VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 149Quyển 151 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 150

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

問若天眼現在前時。生得眼為斷不。若斷者
云何不異熟生色斷已復續。以阿毘達磨者。

不欲令異熟生色斷已續故。若不斷者天
眼生得眼二俱見色。云何不錯亂耶。答應
言不斷以異熟色斷已不續故。是故尊者妙
音作如是問。天眼現在前時生得眼當言
斷耶。不斷耶。答當言不斷。即於是處有
色界大種與所造天眼俱現在前。問若爾者
天眼生得眼二俱見色云何不錯亂耶。答天
眼起時生得眼住彼同分故無有過。譬如
餘識現在前時。雖不見色而眼不斷此亦
如是。問何故不俱見耶。答以一身中無二
識俱起。爾時識依天眼不依生得眼故。有
說。有色非是生得眼境。為見彼故起天眼
現前故。於爾時生得眼雖不斷而無用是
故不俱見。有說。天眼起時生得眼斷。問若
爾云何不異熟生色斷已可續耶。如是則
違阿毘達磨者說。答斷有二種。一暫斷。二究
竟斷。暫斷者可續非究竟斷。是故無過。有
說。爾時生得眼滅天眼生。天眼滅生得眼生。
彼身中眼根未甞空故不可謂斷。有說。彼
時生得眼斷亦無有過。亦有異熟生色斷已
續故。云何知然。如契經說。一切施王即時
舉手自挑兩目施婆羅門。由勝思願令眼
平復。又如經說。惡行爾時以朅地羅鉤挑
善行眼。亦由菩薩勝思願故還得眼根。施
設論說。地獄有山壓迮有情令身碎壞。於
後未久諸根復生。諸地獄中此類非一。故知
異熟生色斷已可續。如是說者。起天眼時
生得眼不滅。異熟色斷亦無續義。問前所引
事當云何通。答彼不相違有別義故。即如

所說一切施王。爾時但由施心成滿。故作
是說實未挑眼。其事云何。謂佛昔日為菩
薩時。曾作國王名一切施。能滿一切來求
者意。天上人中此名流布。時天帝釋知已念
言。彼王如斯惠施無倦。為求無上正等菩
提。為希世間名譽天位。若希天位或為我
怨。當往驗之知其施意。便自化作婆羅門
身。戴帽垂鬢金韜絡體。手策金杖來詣
王前。呪願王言願常尊勝。王言梵志來何所
求。答言我來正須王眼。王以四寶為眼施
之彼不受言。我今須眼何用此為。王聞是
已便舉兩手欲自挑目。帝釋知王施心決
定便止王言。欲何所求能施難施。為求
釋梵魔王位耶。為希世間名譽歸敬。王言
此等皆非所求。唯有離於生老病死應正
等覺是我所願。天帝聞已便復本形讚嘆
王言。真是菩薩不久定得無上菩提。作是
言已忽然不現。故彼爾時實未挑眼。又彼
所引善惡行經。善行眼根有餘種子。由勝思
願圓滿勝前。諸地獄中亦同此釋。若無餘
種則不可生。故異熟色斷無續理。由此天
眼現在前時生得眼不斷。
問如生欲界所起天眼。生色界亦起不。有
說。不起。以色界中隨生得眼所見多少。修
得眼亦爾無別作用是故不起。如是說者。
亦起現前。問與生得眼同起復何用。答欲
遊戲通慧故起現前。又中有身非生得眼
境故。起天眼觀中有差別。問為生欲界所
起天眼勝。為生色界所起勝耶。答欲界所起

猛利故勝。謂佛獨覺到究竟聲聞所起天眼
作用猛利。非生色界所能現前。色界所起所
依故勝。謂彼依身廣大勝妙。所起天眼多極
微成。非欲界中此眼得起。故二界起各有
勝劣。
問修得天眼與生得眼有何差別。答名即差
別。謂名天眼名生得眼。有說。體亦有異。
謂生得眼有同分彼同分。修得天眼唯是同
分。又生得眼通所長養及異熟生。修得天眼
唯所長養。有說。因亦有異。謂生得眼是業
果。修得天眼是修果。問豈不生得眼亦是修
果耶。答彼少分是修果。少分是生得智異熟
果。天眼唯修果。有說。天眼由加行作意力
方得現前。生得眼不爾。有說。果亦有異。謂
生得眼與善染無記識為所依。修得天眼唯
與無記識為所依。有說。境亦有異。謂生得
眼不見中有。修得天眼能見中有。有說。用
亦有異。謂修得天眼於生得眼。作用熾盛微
妙殊勝。清淨明白捷利遠細故有差別
問一念得起幾通果耶。答諸有欲令無
留化事。天眼天耳無彼同分者。彼說一
念唯起一通果。謂五通隨一。諸有欲令有
留化事天眼天耳。無彼同分者。彼說一念
得起二通果。謂神境通果及餘四隨一。諸有
欲令有留化事。天眼天耳有彼同分。彼說
一念得起四通果。謂神境通果天眼天耳及
餘二隨一。謂他心通宿住。隨念通。境界各別
不俱起故。如是說者。應知第二所說為善。
以化事可留。天眼天耳必無彼同分。要於

用時乃現前故。
問欲界所化色有四種。謂初靜慮果。乃至第
四靜慮果。依初靜慮所得天眼。為能具見
四種色耶。有說。具見皆是欲界色處攝故。
有說。唯見初靜慮果非餘。以因勝故如
因非境果亦應爾。依第二靜慮所得天眼。
能見初二靜慮果色非餘。依第三靜慮所
得天眼。能見前三靜慮果色非餘。依第四
靜慮所得天眼。具能見四靜慮果色。如是
說者。謂初說依初靜慮所得天眼。能見欲
界初靜慮色。乃至依第四靜慮所得天眼。能
見欲界四靜慮色。問依第四靜慮所得天
眼。能見欲界四靜慮色者。為見欲界色眼
即見餘地色為更起餘眼見餘地色耶。若
見欲界色眼。即見餘地色者。如何一眼能見
麁細二境。若更起餘眼見餘地色者。即第
四靜慮天眼應有五類。各唯見一地色。即
不應言此地天眼五地為境。有作是說。
即見欲界色眼。能見餘地諸色。問如何一眼
能見麁細二境。答此亦無過。如看大山即
麁細色俱時能見。見麁色者如見千枝大
樹。見細色者如見中間細草。如是第四靜
慮一眼能見五地諸色何過。有餘師言。見
欲界色眼異。乃至見第四靜慮色眼異。問若
爾第四靜慮天眼應有五類。各唯見一地色
即不應言此地天眼五地為境。答一地天
眼有五類別亦無有過。約地種類。總說一
眼見五地境。非不於中所見各異。如定蘊
說。依初靜慮所引天眼。極能見何繫色。答

乃至梵世繫。依第二靜慮所引天眼。極能見
何繫色。答乃至極光淨繫。依第三靜慮所引
天眼。極能見何繫色。答乃至遍淨繫。依第
四靜慮所引天眼。極能見何繫色。答乃至廣
果繫。問傍極見幾何。有說。如見上。有說。
傍見則寬。如是說者。彼文且說見上分齊
不說傍境。然隨根勢力傍見不定。有遠有
近如餘處說。
施設論說。如四大王眾天以智以見領解
於人。人於四大王眾天不能如是。除有
修有神通或他威力。乃至他化自在天對人
亦爾。謂四大王眾天等亦是人眼境。界同一
繫故。然以極遠不能見之。若得神通自能
往見。或他力引至彼能觀。問若彼天來此能
見不。答見。若爾彼中何故不說。答境界少故
不說。復次此即攝在他力引中故不別說。
又彼論說。如梵眾天以智以見領解於人。
人於梵眾天不能如是除有修有神通或
他威力。乃至色究竟天對人亦爾。問彼論所
說除有修言是事可爾。云何得說除有神
通或他威力。所以者何。雖有神通或他力引
得至彼天。若無天眼不能見故。若有天
眼雖不至彼亦能見故。答彼但應說除有
修言。而復有餘言者。有別意趣。謂依他方
梵天等說。他方梵天等色亦是此方依初靜
慮等所引天眼境界。然以極遠雖得彼眼
不能見之。若自有神通或他力所引至彼
乃能以天眼見。除有修言顯得天眼。說
後二句顯至彼因。故彼所說有別意趣

彼施設論復作是說初靜慮中有三天處。謂
梵眾梵輔及大梵天。問如是三天互相見不。
答彼互相見。問契經所說當云何通。如說梵
王有得自體如童子像。非梵眾天眼之境
界。答是彼眼境而大梵王通力所遮令彼不
見。第二靜慮有三天處。謂少光無量光極光
淨。問如是三天互相見不。答彼互相見。第三
靜慮有三天處。謂少淨無量淨遍淨。問如是
三天互相見不。答彼互相見。第四靜慮有八
天處。謂無雲福生廣果無煩無熱善現善見
色究竟。問如是八天互相見不。答彼互相見
皆以同一繫故。
法蘊論說。於眼周圍有時有分。色界大種
所造天眼。清淨現前由此天眼能見前後左
右下上諸色差別。見前後左右諸色者。非
石壁等所障故。見下諸色者非地水等所
障故。見上諸色者。非雲霧等所障故。問如
是天眼能於一時頓見十方諸色境不。有
說。能見以天眼根光明清徹自然遍照。如
末尼寶遍發光明。有說。不能一時頓見。問
法蘊所說當云何通。答彼說天眼諸方無障。
非謂彼能一時頓見。謂人等眼但能覩見面
所向色。欲見餘方要須迴轉俯仰方見。天
眼不爾面向一方隨欲能見不須迴轉。故
說能見上下諸方。非謂十方一時而見。
有作是說。意淨故見。問意淨是信即心所法
與心相應此非見體。云何能見。答彼依意
根無有擾濁密意而說。謂若意根不餘馳
散離諸擾濁。能令眼根見色分明故作是

說有作是說。勝解故見。問所說勝解是心所
法與心相應。此非見體。云何能見。答依瑜
伽師意樂安立故作是說。謂瑜伽師起此意
樂。令我一念見十方色。然能見色非即勝
解。又施設論作如是說。諸有現入青遍處
定。從彼定起所見皆青。又由多時住青林
中。後出餘處所見皆青。依此故言勝解故
見。有作是說。即人眼根轉為天眼能無障
見。此是數論外道所立。彼作是說。所起天眼
即是人眼。數習轉變明淨勝前立以天稱。
如中印度青林中行。或經旬乃至數習所
變舉目皆青。修天眼時亦復如是。若爾盲
者應不能修此天眼通。便與聖教及現見
事皆悉相違。又法無常云何轉變。一切天眼
皆名無對。石壁等物不能礙故。問一切天
眼於所見色為有礙不。若有礙者何故說
無對。若無礙者如何住彼色。答於所見色
應說有礙。問若爾何故名無對耶。答對有
二種。一境界有對。二障礙有對。若依境界有
對。天眼名有對。於自境界不能越故。若
依障礙有對。天眼名無對。石壁等障不能
礙故。此約於境作用而說。若約自體亦是
障礙有對所攝極微性故。又諸天眼於境界
中。諸瑜伽師隨欲自在。於所欲見則有對
礙。所不欲見則無對礙。
一切天眼光明增上光明所引。問天眼欲見
闇中色時云何能見有作是說。此由神通
引起光明能見彼色。此不應理不得神
通。便應不能修起天眼。如是說者。初引通

時若離光明不能見色。若通成滿設離光
明亦能見色。問神通天眼俱有光明有何
差別。答神通光明或自性有或變化有。天眼
光明唯自性有。有作是說。天眼光明或自性
有或變化有。神通光明唯變化有。
諸素怛纜毘奈耶中。皆說菩薩成就異熟生
天眼。晝夜能見面各踰繕那。問菩薩所成異
熟生眼實非天眼。何故立此名。答菩薩眼
根體用殊勝。如世勝事假立天名。問諸餘
有情亦能遠見山日月等。菩薩但見面各踰
繕那云何名勝。答如彼所見菩薩亦能面各
踰繕那約無障說。謂無障處諸餘有情雖能
遠見。若有障處自掌中物亦不能見菩薩不
爾面各踰繕那障無障處悉能徹視。又餘有
情雖能遠見唯麁非細。菩薩不爾。面各踰
繕那乃至毛端亦能見故。又餘有情雖能遠
見唯晝非夜。菩薩不爾面各踰繕那晝夜俱
見。有說。於餘有情所見遠近菩薩過彼一
踰繕那故作是說。問菩薩成就如是淨眼
應見女身不淨充滿。何緣故有染習事耶。
脇尊者言。菩薩煩惱未斷未遍知。是故猶為
無明所迷不應責問。如不應責無明者愚
盲者墮坑。有說。菩薩染習彼時不觀不
淨。觀不淨時不染習彼。有說。菩薩先世曾
種勝受用業。於所受用不見不淨。所不
受用便見不淨。如是說者。菩薩成就猛利
智慧。善觀功德過失差別。諸女人身亦容
具有功德過失。菩薩觀察彼功德時。勝於
一切耽著欲者。若當觀察彼過失時。勝於

一切不淨觀者。觀彼功德故有染習。
問轉輪王眼齊何能見。答王四洲者面各能
見四俱盧舍。乃至王一洲者面各能見一
俱盧舍。問主藏臣眼齊何能見。答四洲王臣
見三俱盧舍。乃至一洲王臣見半俱盧舍。
如契經說。輪王有時欲試藏臣威力所及。
乘船遊戲殑伽河中。勅藏臣言吾今須寶
藏。臣敬諾請還辦之。王不悅曰正爾須辦。
藏臣惶恐即以兩手㧌攪水中。應時捧出
種種珍寶持以獻王。復白王言須者可取。
其不須者還棄水中。問輪王眼根勝主藏
者何不自取令臣取耶。答諸尊勝人法應
如是。如餘尊者雖有自知飲食衣服資
具所在。而不自取此亦如是。有餘師說。諸
轉輪王餘生積集感侍臣業彼業今熟。諸
有所須皆有侍臣令其供辦。若王自取業即
唐捐。問因論生論。何等名為諸轉輪王感侍
臣業。答父母師長如法教誨敬順無違是為
此業。若先曾習如是業者。感多侍人所
欲皆辦。問曾聞殑伽河水有處深一踰繕那。
如何藏臣手及其底取諸珍寶。答以輪王
業增上力故令寶上昇。有說。藥叉健達縛
等持來授與。有說。恒有十千天神隨主藏
臣。而為給使彼持授與。問藏臣何故啟白
王言。餘所不須當還棄水。答顯王業果不
思議故。諸有所須隨處可得。不同餘類恐
身命緣。當有闕乏長時積聚。
問聲聞獨覺及佛天眼能見幾世界色。答聲
聞天眼不作加行見小千界。若作加行見

中千界。獨覺天眼不作加行見中千界。若
作加行見大千界。世尊天眼不作加行見
大千界。若作加行能見無量無邊世界。如
天眼通。天耳通等亦爾。
地獄成就幾根。乃至廣說。問何故此中但說
成就極多少位非餘位耶。答彼作論者意
欲爾故。乃至廣說。有說。欲除文雜亂過。謂
若具說一切位者。便於文雜亂難可受持
故。依多少邊際而說。地獄成就幾根。傍生
乃至諸無色隨信行乃至俱解脫成就幾根。
答地獄極多十九極少八。十九者。謂除三無
漏根。即是具七色根不斷善者。八者謂身命
意及五受根。即失六色根已斷善者。傍生極
多十九極少十三。十九者。謂除三無漏根。即
具七色根者。十三者。謂身命意五受信。等
五根。即漸命終先捨六色根者。如說傍生。
鬼界亦爾。斷善根者極多十三極少八。十三
者。謂除一形及信等五三無漏根。八者。謂身
命意及五受根。即漸命終及在地獄已失六
色根者。邪定聚極多十九極少八。十九者。如
地獄極多說。八者如斷善極少說。除在地獄
失六色根正定聚極多十九極少十一。十九
者。謂除一形及二無漏根。即未離欲染不缺
根聖者。十一者。謂命意三受信等五一無漏
根。即生無色界聖者。不定聚極多十九極少
八。十九者。如邪定極多說。八者如斷善極
少說。及生無色界。異生成就命意捨信等五
根。贍部洲極多十九極少八。十九者。謂二形
者除三無漏根。及未離欲聖者除一形二無

漏根。八者。謂身命意五受根。即斷善者漸命
終位如贍部洲。毘提訶洲瞿陀尼洲亦爾。俱
盧洲極多十八極少十三。十八者。謂除一形
三無漏根。十三者。謂身命意五受信等五根。
即漸命終位。彼洲無有扇𢮎半擇迦無形二
形。斷善根邪定正定及離染者。四大王眾天
極多十九極少十七。十九者。謂除一形二無
漏根。即未離欲染聖者。十七者。謂除一形憂
根三無漏根。即已離欲染異生。如四大王眾
天。三十三天。乃至他化自在天亦爾。梵眾天
極多十六極少十五。十六者。除二形二受二
無漏根。即彼聖者。十五者。除二形二受三無
漏根。即彼異生。如梵眾天。極光淨天亦爾。
遍淨天極多十六極少十四。十六者如前說。
十四者。除二形三受三無漏根。即彼異生。廣
果天極多十六極少十三。十六者如前說。十
三者。除二形四受三無漏根。即彼異生中有
極多十九極少十三。十九者。謂二形者。除三
無漏根。及未離欲染聖者。除一形二無漏
根。十三者。謂斷善者。除一形信等五三無漏
根。及廣果異生。除二形四受三無漏根。諸無
色極多十一極少八。十一者。命意三受信等
五一無漏根。即彼聖者。八者命意捨信等五
根。即彼異生。隨信行極多十九極少十三十
九者。除一形二無漏根。即未離欲染住見道
者。十三者。身命意四受信等五一無漏根。即
已離欲染漸命終位入見道者。問何故此位
能入見道。答是愛行者。一期生中恒厭生
死。臨命終時苦受所觸。厭心轉增能入見

道。如隨信行隨法行亦爾。信勝解極多十九
極少十一。十九者。除一形二無漏根。即未離
欲染信勝解。十一者。命意三受信等五一無
漏根。即無色界信勝解。如信勝解見至亦爾。
身證極多十八極少十一。十八者。除一形憂
根二無漏根。即欲界身證。十一者如信勝解
極少說。如身證。慧解脫俱解脫亦爾。然身證
成就已知根。二解脫成就具知根。
眼根乃至慧根。得遍知時幾根得遍知耶。
答眼根得遍知時。至離色染五根得遍知。
此中遍知是彼愛斷遍知果故。得遍知名五
根者。眼耳鼻舌身離色染時彼永斷故。雖
於此位斷十三根。唯此五根得究竟斷。如
眼根。耳鼻舌身根亦爾。女根得遍知時。至
離欲染四根得。遍知。謂男女憂苦。雖於此
位斷十九根。唯此四根得究竟斷。如女根。
男根苦根憂根亦爾。命根得遍知時。至離
無色染八根得遍知。謂命意捨信等五根。
如命根。意捨信等五根亦爾。樂根得遍知
時。至離遍淨染即樂根得遍知。喜根得遍
知時。至離極光淨染即喜根得遍知。
眼根乃至慧根滅作證時。幾根滅作證耶。答
眼根滅作證時。至離色染五根滅作證。至
阿羅漢十九根滅作證。五根者。眼耳鼻舌身。
十九者。除三無漏根。如眼。耳鼻舌身根亦
爾。女根滅作證時。至離欲染四根滅作證。
至阿羅漢十九根滅作證。四者。男女憂苦。
十九者。如前說。如女根。男苦憂根亦爾。命
根滅作證時。至阿羅漢。十九根滅作證如前

說。如命根。意捨信等五根亦爾。樂根滅作證
時。至離遍淨染即樂根滅作證。至阿羅漢
十九根滅作證。如前說。喜根滅作證時。至
離極光淨染即喜根滅作證。至阿羅漢十九
根滅作證。如前說。問此二門何差別。答諸有
欲令無間道斷繫得。解脫道證離繫得者。
彼說如無間道作用。遍知門亦爾。如解脫道
作用。作證門亦爾。諸有欲令無間道斷繫
得。亦證離繫得者。彼說如斷繫得。遍知門
亦爾。如證離繫得。作證門亦爾。如斷繫得
證離繫得除過失修功德。棄下劣證美
妙。捨無義得有義。盡愛膏油受無熱樂。
應知亦爾。有說。如斷未斷初門亦爾。如證
未證後門亦爾。有說。如初作證初門亦爾。
如重作證後門亦爾。有說。如斷時作證初
門亦爾。如斷已作證後門亦爾。是謂遍知
作證差別。

Việt dịch

QUYỂN 150

LUẬN VỀ XÚC (Phần 2)

Nếu lúc Thiên nhãn hiện rõ ở trước  mắt, thì mắt do sinh ra mà
được, có đoạn hay không? Nếu đoạn thì tại sao sắc sinh ra không do dị
thục, đoạn rồi lại nối tiếp? Bởi vì A-tỳ-đạt-ma không muốn làm cho sắc
sinh do dị thục đoạn rồi nối tiếp. Nếu không đoạn thì Thiên nhãn và mắt
do sinh ra mà được, cả hai đều nhìn thấy sắc, tại sao không rối loạn?
Đáp: Nên nói là không đoạn, bởi vì  sắc dị thục đoạn rồi không
nối tiếp.
Vì vậy Tôn giả Diệu Âm đưa ra câu hỏi như vậy:“Lúc Thiên nhãn
hiện rõ ở trước mắt thì mắt do sinh ra mà được nên nói là đoạn, hay là
không đoạn? Trả lời: Nên nói là không đoạn, bởi vì ngay nơi này có Đại
chủng của cõi Sắc và Thiên nhãn đã tạo ra cùng hiện rõ ở trước mắt.”
Hỏi: Nếu như vậy thì Thiên nhãn va ø mắt do sinh ra mà được, cả
hai đều nhìn thấy sắc, tại sao không rối loạn?
Đáp: Lúc Thiên nhãn khởi lên thì mắt do sinh ra mà được, trú
trong Đồng phần của mắt ấy (Bỉ đồng phần), cho nên không có lỗi. Ví
như lúc Thức khác hiện rõ ở trước mắt, tuy không nhìn thấy sắc mà mắt
không đoạn, ở đây cũng như vậy.
Hỏi: Vì sao không cùng nhìn thấy?
Đáp: Bởi vì trong một thân không có hai Thức cùng lúc khởi lên,
lúc bấy giờ Thức dựa vào Thiên nh ãn chứ không dựa vào mắt do sinh
ra mà được.
Có người nói: Có sắc không phải la ø cảnh của mắt do sinh ra mà
được, bởi vì nhìn thấy sắc ấy cho nên khởi lên Thiên nhãn hiện rõ trước
mắt, vào lúc bấy giờ mắt do sinh ra mà đượ c tuy không đoạn nhưng
không có tác dụng, vì vậy không cùng nhìn thấy.
Có người nói: Lúc Thiên nhãn khởi lên thì mắt do sinh ra mà được
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 150 889  
www.daitangkinh.org  
sẽ đoạn.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao sắc sinh ra không do dị thục, đoạn rồi
có thể nối tiếp? Như vậy thì trái với cách nói của A-tỳ-đạt-ma.
Đáp: Đoạn có hai loại:
1. Đoạn trong thời gian ngắn.
2. Đoạn đến cuối cùng.
Đoạn trong thời gian ngắn thì có thể nối tiếp chứ không phải là
đoạn đến cuối cùng, vì vậy không có lỗi.
Có người nói: Lúc bấy giờ mắt do sinh ra mà được diệt đi- Thiên
nhãn phát sinh, Thiên nhãn diệt đi - mắt do sinh ra mà được phát sinh,
bởi vì Nhãn căn trong thân ấy chưa từng trống rỗng, cho nên không thể
nói là đoạn.
Có người nói: Lúc ấy mắt do sinh ra mà được sẽ đoạn cũng không
có lỗi, bởi vì cũng có sắc sinh ra do dị thục, đoạn rồi nối tiếp. Vì sao
biết như vậy? Bởi vì như trong kinh nói: “Vị vua Nhất Thiết Thí lập tức
đưa tay tự móc hai mắt mình thí cho Bà-la-môn. nhờ vào Tư nguyện thù
thắng khiến cho mắt bình phục.” Lại như kinh nói: “Người hành ác lúc
bấy giờ dùng móc sắt Khiết-địa-la móc mắt của người hành thiện, cũng
nhờ vào Tư nguyện thù thắng của Bồ-tát cho nên trở lại có được Nhãn
căn.” Luận Thi Thiết nói: “Địa ngục  có núi đè chặ c hữu tình làm cho
thân nát vụn, sau đó không lâu các ca ên lại sinh ra, trong các địa ngục
thì loại này không phải là một.” Vì vậy biết rằng sắc do dị thục sinh ra
đoạn rồi có thể nối tiếp.
Nói như vậy thì lúc Thiên nhãn khởi lên, mắt do sinh ra mà được
sẽ không diệt đi, sắc dị thục đoạn đoạn rồi cũng không có nghĩa nối
tiếp.
Hỏi: Sự việc đã dẫn chứng trước đây nên hiểu thế nào?
Đáp: Điều ấy không trái ngược nhau, bởi vì có nghĩa riêng biệt,
tức là đã nói như vị vua Nhất Thiết Thí, lúc bấy giờ chỉ do tâm bố thí
thành tựu tròn đầy, cho nên đưa ra cách nói này chứ thật sự là chưa móc
mắt. Sự việc ấy là thế nào? Nghĩa là “Ngày xưa, lúc Đức Phật làm Bồ-
tát, từng làm vị Quốc Vương tên gọi Nhất Thiết Thí, có thể thỏa mãn ý
muốn của tất cả những người đến cầu xin, tên gọi này lưu truyền khắp
nơi trên cõi trời- giữa loài người, lúc  ấy Thiên Đế Thích biết rồi nghĩ
rằng: Vị vua ấy bố thí không hề m ệt mỏi như vậy, vì cầu Vô thượng
Chánh đẳng Bồ-đề, hay vì mong danh dự ở thế gian-ngôi vị cõi trời?
Nếu mong ngôi vị cõi trời thì có lẽ là kẻ thù của mình, nên đến tìm hiểu
để biết ý bố thí của vị ấy. Liền tự hóa làm thân Bà-la-môn, đội mũ trùm
890 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
khăn, đeo gươm bằng vàng, tay cầm gậy bằng vàng, đi đến trước mặt
nhà vua, cầu nguyện cho nhà vua t hường được tôn quý thù thắng. Nhà
vua nói Phạm Chí đến cầu xin điều gi ? Đáp rằng: Tôi đến đây chính
là muốn có đôi mắt của nhà vua. Nhà  vua lấy bốn vật báu làm mắt thí
cho nhưng người ấy không nhận mà nói rằng: Nay tôi cần đến mắt chứ
đâu cần những vật này làm gì. Nhà  vua nghe vậy rồi liền đưa hai tay
muốn tự mình móc mắt. Đế Thích biết tâm bố thí của nhà vua đã được
quyết định, liền ngăn nhà vua và nói rằng: Muốn cầu điều gì mà có thể
bố thí điều khó bố thí, vì  cầu ngôi vị Thích- Phạm-Ma vương, hay là
vì mong danh dự quy kính của thế gian ? Nhà vua nói: Những điều này
đều không phải là sự mong cầu của t ôi, chỉ có Ưng Chánh Đẳng Giác
lìa khỏi sinh lão bệnh tử là điều nguyện cầu của tôi. Thiên Đế nghe rồi
liền trở lại hình dáng của mình, ca ngợi nhà vua rằng: Thật sự là Bồ-tát
không bao lâu chắc chắn đạt được Vô thượng Bồ-đề. Nói lời này xong,
bỗng nhiên không còn thấy nữa.” Vì vậy, vị vua ấy lúc bấy giờ thật sự
là chưa móc mắt.
Lại nữa, người ấy đã dẫn kinh nói  về hành thiện- hành ác, Nhãn
căn của người hành thiện có c hủng tử còn lại, nhờ vào Tư nguyện thù
thắng trước đây đã đầy đủ trọn vẹn thù thắng; trong các địa ngục cũng
cùng cách giải thích này. Nếu không có chủng tử còn lại thì không có
thể sinh ra, cho nên sắc dị thục đoạn rồi không có lý nào nối tiếp. Vì vậy
lúc Thiên nhãn hiện rõ ở trước ma ét thì mắt do sinh ra mà được, không
đoạn mất.
Hỏi: Như sinh ở cõi Dục mà khởi lên Thiên nhãn, sinh ở cõi Sắc
cũng khởi lên hay không?
Đáp: Có người nói: Không khởi lên, bởi vì trong cõi Sắc tùy theo
mắt do sinh ra mà được đã nhìn thấ y nhiều ít, mắt do tu mà được cũng
như vậy, không có tác dụng khác biệt, cho nên không khởi lên.
Nói như vậy thì cũng khởi lên hiện rõ trước mắt.
Hỏi: Cùng khởi lên với mắt do sinh ra mà được lại có tác dụng
gì?
Đáp: Muốn dạo chơi chung với Tuệ cho nên khởi lên hiện rõ trước
mắt. Vả lại, thân Trung Hữu không phải là cảnh của mắt do sinh ra mà
được, cho nên khởi lên Thiên nhãn qua ùn xét về sự sai biệt của Trung
Hữu.
Hỏi: Sinh ở cõi Dục mà khởi l ên Thiên nhãn là mạnh hơn, hay
sinh ở cõi Sắc mà khởi lên là mạnh hơn?
Đáp: Cõi Dục đã khởi lên, bởi vì mạnh mẽ cho nên mạnh hơn, ng-
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 150 891  
www.daitangkinh.org  
hĩa là Phật- Độc giác- Thanh văn đến cuối cùng đã khởi lên Thiên nhãn
có tác dụng mạnh mẽ, không phải là sinh ở cõi Sắc mà có năng lực hiện
rõ trước mắt. Cõi Sắc đã khởi lên, bởi vì sở y cho nên mạnh hơn, nghĩa
là ở cõi ấy dựa vào th ân to lớn thù thắng tuyệt  vời, đã khởi lên Thiên
nhãn do nhiều cực vi tạo thành, không phải là trong cõi Dục mà có thể
khởi lên mắt này, cho nên hai cõi khởi lên đều có mạnh-yếu.
Hỏi: Thiên nhãn do tu mà được và mắt do sinh ra mà được, có gì
sai biệt?
Đáp: Tên gọi tức là sai biệt, đó là tên gọi thuộc Thiên nhãn, tên
gọi thuộc mắt do sinh ra mà được.
Có người nói: Thể cũng có khác nh au, đó là mắt do sinh ra mà
được, có Đồng phần và Bỉ đồng phần; Thiên nhãn do tu mà được chỉ là
Đồng phần.
Vả lại, mắt do sinh ra mà được bao gồm sự nuôi lớn và dị thục
sinh, Thiên nhãn do tu mà được chỉ là sự nuôi lớn.
Có người nói: Nhân cũng có khác nhau, đó là mắt do sinh ra mà
được là quả thuộc về Nghiệp, Thiên nhãn do tu mà được là quả thuộc
về Tu.
Hỏi: Lẽ nào không phải mắt do sinh ra mà được cũng là quả thuộc
về Tu hay sao? Đáp: Mắt ấy phần ít là quả thuộc về Tu, phần ít là quả
dị thục thuộc về Trí do sinh ra ma ø được; Thiên nhãn chỉ là quả thuộc
về Tu.
Có người nói: Thiên nhãn nhờ vào lực tác ý gia hạnh mới được
hiện rõ trước mắt, mắt do sinh ra mà được thì không như vậy.
Có người nói: Quả cũng có khác nhau, đó là mắt do sinh ra mà
được làm sở y cho Thức thiện- nhiễm và vô ký, Thiên nhãn do tu mà
được chỉ làm sở y cho Thức vô ký.
Có người nói: Cảnh cũng có khác nhau, đó là mắt do sinh ra mà
được, không nhìn thấy Trung Hữu; Thiên nhãn do tu mà được, có năng
lực nhìn thấy Trung Hữu.
Có người nói: Dụng cũng có khác nhau, đó là Thiên nhãn do tu mà
được so với mắt do sinh ra mà được, có tác dụng mạnh mẽ vi diệu thù
thắng, thanh tịnh sáng tỏ nhanh nhạy vi tế, cho nên có sai biệt.
Hỏi: Một niệm có thể khởi lên mấy Thông quả (quả thuộc thần
thông)?
Đáp: Những người có ý muốn làm cho sự hóa hiện không có lưu
lại, Thiên nhãn-Thiên nhĩ không có Bỉ đồng phần, họ nói một niệm chỉ
khởi lên một Thông quả, đó là na êm thần thông tùy theo một. Những
892 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
người có ý muốn làm cho sự hóa hiện có lưu lại, Thiên nhãn-Thiên nhĩ
không có Bỉ đồng phần, họ nói một niệm có thể khởi lên hai Thông
quả, đó là Thần cảnh thông quả và tùy theo một trong bốn loại còn lại.
Những người có ý muốn làm cho sự hóa hiện có lưu lại, Thiên nhãn-
Thiên nhĩ có Bỉ đồng phần, họ nói một niệm có thể khởi lên bốn Thông
quả, đó là Thần cảnh thông quả- Thiên nhãn- Thiên nhĩ và tùy theo một
trong hai loại còn lại, đó là Tha tâm thông- Túc trú tùy niệm thông, bởi
vì cảnh giới khác nhau cho nên không khởi lên cùng lúc.
Nói như vậy thì nên biết rằng cách nói thứ hai là hợp lý, bởi vì sự
hóa hiện có thể lưu lại, Thiên nhãn - Thiên nhĩ chắc chắn không có Bỉ
đồng phần, chủ yếu vào lúc tác dụng thì mới hiện rõ trước mắt.
Hỏi: Sắc đã hóa hiện ở cõi Dục có bốn loại, đó là quả thuộc Tĩnh
lự thứ nhất, cho đến quả thuộc Tĩnh lự thứ tư, dựa vào Tĩnh lự thứ nhất
mà đạt được Thiên nhãn, thì có thể thấy đầy đủ bốn loại sắc chăng?
Đáp: Có người nói: Thấy đầy đủ đều là do Sắc xứ của cõi Dục
thâu nhiếp.
Có người nói: Chỉ thấy quả thuộc Tĩnh lự thứ nhất chứ không phải
là nơi khác, bởi vì nhân mạnh hơn cho nên giống như nhân chứ không
phải là cảnh, quả cũng thuận theo như vậy. Dựa vào Tĩnh lự thứ hai mà
đạt được Thiên nhãn, có thể thấy sắc  của quả thuộc hai Tĩnh lự trước
chứ không phải là nơi khác; dựa vào Tĩnh lự thứ ba mà đạt được Thiên
nhãn, có thể thấy sắc của quả thuộc ba Tĩnh lự trước chứ không phải là
nơi khác; dựa vào Tĩnh lự thứ tư ma ø đạt được Thiên nhãn, có thể thấy
đầy đủ sắc của quả thuộc bốn Tĩnh lự.
Nói như vậy thì đó là cách nói thứ nhất, dựa vào Tĩnh lự thứ nhất
mà đạt được Thiên nhãn, có thể thấy sa éc của cõi Dục  và Tĩnh lự thứ
nhất; cho đến dựa vào Tĩnh lự thứ tư  mà đạt được Thiên nhãn, có thể
thấy sắc của cõi Dục và bốn Tĩnh lự.
Hỏi: Dựa vào Tĩnh lự thứ tư mà đạt được Thiên nhãn, có thể thấy
sắc của cõi Dục và bốn Tĩnh lự, là mắt thấy sắc của cõi Dục lập tức thấy
sắc của địa khác, hay la ø lại khởi lên mắt khác thấy sắc của địa khác?
Nếu mắt thấy sắc của cõi Dục lập tức thấy sắc của địa khác, thì làm sao
một mắt mà có thể thấy hai cảnh thô-tế? Nếu lại khởi lên mắt khác thấy
sắc của địa khác, thì Thiên nhãn của  Tĩnh lự thứ tư phải có năm loại,
tất cả chỉ thấy sắc của một địa, thì không nên nói là Thiên nhãn của địa
này lấy năm địa làm cảnh?
Đáp: Có người đưa ra cách nói này:  Ngay mắt thấy sắc của cõi
Dục, có thể thấy các sắc của địa khác.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 150 893  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Làm sao một mắt mà có thể thấy hai cảnh thô-tế?
Đáp: Điều này cũng không có lỗi, như thấy núi lớn thì sắc thô-tế
cùng lúc có thể thấy. Thấy sắc thô là như thấy cây lớn nhiều cành, thấy
sắc tế là như thấy cỏ nhỏ ở trong đó. Như vậy, một mắt của Tĩnh lự thứ
tư có thể thấy các sắc của năm địa, nào có lỗi gì?
Có Sư khác nói: Mắt thấy sắc của cõi Dục có khác, cho đến mắt
thấy sắc của Tĩnh lự thứ tư có khác.
Hỏi: Nếu như vậy thì Thiên nhãn của Tĩnh lự thứ tư phải có năm
loại, tất cả chỉ thấy sắc của một địa, thì không nên nói là Thiên nhãn
của địa này lấy năm địa làm cảnh?
Đáp: Thiên nhãn của một địa có năm loại khác nhau cũng không
có lỗi. Dựa theo chủng loại của địa, nói chung là một mắt thấy cảnh của
năm địa, tất cả ở trong đó mà thấy đều khác nhau.
Như chương Định Uẩn nói: “Dựa vào Tĩnh lự thứ nhất mà dẫn đến
Thiên nhãn, cao nhất có thể thấy sắc hệ thuộc nơi nào?
Đáp: Cho đến hệ thuộc cõi Phạm Thế. Dựa vào Tĩnh lự thứ hai mà
dẫn đến Thiên nhãn, cao nhất có thể th ấy sắc hệ thuộc nơi nào? Đáp:
Cho đến hệ thuộc cõi Cực Quang Tịnh. Dựa vào Tĩnh lự thứ ba mà dẫn
đến Thiên nhãn, cao nhất có thể thấy sắc hệ thuộc nơi nào? Đáp: Cho
đến hệ thuộc cõi Biến Tịnh. Dựa vào Tĩnh lự thứ tư mà dẫn đến Thiên
nhãn, cao nhất có thể thấy sắc hệ thuộc nơi nào? Đáp: Cho đến hệ thuộc
cõi Quảng Quả.”
Hỏi: Chiều ngang xa nhất nhìn thấy được bao nhiêu?
Đáp: Có người nói: Như nhìn thấy phía trên. Có người nói: Chiều
ngang nhìn thấy thì rộng.
Nói như vậy thì văn ấy tạm thời  nói đến phạm vi nhìn thấy phía
trên, không nói đến cảnh thuộc chiều ngang. Nhưng tùy theo thế lực của
căn nhìn thấy theo chiều ngang không nhất định, có xa- có gần như nơi
khác nói.
Luận Thi Thiết nói: “Như cõi trời Tứ Đại Vương Chúng dùng trí-
dùng kiến để hiểu rõ đối với loài người, loài người đối với cõi trời Tứ
Đại Vương Chúng thì không có thể như vậy, trừ ra có tu - có thần thông,
hoặc là nhờ vào uy lực khác; cho đến c õi trời Tha Hóa Tự Tại đối với
loài người cũng như vậy, nghĩa là c õi trời Tứ Đại Vương Chúng…cũng
là cảnh thuộc mắt của loài người, bởi vì hệ thuộc cùng một cõi. Nhưng
bởi vì rất xa cho nên không thể nào nhìn thấy, nếu đạt được thần thông
thì tự mình có thể đi đến nhìn thấy, hoa ëc là nhờ vào lực khác dẫn đến
nơi ấy thì có thể nhìn thấy.”
894 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Hỏi: Nếu chư Thiên cõi ấy đến nơi  này thì có thể nhìn thấy hay
không?
Đáp: Nhìn thấy.
Hỏi: Nếu như vậy thì trong luận ấy vì sao không nói?
Đáp: Bởi vì cảnh giới ít cho nên không nói. Lại nữa, đây chính là
thâu nhiếp ở trong lực khác dẫn dắt, cho nên không nói riêng biệt.
Lại trong luận ấy nói: “Như cõi trời Phạm Chúng dùng trí - dùng
kiến để hiểu rõ đối với loài người, loài người đối với cõi trời Phạm
Chúng thì không có thể như vậy, trừ ra có tu- có thần thông, hoặc là nhờ
vào uy lực khác; cho đến cõi trời Sắc Cứu Cánh đối với loài người cũng
như vậy.”
Hỏi: Luận ấy đã nói là trừ ra có tu thì sự việc này có thể như vậy,
tại sao có thể nói là trừ ra có thần thông, hoặc là nhờ vào uy lực khác?
Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tuy là có thần thông, hoặc là nhờ vào uy lực
khác dẫn dắt có thể đến được c õi trời ấy, nhưng nếu không có Thiên
nhãn thì không có thể nhìn thấy; nếu có Thiên nhãn thì tuy không đến
cõi trời ấy mà cũng có thể nhìn thấy.
Đáp: Luận ấy chỉ cần nói là trừ ra có tu, mà lại nói có những loại
khác, là có ý nghĩa khác. Đó la ø dựa vào những Phạm Thiên ở phương
khác mà nói, sắc của những Ph ạm Thiên ở phương khác cũng là dựa
vào những cảnh giới như Tĩnh lự thứ nhất… của phương này mà dẫn đến
Thiên nhãn, nhưng bởi vì rất xa cho nên tuy đạt được mắt ấy mà không
có thể nhìn thấy cõi ấy. Nếu tự mình có thần thông, hoặc là nhờ vào lực
khác mà dẫn đến cõi ấy thì mới có thể dùng Thiên nhãn để nhìn thấy.
Trừ ra có tu là hiển bày về đạt được Thiên nhãn, nói đến hai câu sau
là hiển bày về Nhân đến được cõi a áy, cho nên luận ấy đã nói là có ý
nghĩa khác.
Luận Thi Thiết ấy lại đưa ra cách nói này: “Trong Tĩnh lự thứ nhất
có ba cõi trời, đó là Phạm Chúng- Phạm Phụ và Đại Phạm Thiên.”
Hỏi: Ba cõi trời như vậy có nhìn thấy lẫn nhau hay không?
Đáp: Những cõi trời ấy nhìn thấy lẫn nhau.
Hỏi: Trong kinh đã nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Phạm Vương
có được tự Thể giống như hình dáng của Đồng tử, không phải là cảnh
giới của Thiên nhãn cõi Phạm Chúng.”
Đáp: Là cảnh của mắt ở cõi ấy mà do lực thần thông của Đại Phạm
Vương đã ngăn che khiến cho chư Thiên cõi ấy không nhìn thấy.
Tĩnh lự thứ hai có ba cõi trời, đó là Thiểu Quang- Vô Lượng Quang
và Cực Quang Tịnh.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 150 895  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Ba cõi trời như vậy có nhìn thấy lẫn nhau hay không?
Đáp: Những cõi trời ấy nhìn thấy lẫn nhau.
Tĩnh lự thứ ba có ba cõi trời, đó là Thiểu Tịnh- Vô Lượng Tịnh và
Biến Tịnh.
Hỏi: Ba cõi trời như vậy có nhìn thấy lẫn nhau hay không?
Đáp: Những cõi trời ấy nhìn thấy lẫn nhau.
Tĩnh lự thứ tư có tám cõi trời, đó là đó là Vô Vân- Phước Sinh-
Quảng Quả, Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Hiện, Thiện Kiến và Sắc Cứu
Cánh.
Hỏi: Tám cõi trời như vậy có nhìn thấy lẫn nhau hay không?
Đáp: Những cõi trời ấy nhìn tha áy lẫn nhau, bởi vì hệ thuộc cùng
một cõi.
Luận Pháp Uẩn nói: “Ở xung quanh ma ét có thời gian-có phạm vi,
Đại chủng của cõi Sắc  đã tạo ra Thiên nhãn thanh tịnh hiện rõ trước
mắt, nhờ vào Thiên nhãn này có thể nhì n thấy các sắc sai biệt ở trước
sau- trái phải- trên dưới. Nhìn thấy các sắc trước sau- trái phải, bởi vì
không phải là do tường-đá… mà chướng nga ïi. Nhìn thấy các sắc phía
dưới, bởi vì không phải là do đất-nước…mà chướng ngại. Nhìn thấy các
sắc phía trên, bởi vì không phải là do mây mù…mà chướng ngại.”
Hỏi: Thiên nhãn như vậy có thể ở trong một lúc lập tức nhìn thấy
cảnh của các sắc ở mười phương hay không?
Đáp: Có người nói: Có thể nhìn thấy, bởi vì Nhãn căn của loài trời
sáng ngời trong suốt, tự nhiên soi chiếu khắp nơi; như ngọc quý Mạt-ni
phát ra ánh sáng kha ép nơi. Có người nói: Không có thể trong một lúc
lập tức nhìn thấy khắp nơi.
Hỏi: Luận Pháp Uẩn đã nói nên hiểu thế nào?
Đáp: Luận ấy nói đến Thiên nhãn không ngăn cách bởi các
phương, chứ không phải là nói Thiên nha õn ấy có thể trong một lúc lập
tức nhìn thấy. Nghĩa là mắt của lo ài người chỉ có thể nhìn thấy sắc ở
trước mặt, muốn nhìn thấy phương khác  thì cần phải xoay chuyển cúi
xuống-ngước lên mới nhìn thấy; Thiên nhãn thì không như vậy, mặt
hướng về một phương tùy theo ý muốn có thể nhìn thấy mà không cần
phải xoay chuyển. Vì vậy nói là có thể nhìn thấy các phương trên dưới,
chứ không phải là nói trong một lúc mà nhìn thấy mười phương.
Có người đưa ra cách nói này: Ý thanh tịnh cho nên nhìn thấy.
Hỏi: Ý thanh tịnh là Tín, tức là tâm sở pháp tương ưng với tâm,
pháp này không phải là Thể của thấy, làm sao có thể nhìn thấy?
Đáp: Đó là dựa vào ý bí mật mà nói đến Ý căn không có gì rối
896 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
loạn. Nghĩa là nếu Ý căn không rong ruổi theo nơi khác, lìa xa những
duyên rối loạn, thì có thể khiến cho Nhãn căn nhìn thấy sắc rõ ràng, cho
nên đưa ra cách nói này.
Có người đưa ra cách nói này: Thắng giải cho nên nhìn thấy.
Hỏi: Đã nói Thắng giải là tâm sở pháp tương ưng với tâm, pháp
này không phải là Thể của thấy, làm sao có thể nhìn thấy?
Đáp: Dựa vào ý thích của Sư Du-già mà an lập, cho nên đưa ra
cách nói này. Nghĩa là Sư Du-già khởi lên ý thích này, khiến cho mình
trong một niệm nhìn thấy sắc của mười phương. Nhưng có thể nhìn thấy
sắc lại không phải là Thắng giải.
Lại trong luận Thi Thiết đưa ra  cách nói như vậy: “Có những
người đang tiến vào Định thuộc Biến xứ màu xanh, từ Định ấy đứng
lên mà thấy đều là màu xanh. Lại do trải qua thời gian dài ở trong rừng
xanh, sau đó ra ngoài đi đến nơi kha ùc mà thấy đều là màu xanh.” Dựa
vào đây mà nói là Thắng giải cho nên nhìn thấy.
Có người đưa ra cách nói này: Ngay Nhãn căn của loài người
chuyển làm Thiên nhãn, có thể nhìn thấy không ngăn ngại gì.
Đây là do ngoại đạo Số Luận đã lập ra, họ đưa ra cách nói này:
Thiên nhãn đã khởi lên tức là ma ét của loài người, thường xuyên luyện
tập chuyển biến rõ ràng trong sáng hơn tr ước, lập ra tên gọi là Thiên.
Như thực hành trong rừng xanh của vùng Trung Ấn Độ, hoặc là trải qua
mười ngày mới đi ra ngoài, do thường xuyên luyện tập mà thay đổi,
ngước mắt nhìn đều là màu xanh; lúc tu Thiên nhãn cũng lại như vậy.
Nếu như vậy là người mù sẽ không có thể tu pháp Thiên nhãn
thông này, thì cùng với Thánh giáo và sự việc hiện thấy thảy đều trái
ngược nhau. Vả lại, pháp Vô thường làm sao chuyển biến, bởi vì tất cả
Thiên nhãn đều gọi là Vô đối, các vật như tường đá…không có thể ngăn
ngại.
Hỏi: Tất cả Thiên nhãn đối với sắc  đã nhìn thấy là có ngăn ngại
hay không? Nếu có ngăn ngại thì ta ïi sao nói là Vô đối? Nếu không có
ngăn ngại thì làm sao trú vào sắc ấy?
Đáp: Đối với sắc đã nhìn thấy nên nói là có ngăn ngại.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao gọi là Vô đối?
Đáp: Đối có hai loại: 1. Cảnh giới có đối; 2. Chướng ngại có đối.
Nếu dựa vào cảnh giới có đối thì Thiên nhãn gọi là có đối, bởi vì đối với
cảnh giới của mình không có thể vượt  qua được. Nếu dựa vào chướng
ngại có đối thì Thiên nhãn gọi là Vô đối, bởi vì những chướng ngại như
tường đá… không có thể ngăn ngại được. Đây là dựa theo tác dụng  đối
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 150 897  
www.daitangkinh.org  
với cảnh mà nói. Nếu dựa theo tự Thể thì cũng là do chướng ngại có đối
thâu nhiếp, bởi vì là tánh cực vi. Vả lại, các Thiên nhãn ở trong cảnh
giới, các Sư Du-già tự tại tùy theo ý muốn, đối với những gì muốn nhìn
thấy thì có đối đãi ngăn ngại, những gì không muốn nhìn thấy thì không
có đối đãi ngăn ngại.
Tất cả Thiên nhãn có ánh sáng tăng mạnh, do ánh sáng mà   dẫn
dắt.
Hỏi: Lúc Thiên nhãn muốn nhìn thấy sắc trong bóng tối thì   làm
sao có thể nhìn thấy?
Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Đây là do thần thông dẫn dắt
phát khởi ánh sáng có thể nhìn thấy sắc ấy. Điều này không hợp lý, bởi
vì không đạt được thần thông thì lẽ ra không có thể tu khởi lên Thiên
nhãn.
Nói như vậy là lúc bắt đầu da ãn đến thần thông, nếu tách lìa ánh
sáng thì không có thể nhìn thấy sắc, nếu thần thông thành tựu đầy đủ thì
giả sử tách lìa ánh sáng cũng có thể nhìn thấy sắc.
Hỏi: Thần thông và Thiên nhãn đều có ánh sáng, có gì sai biệt?
Đáp: Ánh sáng của thần thông, hoặc là do tự tánh mà có, hoặc là
do biến hóa mà có; ánh sáng của Thiên nhãn chỉ do tự tánh mà có.
Có người đưa ra cách nói này: Ánh sáng của Thiên nhãn, hoặc là
do tự tánh mà có, hoặc là do biến hóa mà có; ánh sáng của thần thông
chỉ do biến hóa mà có.
Trong các Tố-đát-lãm và Tỳ-nại -da, đều nói Bồ-tát thành tựu
Thiên nhãn do dị thục sinh, ngày đêm c ó thể nhìn thấy trước mặt đều
một Du-thiện-na.
Hỏi: Mắt của Bồ-tát do dị thục sinh mà thành, thật sự không phải
là Thiên nhãn, vì sao lập ra tên gọi này?
Đáp: Nhãn căn của Bồ-tát c ó Thể-Dụng thù thắng, như sự việc
thù thắng ở thế gian giả lập tên gọi là Thiên.
Hỏi: Các hữu tình khác cũng có thể nhìn thấy vật xa như núi rừng-
mặt trời-mặt trăng…, Bồ-tát chỉ nhì n thấy trước mặt đều một Du-thiện-
na, vì sao gọi là thù thắng?
Đáp: Như những gì hữu tình đã nhìn thấy, Bồ-tát cũng có thể nhìn
thấy trước mặt đều một Du-thiện-na, là dựa theo không có gì ngăn cách
mà nói. Nghĩa là ở nơi không có gì ngăn cách thì các hữu tình khác tuy
có thể nhìn thấy xa, nhưng nếu ở nơi có ngăn cách thì vật nằm trong bàn
tay mình cũng không thể nào nhìn thấy được; Bồ-tát thì không như vậy,
nhìn thấy trước mặt đều một Du-thiện-na, nơi có ngăn cách hay  không
898 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
có ngăn cách đều có thể nhìn thấy rõ ràng.
Lại nữa, những hữu tình khác tuy có thể nhìn thấy xa, nhưng chỉ
là thô chứ không phải là tế; Bồ-ta ùt thì không như vậy, bởi vì nhìn thấy
trước mặt đều một Du-thiện-na, tha äm chí đầu mảy lông cũng có thể
nhìn thấy được.
Lại nữa, những hữu tình khác tuy có thể nhìn thấy xa, nhưng chỉ
là ban ngày chứ không phải là ban đêm; Bồ-tát thì không như vậy, bởi
vì nhìn thấy trước mặt đều một Du-thiện-na, ban ngày hay ban đêm đều
nhìn thấy rõ ràng.
Có người nói: Đối với những hữu tình khác đã nhìn thấy có xa-
gần, Bồ-tát vượt quá một Du-thiện-na ấy, cho nên đưa ra cách nói như
vậy.
Hỏi: Bồ-tát thành tựu mắt th anh tịnh như vậy, thì phải nhìn thấy
thân người nữ chứa đầy bất tịnh, tại sao có sự việc của tập khí nhiễm
ô?
Đáp: Hiếp Tôn giả nói: “Phiền não của Bồ-tát chưa đoạn-chưa
biết khắp, vì vậy vẫn còn bị vô minh làm cho mê mờ, điều này không
cần phải vặn hỏi; như không cần vặn hỏi vì sao người vô minh, người
ngu si, người mù lòa bị rơi xuống hố.”
Có người nói: Bồ-tát nhiễm tập khí ấy ở vào lúc không quán Bất
tịnh, lúc quán Bất tịnh thì không nhiễm tập khí ấy.
Có người nói: Bồ-tát ở đời trước đã từng gieo trồng nghiệp thọ
dụng thù thắng, đối với những gì thọ dụng thì không thấy bất tịnh, đối
với những gì không thọ dụng thì thấy bất tịnh.
Nói như vậy là Bồ-tát thành tựu trí tuệ nhanh nhạy sắc bén, khéo
léo quán xét sự sai biệt của công đức và lỗi lầm. Thân của những người
nữ cũng chứa đựng đầy đủ công đức và lỗi lầm, lúc Bồ-tát quán sát về
công đức của thân nữ thì hơn hẳn đối với tất cả những người đam mê
dục lạc, nếu đang lúc quán sát về lỗi lầm của thân nữ thì hơn hẳn đối
với tất cả những người quán bất tịnh. Quán sát về công đức của thân nữ
cho nên có nhiễm tập khí.
Hỏi: Mắt của Chuyển Luân Vương có thể nhìn thấy đến đâu?
Đáp: Luân Vương cai quản bốn châu thì trước mặt đều có thể nhìn
thấy bốn Câu-lô-xá, cho đến Luân Vương cai quản một châu thì trước
mặt đều có thể nhìn thấy một Câu-lô-xá.
Hỏi: Mắt của quan chủ quản kho tàng có thể nhìn thấy đến đâu?
Đáp: Quan của Luân Vương cai  quản bốn châu thì nhìn thấy ba
Câu-lô-xá, cho đến quan của Luân Vương cai quản một châu thì   nhìn
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 150 899  
www.daitangkinh.org  
thấy nửa Câu-lô-xá.
Như trong kinh nói: “Luân Vương c ó lúc muốn thử xem uy lực
của quan chủ quản kho tàng đến mức nào, đi thuyền dạo chơi giữa sông
Căng-già, truyền lệnh cho quan chủ quản kho tàng rằng: Nay Ta cần
đến kho báu. Quan vâng dạ cung kí nh, thỉnh cầu trở về lo liệu. Luân
Vương không vừa lòng, nói rằng: Ngay bây giờ cần phải lo liệu. Quan
chủ quản kho tàng hoảng sợ liền dùng hai tay thọc vào trong nước, lập
tức lấy ra các loại châu báu, mang đến để dâng lên Luân Vương, lại
thưa với Luân Vương rằng: Thứ nào cần đến thì có thể giữ lấy, thứ nào
không cần đến thì vứt trở lại trong nước.”
Hỏi: Nhãn căn của Luân Vương hơn hẳn quan chủ quản kho tàng,
vì sao không tự mình lấy mà khiến quan chủ quản phải lấy?
Đáp: Pháp của những người tôn q uý thù thắng cần phải như vậy;
như những người tôn quý khác tuy có người tự biết đồ ăn thức uống-áo
quần-vật dụng tiền bạc ở chỗ đó, mà không tự mình lấy, ở đây cũng
như vậy.
Có Sư khác nói: Các vị Chuyển Luân Vương cảm đến nghiệp bề
tôi hầu hạ đã tích tập ở đời khác, nghiệp ấy bây giờ chín muồi, có những
điều gì cần đến thì đều có bề tôi khiến cho họ cung cấp lo liệu; nếu
Luân Vương tự mình lấy thì nghiệp trở thành trống rỗng.
Hỏi: Dựa vào luận mà sinh ra luận, như thế nào gọi là các vị
Chuyển Luân Vương cảm đến nghiệp bề tôi hầu hạ?
Đáp: Cha mẹ và thầy dạy đúng như pháp mà dạy dỗ, cung kính
nghe theo không làm trái, đó là nghiệp này. Nếu trước kia đã từng huân
tập nghiệp loại như vậy, thì cảm được nhiều bề tôi hầu hạ, những gì
mong muốn đều được lo liệu đầy đủ.
Hỏi: Từng nghe nước sông Căng-già  có chỗ sâu đến một Du-
thiện-na, làm sao tay của quan chủ quản kho tàng đưa đến thấu đáy để
lấy các loại châu báu?
Đáp: Bởi vì lực tăng thượng do nghiệp của Luân Vương, cho nên
khiến châu báu dâng lên cao.
Có người nói: Dược-xoa, Kiền-đạt-phược…mang đến trao cho.
Có người nói: Luôn luôn có mười nga øn Thiên thần đi theo quan
chủ quản kho tàng để cho quan chủ quản sai khiến, những Thiên thần
ấy mang đến trao cho.
Hỏi: Vì sao quan chủ quản kho ta øng thưa với Luân Vương rằng:
Thứ nào không cần đến thì nên vứt trở lại trong nước? Đáp: Bởi vì hiển
bày về nghiệp quả của Luân Vương là không nghĩ bàn được, có những
900 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
gì cần đến thì ở mọi nơi đều có thể đạt được, không giống như loại khác
sợ rằng duyên của thân mạng, sẽ có thiếu thốn mà tích tụ trải qua thời
gian dài.
Hỏi: Thiên nhãn của Thanh văn-Đ ộc giác và Phật có thể nhìn
thấy sắc của mấy thế giới?
Đáp: Thiên nhãn của Thanh văn không thực hiện gia hạnh chỉ
nhìn thấy Tiểu thiên thế giới, nếu thực hiện gia hạnh thì nhìn thấy Trung
thiên thế giới; Thiên nhãn của Đo äc giác không thực hiện gia hạnh chỉ
nhìn thấy Trung thiên thế giới, nếu thực hiện gia hạnh thì nhìn thấy Đại
thiên thế giới; Thiên nhãn của Đức Thế Tôn không thực hiện gia hạnh
nhìn thấy Đại thiên thế giới, nếu thực hiện gia hạnh thì có thể nhìn thấy
vô lượng vô biên thế giới. Như Th iên nhãn thông, Thiên nhĩ thông…
cũng như vậy.
Địa ngục thành tựu mấy căn? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao trong này chỉ nói đến phần vị thành tựu nhiều nhất và
ít nhất chứ không phải là phần vị khác?
Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến
nói rộng ra.
Có người nói: Muốn loại trừ lỗi tạp loạn của văn, nghĩa là nếu nói
đầy đủ tất cả phần vị, thì đối với văn tạp loạn khó có thể thọ trì, cho nên
dựa vào giới hạn nhiều-ít mà nói.
Hỏi: Địa ngục thành tựu mấy căn? Bàng sinh cho đến các địa Vô
sắc, Tùy tín hành cho đến Câu giải thoát thành tựu mấy căn?
Đáp: Địa ngục nhiều nhất là mười ch ín căn, ít nhất là tám căn.
Mười chín căn, đó là trừ ra ba căn Vô lậu, tức là người không đoạn căn
thiện, có đủ bảy Sắc căn. Tám căn,  đó là Thân-Mạng-Ý và năm Thọ
căn, tức là người đã đoạn căn thiện, mất đi sáu Sắc căn.
Bàng sinh nhiều nhất là mười chín  căn, ít nhất là mười ba căn.
Mười chín căn, đó là trừ ra ba căn Vô lậu, tức là người  có đủ bảy Sắc
căn. Mười ba căn, đó là Thân-Mạng-Ý-năm Thọ và năm căn như Tín…,
tức là người từ từ mạng chung trước tiên rời bỏ sáu Sắc căn.
Như nói về bàng sinh, loài quỷ cũng như vậy.
Người đoạn căn thiện nhiều nhất là mười ba căn, ít nhất là tám
căn. Mười ba căn, đó là trừ ra một hình thể và năm căn như Tín…, ba căn
Vô lậu. Tám căn, đó là Thân-Mạng-Ý và năm Thọ căn, tức là người từ
từ mạng chung và ở địa ngục đã mất đi sáu Sắc căn.
Tụ Tà định nhiều nhất là mười chín căn, ít nhất là tám căn. Mười
chín căn, nói như nhiều nhất của địa ngục. Tám căn, nói như ít nhất của
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 150 901  
www.daitangkinh.org  
đoạn căn thiện, trừ ra ở địa ngục mất đi sáu Sắc căn.
Tụ Chánh định nhiều nhất là mười chín căn, ít nhất là mười một
căn. Mười chín căn, đó là trừ ra một  hình thể và hai căn Vô lậu, tức
là Thánh giả chưa lìa nhiễm cõi  Dục và căn không khuyết. Mười một
căn, đó là Mạng-Ý-ba Thọ-năm căn như Tín…và một căn Vô lậu, tức là
Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc.
Tụ Bất định nhiều nhất là mười chín căn, ít nhất là tám căn. Mười
chín căn, nói như nhiều nhất của t ụ Tà định. Tám căn, nói như ít nhất
của đoạn căn thiện, và dị sinh sinh ở cõi Vô sắc thành tựu Mạng-Ý-Xả-
năm căn như Tín…
Châu Thiệm bộ nhiều nhất là mười ch ín căn, ít nhất là tám căn.
Mười chín căn, đó là hai hình thể trừ ra ba căn Vô lậu, và Thánh giả
chưa lìa nhiễm cõi Dục trừ ra một hình thể-hai căn Vô lậu. Tám căn, đó
là Thân-Mạng-Ý và năm Thọ ca ên, tức là người đoạn căn thiện ở phần
vị từ từ mạng chung.
Như châu Thiệm bộ, châu Tỳ-đề-ha và châu Cù-đà-ni cũng   như
vậy.
Châu Câu-lô nhiều nhất là mười tám căn, ít nhất là mười ba căn.
Mười tám căn, đó là trừ ra một hình thể và ba căn Vô lậu. Mười ba căn,
đó là Thân-Mạng-Ý-năm Thọ và năm căn như Tín…, tức là phần vị từ từ
mạng chung. Châu ấy không có Phiến- trĩ-bán-trạch-ca, không có hình
thể, hai hình thể, người đoạn căn thi ện, tụ Tà định, tụ Chánh định và
lìa nhiễm.
Cõi trời Tứ Đại Vương Chúng nhiều nhất là mười chín căn, ít nhất
là mười bảy căn. Mười chín căn, đó la ø trừ ra một hình thể và hai căn
Vô lậu, tức là Thánh giả chưa lìa nhiễm cõi Dục. Mười bảy căn, đó là
trừ ra một hình thể-Ưu căn và ba căn Vô lậu, tức là dị sinh đã lìa nhiễm
cõi Dục.
Như cõi trời Tứ Đại Vương Chúng, cõi trời Tam Thập Tam cho
đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại cũng như vậy.
Cõi trời Phạm Chúng nhiều nhất là mười sáu căn, ít nhất là mười
lăm căn. Mười sáu căn, đó là trừ ra hai hình thể-hai Thọ và hai căn Vô
lậu, tức là Thánh giả ở cõi ấy. Mười lăm căn, đó là trừ ra hai hình thể-
hai Thọ và ba căn Vô lậu, tức là dị sinh ở cõi ấy.
Như cõi trời Phạm Chúng, cõi trời Cực Quang Tịnh cũng như
vậy.
Cõi trời Biến Tịnh nhiều nhất là mười sáu căn, ít nhất là mười bốn
căn. Mười sáu căn nói như trước. Mười bốn căn, đó là trừ ra hai hình
902 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
thể-ba Thọ và ba căn Vô lậu, tức là dị sinh ở cõi ấy.
Cõi trời Quảng Quả nhiều nhất  là mười sáu căn, ít nhất là mười
ba căn. Mười sáu căn nói như trước. M ười ba căn, đó là trừ ra hai hình
thể-bốn Thọ và ba căn Vô lậu, tức là dị sinh ở cõi ấy.
Trung Hữu nhiều nhất là mười chín  căn, ít nhất là mười ba căn.
Mười chín căn, đó là người hai hình thể trừ ra ba căn Vô lậu, và Thánh
giả chưa lìa nhiễm cõi Dục, trừ ra một hình thể-hai căn Vô lậu. Mười ba
căn, đó là người đoạn căn thiện, trừ ra một hình thể-năm căn như Tín…,
ba căn Vô lậu, và dị sinh cõi trời  Quảng Quả, trừ ra hai hình thể-bốn
Thọ-ba căn Vô lậu.
Các địa Vô sắc nhiều nhất là mươ øi một căn, ít nhất là tám căn.
Mười một căn, đó là Mạng-Ý-ba Thọ-năm căn như Tín… và một căn Vô
lậu, tức là Thánh giả ở địa ấy. Tám căn, đó là Mạng-Ý-Xả và năm căn
như Tín…, tức là dị sinh ở địa ấy.
Tùy tín hành nhiều nhất là mười chín căn, ít nhất là mười ba căn.
Mười chín căn, đó là trừ ra một hình thể và hai căn Vô lậu, tức là người
chưa lìa nhiễm cõi Dục trú vào Ki ến đạo. Mười ba căn, đó là Thân-
Mạng-Ý-bốn Thọ-năm căn như Tín… và một căn V ô lậu, tức là người
đã lìa nhiễm cõi Dục ở phần vị từ từ mạng chung tiến vào Kiến  đạo.
Hỏi: Vì sao phần vị này có thể tiến vào Kiến đạo?
Đáp: Là người thuộc Ái hành, tron g thời gian một đời luôn luôn
chán ngán sinh tử, lúc sắp mạng c hung do tiếp xúc với Khổ thọ, tâm
chán ngán càng tăng thêm cho nên có thể tiến vào Kiến đạo.
Như Tùy tín hành, Tùy pháp hành cũng như vậy.
Tín thắng giải nhiều nhất là mười  chín căn, ít nhất là mười một
căn. Mười chín căn, đó là trừ ra một hình thể và hai căn Vô lậu, tức là
Tín thắng giải chưa lìa nhiễm cõi Dục. Mười một căn, đó là Mạng-Ý-ba
Thọ-năm căn như Tín… và một căn Vô lậu, tức là Tí n thắng giải ở cõi
Vô sắc.
Như Tín thắng giải, Kiến chí cũng như vậy.
Thân chứng nhiều nhất là mười tám căn, ít nhất là mười một căn.
Mười tám căn, đó là trừ ra một hình thể-Ưu căn và hai căn Vô lậu, tức
là Thân chứng ở cõi Dục. Mười một  căn, nói như ít nhất của Tín thắng
giải.
Như Thân chứng, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát cũng như vậy,
nhưng Thân chứng thành tựu Dĩ tri căn, hai Giải thoát thành tựu Cụ tri
căn.
Hỏi: Nhãn căn cho đến Tuệ căn, lúc được biết khắp thì mấy  căn
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 150 903  
www.daitangkinh.org  
được biết khắp?
Đáp: Lúc Nhãn căn biết khắp, đến lìa nhiễm cõi Sắc có năm căn
được biết khắp.
Trong này, biết khắp là quả biết khắp về Đoạn Ái kia. Được biết
khắp gọi là năm căn, đó là Nhãn-Nhĩ -Tỷ-Thiệt-Thân, bởi vì lúc lìa
nhiễm cõi Sắc thì năm căn ấy vĩnh viễn đoạn. Tuy ở phần vị này đoạn
mười ba căn, nhưng chỉ có năm căn này được đoạn đến cuối cùng.
Như Nhãn căn, Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân căn cũng như vậy.
Lúc Nữ căn được biết khắp, đến lìa  nhiễm cõi Dục có bốn căn
được biết khắp, đó là Nam-Nữ-Khổ-Ưu  căn. Tuy ở phần vị này đoạn
mười chín căn, nhưng chỉ có bốn căn này được đoạn đến cuối cùng.
Như Nữ căn, Nam căn-Khổ căn-Ưu căn cũng như vậy.
Lúc Mạng căn được biết khắp, đến lìa nhiễm cõi Vô sắc có tám
căn được biết khắp, đó là Mạng-Ý-Xả và năm căn như Tín…
Như Mạng căn, Ý căn-Xả căn và năm căn như Tín… cũng như
vậy.
Lúc Lạc căn được biết khắp, đến lìa nhiễm cõi Biến Tịnh thì Lạc
căn được biết khắp.
Lúc Hỷ căn được biết khắp, đến lìa nhiễm cõi Cực Quang Tịnh thì
Hỷ căn được biết khắp.
Hỏi: Nhãn căn cho đến Tuệ căn, lúc Diệt tác chứng thì mấy căn
Diệt tác chứng?
Đáp: Lúc Nhãn căn Diệt tác chứng, đến lìa nhiễm cõi Sắc có năm
căn Diệt tác chứng, đến A-la-hán c ó mười chín căn Diệt tác chứng.
Năm căn, đó là Nhãn-Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân căn. Mười chín căn, đó là trừ
ra ba căn Vô lậu.
Như Nhãn căn, Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân căn cũng như vậy.
Lúc Nữ căn Diệt tác chứng, đến lìa nhiễm cõi Dục có bốn căn
Diệt tác chứng, đến A-la-hán có mười chín căn Diệt tác chứng. Bốn căn,
đó là Nam-Nữ-Khổ-Ưu căn. Mười chín căn, nói như trước.
Như Nữ căn, Nam căn-Khổ căn-Ưu căn cũng như vậy.
Lúc Mạng căn Diệt tác chứng, đến A-la-hán có mười chín căn
Diệt tác chứng, nói như trước. Như Mạng căn, Ý căn-Xả căn và năm
căn như Tín… cũng như vậy.
Lúc Lạc căn Diệt tác chứng, đến lìa nhiễm cõi Biến Tịnh thì Lạc
căn Diệt tác chứng, đến A-la-hán có mười chín căn Diệt tác chứng, nói
như trước.
Lúc Hỷ căn Diệt tác chứng, đến lìa nhiễm cõi Cực Quang Tịnh thì
904 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Hỷ căn Diệt tác chứng, đến A-la-hán có mười chín căn Diệt tác chứng,
nói như trước.
Hỏi: Hai phần này có gì sai biệt?
Đáp: Có những người muốn làm cho đạo vô gián đạt được đoạn hệ
thuộc (đoạn hệ đắc), đạo giải thoát chứng được lìa hệ thuộc (ly hệ đắc),
họ nói như tác dụng của đạo vô gián, phần Biết khắp cũng như vậy; như
tác dụng của đạo giải thoát, phần Tác chứng cũng như vậy.
Có những người muốn làm cho đạo vô gián đạt được đoạn hệ
thuộc, cũng chứng được lìa hệ thuộc, họ nói như đạt được đoạn hệ thuộc,
phần Biết khắp cũng như vậy; như chứng được lìa hệ thuộc, phần Tác
chứng cũng như vậy.
Như đạt được đoạn hệ thuộc-chứng được lìa hệ thuộc, trừ bỏ lỗi
lầm-tu tập công đức, rời bỏ xa áu kém-chứng được tuyệt vời, buông bỏ
vô nghĩa-đạt được có nghĩa, khô cạn dầu mỡ của ái-tiếp nhận niềm vui
mát mẻ, nên biết cũng như vậy.
Có người nói: Như đoạn-chưa đoạn, phần đầu cũng như vậy; như
chứng-chưa chứng, phần sau cũng như vậy.
Có người nói: Như lần đầu Tác  chứng, phần đầu cũng như vậy;
như trở lại Tác chứng, phần sau cũng như vậy.
Có người nói: Như đoạn thì Tác chứng, phần đầu cũng như vậy;
như đoạn rồi Tác chứng, phần sau cũng như vậy.
Đó gọi là sự sai biệt giữa Biết khắp và Tác chứng.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt