。或他心智者。謂知色無色界諸行無漏對 治道他心心所法。或苦智者。謂知色無色界 諸行非常等四種相。或集智者。謂知色無色 界諸行因因等四種相。或滅智者。謂知色無 色界諸行滅滅等四種相。或道智者。謂知色 無色界諸行對治道道等四種相。顯自性已 當顯地。類智當言有尋有伺無尋唯伺無 尋無伺耶。答當言三種。謂在未至初靜慮 名有尋有伺。在靜慮中間名無尋唯伺。在 上三靜慮下三無色名無尋無伺。顯地已 當顯相應。 類智當言樂根相應喜根相應捨根相應耶。 答當言三種謂在第三靜慮樂根相應。在 初二靜慮喜根相應。在未至靜慮中間第四 靜慮下三無色捨根相應。顯相應已當顯 行相。類智當言空無願無相相應耶。答當 言三種。謂二行相空相應。十行相無願相應。 四行相無相相應。已顯行相當顯所緣。 類智當言緣欲界繫。緣色界繫。緣無色界 繫。緣不繫耶。答當言緣色無色界繫或不 繫。緣色無色界繫者。謂苦集類智緣不繫 者。謂滅道類智。 時心解脫。當言學根得無學根得。乃至廣說。 問何故作此論。答欲解釋契經義故。如佛 告阿難陀言。苾芻不應樂處憒鬧。若樂是 者於時愛心解脫。或於不時不動心解脫身 作證。能具足住無有是處。若有苾芻不樂 憒鬧而樂寂靜。於時愛心解脫。或不時不 動心解脫身作證。能具足住斯有是處彼經 雖說二種解脫。而不分別此二自性。亦未 曾顯由何根得。前智蘊中雖已顯示解脫 自性。而未顯得。今欲顯得故作斯論。有 說。欲止他所說故。謂或有執。時心解脫有 學有所作所作未辦故。不動心解脫無學無所 作所作已辦故。為遮彼執。顯二解脫俱是 無學所作已辦。或復有執。時心解脫是有漏。 不動心解脫是無漏。欲止彼意顯二解脫 俱是無漏。或復有執。時心解脫是有為。不動 心解脫是無為。為止彼執顯二解脫俱是 有為。由此等緣故作斯論。諸法中唯二法 是解脫自性。謂有為法中唯有勝解。無為法 中唯有擇滅彼勝解者。是心所大地法恒與 心相應。彼擇滅者。是離繫是勝義善常住涅 槃。勝解有二。謂染不染。染謂邪勝解。即貪 等煩惱隨煩惱相應。不染謂正勝解。即信等 諸善法相應。此正勝解復有二種。謂有漏無 漏。有漏者謂不淨觀持息念無量勝處遍處 等相應。無漏復二。謂學無學。學者謂七聖身 中無漏勝解。無學者。謂阿羅漢身中無漏勝 解。無學勝解復有二種。謂時心解脫。不時心 解脫。時心解脫者。謂五種阿羅漢身中無漏 勝解。不時心解脫者謂不動法阿羅漢身中 無漏勝解。此二亦名心解脫慧解脫。離貪故 名心解脫。離無明故名慧解脫。問若此勝 解離貪故名心解脫。離無明故名慧解脫 者。集異門等所說當云何通。如說云何離貪 故心得解脫。答無貪善根對治貪故。云何 離無明故慧得解脫。答無癡善根對治癡 故。由此說故二解脫體。即是善根非是勝 解。答彼文應作是說。云何離貪故心得解 脫。答無貪善根相應心勝解印可。即此名為 時心解脫。云何離無明故慧得解脫。答無 癡善根相應心勝解印可。即此名為不動心 解脫。而不作是說者有何意耶。答此就依 處以顯勝解。謂依無貪故心解脫貪。依無 癡故心解脫癡。然心解脫體是勝解。 時心解脫當言學根得無學根得學無學根 得耶答當言學無學根得。學根得者謂無間 道俱生根。無學根得者。謂解脫道俱生根。又 學根得者。謂向道俱生根。無學根得者。謂果 道俱生根。又學根得者。謂金剛喻定俱生品 根。無學根得者。謂盡智俱生品根。又學根得 者。謂已知根。無學根得者。謂具知根。又學根 得者。謂修道俱生根。無學根得者謂無學道 俱生根。修地無學地亦爾。不動心解脫。當言 學根得無學根得。學無學根得耶。答若本得 不動當言學無學根得。若時解脫阿羅漢 得不動。當言無學根得。學無學根得者。廣 說如前。無學根得者。彼無間解脫道俱無學 攝故。一切結盡當言學根得。無學根得。學 無學根得耶。答當言學無學根得。廣說如 前。問此文何故不如不動心解脫說。答此 文亦應作如是說。若初證一切結盡。當言 學無學根得。若時解脫阿羅漢得不動證一 切結盡。當言無學根得。而不作是說者有 何意耶。答解脫有二。謂有為無為。二種心 解脫是有為。一切結盡是無為。有為解脫有 下中上。初所得異後所得異故差別說。無為 解脫無下中上。後得同初故無別說。 以無間道證預流果。此道當言法智相應。 類智他心智世俗智苦智集智滅智道智相 應耶。當言有尋有伺無尋唯伺無尋無伺 耶。當言樂根喜根捨根相應耶。當言空無 願無相相應耶。當言緣欲界繫色界繫無 色界繫不繫耶。答以無間道證預流果。此 道當言忍相應有尋有伺捨根相應。無願相 應。緣不繫忍相應者。道類智忍俱故。有尋 有伺者。唯依未至地故。捨根相應者。未至 地唯有捨受故。無願相應者。道無願俱故。 緣不繫者類智品為所緣故。 以無間道證一來果。此道當言法智相應。 類智他心智世俗智苦智集智滅智道智相 應耶。當言有尋有伺無尋唯伺無尋無伺 耶。當言樂根喜根捨根相應耶。當言空無 願無相相應耶。當言緣欲界繫色界繫無 色界繫不繫耶。答若倍離欲染入正性離 生者。如證預流果說。若從預流果以世俗 道證一來果。此道當言世俗智相應。有尋 有伺捨根相應。緣欲界繫。世俗智相應者。謂 麁等三行相隨一轉故。不與空等相應者。 彼唯無漏故。緣欲界繫者。欲界五蘊為所 緣故。餘如前說若從預流果以無漏道 證一來果。此道當言法智相應。或苦智。或 集智。或滅智。或道智相應。有尋有伺捨根相 應。或空或無願或無相相應。或緣欲界繫。或 緣不繫。法智相應者。謂四法智隨一相應。或 苦智相應者。即苦法智相應。乃至或道智相 應者。即道法智相應。或空相應者。謂二行相 相應。或無願相應者。謂十行相相應。或無相 相應者。謂四行相相應。或緣欲界繫者謂苦 集法智。或緣不繫者。謂滅道法智。餘如前 說。 以無間道證不還果。此道當言法智相應。 類智他心智世俗智苦智集智滅智道智相 應耶。當言有尋有伺無尋唯伺無尋無伺 耶。當言樂根喜根捨根相應耶。當言空無 願無相相應耶。當言緣欲界繫色界繫無 色界繫不繫耶。答若已離欲染入正性離 生。此道當言忍相應。或有尋有伺。或無尋唯 伺。或無尋無伺。或樂根相應。或喜根相應。或 捨根相應。無願相應。緣不繫。或有尋有伺 者。謂依未至初靜慮。或無尋唯伺者。謂依靜 慮中間。或無尋無伺者。謂依上三靜慮或樂 根相應者。謂依第三靜慮。或喜根相應者。謂 依初二靜慮。或捨根相應者。謂依未至靜慮 中間第四靜慮。餘如前說。若從一來果以 世俗道證不還果者。如以世俗道證一來 果說。若從一來果以無漏道證不還果 者。如以無漏道證一來果說。以無間道 證阿羅漢果。此道當言法智相應類智他 心智世俗智苦智集智滅智道智相應耶。當 言有尋有伺無尋唯伺無尋無伺耶。當言 樂根喜根捨根相應耶。當言空無願無相相 應耶。當言緣欲界繫色界繫無色界繫不 繫耶。答此道當言或法智相應或類智或苦 智或集智或滅智或道智相應。或有尋有伺。 或無尋唯伺。或無尋無伺。或樂根。或喜根或 捨根相應。或空或無願或無相相應。或緣無 色界繫。或緣不繫。或法智相應者。謂滅道法 智隨一相應。或類智相應者。謂四類智隨一 相應。或苦智集智相應者。即苦集類智相應。 或滅智道智相應者。即滅道法類智相應。或 有尋有伺者。謂依未至初靜慮。或無尋唯伺 者。謂依靜慮中間。或無尋無伺者。謂依上 三靜慮下三無色。或樂根相應者。謂依第三 靜慮。或喜根相應者。謂依初二靜慮。或捨根 相應者。謂依未至靜慮中間第四靜慮下三 無色。或空相應者。謂二行相相應。或無願相 應者。謂十行相相應。或無相相應者。謂四行 相相應。或緣無色界繫者。謂苦集類智緣 有頂苦集故。或緣不繫者。謂滅道法類智 緣三界滅。及能對治道故。 幾根永斷滅起得預流果。答無根永斷。七根 滅起。一滅不起一起不滅得預流果。七根滅 起者。七謂意捨信等五根。滅謂此七無間道 攝。起謂此七解脫道攝。又滅謂向道攝。起謂 果道攝。又滅謂道類智忍品攝。起謂道類智 品攝。又滅謂未知當知根俱生。起謂已知根 俱生。又滅謂見道攝。起謂修道攝。見地修地 亦爾。一滅不起者。謂未知當知根。一起不滅 者。謂已知根。幾根永斷滅起得一來果。答若 倍離欲染入正性離生者。如證預流果說。 若從預流果以世俗道證一來果。無根永 斷七根滅起得一來果。七根滅起者七如前 說。滅謂此七無間道攝。起謂此七解脫道攝。 又滅謂向道攝。起謂果道攝。 若從預流果以無漏道證一來果。無根永 斷八根滅起得一來果。八根滅起者。八謂前 七加已知根。滅起義如前說。 幾根永斷滅起得不還果。答若已離欲染 入正性離生無根永斷。七根滅起。一滅不 起。一起不滅。得不還果。七根滅起者。七謂 意根樂喜捨根隨一。信等五根。餘如得預流 果中說。若從一來果以世俗道證不還果。 不入靜慮。四根永斷七根滅起得不還果四 根永斷者。謂女男苦憂根。七根滅起者。七謂 意捨信等五根。滅起義如從預流得一來 說。若入靜慮。四根永斷。六根滅起。一滅不 起。一起不滅。得不還果。 四根永斷者如前說。六根滅起者。六謂意根 信等五根。滅起義如前說。一滅不起者。謂捨 根。一起不滅者。謂喜根。若從一來果以無 漏道證不還果。不入靜慮四根永斷八根 滅起。得不還果。八根者。謂意捨信等五已知 根。餘如前說。若入靜慮四根永斷七根滅 起一滅不起。一起不滅。得不還果。七根者。 即前謂意信等五。及已知根。餘如以世俗道 證不還果中說。 問離欲界染第九解脫道。誰即入靜慮。誰 不入耶。答所依力強者入。所依力劣者不入。 有說。所依力劣者入。為長養所依故。所依 力強者不入。不為長養所依故。有說。欣多 者入。厭多者不入。有說。喜樂多者入。憂苦 多者不入。有說。以滅道智離欲染者入。 以苦集智離欲染者不入。有說。以無相 道無願離欲染者入。以空苦集無願離欲 染者不入。有說。厭欲界法離欲染者入。 厭三界法離欲染者不入。有說。為求靜 慮而離染者入為求解脫而離染者不入。 有說。利根者入。鈍根者不入。如利根鈍根。 因力緣力。內分力外分力。內正思惟力外聞 正法力。應知亦爾。 幾根永斷滅起得阿羅漢果。答若依未至證 阿羅漢果。一根永斷七根永斷滅起。一滅不 起。一起不滅。得阿羅漢果。一根永斷者謂命 根。七根永斷滅起者。七謂意捨信等五根。永 斷謂有漏攝。滅謂無間道攝起謂解脫道攝。 又永斷謂世俗攝。滅謂向道攝。起謂果道攝。 又永斷謂非學非無學攝。滅謂學攝。起謂無 學攝。又永斷謂有頂攝。滅謂金剛喻定俱生 品攝。起謂盡智俱生品攝。又永斷謂修所斷 攝。滅謂已知根攝起謂具知根攝。又永斷謂 無色界繫攝。滅謂修道地攝。起謂無學道地 攝。一滅不起者。謂已知根一起不滅者。謂具 知根。 如依未至。依靜慮中間第四靜慮三無色 定亦爾。若依初靜慮證阿羅漢果。二根永 斷。六根永斷滅起。一根滅起。一滅不起。一起 不滅。得阿羅漢果二根永斷者謂命捨根。六 根永斷滅起者。六謂意信等五根永斷滅起 義如前說一根滅起者。一謂喜根。滅起義如 前說一滅不起者。謂已知根。一起不滅者。謂 具知根。如依初靜慮。依第二第三靜慮亦 爾。然差別者。依第三靜慮。應說樂根起滅。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 148 857 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 148 LUẬN VỀ HỮU (Phần 2) Hỏi: Các căn vô lậu duyên với hệ thuộc cõi Dục, thì căn này tương ưng với Pháp trí chăng? Giả sử ca ên vô lậu tương ưng với Pháp trí, thì căn này duyên với hệ thuộc cõi Dục chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt. 1. Có căn vô lậu duyên với hệ thuộc cõi Dục, mà căn này không phải là tương ưng với Pháp trí, đó la ø Khổ pháp trí nhẫn và căn tương ưng, Khổ pháp trí; Tập pháp trí nhẫn và căn tương ưng, Tập pháp trí. Trong này, Khổ pháp trí nhẫn la ø Tuệ căn vô lậu, căn này duyên với hệ thuộc cõi Dục, không phải là tương ưng với Pháp trí, bởi vì Nhẫn không tương ưng với Trí. Và căn tương ưng, đó là Khổ pháp trí nhẫn tương ưng với tám căn vô lậu, căn na øy cũng duyên với hệ thuộc cõi Dục, không phải là tương ưng với Pha ùp trí, bởi vì tương ưng với Nhẫn. Khổ pháp trí cũng là Tuệ căn vô lậu, căn này cũng duyên với hệ thuộc cõi Dục, không phải là tương ưng với Pháp trí, bởi vì tự Thể không tương ưng với tự Thể. Đó là bởi vì ba duyên cho nên tự Thể không tương ưng với tự Thể: 1-Bởi vì không có hai tự tánh cùng lúc sinh khởi; 2-Bởi vì sát-na trước sau không đi cùng nhau; 3-Bởi vì tất cả các pháp không quán xét tự tánh cùng với tánh khác làm duyên. Tập pháp trí nhẫn và căn tương ưng, Tập pháp trí cũng như vậy. 2. Có căn vô lậu tương ưng với Pháp trí, mà căn này không duyên với hệ thuộc cõi Dục, đó là căn tương ưng với Diệt-Đạo pháp trí. Đây là tám căn vô lậu tương ưng với Diệt - Đạo pháp trí, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Dục, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc. 3. Có căn vô lậu duyên với hệ thuộc cõi Dục, mà căn này cũng tương ưng với Pháp trí, đó là căn tương ưng với Khổ-Tập pháp trí. Đây là tám căn vô lậu tương ưng với Khổ-Tập pháp trí, căn này duyên với 858 BỘ TỲ ĐÀM 5 hệ thuộc cõi Dục, bởi vì duyên với Khổ-Tập của cõi Dục. 4. Có căn vô lậu không duyên với hệ t huộc cõi Dục, mà căn này cũng không phải là tương ưng với Pháp trí, đó là Khổ loại trí nhẫn - Khổ loại trí, và hai căn tương ưng; Tập loạ i trí nhẫn - Tập loại trí, và hai căn tương ưng; Diệt pháp trí nhẫn và căn tương ưng, Diệt pháp trí; Diệt loại trí nhẫn - Diệt loại trí, và hai căn tương ưng; Đạo pháp trí nhẫn và căn tương ưng, Đạo pháp trí; Đạo loại trí nhẫn - Đạo loại trí, và hai căn tương ưng. Trong này, Khổ loại trí nhẫn - Khổ loại trí đều là Tuệ căn vô lậu, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Dục, bởi vì duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc; cũng không phải là tương ưng với Pháp trí, bởi vì Nhẫn trí không tương ưng với Trí. Và hai căn tương ưng, đó là tám căn vô lậu tương ưng với Khổ loại trí nhẫn - Khổ loại trí, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Dục, bởi vì duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc; cũng không phải là tương ưng với Pháp trí, bởi vì tương ưng với Khổ loại trí nhẫn- Khổ loại trí. Tập loại trí nhẫn - Tập loại trí, và hai căn tương ưng cũng như vậy. Diệt pháp trí nhẫn là Tuệ căn vô lậu, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Dục, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Pháp trí, bởi vì Nhẫn không tương ưng với Trí. Và căn tương ưng, đó là tám căn vô lậu tương ưng với Diệt pháp trí nhẫn, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Dục, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Pháp trí, bởi vì tương ưng với Nhẫn. Diệt pháp trí cũng là T uệ căn vô lậu, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Dục, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Pháp trí, bởi vì tự Thể không tương ưng với tự Thể. Đạo pháp trí nhẫn và căn tương ưng, Đạo pháp trí cũng như vậy. Diệt loại trí nhẫn - Diệt loại tr í đều là Tuệ căn vô lậu, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Dục, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Pháp trí, bởi vì Nhẫn trí không tương ưng với Trí. Và hai căn tươ ng ưng, đó là tám căn vô lậu tương ưng với Diệt loại trí nhẫn - Diệt loại trí, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Dục, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Pháp trí, bởi vì tư ơng ưng với Diệt loại trí nhẫn- Diệt loại trí. Đạo loại trí nhẫn - Đạo loại tr í, và hai căn tương ưng cũng như SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 148 859 www.daitangkinh.org vậy. Hỏi: Các căn vô lậu duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, thì căn này tương ưng với Loại trí chăng? Giả sử căn vô lậu tương ưng với Loại trí, thì căn này duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt. 1. Có căn vô lậu duyên với hệ thuộc c õi Sắc - Vô sắc, mà căn này không phải là tương ưng với Loại trí, đó là Khổ loại trí nhẫn và căn tương ưng, Khổ loại trí; Tập loại tr í nhẫn và căn tương ưng, Tập loại trí. Trong này, Khổ loại trí nhẫn là Tuệ căn vô lậu, căn này duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, không phải là tương ưng với Loại trí, bởi vì Nhẫn không tương ưng với Trí. Và căn tương ưng, đó là tám căn vô lậu tương ưng với Khổ loại trí nhẫn, căn này cũng duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, không phải là tương ưng với Loại trí, bởi vì tương ưng với Nhẫn. Khổ loại trí cũng là Tuệ căn vô lậu, căn này cũng duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, không phải là tương ưng với Loại trí, bởi vì tự Thể không tương ưng với tự Thể. Tập loại trí nhẫn và căn tương ưng, Tập loại trí cũng như vậy. 2. Có căn vô lậu tương ưng với Loại trí, mà căn này không duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, đó là căn tương ưng với Diệt- Đạo loại trí. Đây là tám căn vô lậu tương ưng với Diệt - Đạo loại trí, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc. 3. Có căn vô lậu duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, mà căn này cũng tương ưng với Loại trí, đó là căn tương ưng với Khổ - Tập loại trí. Đây là tám căn vô lậu t ương ưng với Khổ- Tập loại trí, căn này duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, bởi vì duyên với Khổ - Tập của cõi Sắc - Vô sắc. 4. Có căn vô lậu không duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, mà căn này cũng không phải là tương ưng với Loại trí, đó là Khổ pháp trí nhẫn - Khổ pháp trí, và hai căn tương ưng; Tập pháp trí nhẫn - Tập pháp trí, và hai căn tương ưng; Diệt pháp trí nhẫn - Diệt pháp trí, và hai căn tương ưng; Diệt loại trí nhẫn và că n tương ưng, Diệt loại trí; Đạo pháp trí nhẫn - Đạo pháp trí, và hai căn tương ưng; Đạo loại trí nhẫn và căn tương ưng, Đạo loại trí. Trong này, Khổ pháp trí nhẫn - Khổ pháp trí đều là Tuệ căn vô lậu, căn này không duyên với hệ thuộc c õi Sắc - Vô sắc, bởi vì duyên với hệ thuộc cõi Dục; cũng không phải là tương ưng với Loại trí, bởi vì 860 BỘ TỲ ĐÀM 5 Nhẫn trí không tương ưng với Trí. Và hai căn tương ưng, đó là tám căn vô lậu tương ưng với Khổ pháp trí nha ãn- Khổ pháp trí, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, bởi vì duyên với hệ thuộc cõi Dục; cũng không phải là tương ưng với Loại trí, bởi vì tương ưng với Nhẫn- Pháp trí. Tập pháp trí nhẫn - Tập pháp trí, và hai căn tương ưng cũng như vậy. Diệt pháp trí nhẫn - Diệt pháp trí đều là Tuệ căn vô lậu, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Sắc, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Loại trí, bởi vì Nhẫn trí không tương ưng với Trí. Và hai căn tương ưng, đó là tám căn vô lậu tương ưng với Diệt pháp trí nhẫn-Diệt pháp trí, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Loại trí, bởi vì tương ưng với Nhẫn - Pháp trí. Đạo pháp trí nhẫn - Đạo pháp trí, và hai căn tương ưng cũng như vậy. Diệt loại trí nhẫn là Tuệ căn vô lậu, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Loại tr í, bởi vì Nhẫn không tương ưng với Trí. Và căn tương ưng, đó là tám căn vô lậu tương ưng với Diệt loại trí nhẫn, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Loại trí, bởi vì tương ưng với Nhẫn. Diệt loạ i trí cũng là Tuệ căn vô lậu, căn này không duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, bởi vì duyên với pháp không hệ thuộc; cũng không phải là tương ưng với Loại trí, bởi vì tự Thể không tương ưng với tự Thể. Đạo loại trí nhẫn và căn tương ưng, Đạo loại trí cũng như vậy. Pháp trí nên nói là Pháp trí chăng? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao trong này chỉ dựa vào Pháp trí - Loại trí mà soạn luận? Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, tùy theo ý muốn ấy mà soạn luận, nhưng không trái với pháp tánh thì không cần phải vặn hỏi. Ý người ấy muốn dựa vào hai Trí để soạn luận thì thuận theo mà soạn ra, đó là Pháp trí- Loại trí. Như chương Trí Uẩn trước đây, tùy theo ý của Luận giả dựa vào hai Trí mà soạn luận, đó là Tha tâm trí - Túc trú tùy niệm trí. Như chương Định Uẩn sau này, tùy theo ý của Luận giả cũng dựa vào hai Trí mà soạn luận, đó là Tận trí- Vô sinh trí. Như phần trước chương Căn Uẩn này, tùy theo ý của Luận giả SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 148 861 www.daitangkinh.org dựa vào bốn Trí mà soạn luận, đó là K hổ trí- Tập trí- Diệt trí- Đạo trí. Như chương Kiết Uẩn trước đây, tùy theo ý của Luận giả dựa vào tám Trí mà soạn luận, đó là Pháp trí-Loạ i trí-Tha tâm trí-Thế tục trí-Khổ- Tập- Diệt- Đạo trí. Như phần luận về Sở Tri, tùy theo ý của Luận giả dựa vào mười Trí mà soạn luận, đó là tám Trí trước và Tận trí- Vô sinh trí. Ví như người thợ gốm khéo léo tài tình lấy nắm đất nhão đặt ở trên vòng xoay, tùy theo ý muốn làm thành các loại đồ dùng, mà không trái ngược đối với phương thức tinh xảo. Như vậy, người có sở trường soạn luận dùng Văn tuệ- Tư tuệ, đi trong ca ûnh đã biết mà đối chiếu rõ ràng loại bỏ ngu si, sau đó tùy theo ý muốn soạn ra các loại luận thuyết, đối với tánh của các pháp cũng không trái ngược nhau. Có người nói: Chỉ có Pháp trí- Loại trí không thâu nhiếp lẫn nhau, cũng đều duyên với khắp nơi, không tha âu nhiếp cảnh của nhau, đó là pháp hữu lậu-vô lậu, pháp hữu vi-vô vi và bốn Thánh đế. Có người nói: Bởi vì Pháp trí- Loại trí thâu nhiếp tất cả các Trí vô lậu, toàn bộ là căn bản của hai Trí ấy. Có người nói: Pháp trí - Loại trí làm duyên trong phạm vi như nhau, đó là Pháp trí duyên với phần dưới, Loại trí duyên với phần trên. Bởi vì những nhân duyên như vậy, cho nên chỉ dựa vào hai Trí này mà soạn luận. Hỏi: Pháp trí nên nói là Pháp trí, hay nên nói là Loại trí - Tha tâm trí - Thế tục trí - Khổ trí - Tập trí - Diệt trí - Đạo trí? Đáp: Nên nói là Pháp trí, hoặc là Tha tâm trí - Khổ trí - Tập trí - Diệt trí - Đạo trí. Nên nói là Pháp trí, đó là nha än biết về các hành, nhân của các hành, pháp diệt các hành, đạo đối trị với các hành cõi Dục. Hoặc là Tha tâm trí, đó là nhận biết về tâm-tâm sở pháp khác là đạo đối trị với các hành cõi Dục. Hoặc là Khổ trí, đó là nhận biết về tướng Vô thường- tướng Khổ - tướng Không - tướng Vô ngã của các hành cõi Dục. Hoặc là Tập trí, đó là nhận biết về tướng Nhân-tướng Tập - tướng Sinh- tướng Duyên là nhân của các hành cõi Dục. Hoặc là Diệt trí, đó là nhận biết về tướng Diệt - tướng Tĩnh- tướng Diệu - tướng Ly là pháp diệt của các hành cõi Dục. Hoặc là Đạo trí, đó là nhận biết về tướng Đạo- tướng Như- tướng Hành- tướng Xuất là đạo đối trị của các hành cõi Dục. Đã hiển bày về tự tánh, nên hiển bày về địa. Hỏi: Pháp trí nên nói là có Tầm-có Tứ, không có Tầm-chỉ có Tứ, 862 BỘ TỲ ĐÀM 5 hay là không có Tầm-không có Tứ? Đáp: Nên nói là cả ba loại, đó là ở Vị chí-Tĩnh lự thứ nhất thì gọi là có Tầm-có Tứ, ở Tĩnh lự trung gian thì gọi là không có Tầm-chỉ có Tứ, ở ba Tĩnh lự trên thì gọi là không có Tầm- không có Tứ. Đã hiển bày về địa, nên hiển bày về tương ưng. Hỏi: Pháp trí nên nói là tương ưng với Lạc căn, tương ưng với Hỷ căn, hay là tương ưng với Xả căn? Đáp: Nên nói là cả ba loại, đó la ø ở Tĩnh lự thứ ba tương ưng với Lạc căn, ở hai Tĩnh lự đầu tương ưng với Hỷ căn, ở Vị chí- Tĩnh lự trung gian và Tĩnh lự thứ tư tương ưng với Xả căn. Đã hiển bày về tương ưng, nên hiển bày về hành tướng. Hỏi: Pháp trí nên nói là tương ưng với Không, Vô nguyện hay là Vô tướng? Đáp: Nên nói là cả ba loạ i, đó là hai hành tướng tương ưng với Không, mười hành tướng tương ưng với Vô nguyện, bốn hành tướng tương ưng với Vô tướng. Đã hiển bày về hành tướng, nên hiển bày về sở duyên. Hỏi: Pháp trí nên nói là duyên với hệ thuộc cõi Dục, duyên với hệ thuộc cõi Sắc, duyên với hệ thuộc cõi Vô sắc, hay là duyên với không hệ thuộc? Đáp: Nên nói là duyên với hệ t huộc cõi Dục, hoặc là không hệ thuộc. Duyên với hệ thuộc cõi Dục, đó là Khổ - Tập pháp trí. Duyên với không hệ thuộc, đó là Diệt- Đạo pháp trí. Hỏi: Loại trí nên nói là Loại trí, hay nên nói là Pháp trí - Tha tâm trí - Thế tục trí, Khổ trí - Tập trí - Diệt trí - Đạo trí? Đáp: Nên nói là Loại trí, hoặc là Tha tâm trí - Khổ trí - Tập trí - Diệt trí - Đạo trí. Nên nói là Loại trí, đó là nhận biết về các hành, nhân của các hành, pháp diệt các hành, đạo đối trị vớ i các hành của cõi Sắc - Vô sắc. Hoặc là Tha tâm trí, đó là nhận biết về tâm-tâm sở pháp khác là đạo đối trị vô lậu với các hành của cõi Sắc - Vô sắc. Hoặc là Khổ trí, đó là nhận biết về bốn loại tướng như Vô thường… của các hành cõi Sắc - Vô sắc. Hoặc là Tập trí, đó là nhận biết về bốn loại tướng như Nhân… là nhân của các hành cõi Sắc - Vô sắc. Hoặc là Diệt trí, đó là nhận biết về bốn loại tướng như Diệt…là pháp diệt của các hành cõi Sắc - Vô sắc. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 148 863 www.daitangkinh.org Hoặc là Đạo trí, đó là nhận biết về bốn loại tướng như Đạo… là đạo đối rtị của các hành cõi Sắc - Vô sắc. Đã hiển bày về tự tánh, nên hiển bày về địa. Hỏi: Loại trí nên nói là có Tầm-có Tứ, không có Tầm-chỉ có Tứ, hay là không có Tầm-không có Tứ? Đáp: Nên nói là cả ba loại, đó là ở Vị chí- Tĩnh lự thứ nhất thì gọi là có Tầm-có Tứ, ở Tĩnh lự trung gian thì gọi là không có Tầm-chỉ có Tứ, ở ba Tĩnh lự trên-ba Vô sắc dưới thì gọi là không có Tầm-không có Tứ. Đã hiển bày về địa, nên hiển bày về tương ưng. Hỏi: Loại trí nên nói là tương ưng với Lạc căn, tương ưng với Hỷ căn, hay là tương ưng với Xả căn? Đáp: Nên nói là cả ba loại, đó la ø ở Tĩnh lự thứ ba tương ưng với Lạc căn, ở hai Tĩnh lự đầu tương ưng với Hỷ căn, ở Vị chí-Tĩnh lự trung gian-Tĩnh lự thứ tư và ba Vô sắc dưới tương ưng với Xả căn. Đã hiển bày về tương ưng, nên hiển bày về hành tướng. Hỏi: Loại trí nên nói là t ương ưng với Không, Vô nguyện hay là Vô tướng? Đáp: Nên nói là cả ba loạ i, đó là hai hành tướng tương ưng với Không, mười hành tướng tương ưng với Vô nguyện, bốn hành tướng tương ưng với Vô tướng. Đã hiển bày về hành tướng, nên hiển bày về sở duyên. Hỏi: Loại trí nên nói là duyên với hệ thuộc cõi Dục, duyên với hệ thuộc cõi Sắc, duyên với hệ thuộc cõi Vô sắc, hay là duyên với không hệ thuộc? Đáp: Nên nói là duyên với hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc, hoặc là không hệ thuộc. Duyên với hệ t huộc cõi Sắc - V ô sắc, đó là Khổ-Tập loại trí. Duyên với không hệ thuộc, đó là Diệt-Đạo loại trí. Thời tâm giải thoát, nên nói là căn Học đạt được, căn Vô học đạt được…? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn giải thích nghĩa lý trong kinh. Như trong kinh nói: “Đức Phật bảo với A-nan-đà: Tỳ kheo không nên vui với nơi ồn ào náo loạn, nếu vui với nơi này mà đối với Thời ái tâm giải thoát, hoặc là Bất thời bất động tâm giải thoát - Thân tác chứng, có thể an trú đầy đủ, thì điều này không hề có. Nếu có Tỳ kheo không vui với nơi ồn ào náo loạn mà vui với nơi yên lặng vắng vẻ, đối với Thời ái tâm giải thoát, hoặc là Bất thời bất động tâm giải thoát- Thân tác chứng, có thể an trú đầy đủ, thì điều này là có.” Kinh ấy tuy nói đến hai loại giải thoát, mà 864 BỘ TỲ ĐÀM 5 không phân biệt về tự tánh của hai lo ại này, cũng chưa hề hiển bày là do căn nào đạt được. trong chương Trí Uẩn trước đây, tuy đã hiển bày rõ ràng về tự tánh giải thoát, mà chưa hiển bày về đạt được; nay muốn hiển bày về đạt được, cho nên soạn ra phần luận này. Có người nói: Bởi vì muốn ngăn ch ặn cách nói của người khác, đó là hoặc có người chấp: Thời ta âm giải thoát là Hữu học có những việc làm, những việc làm chưa xong; Bất động tâm giải thoát là Vô học không còn những việc làm, những việc làm đã xong. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về hai loại giải thoát đều là Vô học, những việc làm đã xong. Hoặc lại có người chấp: Thời tâm giải thoát là hữu lậu, Bất động tâm giải thoát là vô lậu. Muốn ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về hai loại giải thoát đều là vô lậu. Hoặc lại có người chấp: Thời tâm giải thoát là hữu vi, Bất động tâm giải thoát là vô vi. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về hai loại giải thoa ùt đều là hữu vi. Bởi vì những nhân duyên này, cho nên soạn ra phần luận này. Trong các pháp chỉ có hai pháp là tự tánh giải thoát, đó là trong pháp hữu vi chỉ có Thắng giải, trong pháp vô vi chỉ có Trạch diệt. Thắng giải ấy là pháp đại địa của tâm sở luôn luôn tương ưng với tâm. Trạch diệt ấy là lìa ràng buộc, la ø Niết-bàn thường trú thuộc thắng ng- hĩa thiện. Thắng giải có hai loại, đó là nhiễm và không nhiễm. Nhiễm gọi là Thắng giải thuộc về tà, tức là tương ưng với phiền não-tùy phiền não như tham… Không nhiễm gọi là Thắng giải thuộc về Chánh, tức là tương ưng với các pháp thiện như Tín… Thắng giải thuộc về Chánh này lại có hai loại, đó là hữu lậu và vô lậu. Hữu lậu, đó là tương ưng với quán Bất tịnh, Trì tức niệm, Vô lượng, Thắng xứ, Biến xứ… Vô lậu lại có hai loại, đó là Học và Vô học. Học, đó là Thắng giải vô lậu trong thân c ủa bảy bậc Thánh. Vô học, đó là Thắng giải vô lậu trong thân của A-la-hán. Thắng giải Vô học lại có hai loại, đó là Thời tâm giải thoát và Bất thời tâm giải thoát. Thời tâm giải thoát, đó là Thắng giải vô lậu trong thân của năm loại A-la-hán. Bất th ời tâm giải thoát, đó là Thắng giải vô lậu trong thân của A-la-hán Bất động pháp. Hai loại này cũng gọi là Tâm giải thoát- Tuệ giải thoát, bởi vì lìa tham cho nên gọi là Tâm giải thoát, bởi vì lìa vô minh cho nên gọi là Tuệ giải thoát. Hỏi: Nếu Thắng giải này lìa tham cho nên gọi là Tâm giải tho- át, lìa vô minh cho nên gọi là Tuệ giải thoát, thì các luận như Tập Dị Môn…đã nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Thế nào là lìa tham cho nên SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 148 865 www.daitangkinh.org Tâm được giải thoát? Đáp: Bởi vì đối trị tham là căn thiện không có tham. Thế nào là lìa vô minh cho nên Tuệ được giải thoát? Đáp: Bởi vì đối trị si là căn thiện không có si.” Do cách nói này cho nên Thể của hai loại giải thoát, tức là căn thiện chứ không phải là Thắng giải. Đáp: Văn ấy nên đưa ra cách nói này Thế nào là lìa tham cho nên Tâm được giải thoát? Đáp: Tâm tương ưng với căn thiện không có tham, Thắng giải chứng minh phù hợp, thì loại này gọi là Thời tâm giải thoát. Thế nào là lìa vô minh cho nên Tuệ được giải thoát? Đáp: Tâm tương ưng với căn thiện không có si, Thắng giải chứng minh phù hợp, thì loại này gọi là Ba át động tâm giải thoát. Nhưng mà không đưa ra cách nói này là có ý gì? Đây là dựa vào nơi chốn để hiển bày về Thắng giải, nghĩa là dựa va øo không có tham cho nên Tâm giải thoát khỏi tham, dựa vào không có si cho nên Tâm giải thoát khỏi si, nhưng Thể của tâm giải thoát là Thắng giải. Hỏi: Thời tâm giải thoát nên nói là căn Học đạt được, căn Vô học đạt được, hay là căn Học-Vô học đạt được? Đáp: Nên nói là căn Học-Vô học đạt được. Căn Học đạt được, đó là căn câu sinh thuộc đạo vô gián. Căn Vô học đạt được, đó là căn câu sinh thuộc đạo giải thoát. Lại nữa, căn Học đạt được, đó là căn câu sinh thuộc đạo của Hướng; căn Vô học đạt được, đó là căn câu sinh thuộc đạo của Quả. Lại nữa, căn Học đạt được, đó là căn thuộc phẩm câu sinh của Định Kim cang dụ; căn Vô học đạt được, đó là căn thuộc phẩm câu sinh của Tận trí. Lại nữa, căn Học đạt được, đó là Dĩ tri căn; căn Vô học đạt được, đó là Cụ tri căn. Lại nữa, căn Học đạt được, đó là căn câu si nh thuộc Tu đạo; căn Vô học đạt được, đó là căn câu sinh thuộc đạo Vô học. Địa Tu và địa Vô học cũng như vậy. Hỏi: Bất động tâm giải thoát nên nói là căn Học đạt được, căn Vô học đạt được, hay là căn Học-Vô học đạt được? Đáp: Nếu vốn có đạt được Bất động, thì nên nói là căn Học-Vô học đạt được. Nếu A-la-hán Thời giải thoát đạt được Bất động, thì nên nói là căn Vô học đạt được. Căn Học-Vô học đạt được, nói rộng ra như trước. Căn Vô học đạt được, bởi vì đạo vô gián-giải thoát ấy đều thuộc về Vô học. 866 BỘ TỲ ĐÀM 5 Hỏi: Tất cả các kiết không còn, nên nói là căn Học đạt được, căn Vô học đạt được, hay là căn Học-Vô học đạt được? Đáp: Nên nói là căn Học-Vô học đạt được, nói rộng ra như trước. Hỏi: Văn này vì sao nói không giống như Bất động tâm giải thoát? Đáp: Văn này cũng nên đưa ra cách nói như vậy: “Nếu bắt đầu chứng tất cả các kiết không còn, thì nên nói là căn Học-Vô học đạt được. Nếu A-la-hán Thời giải thoát đạt được Bất động, chứng tất cả các kiết không còn, thì nên nói là căn Vô học đạt được.” Nhưng mà không đưa ra cách nói này là c ó ý gì? Giải thoát có ha i loại, đó là hữu vi và vô vi. Hai loại tâm giải thoát là hữu vi, tất cả các kiết không còn là vô vi. Giải thoát hữu vi có hạ-trung-thượng, lúc đầu đạt được có khác, về sau đạt được có khác, cho nên nói có sai biệt; Giải thoát vô vi không có hạ-trung-thượng, về sau đạt được giống như lúc đầu, cho nên nói không có khác nhau. Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng qua û Dự lưu, đạo này nên nói là tương ưng với Pháp trí, hay là tương ưng với Loại trí-Tha tâm trí-Thế tục trí, Khổ trí-Tập trí-Diệt trí-Đạo trí? Nên nói là có Tầm-có Tứ, không có Tầm-chỉ có Tứ, hay là không có Ta àm-không có Tứ? Nên nói là tương ưng với Lạc căn- Hỷ căn hay là Xả căn? Nên nói là tương ưng với Không- Vô nguyện hay là Vô tướng? Nên nói là duyên với hệ thuộc cõi Dục, hệ thuộc cõi Sắc, hệ thuộc cõi Vô sắc hay là không hệ thuộc? Đáp: Dùng đạo vô gián chứng quả Dự lưu, đạo này nên nói là tương ưng với Nhẫn, có Tầm-có Tư ù, tương ưng với Xả căn, tương ưng với Vô nguyện, duyên với không hệ thuộc. Tương ưng với Nhẫn, bởi vì đi c ùng với Đạo loại trí nhẫn. Có Tầm-có Tứ, bởi vì chỉ dựa vào địa Vị chí. Tương ưng với Xả căn, bởi vì địa Vị chí chỉ có Xả thọ. Tương ưng với Vô nguyện, bởi vì đi cùng với Vô nguyện thuộc về Đạo. Duyên với không hệ thuộc, bởi vì phẩm Loại trí làm sở duyên. Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng quả Nhất lai, đạo này nên nói là tương ưng với Pháp trí, hay là tương ưng với Loại trí-Tha tâm trí-Thế tục trí, Khổ trí-Tập trí-Diệt trí-Đạo trí? Nên nói là có Tầm-có Tứ, không có Tầm-chỉ có Tứ, hay là không có Ta àm-không có Tứ? Nên nói là tương ưng với Lạc căn- Hỷ căn hay là Xả căn? Nên nói là tương ưng với Không- Vô nguyện hay là Vô tướng? Nên nói là duyên với hệ thuộc cõi Dục, hệ thuộc cõi Sắc, hệ thuộc cõi Vô sắc hay là không hệ thuộc? Đáp: Nếu tăng thêm lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 148 867 www.daitangkinh.org sinh, thì nói như chứng quả Dự lưu. Nếu từ quả Dự lưu dùng đạo thế tục chứng quả Nhất lai, thì đạo này nên nói là tương ưng với Thế tục trí, có Tầm-có Tứ, tương ưng với Xả căn, duyên với hệ thuộc cõi Dục. Tương ưng với Thế tục trí, đó là bởi vì tùy theo một trong ba hành tướng như thô… mà chuyển. Không tương ưng với Không…, bởi vì đạo ấy chỉ là vô lậu. Duyên với hệ thuộc cõi Dục, bởi vì năm Uẩn của cõi Dục làm sở duyên. Còn lại như trước nói. Nếu từ quả Dự lưu dùng đạo vô lậu chứng quả Nhất lai, thì đạo này nên nói là tương ưng với Pháp trí, hoặc là tương ưng với Khổ trí- Tập trí-Diệt trí-Đạo trí. Có Tầm-có Tứ. Tương ưng với Xả căn. Hoặc là tương ưng với Không-Vô nguyện-Vô tướng. Hoặc là duyên với hệ thuộc cõi Dục, hoặc là duyên với không hệ thuộc. Tương ưng với Pháp trí, đó là t ương ưng tùy theo một trong bốn Pháp trí. Hoặc là tương ưng với Khổ trí, tức là tương ưng với Khổ pháp trí; cho đến hoặc là tương ưng với Đạo trí, tức là tương ưng với Đạo pháp trí. Hoặc là tương ưng với Không, đó là tương ưng với hai hành tướng; hoặc là tương ưng với Vô nguyện, đó là tương ưng với mười hành tướng; hoặc là tương ưng với Vô tướng, đó là tương ưng với bốn hành tướng. Hoặc là duyên với hệ thuộc cõi Dục , đó là Khổ-Tập pháp trí; hoặc là duyên với không hệ thuộc, đó là Diệt- Đa ïo pháp trí. Còn lại như trước nói. Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng quả Bất hoàn, đạo này nên nói là tương ưng với Pháp trí, hay là tương ưng với Loại trí-Tha tâm trí-Thế tục trí, Khổ trí-Tập trí-Diệt trí-Đạo trí? Nên nói là có Tầm-có Tứ, không có Tầm-chỉ có Tứ, hay là không có Ta àm-không có Tứ? Nên nói là tương ưng với Lạc căn- Hỷ căn hay là Xả căn? Nên nói là tương ưng với Không-Vô nguyện hay là Vô tướng? Nên nói là duyên với hệ thuộc cõi Dục, hệ thuộc cõi Sắc, hệ thuộc cõi Vô sắc hay là không hệ thuộc? Đáp: Nếu đã lìa nhiễm cõi Dục , tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì đạo này nên nói là tương ưng với Nhẫn. Hoặc là có Tầm-có Tứ, hoặc là không có Tầm-chỉ có Tứ, hoặc là không có Tầm-không có Tứ. Hoặc là tương ưng với Lạc căn, hoặc là tương ưng với Hỷ căn, hoặc là tương ưng với Xả căn. Tương ưng với Vô nguyện. Duyên với không hệ thuộc. Hoặc là có Tầm-có Tứ, đó là dựa vào Vị chí-Tĩ nh lự thứ nhất. Hoặc là không có Tầm-chỉ có Tứ, đó là dựa vào Tĩnh lự trung gian. Hoặc là không có Tầm-không có T ứ, đó là dựa vào ba Tĩnh lự trên. Hoặc là tương ưng với Lạc căn, đó là dựa vào Tĩnh lự thứ ba. Hoặc là 868 BỘ TỲ ĐÀM 5 tương ưng với Hỷ căn, đó là dựa vào hai Tĩnh lự đầu. Hoặc là tương ưng với Xả căn, đó là dựa vào Vị chí-Tĩ nh lự trung gian và Tĩnh lự thứ tư. Còn lại như trước nói. Nếu từ quả Nhất lai dùng đạo thế tục chứng quả Bất hoàn, thì nói như dùng đạo thế tục chứng quả Nhất lai. Nếu từ quả Nhất lai dùng đạo vô lậu chứng quả Bất hoàn, thì nói như dùng đạo vô lậu chứng quả Nhất lai. Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng quả A-la-hán, đạo này nên nói là tương ưng với Pháp trí, hay là tương ưng với Loại trí - Tha tâm trí- Thế tục trí, Khổ trí-Tập trí-Diệt trí-Đạo trí? Nên nói là có Tầm-có Tứ, không có Tầm-chỉ có Tứ, hay là không có Tầm-không có Tứ? Nên nói là tương ưng với Lạc căn-Hỷ căn hay là Xả căn? Nên nói là tương ưng với Không- Vô nguyện hay là Vô tướng? Nên nói là duyên với hệ thuộc cõi Dục, hệ thuộc cõi Sắc, hệ thuộc cõi Vô sắc, hay là không hệ thuộc? Đáp: Đạo này nên nói hoặc là t ương ưng với Pháp trí, hoặc là tương ưng với Loại trí, hoặc là Khổ trí - Tập trí- Diệt trí- Đạo trí. Hoặc là có Tầm-có Tứ, hoặc là không có Tầm-chỉ có Tứ, hoăc là không có Tầm- không có Tứ. Hoặc là tương ưng với Lạc căn-Hỷ căn-Xả căn. Hoặc là tương ưng với Không-Vô nguyện-Vô tướng. Hoặc là duyên với hệ thuộc cõi Vô sắc, hoặc là duyên với không hệ thuộc. Hoặc là tương ưng với Pháp trí, đó là Diệt-Đạo pháp trí tương ưng tùy theo một loại. Hoặc là tương ưng với Loại trí, đó là tương ưng tùy theo một trong bốn Loại trí. Hoặc là tương ưng với Khổ trí-Tập trí, tức là tương ưng với Khổ-Tập loại trí. Hoặc là tương ưng với Diệt trí-Đạo trí, tức là tương ưng với Diệt- Đạo Pháp-Loại trí. Hoặc là có Tầm-có Tứ, đó là dựa vào Vị chí-Tĩnh lự thứ nhất. Hoặc là không có Tầm-chỉ có Tứ, đó là dựa vào Tĩnh lự trung gian. Hoặc là không có Tầm-không có Tứ, đó là dựa vào ba Tĩnh lự trên và ba Vô sắc dưới. Hoặc là tương ưng với Lạc căn, đó là dựa vào Tĩnh lự t hứ ba. Hoặc là tương ưng với Hỷ căn, đó là dựa vào hai Tĩnh lự đầu. Hoặc là tương ưng với Xả căn, đó là dựa vào Vị chí-Tĩnh lự trung gian-Tĩnh lự thứ tư và ba Vô sắc dưới. Hoặc là tương ưng với Không, đó là tươ ng ưng với hai hành tướng. Hoặc là tương ưng với Vô nguyện, đó là tương ưng với mười hành tướng. Hoặc là tương ưng với Vô tướng, đó là tương ưng với bốn hành tướng. Hoặc là duyên với hệ thuộc cõi Vô sắc, đó là Khổ-Tập loại trí, bởi vì duyên với Khổ-Tập của Hữu Đảnh. Hoặc là duyên với không hệ thuộc, đó là Diệt-Đạo Pháp-Loại trí, bởi vì duyên với Diệt của ba cõi và Đạo có thể đối trị. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 148 869 www.daitangkinh.org Hỏi: Mấy căn vĩnh viễn đoạn- diệt- khởi đạt được quả Dự lưu? Đáp: Không có căn vĩnh viễn đoa ïn, bảy căn diệt-khởi, một căn diệt không khởi, một căn khởi không diệt, đạt được quả Dự lưu. Bảy căn diệt-khởi, bảy căn đó là Ý- Xả và năm căn như Tín…, diệt đó là bảy căn này thuộc về đạo vô gián, khởi đó là bảy căn này thuộc về đạo giải thoát. Lại nữa, diệt đó là thuộc về đạo của Hướng, khởi đó là thuộc về đạo của Quả. Lại nữa, diệt đó là thuộc về phẩm Đạo loại trí nhẫn, khởi đó là thuộc về phẩm Đạo loại trí. Lại nữa, diệt đó là câu sinh của Vị tri đương tri căn, khởi đó là câu sinh của Dĩ tri căn. Lại nữa, diệt đó là thuộc về Kiến đạo, khởi đó là thuộc về Tu đạo. Kiến địa và Tu địa cũng như vậy. Một căn diệt không khởi, đó là Vị tri đương tri căn; một căn khởi không diệt, đó là Dĩ tri căn. Hỏi: Mấy căn vĩnh viễn đoạn- diệt- khởi đạt được quả Nhất lai? Đáp: Nếu tăng thêm lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì như chứng quả Dự lưu đã nói. Nếu từ quả Dự lưu dùng đạo thế tục chứng quả Nhất lai, thì không có căn vĩnh viễn đoạn, bảy căn diệt- khởi đạt được quả Nhất lai. Bảy căn diệt-khởi, bảy căn nói như trước; diệt đó là bảy căn này thuộc về đạo vô gián, khởi đó là bảy căn này thuộc về đạo giải thoát; và diệt đó là thuộc về đạo của Hướng, khởi đó là thuộc về đạo của Quả. Nếu từ quả Dự lưu dùng đạo vô lậu chứng quả Nhất lai, thì không có căn vĩnh viễn đoạn, tám căn diệt- khởi đạt được quả Nhất lai. Tám căn diệt-khởi, tám căn đó là bảy căn trước cọng thêm Dĩ tri căn, nghĩa về diệt-khởi nói như trước. Hỏi: Mấy căn vĩnh viễn đoạn- diệt- khởi đạt được quả Bất hoàn? Đáp: Nếu đã lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì không có căn vĩnh viễn đoạn, bảy ca ên diệt-khởi, một căn diệt không khởi, một căn khởi không diệt, đạt được quả Bất hoàn. Bảy căn diệt- khởi, bảy căn đó là Ý căn, Lạc-Hỷ-Xả căn tùy theo một căn, năm căn như Tín… Còn lại nói như trong phần đạt được quả Dự lưu. Nếu từ quả Nhất lai dùng đạo thế tục chứng quả Bất hoàn, không tiến vào Tĩnh lự, thì bốn căn vĩnh viễn đoạn, bảy căn diệt-khởi đạt được quả Bất hoàn. Bốn căn vĩnh vi ễn đoạn, đó là Nữ-Nam-Khổ-Ưu căn. Bảy căn diệt-khởi, bảy căn đó là Ý-Xả-năm căn như Tín…, nghĩa về 870 BỘ TỲ ĐÀM 5 diệt-khởi nói như từ quả Dự lưu đạt được quả Nhất lai. Nếu tiến vào Tĩnh lự, thì bốn căn vĩnh viễn đoạn, sáu căn diệt- khởi, một căn diệt không khởi, một căn khởi không diệt, đạt được quả Bất hoàn. Bốn căn vĩnh viễn đoạn nói như trước. Sáu căn diệt-khởi, sáu căn đó là Ý căn và năm căn như Tín…, nghĩa về diệt-khởi nói như trước. Một căn diệt không khởi, đó là Xả căn. Một căn khởi không diệt, đó là Hỷ căn. Nếu từ quả Nhất lai dùng đạo vô lậu chứng quả Bất hoàn, không tiến vào Tĩnh lự, thì bốn căn vĩnh viễn đoạn, tám căn diệt-khởi đạt được quả Bất hoàn. Tám căn đó là Ý-Xả -năm căn như Tín… và Dĩ tri căn. Còn lại nói như trước. Nếu tiến vào Tĩnh lự, thì bốn căn vĩnh viễn đoạn, bảy căn diệt- khởi, một căn diệt không khởi, một căn khởi không diệt, đạt được quả Bất hoàn. Bảy căn, tức là trước nói Ý căn-năm căn như Tín… và Dĩ tri căn. Còn lại nói như trong phần dùng đạo thế tục chứng quả Bất hoàn. Hỏi: Đạo giải thoát thứ chín lìa nhiễm cõi Dục, ai sẽ tiến vào Tĩnh lự, ai không tiến vào? Đáp: Lực của sở y mạnh mẽ thì tiến vào, lực của sở y yếu kém thì không tiến vào. Có người nói: Lực của sở y yếu kém thì tiến vào, bởi vì nuôi lớn sở y; lực của sở y mạnh mẽ thì không tiến vào, bởi vì không nuôi lớn sở y. Có người nói: Nhiều vui mừng thì tiến vào, nhiều chán ngán thì không tiến vào. Có người nói: Nhiều vui thích thì tiến vào, nhiều buồn khổ thì không tiến vào. Có người nói: Dùng Diệt trí-Đạo trí lìa nhiễm cõi Dục thì tiến vào, dùng Khổ trí-Tập trí lìa nhiễm cõi Dục thì không tiến vào. Có người nói: Dùng Vô tướng th uộc về Đạo và Vô nguyện lìa nhiễm cõi Dục thì tiến vào, dùng Không thuộc về Khổ-Tập và Vô nguyện lìa nhiễm cõi Dục thì không tiến vào. Có người nói: Chán ngán pháp của cõi Dục lìa nhiễm của cõi Dục thì tiến vào, chán ngán pháp của ba cõi lìa nhiễm của cõi Dục thì không tiến vào. Có người nói: Vì cầu Tĩnh lự mà lìa nhiễm thì tiến vào, vì cầu giải thoát mà lìa nhiễm thì không tiến vào. Có người nói: Lợi căn thì tiến vào, độn căn thì không tiến vào. Như lợi căn-độn căn, lực của nhân-lực của duyên, lực của phần SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 148 871 www.daitangkinh.org trong-lực của phần ngoài, lực Chánh tư duy bên trong-lực nghe Chánh pháp bên ngoài, nên biết cũng như vậy. Hỏi: Mấy căn vĩnh viễn đoạn- diệt- khởi đạt được quả A-la-hán? Đáp: Nếu dựa vào Vị chí chứng qua û A-la-hán, thì một căn vĩnh viễn đoạn, bảy căn vĩnh viễn đoạn- diệt- khởi, một căn diệt không khởi, một căn khởi không diệt, đạt được quả A-la-hán. Một căn vĩnh viễn đoạn, đó là Mạng căn. Bảy căn vĩnh viễn đoạn- diệt- khởi, bảy căn đó là Ý-Xả-năm căn như Tín…, vĩnh viễn đoạn đó là hữu lậu thâu nhiếp, diệt đó là đạo vô gián thâu nhiếp, khởi đó là đạo giải thoát thâu nhiếp. Lại nữa, vĩnh viễn đoạn đó là thế tục thâu nhiếp, diệt đó là đạo của Hướng thâu nhiếp, khởi đó là đạo của Quả thâu nhiếp. Lại nữa, vĩnh viễn đoạn đó là Phi học phi vô học thâu nhiếp, diệt đó là Học thâu nhiếp, khởi đó là Vô học thâu nhiếp. Lại nữa, vĩnh viễn đoạn đó là Hữu Đảnh thâu nhiếp, diệt đó là phẩm câu sinh của Định Kim cang dụ thâu nhiếp, khởi đó là phẩm câu sinh của Tận trí thâu nhiếp. Lại nữa, vĩnh viễn đoạn đó là do tu mà đoạn thâu nhiếp, diệt đó là Dĩ tri căn thâu nhiếp, khởi đó là Cụ tri căn thâu nhiếp. Lại nữa, vĩnh viễn đoạn đó là hệ t huộc cõi Vô sắc thâu nhiếp, diệt đó là địa Tu đạo thâu nhiếp, khởi đó là địa của đạo Vô học thâu nhiếp. Một căn diệt không khởi, đó là Dĩ tri căn; một căn khởi không diệt, đó là Cụ tri căn. Như dựa vào Vị chí, dựa vào Tĩnh lự trung gian-Tĩnh lự thứ tư và ba Vô sắc Định cũng như vậy. Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ nhất chứng quả A-la-hán, thì hai căn vĩnh viễn đoạn, sáu căn vĩnh viễn đoạn- di ệt- khởi, một căn diệt-khởi, một căn diệt không khởi, một căn khởi không di ệt, đạt được quả A-la-hán. Hai căn vĩnh viễn đoạn, đó là Mạng căn và Xả căn. Sáu căn vĩnh viễn đoạn- diệt- khởi, sáu căn đó là Ý ca ên và năm căn như Tín…Vĩnh viễn đoạn- diệt- khởi, nghĩa nói như trước. Một căn diệt-khởi, một căn đó là Hỷ căn, nghĩa về diệt-khởi nói như trước. Một căn diệt không khởi, đó là Dĩ tri căn. Một căn khởi không diệt, đó là Cụ tri căn. Như dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, dựa vào Tĩnh lự thứ hai-thứ ba cũng như vậy. Nhưng có sai biệt là dựa vào Tĩnh lự thứ ba, nên nói là Lạc căn khởi-diệt. 872 BỘ TỲ ĐÀM 5 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt