A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 147
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
五百大阿羅漢等造 三藏法師玄奘奉 詔譯 2 有納息1 根蘊第六中有納息第二之一 欲有相續最初得幾業所生根如是等章及 解章義。既領會已。當廣分別。然有聲目多 義。如前廣說。此中說續眾同分有情數五 蘊名有。相續有五。亦如前說。此中依二相 續作論。謂中有相續生有相續欲有相續最 初得幾業所生根。答卵生胎生濕生。得二。謂 身根命根。問最初羯邏藍位亦得餘色根不。 若得者。如何於少時頃便得爾所根耶。又 此中何故不說。毘奈耶說復云何通。如說。 於母腹中二根初得。謂身與命。若損害彼。 乃至廣說。若不得者。何故經說天眼觀知是 男是女。答有言亦得。問如何於少時頃便得 爾所根耶。答爾時雖無諸色根相而已具 得彼根種子。如清鹽水酥蜜沙糖酒等。和 合貯在一器。若以草端霑取一渧。於中具 有鹽等諸味。羯邏藍位應知亦爾。一切色根 種子皆具。問若爾。何故此中不說答應說而 不說者。當知此義有餘。有說。此中說皆得 者。餘得不定。是以不說。如生盲等不得眼 等。問毘奈耶說復云何通。答彼說能持諸餘 根者。謂身根能持諸餘色根。命根能持餘非 色根。是故偏說。有說。此位不得餘色根問 天眼云何觀知男女。答羯邏藍時雖無男 女根。而有男女相。由觀彼相得知男女。 所以者何。非彼已有男女二根可說觀故。 有餘師說。依經故知。經說。若胎是男。依母 右脇向背蹲坐。若胎是女。依母左脇向腹 蹲坐。得天眼者。觀此差別依經而說。或 有說者。觀中有知。謂天眼觀中有後位。若 是男子。入於母胎。知此羯邏藍是男非女。 若女入者。復知此位是女非男。如是說者。 羯邏藍位未得餘色根。鉢羅奢佉位中方 乃得故。化生得六或七或八。無形者六。謂眼 耳鼻舌身命根。一形者七。謂前六及男女根 隨一。二形者八謂前六及男女根。問餘無色 根爾時亦得。謂意五受信等五根。此中何故 不說。答此中應說而不說者。當知有餘有 說。爾時一切得者。此中則說。餘無色根。雖 有得者而非一切。是故不說。謂上地歿 生下地時。雖得彼根。若自地歿還生自 地。彼皆不得。是故不說。有說。此中但問初 得業所生者。初受生位餘無色根。雖有得 者而非業生。故此不說。後位所得雖業所 生。而非初得。故亦不說。色有相續最初得 幾業所生根。答六。謂眼耳鼻舌身命根。無色 有相續最初得幾業所生根。答一。謂命根。頗 思惟欲界繫法。遍知欲界耶。乃至廣說。此 中思惟者。是取所緣義。遍知者。是究竟斷 義。此文顯示緣彼彼界法離彼彼界染。或 不能離。 頗思惟欲界繫法。遍知欲界耶。答遍知此 通異生及聖者。通無間道及解脫道。若世俗 道離欲染時。九無間道緣欲界法離欲界 染。若無漏道苦集法智離欲染時。九無間道 九解脫道。緣欲界法離欲界染。頗思惟欲 界繫法。遍知色界耶。答不遍知。頗思惟欲 界繫法。遍知無色界耶。答不遍知。問何故 俱不遍知。答欲界是不定界。非修地非離 染地。色無色界是定界。是修地是離染地。非 緣不定界非修非離染地法。能離定界修 地離染地染。有說。欲界是麁界色無色界 是細界。非緣麁界法能離細界染。有說。欲 界是下界。色界是中界。無色界是妙界。非 緣下界法能離中妙界染。有說。欲界是劣 界。色無色界是勝界。非緣劣界法能離勝 界染。由此等義故不遍知。頗思惟色界繫 法。遍知色界耶。答遍知。此通異生及聖者。 通無間道及解脫道。若世俗道離色染時。 九無間道緣色界法離色界染。若無漏道苦 集類智。離色染時。九無間道九解脫道。緣 色界法離色界染。頗思惟色界繫法。遍知 欲界耶。答遍知。此通異生及聖者。唯解脫 道非無間道。謂世俗道離欲染時。九解脫 道緣色界法離欲界染。 頗思惟色界繫法。遍知無色界耶。答不遍 知。問何故不遍知。答色界是麁界無色界是 細界非緣麁界法能離細界染。有說。色界 是中界。無色界是妙界。非緣中界法能離 妙界染。有說。色界是劣界。無色界是勝界。 非緣劣界法能離勝界染。由此等義故不 遍知。 頗思惟無色界繫法。遍知無色界耶。答遍 知。此唯聖者非異生。通無間道及解脫道。 謂無漏道苦集類智離無色染時。九無間道 九解脫道。緣無色界法離無色界染。 頗思惟無色界繫法。遍知欲界耶。答不遍 知。問何故不遍知。答以極遠故。非觀極遠 界法能離極遠界染。 頗思惟無色界繫法。遍知色界耶。答遍知。 此通異生及聖者。唯解脫道非無間道。謂世 俗道離色染時。九解脫道緣無色界法離 色界染。 幾根遍知欲界。答世俗道七。無漏道八。世俗 道七者。謂意捨信等五根。無漏道八者。謂前 七及已知根。 幾根遍知色界。答世俗道七。無漏道十。世俗 道七者。謂意捨信等五根。無漏道十者。謂前 七及喜樂已知根。 幾根遍知無色界。答十一。謂前十及具知根。 已知根為無間道。具知根為解脫道。當知 此依最後位說。問離欲界染時最後解脫 道。容有根本初靜慮現前。彼以捨根為無 間道。喜根為解脫道。何故不依最後位說 世俗道或八。無漏道或九耶。答此文應作 是說。世俗道七或八。無漏道八或九。而不 說者。當知有餘。有說。此中說決定者。謂離 非想非非想處染時。定以具知根為最後 解脫道。離欲界染時。非定以喜根為最後 解脫道。有於爾時不能即入根本地故。然 於爾時多依近分故唯說捨。 遍知欲界時。遍知幾根。答四。謂女男苦憂 根。雖於爾時遍知十九。而依永斷無餘。無 分無片無影無隨縛斷。故作是說。或此中 說。上界不行不可得者。故唯說四。遍知色 界時遍知幾根。答五。謂眼耳鼻舌身根。雖 於爾時遍知十三。而依永斷無餘。無分無 片無影無隨縛斷。故作是說。或此中說。上 界不行不可得者。故唯說五。遍知無色界 時遍知幾根。答八。謂意命捨信等五根。由 此諸根離非想非非想處染時。皆永斷故 幾根得預流果。答九。謂意捨信等五未知當 知已。知根。未知當知根為無間道。已知根為 解脫道。幾根得一來果。答若倍離欲染入 正性離生者九。如預流說。若從預流果得 一來果者。世俗道七。無漏道八。七者。謂意 捨信等五根。八者。謂前七及已知根。幾根得 不還果。答若已離欲染入正性離生者九。 謂意根。樂喜捨根隨一。依地別故。信等五 未知當知已知根。未知當知根為無間道。已 知根為解脫道。若從一來果得不還果者。 世俗道七無漏道八。七及八如一來說。此依 多分。若入根本或八或九。幾根得阿羅漢 果。答十一。謂意樂喜捨信等五已知具知根。 已知根為無間道。具知根為解脫道。問此 說十一為以用故。為以有故。若以用者。 無有一時三受並用。如何說十一。若以有 者。得不還果亦有三受。何故不說。答此以 用故。不以有故。問無有一時三受並用。 云何說十一耶。答依一相續作用而說。故 無有過。謂容有一補特伽羅。先以樂根 得阿羅漢。退已用喜。復退用捨。或初退用 捨。後退用喜。如先以樂。如是先喜先捨隨 應亦爾。證不還果。無如是事。若以此根 先得彼果退已還用此根。而得此根者即 捨根。以喜樂得無退義故。 得預流果遍知幾根。答無。爾時未有一根 究竟斷故。得一來果遍知幾根。答無。爾時 亦未有根究竟斷故。得不還果遍知幾根。 答若已離欲染入正性離生者無義如前 說。若從一來果得不還果者四。謂女男苦 憂根。得阿羅漢果遍知幾根。答八。謂命意 捨信等五根。 諸根得預流果。此根得彼果已。當言成就。 當言不成就。答解脫道攝者。當言成就。無 間道攝者。當言不成就。道類智俱生品諸根。 是解脫道攝。此當言成就。已得故。道類智 忍俱生品諸根。是無間道攝。此當言不成 就。已捨故。諸根得一來果。此根得彼果已。 當言成就。當言不成就。答解脫道攝者。當 言成就。無間道攝者。當言不成就。道類智 或第六解脫道俱生品諸根。是解脫道攝。此 當言成就。已得故。道類智忍或第六無間道 俱生品諸根。是無間道攝。此當言不成就。 已捨故。諸根得不還果。此根得彼果已。當 言成就。當言不成就。答解脫道攝者。當 言成就。無間道攝者。當言不成就。道類智 或第九解脫道俱生品諸根。是解脫道攝。此 當言成就。已得故。道類智忍或第九無間道 俱生品諸根。是無間道攝。此當言不成就。 已捨故。問以無漏道得一來不還果時。可 言無間道攝者不成就。若以世俗道得二 果時。無間道不捨云何言不成就。答此二 果文。應作是說。解脫道攝者。當言成就。無 間道攝者。當言或成就或不成就。而不作 是說者。當知此中唯依不共勝道而說。有 言。此說現前成就。以世俗道得二果已。 無間道諸根定不現前故。諸根得阿羅漢 果。此根得彼果已。當言成就。當言不成 就。答解脫道攝者。當言成就。無間道攝者。 當言不成就。最初盡智俱生品諸根。是解脫 道攝。此當言成就。已得故。金剛喻定俱生 品諸根是無間道攝。此當言不成就。已捨故。 諸根得預流果。此根斷何界結。答色無色 界。或無斷。色無色界者。謂道類智忍俱生品 諸根。或無者。謂道類智俱生品諸根。以解脫 道非斷對治故。此根何果攝。答預流果。或 無預流果攝者。謂道類智俱生品諸根。或無 者。謂道類智忍俱生品諸根。諸根得一來果 此根斷何界結。答欲界或色無色界或無斷。 欲界或無者。謂從預流果得一來果時。第 六無間道俱生品諸根斷欲界結。第六解脫道 俱生品諸根不斷結。斷色無色界或無者。謂 倍離欲染入正性離生得一來果時。道類 智忍俱生品諸根。斷色無色界結。道類智俱 生品諸根不斷結。此根何果攝。答一來果或 無。一來果攝者。謂第六解脫道。及道類智俱 生品諸根。或無者謂第六無間道。及道類智 忍俱生品諸根。諸根得不還果。此根斷何界 結。答欲界或色無色界或無斷。欲界或無者。 謂從一來果得不還果時。第九無間道俱 生品諸根斷欲界結。第九解脫道俱生品諸 根不斷結。斷色無色界或無者。謂已離欲染 入正性離生得不還果時。道類智忍俱生 品諸根斷色無色界結。道類智俱生品諸根 不斷結。此根何果攝。答不還果。或無。不還果 攝者。謂第九解脫道。及道類智俱生品諸根。 或無者。謂第九無間道。及道類智忍俱生品 諸根。諸根得阿羅漢果。此根斷何界結。答 無色界。或無。斷無色界者。謂金剛喻定俱生 品諸根。或無者。謂初盡智俱生品諸根。此根 何果攝。答阿羅漢果。或無。阿羅漢果攝者。謂 初盡智俱生品諸根。或無者。謂金剛喻定俱 生品諸根。 得預流果時所捨諸根。此根斷何界結。答 欲界或色無色界。或無。得預流果時見道所 攝。已得諸根名為所捨。此根或斷欲界。謂 四法智忍俱生品諸根。或斷色無色界。謂四 類智忍俱生品諸根。或無。謂七智俱生品諸 根此根何果攝。答無。以無預流下果攝此 諸根故。得一來果時所捨諸根。此根斷何 界結。答欲界或色無色界。或無。若倍離欲 染入正性離生得一來果時。見道所攝已 得諸根名為所捨。此根或斷欲界。謂四法 智忍俱生品諸根。或斷色無色界。謂四類智 忍俱生品諸根。或無。謂七智俱生品諸根。若 從預流果得一來果時。預流果及此勝果 道所攝諸根名為所捨。此根或斷欲界。謂六 無間道所攝諸根。或無。謂預流果及此勝果 道中諸加行道。解脫道勝進道所攝諸根。此 根何果攝。答預流果。或無。預流果攝者。謂道 類智俱生品所捨諸根。或無者。謂此勝果道。 及見道所攝所捨諸根。得不還果時所捨諸 根。此根斷何界結。答欲界或色無色界。或 無。若已離欲染入正性離生得不還果時。 見道所攝已得諸根名為所捨。此根或斷 色無色界謂四類智忍俱生品諸根。或無。謂 四法智忍。及七智俱生品諸根。若從一來果 得不還果時。一來果及此勝果道所攝諸根 名為所捨。此根或斷欲界。謂三無間道所 攝諸根。或無。謂一來果及此勝果道中諸加 行道。解脫道勝進道所攝諸根。此根何果攝。 答一來果。或無。一來果攝者。謂道類智俱生 品。及第六解脫道所攝所捨諸根。或無者。謂 此勝果道。及見道所攝所捨諸根。 得阿羅漢果時所捨諸根。此根斷何界結。 答色界或無色界。或無。得阿羅漢果時。不 還果及此勝果道所攝諸根名為所捨。此根 或斷色界。謂離四靜慮染各有九無間道 所攝諸根。或斷無色界。謂離四無色染。各 有九無間道所攝諸根。或無。謂不還果及此 勝果道中諸加行道。解脫道勝進道所攝諸 根。 此根何果攝。答不還果。或無。不還果攝者。謂 道類智俱生品。及第九解脫道所攝所捨諸 根。或無者。謂此勝果道所攝所捨諸根 得預流果時所得諸根。此根斷何界結。答 無。謂得預流果時所得諸根。皆是解脫道類 所攝。唯無間道攝能斷煩惱故。此根何果 攝。答預流果。或無。預流果攝者。謂道類智俱 生品所得諸根。或無者。謂爾時所得世俗諸 根。問爾時所得諸根皆是無漏預流果攝。復 有何世俗根是今所得而言或無。答此文但 應說預流果。不應言或無。而說或無者。 欲顯爾時所得命等八根。是無始時來所未 曾得。以是初得聖果依故。 得一來果時所得諸根。此根斷何界結。答 無。義如前說。 此根何果攝。答一來果。或無。一來果攝者。謂 道類智俱生品。及第六解脫道所攝所得諸 根。或無者。謂爾時所得世俗諸根。 得不還果時所得諸根。此根斷何界結。答 無。義如前說。 此根何果攝。答不還果。或無。不還果攝者。謂 道類智俱生品。及第九解脫道所攝所得諸 根。或無者。謂爾時所得世俗諸根。得阿羅漢 果時所得諸根。此根斷何界結。答無。義如 前說。此根何果攝。答阿羅漢果。或無。阿羅漢 果攝者。謂初盡智俱生品所得諸根。或無者。 謂爾時所得世俗諸根。 諸預流者所成就根。此根斷何界結。答欲 界。或無。斷欲界者。謂六無間道所攝諸根。 或無者。謂預流果及此勝果道中諸加行道。 解脫道勝進道所攝等諸根。此根何果攝。答 預流果。或無。預流果攝者。謂道類智俱生品 所成就諸根。或無者。謂諸預流者所成就 勝果道所攝諸根。及所成就餘善有漏染污 無覆無記諸根。 諸一來者所成就根。此根斷何界結。答欲 界。或無。斷欲界者。謂三無間道所攝諸根。 或無者。謂一來果及此勝果道中諸加行道。 解脫道勝進道所攝等諸根。 此根何果攝。答一來果。或無。一來果攝者。謂 道類智俱生品。及第六解脫道所攝所成就 諸根。或無者。謂一來者所成就勝果道所攝 諸根。及所成就餘善有漏染污無覆無記諸 根。 諸不還者所成就根。此根斷何界結。答色 界或無色界。或無。斷色界者。謂離四靜慮 染。各有九無間道所攝諸根。斷無色界者。 謂離四無色染。各有九無間道所攝諸根。或 無者。謂不還果及此勝果道中諸加行道。解 脫道勝進道所攝等諸根。 此根何果攝。答不還果。或無。不還果攝者。謂 道類智忍俱生品。及第九解脫道所攝所成 就諸根。或無者。謂不還者所成就勝果道 所攝諸根。及所成就餘善有漏染污無覆無 記諸根。 諸阿羅漢所成就根。此根斷何界結。答無。 以阿羅漢諸結已盡無可斷故。此根何果 攝。答阿羅漢果。或無。阿羅漢果攝者。謂阿羅 漢所成就無漏諸根。或無者。謂阿羅漢所 成就善有漏無覆無記諸根。 諸預流者斷結諸根。此根斷何界結。答欲界。 謂欲界修所斷前六品結。此根何果攝。答無。 謂無間道能斷諸結。沙門果所攝諸根必是 解脫道故。諸一來者斷結諸根。此根斷何界 結。答欲界。謂欲界修所斷後三品結。此根何 果攝。答無。所以如前。 諸不還者斷結諸根。此根斷何界結。答色界 或無色界。色界者。謂四靜慮修所斷各九品 結。無色界者。謂四無色修所斷各九品結。此 根何果攝。答無。所以如前諸阿羅漢諸結已 盡。無斷結根故。不問答。 諸預流果所攝諸根。此根斷何界結。答無。 以沙門果所攝諸根是解脫道。唯無間道能 斷結故。諸一來果不還果阿羅漢果所攝諸 根。此根斷何界結。答無。所以如前。阿羅漢 果又無結可斷故。 諸苦智是於苦無漏智耶。乃至廣說。問何故 作此論。答欲令疑者得決定故。謂苦智集 智行相無雜。所緣有雜。滅智道智行相無雜。 所緣無雜。或有生疑。如苦集智行相無雜 所緣有雜。滅道智亦如是耶。如滅道智行相 無雜所緣無雜。苦集智亦如是耶。為令此 疑得決定故。顯苦集智所緣有雜滅道智所 緣無雜故作斯論。問何故苦智集智行相無 雜。所緣有雜。答離苦無集離集無苦故。謂 一一有漏事。果義名苦因義名集。即於一 一有漏事中。若智作苦等四行相轉名苦 智。若智作集等四行相轉名集智。故苦集智 行相無雜。所緣有雜。滅智道智行相所緣二 俱無雜。滅等道等行相異故。有為無為所緣 別故。 諸苦智是於苦無漏智耶。設於苦無漏智是 苦智耶。答諸苦智是於苦無漏智。由無漏智 於苦事中。作非常苦空非我四行相轉。名 苦智故。有於苦無漏智非苦智。謂於苦知 集智。由無漏智於苦事中。作因集生緣四 行相轉。名集智故。前已說離苦無集。故集 智所緣亦名為苦。 諸集智是於集無漏智耶。設於集無漏智是 集智耶。答諸集智是於集無漏智。由無漏智 於集事中。作因集生緣四行相轉。名集智 故。有於集無漏智非集智。謂於集知苦智。 由無漏智於集事中。作非常苦空非我四行 相轉。名苦智故。前已說離集無苦。故苦智 所緣亦名為集。 諸滅智是於滅無漏智耶。答如是設於滅無 漏智是滅智耶。答如是諸道智。是於道無漏 智耶。答如是。設於道無漏智是道智耶。答 如是。由前已說滅智道智行相所緣俱無 雜故。若無漏智緣擇滅。作滅靜妙離四行 相轉。名滅智。若無漏智緣聖道。作道如行 出四行相轉。名道智故。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 147 841 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 147 CHƯƠNG VI: CĂN UẨN (Tiếp Theo) Phẩm Thứ Hai: LUẬN VỀ HỮU LUẬN VỀ HỮU (Phần 1) Dục hữu (nghiệp nhân và quả báo của cõi dục) nối tiếp nhau, lúc ban đầu đạt được mấy căn do nghiệp mà sinh ra? Những chương như vậy và giải thích về nghĩa từng c hương đã lĩnh hội rồi, tiếp theo nên phân biệt rộng ra. Nhưng thanh âm của Hữu có nhiều nghĩa, như trước nói rộng, trong này nói đến năm Uẩn nối tiếp Chúng đồng phần thuộc số hữu tình gọi là Hữu. Nối tiếp nhau có năm loại, cũng như trước đã nói, trong này dựa vào hai loại nối tiếp nhau mà soạn luận, đó là Trung hữu nối tiếp nhau và Sinh hữu nối tiếp nhau. Hỏi: Dục hữu nối tiếp nhau, lúc ban đầu đạt được mấy căn do nghiệp mà sinh ra? Đáp: Noãn sinh-Thai sinh-Thấp sinh đạt được hai loại, đó là Thân căn và Mạng căn. Hỏi: Lúc ban đầu phần vị Yết-la-lam cũng đạt được Sắc căn khác hay không? Nếu đạt được thì làm sao ở trong khoảng thời gian ít ỏi mà đạt được bấy nhiêu căn? Vả lại, trong này vì sao không nói? Trong Tỳ- nại-da nói lại hiểu thế nào? Như nói: “ Ở trong bụng mẹ đầu tiên đạt được hai căn, đó là Thân và Mạng…” Nếu không đạt được thì tại sao kinh nói Thiên nhãn nhìn biết là nam-là nữ? Đáp: Có người nói cũng đạt được. Hỏi: Làm sao ở trong khoảng thời gian ít ỏi mà đạt được bấy nhiêu căn? Đáp: Lúc bấy giờ tuy không có t ướng của các Sa éc căn mà đã đạt được đầy đủ chủng tử của căn ấy. Như muối-đường-sữa-mật-rượu- 842 BỘ TỲ ĐÀM 5 nước…, hòa lẫn với nhau rót vào một chiếc bình, nếu dùng ngọn cỏ chấm lấy một giọt, thì ở trong đó có đủ các vị của muối…, phần vị Yết-la-lam nên biết cũng như vậy, đều có đủ tất cả chủng tử của Sắc căn. Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao trong này không nói? Đáp: Cần phải nói mà không nói đến, thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Trong này nói đến những loại đều đạt được, đạt được những loại khác thì không nhấ t định, vì vậy không nói đến. Như những người mù…không có được đôi mắt… Hỏi: Trong Tỳ-nại-da nói lại hiểu thế nào? Đáp: Đó là nói đến căn có thể duy trì các căn khác, nghĩa là Thân căn có thể duy trì những Sắc căn khác, Mạng căn có thể duy trì những căn Phi sắc khác, vì vậy chỉ nói đến loại ấy. Có người nói: Phần vị này không đạt được những Sắc căn khác. Hỏi: Vì sao Thiên nhãn nhìn biết là nam-nữ? Đáp: Lúc ở phần vị Yết-la- lam tuy không có Nam căn-Nữ căn, mà có tướng của nam-nữ, bởi vì nhìn tướng ấy mà biết được nam-nữ. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì không phải là lúc ấy đã có Nam căn-Nữ căn mà có thể nói là nhìn. Có Sư khác nói: Dựa vào kinh cho nên biết. Trong kinh nói: “Nếu thai là nam, thì dựa bên hông phải của mẹ, ngồi xổm hướng về phía lưng. Nếu thai là nữ, thì dựa bên hông trái của mẹ, ngồi xổm hướng về phía bụng.” Người đạt được Thiên nhãn, nhìn sự sai biệt này dựa vào kinh mà nói. Hoặc có người nói: Nhìn Trung hữu mà biết, nghĩa là Thiên nhãn nhìn phần vị sau Trung hữu, nếu là người nam tiến vào thai mẹ, thì biết Yết-la-lam này là na m chứ không phải là nữ; nếu là người nữ, thì lại biết phần vị này là nữ chứ không phải là nam. Nói như vậy thì phần vị Yết-la-lam chưa đạt được những Sắc căn khác, bởi vì trong phần vị Bát-la-xa-khư thì mới đạt được. Hóa sinh đạt được sáu loại, hoặc là bảy loại, hoặc là tám loại. Không có hình thể là sáu loại, đó là Nhãn-Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân và Mạng căn. Một hình thể là bảy loại, đó là sáu loại trước và Nam căn-Nữ căn tùy theo một loại. Hai hình thể là tám loại, đó là sáu loại trước và Nam căn-Nữ căn. Hỏi: Những căn không có sắc, lúc bấy giờ cũng đạt được, đó là Ý căn-năm Thọ và năm căn như Tín…, vì sao trong này không nói? Đáp: Trong này cần phải nói mà không nói đến, thì nên biết là có SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 147 843 www.daitangkinh.org khác. Có người nói: Lúc bấy giờ tất cả đều đạt được thì trong này nói đến, những căn không có sắc, tuy có đạt được mà không phải là tất cả, vì vậy không nói. Nghĩa là lúc ở địa trên chết đi sinh vào địa dưới, tuy đạt được căn ấy, nhưng nếu ở địa mình chết đi sinh trở lại địa mình, thì căn ấy đều không đạt được, vì vậy không nói. Có người nói: Trong này chỉ hỏi về căn đạt được đầu tiên do nghiệp mà sinh ra, phần vị mới thọ sinh thì những căn không có sắc, tuy có đạt được mà không phải là nghiệp sinh ra, cho nên ở đây không nói. Phần vị sau đã đạt được , tuy do nghiệp mà sinh ra nhưng không phải là đạt được đầu tiên, cho nên cũng không nói. Hỏi: Sắc hữu (nghiệp nhân và quả báo của cõi sắc) nối tiếp nhau, lúc ban đầu đạt được mấy căn do nghiệp mà sinh ra? Đáp: Sáu loại, đó là Nhãn-Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân và Mạng căn. Hỏi: Vô sắc hữu (nghiệp nhân và quả báo của cõi vô sắc) nối tiếp nhau, lúc ban đầu đạt được mấy căn do nghiệp mà sinh ra? Đáp: Một loại, đó là Mạng căn. Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Dục thì biết khắp cõi Dục chăng? Cho đến nói rộng ra. Trong này, tư duy là chọn lấy nghĩa của Sở duyên, biết khắp là nghĩa của Đoạn cứu cánh. Văn này biểu hiện rõ ràng về duyên với pháp của những cõi ấy, lìa nhiễm của những cõi ấy, hoặc là không có thể lìa được. Hỏi: Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Dục thì biết khắp (biến tri) cõi Dục chăng? Đáp: Biết khắp. Pháp này bao gồm dị sinh và Thánh giả, bao gồm đạo vô gián và đạo giải thoát. Nếu lúc đạo thế tục lìa nhiễm cõi Dục, thì chín đạo vô gia ùn duyên với pháp của cõi Dục lìa nhiễm của cõi Dục. Nếu lúc đạo vô lậu, Khổ-Tập pháp trí lìa nhiễm cõi Dục, thì chín đạo vô gián-chín đạo giải thoát duyên với pháp của cõi Dục lìa nhiễm của cõi Dục. Hỏi: Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Dục thì biết khắp cõi Sắc chăng? Đáp: Không biết khắp. Hỏi: Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Dục thì biết khắp cõi Vô sắc chăng? Đáp: Không biết khắp. Hỏi: Vì sao đều không biết khắp? Đáp: Bởi vì cõi Dục là cõi không thể Định, không phải là địa của tu, không phải là địa của lìa nhiễm; c õi Sắc-Vô sắc là cõi của Định, 844 BỘ TỲ ĐÀM 5 là địa của tu, là địa của lìa nhiễm. Không phải là duyên với pháp của cõi không thể Định-không phải là địa của tu-không phải là địa của lìa nhiễm, mà có thể lìa nhiễm của cõi Định-địa của tu- địa của lìa nhiễm. Có người nói: Cõi Dục là cõi thô, cõi Sắc-Vô sắc là cõi tế, không phải là duyên với pháp của cõi thô mà có thể lìa nhiễm của cõi tế. Có người nói: Cõi Dục là cõi thấp kém, cõi Sắc là cõi trung bình, cõi Vô sắc là cõi tuyệt vời, không phải là duyên với pháp của cõi thấp kém mà có thể lìa nhiễm của cõi trung bình và tuyệt vời. Có người nói: Cõi Dục là cõi t hua kém, cõi Sắc-Vô sắc là cõi hơn hẳn, không phải là duyên với pháp của cõi thua kém mà có thể lìa nhiễm của cõi hơn hẳn. Bởi vì những nghĩa lý như vậy, cho nên không biết khắp. Hỏi: Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Sắc thì biết khắp cõi Sắc chăng? Đáp: Biết khắp. Pháp này bao gồm dị sinh và Thánh giả, bao gồm đạo vô gián và đạo giải thoát. Nếu l úc đạo thế tục lìa nhiễm cõi Sắc, thì chín đạo vô gián duyên với pháp của cõi Sắc lìa nhiễm của cõi Sắc. Nếu lúc đạo vô lậu, Khổ-Tập loại trí lìa nhiễm cõi Sắc, thì chín đạo vô gián-chín đạo giải thoát duyên với pháp của cõi Sắc lìa nhiễm của cõi Sắc. Hỏi: Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Sắc thì biết khắp cõi Dục chăng? Đáp: Biết khắp. Pháp này bao gồm dị sinh và Thánh giả, chỉ riêng đạo giải thoát chứ không phải là đạo vô gián, nghĩa là lúc đạo thế tục lìa nhiễm cõi Dục, thì ch ín đạo giải thoát duyên với pháp của cõi Sắc lìa nhiễm của cõi Dục. Hỏi: Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Sắc thì biết khắp cõi Vô sắc chăng? Đáp: Không biết khắp. Hỏi: Vì sao không biết khắp? Đáp: Bởi vì cõi Sắc là cõi thô, cõi Vô sắc là cõi tế, không phải là duyên với pháp của cõi thô mà có thể lìa nhiễm của cõi tế. Có người nói: Cõi Sắc là cõi tr ung bình, cõi Vô sắc là cõi tuyệt vời, không phải là duyên với pháp của cõi trung bình mà có thể lìa nhiễm của cõi tuyệt vời. Có người nói: Cõi Sắc là cõi thua kém, cõi Vô sắc là cõi hơn hẳn, không phải là duyên với pháp của cõi thua kém mà có thể lìa nhiễm của cõi hơn hẳn. Bởi vì những nghĩa lý như vậy, cho nên không biết khắp. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 147 845 www.daitangkinh.org Hỏi: Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Vô sắc thì biết khắp cõi Vô sắc chăng? Đáp: Biết khắp. Pháp này chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dị sinh, bao gồm đạo vô gián và đạo giải thoát, nghĩa là lúc đạo vô lậu, Khổ-Tập loại trí lìa nhiễm của cõi Vô sắc, thì chín đạo vô gián-chín đạo giải thoát duyên với pháp của cõi Vô sắc lìa nhiễm của cõi Vô sắc. Hỏi: Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Vô sắc thì biết khắp cõi Dục chăng? Đáp: Không biết khắp. Hỏi: Vì sao không biết khắp? Đáp: Bởi vì rất xa, không phải là quán xét về pháp của cõi rất xa mà có thể lìa nhiễm của cõi rất xa. Hỏi: Có thể tư duy về pháp hệ thuộc cõi Vô sắc thì biết khắp cõi Sắc chăng? Đáp: Biết khắp. Pháp này bao gồm dị sinh và Thánh giả, chỉ riêng đạo giải thoát chứ không phải là đạo vô gián, nghĩa là lúc đạo thế tục lìa nhiễm cõi Sắc, thì chín đạo giải thoát duyên với pháp của cõi Vô sắc lìa nhiễm của cõi Sắc. Hỏi: Mấy căn biết khắp cõi Dục? Đáp: Đạo thế tục có bảy, đạo vô lậu có tám. Đạo thế tục có bảy, đó là Ý căn-Xả căn và năm căn như Tín… Đạo vô lậu có tám, đó là bảy căn trước và Dĩ tri căn. Hỏi: Mấy căn biết khắp cõi Sắc? Đáp: Đạo thế tục có bảy, đạo vô lậu có mười. Đạo thế tục có bảy, đó là Ý căn-Xả căn và năm căn như Tín… Đạo vô lậu có mười, đó là bảy căn trước và Hỷ căn-Lạc căn-Dĩ tri căn. Hỏi: Mấy căn biết khắp cõi Vô sắc? Đáp: Mười một căn, đó là mười căn trước và Cụ tri căn. Dĩ tri căn làm đạo vô gián, Cụ tri căn làm đạo giải thoát. Nên biết là ở đây dựa vào phần vị cuối cùng mà nói. Hỏi: Lúc lìa nhiễm của cõi Dục thì đạo giải thoát cuối cùng, có thể có Tĩnh lự thứ nhất Căn bản hiện rõ trước mắt, lúc ấy dùng Xả căn làm đạo vô gián, Hỷ căn làm đạo giải thoát, vì sao không dựa vào phần vị cuối cùng để nói đạo thế tục có lẽ là tám, đạo vô lậu có lẽ là chín? Đáp: Văn này nên đưa ra cách nói này: Đạo thế tục có bảy hoặc là tám, đạo vô lậu có tám hoặc là chín. Nhưng mà không nói thì nên biết là có khác. Có người nói: Trong này nói đến quyết định, nghĩa là lúc lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhất định dùng Cụ tri căn làm đạo giải 846 BỘ TỲ ĐÀM 5 thoát cuối cùng; lúc lìa nhiễm của cõi Dục, không phải là nhất định dùng Hỷ căn làm đạo giải thoát cuối cùng, bởi vì có người ở lúc bấy giờ không có thể lập tức tiến vào địa Căn bản, nhưng ở lúc bấy giờ phần nhiều dựa vào Cận phần, cho nên chỉ nói đến Xả căn. Hỏi: Lúc biết khắp cõi Dục thì biết khắp mấy căn? Đáp: Bốn căn, đó là Nữ-Nam-Khổ va ø Ưu căn. Tuy ở lúc bấy giờ biết khắp mười chín căn, mà dựa vào vĩnh viễn đoạn không còn sót lại gì, đoạn không có phần vị-không có phạm vi-không có hình bóng-không có tùy theo ràng buộc, cho nên đưa ra cách nói này. Hoặc là trong này nói: Pháp của cõi trên không hiện hành-không có thể đạt được, cho nên chỉ nói là bốn. Hỏi: Lúc biết khắp cõi Sắc thì biết khắp mấy căn? Đáp: Năm căn, đó là Nhãn-Nhĩ-Tỷ -Thiệt và Thân căn. Tuy ở lúc bấy giờ biết khắp mười ba căn, mà dựa vào vĩnh viễn đoạn không còn sót lại gì, đoạn không có phần vị-không có phạm vi-không có hình bóng-không có tùy theo ràng buộc, cho nên đưa ra cách nói này. Hoặc là trong này nói: Pháp của cõi trên không hiện hành-không có thể đạt được, cho nên chỉ nói là năm. Hỏi: Lúc biết khắp cõi Vô sắc thì biêt khắp mấy căn? Đáp: Tám căn, đó là Ý-Mạng-Xả và năm căn như Tín…, bởi vì các căn này vào lúc lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì đều vĩnh viễn đoạn. Hỏi: Mấy căn đạt được quả Dự lưu? Đáp: Chín căn, đó là Ý căn-Xa û căn, năm căn như Tín…, Vị tri đương tri căn và Dĩ tri căn. Vị tri đư ơng tri căn làm đạo vô gián, Dĩ tri căn làm đạo giải thoát. Hỏi: Mấy căn đạt được quả Nhất lai? Đáp: Nếu tăng thêm lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh thì chín căn, nói như Dự lưu. Nếu từ quả Dự lưu đạt được quả Nhất lai, thì đạo thế tục có bảy căn, đạo vô lậu có tám căn. Bảy căn, đó là Ý căn-Xả căn và năm căn như Tín... Tám căn, đó là bảy căn trước và Dĩ tri căn. Hỏi: Mấy căn đạt được quả Bất hoàn? Đáp: Nếu đã lìa nhiễm cõi Dục , tiến vào Chánh tánh ly sinh thì chín căn, đó là Ý căn, Lạc-Hỷ-Xả căn tùy theo một căn, bởi vì dựa vào địa riêng biệt, năm căn như Tín…, Vị tr i đương tri căn và Dĩ tri căn. Vị tri đương căn làm đạo vô gián, Dĩ tri căn làm đạo giải thoát. Nếu từ quả Nhất lai đạt được quả Bất hoàn, thì đạo thế tục có bảy căn, đạo vô lậu SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 147 847 www.daitangkinh.org có tám căn. Bảy căn và tám căn, nói như Nhất lai, đây là dựa vào phần nhiều. Nếu tiến vào Căn bản thì hoặc là tám, hoặc là chín. Hỏi: Mấy căn đạt được quả A-la-hán? Đáp: Mười một căn, đó là Ý căn -Lạc căn-Hỷ căn-Xả căn, năm căn như Tín…, Dĩ tri căn và Cụ tri căn. Dĩ tri căn làm đạo vô gián, Cụ tri căn làm đạo giải thoát. Hỏi: Ở đây nói mười một căn, là bởi vì sử dụng, hay là bởi vì có? Nếu bởi vì sử dụng, thì không có trong một lúc mà ba Thọ cùng sử dụng, làm sao nói là mười một căn? Nếu bởi vì có, thì đạt được quả Bất hoàn cũng có ba Thọ, vì sao không nói? Đáp: Đây là bởi vì sử dụng, không bởi vì có. Hỏi: Không có trong một lúc mà ba Thọ cùng sử dụng, vì sao nói là mười một căn? Đáp: Dựa vào tác dụng của một sự nối tiếp nhau mà nói, cho nên không có sai lầm, nghĩa là có thể có một Bổ-đặc-già-la, trước nhờ vào Lạc căn mà đạt được quả A-la-hán, lui sụt rồi sử dụng Hỷ căn, tiếp tục lui sụt thì sử dụng Xả căn. Hoặc là ba n đầu lui sụt thì sử dụng Xả căn, về sau lui sụt thì sử dụng Hỷ căn. Như trước nhờ vào Lạc căn, như vậy trước là Hỷ căn-trước là Xả căn tùy theo thích hợp cũng như vậy. Chứng quả Bất hoàn thì không có sự việc như vậy. Nếu dùng căn này trước đó đạt được quả ấy, lui sụt rồi trở lại sử dụng căn này, mà đạt được căn này thì chính là Xả căn, bởi vì Hỷ căn-Lạc căn đạt được không có nghĩa lui sụt. Hỏi: Đạt được quả Dự lưu biết khắp mấy căn? Đáp: Không có, bởi vì lúc bấy giờ chưa có một căn nào đoạn đến cuối cùng. Hỏi: Đạt được quả Nhất lai biết khắp mấy căn? Đáp: Không có, bởi vì lúc bấy giờ cũng chưa có căn nào đoạn đến cuối cùng. Hỏi: Đạt được quả Bất hoàn biết khắp mấy căn? Đáp: Nếu đã lìa nhiễm cõi Du ïc, tiến vào Chánh tánh ly sinh thì không có, nghĩa nói như trước. Nếu từ qua û Nhất lai đạt được quả Bất hoàn thì có bốn căn, đó là Nữ-Nam-Khổ và Ưu căn. Hỏi: Đạt được quả A-la-hán biết khắp mấy căn? Đáp: Tám căn, đó là Mạng-Ý-Xả và năm căn như Tín… Hỏi: Các căn đạt được quả Dự l ưu, căn này đạt được quả ấy rồi, nên nói là thành tựu, hay nên nói là không thành tựu? Đáp: Đạo giải thoát thâu nhiếp thì nên nói là thành tựu, đạo vô 848 BỘ TỲ ĐÀM 5 gián thâu nhiếp thì nên nói là không thành tựu. Các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí, là đạo giải thoát thâu nhiếp, căn này nên nói là thành tựu, bởi vì đã đạt được. Các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí nhẫn, là đạo vô gián thâu nhiếp, căn này nên nói là không thành tựu, bởi vì đã rời bỏ. Hỏi: Các căn đạt được quả Nhất lai, căn này đạt được quả ấy rồi, nên nói là thành tựu, hay nên nói là không thành tựu? Đáp: Đạo giải thoát thâu nhiếp thì nên nói là thành tựu, đạo vô gián thâu nhiếp thì nên nói là không thành tựu. Các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí hoặc là đạo giả i thoát thứ sáu, là đạo giải thoát thâu nhiếp, căn này nên nói là thành t ựu, bởi vì đã đạt được. Các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí nhẫn hoặc là đạo vô gián thứ sáu, là đạo vô gián thâu nhiếp, căn này nên nói là không thành tựu, bởi vì đã rời bỏ. Hỏi: Các căn đạt được quả Bất hoàn, căn này đạt được quả ấy rồi, nên nói là thành tựu, hay nên nói là không thành tựu? Đáp: Đạo giải thoát thâu nhiếp thì nên nói là thành tựu, đạo vô gián thâu nhiếp thì nên nói là không thành tựu. Các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí hoặc là đạo giả i thoát thứ chín, là đạo giải thoát thâu nhiếp, căn này nên nói là thành t ựu, bởi vì đã đạt được. Các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí nhẫn hoặc là đạo vô gián thứ chín, là đạo vô gián thâu nhiếp, căn này nên nói là không thành tựu, bởi vì đã rời bỏ. Hỏi: Dùng đạo vô lậu lúc đạt được quả Nhất lai-Bất hoàn, có thể nói là đạo vô gián thâu nhiếp thì không thành tựu; nếu dùng đạo thế tục lúc đạt được hai quả, đạo vô gián không rời bỏ thì tại sao nói là không thành tựu? Đáp: Văn về hai quả này, nên đưa ra cách nói này: Đạo giải thoát thâu nhiếp thì nên nói là thành tựu, đạo vô gián thâu nhiếp thì nên nói là hoặc thành tựu- hoặc không thành tựu. Nhưng mà không đưa ra cách nói này, thì nên biết trong này ch ỉ dựa vào đạo thù thắng không giống nhau mà nói. Có người nói: Đây là nói về thành tựu hiện rõ trước mắt, bởi vì đạo thế tục đạt được hai quả rồi, ca ùc căn thuộc đạo vô gián chắc chắn không hiện rõ trước mắt. Hỏi: Các căn đạt được quả A-la-hán, căn này đạt được quả ấy rồi, nên nói là thành tựu, hay nên nói là không thành tựu? Đáp: Đạo giải thoát thâu nhiếp thì nên nói là thành tựu, đạo vô SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 147 849 www.daitangkinh.org gián thâu nhiếp thì nên nói là không thành tựu. Các căn thuộc phẩm câu sinh của Tận trí lúc đầu, là đạo giải thoát thâu nhiếp, căn này nên nói là thành tựu, bởi vì đã đạt được. Các căn thuộc phẩm câu sinh của Định Kim cang dụ, là đạo vô gián thâu nhiếp, căn này nên nói là không thành tựu, bởi vì đã rời bỏ. Hỏi: Các căn đạt được quả Dự lưu, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Sắc-Vô sắc, hoặc là không đoạn. Đoạn cõi Sắc-Vô sắc, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí nhẫn. Hoặc là không đoạn, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí, bởi vì đạo giải thoát không phải là đối trị của đoạn. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Dự lưu, hoặc là không có. Quả Dự lưu thâu nhiếp, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí. Hoặc là không có, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí nhẫn. Hỏi: Các căn đạt được quả Nhất lai, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Dục, hoặc là cõi Sắc-Vô sắc, hoặc là không đoạn. Đoạn cõi Dục- hoặc la ø không đoạn, đó là lúc từ quả Dự lưu đạt được quả Nhất lai, các căn thuộc phẩm câu sinh của đạo vô gián thứ sáu đoạn kiết của cõi Dục, các căn thuộc pha åm câu sinh của đạo giải thoát thứ sáu thì không đoạn kiết. Đoạn cõi Sắc-Vô sắc hoặc là không đoạn, đó là tăng thêm lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh, lúc đạt được quả Nhất lai, các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí nhẫn, đoạn kiết của cõi Sắc-Vô sắc; các ca ên thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí thì không đoạn kiết. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Nhất lai, hoặc là không có. Quả Nhất lai thâu nhiếp, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của đạo giải thoát thứ sáu và Đạo loại trí. Hoặc là không có, đó là các ca ên thuộc phẩm câu sinh của đạo vô gián thứ sáu và Đạo loại trí nhẫn. Hỏi: Các căn đạt được quả Bất hoàn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Dục, hoặc là cõi Sắc-Vô sắc, hoặc là không đoạn. Đoạn cõi Dục- hoặc là không đoạn, đó la ø lúc từ quả Nhất lai đạt được quả Bất hoàn, các căn thuộc phẩm câu sinh của đạo vô gián thứ chín đoạn kiết của cõi Dục, các căn thuộc phẩm câu sinh của đạo giải thoát thứ chín thì không đoạn kiết. Đoạn cõi Sắc-Vô sắc hoặc là không đoạn, 850 BỘ TỲ ĐÀM 5 đó là đã lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh, lúc đạt được quả Bất hoàn, các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí nhẫn đoạn kiết của cõi Sắc-Vô sắc; các ca ên thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí thì không đoạn kiết. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Bất hoàn, hoặc là không có. Quả Bất hoàn thâu nhiếp, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của đạo giải thoát thứ chín và Đạo loại trí. Hoặc là không có, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của đạo vô gián thứ chín và Đạo loại trí nhẫn. Hỏi: Các căn đạt được quả A-la-hán, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Vô sắc, hoặc là không đoạn. Đoạn cõi Vô sắc, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Định Kim cang dụ. Hoặc là không đoạn, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Tận trí lúc đầu. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả A-la-hán, hoặc là không có. Quả A-la-hán thâu nhiếp, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh c ủa Tận trí lúc đầu. Hoặc là không có, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Định Kim cang dụ. Hỏi: Lúc đạt được quả Dự lưu đã xả các căn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Dục, hoặc là cõi Sắc-Vô sắc, hoặc là không đoạn. Lúc đạt được quả Dự lưu, các căn đã đạt được do Kiến đạo thâu nhiếp, gọi là đã xả. Căn này hoặc là đoạn cõi Dục, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của bốn Pháp trí nhẫn; hoặc là đoạn cõi Sắc - Vô sắc, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của bốn Loại trí nhẫn; hoặc là không đoạn, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của bảy Trí. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Không có, bởi vì không có qua û nào dưới quả Dự lưu thâu nhiếp các căn này. Hỏi: Lúc đạt được quả Nhất lai đã xả các căn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Dục, hoặc là cõi Sắc - Vô sắc, hoặc là không đoạn. Nếu tăng thêm lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh, lúc đạt được quả Nhất lai, thì các căn đã đạt được do Kiến đạo thâu nhiếp, gọi là đã xả. Căn này hoặc là đoạn cõi Dục, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của bốn Pháp trí nhẫn; hoặc là đoạn cõi Sắc-Vô sắc, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của bốn Loại trí nhẫn; hoặc là không đoạn, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của ba ûy Trí. Nếu lúc từ quả Dự lưu đạt SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 147 851 www.daitangkinh.org được quả Nhất lai, thì các căn do quả Dự lưu và đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp, gọi là đã xả. Căn na øy hoặc là đoạn cõi Dục, đó là các căn do sáu đạo vô gián thâu nhiếp; hoa ëc là không đoạn, đó là các căn do quả Dự lưu và các đạo gia hạnh- đạo giải thoát- đạo thắng tiến trong đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Dự lưu, hoặc là không có. Quả Dự lưu thâu nhiếp, đó là các căn đã xả thuộc phẩm câu si nh của Đạo loại trí. Hoặc là không có, đó là các căn đã xả do đạo của quả thù thắng này và Kiến đạo thâu nhiếp. Hỏi: Lúc đạt được quả Bất hoàn đã xả các căn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Dục, hoặc là cõi Sắc - Vô sắc, hoặc là không đoạn. Nếu đã lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh, lúc đạt được quả Bất hoàn, thì các căn đã đạt được do Kiến đạo thâu nhiếp, gọi là đã xả. Căn này hoặc là đoạn cõi Sắc - Vô sắc, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của bốn Loại trí nhẫn; hoặc là không đoạn, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của bốn Pháp trí nhẫn và bảy Trí. Nếu lúc từ quả Nhất lai đạt được quả Bất hoàn, thì các ca ên do quả Nhất lai và đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp, gọi là đã xả. Căn này hoặc là đoạn cõi Dục, đó là các căn do ba đạo vô gián thâu nhiếp; hoặc là không đoạn, đó là các căn do quả Nhất lai và các đạo gia hạnh- đạo giải thoát- đạo thắng tiến trong đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Nhất lai, hoặc là không có. Quả Nhất lai thâu nhiếp, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Đa ïo loại trí, và các căn đã xả do đạo giải thoát thứ sáu thâu nhiếp. Hoặc là không có, đó là các căn đã xả do đạo của quả thù thắng này, và Kiến đạo thâu nhiếp. Hỏi: Lúc đạt được quả A-la-hán đã xả các căn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Sắc, hoặc là cõi Vô sắc, hoặc là không đoạn. Lúc đạt được quả A-la-hán, các căn do qua û Bất hoàn và đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp, gọi là đã xả. Ca ên này hoặc là đoạn cõi Sắc, đó là lìa nhiễm của bốn Tĩnh lự, đều có các căn do chín đạo vô gián thâu nhiếp; hoặc là đoạn cõi Vô sắc, đó là lìa nhiễm của bốn Vô sắc, đều có các căn do chín đạo vô gián thâu nhiếp; hoặc là không đoạn, đó là các căn do quả Bất hoàn và các đạo gia hạnh- đạo giải thoát- đạo thắng tiến trong đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp. 852 BỘ TỲ ĐÀM 5 Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Bất hoàn, hoặc là không có. Quả Bất hoàn thâu nhiếp, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí, và các căn đã xả do đạo giải thoát thứ chín thâu nhiếp. Hoặc là không có, đó là các căn đã xả do đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp. Hỏi: Lúc đạt được quả Dự lưu đã đạt được các căn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Không có, nghĩa là lúc đạt được quả Dự lưu đã có được các căn, đều là do chủng loại của đạo giải thoát thâu nhiếp, bởi vì chỉ riêng đạo vô gián thâu nhiếp mới có thể đoạn phiền não. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Dự lưu, hoặc là không có. Quả Dự lưu thâu nhiếp, đó là các căn đã đạt được thuộc phẩm ca âu sinh của Đạo loại trí. Hoặc là không có, đó là các căn thế tục đã đạt được lúc bấy giờ. Hỏi: Các căn đã đạt được lúc bấy giờ đều là quả Dự lưu vô lậu thâu nhiếp, lại có căn thế tục nào la ø do hiện tại đạt được mà nói hoặc là không có? Đáp: Văn này chỉ cần nói là qua û Dự lưu, không cần nói hoặc là không có, mà nói hoặc là không có, th ì muốn hiển bày lúc bấy giờ đã đạt được tám căn như Mạng…, là những căn mà từ vô thỉ đến nay chưa từng đạt được, bởi vì dựa vào quả thù thắng cho nên bắt đầu đạt được căn này. Hỏi: Lúc đạt được quả Nhất lai đã đạt được các căn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Không có, nghĩa nói như trước. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Nhất lai, hoặc là không có. Quả Nhất lai thâu nhiếp, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí, và các căn đã đạt được do đạo giải thoát thứ sáu thâu nhiếp. Hoặc là không có, đó là các căn thế tục đã đạt được lúc bấy giờ. Hỏi: Lúc đạt được quả Bất hoàn đã đạt được các căn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Không có, nghĩa nói như trước. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Bất hoàn, hoặc là không có. Quả Bất hoàn thâu nhiếp, đó là các căn thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí, va ø các căn đã đạt được do đạo giải thoát thứ chín thâu nhiếp. Hoặc là không có, đó là các căn thế tục đã đạt được lúc bấy giờ. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 147 853 www.daitangkinh.org Hỏi: Lúc đạt được quả A-la-ha ùn đã đạt được các căn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Không có, nghĩa nói như trước. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả A-la-hán, hoặc là không có. Quả A-la-hán thâu nhiếp, đó là các căn đã đạt đ ược thuộc phẩm câu sinh c ủa Tận trí lúc đầu. Hoặc là không có, đó là các căn thế tục đã đạt được lúc bấy giờ. Hỏi: Các căn mà người Dự lưu đa õ thành tựu, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Dục, hoặc là không đoạn. Đoạn cõi Dục, đó là các căn do sáu đạo vô gián thâu nhiếp. Hoặc là không đoạn, đó là các căn do quả Dự lưu và các đạo gia hạnh- đạo giải thoát- đạo thắng tiến trong đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Dự lưu, hoặc là không có. Quả Dự lưu thâu nhiếp, đó là các căn đã thành tựu thuộc phẩm ca âu sinh của Đạo loại trí. Hoặc là không có, đó là các căn do đạo của quả thù thắng thâu nhiếp mà người Dự lưu đã thành tựu, và các căn thiện hữu lậu-nhiễm ô-vô phú vô ký khác đã thành tựu. Hỏi: Các căn mà người Nhất lai đã thành tựu, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Dục, hoặc là không đoạn. Đoạn cõi Dục, đó là các căn do ba đạo vô gián thâu nhiếp. Hoặc là không đoạn, đó là các căn do quả Nhất lai và các đạo gia hạnh- đạo giải thoát- đạo thắng tiến trong đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Nhất lai, hoặc là không có. Quả Nhất lai thâu nhiếp, đó là các căn đã thành tựu thuộc phẩm câu sinh của Đạo lo ại trí, và đạo giải thoát thứ sáu thâu nhiếp. Hoặ c là không có, đó là các căn do đạo của quả thù thắng thâu nhiếp mà người Nhất lai đã thành tựu, và các căn thiện hữu lậu-nhiễm ô-vô phú vô ký khác đã thành tựu. Hỏi: Các căn mà người Bất hoàn đã thành tựu, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Đoạn cõi Sắc, hoặc là cõi Vô sắc, hoặc là không đoạn. Đoạn cõi Sắc, đó là lìa nhiễm của bốn Tĩnh lự, đều có các căn do chín đạo vô gián thâu nhiếp. Đoạn cõi Vô sắc, đó là lìa nhiễm của bốn Vô sắc, đều có các căn do chín đạo vô gián thâu nhiếp. Hoặc là không đoạn, đó là các căn do quả Bất hoàn và các đạo gia hạnh-đạo giải thoát- đạo thắng 854 BỘ TỲ ĐÀM 5 tiến trong đạo của quả thù thắng này thâu nhiếp. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả Bất hoàn, hoặc là không có. Quả Bất hoàn thâu nhiếp, đó là các căn đã thành tựu thuộc phẩm câu sinh của Đạo loại trí nhẫn, và đạo giải thoát thứ chín thâu nhiếp. Hoặc là không có, đó là các căn do đạo của quả thù thắng thâu nhi ếp mà người Bất hoàn đã thành tựu, và các căn thiện hữu lậu- nhiễm ô- vô phú vô ký khác đã thành tựu. Hỏi: Các căn mà A-la-hán đã th ành tựu, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Không có, bởi vì các kiết c ủa A-la-hán đã hết, không có gì có thể đoạn. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Quả A-la-hán, hoặc là không có. Quả A-la-hán thâu nhiếp, đó là các căn vô lậu mà A-la-hán đã thành tựu. Hoặc là không có, đó là các căn thiện hữu lậu- vô phú vô ký mà A-la-hán đã thành tựu. Hỏi: Các căn đoạn kiết của người Dự lưu, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Cõi Dục, đó là kiết thuộc sáu phẩm trước do tu mà đoạn của cõi Dục. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Không có, đó là bởi vì đạo vô gián có thể đoạn các kiết, cho nên các căn do quả Sa-môn thâu nhiếp chắc chắn là đạo giải thoát. Hỏi: Các căn đoạn kiết của người Nhất lai, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Cõi Dục, đó là kiết thuộc ba phẩm sau do tu mà đoạn của cõi Dục. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Không có, nguyên cớ như trước. Hỏi: Các căn đoạn kiết của người Bất hoàn, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Cõi Sắc, hoặc là cõi Vô sắc. Cõi Sắc, đó là bốn Tĩnh lự đều có chín phẩm kiết do tu mà đoạn. Cõi Vô sắc, đó là bốn Vô sắc đều có chín phẩm kiết do tu mà đoạn. Hỏi: Căn này quả nào thâu nhiếp? Đáp: Không có, nguyên cớ như trước. Các kiết của A-la-hán đã hết, bởi vì không có căn đoạn kiết, cho nên không hỏi-đáp. Hỏi: Các căn do quả Dự lưu thâu nhiếp, căn này đoạn kiết của cõi SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 147 855 www.daitangkinh.org nào? Đáp: Không có, bởi vì các căn do quả Sa-môn thâu nhiếp là đạo giải thoát, cho nên chỉ riêng đạo vô gián có thể đoạn kiết. Hỏi: Các căn do quả Nhất lai, quả Bất hoàn, quả A-la-hán thâu nhiếp, căn này đoạn kiết của cõi nào? Đáp: Không có, nguyên cớ như trước , bởi vì quả A-la-hán lại không có kiết nào có thể đoạn. Các Khổ trí là trí vô lậu đối với Khổ chăng? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi ngờ có được quyết định. Nghĩa là hành tướng của Khổ trí - Tập trí không có xen tạp, mà sở duyên có xen tạp; hành tướng của Diệt trí - Đạo trí không có xen tạp, sở duyên cũng không có xen tạp. Hoặc c ó người sinh nghi: Như hành tướng của Khổ trí- Tập trí không c ó xen tạp mà sở duyên có xen tạp, Diệt trí-Đạo trí cũng như vậy chăng? Như hành tướng của Diệt trí - Đạo trí không có xen tạp mà sở duyên cũng không có xen tạp, Khổ trí - Tập trí cũng như vậy chăng? Bởi vì làm cho sự nghi ngờ này có được quyết định, hiển bày về sở duyên của Khổ trí - Tập trí có xen tạp, sở duyên của Diệt trí - Đạo trí không c ó xen tạp, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Vì sao hành tướng của Khổ trí-Tập trí không có xen tạp, mà sở duyên có xen tạp? Đáp: Bởi vì lìa Khổ không có Tập, lìa Tập không có Khổ. Nghĩa là mỗi một sự việc hữu lậu, nghĩa về Quả thì gọi là Khổ, nghĩa về Nhân thì gọi là Tập. Tức là ở trong mỗi một sự việc hữu lậu, nếu trí làm bốn hành tướng của Khổ… mà chuyển thì gọi là Khổ trí, nếu trí làm bốn hành tướng của Tập… mà chuyển thì gọi la ø Tập trí, cho nên hành tướng của Khổ trí - Tập trí không có xen tạp, mà sở duyên có xen tạp. Hành tướng và sở duyên của Diệt trí - Đạo trí, cả hai đều không có xen tạp, bởi vì hành tướng của Diệt- của Đạo kha ùc nhau, sở duyên c ủa hữu vi, vô vi khác nhau. Hỏi: Các Khổ trí là trí vô lậu đối với Khổ chăng? Giả sử trí vô lậu đối với Khổ thì đều là Khổ trí chăng? Đáp: Các Khổ trí là trí vô lậu đối với Khổ, bởi vì trí vô lậu ở trong sự việc của Khổ, làm bốn hành tướng là Vô thường-Khổ-Không-Vô ngã mà chuyển, cho nên gọi là Khổ trí. Có lúc trí vô lậu đối với Khổ mà không phải là Khổ trí, đó là Tập trí biết về Khổ, bởi vì trí vô lậu ở 856 BỘ TỲ ĐÀM 5 trong sự việc của Khổ, làm bốn ha ønh tướng là Nhân-Tập-Sinh-Duyên mà chuyển, cho nên gọi là Tập trí. Trước đã nói lìa Khổ không có Tập, cho nên sở duyên của Tập trí cũng gọi là Khổ. Hỏi: Các Tập trí là trí vô lậu đối với Tập chăng? Giả sử trí vô lậu đối với Tập thì đều là Tập trí chăng? Đáp: Các Tập trí là trí vô lậu đối với Tập, bởi vì trí vô lậu ở trong sự việc của Tập, làm bốn hành tướng là Nhân-Tập-Sinh-Duyên mà chuyển, cho nên gọi là Tập trí. Có lúc trí vô lậu đối với Tập mà không phải là Tập trí, đó là Khổ trí biết về Tập, bởi vì trí vô lậu ở trong sự việc của Tập, làm bốn hành tướng là Vô thường - Khổ - Không - Vô ngã mà chuyển, cho nên gọi là Khổ trí. Trước đã nói lìa Tập không có Khổ, cho nên sở duyên của Khổ trí cũng gọi là Tập. Hỏi: Các Diệt trí là trí vô lậu đối với Diệt chăng? Đáp: Đúng như vậy. Hỏi: Giả sử trí vô lậu đối với Diệt thì đều là Diệt trí chăng? Đáp: Đúng như vậy. Hỏi: Các Đạo trí là trí vô lậu đối với Đạo chăng? Đáp: Đúng như vậy. Hỏi: Giả sử trí vô lậu đối với Đạo thì đều là Đạo trí chăng? Đáp: Đúng như vậy. Bởi vì trước đã nói hành tướng và sở duyên của Diệt trí - Đạo trí đều không có xen tạp. Nếu trí vô la äu duyên với Trạch diệt, làm bốn hành tướng là Diệt-Tĩnh-Diệu-Ly mà chuyển, thì gọi là Diệt trí. Nếu trí vô lậu duyên với Thánh đạo, làm bốn hành tướng là Đạo-Như-Hành- Xuất mà chuyển, thì gọi là Đạo trí.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt