VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 151Quyển 153 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 152

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

問無想定自性云何。答不相應行蘊為性。是
彼攝故。界者在色界。地者在根本第四靜慮
地。問何故下地無此定耶。答非田非器乃至
廣說。又無想定滅心心所故。得下地不順
心心所滅。問何故第四靜慮順心心所滅。
非下地耶。答諸欲入彼定者先起欲界
善心。次入初靜慮。次入第二靜慮。次入第
三靜慮。後入第四靜慮。於第四靜慮上中下
心。從上入中。從中入下。下品心斷入無想

定。譬如女人續毛為縷。除去麁者緝績
細者乃至將盡以手絕之。入無想定當知
亦爾。從麁入細乃至都滅故。此唯在第四
靜慮。又下諸地有歡慼受行相麁動難可
除滅。第四靜慮唯有處中受行相微細易
可斷滅。故下地中無無想定。問何故無色
界無彼定耶。答唯有異生計習此定以為
能證無想涅槃。無色界中無有無想異熟
可計故。無想定於彼亦無。又諸異生怖畏斷
滅。彼界無色若更滅心便為斷滅。是彼所怖
故彼界中無無想定。問此無想定何處能起。
有作是說唯欲界起欲界心猛。有說。力故。
有餘師說。通欲界三靜慮起由念曾修加
行勢力亦能起故。復有說者。第四靜慮亦能
現起除無想天勿果與因極相逼故。彼歿
定當生欲界故。問此無想定誰所起耶。答
唯異生起由作出離想故。聖於有法無出
離想。問起此定。後有能入見道不。有說。
不能由此定是異生定故。若起此定後能
入見道。便有聖者成就此定。不應名異
生定。有說。起此定後亦能入見道。問若爾
云何名異生定。答聖雖成就而不現行。彼
依現行名異生定。是故尊者妙音說曰。得
此定補特伽羅有能入正性離生者。應言
退失此定。於彼極厭不現行故。命終生於
第四靜慮。於彼處所有容受故。評曰。應知
前所說好。問此無想定為加行得。為離染
得。答是加行得非離染得。離第三靜慮染
時不得故。若離染得者聖離第三靜慮染時

亦應得。然則不應名異生定。問此無想定
亦得過去修未來耶。有說。不然。唯有心定
可有是事。非於無心有得修義若作是
說。定初剎那唯成就現在。定餘剎那成就過
去現在。出此定已但成就過去。有說。此定
有未來修。以加行得法有未來修故。此定
必由極作意力加行而得。云何無未來修
耶。若作是說。定初剎那成就未來現在。定
餘剎那成就三世。出此定已成就過去未
來。問若如有心有得修者。聖離第三靜慮
染第九無間道時。如得第四靜慮并眷屬
亦應得此定。是則不應名異生定。答前說
此定唯加行得。是故異生聖者離第三靜慮
染時皆悉不得。唯諸異生離彼染已。以
加行力方乃得之。是故無過。如是說者。
應如初說。以有心定可未來修。此定無心
無未來修義。由此過去亦無得理。如別解
脫律儀。此亦如是。問此無想定有退轉不。
答此無退轉。云何知然。曾聞有苾芻得無
想定。出此定已諸根寂然。進止威儀語言衣
著。受諸飲食皆悉詳審。有阿羅漢先得願
智。見已念言此善男子。必獲勝法我當觀
其所證邊際。念已入定以願智力見彼苾
芻得無想定。便從定起而語之言。汝之所
證極為非善。如何遇佛功德寶藏。捨而謬
取外道所學糞壤定耶。汝今宜應疾疾棄
捨。苾芻聞已作意捨之。此定隨逐不能捨
離。乃至休道還家亦不能捨。後命終已生
無想天。故知此定不可退轉。譬喻者說。此

有退轉。以一切業皆可轉故。乃至無間業
若遇勝緣亦有轉義。若無間業不可轉者。
應無有能越第一有。評曰。應知前所說
好。問此無想定於眾同分為能牽引。為但
圓滿。答但能圓滿不能牽引。以眾同分唯
業所引此非業故。問此無想定為順現法
受為順次生受。為順後次受。為順不定受
耶。答唯順生法受。非順現法受等。非順現
法受者。以於餘處修此定已生無想天
方與果故。非順後次受者。此定猛利速與
果故。非順不定受者。不可退轉故。問此
於何處受何異熟果。答於無想天受五蘊
異熟果。入滅盡定幾根滅。乃至廣說。問何
故作此論。答為止他宗顯己義故。謂譬喻
者分別論師執。滅盡定細心不滅。彼說無
有有情而無色者。亦無有定而無心者。若
定無心命根應斷。便名為死非謂在定。為
止彼意顯滅盡定都無有心。有執。此定雖
無有心。但離色染即能現起以界同故。
為止彼意顯滅盡定要離無所有處染方
得現前。非想非非想處心為等無間緣故。
由此尊者世友說言。云何滅盡定。謂已離無
所有處染。止息想作意為先心心所法滅。是
名滅盡定。由此因緣故作斯論。入滅盡定
幾根滅。答七。謂意捨信等五根。何繫心心所
滅。答無色界繫。此依界類總相而說。然唯
非想非非想處繫。出滅盡定幾根現前。答或
七或八。有漏心七。無漏心八。謂若非想非非
想處心出者。七根現在前。如前說。若無所有

處心出者。八根現在前。謂前七及已知具知
根隨一。何繫心心所現前。答或無色界繫。或
不繫。謂若非想非非想處心出者無色界繫。
若無所有處心出者不繫。由此所說證滅盡
定決定無心。以入定時。但說諸根心心所法
滅。而不說起。於出定時但說諸根心心所
法起而不說滅故。
問滅盡定自性云何。答不相應行蘊為性。是
彼攝故。界者在無色界。地者在根本非想非
非想處地。問何故下地無此定耶。答非田非
器乃至廣說。又滅盡定滅極細心心所故得。
下地不順極細心心所滅。問何故非想非非
想處。順極細心心所滅。非下地耶。答諸欲
入彼定者。先起欲界善心。次入初靜慮。次
入第二靜慮。如是乃至入無所有處。次入
非想非非想處。於非想非非想處上中下心。
從上入中。從中入下。下品心斷。入滅盡
定。所說譬喻如前應知。故此唯在非想非
非想處。又下諸地皆名有想。行相麁動難
可止息。此地名非想非非想。行相微細易
可止息故。下地中無滅盡定。有說。二定俱
無心故各於一界邊立。謂無想定於有色界
邊立。滅盡定於無色界邊立。有說。二定俱
無心故各於一地邊立。謂無想定依有色地
邊立。滅盡定依無色地邊立。有說。二定俱
無心故。各於一聚邊立。謂無想定於大種
所造色聚邊立。滅盡定於心心所法聚邊
立。有說。一切地皆有二種過。一過貪欲。二
過住處。初靜慮地過貪欲者。謂自地聖道。過

住處者。謂第二靜慮。乃至無所有處。過貪欲
者。謂自地下地聖道。過住處者。謂非想非非
想處。非想非非想處過貪欲者。謂下地聖道。
過住處者。謂滅盡等至。若下地有滅盡定
者。則下諸地應有三種過。或二種過。非想
非非想處。唯有一種過。勿有如斯不平等
過故。滅盡定非下地有。有說。此定由二因
緣立為解脫。一背捨一切所緣。二邊際心
斷。若下地有滅盡定者。則非背捨一切所
緣。於上所緣未棄背故。亦不可說邊際
心斷。中間心斷非邊際故。有說。此定次第
定中為後邊故。必從非想非非想處無間
而入。由此等緣於下諸地無滅盡定唯有
頂有。如世尊說。何等名為滅盡等至。謂超
過一切非想非非想處故。想受滅身作證具
足住。問滅盡等至即非想非非想處繫。何故
佛說超過一切非想非非想處耶。答雖即
彼繫寂靜勝故。佛說超彼。譬如村邊阿練
若處。雖即村界亦以寂靜說離於村。又
有二種非想非非想處。一有心。二無心。超
過一切非想非非想處故者。依有心非想非
非想處說想受滅身作證具足住者。依無心
非想非非想處說。如有心無心。相應不相
應。有所依無所依。有行相無行相。有作意無
作意。有所緣無所緣。應知亦爾。又有二種
非想非非想處一染污。二不染污。超過一切
非想非非想處故者。依染污者說。想受滅
身作證具足住者。依不染污者說。如染污
不染污。見所斷修所斷亦爾。又有二種非想

非非想處。一曾得二未曾得。超過一切非想
非非想處故者。依曾得者說。想受滅身作
證具足住者。依未曾得者說。如曾得未曾
得。共不共亦爾。又有二種非想非非想處。一
離染得。二加行得。超過一切非想非非想處
故者。依離染得者說。想受滅身作證具足住
者。依加行得者說。又依地次第超過而說
超過一切無所有處。入非想非非想處具足
住者。依超過下地貪欲說。超過一切非想
非非想處故。想受滅身作證具足住者。依超
過自地有心住處說。問諸無學者。可言超
過一切非想非非想處。彼於有頂具有貪
欲及住處二種過故。諸有學者。於彼唯有
一種過。如何可言超過一切。答一切有二
種。一一切一切。二少分一切。此中學者依少
分說故無過。有說。此中但依超過住處而
說。謂諸學者。雖於有頂修所斷貪欲未能
超過一切。而於有頂住處能一切超過。有
說。此中依暫時超過說。謂諸學者。暫時超
過有心位一切有頂出有心入無心故。
問滅盡定中滅一切心心所法。何故但言想
受滅。不說心等。答譬喻者說。此定有心唯
滅想受。問今不問彼。但問說無心者何故
爾耶。答說想受滅顯餘亦滅。非餘相應法
離想受起故。有說。此中說最勝者。以諸
心品想受最勝。以勝滅故餘亦隨滅。有說。
此中現門現略現趣入故。謂心聚中有是根
性有非根性。若說受當知已說是根性者。
若說想當知已說非根性者。如根性非根

性。有明無明。有現見無現見。應觀察不應
觀察。妙非妙。尊非尊。勝非勝。應知亦爾。有
說。想受是諸瑜伽師極所厭患。由受力故
令諸有情色界勞弊。由想力故令諸有情
無色勞弊。是故世尊說想受滅。有說。想受二
界中勝。受於色界中勝。想於無色界中勝。
有說。耽樂受故。執倒想故。令諸有情輪
迴生死。受諸苦惱。有說。想受各別立蘊。及
立識住。有說。想受能起愛見二種煩惱。受
力故起愛。想力故起見。一切煩惱此二為
首。有說。想受是二諍根。由受故耽著諸欲。
令在家者起諸鬪諍。由想故耽著諸見。令
出家者起諸鬪諍。如二諍根。二邊。二箭。二
戲論。二我所。二雜染應知亦爾。有說。行者
憎受想故入滅盡定。由如是義故佛唯說
滅此二法。如施設論說。云何加行起滅等
至。謂初修業者。於一切行不作加行。不欲
思惟諸我所有。未生想受當令不生。已生
想受當令速滅。若於爾時所有想受未生不
生。已生者滅。是名為滅。云何此滅說名等
至謂於滅法無障無背自在現見。自身所證
故名等至。以是事故世尊說滅唯一剎那。
等至相續。問令心平等說名等至。此中無
心云何名等至。答等至有二。一令心平等。
二令大種平等。無想滅盡定。雖斷平等心
令不相續。而引平等大種令現在前故名
等至。
問何故二無心定中。唯滅盡定立為解脫非
無想定。脇尊者言。佛於諸法體相作用了達

究竟。餘不能知。若法有解脫相者。便即立
之。無者不立。復次滅盡定唯內法有故立
解脫。無想定唯外法有故不立解脫。如內
法外法。聖者異生亦爾。復次滅盡定唯背雜
染向清淨者相續中可得故立解脫。無想
定唯背清淨向雜染者。相續中可得故不
立解脫。如背雜染向雜染。背生死向生
死背流轉向流轉當知亦爾。復次滅盡定
唯背我見。向無我見者。相續中可得故立
解脫。無想定唯背無我見向我見者。相續
中可得故不立解脫。復次滅盡定唯背薩
迦耶見向空觀者。相續中可得故立解脫。
無想定唯背空觀。向薩迦耶見者。相續中
可得故不立解脫。復次前說滅盡定由二
因緣立為解脫。一背一切所緣。二邊際心
斷。無想定二事俱無。是故不立。復次滅盡
定。唯障諸界諸趣諸生者。相續中可得故
立解脫。無想定。唯不障諸界諸趣諸生者。
相續中可得故不立解脫。復次棄背諸有
名為解脫。滅盡定。棄背諸界諸趣諸生。生
死轉流覺。無想定不爾。由此等緣二無心
定中。唯滅盡定立為解脫。非無想定。
問無想定滅盡定有何差別答名即差別。名
無想定。名滅盡定。復次界亦差別。無想定
色界繫滅盡定無色界繫。復次地亦差別。無
想定在第四靜慮滅盡定在非想非非想處。
復次相續亦有差別。無想定在異生相續滅
盡定在聖者相續。復次入無想定時作出
離想入滅盡定時作止息想。復次入無想

定時唯厭於想。入滅盡定時通厭想受。復
次入無想定時唯欲滅想。入滅盡定欲
滅受想。復次入無想定時滅色界繫心心
所法。入滅盡定時滅無色界繫心心所法。
復次入無想定時。滅第四靜慮心心所法。
入滅盡定時。滅非想非非想處心心所法。
復次無想定招色界異熟。滅盡定招無色界
異熟。復次無想定招第四靜慮異熟。滅盡定
招非想非非想處異熟。復次無想定唯順生
受異熟。滅盡定順生後不定受異熟。故有
差別。尊者世友作是問言。無想定滅盡定何
差別。答一名無想定。一名滅盡定。故有差
別。又界地相續想厭欲樂。所滅異熟皆有差
別。廣說如上。又異生入無想定感無想處
果。聖者入滅盡定感有頂處果。又無想定
令諸異生受色界異熟果。滅盡定令諸學者
受無色界異熟果。令無學者受無色界等流
果。是謂無想定滅盡定差別。
問八解脫中世尊何故唯說第三第八解脫。
名身作證非餘耶。如契經言。淨解脫身作
證。想受滅解脫身作證。答有餘契經於八
解脫。世尊皆說名身作證。如大因緣經中。佛
於八解脫一一皆說身作證具足住故。問
雖少經中於八解脫說身作證。於多經中
唯說二種名身作證。何故爾耶。答此二解
脫八解脫中。名義最勝。是故偏說。有說。此
二解脫俱用加行功力所證故。有說。此二
各居一界邊謂淨解脫居色界邊。想受滅解
脫居無色界邊。有說。此二解脫各居一地

邊。謂淨解脫在第四靜慮邊。想受滅解脫在
非想非非想處邊。有說。淨解脫於大種所造
色聚邊際而立。想受滅解脫於心心所法聚
邊際而立。有說淨解脫雖取色淨相。而不
起煩惱。以殊勝故。世尊安立身作證名
想受滅解脫。以無心故。在身非心身力所
起非心力起。是故世尊說為身證。有說。於
契經中說八解脫身作證者。皆以此二解
脫故得名身證。由此等義故。唯二種說身
作證具足住者。有多處說具足住聲。謂或
有處於色蘊少分說具足住。或有於善五
蘊說具足住。或有於善四蘊說具足住。或
有於不相應行蘊一分說具足住。或有於
寂滅涅槃說具足住於色蘊一分說具足
住者。如伽他說。
於妙慧聖教具足住尸羅
一切皆賢善多功德寶藏
於善五蘊。說具足住者。如說。初靜慮乃至
第四靜慮具足住。於善四蘊說具足住者。
如說。空無邊處。乃至非想非非想處具足住。
於不相應行蘊一分說具足住者。如此八
解脫中。說想受滅解脫身作證具足住。於寂
滅涅槃說具足住者如說。於涅槃身作證
具足住。
問滅盡定有幾種類。有說。有四。謂具縛者
所起。離上三品者所起。離中三品者所起。離
下三品者所起。種類各別故。復有說四。謂
離六七八九品染者所起。各以為一彼說
具縛者。乃至離五品染者。皆未能起此

定故。有說。此定有九種。謂離上上品者所
起。乃至離下下品者所起。唯具縛者不能起
故。有說。此定有十種。謂具縛者所起。乃至
離下下品者所起。問若具縛者能起此定。諸
異生類何不能起。答縛有二種。一見所斷
二修所斷。於有頂中若缺見所斷縛具修
所斷縛者能起此定。具二縛者則不能起。
如是說者。此滅盡定有十一種謂具縛者所
起。離上上品者所起。乃至離下下品者所起。
時解脫阿羅漢練根得不動者所起。問此十
一種體有異耶。有說。不異。問若爾何故說
十一。答由位別故非體有異。有說。此十一
種其體各異。隨位所起種類別故。問若爾具
縛者所起。乃至時解脫阿羅漢練根得不動
者。所起差別云何。答有具縛時起滅盡定。
即彼進斷一品染時。復起滅盡定。彼於爾
時先所起者得而不在身。成就不現前。今
所起者得亦在身。成就亦現前。即彼乃至從
時解脫練根得不動。彼於爾時前諸位中
所起滅定得而不在身。成就不現前。今不
動位所起滅定得亦在身。成就亦現前。由此
應知體類各別。
問此定有上中下品類別不。若有者。施設論
說云何通。如彼說。滅無差別。若無者佛獨
覺聲聞所起無勝劣耶。有說。此定無上中
下。問施設論說滅無差別。雖已善通而佛
獨覺聲聞所起無勝劣耶。答體無勝劣。皆
以心心所滅為其性故。但由加行說有差
別。謂佛起此定不由加行。獨覺下加行。聲

聞或中或上。如是說者。此滅盡定有上中下
品類差別。問三乘所起有勝有劣。雖已善
通。施設論說滅無差別當云何通。答依能
斷滅心心所法無差別義說無差別。而滅盡
定是有為故。如餘有為有上中下。由隨
根性階分異故。謂佛所得是上。獨覺所得是
中。聲聞所得是下。聲聞乘中有多差別。且有
學位具縛所起為下下。乃至斷八品所起
為上上。無學位中退法種性所起為下下。
乃至學得不動種性所起為上下。餘本
得不動種性所起為上中。波羅蜜多聲聞
所起為上上。一一種性中根品差別所起。
各有上中下品類差別。是故滅定有多品類。
問此滅盡定幾物為體。有說。此定一物為
體。若滅現前即名無心故。問云何一滅剎
那現前即名無心。答如一受剎那現前即
名有受。一想剎那現前即名有想。一識剎那
現前即名有識。如是一滅剎那現前即名
無心。斯有何過。有說。此定十一物為體。以
十大地法及心滅故。有說。此定二十一物為
體。以十大地法十大善地法及心滅故。如
是說者。隨滅爾所心心所法。即有爾所物
現前為此定體。問此滅盡定自體既爾。其相
云何。答自體即相。相即自體。以一切法不
可離體別說其相。故尊者世友作如是言。
此滅盡定解脫為相。故作是說。住此定者
心心所法解脫。勝解脫。極勝解脫。離繫。勝離
繫。極勝離繫。問此定不能斷諸煩惱。如何
可說住此定者心心所法解脫等言。答住

此定者心心所法暫時解脫。乃至暫時極勝
離繫。故說此言。非謂此能斷諸煩惱。
有如是說。若法想微細為因。微微為等無
間。不與彼俱。非不成就。是謂解脫問此說
何法。有說。此說滅盡定若作是說。此說滅
定者。彼說此定想微細為其因。謂一因即
同類因。微微亦與作因。謂一因即同類因。亦
與作等無間緣。若作是說。此說滅盡定者。
彼應說。若法想微細為因。微微為等無間。
不應說。不與彼俱。以彼滅定正現前故。
應說。非不成就。以住定時彼成就定故。有
說此說出定心。若作是說。此說出定心
者。彼說此出定心想微細為其因。謂一因
即同類因。微微亦與作因。謂一因即同類因。
亦與作等無間緣。若作是說。此說出定心
者。彼應說。若法想微細為因。微微為等無
間。應說。不與彼俱。以住定時彼出定心不
現前故。應說。非不成就以住定時彼成就
出定心故。由此證知。彼先得出定心。有說。
此說入定心。若作是說。此說入定心者。彼
說。此入定心想為其因。謂一因即同類因。微
細亦與作因。謂一因即同類因。亦與作等無
間緣。若作是說。此說入定心者。彼應說。若
法想為其因。微細為等無間。應說。不與彼
俱。以住定時彼入定心不現前故。應說非
不成就以住定時彼成就入定心故。

Việt dịch

SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 152 19  
www.daitangkinh.org  


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

QUYỂN 152

LUẬN VỀ ĐẲNG TÂM (Phần 2)

Hỏi: Tự tánh của Định Vô tưởng là gì?
Đáp: Hành uẩn không tương ưng làm tánh, là do Định ấy thâu
nhiếp. Cõi thì thuộc về cõi Sắc, địa thì thuộc về địa Căn bản của Tĩnh
lự thứ tư.
Hỏi: Vì sao địa dưới không có Định này?
Đáp: Bởi vì không phải là ruộng đất, không phải là đồ đựng, cho
đến nói rộng ra. Vả lại, bởi vì Định  Vô tưởng diệt hết tâm-tâm sở, đạt
được địa dưới không thuận với tâm-tâm sở diệt hết.
Hỏi: Vì sao Tĩnh lự thứ tư thuận với tâm-tâm sở diệt hết, chứ
không phải là địa dưới?
Đáp: Những người muốn tiến vào Định ấy, trước tiên khởi lên tâm
thiện của cõi Dục, tiếp theo tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, tiếp theo tiến vào
Tĩnh lự thứ hai, tiếp theo tiến vào Tĩnh lự thứ ba, sau cùng tiến vào Tĩnh
lự thứ tư. Đối với tâm thuộc phẩm Thượng-Trung-Hạ của Tĩnh lự thứ tư,
từ phẩm Thượng tiến vào phẩm Trung, từ phẩm Trung tiến vào phẩm
Hạ, tâm thuộc phẩm Hạ đoạn rồi tiến vào Định Vô tưởng. Ví như người
nữ kéo lông làm sợi, trừ bỏ sợi thô kéo lấy sợi mịn, cho đến gần hết thì
dùng tay ngắt đi. Tiến vào Định V ô tưởng, nên biết cũng như vậy, bởi
vì từ thô tiến vào tế cho đến hoàn toàn diệt đi, cho nên Định này chỉ
thuộc về Tĩnh lự thứ tư.
Vả lại, các địa dưới có hành tướng thô động của cảm thọ vui
mừng-lo buồn, khó có thể trừ diệt; Tĩnh lự thứ tư chỉ có hành tướng vi tế
của cảm thọ ở mức trung bình, dễ da øng có thể đoạn diệt. Vì vậy trong
địa dưới không có Định Vô tưởng.
20 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Hỏi: Vì sao cõi Vô sắc không có Định ấy?
Đáp: Chỉ có dị sinh chấp rằng luyện tập Định này để làm năng
lực chứng được Niết-bàn Vô tưởng, trong cõi Vô sắc không có dị thục
Vô tưởng có thể chấp vào, cho nên Định Vô tưởng ở cõi ấy cũng không
có.
Vả lại, các dị sinh sợ hãi đoạn diệt, cõi ấy không có sắc nếu lại
diệt tâm thì trở thành đoạn diệt, bởi vì nỗi sợ ấy cho nên trong cõi ấy
không có Định Vô tưởng.
Hỏi: Định Vô tưởng này ở nơi nào có thể khởi lên?
Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Chỉ khởi lên ở cõi Dục, bởi vì
tâm của cõi Dục mạnh mẽ.
Có Sư khác nói: Bao gồm cõi Dục  và ba Tĩnh lự khởi lên, do thế
lực của tâm đã từng tu gia hạnh, cho nên cũng có thể khởi lên.
Lại có người nói: Tĩnh lự thứ tư cũng có thể hiện khởi, trừ ra cõi
trời Vô tưởng, bởi vì ban đầu quả và nhân áp sát nhau hết sức, cho nên
ở cõi ấy chết đi nhất định sẽ sinh vào cõi Dục.
Hỏi: Định Vô tưởng này do ai mà khởi lên?
Đáp: Chỉ có dị sinh khởi lên, bởi vì dấy lên ý tưởng xuất ly (Niết-
bàn); bậc Thánh không có ý tưởng xuất ly đối với pháp có.
Hỏi: Khởi lên Định này, về sau có người nào có thể tiến vào Kiến
đạo hay không?
Đáp: Có người nói: Không thể nào, bởi vì Định này là Định của dị
sinh, nếu khởi lên Định này về sau có thể tiến vào Kiến đạo, thì có lúc
Thánh giả thành tựu Định này, không nên gọi là Định của dị sinh.
Có người nói: Khởi lên Định này về sau cũng có thể tiến vào Kiến
đạo.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao gọi là Định của dị sinh?
Đáp: Thánh giả tuy thành tựu mà không hiện hành, đó là dựa vào
hiện hành cho nên gọi là Định của dị sinh.
Vì vậy cho nên Tôn giả Diệu Âm nói  rằng: “Bổ-đặc-già-la đạt
được Định này, có người có thể tiến va øo Chánh tánh ly sinh, phải  nói
là lui sụt mất đi Định này, vào lúc ấy hết sức chán ngán cho nên không
hiện hành, mạng chung sinh vào Tĩnh lự thứ tư, bởi vì ở nơi ấy dung nạp
tất cả.”
Nói như vậy thì cách nói trước là hợp lý.
Hỏi: Định Vô tưởng này là gia ha ïnh đạt được, hay là lìa nhiễm
đạt được?
Đáp: Là gia hạnh đạt được chứ không phải là lìa nhiễm đạt được,
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 152 21  
www.daitangkinh.org  
bởi vì lúc lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba thì không đạt được. Nếu lìa
nhiễm đạt được thì lúc Thánh giả lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba cũng phải
đạt được, vậy thì không nên gọi là Định của dị sinh.
Hỏi: Định Vô tưởng này cũng đạt được ở quá khứ-tu ở vị lai
chăng?
Đáp: Có người nói: Không thể như vậy, chỉ riêng Định có tâm có
thể có điều này, không phải là đối với Định không có tâm mà có nghĩa
đạt được do tu. Hoặc là đưa ra cách nói này: Định trong sát-na thứ nhất
chỉ thành tựu hiện tại, Định trong những sát-na khác thành tựu quá khứ-
hiện tại, rời khỏi Định này rồi chỉ thành tựu quá khứ.
Có người nói: Định này có tu vị lai, bởi vì pháp do gia hạnh đạt
được có tu vị lai, cho nên Định này chắc chắn nhờ vào lực tác ý gia hạnh
cao nhất mà đạt được, tại sao không c ó tu vị lai? Hoặc là đưa ra cách
nói này: Định trong sát-na thứ nhất thành tựu vị lai-hiện tại, Định trong
những sát-na khác thành tựu ba đời, rời khỏi Định này rồi thành tựu quá
khứ-vị lai.
Hỏi: Nếu như có tâm-có đạt được  do tu, lúc Thánh giả lìa nhiễm
của Tĩnh lự thứ ba với đạo vô gián thứ chín, thì như đạt được Tĩnh lự thứ
tư cùng với quyến thuộc cũng phải đạt được Định này, vậy thì không
nên gọi là Định của dị sinh?
Đáp: Trước đây nói Định này chỉ có gia hạnh đạt được, vì vậy lúc
dị sinh và Thánh giả lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba đều không đạt được.
Chỉ có các dị sinh lìa nhiễm ấy rồi, dùng lực gia hạnh thì mới đạt được,
vì vậy không có lỗi gì.
Nói như vậy thì phải như cách nói thứ nhất, bởi vì Định có tâm thì
có thể tu vị lai, Định này không có tâm thì không có nghĩa về tu vị lai,
do đó quá khứ cũng không có lý đạt được. Như luật nghi Biệt giải thoát,
điều này cũng như vậy.
Hỏi: Định Vô tưởng này có thối chuyển hay không?
Đáp: Định này không có thối chuyển. Tại sao biết như vậy? Bởi
vì từng nghe: “Có Tỳ kheo đạt được Định Vô tưởng, rời khỏi Định này
rồi các căn vắng lặng, oai nghi đi đứng-nói năng trò chuyện-khoác mặc
y phục, tiếp nhận các thức ăn uống, thảy đều tường tận kỹ càng. Có vị
A-la-hán trước đó đạt được Nguyện trí, thấy rồi nghĩ rằng: Người thiện
nam này, chắc chắn đạt được pháp thù thắng, mình nên quán xét phạm
vi mà người ấy đã chứng! Nghĩ rồi tiến vào Định dùng lực của Nguyện
trí thấy Tỳ kheo ấy đạt được Đị nh Vô tưởng, liền từ trong Định đứng
dậy mà nói với Tỳ kheo ấy rằng: Pháp mà ông đã chứng rất là sai trái,
22 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
tại sao gặp kho báu công đức của Ph ật mà rời bỏ, để lầm lẫn chọn lấy
pháp Định xấu xa thuộc pháp Học của ngoại đạo như vậy? Nay ông cần
phải lập tức rời bỏ! Tỳ kheo nghe rồi tác ý rời bỏ, nhưng Định này bám
theo không thể nào rời ra được, thậm chí bỏ đạo trở về nhà cũng không
thể rời ra được, sau đó mạng chung rồi sinh đến cõi trời Vô tưởng.” Vì
vậy biết rằng Định này không có thể thối chuyển.
Phái Thí Dụ nói: “Định này có thối chuyển, bởi vì tất cả các
nghiệp đều có thể chuyển, thậm chí là nghiệp vô gián nếu gặp được
duyên thù thắng thì cũng có nghĩa về chuyển. Nếu nghiệp vô gián
không có thể chuyển, thì lẽ ra không có ai có thể vượt qua nghiệp nhân
và quả báo thứ nhất (đệ nhất hữu).”
Nói như vậy thì cách nói trước là hợp lý.
Hỏi: Định Vô tưởng này đối với Chúng đồng phần, là có thể dẫn
dắt, hay là chỉ đầy đủ?
Đáp: Chỉ có thể đầy đủ chứ không có thể dẫn dắt, bởi vì Chúng
đồng phần chỉ do nghiệp dẫn dắt, mà Định này không phải là nghiệp.
Hỏi: Định Vô tưởng này là nhận la áy thuận theo pháp hiện tại, là
nhận lấy thuận theo đời kế tiếp, là nhận lấy thuận theo đời kế tiếp thứ
hai, hay là nhận lấy thuận theo không nhất định?
Đáp: Chỉ nhận lấy thuận theo pháp của đời kế tiếp, không phải
là nhận lấy thuận theo pháp hiện tại… Không phải là nhận lấy thuận
theo pháp hiện tại, bởi vì ở nơi khác tu Định này rồi sinh đến cõi trời
Vô tưởng mới mang lại quả. Không phải là nhận lấy thuận theo đời kế
tiếp thứ hai, bởi vì Định này mạnh mẽ sắc bén nhanh chóng mang lại
quả. Không phải là nhận lấy t huận theo không nhất định, bởi vì không
có thể thối chuyển.
Hỏi: Định này ở nơi nào nhận lấy quả dị thục nào?
Đáp: Ở cõi trời Vô tưởng nhận lấy quả dị thục của năm Uẩn.
Tiến vào Định Diệt tận có mấy căn diệt? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Vì ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày về nghĩa
lý của mình. Đó là Luận sư Phân Bi ệt thuộc phái Thí Dụ chấp rằng:
Định Diệt tận là tâm vi tế, không thể diệt được. Vị ấy nói không có hữu
tình nào mà không có sắc, cũng kh ông có Định nào mà không có tâm.
Nếu Định không có tâm thì Mạng căn phải đoạn dứt, nên gọi là chết
chứ không nói là thuộc về Định. Vì nga ên chặn ý chấp ấy để hiển bày
về Định Diệt tận hoàn toàn không có tâm. Có người chấp: Định này tuy
không có tâm, nhưng lìa nhiễm cõi Sắc thì có thể hiện khởi, bởi vì  cõi
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 152 23  
www.daitangkinh.org  
như nhau. Vì ngăn chặn ý chấp ấy để hiển bày về Định Diệt tận cần
phải lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ mới có thể hiện rõ trước mắt, bởi vì
tâm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Đẳng vô gián duyên.
Vì vậy Tôn giả Thế Hữu nói rằng: “Thế nào là Định Diệt tận? Đó
là đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, tác ý dừng lại Tưởng làm đầu tiên,
diệt hết tâm-tâm sở pháp, đó gọi là Định Diệt tận. Bởi vì nhân duyên
này, cho nên soạn ra phần luận này.”
Hỏi: Tiến vào Định Diệt tận có mấy căn diệt?
Đáp: Bảy căn, đó là Ý căn-Xả căn và năm căn như Tín…
Hỏi: Tâm-tâm sở hệ thuộc nơi nào diệt đi?
Đáp: Hệ thuộc cõi Vô sắc, đây là dựa vào tướng chung thuộc
chủng loại của cõi mà nói, nhưng ch ỉ hệ thuộc vào Phi tưởng phi phi
tưởng xứ.
Hỏi: Rời khỏi Định Diệt tận có mấy căn hiện rõ trước mắt?
Đáp: Hoặc là bảy, hoặc là tám, tâm hữu lậu là bảy, tâm vô lậu là
tám. Nghĩa là nếu tâm thuộc Phi tưởng phi phi tưởng xứ rời khỏi, thì bảy
căn hiện rõ ở trước mắt, như trước nói. Nếu tâm thuộc Vô sở hữu xứ rời
khỏi, thì tám căn hiện rõ ở trước mắt, đó là bảy căn trước và Dĩ tri căn-
Cụ tri căn tùy theo một căn.
Hỏi: Tâm-tâm sở hệ thuộc nơi nào hiện rõ trước mắt?
Đáp: Hoặc là hệ thuộc cõi Vô sắc, hoặc là không hệ thuộc. Nghĩa
là nếu tâm thuộc Phi tưởng phi phi tưởng xứ rời khỏi thì hệ thuộc cõi Vô
sắc, nếu tâm thuộc Vô sở hữu xứ r ời khỏi thì không hệ thuộc. Vì vậy
mà nói chứng được Định Diệt tận thì quyết định là không có tâm. Bởi vì
lúc tiến vào Định, chỉ nói đến các căn và tâm-tâm sở pháp diệt đi, mà
không nói đến khởi lên; vào lúc rời  khỏi Định, chỉ nói đến các căn và
tâm-tâm sở pháp khởi lên, mà không nói đến diệt đi.
Hỏi: Tự tánh của Định Diệt tận là gì?
Đáp: Hành uẩn không tương ưng làm tánh, là do Định ấy thâu
nhiếp. Cõi thì thuộc về cõi Vô sắc, địa thì thuộc về địa Căn bản của Phi
tưởng phi phi tưởng xứ.
Hỏi: Vì sao địa dưới không có Định này?
Đáp: Bởi vì không phải là ruộng đất, không phải là đồ đựng, cho
đến nói rộng ra. Vả lại, đạt được Định Diệt tận bởi vì diệt hết tâm-tâm
sở vi tế nhất, địa dưới không thuận theo diệt hết tâm-tâm sở vi tế nhất.
Hỏi: Vì sao Phi tưởng phi phi t ưởng xứ thuận theo diệt hết tâm-
tâm sở vi tế nhất, chứ không phải là địa dưới?
Đáp: Những người muốn tiến vào Định ấy, đầu tiên khởi lên tâm
24 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
thiện của cõi Dục, tiếp theo tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, tiếp theo tiến vào
Tĩnh lự thứ hai, như vậy cho đến tiến vào Vô sở hữu xứ, tiếp theo tiến
vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đối với tâm thuộc phẩm Thượng-Trung-
Hạ của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, từ phẩm Thượng tiến vào phẩm
Trung, từ phẩm Trung tiến vào phẩm Hạ, tâm thuộc phẩm Hạ đoạn hết,
tiến vào Định Diệt tận. Thí dụ đã nói  như trước nên biết. Vì vậy Định
này chỉ thuộc về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Vả lại, các địa dưới đều gọi la ø Hữu tưởng, hành tướng thô động
khó có thể dừng lại; địa này gọi là Phi tưởng phi phi tưởng, hành tướng
vi tế dễ dàng có thể dừng lại. Vì vậy trong địa dưới không có Định Diệt
tận.
Có người nói: Hai Định đều không c ó tâm, cho nên đều thiết lập
ở phạm vi của một cõi, nghĩa là Định Vô tưởng thiết lập ở phạm vi của
cõi có Sắc, Định Diệt tận thiết lập ở phạm vi của cõi không có Sắc.
Có người nói: Hai Định đều không có tâm, cho nên đều thiết lập ở
phạm vi của một địa, nghĩa là Định Vô tưởng thiết lập dựa vào phạm vi
của địa có Sắc, Định Diệt tận thiết lập dựa vào phạm vi của địa không
có Sắc.
Có người nói: Hai Định đều không c ó tâm, cho nên đều thiết lập
ở phạm vi của một tụ, nghĩa là Định V ô tưởng thiết lập ở phạm vi của
tụ Đại chủng sở tạo sắc, Định Diệt tận thiết lập ở phạm vi của tụ Tâm-
tâm sở pháp.
Có người nói: Tất cả các địa đều có hai loại lỗi lầm:
1. Lỗi lầm do tham dục.
2. Lỗi lầm do trú xứ.
Địa Tĩnh lự thứ nhất có lỗi lầm do tham dục, đó là Thánh đạo của
địa mình; lỗi lầm do trú xứ, đó là Tĩnh lự thứ hai. Cho đến Vô sở hữu xứ
có lỗi lầm do tham dục, đó là Thánh đạo của địa mình và địa dưới; lỗi
lầm do trú xứ, đó là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Phi tưởng phi phi tưởng
xứ có lỗi lầm do tham dục, đó là Thánh đạo của địa dưới; lỗi lầm do trú
xứ, đó là Đẳng chí Diệt tận. Nếu địa dưới có Định Diệt tận, thì các địa
dưới phải có ba loại lỗi lầm, hoặc la ø hai loại lỗi lầm; Phi tưởng phi phi
tưởng xứ chỉ có một loại lỗi lầm. B ởi vì không có lỗi lầm không bình
đẳng như vậy, cho nên Định Diệt tận không phải là có ở địa dưới.
Có người nói: Định này do hai nh ân duyên mà thiết lập làm giải
thoát:
1. Rời bỏ tất cả sở duyên.
2. Đoạn hết giới hạn của tâm.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 152 25  
www.daitangkinh.org  
Nếu địa dưới có Định Diệt tận, thì không phải là rời bỏ tất cả sở
duyên, bởi vì chưa buông bỏ sở duyên phía trên; cũng không thể nói là
đoạn hết giới hạn của tâm, bởi vì đoạn hết tâm trung gian không phải
là giới hạn.
Có người nói: Bởi vì Định này là phần sau cuối trong thứ tự của
Định, cho nên cần phải thuận theo  Phi tưởng phi phi tưởng xứ không
gián đoạn mà tiến vào.
Bởi vì những nhân duyên như vậy,  cho nên ở các địa dưới không
có Định Diệt tận, chỉ có ở cõi Hữu Đảnh.
Như Đức Thế Tôn nói: “Như thế nào gọi là Đẳng chí Diệt tận?
Đó là bởi vì vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trú đầy đủ trong
Tưởng-Thọ diệt-Thân tác chứng.”
Hỏi: Đẳng chí Diệt tận tức là hệ thuộc Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
vì sao Đức Phật nói là vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ?
Đáp: Tuy chính là hệ thuộc cõi ấy, nhưng mà vắng lặng hơn hẳn,
cho nên Đức Phật nói là vượt qua cõi ấy. Ví như chốn A-luyện-nhã gần
bên thôn xóm, tuy chính là trong phạm vi thôn xóm, nhưng cũng bởi vì
vắng lặng cho nên nói là tách lìa thôn xóm.
Lại có hai loại Phi tưởng phi phi tưởng xứ:
1. Có tâm.
2. Không có tâm.
Bởi vì vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là dựa vào Phi
tưởng phi phi tưởng có tâm mà nói; trú đầy đủ trong Tưởng-Thọ diệt-
Thân tác chứng, là dựa vào Phi tư ởng phi phi tưởng xứ  không có tâm
mà nói. Như có tâm-không có tâm, tương ưng-không tương ưng, có sở
y-không có sở y, có hành tướng-không có hành tướng, có tác ý-không có
tác ý, có sở duyên-không có sở duyên, nên biết cũng như vậy.
Lại có hai loại Phi tưởng phi phi tưởng xứ:
1. Nhiễm ô.
2. Không nhiễm ô.
Bởi vì vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là dựa vào
nhiễm ô mà nói; trú đầy đủ trong T ưởng-Thọ diệt-Thân tác chứng, là
dựa vào không nhiễm ô mà nói. Như nhiễm ô-không nhiễm ô, do kiến
mà đoạn-do tu mà đoạn, cũng như vậy.
Lại có hai loại Phi tưởng phi phi tưởng xứ:
1. Đã từng đạt được.
2. Chưa từng đạt được.
Bởi vì vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là dựa vào   đã
26 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
từng đạt được mà nói; trú đầy đủ trong Tưởng-Thọ diệt-Thân tác chứng,
là dựa vào chưa từng đạt được mà nói. Như đã từng đạt được-chưa từng
đạt được, cọng-bất cọng cũng như vậy.
Lại có hai loại Phi tưởng phi phi tưởng xứ:
1. Lìa nhiễm đạt được.
2. Gia hạnh đạt được.
Bởi vì vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là dựa vào
lìa nhiễm đạt được mà nói; trú đầy đủ trong Tưởng-Thọ diệt-Thân tác
chứng, là dựa vào gia hạnh đạt được mà nói.
Lại dựa vào địa theo thứ tự vượt qua mà nói, vượt qua tất cả Vô sở
hữu xứ. Tiến vào trú đầy đủ trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là dựa vào
vượt qua tham dục của địa dưới mà nói, bởi vì vượt qua tất cả Phi tưởng
phi phi tưởng xứ; trú đầy đủ trong Tưởng-Thọ diệt-Thân tác chứng, là
vượt qua trú xứ có tâm của địa mình mà nói.
Hỏi: Những người Vô học, có thể nói là vượt qua tất cả Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, bởi vì họ vượt qua đầy đủ hai loại tham dục và trú xứ
của cõi Hữu Đảnh; những người Học ở cõi ấy chỉ có một loại vượt qua,
làm sao có thể nói là vượt qua tất cả?
Đáp: Tất cả có hai loại:
1. Tất cả của tất cả;
2. Tất cả của phần ít.
Trong này, người Học dựa vào phần ít mà nói, cho nên không có
lỗi.
Có người nói: Trong này chỉ dựa vào vượt qua trú xứ mà nói,
nghĩa là những người Học tuy đối với tham dục do tu mà đoạn của cõi
Hữu Đảnh chưa có thể vượt qua tất cả, nhưng đối với trú xứ của cõi Hữu
Đảnh thì có thể vượt qua tất cả.
Có người nói: Trong này dựa vào tạm thời vượt qua mà nói, nghĩa
là những người Học tạm thời vượt qua tất  cả phần vị có tâm, bởi vì cõi
Hữu Đảnh rời khỏi có tâm-tiến vào không có tâm.
Hỏi: Trong Định Diệt tận, diệt hết tất cả tâm-tâm sở pháp, vì sao
chỉ nói đến Tưởng-Thọ diệt chứ không nói đến tâm…?
Đáp: Phái Thí Dụ nói: Định này có tâm, chỉ diệt Tưởng-Thọ.
Hỏi: Nay không hỏi về điều đó, chỉ hỏi là nói không có tâm thì vì
sao như vậy?
Đáp: Nói đến Tưởng-Thọ diệt là hiển bày về loại khác cũng diệt,
bởi vì không phải là pháp tương ưng khác tách lìa Tưởng-Thọ mà khởi
lên.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 152 27  
www.daitangkinh.org  
Có người nói: Trong này nói đến pháp mạnh nhất, bởi vì các phẩm
tâm thì Tưởng-Thọ là mạnh nhất, bởi vì diệt hơn hẳn cho nên pháp khác
cũng diệt theo.
Có người nói: Bởi vì trong này nêu rõ về môn loại-nêu rõ về
phương thức-nêu rõ về nẽo tiến vào, nghĩa là trong tụ tâm có loại là
tánh của căn, có loại không phải la ø tánh của căn. Nếu nói về Thọ thì
nên biết đã nói đến loại là tánh của căn, nếu nói về Tưởng thì nên biết
đã nói đến loại không phải là tánh của căn. N hư tánh của căn-không
phải là tánh của căn, có minh- không có minh, có hiện thấy-không có
hiện thấy, nên quán sát-không nên quán sát, vi diệu-không phải là vi
diệu, tôn quý-không phải là tôn quý, thù thắng-không phải là thù thắng,
nên biết cũng như vậy.
Có người nói: Tưởng-Thọ là pháp mà các Sư Du-già hết sức lo sợ
chán ngán. Bởi vì lực của Thọ ma ø khiến cho các hữu tình cõi Sắc phải
chịu đựng tai họa, bởi vì lực của Tưởng mà khiến cho các hữu tình cõi
Vô sắc phải chịu đựng tai họa, vì vậy Đức Thế Tôn nói đến Tưởng-Thọ
diệt.
Có người nói: Tưởng-Thọ hơn hẳn trong hai cõi, Thọ hơn hẳn ở
trong cõi Sắc, Tưởng hơn hẳn ở trong cõi Vô sắc.
Có người nói: Bởi vì Thọ mà đam mê vui thích, bởi vì Tưởng mà
chấp trước điên đảo, khiến cho các hữu tình luân hồi trong sinh tử, nhận
chịu mọi điều khổ não.
Có người nói: Tưởng-Thọ khác nhau mà lập ra Uẩn và lập ra Thức
trú.
Có người nói: Tưởng-Thọ có thể dấy khởi hai loại phiền não là Ái
và Kiến, bởi vì lực của Thọ cho nên dấy khởi Ái, bởi vì lực của Tưởng
cho nên dấy khởi Kiến, tất cả phiền não lấy hai loại này làm đầu.
Có người nói: Tưởng-Thọ là hai că n tranh chấp, do Thọ mà đắm
say các dục lạc, khiến cho hàng tại  gia khởi lên những sự đấu tranh;
do Tưởng mà đắm say các kiến giả i, khiến cho hàng xuất gia khởi lên
những sự đấu tranh. Như hai căn tranh chấp, hai phía, hai mũi tên, hai
hý luận, hai ngã sở, hai tạp nhiễm, nên biết cũng như vậy.
Có người nói: Bởi vì hành giả chán ghét Tưởng-Thọ, cho nên tiến
vào Định Diệt tận. Do nghĩa như vậy cho nên Đức Phật chỉ nói diệt hai
pháp này.
Như luận Thi Thiết nói: “Vì sao gia hạnh khởi lên Đẳng chí về
Diệt? Đó là người bắt đầu sự nghiệp tu tập, đối với tất cả các hành
không tạo tác gia hạnh, không muốn tư duy về những gì mình vốn   có,
28 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Tưởng-Thọ chưa sinh khởi nên làm cho không sinh khởi, Tưởng-Thọ đã
sinh khởi nên làm cho nhanh chóng diệt đi. Nếu vào lúc bấy giờ tất cả
Tưởng-Thọ chưa sinh khởi thì không sinh khởi, đã sinh khởi thì diệt đi,
đó gọi là Diệt. Vì sao Diệt này gọi là Đẳng chí? Đó là đối với pháp Diệt
tự tại hiện thấy không có chướng nga ïi-không có trái ngược, do tự thân
mà chứng được cho nên gọi là Đẳng chí. Bởi vì điều này cho nên Đức
Thế Tôn nói là Diệt chỉ có một sát-na, Đẳng chí thì nối tiếp nhau.”
Hỏi: Khiến cho tâm bình đẳng gọi là Đẳng chí, trong Định này
không có tâm thì vì sao gọi là Đẳng chí?
Đáp: Đẳng chí có hai loại:
1. Khiến cho tâm bình đẳng.
2. Khiến cho Đại chủng bình đẳng.
Định Vô tưởng-Diệt tận, tuy đoạn tâm bình đẳng khiến cho không
nối tiếp nhau, mà dẫn dắt Đại chủng bình đẳng khiến cho hiện rõ ở
trước mắt, cho nên gọi là Đẳng chí.
Hỏi: Vì sao trong hai Định không có tâm, chỉ riêng Định Diệt tận
thiết lập làm Giải thoát chứ không phải là Định Vô tưởng?
Đáp: Hiếp Tôn giả nói: “Đức Phật thông suốt rõ ràng đến tận
cùng Thể tướng và tác dụng của các pháp, người khác không thể nào
biết được. Nếu pháp có tướng Giải thoa ùt thì sẽ thiết lập, không có thì
không thiết lập.”
Lại nữa, Định Diệt tận chỉ có ở pháp bên trong, cho nên thiết lập
Giải thoát; Định Vô tưởng chỉ có ở pháp bên ngoài, cho nên không thiết
lập Giải thoát. Như pháp bên trong-pha ùp bên ngoài, Thánh giả-dị sinh
cũng như vậy.
Lại nữa, Định Diệt tận chỉ rời bỏ tạp nhiễm-hướng về thanh tịnh,
trong sự nối tiếp nhau có thể đạt được , cho nên thiết lập Giải thoát;
Định Vô tưởng chỉ rời bỏ thanh tịnh-hướng về tạp nhiễm, trong sự nối
tiếp nhau có thể đạt được, cho nên không thiết lập Giải thoát. Như rời
bỏ tạp nhiễm-hướng về tạp nhiễm, rời bỏ sinh tử-hướng về sinh tử, rời
bỏ lưu chuyển-hướng về lưu chuyển, nên biết cũng như vậy.
Lại nữa, Định Diệt tận chỉ rời bỏ Ngã kiến-hướng về không có
Ngã kiến, trong sự nối tiếp nhau có thể đạt được, cho nên thiết lập Giải
thoát; Định Vô tưởng chỉ rời bỏ không có Ngã kiến-hướng về Ngã kiến,
trong sự nối tiếp nhau có thể đạt được, cho nên không thiết lập Giải
thoát.
Lại nữa, Định Diệt tận chỉ rời  bỏ Tát-ca-da kiến, hướng về quán
Không, trong sự nối tiếp nhau có thể đạt được, cho nên thiết lập Giải
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 152 29  
www.daitangkinh.org  
thoát; Định Vô tưởng chỉ rời bỏ quán Không, hướng về Tát-ca-da kiến,
trong sự nối tiếp nhau có thể đạt được, cho nên không thiết lập Giải
thoát.
Lại nữa, trước đây nói Định Diệt tận do hai nhân duyên cho nên
thiết lập làm Giải thoát:
1. Rời bỏ tất cả sở duyên.
2. Đoạn hết giới hạn của tâm.
Định Vô tưởng thì cả hai việc  đều không có, vì vậy không thiết
lập.
Lại nữa, Định Diệt tận chỉ ngăn cản các cõi-các nẽo-các sinh loại,
trong sự nối tiếp nhau có thể đạt được , cho nên thiết lập Giải thoát;
Định Vô tưởng chỉ không ngăn cản các cõi-các nẽo-các sinh loại, trong
sự nối tiếp nhau có thể đạt được, cho nên không thiết lập Giải thoát.
Lại nữa, rời bỏ các nghiệp nhân-quả báo gọi là Giải thoát, Định
Diệt tận rời bỏ các cõi -các nẽo-các sinh loại,  giác ngộ sinh tử lưu
chuyển; Định Vô tưởng thì không như vậy.
Bởi vì những duyên này, cho nên trong hai Định không có tâm,
chỉ riêng Định Diệt tận thiết lập làm Giải thoát chứ không phải là Định
Vô tưởng.
Hỏi: Định Vô tưởng và Định Diệt tận có gì sai biệt?
Đáp: Tên gọi tức là sai biệt, gọi là Định Vô tưởng, gọi là Định
Diệt tận.
Lại nữa, cõi cũng có sai biệt, Đị nh Vô tưởng hệ thuộc cõi Sắc,
Định Diệt tận hệ thuộc cõi Vô sắc.
Lại nữa, địa cũng có sai biệt, Định Vô tưởng thuộc về Tĩnh lự thứ
tư, Định Diệt tận thuộc về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Lại nữa, nối tiếp nhau cũng có sa i biệt, Định V ô tưởng thuộc về
sự nối tiếp nhau của dị sinh, Định Di ệt tận thuộc về sự nối tiếp nhau
của Thánh giả.
Lại nữa, lúc tiến vào Định Vô tưởng thì dấy lên Tưởng rời khỏi,
lúc tiến vào Định Diệt tận thì dấy lên Tưởng dừng lại.
Lại nữa, lúc tiến vào Định Vô tưởng thì chỉ chán ngán đối với
Tưởng, lúc tiến vào Định Diệt tận thì chán ngán cả Tưởng và Thọ.
Lại nữa, lúc tiến vào Định Vô tưởng thì chỉ muốn diệt Tưởng, lúc
tiến vào Định Diệt tận thì muốn diệt cả Tưởng và Thọ.
Lại nữa, lúc tiến vào Định Vô tưởng thì diệt tâm-tâm sở pháp hệ
thuộc cõi Sắc, lúc tiến vào Định Di ệt tận thì diệt tâm-tâm sở pháp hệ
thuộc cõi Vô sắc.
30 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Lại nữa, lúc tiến vào Định Vô tưởng thì diệt tâm-tâm sở pháp của
Tĩnh lự thứ tư, lúc tiến vào Định Diệt tận thì diệt tâm-tâm sở pháp của
Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Lại nữa, Định Vô tưởng dẫn đến dị thục của cõi Sắc, Định Diệt
tận dẫn đến dị thục của cõi Vô sắc.
Lại nữa, Định Vô tưởng dẫn đến dị thục của Tĩnh lự thứ tư, Định
Diệt tận dẫn đến dị thục của Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Lại nữa, Định Vô tưởng chỉ thua än theo sinh ra mà nhận lấy dị
thục, Định Diệt tận thuận theo sau khi sinh ra không nhất định nhận lấy
dị thục, cho nên có sai biệt.
Tôn giả Thế Hữu đưa ra câu hỏi  này: “Định Vô tưởng và Định
Diệt tận sai biệt thế nào?
Trả lời: Một loại gọi là Định Vô tưởng, một loại gọi là Định Diệt
tận, cho nên có sai biệt. Lại nữa, cõi-địa-nối tiếp nhau-dấy lên tưởng-
chán ngán-mong muốn-đã diệt-dị thục, đều có sai biệt, nói rộng ra như
trên. Lại nữa, dị sinh tiến vào Định Vô tưởng cảm đến quả của cõi Vô
tưởng, Thánh giả tiến vào Định Diệt  tận cảm đến quả của cõi Hữu
Đảnh. Lại nữa, Định Vô tưởng khiến cho các dị sinh nhận lấy quả dị
thục của cõi Sắc, Định Diệt ta än khiến cho những người Học nhận lấy
quả dị thục của cõi Vô sắc, khiến cho người Vô học nhận lấy quả đẳng
lưu của cõi Vô sắc. Đ ó gọi là sự sai biệt gi ữa Định Vô tưởng và Định
Diệt tận.”
Hỏi: Trong tám Giải thoát vì sao Đức Thế Tôn chỉ nói Giải thoát
thứ ba-thứ tám gọi là Thân tác chứng, chứ không phải là loại khác? Như
trong kinh nói: “Tịnh giải thoát Tha ân tác chứng, Tưởng-Thọ diệt giải
thoát Thân tác chứng.”
Đáp: Có kinh khác đối với tám Gi ải thoát, Đức Thế Tôn đều nói
là Thân tác chứng. Như trong kinh Đạ i Nhân Duyên, Đức Phật đối với
tám Giải thoát, tất cả đều nói là trú đầy đủ trong Thân tác chứng.
Hỏi: Tuy trong một số kinh đối với tám Giải thoát nói là Thân tác
chứng, nhưng ở trong nhiều kinh chỉ nói hai loại gọi là Thân tác chứng,
vì sao như vậy?
Đáp: Hai loại Giải thoát này có danh-nghĩa thù thắng nhất trong
tám loại Giải thoát, cho nên chỉ nói đến hai loại.
Có người nói: Bởi vì hai loại Giải thoát này đều dùng công lực của
gia hạnh mà chứng.
Có người nói: Hai loại này đều ở phạm vi của một cõi, đó là Tịnh
giải thoát ở phạm vi của cõi Sắc, Tưởng-Thọ diệt giải thoát ở phạm  vi
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 152 31  
www.daitangkinh.org  
của cõi Vô sắc.
Có người nói: Hai Giải thoát na øy đều ở phạm vi của một địa, đó
là Tịnh giải thoát thuộc về phạm vi của Tĩnh lự thứ tư, Tưởng-Thọ diệt
giải thoát thuộc về phạm vi của Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Có người nói: Tịnh giải thoát đối với phạm vi của tụ sắc do Đại
chủng đã tạo ra mà thiết lập, Tưởng-Thọ diệt giải thoát đối với phạm vi
của tụ tâm-tâm sở pháp mà thiết lập.
Có người nói: Tịnh giải thoát tuy giữ lấy tướng thanh tịnh của sắc,
mà không khởi lên phiền não, bởi vì t hù thắng. Đức Thế Tôn an lập
Thân tác chứng gọi là Tưởng-Thọ diệt giải thoát, bởi vì không có tâm.
Thuộc về thân chứ không phải là tâm, do lực của thân mà khởi lên chứ
không phải là lực của tâm, vì vậy Đức Thế Tôn nói là Thân chứng.
Có người nói: Ở trong kinh nói tám Giải thoát là Thân tác chứng,
đều bởi vì hai Giải thoát này cho nên được gọi là Thân chứng.
Bởi vì những nghĩa này, cho nên chỉ có hai loại nói là Thân tác
chứng.
Cụ túc trú (trú đầy đủ), có nhiều nơi nói đến thanh âm Cụ túc trú,
đó là hoặc có nơi đối với phần ít của Sắc uẩn nói là Cụ túc trú, hoặc
có nơi đối với năm Uẩn thiện nói là Cụ túc trú, hoặc có nơi đối với bốn
Uẩn thiện nói là Cụ túc trú, hoặc có nơi đối với một phần của Hành uẩn
không tương ưng nói là Cụ túc trú, hoặc có nơi đối với Niết-bàn tịch diệt
nói là Cụ túc trú.
Đối với phần ít của Sắc uẩn nói là Cụ túc trú, như bài kệ nói:
“Đối với diệu Tuệ và Thánh giáo, an trú đầy đủ trong Thi-la,
Tất cả đều thật sự hiền thiện, kho tàng quý báu nhiều công đức.”
Đối với năm Uẩn thiện nói là Cụ túc trú, như nói: “Trú đầy đủ
trong Tĩnh lự thứ nhất cho đến Tĩnh l ự thứ tư.” Đối với bốn Uẩn thiện
nói là Cụ túc trú, như nói: “Trú đầy đủ trong Không vô biên xứ cho đến
Phi tưởng phi phi tưởng xứ.” Đối với  một phần của Hành uẩn không
tương ưng nói là Cụ túc trú, như trong tám Giải thoát này, nói trú đầy
đủ trong Tưởng-Thọ diệt giải thoát Th ân tác chứng. Đối với Niết-bàn
tịch diệt nói là Cụ túc trú, như nói: “Trú đầy đủ vào Niết-bàn Thân tác
chứng.”
Hỏi: Định Diệt tận có mấy chủng loại?
Đáp: Có người nói: Có bốn, đó la ø người có đủ phiền não (cụ
phược) đã khởi lên, người lìa ba phẩm Thượng đã khởi lên, người lìa ba
phẩm Trung đã khởi lên, người lìa ba phẩm Hạ đã khởi lên, bởi vì chủng
loại khác nhau.
32 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Lại có người nói: Bốn loại, đó là người lìa nhiễm thuộc phẩm sáu-
bảy-tám-chín đã khởi lên, mỗi một phẩm lấy làm một loại. Người ấy
nói bởi vì người có đủ phiền não, cho đến người lìa nhiễm thuộc phẩm
năm, đều chưa có thể khởi lên Định này.
Có người nói: Định này có chín loại, đó là người lìa phẩm Thượng
Thượng đã khởi lên, cho đến người lìa phẩm Hạ Hạ đã khởi lên, bởi vì
chỉ riêng người có đủ phiền não không có thể khởi lên.
Có người nói: Định này có mười loại, đó là người có đủ phiền não
đã khởi lên, cho đến người lìa phẩm Hạ Hạ đã khởi lên.
Hỏi: Nếu người có đủ phiền não mà có thể khởi lên Định này, thì
các loại dị sinh vì sao không có thể khởi lên?
Đáp: Phiền não có hai loại, một  là do kiến mà đoạn, hai là do tu
mà đoạn. Ở trong cõi Hữu Đảnh, nếu thiếu phiền não do kiến mà đoạn,
có đủ phiền não do tu mà đoạn, thì có thể khởi lên Định này, có đủ hai
loại phiền não thì không có thể khởi lên.
Nói như vậy thì Định Diệt tận này có mười một loại, đó là người
có đủ phiền não đã khởi lên, người lìa phẩm Thượng Thượng đã khởi
lên, cho đến người lìa phẩm Hạ Hạ đa õ khởi lên, A-la-hán Thời giải
thoát luyện căn đạt được Bất động đã khởi lên.
Hỏi: Thể của mười một loại này có khác nhau chăng?
Đáp: Có người nói: Không khác.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao nói là mười một?
Đáp: Do phần vị khác nhau chứ không phải là Thể có khác nhau.
Có người nói: Thể của mười một loại này đều khác nhau.
Hỏi: Nếu như vậy thì người có đủ phiền não đã khởi lên, cho đến
A-la-hán Thời giải thoát luyện ca ên đạt được Bất động đã khởi lên, sai
biệt như thế nào?
Đáp: Có người vào lúc có đủ phiền não khởi lên Định Diệt tận,
chính người ấy vào lúc tiến lên đoa ïn nhiễm thuộc một phẩm, lại khởi
lên Định Diệt tận, người ấy vào lúc bấy giờ, trước đây đã khởi lên là đạt
được mà không thuộc về thân, thành tựu mà không hiện rõ trước mắt;
nay đã khởi lên là đạt được mà cũng thuộc về thân, thành tựu mà cũng
hiện rõ trước mắt. Chính người ấy cho đến từ Thời giải thoát luyện căn
đạt được Bất động, người ấy vào lúc bấy giờ ở trong các phần vị trước
đã khởi lên Định Diệt tận, đạt được mà không thuộc về thân, thành tựu
mà không hiện rõ trước mắt; nay ở pha àn vị Bất động đã khởi lên Định
Diệt tận, đạt được cũng thuộc về thân, thành tựu cũng hiện rõ trước mắt.
Vì vậy nên biết là Thể và chủng loại đều khác nhau.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 152 33  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Định này có chủng loại khác nhau về phẩm Thượng-Trung-
Hạ hay không? Nếu có thì luận Th i Thiết nói nên hiểu thế nào? Như
luận ấy nói: “Diệt không có sai biệt.” Nếu không có thì Phật-Độc giác-
Thanh văn đã khởi lên không có hơn-kém hay sao?
Đáp: Có người nói: Định này không có Thượng-Trung-Hạ.
Hỏi: Luận Thi Thiết nói Diệt không có sai biệt, tuy đã dễ dàng
hiểu được, nhưng Phật-Độc giác-Thanh văn đã khởi lên không có hơn-
kém hay sao?
Đáp: Thể không có hơn-kém, bởi vì đều lấy diệt tâm-tâm sở làm
tánh của Định ấy, nhưng bởi vì gia ha ïnh cho nên nói có sai biệt, nghĩa
là Phật khởi lên Định này không nhờ vào gia hạnh, Độc giác nhờ vào
gia hạnh bậc Hạ, Thanh văn nhờ vào gi a hạnh bậc Trung-hoặc là bậc
Thượng.
Nói như vậy thì Định Diệt tận này có phẩm loại Thượng-Trung-
Hạ sai biệt.
Hỏi: Ba Thừa đã khởi lên c ó hơn-có kém, tuy đã dễ dàng hiểu
được, nhưng luận Thi Thiết nói Di ệt không có sai biệt nên hiểu thế
nào?
Đáp: Dựa vào nghĩa có thể đoạn diệt tâm-tâm sở pháp không có
sai biệt mà nói là không có sai biệt, nhưng Định Diệt tận là hữu vi, có
Thượng-Trung-Hạ như pháp hữu vi khác, bởi vì tùy theo căn tánh-phần
vị cho nên có khác nhau. Nghĩa là Phật đã đạt được là bậc Thượng, Độc
giác đã đạt được là bậc Trung, Thanh văn đã đạt được là bậc Hạ. Trong
Thanh văn Thừa có nhiều sai biệt, lại  có phần vị Học có đủ phiền não
mà khởi lên là Hạ Hạ, cho đến đoạn tám phẩm mà khởi lên là Thượng
Thượng; trong phần vị Vô học, chủng tánh Thối pháp mà khởi lên là Hạ
Hạ, cho đến mới đạt được chủng tánh Bất động mà khởi lên là Thượng
Hạ, vốn có đạt được chủng tánh Bất động mà khởi lên là Thượng Trung,
Thanh văn Ba-la-mật-đa mà khởi lên là Thượng Thượng. Căn tánh sai
biệt trong mỗi một chủng tánh đã k hởi lên, đều có phẩm loại Thượng-
Trung-Hạ sai biệt, vì vậy Định Diệt tận có nhiều phẩm loại.
Hỏi: Định Diệt tận này lấy mấy pháp làm Thể?
Đáp: Có người nói: Định này la áy một pháp làm Thể, bởi vì nếu
Diệt hiện rõ trước mắt thì gọi là không có tâm.
Hỏi: Vì sao Diệt trong một sát-n a hiện rõ trước mắt thì gọi là
không có tâm?
Đáp: Như Thọ trong một sát-na hiện r õ trước mắt thì gọi là có
Thọ, Tưởng trong một sát-na hiện rõ tr ước mắt thì gọi là có Tưởng,
34 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Thức trong một sát-na hiện rõ trước mắt thì gọi là có Thức, như vậy
Diệt trong một sát-na hiện rõ trước mắt thì gọi là không có tâm, điều
này có gì sai?
Có người nói: Định này lấy mười một pháp làm Thể, bởi vì Diệt
mười pháp Đại địa và tâm.
Có người nói: Định này lấy hai mươi mốt pháp làm Thể, bởi vì
Diệt mười pháp Đại địa-mười pháp Đại thiện địa và tâm.
Nói như vậy là hễ diệt bao nhi êu tâm-tâm sở pháp, thì có bấy
nhiêu pháp hiện rõ trước mắt lấy làm Thể của Định này.
Hỏi: Tự tánh của Định Diệt tận này đã như vậy, tướng của Định
ấy như thế nào?
Đáp: Tự Thể tức là tướng, tướng tức  là tự Thể, bởi vì tất cả các
pháp không thể nào tách rời Thể mà nói riêng về tướng của nó.
Tôn giả Thế Hữu đưa ra cách nói như vậy: “Định Diệt tận này lấy
giải thoát làm tướng, cho nên đưa ra cách nói này: Trú trong Định này
thì tâm-tâm sở pháp giải thoát, giả i thoát hơn hẳn, giải thoát hơn hẳn
cao nhất; lìa hệ thuộc, lìa hệ thuộc  hơn hẳn, lìa hệ thuộc hơn hẳn cao
nhất.”
Hỏi: Định này không có thể đoạn các phiền não, làm sao có thể
nói là trú trong Định này thì tâm-tâm sở pháp giải thoát…?
Đáp: Trú trong Định này thì tâm-tâm sở pháp tạm thời được giải
thoát, cho đến tạm thời lìa hệ thuộc hơn hẳn cao nhất, cho nên nói như
vậy chứ không phải là nói Định này có thể đoạn các phiền não.
Có người nói như vậy: Nếu pháp lấy Tưởng-Vi tế làm Nhân, thì
Vi vi làm Đẳng vô gián, không đi cùng với pháp ấy, không phải là
không thành tựu, đó gọi là giải thoát.
Hỏi: Đây là nói đến pháp nào?
Đáp: Có người nói: Đây là nói về Định Diệt tận.
Nếu đưa ra cách nói này: Đây là nói về Định Diệt tận, thì điều ấy
nói Định này lấy Tưởng-Vi tế làm Nh ân, đó là một Nhân, tức là nhân
Đồng loại; Vi vi cũng cùng làm Nha ân, đó là một Nhân, tức là nhân
Đồng loại, cũng cùng làm Đẳng vô gián duyên.
Nếu đưa ra cách nói này: Đây là nói về Định Diệt tận, thì điều ấy
nên nói: Nếu pháp lấy Tưởng-Vi tế làm Nhân, thì Vi vi làm Đẳng vô
gián. Không nên nói: Không đi cùng với pháp ấy, bởi vì Định Diệt tận
kia đang hiện rõ trước mắt. Nên n ói: Không phải là không thành tựu,
bởi vì lúc trú trong Định thì lúc ấy thành tựu về Định.
Có người nói: Đây là nói về tâm rời khỏi Định.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 152 35  
www.daitangkinh.org  
Nếu đưa ra cách nói này: Đây là nói về tâm rời khỏi Định, thì
điều ấy nói tâm rời khởi Định na øy lấy Tưởng-Vi tế làm Nhân, đó là
một Nhân, tức là nhân Đồng loại; Vi vi cũng cùng làm Nhân, đó là một
Nhân, tức là nhân Đồng loại, cũng cùng làm Đẳng vô gián duyên.
Nếu đưa ra cách nói này: Đây là nói về tâm rời khỏi Định, thì điều
ấy nên nói: Nếu pháp lấy Tưởng-Vi tế làm Nhân, thì Vi vi làm Đẳng vô
gián. Nên nói: Không đi cùng với pháp ấy, bởi vì lúc trú trong Định thì
tâm rời khỏi Định ấy không hiện rõ trước mắt. Nên nói: Không phải là
không thành tựu, bởi vì lúc trú trong Định thì lúc ấy thành tựu tâm rời
khỏi Định.
Vì vậy chứng minh biết rằng đó là trước kia đạt được tâm rời khỏi
Định.

Có người nói: Đây là nói về tâm tiến vào Định.
Nếu đưa ra cách nói này: Đây là nói về tâm tiến vào Định, thì điều
ấy nói: Tâm tiến vào Định này lấy T ưởng làm Nhân, đó là một Nhân,
tức là nhân Đồng loại; Vi vi cũng cùng làm Nhân, đó là một Nhân, tức
là nhân Đồng loại, cũng cùng làm Đẳng vô gián duyên.
Nếu đưa ra cách nói này: Đây là nói về tâm tiến vào Định, thì
điều ấy nên nói: Nếu pháp lấy Tưởng làm Nhân, Vi tế làm Đẳng vô
gián. Nên nói: Không đi cùng với pháp ấy, bởi vì lúc trú trong Định thì
tâm tiến vào Định ấy không hiện rõ trước mắt. Nên nói: Không phải là
không thành tựu, bởi vì lúc trú trong Định thì lúc ấy thành tựu tâm tiến
vào Định.


„
36 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt