VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 150Quyển 152 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 151

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

五百大阿羅漢等造
三藏法師玄奘奉 詔譯
4 等心納息1
根蘊第六中等心納息第四之一
一切有情心。當言等起。等住。等滅耶。如
是等章。及解章義既領會已。當廣分別。問
何故作此論。答欲令疑者得決定故。謂諸
有情或有身形廣大。或有身形狹小。身形廣
大者。如大海中有諸有情所得自體其量廣
大。或百踰繕那。或二三四五六七百。或乃至
二十一百踰繕那。如曷邏呼阿素洛帝形量
廣大。長十六千踰繕那。如色究竟天身量身
形狹小者如蚊蟻蠛蠓水醋細蟲。諸明眼人
雖極作意亦不能見。勿有生疑。身廣大
者心亦廣大。身狹小者心亦狹小。欲令此疑
得決定故。顯有情類大種所造色。雖有多
少而心皆等故作斯論。又諸有情或有行
動捷速。或有行動遲緩。行動捷速者。如馬
鹿猫狸等。行動遲緩者。如蠐螬蚯蚓等。勿
有生疑。行動速者心生滅速。行動遲者心
生滅遲。為令此疑得決定故。顯諸有情雖
大種所造色動有遲速。而心生滅無不皆
等。又諸有情或有威儀輕躁。猶若風颷覺
慧漂轉如波上日。或有威儀敦重猶如山
嶽。覺慧沈靜如密室燈。勿有生疑。威儀輕
躁覺慧漂轉者心生滅速。威儀敦重覺慧沈

靜者心生滅遲。為令此疑得決定故。顯諸
有情雖威儀有輕重覺慧有浮沈。而心無
不等生等滅。問若諸有情心等生滅。何故威
儀有輕重覺慧有浮沈耶。答有諸有情於
多境界有多心起。有諸有情於一境界有
多心起。若諸有情於多境界起多心者。則
威儀輕躁覺慧漂轉。若諸有情於一境界起
多心者。則威儀敦重覺慧沈靜。由此等緣
故作斯論。一切有情心當言等起等住等
滅耶。答如是。問為一切有情心等生等滅。
彼一切一剎那生一剎那滅耶。為非一切有
情心等生等滅。亦非一切一剎那生一剎那
滅耶。設爾何過。若一切有情心等生等滅。彼
一切一剎那生一剎那滅者。有心位可爾。無
心位云何。謂入無想滅盡定時。餘有情心亦
生亦滅。彼心滅而不生。出無想滅盡定時。
餘有情心亦滅亦生。彼心生而不滅。住無想
滅盡定時。餘有情心亦生亦滅。彼心不生不
滅。云何可說心生滅等同一剎那。若非一
切有情心等生等滅。亦非一剎那生一剎那
滅者。此中所說當云何通。謂一切有情心等
起住滅。答應作是說。一切有情心等生等
滅。彼一切一剎那生一剎那滅。問有心位可
爾。無心位云何。答有心位可爾。無心位亦
可爾。謂入無想滅盡定時。如餘有情心生
彼最初剎那定亦生。如餘有情心滅。彼入定
心亦滅。出無想滅盡定時。如餘有情心生。
彼出定心亦生。如餘有情心滅。彼最後剎那
定亦滅。住無想滅盡定時。如餘有情心剎

那剎那亦生亦滅。彼中間定剎那剎那亦生
亦滅。是故有心無心位俱可爾。有餘師說
非一切有情心等生等滅。亦非一切一剎那
生一剎那滅。謂有有情心滅不生。如入無
想滅盡定者。或有有情心生不滅。如出無
想滅盡定者。或有有情心不生不滅。如住
無想滅盡定者。或有有情心亦生亦滅。如
住有心位者。問此中所說當云何通。答此
依量等而說。勿有謂心或大或小故說一
切有情心等。如是說者。一切有情心等起等
滅。彼一切一剎那生一剎那滅。以有為法從
緣生已皆則滅故。有貪心離貪心當言等
起等住等滅耶。答如是。有瞋離瞋有癡離
癡。略散下舉。小大掉不掉。不靜靜。不定定。
不修修不解脫解脫心。當言等起等住等滅
耶。答如是。問何故作此論。答諸染污心其
性沈重。諸善心其性輕舉。勿有生疑。染心
生滅遲緩。善心生滅迅速。為令此疑得決
定故。顯二種心生滅時等故作斯論。由二
義故心名有貪。一與貪相應。二為貪所繫
若唯貪相應故名有貪心。則瞋等相應品。
及有漏善無覆無記應名離貪心。然彼亦名
有貪心。貪所繫故。雖由二義心名有貪。此
中但依相應義說無雜亂故。亦由二義心
名離貪。一貪不相應。二是貪對治。若唯貪不
相應名離貪心者。則瞋等相應品亦應名
離貪心。然彼不應名離貪心有染污故。
雖由二義心名離貪。此中但依貪對治說
無雜亂故。有瞋離瞋等皆准此知。是故此中

應作是說。有貪心者。謂貪相應。離貪心者。
謂貪對治。有瞋心者謂瞋相應。離瞋心者謂
瞋對治。有癡心者謂癡相應。離癡心者謂癡
對治。略心者謂善心於境攝錄故。散心者謂
染心於境縱逸故。健馱羅國諸論師言。眠相
應心說名為略。以世尊說眠名心略故。
如契經說。云何眠夢。謂眠夢位略聚散心。問
云何釋通見蘊所說。彼說四智如實知略心。
謂法智類智道智世俗智一智如實知散心。
謂世俗智。答彼說不應通以違他說而作
論故。若欲通者當改彼文。略心散心下心
等一智如實知。謂世俗智舉心等四智如實
知如前說。彼說非理。若如是說則染污眠
心。應亦略亦散。眠相應故是染污故。欲令
無如是過。是故如前所說為善。下心者謂
染污心懈怠相應故。舉心者謂善心精進相
應故。小心者謂染污心。小生所習故。大心者
謂善心大生所習故。問無量有情習諸惡行
非諸妙行。染心現前非諸善心。云何名染
心小生所習。善心大生所習耶。答不以眾
故立大小名。此中若能修行白法說名為
大。餘名為小故。三界中唯有一佛而名為
大具白法。故餘類雖多而名為小。以諸白
法不具足故。有說。染心名小。小價得故。謂
染污心不由加行不須財寶。但起少許非
理作意便相續轉如大河流善心名大大價
得故。謂諸善心要由加行。及多加行。雖捨
百千珍寶有能現前。或不現前。有說。染
心名小。少根相應故。謂諸染心或但一根。或

二相應無具三者。善心名大。多根相應故。
謂諸善心皆與三根相應無有闕者。有說。
染心名小。少隨轉故。謂諸染心唯三蘊隨轉。
善心名大。多隨轉故。謂諸善心或三蘊或四
蘊隨轉。有說。染心名小。少眷屬故。謂諸染
心無未來修。善心名大。多眷屬故。謂諸善
心有未來修。有說。染心名小。少對治故。謂
多煩惱相續現前。斷少善根後還相續。善
心名大。多對治故。如起一念苦法智忍。頓
斷欲界見苦所斷十種隨眠令永不起。有
說。染心名小。導首劣故。何等名為染心導
首。謂諸無明。如說無明。為導首故。便起無
量惡不善法。及能引生無慚無愧。猶如商
主無眼無足。令諸商人所求不遂。善心名
大。導首勝故。何等名為善心導首。謂諸慧
明。如說慧明為導首故。便起無量諸妙善
法。復能引生殊勝慚愧。猶如商主有眼有
足。令諸商人所求果遂。有說染心名小。威
力小故。善心名大。威力大故。謂無始來所
習惡法。善法纔起悉令遠離。如經多時習
無醎想纔食鹽時彼想皆捨。又如室中多
時積闇燈明纔至彼闇便除。又善法斷惡永
令不生。惡法斷善後必相續。由此等緣染
心名小善心名大。掉心者。謂染污心掉舉相
應故。不掉心者。謂善心行捨相應故。不靜心
者。謂染污心不寂靜相應故。一切煩惱皆不
寂靜性。靜心者。謂善心寂靜相應故。一切善
法皆寂靜性。不定心者。謂染污心散亂相應
故。定心者。謂善心等持相應故。不修心者。謂

於得修習修俱不修心。修心者。謂於得修
習修隨一或俱修心。不解脫心者。謂於自性
解脫相續解脫不解脫心。解脫心者。謂於自
性解脫。相續解脫。隨一或俱解脫心。壽當
言隨心轉不隨心轉耶。答不隨心轉。問何
故作此論。答欲止他宗顯己義故。謂分別
論者說壽隨心轉。問彼何故作是說。依契
經故如契經說。壽煖識三和合非不和合。
如是三法不可施設離別殊異。由此證知
壽隨心轉。為止彼說顯壽不隨心轉故作
斯論。問何故壽不隨心轉。答隨心轉法決定
與心一起一住一滅。壽非與心決定一起一
住一滅故。有說。隨心轉法決定與心一果
一等流一異熟。壽非與心決定一果一等流
一異熟故。有說。隨心轉法決定與心俱生。
壽非決定與心俱生故。有說。隨心轉法法
爾心若善彼亦善。不善無記亦爾。壽唯無記。
若隨心轉者則無記心現在前時壽可轉。善
不善心現在前時壽應斷故。有說。隨心轉
法。法爾心若欲界繫彼亦欲界繫。色無色界
繫不繫亦爾。壽唯三界繫而隨生。此界有此
界壽非餘。若隨心轉者則生欲界欲界心
現在前時壽可轉。色界等心現在前時壽應
斷。乃至生無色界說亦如是。有說。隨心轉
法法爾心若學彼亦學。無學非學非無學亦
爾。壽唯非學非無學。若隨心轉者非學非無
學心現在前時壽可轉。學心無學心現在前
時壽應斷。有說。隨心轉法法爾心若見所
斷。彼亦見所斷。修所斷不斷亦爾。壽唯修所

斷。若隨心轉者則修所斷心現在前時壽可
轉。見斷等心現在前時壽應斷。有說。隨心
轉法。法爾心有彼有。心無彼無。若壽隨心轉
者。有心時壽可轉。無心時壽應斷。則住無
想滅盡等至。及生無想心不行時。應名為
死無命根故。欲令無如是過。是故壽不
隨心轉。問分別論者所引經云何通。如說壽
煖識三和合非不和合。乃至廣說。尊者世友
說曰。此約一所依一相續說。謂此三法於
一所依一相續中皆具可得。不說三法必
互隨轉。若如所說作決定者。應不施設
蘊界處異。以彼經言如是三法不可施設
離別殊異故。然壽是行蘊法界法處攝。煖是
色蘊觸界觸處攝。識是識蘊七心界意處攝。
由此不應如文而取。又此三法若定和合。
無色界應有煖。非情中應有壽識。無想定
等應有識現行。若許便違聖教正理。是故
不可隨文定取。應知此文依容有義說和
合等。
壽當言隨相續轉為一起便住耶。答若欲
界有情不住無想滅盡等至。當言隨相續
轉。若住無想滅盡等至。及色無色界有情。
當言一起便住。問何故作此論。答欲止他
宗顯己義故。謂譬喻者不許有非時命終。
所以者何。如契經說。壽終不可救。由此故
知無非時死。為止彼意顯有非時命終故
作斯論。問云何名為隨相續轉。有說。災橫
名為相續。謂生欲界不住無想滅盡等至。
壽隨災橫相續而轉。所以者何。若有於壽

非恒作。非恒轉。非受作。非受轉。非時行。
非處行。不修梵行食非宜食非量。生者不
熟熟者持之。於宜匪宜。不能觀察。不服
醫藥。不用醫言。不避災危。作諸凶戲。由
此等故壽便中夭。若有於壽恒作恒轉受作
受轉。時行處行修梵行。食所宜食應量。生
者令熟熟者棄之。於宜匪宜能審觀察服
醫藥用醫言。避災危遠凶戲。由此等故
壽不中夭。有說。色身名為相續。謂生欲界
不住無想滅盡等至。壽隨色身相續而轉。
所以者何。若身平和壽則無夭。若身損壞壽
則中夭。有說。他身名為相續。謂生欲界不
住無想滅盡等至。壽隨他身相續而轉。所
以者何。若有他身於己壽命不為損害壽
便無夭。若為損害壽便中夭。問云何名為
一起便住。答隨因起已便相續住不隨災
橫。自身他身違害而轉。謂生欲界現住無
想滅盡等至。及生上界壽皆不隨外緣而
轉。問欲界不入二無心定。亦有壽量不隨
緣轉。何故不說。答應說而不說者當知此
義有餘。有說。此中說決定者。謂若住二無
心定壽行決定不隨緣轉。餘或隨緣是故
不說。有說。欲界雖復更有不隨緣轉。然為
顯示二定威力故偏說之。
如經說有情所得自體有四種。一有所得
自體。可為自害不為他害。二有所得自
體。可為他害不為自害。三有所得自體。
可為自害亦為他害。四有所得自體。不
為自害亦不他害。云何有情所得自體可

為自害不為他害。謂有欲界戲忘諸天。時
好嚴身耽著嬉戲過時疲極失念而死。復有
欲界意憤諸天。有時忿恚角眼相視。久憤不
勝從彼殞歿。復有一類或龍妙翅。或鬼及
人或復所餘。可為自害非他害者。云何有
情所得自體可為他害不為自害謂處卵
殼或胎藏中。諸根未滿諸根未熟。復有一
類或龍妙翅。或鬼及人或復所餘。可為他
害非自害者。云何有情所得自體可為自
害亦為他害謂諸禽獸或龍妙翅。或鬼及人
或復所餘。可為自害亦他害者。云何所得
自體不為自害亦不他害。謂生色無色界
一切中有。一切地獄。住無想定滅盡定慈定。
隨信行隨法行。最後有菩薩。菩薩母菩薩處
胎時。轉輪王輪王母輪王處胎時。王仙佛使
佛所記者。如殑耆羅殊底穡迦長者子。嗢怛
羅長者子。達弭羅長者子。治奢勝織師子。時
縛迦鳩摩羅等。佛所記者。住最後有補特
伽羅所作未辦。北俱盧洲劫初時人。哀羅伐
拏龍王善住龍王。琰摩王等。及餘一類俱不
害者。是名四種所得自體。世尊說有所得自
體。不為自害亦不他害。時尊者舍利子。從
座而起偏袒一肩。右膝著地合掌恭敬。而
白佛言。何等有情所得自體。不為自害亦
不他害耶。佛告舍利子。非想非非想處有
情。不為自害亦不他害。問因論生論。尊者
舍利子於此所問為了知不。若了知者何
故復問。若不了知云何得名到究竟聲聞。
云何世尊不於非田非器而雨法雨。令所

說法空無果耶。有說。尊者了知問。若爾何
故復問。答亦有知而故問。如毘柰耶說。爾
時世尊知而故問為令所說得明了故。又
彼尊者雖自了知。為饒益他是以故問。謂
於眾會有未了知。無無畏故不能問佛。
尊者舍利子成就無畏。為益彼故雖知而
問。有說。尊者亦不了知問。若爾云何得名
到究竟聲聞答不說不知說已則知斯有何
過。問云何不於非田非器而雨法雨。令所
說法空無果耶。答尊者舍利子雖不了知。
而於眾中有餘能知。如慈氏菩薩等故。非
無果若無漏慧。雖爾時舍利子勝。若此俗
慧則慈氏菩薩勝。故佛一時與慈氏菩薩論
世俗諦。舍利子等諸大聲聞莫能解了。問下
地自體亦有俱非自他所害。何故但說非想
非非想處耶。答舉後顯初故作是說。世尊
有處舉後顯初。如此文等有處舉初顯後。
如說離欲惡不善法。有尋有伺離生喜樂初
靜慮具足住。如是等。如舉後顯初舉終顯
始。舉出顯入舉究竟顯加行。應知亦爾。
有說。下地不定是以不說謂下地有情所得
自體。或無災橫如住無想定等。或有災橫
如戲忘諸天等。非想非非想處定無災橫是
故偏說。有說。四靜慮三無色中。亦有如欲
界戲忘死等事。非想非非想處都無此事是
故偏說。有說。下地有情皆有煩惱勢力增
上。彼若現前則便夭歿。非想非非想處無
此煩惱。是故世尊但說彼地。尊者法救作是
釋言。此中為自所害者。謂為自地對治道

所害。為他所害者。謂為上地邊對治道所
害。初靜慮自體為自所害。謂自地聖道為他
所害。謂第二靜慮邊世俗道。乃至無所有自
體為自所害。謂自地聖道為他所害。謂非想
非非想處邊世俗道。非想非非想處自體非
自所害。自地無聖道故。亦非他害。無上地
邊世俗道故。由此但說非想非非想處。所
得自體非俱所害。
住無想滅盡等至。壽當言轉為住耶。答當
言轉。問何故作此論。答為令疑者得決
定故。謂住無想滅盡等至諸心心所一切不
行。爾時心心所法不起不滅。勿謂此位所
有壽行。如心心所亦不起滅但凝然住。為
除此疑顯此位壽念念起滅故作斯論。問
云何名轉。答剎那剎那起滅相續故名為轉。
則是遷流非凝住義。如世尊說人壽漸盡
如小河水。若諸有情壽起便住。云何知彼壽
漸盡耶。答由世盡劫盡故。問何故作此論。
答為令疑者得決定故。謂前文說若住無
想滅盡等至。及色無色界有情壽。當言一起
便住。或謂彼壽一起不滅。為除此疑顯彼
壽行。離災橫故說一起便住。而實剎那剎
那有生有滅。令壽漸盡故作斯論。問五蘊
皆漸盡。何獨說壽耶。答世尊此中舉壽漸
盡顯五皆有漸盡之義。有說。壽勝佛於此
中。舉勝顯劣故但說壽盡。有說。壽能任
持五蘊。若說壽盡當知已說五蘊盡義。有
說。壽斷眾同分亦斷。眾同分斷五蘊亦斷。佛
隨根本。而說故說壽盡。有說。壽量有增有

減有盛有衰故佛偏說問諸趣皆有壽漸盡
義。何故但說人壽漸盡。答佛於爾時為人
說故。有說佛意以人為首。顯諸趣中壽皆
漸盡。有說。佛是人之同類故。所說法多隨
順於人。有說。人壽有極增減盛衰義故。謂
劫初時人壽無量。其後漸減至八萬歲。後更
轉減乃至十歲。如是人壽漸盡義明了可知。
餘趣不爾故佛偏說。問諸大河水亦有漸
盡義。何故但說如小河耶。答大河常流不
可知其漸盡。不如諸小河水。有時盈溢
如夏雨時。有時乾枯如至寒際。諸有情類
壽河亦然。有時盈溢如結生位。有時都盡
如捨命時。是故世尊以小河喻。若諸有情
壽起便住者。謂住二無心定。及上界有情。世
盡劫盡者。有說。細無常名世盡。麁無常名
劫盡。有說。剎那無常名世盡。一期無常名
劫盡。有說。有情數物無常名世盡。非有情
數物無常名劫盡。有說。內法無常名世盡
外法無常名劫盡。
入無想定幾根滅耶。乃至廣說。問何故作
此論。答欲止他宗顯己義故。謂譬喻者分
別論師執。無想定細心不滅。彼作是說。若
無想定都無有心。命根便斷應名為死。不
名在定為止彼意顯無想定都無有心。
有執。此定雖無有心但離欲染則能現
起。以界同故。為遮彼意顯無想定離遍
淨染方能現前。要以第四靜慮為等無間
緣故。由此尊者世友作如是言。云何無想
定謂已離遍淨染未離上染。出離想作意

為先。心心所法滅是名無想定。由此因緣
故作斯論。入無想定幾根滅答七。謂意捨
信等五根。何繫心心所滅。答色界繫。此依界
類總相而說。然唯第四靜慮地繫。出無想
定幾根現前。答七。如前說。何繫心心所現
前答色界繫。此亦依界類總相而說。然唯
第四靜慮地繫。由此所說證無想定決定無
心。以入定時但說諸根心心所法滅。而不
說起。於出定時但說諸根心心所法起。而
不說滅故。

Việt dịch

(QUYỂN 151 | 200)


HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH  
 

 
www.daitangkinh.org  


SỐ 1545

LUẬN
A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Năm trăm Đại A-la-hán cùng tạo luận.
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch Phạn sáng Há

QUYỂN 151

CHƯƠNG VI: CĂN UẨN (Tiếp Theo)

Phẩm Thứ Tư: LUẬN VỀ ĐẲNG TÂM (Phần 1)

Tâm của tất cả hữu tình nên nói là khởi như nhau, trú như nhau,
diệt như nhau chăng? Những chương như vậy và giải thích về nghĩa của
từng chương đã lĩnh hội rồi, tiếp theo nên phân biệt rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi ngờ có được quyết định. Đó
là các loài hữu tình, hoặc có loài thân hình to lớn, hoặc có loài thân hình
nhỏ bé. Loài thân hình to lớn, như trong biển rộng có các hữu tình đã
mang lấy tự Thể, thân lượng ấy to l ớn, hoặc là một trăm Du-thiện-na,
hoặc là hai-ba-bốn-năm-sáu-bảy trăm Du-thiện-na, hoặc là cho đến hai
ngàn một trăm Du-thiện-na, như hình lượng to lớn của Hạt-la-hô vua A-
tố-lạc; cao mười sáu ngàn Du-thiện-na, như thân lượng của trời Sắc Cứu
Cánh. Thân hình nhỏ bé, như muỗi-kiến-ra än-rệp và các loại vi trùng,
những người mắt sáng tuy tác ý đến mức cuối cùng mà cũng không thể
nào nhìn thấy. Đừng có sinh lòng nghi  ngờ, thân to lớn thì tâm cũng to
lớn, thân nhỏ bé thì tâm cũng nhỏ bé! Muốn làm cho mối nghi này được
4 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
quyết định, hiển bày về các loài hữu tình do Đại chủng mà tạo ra sắc,
tuy có nhiều-ít mà tâm đều như nhau, cho nên soạn ra phần luận này.
Lại nữa, các loài hữu tình, hoặc có loài đi lại chuyển động nhanh
chóng, hoặc có loài đi lại chuyển đ ộng chậm chạp. Loài đi lại chuyển
động nhanh chóng, như ngựa-hươu nai-chồn s ói… Loài đi lại chuyển
động chậm chạp, như sâu bọ-giun tr ùng… Đừng có sinh lòng nghi ngờ,
đi lại chuyển động nhanh chóng thì ta âm sinh diệt nhanh chóng, đi lại
chuyển động chậm chạp thì tâm sinh di ệt chậm chạp! Vì làm cho mối
nghi này được quyết định, hiển bày về các loài hữu tình tuy do Đại
chủng mà tạo ra sắc, chuyển động có nhanh chậm, nhưng tâm sinh diệt
thì tất cả đều như nhau.
Lại nữa, các loài hữu tình, hoặc có oai nghi tùy tiện vội vàng
giống như gió bão, Giác Tuệ chuyển dời trôi nổi như mặt trời trên sóng;
hoặc có oai nghi chậm rãi sâu nặng giống như ngọn núi, Giác Tuệ vắng
lặng chìm sâu như ngọn đèn trong nhà kín. Đừng có sinh lòng nghi ngờ,
oai nghi tùy tiện vội vàng-Giác Tuệ chuyển dời trôi nổi thì tâm sinh diệt
mau chóng, oai nghi chậm rãi sâu nặng-Giác Tuệ vắng lặng chìm sâu
thì tâm sinh diệt chậm chạp! Vì làm cho mối nghi này được quyết định,
hiển bày về các loài hữu tình tuy oai nghi có nặng-nhẹ, Giác Tuệ có
chìm-nổi, mà tâm sinh diệt thì tất cả đều như nhau.
Hỏi: Nếu tâm của các hữu tình si nh diệt như nhau, thì tại sao oai
nghi có nặng-nhẹ, Giác Tuệ có chìm-nổi?
Đáp: Có các hữu tình đối với nhi ều cảnh giới có nhiều tâm khởi
lên, có các hữu tình đối với một cảnh giới có nhiều tâm khởi lên. Nếu
các hữu tình đối với nhiều cảnh giới khởi lên nhiều tâm, thì oai nghi tùy
tiện vội vàng-Giác Tuệ chuyển dời tr ôi nổi; nếu các hữu tình đối với
một cảnh giới khởi lên nhiều tâm, thì oai nghi chậm rãi sâu nặng-Giác
Tuệ vắng lặng chìm sâu. Bởi vì những nhân duyên như vậy, cho nên
soạn ra phần luận này.
Hỏi: Tâm của tất cả hữu tì nh nên nói là khởi như nhau, trú như
nhau, diệt như nhau chăng?
Đáp: Đúng như vậy.
Hỏi: Là tâm của tất cả hữu tình sinh như nhau-diệt như nhau, tất
cả tâm ấy một sát-na sinh, một sát -na diệt chăng? Hay không phải là
tâm của tất cả hữu tình sinh như nhau-diệt như nhau, cũng không phải
là tất cả tâm ấy một sát-na sinh, một sát-na diệt chăng? Giả sử như vậy
thì có gì sai? Nếu tâm của tất cả hữu tình sinh như nhau-diệt như nhau,
tất cả tâm ấy một sát-na sinh, một sát-na diệt, phần vị có tâm thì có thể
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 151 5  
www.daitangkinh.org  
như vậy, phần vị không có tâm thì thế nào? Đó là lúc tiến vào Định Vô
tưởng-Định Diệt tận, tâm của hữu tì nh khác cũng sinh cũng diệt, tâm
ấy diệt mà không sinh; lúc ra khỏi  Định Vô tưởng-Định Diệt tận, tâm
của hữu tình khác cũng diệt cũng sinh, tâm ấy sinh mà không diệt; lúc
trú trong Định Vô tưởng-Định Diệt tận, tâm của hữu tình khác cũng
sinh cũng diệt, tâm ấy không sinh-không diệt, tại sao có thể nói là tâm
sinh diệt như nhau cùng trong một sa ùt-na? Nếu không phải là tâm của
tất cả hữu tình sinh như nhau-diệt như nhau, cũng không phải là tất cả
tâm ấy một sát-na sinh, một sát-na diệt, thì trong na øy đã nói nên hiểu
thế nào? Đó là tâm của tất cả hữu tình khởi như nhau-trú như nhau-diệt
như nhau.
Đáp: Nên đưa ra cách nói này: Tâm của tất cả hữu tình sinh như
nhau-diệt như nhau, tất cả tâm ấy một sát-na sinh, một sát-na diệt.
Hỏi: Phần vị có tâm thì có thể như vậy, phần vị không có tâm thì
thế nào?
Đáp: Phần vị có tâm thì có thể như vậy, phầ n vị không có tâm
cũng có thể như vậy. Nghĩa là lúc  tiến vào Định Vô tưởng-Định Diệt
tận, như tâm của hữu tình khác sinh ra, tâm của Định ấy trong sát-na
đầu tiên cũng sinh ra; như tâm của hữu tình khác diệt đi, tâm tiến vào
Định ấy cũng diệt đi. Lúc ra khỏi Định Vô tưởng-Định Diệt tận, như tâm
của hữu tình khác sinh ra, tâm ra khỏi Định ấy cũng sinh ra; như tâm của
hữu tình khác diệt đi, tâm của Định ấy trong sát-na cuối cùng cũng diệt
đi. Lúc trú trong Định Vô tưởng-Đị nh Diệt tận, như tâm của hữu tình
khác cũng sinh cũng diệt trong từng sát-na, tâm trong thời gian của Định
ấy cũng sinh cũng diệt qua từng sát-n a. Vì vậy, phần vị có tâm-không
có tâm đều có thể như vậy.
Có Sư khác nói: Không phải là tâm của tất cả hữu tình sinh như
nhau-diệt như nhau, cũng không phải là tất cả tâm ấy một sát-na sinh,
một sát-na diệt. Nghĩa là có lúc  tâm của hữu tình diệt mà không sinh,
như lúc tiến vào Định Vô tưởng-Định Diệt tận; hoặc có lúc tâm của hữu
tình sinh mà không diệt, như lúc ra khỏi Định Vô tưởng-Định Diệt tận;
hoặc có lúc tâm của hữu tình không sinh-không diệt, như lúc trú trong
Định Vô tưởng-Định Diệt tận; hoặc có lúc tâm của hữu tình cũng sinh-
cũng diệt, như lúc trú trong phần vị có tâm.
Hỏi: Trong này đã nói nên hiểu thế nào?
Đáp: Trong này dựa vào số lượng như nhau mà nói, đừng có cho
rằng bởi vì tâm hoặc là lớn-hoặc là nhỏ cho nên nói tâm của tất cả hữu
tình đều như nhau.
6 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Nói như vậy thì tâm của tất cả hữu tình khởi như nhau-diệt như
nhau, tất cả tâm ấy một sát-na sinh, một sát-na diệt, bởi vì pháp hữu vi
từ duyên sinh ra rồi đều lập tức diệt đi.
Hỏi: Tâm có tham-tâm lìa tham, nên nói là khởi như nhau, trú như
nhau, diệt như nhau chăng?
Đáp: Đúng như vậy.
Hỏi: Tâm có sân-lìa sân, có si-lìa si, qua loa-phân tán, xuống thấp-
lên cao, to lớn-nhỏ bé, trạo c ử-không trạo cử, không vắng lặng-vắng
lặng, không định-định, không tu-tu, không giải thoát-giải thoát, nên nói
là khởi như nhau, trú như nhau, diệt như nhau chăng?
Đáp: Đúng như vậy.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Các tâm nhiễm ô thì tánh ấy nặng nề chìm xuống, các tâm
thiện thì tánh ấy nhẹ nhàng lên ca o. Đừng có sinh lòng nghi ngờ cho
rằng tâm nhiễm sinh diệt chậm chạp, tâm thiện sinh diệt mau chóng! Vì
làm cho mối nghi này được quyết định, mà hiển bày về hai loại tâm có
thời gian sinh diệt như nhau.
Do hai nghĩa cho nên tâm gọi là có tham:
1. Tương ưng với tham.
2. Bị tham ràng buộc.
Nếu chỉ tương ưng với tham cho nên gọi là tâm có tham, thì phẩm
tương ưng với sân…, và thiện hữu lậu-vô phú vô ký phải gọi là tâm lìa
tham. Nhưng mà những loại ấy cũng gọi là tâm có tham, bởi vì tham đã
ràng buộc. Tuy do hai nghĩa cho nên tâm gọi là có tham, mà trong này
chỉ dựa vào nghĩa Tương ưng để nói, bởi vì không có tạp loạn.
Cũng do hai nghĩa cho nên tâm gọi là lìa tham:
1. Không tương ưng với tham.
2. Là đối trị với tham.
Nếu chỉ là không tương ưng với tham cho nên gọi là tâm lìa tham,
thì phẩm tương ưng với sân…, cũng phải gọi là tâm lìa tham. Nhưng mà
những loại ấy không nên gọi là tâm lìa tham, bởi vì có nhiễm ô. Tuy do
hai nghĩa cho nên tâm gọi là lìa tham, mà trong này chỉ dựa vào Đối trị
với tham để nói, bởi vì không có tạp loạn. Có sân-lìa sân… đều dựa theo
đây mà biết. Vì thế cho nên trong này phải đưa ra cách nói này: Tâm
có tham, đó là tương ưng với tham. Tâm lìa tham, đó là đối trị với tham.
Tâm có sân, đó là tương ưng với sân. Tâm lìa sân, đó là đối trị với sân.
Tâm có si, đó là tương ưng với si. Tâm lìa si, đó là đối trị với si. Tâm
qua loa, đó là tâm thiện thâu nhiếp theo cảnh. Tâm phân tán, đó là tâm
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 151 7  
www.daitangkinh.org  
nhiễm phóng túng theo cảnh.
Các Luận sư của nước Kiện-đà-la nói: Tâm tương ưng với ngủ gọi
là sơ lược. Bởi vì Đức Thế Tôn nói ngủ gọi là tâm sơ lược. Như trong
kinh nói: “Thế nào là ngủ mê? Đó là ở phần vị ngủ mê, tâm tụ vào tản
ra qua loa.”
Hỏi: Làm thế nào giải thích thông suốt trong chương Kiến Uẩn đã
nói? Chương ấy nói: “Bốn trí nhận biết như thật về tâm qua loa, đó là
Pháp trí-Loại trí-Đạo trí-Thế tục trí. Một trí nhận biết như thật về tâm
phân tán, đó là Thế tục trí.”
Đáp: Chương ấy nói không cần phải thông hiểu, bởi vì ngược với
cách nói của người khác mà soa ïn luận. Nếu muốn thông hiểu thì nên
sửa lại văn ấy: Tâm qua loa-tâm phân tán-tâm xuống thấp cùng một trí
nhận biết như thật, đó là trí Thế tục. Tâm lên cao, bốn trí cùng nhận biết
như thật, nói như trước. Cách nói ấy phi lý. Nếu nói như vậy thì tâm ngủ
nhiễm ô, lẽ ra cũng qua loa cũng phân tán, bởi vì tương ưng với ngủ là
nhiễm ô. Muốn làm cho không có sai lầm như vậy, cho nên như trước
đã nói là hợp lý.
Tâm xuống thấp, đó là tâm nhiễm ô tương ưng với giải đãi. Tâm
lên cao, đó là tâm thiện tương ưng với tinh tiến. Tâm nhỏ bé, đó là tâm
nhiễm ô, bởi vì nhỏ bé mà sinh ra thói quen. Tâm to lớn, đó là tâm
thiện, bởi vì to lớn mà sinh ra thói quen.
Hỏi: Thói quen của vô lượng hữu tình là các hành ác chứ không
phải là các hành diệu, tâm nhiễm ô hiện rõ trước mắt không phải là các
tâm thiện, tại sao gọi là tâm nhiễm ô bởi vì nhỏ bé mà sinh ra thói quen,
tâm thiện bởi vì to lớn mà sinh ra thói quen?
Đáp: Không bởi vì số nhiều mà lập ra tên gọi to lớn-nhỏ bé. Trong
này, nếu có thể tu hành pháp thiện thì gọi  là to lớn, còn lại gọi là nhỏ
bé. Trong ba cõi chỉ có một Đức Phật mà gọi là to lớn, bởi vì có đủ pháp
thiện; những loại khác tuy nhiều mà gọi là nhỏ bé, bởi vì các pháp thiện
không đầy đủ.
Có người nói: Tâm nhiễm ô gọi là nhỏ bé, bởi vì đạt được giá trị
nhỏ bé, nghĩa là tâm nhiễm ô không nhờ vào gia hạnh, không cần đến
của cải châu báu, chỉ khởi lên một c hút tác ý phi lý, liền nối tiếp nhau
chuyển biến như dòng sông lớn tuôn chảy. Tâm thiện gọi là to lớn, bởi
vì đạt được giá trị to lớn, nghĩa là các tâm thiện cần phải nhờ vào gia
hạnh, và nhiều gia hạnh, tuy bỏ ra trăm ngàn châu báu, mà có lúc có thể
hiện rõ trước mắt, có lúc không hiện rõ trước mắt.
Có người nói: Tâm nhiễm ô gọi là nhỏ bé, bởi vì tương ưng với ít
8 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
căn, nghĩa là các tâm nhiễm ô hoặc là tương ưng với chỉ một căn, hoặc
là tương ưng với hai căn, chứ không có đủ ba căn. Tâm thiện gọi là to
lớn, bởi vì tương ưng với nhiều ca ên, nghĩa là các tâm thiện đều tương
ưng với ba căn, chứ không có thiếu hụt.
Có người nói: Tâm nhiễm ô gọi là nhỏ bé, bởi vì ít tùy chuyển,
nghĩa là các tâm nhiễm ô chỉ có ba  Uẩn tùy chuyển. Tâm  thiện gọi là
to lớn, bởi vì nhiều tùy chuyển, nghĩa là các tâm thiện, hoặc có ba Uẩn-
hoặc có bốn Uẩn tùy chuyển.
Có người nói: Tâm nhiễm ô gọi là nhỏ bé, bởi vì ít quyến thuộc,
nghĩa là các tâm nhiễm ô không có tu thuộc vị lai. Tâm thiện gọi là to
lớn, bởi vì nhiều quyến thuộc, nghĩa là các tâm thiện có tu thuộc vị lai.
Có người nói: Tâm nhiễm ô gọi là nhỏ bé, bởi vì ít đối trị, nghĩa là
nhiều phiền não nối tiếp nhau hiện rõ trước mắt, đoạn một ít căn thiện
rồi sau đó trở lại nối tiếp nhau. Tâm thiện gọi là to lớn, bởi vì nhiều đối
trị, như khởi lên một niệm Khổ pháp tr í nhẫn, lập tức đoạn mười loại
tùy miên do kiến Khổ mà đoạn của cõi Dục khiến cho vĩnh viễn không
khởi lên.
Có người nói: Tâm nhiễm ô gọi là nhỏ bé, bởi vì dẫn đầu kém cỏi.
Như thế nào gọi là tâm nhiễm ô dẫn đầu kém cỏi? Đó là các Vô minh.
Như nói Vô minh là pháp dẫn đầu, cho nên liền khởi lên vô lượng pháp
ác bất thiện, và có thể dẫn dắt  sinh ra không có Tàm-không có Quý;
giống như chủ buôn không có mắt-không có chân, khiến cho sự mong
cầu của những người buôn không được toại nguyện. Tâm thiện gọi là to
lớn, bởi vì dẫn đầu hơn hẳn. Như thế nào gọi là tâm thiện dẫn đầu? Đó
là các Tuệ sáng suốt. Như nói Tuệ sáng suốt dẫn đầu là pháp dẫn đầu,
cho nên liền khởi lên vô lượng pháp thiện tuyệt vời, lại có thể dẫn dắt
sinh ra Tàm-Quý thù thắng, giống như chủ buôn có mắt-có chân, khiến
cho sự mong cầu của những người buôn đạt được kết quả như ý.
Có người nói: Tâm nhiễm ô gọi là nhỏ bé, bởi vì uy lực nhỏ bé;
tâm thiện gọi là to lớn,  bởi vì uy lực to lớn. Ng hĩa là từ vô thỉ đến nay
đã quen theo pháp ác, pháp thiện vừa mới khởi lên đều làm cho tất cả
pháp ác xa lìa. Như trải qua thời  gian dài quen theo ý tưởng không có
muối, lúc vừa mới ăn muối thì ý tưởng không có muối đều rời bỏ. Lại
như trong ngôi nhà trải qua thời gian dài tối tăm, ngọn đèn sáng vừa
mới đến thì bóng tối ấy liền trừ hết. Vả lại, pháp thiện đoạn bỏ pháp
ác vĩnh viễn làm cho không sinh ra, pháp ác đoạn bỏ pháp thiện sau đó
nhất định phải nối tiếp nhau.
Bởi vì những nhân duyên như vậy, cho nên tâm nhiễm ô gọi là
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 151 9  
www.daitangkinh.org  
nhỏ bé, tâm thiện gọi là to lớn.
Tâm trạo cử, đó là tâm nhiễm ô tương ưng với trạo cử. Tâm không
trạo cử, đó là tâm thiện tương ưng với hành Xả. Tâm bất tịnh, đó là tâm
nhiễm ô tương ưng với không vắng lặng, ta át cả phiền não đều là tánh
không vắng lặng. Tâm vắng lặng, đó là tâm thiện tương ưng với vắng
lặng, tất cả pháp thiện đều là ta ùnh vắng lặng. Tâm không định, đó là
tâm nhiễm ô tương ưng với tán loạn. Ta âm định, đó là tâm thiện tương
ưng với Đẳng trì. Tâm không tu, đó là tâm đều không tu đối với được
tu- tập tu. Tâm tu, đó là tâm đối với được tu- tập tu tùy theo một, hoặc
là cùng tu cả hai. Tâm không giải thoát, đó là tâm không giải thoát đối
với tự tánh giải thoát- nối tiếp nhau giải thoát. Tâm giải thoát, đó là tâm
giải thoát đối với tự tánh giải thoát  - nối tiếp nhau giải thoát, tùy theo
một hoặc là cả hai.
Hỏi: Thọ lượng nên nói là tùy tâm chuyển, hay là không tùy tâm
chuyển?
Đáp: Không tùy tâm chuyển.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác, hiển bày về nghĩa
lý của mình, đó là Luận giả Phân Biệt nói thọ lượng tùy tâm chuyển.
Hỏi: Vì sao vị ấy đưa ra cách nói này?
Đáp: Bởi vì dựa vào kinh. N hư trong kinh nói: “Ba pháp Thọ-
Noãn-Thức hòa hợp chứ không phả i là không hòa hợp, ba pháp như
vậy không có thể thi thiết tách bi ệt khác nhau.” Vì vậy chứng minh
biết là thọ lượng tùy tâm chuyển. Vì ngăn chặn cách nói ấy, hiển bày
về thọ lượng không tùy tâm chuyển, cho nên soạn ra phần luận   này.
Hỏi: Vì sao thọ lượng không tùy tâm chuyển?
Đáp: Pháp tùy tâm chuyển quyết định cùng với tâm khởi như nhau,
trú như nhau, diệt như nhau; thọ lượng không phải là cùng với tâm quyết
định khởi như nhau, trú như nhau, diệt như nhau.
Có người nói: Pháp tùy tâm chuyển quyết định cùng với tâm có
quả như nhau, đẳng lưu như nhau, dị  thục như nhau; thọ lượng không
phải là cùng với tâm quyết định có quả như nhau, đẳng lưu như nhau, dị
thục như nhau.
Có người nói: Pháp tùy tâm chuyển quyết định cùng sinh với tâm,
thọ lượng không phải là quyết định cùng sinh với tâm.
Có người nói: Pháp tùy tâm chuyển, pháp vốn như vậy, nếu tâm
thiện thì pháp ấy cũng thiện, bất thiện- vô ký cũng như vậy. Thọ lượng
chỉ là vô ký, nếu tùy tâm chuyển thì lúc tâm vô ký hiện rõ ở trước mắt,
10 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
thọ lượng có thể chuyển; lúc tâm thiện-bất thiện hiện rõ ở trước mắt, thì
thọ lượng phải đoạn mất.
Có người nói: Pháp tùy tâm chuyển, pháp vốn như vậy, nếu tâm
hệ thuộc cõi Dục thì pháp ấy cũng hệ thuộc cõi Dục, hệ thuộc cõi Sắc-
Vô sắc và không hệ thuộc cũng như vậy. Thọ lượng chỉ hệ thuộc ba cõi
mà tùy theo cõi sinh ra, cõi này có thọ lượng của cõi này chứ không phải
là cõi khác. Nếu tùy tâm chuyển thì sinh ở cõi Dục, lúc tâm của cõi Dục
hiện rõ ở trước mắt, thọ lượng có thể chuyển; lúc tâm của cõi Sắc... hiện
rõ ở trước mắt, thì thọ lượng phải đoạn mất. Cho đến sinh ở cõi Vô sắc,
nói cũng như vậy.
Có người nói: Pháp tùy tâm chuyển, pháp vốn như vậy, nếu tâm là
Học thì pháp ấy cũng là Học, Vô học-Phi học phi vô học cũng như vậy.
Thọ lượng chỉ là Phi học phi vô học, nếu tùy tâm chuyển thì lúc tâm Phi
học phi vô học hiện rõ ở trước mắt, thọ lượng có thể chuyển; lúc tâm
Học-tâm Vô học hiện rõ ở trước mắt, thì thọ lượng phải đoạn mất.
Có người nói: Pháp tùy tâm chuyển, pháp vốn như vậy, nếu tâm
do kiến mà đoạn thì pháp ấy cũng do kiến mà đoạn, do tu mà đoạn và
không đoạn cũng như vậy. Thọ lượng chỉ là do tu mà đoạn, nếu tùy tâm
chuyển thì lúc tâm do tu mà đoạn hiện rõ ở trước mắt, thọ lượng có thể
chuyển; lúc tâm do kiến mà đoạn… hiện rõ ở trước mắt, thì thọ lượng
phải đoạn mất.
Có người nói: Pháp tùy tâm chuyển, pháp vốn như vậy, tâm có thì
pháp ấy có, tâm không có thì pháp ấy không có. Nếu thọ lượng tùy tâm
chuyển, thì lúc có tâm, thọ lượng có thể chuyển; lúc không có tâm, thì
thọ lượng phải đoạn mất. tức là trú trong Đẳng chí Vô tưởng-Diệt tận,
và sinh ở cõi Vô tưởng, lúc tâm không hiện hành, phải gọi là chết, bởi
vì không có Mạng căn. Muốn làm cho không có sai lầm như vậy, cho
nên thọ lượng không tùy tâm chuyển.
Hỏi: Kinh mà Luận giả Phân Biệt đã dẫn chứng phải hiểu thế
nào? Như nói: “Ba pháp Thọ-Noã n-Thức hòa hợp chứ không phải là
không hòa hợp…”
Đáp: Tôn giả Thế Hữu nói rằng: “Đây là dựa theo một sở y-một
sự nối tiếp nhau mà nói, nghĩa là ba  pháp này ở trong một sở y-một sự
nối tiếp nhau đều có thể đạt được đầy đủ, chứ không nói là ba pháp nhất
định phải tùy chuyển lẫn nhau. Nếu như lấy điều đã nói làm quyết định,
thì không nên thi thiết Uẩn- Xứ- Giới khác nhau, bởi vì kinh ấy nói: “Ba
pháp như vậy không có thể thi thiết ta ùch biệt khác nhau.” Nhưng Thọ
là do Hành uẩn-Pháp giới-Pháp xứ thâu nhiếp, Noãn là do Sắc uẩn-Xúc
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 151 11  
www.daitangkinh.org  
giới-Xúc xứ thâu nhiếp, Thức là do Thức uẩn-bảy Tâm giới- Ý xứ thâu
nhiếp. Vì vậy không cần phải như văn mà chọn lấy. Vả lại, ba pháp này
nếu nhất định hòa hợp, thì cõi Vô sắc phải có Noãn, trong loài phi tình
phải có Thọ-Thức, Định Vô tưởng… phải có Thức hiện hành. Nếu chấp
nhận thì trái với Chánh lý của Thánh giáo. Vì vậy không thể tùy theo
văn mà quyết định chọn lấy. Cần phải biết văn này là dựa vào nghĩa có
thể có mà nói về hòa hợp…”
Hỏi: Thọ lượng nên nói là tùy theo sự nối tiếp nhau mà chuyển,
hay là vừa khởi lên liền trú?
Đáp: Nếu hữu tình cõi Dục không trú trong Đẳng chí Vô tưởng-
Diệt tận, thì nên nói là tùy theo sự nối tiếp nhau mà chuyển. Nếu trú
trong Đẳng chí Vô tưởng-Diệt tận, và hữu tình cõi Sắc-Vô sắc, thì nên
nói là vừa khởi lên liền trú.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác, hiển bày về nghĩa
lý của mình. Đó là phái Thí D ụ không chấp nhận có sự mạng chung
không phải lúc. Nguyên cớ thế nào ? Bởi vì như kinh nói: “Thọ lượng
kết thúc không thể cứu được.”Vì vậy cho nên biết là không có cái chết
không phải lúc. Vì ngăn chặn ý đó để hiển bày là có sự mạng chung
không phải lúc, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Vì sao gọi là tùy theo sự nối tiếp nhau mà chuyển?
Đáp: Có người nói: Tai họa bất ngờ gọi là sự nối tiếp nhau, nghĩa
là sinh ở cõi Dục không trú trong Đẳng chí Vô tưởng-Diệt tận, thọ lượng
tùy theo tai họa bất ngờ nối tiếp nhau mà chuyển. Nguyên cớ thế nào?
Bởi vì nếu có người đối với thọ  lượng không luôn luôn tạo tác, không
luôn luôn chuyển đổi, không nhận lấy tạo tác, không nhận lấy chuyển
đổi, đi không đúng lúc, đi không đúng chỗ, không tu phạm hạnh, ăn
không phù hợp, ăn không đúng mức, sống thì không chín, chín thì giữ
lấy; đối với điều thích hợp-không phải là thích hợp, không có thể quán
sát, không uống thuốc thang chữa bệnh, không cần lời khuyên của thầy
thuốc, không tránh tai họa nguy hiểm, làm những trò chơi hung ác. Vì
những điều này cho nên thọ lượng đã bị rút ngắn. Nếu có người đối với
thọ lượng luôn luôn tạo tác, luôn luôn chuyển đổi, nhận lấy tạo tác,
nhận lấy chuyển đổi, đi đúng lúc, đi đúng chỗ, tu phạm hạnh, ăn phù
hợp, ăn đúng mức, sống thì làm cho chín, chín thì vứt bỏ; đối với điều
thích hợp-không phải là thích hợp, có thể quán sát kỹ càng, uống thuốc
thang chữa bệnh, sử dụng lời khuyên của thầy thuốc, tránh tai họa nguy
hiểm, xa rời trò chơi hung ác. Nhờ vào những điều này cho nên thọ
12 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
lượng không bị rút ngắn.
Có người nói: Sắc thân gọi là sự nối tiếp nhau, nghĩa là sinh ở cõi
Dục không trú trong Đẳng chí Vô tưởng- Diệt tận, thọ lượng tùy theo
sắc thân nối tiếp nhau mà chuyển. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu thân
thường xuyên hài hòa thì thọ lượng không rút ngắn, nếu thân suy giảm
hư hoại thì thọ lượng bị rút ngắn.
Có người nói: Thân khác gọi là sự nối tiếp nhau, nghĩa là sinh ở
cõi Dục không trú trong Đẳng chí Vô tưởng-Diệt tận, thọ lượng tùy theo
thân khác nối tiếp nhau mà chuyể n. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu
có thân khác đối với thọ mạng của mình không làm cho tổn hại thì thọ
lượng không rút ngắn, nếu làm cho tổn hại thì thọ lượng bị rút ngắn.
Hỏi: Vì sao gọi là vừa khởi lên liền trú?
Đáp: Tùy theo nhân khởi lên rồi liền nối tiếp nhau mà trú, không
tùy theo tai họa bất ngờ làm hại thân mình-thân khác mà chuyển. Nghĩa
là sinh ở cõi Dục đang trú trong Đẳng chí Vô tưởng-Diệt tận, và sinh ở
cõi trên, thọ lượng đều không tùy theo duyên bên ngoài mà chuyển.
Hỏi: Cõi Dục không tiến vào hai Định không có tâm, cũng có thọ
lượng không tùy theo duyên mà chuyển, vì sao không nói?
Đáp: Cần phải nói mà không nói  thì nên biết là nghĩa này có
khác.
Có người nói: Trong này nói về quyết định, nghĩa là nếu trú trong
hai Định không có tâm thì thọ lượng hiện hành quyết định không tùy
duyên mà chuyển, còn lại thì hoặc là tùy duyên, vì vậy không nói đến.
Có người nói: Cõi Dục tuy là còn có lúc không tùy duyên mà
chuyển, nhưng bởi vì hiển bày rõ ràng về uy lực của hai Định, cho nên
chỉ nói đến hai Định.
Như trong kinh nói: “Hữu tình đã đạt được tự Thể có bốn loại:
1. Có loại đã đạt được tự Thể, c ó thể vì mình làm hại chứ không
bị loài khác làm hại.
2. Có loại đã đạt được tự Thể, có thể bị loài khá c làm hại chứ
không vì mình làm hại.
3. Có loại đã đạt được tự Thể, có thể vì mình làm hại cũng bị loài
khác làm hại.
4. Có loại đã đạt được tự Thể, không vì mình làm hại cũng không
bị loài khác làm hại.
Thế nào là hữu tình đã đạt được tự Thể, có thể vì mình làm hại chứ
không bị loài khác làm hại? Đó là có chư Thiên cõi Dục bởi vì vui chơi
mà quên, luôn luôn thích trang điểm thân mình, say mê vui đùa vượt
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 151 13  
www.daitangkinh.org  
quá thời gian, hết sức mệt mỏi thất niệm mà chết. Lại có chư Thiên cõi
Dục bởi vì ý giận dữ, có lúc căm hận liếc mắt nhìn nhau, giận dữ lâu
ngày không kìm nổi, từ đó mà chết đi. Lại có một loại, hoặc là rồng và
chim cánh vàng, hoặc là quỷ và người, hoặc là những loài khác, có thể
vì mình làm hại chứ không phải là bị loài khác làm hại.
Thế nào là hữu tình đã đạt được t ự Thể, có thể bị loài khác làm
hại chứ không vì mình làm hại? Đo ù là ở trong vỏ trứng, hoặc là trong
thai tạng, các căn chưa đầy đủ, các căn chưa thành thục. Lại có một
loại, hoặc là rồng và chim cánh vàng, hoặc là quỷ và người, hoặc là
những loài khác, có thể bị loài khác làm hại chứ không phải là vì mình
làm hại.
Thế nào là hữu tình đã đạt được t ự Thể, có thể vì mình làm hại
cũng bị loài khác làm hại? Đó la ø các loài chim-thú, hoặc là rồng và
chim cánh vàng, hoặc là quỷ và người, hoặc là những loài khác, có thể
vì mình làm hại cũng bị loài khác làm hại.
Thế nào là hữu tình đã đạt được tự Thể, không vì mình làm hại
cũng không bị loài khác làm hại? Đó la ø sinh ở cõi Sắc-Vô sắc, tất cả
Trung Hữu, tất cả địa ngục; trú trong Định Vô tưởng-Định Diệt tận-
Định Từ, Tùy tín hành-Tùy pháp hành;  Bồ-tát ở thân cuối cùng, mẹ
của Bồ-tát, lúc Bồ-tát ở trong thai; Chuyển Luân Vương, mẹ của Luân
Vương, lúc Luân Vương ở trong thai. Vua- Tiên-sứ giả của Phật, người
được Phật thọ ký, như Trưởng giả tử Căng-kỳ-la-thù-để-sắc-ca, Trưởng
giả tử Ốt-đát-la, Trưởng giả tử Đạt-nhĩ-la, thầy trò Trị-xa-thắng-nga,
Thời-phược-ca, Cưu-ma-la…
Người được Phật thọ ký, đó là Bổ- đặc-già-la ở thân cuối cùng
chưa làm xong những việc làm, người ở ch âu Bắc Câu-lô thời kỳ bắt
đầu của kiếp, Long vương Ai-la-phạt-noa, Long vương Thiện trú, Diệm
Ma vương…, và một loại khác đều không làm hại. Đó gọi là bốn loại đã
đạt được tự Thể.
Đức Thế Tôn nói có loại đã đa ït được tự Thể, không vì mình làm
hại cũng không bị loài khác làm hại. Lúc ấy Tôn giả Xá-lợi-tử, từ chỗ
ngồi mà đứng dậy, trệch áo bày một vai, đầu gối chân phải sát đất, chắp
tay cung kính mà thưa với Đức Phậ t rằng: Như thế nào là hữu tình đã
đạt được tự Thể, không vì mình làm hại cũng không bị loài khác làm
hại? Đức Phật bảo với Xá-lợi-tử: Hữu tình ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
không vì mình làm hại cũng không bị loài khác làm hại.”
Hỏi: Dựa vào luận mà sinh ra luận, Tôn giả Xá-lợi-tử đối với điều
đã hỏi này là biết rõ ràng hay không? Nếu biết rõ ràng thì tại sao   còn
14 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
hỏi? Nếu không biết rõ ràng thì làm sao được gọi là Thanh văn đến bậc
cuối cùng? Sao nói là Đức Thế Tôn không thể ở nơi không phải là ruộng
đất, không phải là đồ đựng mà rưới làn mưa giáo pháp, khiến cho pháp
đã nói ra trống rỗng, không có kết quả?
Đáp: Có người nói: Tôn giả biết rõ ràng.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao còn hỏi?
Đáp: Cũng có lúc biết mà cố tình hỏi. Như trong Tỳ-nại-da nói:
“Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn biết ma ø cố ý hỏi, bởi vì làm cho điều đã
nói được rõ ràng.” Vả lại, Tôn giả ấy tuy tự mình biết rõ ràng, nhưng vì
lợi ích thêm cho người khác, vì vậy cho nên thưa hỏi. Nghĩa là ở trong
chúng hội có người chưa biết rõ ràng, nhưng bởi vì không có lực Vô úy
cho nên không thể nào thưa hỏi Đức Phật, Tôn giả Xá-lợi-tử thành tựu
lực Vô úy, vì lợi ích của mọi người cho nên tuy biết mà vẫn hỏi.
Có người nói: Tôn giả cũng không biết rõ ràng.
Hỏi: Nếu như vậy thì làm sao được gọi là Thanh văn đến bậc cuối
cùng?
Đáp: Không nói thì không biết, nói rồi thì biết, điều này có gì sai
lầm?
Hỏi: Sao nói là không thể ở nơi không phải là ruộng đất,   không
phải là đồ đựng mà rưới làn mưa giáo pháp, khiến cho pháp đã nói ra
trống rỗng, không có kết quả?
Đáp: Tôn giả Xá-lợi-tử tuy không biết rõ ràng, mà ở trong chúng
có người khác có thể biết, như Bồ-ta ùt Từ Thị…, cho nên không phải là
không có kết quả. Nếu là Tuệ vô lậu th ì tuy lúc bấy giờ Xá-lợi-tử hơn
hẳn, nhưng nếu như Tuệ thế tục thì Bồ-tát Từ Thị hơn hẳn, cho nên Đức
Phật trong một lúc cùng với Bồ-tát Từ Thị luận về Thế tục đế, mà các
Đại Thanh văn như Xá-lợi-tử… không có ai có thể hiểu được.
Hỏi: Tự Thể của địa dưới cũng có loại không vì mình làm hại cũng
không bị loài khác làm hại, vì sa o chỉ nói đến Phi tưởng phi phi tưởng
xứ?
Đáp: Nêu ra loại sau để hiển bày loại trước, cho nên đưa ra cách
nói này. Đức Thế Tôn có nơi nêu ra phần sau để hiển bày phần trước,
như văn này… Có nơi nêu ra phần trước để hiển bày phần sau, như nói
lìa pháp ác bất thiện có Tầm-có Tứ của cõi Dục, trú đầy đủ trong địa Ly
sinh hỷ lạc của Tĩnh lự thứ nhất…
Như nêu ra phần sau để hiển bày phần trước, nêu ra phần cuối
cùng để hiển bày phần bắt đầu, nêu ra phần rời khỏi để hiển bày phần
tiến vào, nêu ra phần cứu cánh đ ể hiển bày phần gia hạnh, nên biết
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 151 15  
www.daitangkinh.org  
cũng như vậy.
Có người nói: Địa dưới không nhất  định, vì vậy không nói đến.
Nghĩa là hữu tình ở địa dưới đã đạt  được tự Thể, hoặc là không có tai
họa bất ngờ, như trú trong Định Vô tưởng…, hoặc là có tai họa bất ngờ,
như chư Thiên vui chơi quên hết…, Phi tưởng phi phi tưởng xứ nhất định
không có tai họa bất ngờ, cho nên chỉ nói đến địa ấy.
Có người nói: Trong bốn Tĩnh lự-ba Vô sắc cũng có sự việc vui
chơi quên hết mà chết… như cõi Dục, Phi tưởng phi phi tưởng xứ hoàn
toàn không có sự việc này, cho nên chỉ nói đến địa ấy.
Có người nói: Hữu tình ở địa dướ i đều có phiền não với thế lực
tăng cao, nếu phiền não ấy hiện rõ tr ước mắt thì thường chết yểu, Phi
tưởng phi phi tưởng xứ không có phiền não này, vì vậy Đức Thế Tôn
chỉ nói đến địa ấy.
Tôn giả Pháp Cứu đưa ra cách giải thích này: “Trong này vì mình
làm hại, nghĩa là vì đạo đối trị của  địa mình làm hại; bị nơi khác làm
hại, nghĩa là bị đạo đối trị thuộc pha ïm vi của địa trên làm hại. Tự Thể
của Tĩnh lự thứ nhất vì mình làm hại, nghĩa là Thánh đạo của địa mình;
bị nơi khác làm hại, nghĩa là đạo thế tục thuộc phạm vi của Tĩnh lự thứ
hai. Cho đến tự Thể của Vô sở hữu xứ vì mình làm hại, nghĩa là Thánh
đạo của địa mình; bị nơi khác làm hại, nghĩa là đạo thế tục thuộc phạm
vi của Phi tưởng phi phi tưởng xứ. T ự Thể của Phi tưởng phi phi tưởng
xứ không phải là do chính mình làm hại, bởi vì địa của mình không có
Thánh đạo; cũng không phải là do nơi khác làm hại, bởi vì không có
đạo thế tục thuộc phạm vi của địa trên. Vì vậy chỉ nói là Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, đã đạt được tự T hể không phải là do mình và nơi khác
làm hại.”
Hỏi: Trú trong Đẳng chí Vô tưởng-Diệt tận, thọ lượng nên nói là
chuyển hay là trú?
Đáp: Đên nói là chuyển.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì làm cho người nghi ngờ có được quyết định. Nghĩa là
trú trong Đẳng chí Vô tưởng-Diệt ta än, các tâm-tâm sở đều không hiện
hành, lúc bấy giờ tâm-tâm sở pháp không khởi-không diệt, đừng cho
rằng phần vị này vốn có thọ lượng hiện hành, như tâm-tâm sở cũng
không khởi-không diệt, chỉ ngưng lại như vậy mà trú. Bởi vì loại trừ mối
nghi này để hiển bày về thọ lượng của phần vị này khởi-diệt trong từng
niệm, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Vì sao gọi là chuyển?
16 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Đáp: Khởi-diệt nối tiếp nhau tr ong từng sát-na cho nên gọi là
chuyển, tức là nghĩa của sự chuyển dời chứ không phải là dừng lại.
Như Đức Thế Tôn nói: “Thọ lượng c ủa con người từ từ hết như
nước của dòng sông nhỏ.”
Hỏi: Nếu thọ lượng của các hữu tìn h khởi lên liền trú, thì vì sao
biết thọ lượng ấy từ từ hết?
Đáp: Bởi vì đời hết-kiếp hết.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì làm cho người nghi ngờ có được quyết định. Nghĩa là
văn trước nói nếu hữu tình trú trong Đẳng chí Vô tưởng-Diệt tận, và ở
cõi Sắc-Vô sắc, thì thọ lượng nên nói là vừa khởi lên liền trú. Hoặc có
người cho rằng thọ lượng ấy vừa khởi lên thì không diệt. Bởi vì loại trừ
mối nghi này để hiển bày về thọ lượng hiện hành ấy, lìa tai họa bất ngờ
cho nên nói là vừa khởi lên liền trú, ma ø thật sự có sinh-có diệt trong
từng sát-na, khiến cho thọ lượng từ từ hết, vì vậy mà soạn ra phần luận
này.
Hỏi: Năm Uẩn đều từ từ hết, vì sao chỉ nói đến thọ lượng?
Đáp: Trong này Đức Thế Tôn nêu ra thọ lượng từ từ hết để hiển
bày về năm Uẩn đều có nghĩa của từ từ hết.
Có người nói: Thọ lượng mạnh hơn, ở trong này Đức Phật nêu ra
pháp mạnh hơn để hiển bày về pháp yếu kém, cho nên chỉ nói đến thọ
lượng không còn.
Có người nói: Thọ lượng có năng lực duy trì năm Uẩn, nếu nói thọ
lượng không còn thì nên biết là đã nói về nghĩa của năm Uẩn không
còn.
Có người nói: Thọ lượng đoạn dứt thì Chúng đồng phần cũng đoạn
dứt, Chúng đồng phần đoạn dứt thì năm Uẩn cũng đoạn dứt. Đức Phật
tùy theo căn bản mà nói, cho nên nói đến thọ lượng không còn.
Có người nói: Thọ lượng có tăng-c ó giảm, có thịnh-có suy, cho
nên Đức Phật chỉ nói đến thọ lượng.
Hỏi: Các nẽo đều có nghĩa về thọ l ượng từ từ hết, vì sao chỉ nói
thọ lượng của con người từ từ hết?
Đáp: Bởi vì Đức Phật vào lúc bấy giờ vì loài người mà nói.
Có người nói: Ý Đức Phật lấy loài người làm đầu, hiển bày về thọ
lượng trong các nẽo đều từ từ hết.
Có người nói: Bởi vì Đức Phật là đồng loại của loài người, cho nên
pháp đã nói ra phần nhiều tùy thuận với loài người.
Có người nói: Bởi vì thọ lượng của loài người có nghĩa tăng-giảm-
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 151 17  
www.daitangkinh.org  
thịnh-suy cao nhất, nghĩa là lúc bắt đầu của kiếp thì tuổi thọ của loài
người là vô lượng, sau đó từ từ giảm đến tám vạn tuổi, về sau lại tiếp
tục giảm cho đến chỉ còn mười tuổi. Nghĩa về thọ lượng của loài người
từ từ hết, rõ ràng có thể biết; nẽo khác thì không như vậy, cho nên Đức
Phật chỉ nói đến loài người.
Hỏi: Nước của những dòng sông lớn cũng có nghĩa từ từ hết, vì sao
chỉ nói là như nước của dòng sông nhỏ?
Đáp: Dòng sông lớn thường xuyên t uôn chảy không có thể biết
được sự từ từ khô hết của nó, không giống như nước của những dòng
sông nhỏ, có lúc tràn đầy như lúc mùa Hạ tuôn mưa, có lúc khô cạn như
đến mùa giá rét. Dòng sông thọ lư ợng của các loài hữu tình cũng như
vậy, có lúc tràn đầy như phần vị thá c sinh trong thai mẹ (kiết sinh), có
lúc hoàn toàn không còn như lúc xả bỏ thân mạng, vì vậy Đức Thế Tôn
dùng dòng sông nhỏ làm ví dụ.
Nếu thọ lượng của các hữu tình khởi lên liền trú, nghĩa là hữu tình
trú trong hai Định không có tâm, và hữu tình ở cõi trên. Đời hết-kiếp
hết, có người nói: Vô thường vi tế gọi là đời hết, Vô thường thô thiển
gọi là kiếp hết.
Có người nói: Vô thường trong từng sát-na gọi là đời hết, Vô
thường trong một thời kỳ gọi là kiếp hết.
Có người nói: Vô thường của vật  thuộc về số hữu tình gọi là đời
hết, Vô thường của vật thuộc về số phi hữu tình gọi là kiếp hết.
Có người nói: Vô thường thuộc về pháp bên trong gọi là đời hết,
Vô thường thuộc về pháp bên ngoài gọi là kiếp hết.
Hỏi: Tiến vào Định Vô tưởng có mấy căn diệt? Cho đến nói rộng
ra.

Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì cần phải ngăn chặn tông chỉ của người khác để  hiển
bày nghĩa lý của mình. Đó là Luận sư Phân Biệt thuộc phái Thí Dụ chấp
rằng: Định Vô tưởng là tâm vi tế, không thể diệt được. Vị ấy đưa ra cách
nói này: Nếu Định Vô tưởng hoàn to àn không có tâm, thì Mạng căn
đoạn rồi phải gọi là chết, không gọi là Định. Vì ngăn chặn ý đó để hiển
bày về Định Vô tưởng hoàn toàn không có tâm. Có người chấp: Định
này tuy không có tâm nhưng lìa nhiễm cõi Dục thì có thể hiện khởi, bởi
vì cõi như nhau. Vì ngăn chặn ý đó để hiển bày về Định Vô tưởng lìa
nhiễm của cõi Biến Tịnh th ì mới có thể hiện rõ trước mắt, bởi vì cần
phải dùng Tĩnh lự thứ tư làm Đẳng vô gián duyên.
Vì vậy Tôn giả Thế Hữu đưa ra  cách nói như va äy: “Thế nào là
18 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Định Vô tưởng? Đó là đã lìa nhiễm của cõi Biến Tịnh, chưa lìa nhiễm
của cõi trên, tác ý rời khỏi T ưởng làm đầu tiên, tâm- tâm sở pháp diệt
đi thì gọi là Định Vô tưởng.” Bởi vì nhân duyên này, cho nên soạn ra
phần luận này.
Hỏi: Tiến vào Định Vô tưởng có mấy căn diệt?
Đáp: Bảy căn, đó là Ý căn-Xả căn và năm căn như Tín…
Hỏi: Tâm-tâm sở hệ thuộc nơi nào diệt đi?
Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc, đây là dựa vào tướng chung thuộc chủng
loại của cõi mà nói, nhưng chỉ hệ thuộc vào địa Tĩnh lự thứ tư.
Hỏi: Rời khỏi Định Vô tưởng có mấy căn hiện rõ trước mắt?
Đáp: Bảy căn, như trước nói.
Hỏi: Tâm-tâm sở hệ thuộc nơi nào hiện rõ trước mắt?
Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc, ở đa ây cũng dựa vào tướng chung thuộc
chủng loại của cõi mà nói, nhưng ch ỉ hệ thuộc vào địa Tĩnh lự thứ tư.
Do đó đã nói chứng được Định Vô tưởng thì quyết định là không có tâm.
Bởi vì lúc tiến vào Định chỉ nói đến các căn và tâm-tâm sở pháp diệt đi,
mà không nói đến khởi lên; vào lúc r ời khỏi Định chỉ nói đến các căn
và tâm-tâm sở pháp khởi lên, mà không nói đến diệt đi.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt