A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 154
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
契經中說住滅定者。不為火所燒。水所 漂。毒所中。刃所害。他所殺。問何故住滅 定者有如是勝利。尊者世友作如是說。由 此滅定是不害法故。住此者非害所害。有 說。此定有大威德。為諸威德天神護之故 不可害。有說。得靜慮者靜慮境界。具神 通者神通境界。俱不思議故不可害。有說。 此定無心非無心者有生有死故不可害 等活契經是此論緣起者。有佛名羯洛俱 村馱。有第一雙弟子。一名極遠。二名等活。 尊者等活曾於一城中作多教化眾所知 識。後於城邊多人行處。入滅盡定。時有放 牧採樵行人見已咸言。今此尊者端坐滅度 誠為異哉。我等宜應焚燒供養。便取種種 牛糞乾薪。埋積其身焚之捨去。尊者明旦 從定而起。振迅衣服。於日初分。持鉢入城 徐行乞食。時焚燒者見已驚言。我等昨燒其 屍。而今復來乞食。城中人眾等皆唱言。今此 沙門死而還活。由斯故名等活尊者。應知 身不燒者由滅定力故。衣不燒者由神通 力故。有說。身及衣俱不燒者。皆由滅定力 故。是故彼經是此論緣起。 傳喻中說。若有施從滅定起者。彼必成順 現法受業。問何故施從滅定起者。必成順 現法受業耶。答此不必須通。所以者何。此 非素怛纜毘奈耶。阿毘達磨教但是傳喻所 說。諸傳喻說或然不然若必欲通者。應知 此施或得現果。或得大果。彼順世間意所 樂故。但說現果。問何故施從滅定起者。或 得現果或得大果。答若有施從此定起 者。則為施從一切靜慮解脫等持等至起 者。所以者何。諸欲入出滅盡等至。必先起 欲界善心。次入初靜慮。如是乃至入非想 非非想處。從此無間入滅盡定。從此定出 或起非想非非想處。或起無所有處。如是 乃至還起初靜慮。復入欲界善心。彼由如 是功德熏相續故。能令施者或得現果或 得大果。有說。從滅定起者。威儀寂靜來往 語言。衣著飲食皆悉詳審。諸清信長者婆羅 門等。見已咸生希有之想。以慇淨心施諸 資具故。得現果或得大果。有說。得此定 者名稱普聞過於餘定。諸清信長者婆羅門 等。聞已皆生奇特之想。以慇淨心施諸資 具故。得現果或得大果。有說。住滅定者 諸食皆斷。若施從此起者。則為施無食者。 食謂住有漏有心定者。雖斷段食而食有 漏觸思識食。住無漏定者雖斷真實四食。 而有相似觸思識食。住滅定者一切皆無。 是故施從此起者。則為施於無食者食。 由此因緣。或得現果。或得大果。有說。若有 施從此定起者。則為施到涅槃還來者 食。以此定似涅槃故。謂如入無餘依涅槃 界者。滅一切有所緣法心心所法。不起不 滅。住滅定者。亦滅一切有所緣法。心心所 法不起不滅故似涅槃。是故施從此定起 者。則為施到涅槃還來者食。由此因緣或 得現果。或得大果。復次非但施從滅定起 者。能得現果。若施五種補特伽羅。皆得現 果。一從滅定起。二從慈定起。三從無諍 定起。四從見道起。五從初得盡智起復次 若施五種補特伽羅。能得大果。一父。二母。 三病者。四說法師。五近佛地菩薩。 問滅盡定於眾同分為亦能引。為但滿耶。 答此但能滿而不能引所以者何。唯業能 引眾同分。此非業故。問此定為順現法受。 為順次生受。為順後次受。為順不定受耶。 答此定或順次生受。或順後次受。或順不定 受。非順現法受。已生有頂不起此定故。 問此於何處受何異熟。答此於非想非非 想處受四蘊異熟。問諸成就滅定。亦成就 彼異熟耶。答應作四句。有成就滅定非 彼異熟。謂生欲色界已得滅定。及得已不 退。命終生非想非非想處。滅定異熟不現 在前。有成就彼異熟。非滅定。謂得滅定已 而退。命終生非想非非想處。滅定異熟現在 前。有成就滅定。亦彼異熟。謂得滅定已不 退。命終生非想非非想處。滅定異熟現在 前。有非成就滅定。亦非彼異熟。謂生欲色 界不得滅定。設得已退。若生空處識處無 所有處。若不得滅定。生非想非非想處。及 得已而退。命終生非想非非想處。滅定異熟 不現在前。問諸退滅定。亦退阿羅漢果耶。 答應作四句。有退滅定。非阿羅漢果。謂學 者退滅定。及無學者退滅定。而不起結。有 退阿羅漢果。非滅定。謂慧解脫阿羅漢退。 及先學位起滅定已。得阿羅漢果。起上位 結退。有退滅定亦阿羅漢果。謂先學位起 滅定已。得阿羅漢果。起下位結退。及無學 位起滅定已。起三界結隨一而退。有非 退滅定。亦非阿羅漢果。謂除前相。阿羅漢 有六種。謂退法。思法。護法。安住法。堪達法。 不動法。問諸退法彼一切俱解脫耶。答應作 四句。有退法非俱解脫。謂退法不得滅定。 有俱解脫非退法謂思法乃至不動法。已得 滅定。有退法亦俱解脫。謂退法已得滅定。 有非退法非俱解脫。謂思法乃至不動法 不得滅定。如退法阿羅漢對俱解脫作四 句。餘五阿羅漢對俱解脫亦爾。如是成六 四句。如無學道有六種阿羅漢。學道亦有 六種種性。謂退法種性。乃至不動法種 性。問諸退法學彼一切身證耶。答應作四 句有退法學非身證。謂退法學不得滅定。 有身證非退法學。謂思法學。乃至不動法 學。已得滅定有退法學亦身證。謂退法學 已得滅定。有非退法學亦非身證。謂思法 學乃至不動法學不得滅定。如退法學對 身證作四句。餘五種性對身證亦爾。如 是亦成六四句。 問若法是心等無間。彼法是心無間耶。答應 作四句。有法是心等無間。非心無間謂 除滅定初剎那。及餘有心位諸餘滅定剎那。 及出滅定心心所法。有法是心無間。非心等 無間。謂滅定初剎那。及餘有心位。彼生老 住無常。有法是心等無間。亦心無間。謂滅定 初剎那。及餘有心位心心所法。有法非心等 無間。亦非心無間。謂除滅定初剎那。及餘 有心位。彼生老住無常。諸餘滅定剎那。及 出滅定心位。彼生老住無常。問若法是心等 無間。彼法是滅定無間耶。答應作四句。有 法是心等無間。非滅定無間。謂滅定初剎那。 及餘有心位心心所法。有法是滅定無間。非 心等無間。謂除滅定初剎那及餘有心位。彼 生老住無常。諸餘滅定剎那。及出滅定心 位。彼生老住無常。有法是心等無間。亦滅 定無間。謂除滅定初剎那及餘有心位。諸餘 滅定剎那。及出滅定心心所法。有法非心等 無間。亦非滅定無間。謂滅定初剎那。及餘有 心位。彼生老住無常。生無想天幾根滅。答 八。謂眼耳鼻舌身命意捨根。問此說從何處 生無想天耶。答此說從無想中有生無想 生有問爾時亦有信等五根現在前滅。何故 不說。答此文應作是說。或八或十三。中有 最後心無記者八。善者十三。而不作是說 者。應知此義有餘。有作是說。此中但依滅 位。生位皆有者說信等五根。唯滅位有。非 生位有。是故不說。何繫心心所滅。答色界 繫。幾根現前。答八如前說。何繫心心所現 前。答色界繫。死生必起自地心故。無想天 歿幾根滅。答八如前說。何繫心心所滅。答色 界繫。幾根現前。答或八或九或十。無形八。謂 眼耳鼻舌身命意捨根。一形九加男女根隨 一。二形十加男女根。何繫心心所現前。答欲 界繫。由此證知從無想天歿定生欲界。問 定生何處。有說。生地獄。有說。生惡趣。如 是說者定生欲界處所不定。或生惡趣。或 天或人。問何故從無想天歿定生欲界。答 由異熟因勢力爾故。隨異熟因所有勢力。 唯令如是異熟起故。有餘師說。無想壽盡 餘處壽業不增長故。謂先增長無想壽業今 已受盡。餘處壽業先不增長故。從彼歿定 生欲界。問彼亦曾起下三靜慮。何故不引 彼地壽果。答彼雖曾起下三靜慮。非堅執 故不引彼壽。唯堅執著第四靜慮故引彼 壽。有說。彼雖曾起下三靜慮。而非所求。彼 唯求於第四靜慮。有說。彼雖曾起下三靜 慮。但如所涉路而非所趣。第四靜慮是正 所趣。非如所涉路故引彼壽。有說。若造 無想天順次生受業者。法爾亦造欲界順後 次受業。如造北俱盧洲順次生業者。法爾 亦造欲界天順後次受業。有說。欲界是一切 有情退所歸處。謂諸有情由業力修力。往色 無色界。彼業若盡還墮欲界。譬如大地是諸 飛鳥退所歸處。謂諸飛鳥由翅翮力飛騰虛 空。翮力盡時還墮於地。有說。無想有情經 五百劫住於無想。如熟睡眠。覺已不能取 餘異熟。便墮欲界。如人在樹端倚枝而眠。 多時欻覺手忘攀攬即便墮地。彼亦如是。 有說。求無想者執無想定為真道。彼異熟 為涅槃。乃至生彼天中。此執隨逐彼後從 無想出將命終時。見當生相便作是念。 定無涅槃。若實有者。我已證得。於今何故 生相現前。由謗涅槃及聖道故。從彼處歿 生惡趣中。尊者妙音亦作是說。彼謗涅槃 及聖者故。從彼命終定生惡趣。 問無想定無想事何差別。答名則差別。此 名無想定。此名無想事。復次因是無想定。 果是無想事。復次異熟法是無想定。異熟是 無想事。復次無想定是善。無想事是無記。復 次無想定是定。無想事是生。復次無想定加 行功用作意所起。無想事非加行功用作意 所起。復次無想定通在此彼。得此彼現在 前。無想事唯在彼得彼現在前。復次無想定 是加行得。無想事是生得。是謂無想定無想 事差別。問無想天在何處攝。外國師說。 第四靜慮處別有九此是一處。迦濕彌羅國 諸論師言。即廣果天攝。然以高勝寂靜故別 立名。猶如村邊阿練若處。問彼天身量云 何。答五百踰繕那。問彼壽量云何。答五百劫。 問作何等威儀住。有說。結加趺坐如沙門 釋子。有說。却踞而坐如婆羅門。如是說者。 如先入此定所住威儀。則以此威儀於 彼五百劫住。 無想有情生時。當言有想耶。無想耶。乃至 廣說。問何故作此論。答欲止他宗顯己義 故。謂或有說。無想有情生時死時俱無心 想。為遮彼意顯彼有情生時死時俱有心 想非無心想有死生故。或復有說。無想有 情生時有心死時無心。為遮彼意顯彼死 時亦有心想非無心想有命終故。或復有 說。無想有情生時死時雖俱有心。然唯一念 非久相續為遮彼意顯彼生時生已經久 心猶相續後方無想從無想出有心多時後 方捨命。是故如是說。頗有處唯二剎那有心。 謂結生及命終時耶。答應說無。尊者妙音說 有。謂即無想天。頗有處結生心為等無間 緣命終心起耶。答應說無。尊者妙音說有。 謂即無想天。頗有處結生心為四緣。命終心 起耶。答應說無。尊者妙音說有。謂即無想 天。為遮此等故作斯論。無想有情生時當 言有想耶。無想耶。答當言有想。此則遮 止執無想天生時無心者意。如世尊說。彼 諸有情由想起故從彼處歿。從彼歿時彼 想當言滅耶。不滅耶。答當言滅。此則遮 止執無想天死時無心者意。當言住何處 彼想滅耶。答當言則住彼處。此則遮止 執無想有情唯死時生時一念有心者意。問 無想有情前心多耶。後心多耶。有說。前心 多非後心。以彼未入無想位時。異熟相續 勢力猛盛故。多時有心方入無想。出無想 已異熟相續勢力衰微。故少時有心則便捨 命。有說。後心多非前心。以彼未入無想 位時。欣求無想其心猛利。故少時有心則 入無想。出無想已無所欣求故多時有心 然後捨命。如是說者。此事不定。或前多後 少。或前少後多。隨彼意樂有差別故。 彼想當言善。為無記耶。答或善。或無記。彼 想幾隨眠隨增。答色界有漏緣。幾結繫耶。答 六。彼想者。謂出無想想。或善或無記者。善 謂生得善。無記謂有覆無記。或無覆無記。色 界有漏緣者。謂第四靜慮有漏緣隨眠。問何 故無漏緣隨眠於彼想不隨增耶。答彼計 無想為涅槃。無想定為真道。乃至生彼。及 從彼歿。唯如是執還復隨轉。於真滅道不 謗為無故。無漏緣爾時不起。六結繫者。除 恚嫉慳有餘結繫。問出無想想為五部所 斷為但修所斷耶。若爾何失。若五斷者。十 門所說當云何通。如說。過去法為等無間 生二心。若修斷者。此文復云何通。如說。彼 想色界有漏緣隨眠隨增。有作是說。此通 五斷。問十門所說當云何通。答彼文應言 過去法為等無間生六心。謂色界五。無色 界一。而不作是說者有何意耶。當知彼文 但依二無心定出心而說。不說無想。所以 者何。一無心定加行功用作意。而起。無想 不爾。有餘師言。唯修所斷。問此文所說當 云何通。答此文應言彼想色界遍行。及修所 斷隨眠隨增。而不作是說者有何意耶。當 知此中兼說和合。彼有命終時心通於五 部。非但說出無想心。以命終心是前眷屬 故此兼說。評曰。應知前說者好。無別道理 遮餘心故。如世尊說。一切有情皆由食住。 無想有情由何食住。答觸意思識。問何故 作此論。答欲令疑者得決定故。謂無想天 必無段食觸意思識亦滅無餘。勿有疑彼 無食而住。則不可通世尊所說一切有情 皆由食住。為除彼疑顯無想處雖無段 食而有餘三。與經相應故作斯論。問彼無 想位三食亦滅。云何說有。答食有二種。一 先時能引。二現在任持。彼位雖無現任持 食。而有先時能引之食故名有食。有說彼 中有三種食。一業食。二生食。三等無間緣 食。業食者。謂先所造彼地業能引彼生故。 生食者。謂結生心及俱有法。引彼一期令 相續故。等無間緣食者。謂入無想觸意思 識為等無間緣。能引無想出心心所。令必 當起不永斷故。由此故說一切有情皆由 食住。問眼根攝幾根。乃至具知根攝幾根。 答眼根攝眼根。乃至廣說。問何故作此論。 答欲止說諸法唯攝他性者意。顯一切法 有攝自性故作此論。眼根攝眼根者。此 依種類總相而說。若別說者眼有二種。謂 左與右。左攝左右攝右。左復有二。謂所長 養及異熟生。所長養攝所長養。異熟生攝異 熟生。異熟生復有二種。謂善業異熟。不善業 異熟。善業異熟攝善業異熟。不善業異熟攝 不善業異熟。善業異熟復有二種。謂人與 天。人攝人。天攝天。天復有二。謂欲界色 界。欲界攝欲界。色界攝色界。色界復四。謂 四靜慮。初靜慮攝初靜慮。乃至第四靜慮攝 第四靜慮。不善業異熟復有三種。所謂地獄 傍生鬼界。地獄攝地獄。乃至鬼界攝鬼界。 如是左眼并諸差別各有三世。過去攝過 去。未來攝未來。現在攝現在。過去復有無 量剎那。一一剎那各各自攝。如過去未來亦 然。如左右亦爾。此中但依種類總說。如眼 根。耳鼻舌命苦憂根亦爾。此皆各攝自一根 故。身根攝三根。謂身女男根。女根攝女根 身根少分。如女根男根亦爾。意根攝意根 三根少分。謂三無漏根。由彼三根九法為體 攝意非餘故言少分。如意根。樂喜捨根信 等五根亦爾。未知當知根攝未知當知根。九 根少分。謂意。三受。信等五根。此九皆通有 漏無漏。今唯攝無漏。於無漏中復有三道。 今唯攝見道故言少分。如未知當知根。已 知根具知根亦爾。信力乃至慧力念等覺支。 乃至捨等覺支。正見乃至正定法智。乃至道 智空無願無相攝幾根。答信力攝一根三根 少分。謂三無漏根。此三各以九法為性。攝 信非餘故言少分。如信力餘四力亦爾念 等覺支攝四根少分。謂念根三無漏根。念根 通有漏無漏。今唯攝無漏三根九法為性。 今唯攝念故言少分。如念等覺支。擇法精 進喜定等覺支亦爾。餘不攝根。謂安捨等覺 支不攝根無根相故。正見攝四根少分。謂 慧根三無漏根。如正見。正勤念定亦爾。餘不 攝根。謂正思惟正語業命不攝根無根相 故。法智攝四根少分。謂慧根三無漏根。如 法智。類智苦集滅道智亦爾。他心智攝三根 少分。謂慧根。已知。具知根。云何攝慧根少 分。謂慧根通緣一法多法。自相共相。現在三 世。他身自身。相應不相應境。此唯攝緣一 法。自相。現在。他身相應境慧。故言少分。二 無漏根九法為性。此唯攝慧。慧中差別如 前。此唯攝緣一法慧等故言少分。世俗智 攝一根少分。謂慧根。以慧根通有漏無漏。 今唯攝有漏故言少分。空攝四根少分。謂 定根三無漏根如空。無願無相亦爾。意根幾 根相應。乃至具知根幾根相應。答意根十根 三根少分相應。乃至廣說。問何故作此論。答 有迷相應執相應法非實有性。為止彼意 顯相應法體是實有故作斯論。意根十根相 應者。謂五受信等五根。三根少分相應者。謂 三無漏根。以彼三根九法為性。除意自體 與餘相應故言少分。樂喜捨根九根少分相 應。謂意信等五三無漏根。與意信等五少分 相應者。彼六根皆與五受根俱生。今樂喜捨 各唯與自根俱生者相應故言少分。與三 無漏根少分相應者。彼三根九法為性三受 俱生。今樂喜捨唯與自根俱生者相應故言 少分。苦根憂根六根少分相應。謂意根信等 五根。云何與彼少分相應。謂彼六根五受俱 生。今苦憂根唯與自根俱生者相應故言少 分。信根四根九根少分相應。四根者。謂精進 念定慧。九根少分相應者。謂意五受三無漏 根。與意五受少分相應者。彼六根通染不 染。今信根唯與不染善者相應故言少分。 與三無漏根少分相應者。彼三根九法為性。 今除信自體與餘相應故言少分。如信根 精進念定慧根亦爾。未知當知根與未知當 知根九根少分相應。與未知當知根相應 者。此根九法為性。一一除自與餘相應皆 名此根。此根相應九根少分相應者。謂意樂 喜捨信等五根。云何與彼少分相應。謂彼九 根通有漏無漏。今唯與彼無漏相應。於無 漏中通見道修道無學道。今唯與彼見道 相應故言少分。如未知當知根。已知根具知 根亦爾。唯位有別餘皆同故。 信力乃至慧力念等覺支。乃至捨等覺支。正 見乃至正定法智。乃至道智空無願無相。幾 根相應。答信力四根九根少分相應。四根者。 謂精進念定慧九根少分相應者。謂意五受 三無漏根義如前說。如信力。餘四力亦爾。 謂精進念定慧念等覺支十一根少分相應。 謂意樂喜捨信等。四三無漏根與意三受信 等四少分相應者。彼八根通有漏無漏。今唯 與彼無漏相應故言少分。與三無漏根少 分相應者。彼三根九法為性。今除念自性 與餘相應故言少分。如念等覺支。擇法精 進定等覺支亦爾。喜等覺支九根少分相應。 謂意信等五三無漏根。與意信等五少分相 應者。彼六根通有漏無漏。今唯與彼無漏 相應。於無漏中通依九地。謂未至。靜慮中 間四靜慮。下三無色。今唯與彼依初二靜慮 者相應故言少分。與三無漏根少分相應 者。彼三根通樂喜捨。及彼俱生。今唯與喜 根俱生者相應故言少分。安捨等覺支三根 九根少分相應。三根者。謂三無漏根。九根少 分相應者。謂意樂喜捨信等五根。云何與彼 少分相應。謂彼九根通有漏無漏。今唯與 彼無漏相應故言少分。正見十一根少分相 應。謂意樂喜捨信等四三無漏根。義如念等 覺支說。如正見。正思惟正勤正定亦爾。然正 思惟少有差別。謂意喜捨信等五三無漏根。 是謂十一。此十一根通依諸地。今唯與依 未至初靜慮者相應故言少分。餘非根相 應。謂正語業命非根相應。非相應法故。法 智十一根少分相應。如正見說。如法智。類 智苦集滅道智亦爾。他心智十根少分相應。 謂意樂喜捨信等四已知具知根。義如攝中 說。世俗智二根八根少分相應。二根者。謂苦 憂根。八根少分相應者。謂意樂喜捨信等四 根。云何與彼少分相應。謂彼八根通有漏 無漏。今唯與彼有漏相應故言少分。空無 願無相十一根少分相應。如念等覺支說。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 154 53 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 154 LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG TÂM (Phần 4) Trong kinh nói: “Trú trong Định Diệt tận thì không bị lửa đốt cháy, không bị nước cuốn trôi, không bị trúng độc, không bị dao làm hại, không bị người khác giết chết.” Hỏi: Vì sao trú trong Định Diệt ta än thì có lợi ích thù thắng như vậy? Đáp: Tôn giả Thế Hữu đưa ra cách nói như vậy: “Bởi vì Định Diệt tận này là pháp không hại, cho nên trú trong Định này không phải là do hại mà làm hại được.” Có người nói: Định này có uy đức to lớn, các uy đức được Thiên thần bảo vệ, cho nên không có thể làm hại. Có người nói: Đạt được Tĩnh lự là cảnh giới của Tĩnh lự, có đủ thần thông là cảnh giới của thần thông, đều là không thể nghĩ bàn được, cho nên không có thể làm hại. Có người nói: Định này không có tâm, không phải là không có tâm thì có sinh-có tử, cho nên không có thể làm hại. Kinh Đẳng Hoạt là duyên khởi của phần luận này.“Xưa có Đức Phật danh hiệu là Yết-lạc-câu-thôn- đà, có hai người đệ tử bậc nhất, một người tên gọi Cực Viễn, một người tên gọi Đẳng Hoạt. Tôn giả Đẳng Hoạt đã từng nhiều lần giáo hóa mọi người ở trong một khu thành, được mọi người biết đến. Sau đó tiến vào Định Diệt tận ở bên cạnh khu thành, nơi nhiều người đi lại. Lúc ấy có những người đi thả trâu bò-hái củi thấy rồi đều nói: Nay Tôn giả này ngồi ngay thẳng mà diệt độ quả thật là kỳ lạ thay, chúng ta nên đốt cháy thi hài để cúng dường! Thế là lấy các loại phân trâu và củi khô, chất quanh thân vị ấy mà đốt cháy rồi đi xa. Sáng sớm Tôn giả từ trong Định mà đứng dậy, nhanh chóng sửa lại áo quần, như thường lệ mỗi buổi sáng ôm bình bát đi vào thành, đi 54 BỘ TỲ ĐÀM 6 chậm rãi qua từng nhà khất thực. L úc ấy những người đốt cháy thi hài thấy rồi kinh ngạc nói rằng: Hôm qu a chúng ta đốt cháy thi hài của vị ấy, mà bây giờ lại đi khất thực ! Mọi người trong thành đều cùng nhau nói to rằng: Nay Sa-môn này chết mà sống lại. Vì vậy cho nên gọi là Tôn giả Đẳng Hoạt.” Nên biết thân không cháy là do lực của Định Diệt tận, áo quần không cháy là do lực của thần thông. Có người nói: Thân và áo quần đều không cháy, đều là do lực của Định Diệt tận. Vì thế cho nên kinh ấy là duyên khởi của phần luận này. Trong Truyền Dụ nói: “Nếu có người nào cúng dường cho người từ trong Định Diệt tận ra ngoài, thì người ấy chắc chắn thành tựu nghiệp thuận theo pháp hiện tại nhận quả.” Hỏi: Vì sao cúng dường cho người từ trong Định Diệt tận ra ngoài, thì chắc chắn thành tựu nghiệp thuận theo pháp hiện tại nhận quả? Đáp: Điều này không nhất định phải thông hiểu. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì điều này không phải la ø giáo nghĩa trong Tố-đát-lãm, Tỳ- nại-da và A-tỳ-đạt-ma đã nói, chỉ là tỉ dụ truyền miệng mà nói ra. Các tỉ dụ truyền miệng nói ra có lúc đúng-có lúc không đúng, nếu nhất định phải thông hiểu, thì nên biết sự cú ng dường này hoặc là đạt được quả hiện tại, hoặc là đạt được quả to lớn. Điều ấy thuận theo ý thích của thế gian, cho nên chỉ nói đến quả hiện tại. Hỏi: Vì sao cúng dường cho người từ trong Định Diệt tận ra ngoài, hoặc là đạt được quả hiện tại, hoặc là đạt được quả to lớn? Đáp: Bởi vì nếu có người nào cúng dường cho người từ trong Định này ra ngoài, thì chính là cúng dườ ng cho người từ trong tất cả Tĩnh lự-Giải thoát-Đẳng trì-Đẳng chí ra ngoài. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì những người muốn tiến vào-rời khỏi Đẳng chí Diệt tận, chắc chắn trước tiên khởi lên tâm thiện của cõi Dục, tiếp đến tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, như vậy cho đến tiến vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, từ đây không gián đoạn tiến vào Định Diệt tận. Từ trong Định này ra ngoài hoặc là khởi lên Phi tưởng phi phi tưởng xứ, hoặc là khởi lên Vô sở hữu xứ, như vậy cho đến trở lại khởi lên Tĩnh lự thứ nhất, tiếp tục tiến vào tâm thiện của cõi Dục. Người ấy nhờ vào công đ ức xông ướp nối tiếp nhau như vậy, cho nên có thể khiến cho người cú ng dường hoặc là đạt được quả hiện tại, hoặc là đạt được quả to lớn. Có người nói: Người từ trong Định Diệt tận ra ngoài, thì oai nghi vắng lặng-đi lại nói năng-mặc áo ăn uống, tất cả đều tường tận tỉ mỉ, các Thanh tín-Trưởng giả và Bà-la-môn…, thấy rồi đều sinh ý tưởng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 154 55 www.daitangkinh.org hiếm có, dùng tâm ân cần thanh tịnh cúng dường các vật dụng sinh hoạt, cho nên đạt được quả hiện tại, hoặc là đạt được quả to lớn. Có người nói: Người đạt được Định này danh tiếng truyền rộng khắp nơi, vượt xa những Định khác, các Thanh tín-Trưởng giả và Bà-la- môn…, nghe rồi đều sinh ý tưởng hiếm lạ, dùng tâm ân cần thanh tịnh cúng dường các vật dụng sinh hoạt, cho nên đạt được quả hiện tại, hoặc là đạt được quả to lớn. Có người nói: Người trú trong Định này, các loại ăn đều đoạn dứt. Nếu cúng dường cho người từ trong Định này ra ngoài, thì chính là cúng dường cho người không ăn gì cả. Ăn nghĩ a là người trú trong Định có tâm hữu lậu, tuy đoạn dứt Đoàn thực mà ăn thức ăn thuộc về Xúc-Tư và Thức hữu lậu; người trú trong Định vô lậu, tuy đoạn dứt bốn loại ăn thật sự, mà có thức ăn thuộc về Xúc-Tư và Thức tương tự; người trú trong Định Diệt tận thì tất cả đều không có. Vì vậy cúng dường cho người từ trong Định này ra ngoài, thì ch ính là cúng dường thức ăn cho người không ăn gì cả. Bởi vì nhân duyên na øy, cho nên hoặc là đạt được quả hiện tại, hoặc là đạt được quả to lớn. Có người nói: Nếu có người nào cúng dường cho người từ trong Định này ra ngoài, thì chính là cúng dường thức ăn cho người đến Niết- bàn trở về, bởi vì Định này tựa như Niết-bàn. Nghĩa là như người tiến vào cảnh giới Niết-bàn Vô dư y, di ệt hết tất cả các pháp có sở duyên, tâm-tâm sở pháp không khởi lên-không diệt đi; người trú trong Định Diệt tận, cũng diệt hết tất cả cá c pháp có sở duyên, tâm-tâm sở pháp không khởi lên-không diệt đi, cho nên t ựa như Niết-bàn. Vì vậy cúng dường cho người từ Định này ra ngoài, thì chính là cúng dường thức ăn cho người đến Niết-bàn trở về. Bởi vì nhân duyên này, cho nên hoặc là đạt được quả hiện tại, hoặc là đạt được quả to lớn. Lại nữa, không phải là chỉ cúng dường cho người từ trong Định Diệt tận ra ngoài, thì có thể đạt được quả hiện tại. Nếu cúng dường cho năm loại Bổ-đặc-già-la, thì đều đạt được quả hiện tại: 1. Từ trong Định Diệt tận ra ngoài. 2. Từ trong Định Từ ra ngoài. 3. Từ trong Định Vô tranh ra ngoài. 4. Từ trong Kiến đạo ra ngoài. 5. Từ lúc đầu khởi lên đạt được Tận trí. Lại nữa, nếu cúng dường cho năm loạ i Bổ-đặc-già-la, thì có thể đạt được quả to lớn: 1. Cha. 56 BỘ TỲ ĐÀM 6 2. Mẹ. 3. Người bệnh. 4. Thầy nói pháp. 5. Bồ-tát gần đến địa vị Phật. Hỏi: Định Diệt tận đối với C húng đồng phần là cũng có thể dẫn dắt, hay là chỉ đầy đủ? Đáp: Định này chỉ có thể đầy đủ mà không có thể dẫn dắt. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì chỉ riêng nghiệp mới có thể dẫn dắt Chúng đồng phần, mà Định này không phải là nghiệp. Hỏi: Định này là thuận theo pháp hiện tại nhận quả, là thuận theo đời kế tiếp nhận quả, là thuận theo đời kế tiếp thứ hai nhận quả, hay là thuận theo không nhất định nhận quả? Đáp: Định này hoặc là thuận t heo đời kế tiếp nhận quả, hoặc là thuận theo đời kế tiếp thứ hai nhận quả, hoặc là thuận theo không nhất định nhận quả, không phải là thuận theo pháp hiện tại nhận quả, bởi vì đã sinh đến Hữu Đảnh thì không khởi lên Định này. Hỏi: Định này ở nơi nào nhận lấy dị thục nào? Đáp: Định này ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ nhận lấy bốn Uẩn dị thục. Hỏi: Những người thành tựu Định này, cũng thành tựu dị thục của Định ấy chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc thành tựu Định Diệt ta än mà không phải là dị thục của Định ấy, đó là sinh ở cõi Dục-Sắc đã đạt được Định Diệt tận, và đạt được rồi không lui sụt, mạng chung sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, dị thục của Định Diệt tận không hiện rõ ở trước mắt. 2. Có lúc thành tựu dị thục của Định ấy mà không phải là Định Diệt tận, đó là đạt được Định Diệt tận rồi mà lui sụt, mạng chung sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, dị thục của Định Diệt tận hiện rõ ở trước mắt. 3. Có lúc thành tựu Định Diệt tận cũng là dị thục của Định ấy, đó là đạt được Định Diệt tận rồi không lui sụt, mạng chung sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, dị thục của Định Diệt tận hiện rõ ở trước mắt. 4. Có lúc không phải là thành tựu Định Diệt tận cũng không phải là dị thục của Định ấy, đó là si nh ở cõi Dục-Sắc không đạt được Định Diệt tận, giả sử đạt được rồi lui sụt; hoặc là sinh đến Không vô biên xứ- Thức vô biên xứ và Vô sở hữu xứ, nếu không đạt được Định Diệt tận, sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và đạt được rồi mà lui sụt, mạng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 154 57 www.daitangkinh.org chung sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì dị thục của Định Diệt tận không hiện rõ ở trước mắt. Hỏi: Những người lui sụt Định Diệt tận, cũng lui sụt quả A-la-hán chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc lui sụt Định Diệt tận mà không phải là quả A-la-hán, đó là người Học lui sụt Định Diệt tận, và người Vô học lui sụt Định Diệt tận mà không khởi lên Kiết. 2. Có lúc lui sụt quả A-la-hán mà không phải là Định Diệt tận, đó là A-la-hán Tuệ giải thoát lui sụt , và phần vị Học trước đây khởi lên Định Diệt tận rồi, đạt được quả A-la-hán, khởi lên Kiết của phần vị trên mà lui sụt. 3. Có lúc lui sụt Định Diệt tận cũng là quả A-la-hán, đó là phần vị Học trước đây khởi lên Định Diệt tận rồi, đạt được quả A-la-hán, khởi lên Kiết của phần vị dưới mà lui s ụt, và phần vị Vô học khởi lên Định Diệt tận rồi, khởi lên Kiết của ba cõi tùy theo một mà lui sụt. 4. Có lúc không phải là lui sụt Định Diệt tận cũng không phải là quả A-la-hán, đó là trừ ra những tướng trước. A-la-hán có sáu loại, đó là Thối pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trú pháp, Kham đạt pháp, Bất động pháp. Hỏi: Những A-la-hán lui sụt pháp (Thối pháp), tất cả đều là Câu giải thoát chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc lui sụt pháp mà không phải là Câu giải thoát, đó là lui sụt pháp không đạt được Định Diệt tận. 2. Có lúc Câu giải thoát mà không phải là lui sụt pháp, đó là tư duy pháp (Tư pháp) cho đến Bất động pháp, đã đạt được Định Diệt tận. 3. Có lúc lui sụt pháp cũng là Câu giải thoát, đó là lui sụt pháp đã đạt được Định Diệt tận. 4. Có lúc không phải là lui sụt pháp cũng không phải là Câu giải thoát, đó là tư duy pháp cho đến Bất động pháp, không đạt được Định Diệt tận. Như A-la-hán lui sụt pháp đối với Câu giải thoát làm thành bốn câu phân biệt, năm loại A-la-hán còn la ïi đối với Câu giải thoát cũng như vậy. Như vậy làm thành sáu lần bốn câu. Như đạo Vô học có sáu loại A-la-hán, đạo thuộc Học cũng có sáu loại chủng tánh, đó là chủng tánh Thối pháp, cho đến chủng tánh Bất động pháp. Hỏi: Những người Học lui sụt pha ùp, tất cả đề u là Thân chứng 58 BỘ TỲ ĐÀM 6 chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc Học lui sụt pháp mà không phải là Thân chứng, đó là Học lui sụt pháp không đạt được Định Diệt tận. 2. Có lúc Thân chứng mà không phải là Học lui sụt pháp, đó là Học tư duy pháp cho đến Học bất động pháp, đã đạt được Định Diệt tận. 3. Có lúc Học lui sụt pháp cũng là Thân chứng, đó là Học lui sụt pháp đã đạt được Định Diệt tận. 4. Có lúc không phải là Học lui sụt pháp cũng không phải là Thân chứng, đó là Học tư duy pháp c ho đến Học bất động pháp, không đạt được Định Diệt tận. Như Học lui sụt pháp đối với Thân chứng làm thành bốn câu phân biệt, năm chủng tánh còn lại đối với Thân chứng cũng như vậy. Như vậy cũng làm thành sáu lần bốn câu. Hỏi: Nếu pháp là tâm Đẳng vô gia ùn, thì pháp ấy là tâm vô gián chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có pháp là tâm Đẳng vô gián mà không phải là tâm vô gián, đó là trừ ra sát-na đầu tiên của Đị nh Diệt tận và phần vị có tâm khác, còn lại các sát-na của Định Diệt tận và tâm-tâm sở pháp rời khỏi Định Diệt tận. 2. Có pháp là tâm vô gián mà không phải là tâm Đẳng vô gián, đó là sát-na đầu tiên của Định Diệt tận và phần vị có tâm khác, pháp ấy là sinh-trú-lão-vô thường. 3. Có pháp là tâm Đẳng vô gián c ũng là tâm vô gián, đó là sát- na đầu tiên của Định Diệt tận, và tâm-tâm sở pháp của phần vị có tâm khác. 4. Có pháp không phải là tâm Đa úng vô gián cũng không phải là tâm vô gián, đó là trừ ra sát-na đầu tiên của Định Diệt tận và phần vị có tâm khác, pháp ấy là sinh-trú-la õo-vô thường, còn lại các sát-na của Định Diệt tận và phần vị tâm rời khỏi Định Diệt tận, pháp ấy là sinh- trú-lão-vô thường. Hỏi: Nếu pháp là tâm Đẳng vô gián, thì pháp ấy là Định Diệt tận vô gián chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có pháp là tâm Đẳng vô gián mà không phải là Định Diệt tận vô gián, đó là sát-na đầu tiên của Định Diệt tận, và tâm-tâm sở pháp SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 154 59 www.daitangkinh.org của phần vị có tâm khác. 2. Có pháp là Định Diệt tận vô gi án mà không phải là tâm Đẳng vô gián, đó là trừ ra sát-na đầu tiên của Định Diệt tận và phần vị có tâm khác, pháp ấy là sinh-trú-lão-vô thường, còn lại các sát -na của Định Diệt tận và phần vị tâm rời khỏi Định Diệt tận, pháp ấy là sinh-trú-lão- vô thường. 3. Có pháp là tâm Đẳng vô gián c ũng là Định Diệt tận vô gián, đó là trừ ra sát-na đầu tiên của Đị nh Diệt tận và phần vị có tâm khác, còn lại các sát-na của Định Diệt tận và tâm-tâm sở pháp rời khỏi Định Diệt tận. 4. Có pháp không phải là tâm Đa úng vô gián cũng không phải là Định Diệt tận vô gián, đó là sát-na đầu tiên của Định Diệt tận và phần vị có tâm khác, pháp ấy là sinh-trú-lão-vô thường. Hỏi: Sinh ở cõi trời Vô tưởng có mấy căn diệt? Đáp: Tám căn, đó là Nhãn-Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân-Mạng-Ý và Xả căn. Hỏi: Đây là nói từ nơi nào sinh đến cõi trời Vô tưởng? Đáp: Đây là nói từ Trung Hữu của cõi Vô tưởng sinh đến Sinh Hữu của cõi Vô tưởng. Hỏi: Lúc bấy giờ cũng có năm căn như Tín… hiện rõ ở trước mắt diệt đi, vì sao không nói đến? Đáp: Văn này nên đưa ra cách nói này: Hoặc là tám căn-hoặc là mười ba căn, tâm cuối cùng của Trung Hữu, vô ký là tám căn, thiện là mười ba căn. Nhưng mà không đưa ra cách nói này, thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người đưa ra cách nói này: Trong này chỉ dựa vào phần vị diệt, phần vị sinh đều có mà nói, năm căn như Tín… chỉ có ở phần vị diệt, không phải là có ở phần vị sinh, cho nên không nói đến. Hỏi: Tâm-tâm sở hệ thuộc nơi nào diệt đi? Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc. Hỏi: Mấy căn hiện rõ trước mắt? Đáp: Tám căn, nói như trước. Hỏi: Tâm-tâm sở hệ thuộc nơi nào hiện rõ trước mắt? Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc, bởi vì chết rồi sinh ra chắc chắn khởi lên tâm của địa mình. Hỏi: Ở cõi trời Vô tưởng chết đi có mấy căn diệt? Đáp: Tám căn, nói như trước. Hỏi: Tâm-tâm sở hệ thuộc nơi nào diệt đi? 60 BỘ TỲ ĐÀM 6 Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc. Hỏi: Mấy căn hiện rõ trước mắt? Đáp: Hoặc là tám căn-hoặc là chín căn-hoặc là mười căn. Không có hình thể là tám căn, đó là Nhãn-Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân-Mạng-Ý và Xả căn. Một hình thể là chín căn, đó là cọng thêm Nam căn-Nữ căn tùy theo một loại. Hai hình thể là mườ i căn, đó là cọng thêm Nam căn và Nữ căn. Hỏi: Tâm-tâm sở hệ thuộc nơi nào hiện rõ trước mắt? Đáp: Hệ thuộc cõi Dục. Vì vậy chứng minh biết rằng từ cõi trời Vô tưởng chết đi chắc chắn sinh vào cõi Dục. Hỏi: Chắc chắn sinh vào nơi nào? Đáp: Có người nói: Sinh vào địa ngục. Có người nói: Sinh vào nẽo ác. Nói như vậy thì chắc chắn si nh vào cõi Dục, nơi chốn không nhất định, hoặc là sinh vào nẽo ác, hoặc là cõi trời, hoặc là loài người. Hỏi: Vì sao từ cõi trời Vô t ưởng chết đi chắc chắn sinh vào cõi Dục? Đáp: Bởi vì thế lực của nhân dị thục như vậy, cho nên tùy theo thế lực vốn có của nhân dị thục, chỉ làm cho khởi lên dị thục như vậy. Có Sư khác nói: Bởi vì thọ lượng của cõi Vô tưởng đã hết, mà nghiệp của thọ lượng nơi khác không tăng trưởng, nghĩa là trước đây tăng trưởng về nghiệp thuộc thọ lượng của cõi Vô tưởng nay đã thọ nhận không còn, bởi vì nghiệp thuộc thọ lượng của nơi khác trước đây không tăng trưởng, cho nên từ cõi ấy chết đi chắc chắn sinh vào cõi Dục. Hỏi: Người ấy cũng đã từng khởi lên ba Tĩnh lự dưới, vì sao không dẫn đến quả thọ lượng của địa ấy? Đáp: Người ấy tuy đã từng khởi lên ba Tĩnh lự dưới, mà không phải là khăng khăng chấp lấy cho nên không dẫn đến thọ lượng ấy, bởi vì chỉ khăng khăng chấp trước Tĩnh lự thứ tư cho nên dẫn đến thọ lượng của địa ấy. Có người nói: Người ấy tuy đã từng khởi lên ba Tĩnh lự dưới, mà không phải là do mong cầu, người ấy chỉ mong cầu ở Tĩnh lự thứ tư. Có người nói: Người ấy tuy đã từng khởi lên ba Tĩnh lự dưới, chỉ giống như con đường đã đi qua mà không phải là nơi hướng đến, Tĩnh lự thứ tư là nơi đích thực hướng đến chứ không phải là như con đường đã đi qua, cho nên dẫn đến thọ lượng của địa ấy. Có người nói: Nếu tạo nghiệp thuận theo đời kế tiếp nhận quả ở cõi trời Vô tưởng, thì pháp vốn như vậy cũng tạo nghiệp thuận theo đời SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 154 61 www.daitangkinh.org kế tiếp thứ hai nhận quả ở cõi Dục . Như tạo nghiệp thuận theo đời kế tiếp nhận quả ở châu Bắc Câu-lô, thì pháp vốn như vậy cũng tạo nghiệp thuận theo đời kế tiếp thứ hai nhận quả ở loài trời cõi Dục. Có người nói: Cõi Dục là nơi qua y về của tất cả hữu tình lui sụt, nghĩa là các hữu tình do lực của nghiệp-lực của tu mà hướng đến cõi Sắc-Vô sắc, nghiệp ấy nếu hết thì trở lại rơi vào cõi Dục. Ví như mặt đất là nơi quay về của các loài chim bay bị rơi xuống, nghĩa là các loài chim bay nhờ vào sức mạnh của đôi cánh mà bay vút lên bầu trời, lúc sức mạnh của đôi cánh không còn thì trở lại rơi xuống mặt đất. Có người nói: Hữu tình cõi trời Vô tưởng trải qua năm trăm kiếp trú vào trong Vô tưởng, như giấc ngủ say sưa, tỉnh rồi không thể nào lấy được dị thục khác, thế là rơi va øo cõi Dục. Như người ở trên ngọn cây dựa vào cành cây mà ngủ, trải qua thời gian dài bỗng nhiên tỉnh giấc, tay quên bám lấy cành, ngay lập tức rơ i xuống đất. Ở cõi ấy cũng như vậy. Có người nói: Người cầu Vô tưởng thì chấp rằng Định Vô tưởng là Đạo chân thật, dị thục của Định ấy là Niết-bàn, cho đến sinh vào trong cõi trời ấy, ý chấp này vẫn đi theo, người ấy về sau từ trong Vô tưởng ra ngoài, lúc sắp mạng chung thấy tướng sinh trước mắt, liền dấy lên ý niệm này: Chắc chắn không có Niết -bàn, nếu như thật có thì mình đã chứng được, giờ đây tại sao tướng sinh hi ện rõ trước mắt? Bởi vì bài báng Niết-bàn và Thánh đạo, cho nên từ cõi ấy chết đi mà sinh vào trong nẽo ác. Tôn giả Diệu Âm cũng đưa ra cách nói này: “Bởi vì người ấy bài báng Niết-bàn và Thánh giả, cho nên từ cõi ấy mạng chung chắc chắn sinh vào nẽo ác.” Hỏi: Định Vô tưởng và Sự Vô tưởng sai biệt thế nào? Đáp: Tên gọi chính là sai biệt, loại này gọi là Định Vô tưởng, loại này gọi là Sự Vô tưởng. Lại nữa, nhân là Định Vô tưởng, quả là Sự Vô tưởng. Lại nữa, pháp dị thục là Định Vô tưởng, dị thục là Sự Vô tưởng. Lại nữa, Định Vô tưởng là thiện, Sự Vô tưởng là vô ký. Lại nữa, Định Vô tưởng là Định, Sự Vô tưởng là Sinh. Lại nữa, Định Vô tưởng do tác ý dụng công gia hạnh mà khởi lên, Sự Vô tưởng không phải là do tác ý dụng công gia hạnh mà khởi lên. Lại nữa, Định Vô tưởng bao gồm ở nơi này-nơi kia đạt được, nơi này-nơi kia hiện rõ ở trước mắt; Sự Vô tưởng chỉ ở nơi kia đạt được, nơi kia hiện rõ ở trước mắt. 62 BỘ TỲ ĐÀM 6 Lại nữa, Định Vô tưởng là gia ha ïnh đạt được, Sự Vô tưởng là sinh mà có được. Đây gọi là sự sai biệt giữa Định Vô tưởng và Sự Vô tưởng. Hỏi: Cõi trời Vô tưởng thuộc về nơi nào? Đáp: Sư nước ngoài nói: “Tĩnh lự thứ tư có chín nơi khác nhau, cõi trời Vô tưởng là một nơi.” Các Luận sư của nước Ca-thấp- di-la nói: “Tức là thuộc về cõi trời Quảng Quả, nhưng bởi vì vắng lặng hơn hẳn cho nên lập ra tên gọi riêng biệt, giống như chốn A-luyện-nhã bên cạnh thôn làng.” Hỏi: Thân lượng của trời ấy như thế nào? Đáp: Năm trăm Du-thiện-na. Hỏi: Thọ lượng của trời ấy như thế nào? Đáp: Năm trăm kiếp. Hỏi: Thực hiện oai nghi cư trú như thế nào? Đáp: Có người nói: Ngồi xếp bằng tròn như Sa-môn Thích tử. Có người nói: Ngồi chồm hổm như Bà-la-môn. Nói như vậy là như trước kia đã trú trong oai nghi tiến vào Định này, thì dùng oai nghi này ở cõi ấy trú trong năm trăm kiếp. Hữu tình ở cõi Vô tưởng lúc si nh ra, nên nói là có Tưởng, hay là không có Tưởng? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày nghĩa lý của mình. Đó là hoặc có người nói: Hữu tình ở cõi Vô tưởng, lúc sinh ra-lúc chết đi đều không có Tâm-Tưởng. Vì ngăn chặn ý ấy để hiển bày hữu tình ở cõi ấy, lúc sinh ra-lúc chết đi đều có Tâm-Tưởng, chứ không phải là không có Tâm-Tưởng, bởi vì có chết đi và sinh ra. Hoặc lại có người nói: Hữu tình ở cõi Vô tưởng, lúc sinh ra thì có Tâm, lúc chết đi thì không có Tâm. Vì ngăn chặn ý ấy để hiển bày hữu tình ở cõi ấy, lúc chết đi cũng có Tâm-Tưởng chứ không phải là không có Tâm-Tưởng, bởi vì có mạng chung. Hoặc lại có người nói: Hữu tình ở cõi Vô tưởng, lúc sinh ra-lúc chết đi tuy đều có Tâm, nhưng chỉ c ó một niệm chứ không phải là nối tiếp nhau lâu dài. Vì ngăn chặn ý ấy để hiển bày hữu tình ở cõi ấy, lúc sinh ra thì sinh ra rồi trải qua thời gian dài Tâm hãy còn nối tiếp nhau, về sau mới không có Tưởng; từ không có Tưởng ra ngoài, có Tâm trải qua thời gian dài, về sau mới xả mạng. Vì thế cho nên nói như vậy: Hỏi: Có thể có nơi, chỉ có Tâm trong hai sát-na, đó là lúc Kiết SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 154 63 www.daitangkinh.org sinh(tiến vào thai mẹ) và lúc mạng chung chăng? Đáp: Nên nói là không có. Tôn giả Diệu Âm nói có, đó chính là cõi trời Vô tưởng. Hỏi: có thể có nơi, Tâm thuộc Kiết sinh làm Đẳng vô gián duyên, Tâm thuộc mạng chung khởi lên chăng? Đáp: Nên nói là không có. Tôn giả Diệu Âm nói có, đó chính là cõi trời Vô tưởng. Hỏi: Có thể có nơi, Tâm thuộc Kiết sinh làm bốn duyên, Tâm thuộc mạng chung khởi lên chăng? Đáp: Nên nói là không có. Tôn giả Diệu Âm nói có, đó chính là cõi trời Vô tưởng. Vì ngăn chặn những cách nói này, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Hữu tình ở cõi Vô tưởng, lúc sinh ra nên nói là có Tưởng, hay là không có Tưởng? Đáp: Nên nói là có Tưởng. Đây là ngăn chặn ý chấp ở cõi trời Vô tưởng, lúc sinh ra thì không có Tâm. Như Đức Thế Tôn nói: “Các hữu tình ở cõi ấy do Tưởng khởi lên, cho nên từ nơi ấy chết đi.” Hỏi: Lúc từ nơi ấy chết đi th ì Tưởng ấy nên nói là diệt, hay là không diệt? Đáp: Nên nói là diệt. Đây là nga ên chặn ý chấp ở cõi trời Vô tưởng, lúc chết đi thì không có Tâm. Hỏi: Nên nói là trú nơi nào thì Tưởng ấy diệt đi? Đáp: Nên nói là trú ở nơi ấy. Đây là ngăn chặn ý chấp về hữu tình ở cõi Vô tưởng chỉ có Tâm trong một niệm lúc chết đi-lúc sinh ra. Hỏi: Hữu tình ở cõi Vô tưởng, Tâm trước nhiều hay là Tâm sau nhiều? Đáp: Có người nói: Tâm trước nhiều chứ không phải là Tâm sau, bởi vì lúc ấy chưa tiến vào phần vị Vô tưởng, dị thục nối tiếp nhau với thế lực mạnh mẽ, có Tâm một thời gian dài mới tiến vào Vô tưởng; rời khỏi Vô tưởng rồi, dị thục nối tiếp nhau với thế lực suy kém, cho nên có Tâm một thời gian ngắn thì liền xả mạng. Có người nói: Tâm sau nhiều chứ không phải là Tâm trước, bởi vì lúc ấy chưa tiến vào Vô tưởng, mong cầu Vô tưởng với Tâm mạnh mẽ, cho nên có Tâm một thời gian ngắn thì tiến vào Vô tưởng; rời khỏi Vô tưởng rồi, không mong cầu gì nữa, cho nên có Tâm một thời gian dài sau đó mới xả mạng. 64 BỘ TỲ ĐÀM 6 Nói như vậy thì sự việc này không nhất định, hoặc là trước nhiều- sau ít, hoặc là trước ít-sau nhiều, bởi vì tùy theo ý thích ấy có sai biệt. Hỏi: Tưởng ấy nên nói là thiện, hay là vô ký? Đáp: Hoặc là thiện, hoặc là vô ký. Hỏi: Tưởng ấy có mấy tùy miên tùy tăng? Đáp: Duyên hữu lậu thuộc cõi Sắc. Hỏi: Có mấy kiết ràng buộc? Đáp: Sáu kiết. Tưởng ấy, đó là Tưởng rời khỏi Vô tưởng. Hoặc là thiện-hoặc là vô ký, thiện đó là thiện do sinh ra đạt được, vô ký đó là hữu phú vô ký, hoặc là vô phú vô ký. Duyên hữu lậu thuộc cõi Sắc, đó là tùy miên duyên hữu lậu của Tĩnh lự thứ tư. Hỏi: Vì sao tùy miên duyên vô lậu không tùy tăng đối với Tưởng ấy? Đáp: Người ấy chấp Vô tưởng là Niết-bàn, Định Vô tưởng là Đạo chân thật, cho đến sinh vào cõi ấy, và từ cõi ấy chết đi. Bởi vì chỉ có chấp như vậy mà trở lại tiếp tục tùy chuyển, đối với Đạo-Diệt chân thật không bài báng là không có, cho n ên duyên vô lậu lúc bấy giờ không khởi lên. Sáu kiết ràng buộc, đó là trừ ra kiết Nhuế-Tật-Khan, có những kiết khác ràng buộc. Hỏi: Tưởng rời khỏi Vô tưởng là do năm Bộ mà đoạn, hay là chỉ do Tu mà đoạn? Nếu như vậy thì có gì sai? Nếu do năm Bộ mà đoạn, thì phẩm Thập Môn đã nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Pháp quá khứ làm Đẳng vô gián sinh ra hai Tâm. ” Nếu do Tu mà đoạn, thì văn này lại hiểu thế nào? Như nói: “Tưởng ấy là tùy miên tùy tăng duyên hữu lậu thuộc cõi Sắc.” Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Tưởng này bao gồm do năm Bộ mà đoạn. Hỏi: Phẩm Thập Môn đã nói nên hiểu thế nào? Đáp: Văn ấy nên nói pháp quá khứ làm Đẳng vô gián sinh ra sáu Tâm, đó là năm Tâm thuộc cõi Sắc, một Tâm thuộc cõi Vô sắc. Nhưng mà không đưa ra cách nói này là có ý gì? Nên biết rằng văn ấy chỉ dựa vào Tâm rời khỏi hai Định không c ó Tâm mà nói, chứ không nói đến Vô tưởng. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì hai Định không có Tâm do tác ý dụng công gia hạnh mà khởi lên, Vô tưởng thì không như vậy. Có Sư khác nói: Chỉ do Tu mà đoạn. Hỏi: Văn này đã nói nên hiểu thế nào? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 154 65 www.daitangkinh.org Đáp: Văn này nên nói Tưởng ấy là biến hành thuộc cõi Sắc, và tùy miên tùy tăng do Tu mà đoạn. Nhưng mà không đưa ra cách nói này là có ý gì? Nên biết rằng trong này nói bao gồm hòa hợp, đó là có Tâm vào lúc mạng chung thì bao gồm năm Bộ, không phải là chỉ nói đến Tâm rời khỏi Vô tưởng, bởi vì Ta âm mạng chung là quyến thuộc trước cho nên ở đây là nói bao gồm. Lời bình: Nên biết cách nói trước là hợp lý, bởi vì không có đạo lý riêng biệt để ngăn chặn Tâm khác. Như Đức Thế Tôn nói: “Tất cả hữu tình đều do ăn mà tồn tại.” Hỏi: Hữu tình ở cõi Vô tưởng do ăn gì mà tồn tại? Đáp: Xúc-Ý tư và Thức thực. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi ngờ có được quyết định. Nghĩa là cõi trời Vô tưởng chắc chắn không có Đoàn thực, Xúc-Ý tư và Thức thực cũng diệt hết không còn sót lại gì, đừng có nghi ngờ ở cõi ấy không ăn gì mà tồn tại, thì không có thể hiểu Đức Thế Tôn đã nói “Tất cả hữu tình đều do ăn mà tồn tại.” Bởi vì loại trừ mối nghi ấy, hiển bày về cõi Vô tưởng tuy không có Đoàn thực mà có ba loại ăn khác, cùng với kinh tương ưng, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Phần vị Vô tưởng ấy cũng diệt hết ba loại ăn, tại sao nói là có? Đáp: Ăn có hai loại: 1. Lúc trước có thể dẫn dắt. 2. Hiện tại tùy ý duy trì. Phần vị ấy tuy không có loại ăn thuộc hiện tại tùy ý duy trì, mà có loại ăn thuộc lúc trước có thể dẫn dắt, cho nên gọi là có ăn. Có người nói: Trong phần vị ấy có ba loại ăn: 1. Ăn thuộc về nghiệp. 2. Ăn thuộc về sinh. 3. Ăn thuộc về Đẳng vô gián duyên. Ăn thuộc về nghiệp, đó là bởi vì tr ước đây đã tạo ra nghiệp của địa ấy, cho nên có thể dẫn dắt sinh đến địa ấy. Ăn thuộc về sinh, đó là bởi vì tâm Kiết sinh (tâm tiến vào thai) và pháp cùng có, dẫn dắt phần vị ấy trong một thời kỳ làm cho no ái tiếp nhau. Ăn thuộc về Đẳng vô gián duyên, đó là tiến vào Vô tưởng, X úc-Ý tư và Thức làm Đẳng vô gián duyên, có thể dẫn đến Vô tưởng rời khỏi tâm-tâm sở, làm cho chắc chắn sẽ khởi lên, cho nên không vĩnh viễn đoạn dứt. Vì vậy cho nên nói là tất cả hữu tình đều do ăn mà tồn tại. 66 BỘ TỲ ĐÀM 6 Hỏi: Nhãn căn thâu nhiếp mấy căn, cho đến Cụ tri căn thâu nhiếp mấy căn? Đáp: Nhãn căn thâu nhiếp Nhãn căn, cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Cần phải ngăn chặn ý nói la ø các pháp chỉ thâu nhiếp tánh khác, hiển bày về tất cả các pháp chỉ thâu nhiếp tự tánh, cho nên soạn ra phần luận này. Nhãn căn thâu nhiếp Nhãn căn, đây là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Nếu nói riêng biệt thì Nhãn có hai loại, đó là bên trái và bên phải. Bên trái thâu nhiếp bên trái, bên phải thâu nhiếp bên phải. Bên trái lại có hai loại, đó là do nuôi lớn và dị thục sinh. Do nuôi lớn thâu nhiếp do nuôi lớn, dị thục sinh thâu nhiếp dị thục sinh. Dị thục sinh lại có hai loại, đó la ø dị thục của nghiệp thiện và dị thục của nghiệp bất thiện. Dị thục của nghiệp thiện thâu nhiếp dị thục của nghiệp thiện, dị thục của nghiệp ba át thiện thâu nhiếp dị thục của nghiệp bất thiện. Dị thục của nghiệp thiện lại có hai loại, đó là loài người và loài trời. Loài người thâu nhiếp loài người, loài trời thâu nhiếp loài trời. Loài trời lại có hai loại, đó là cõi Dục và cõi Sắc. Cõi Dục thâu nhiếp cõi Dục, cõi Sắc thâu nhiếp cõi Sắc. Cõi Sắc lại có bốn loại, đó là bốn Tĩnh lự. Tĩnh lự thứ nhất thâu nhiếp Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Tĩnh l ự thứ tư thâu nhiếp Tĩnh lự thứ tư. Dị thục của nghiệp bất thiện lại có ba loại, đó là địa ngục-bàng sinh và cõi quỷ. Địa ngục thâu nhi ếp địa ngục, cho đến cõi quỷ thâu nhiếp cõi quỷ. Như vậy Nhãn bên trái cùng với cá c sai biệt đều có ba đời, quá khứ thâu nhiếp quá khứ, vị lai thâu nhiếp vị lai, hiện tại thâu nhiếp hiện tại. Quá khứ lại có vô lượng sát-na, mỗi một sát-na đều tự mình thâu nhiếp của mình. Như quá khứ, vị lai cũng như vậy. Như bên trái, bên phải cũng như vậy. Trong này chỉ dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Như Nhãn căn, Nhĩ-Tỷ-Thiệt -Mạng-Khổ-Ưu căn cũng như vậy, bởi vì những căn này đều thâu nhiếp một căn của chính mình. Thân căn thâu nhiếp ba căn, đó là Thân-Nữ-Nam căn. Nữ căn thâu nhiếp Nữ căn và phần ít của Thân căn. Như Nữ căn, Nam căn cũng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 154 67 www.daitangkinh.org như vậy. Ý căn thâu nhiếp Ý căn và phần ít của ba căn, đó là ba căn Vô lậu. Bởi vì ba căn ấy lấy chín pháp làm Thể, thâu nhiếp Ý chứ không phải là loại khác, cho nên nói là phần ít. Như Ý căn, Lạc-Hỷ-Xả căn và năm căn như Tín…, cũng như vậy. Vị tri đương tri căn thâu nhiếp Vị tri đương tri căn và phần ít của chín căn, đó là Ý-ba Thọ và năm căn như Tín… Chín căn này đều bao gồm hữu lậu và vô lậu, nay chỉ thâu nhiếp vô lậu. Ở trong vô lậu lại có ba đạo, nay chỉ thâu nhiếp Kiến đạo, cho nên nói là phần ít. Như Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn cũng như vậy. Hỏi: Tín lực cho đến Tuệ lực , Niệm đẳng giác chi cho đến Xả đẳng giác chi, Chánh Kiến cho đến Chánh Định, Pháp trí cho đến Đạo trí, Không-Vô nguyện-Vô tướng thâu nhiếp mấy căn? Đáp: Tín lực thâu nhiếp một căn va ø phần ít của ba căn, đó là ba căn Vô lậu. Ba căn này đều lấy chín pháp làm Thể, thâu nhiếp Tín chứ không phải là loại khác, cho nên nói là phần ít. Như Tín lực, bốn Lực còn lại cũng như vậy. Niệm đẳng giác chi thâu nhiếp phần ít của bốn căn, đó là Niệm căn và ba căn Vô lậu. Niệm căn bao gồm hữu lậu và vô lậu, nay chỉ thâu nhiếp vô lậu. Ba căn vô lậu lấy chín pháp làm tánh, nay chỉ thâu nhiếp Niệm, cho nên nói là phần ít. Như Niệm đẳng giác chi, Trạch pháp-Tinh tiến-Hỷ-Định đẳng giác chi cũng như vậy; còn lại không thâu nhiếp căn, đó là Khinh an-Xả đẳng giác chi không thâu nhiếp căn, bởi vì không có tướng của căn. Chánh Kiến thâu nhiếp phần ít của bốn căn, đó là Tuệ căn và ba căn Vô lậu. Như Chánh Kiến, Chánh Cần-Niệm- Định cũng như vậy; còn lại không thâu nhiếp căn, đó là Chánh Tư duy, Chánh Ngữ-Nghiệp-Mạng không thâu nhiếp căn, bởi vì không có tướng của căn. Pháp trí thâu nhiếp phần ít của bốn căn, đó là Tuệ căn và ba căn Vô lậu. Như Pháp trí, Loại trí, Khổ-Tập-Diệt-Đạo trí cũng như vậy. Tha tâm trí thâu nhiếp phần ít của ba căn, đó là Tuệ căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn. Thế nào là tha âu nhiếp phần ít của Tuệ căn? Đó là Tuệ căn bao gồm duyên với một pháp và nhiều pháp, tự tướng và cọng tướng, hiện tại và ba đời, thân khác và thân mình, cảnh tương ưng và cảnh không tương ưng. Trí này chỉ thâu nhiếp Tuệ duyên với một pháp- tự tướng-hiện tại-thân khác và cảnh tương ưng, cho nên nói là phần ít. 68 BỘ TỲ ĐÀM 6 Hai căn Vô lậu lấy chín pháp làm tánh, trí này chỉ thâu nhiếp Tuệ, sai biệt trong Tuệ nói như trước, trí này chỉ thâu nhiếp Tuệ duyên với một pháp…, cho nên nói là phần ít. Thế tục trí thâu nhiếp phần ít của một căn, đó là Tuệ căn. Bởi vì Tuệ căn bao gồm hữu lậu và vô la äu, nay chỉ thâu nhiếp hữu lậu, cho nên nói là phần ít. Không thâu nhiếp phần ít của bốn ca ên, đó là Định căn và ba căn Vô lậu. Như Không, Vô nguyện và Vô tướng cũng như vậy. Hỏi: Ý căn tương ưng với mấy ca ên, cho đến Cụ tri căn tương ưng với mấy căn? Đáp: Ý căn tương ưng với mười căn và phần ít của ba căn, cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Có người mê muội đối với tương ưng, chấp rằng pháp tương ưng không phải là tánh có thật. Vì ngăn chặn ý ấy để hiển bày về Thể của pháp tương ưng là có thật, cho nên soạn ra phần luận này. Ý căn tương ưng với mười căn, đó là năm Thọ và năm căn như Tín… tương ưng với phần ít của ba căn, đó là ba căn Vô lậu. Bởi vì ba căn ấy lấy chín pháp làm tánh, trừ ra tự Thể của Ý tương ưng với pháp khác, cho nên nói là phần ít. Lạc-Hỷ-Xả căn tương ưng với phần ít của chín căn, đó là Ý căn- năm căn như Tín…, và ba căn Vô lậu. Tương ưng với phần ít của Ý căn-năm căn như Tín…, bởi vì sáu ca ên ấy đều thuộc câu sinh với năm Thọ căn, nay Lạc-Hỷ-Xả đều chỉ tương ưng với câu sinh thuộc căn của mình, cho nên nói là phần ít. Tương ưng với phần ít của ba căn Vô lậu, bởi vì ba căn ấy lấy chín pháp la øm tánh, thuộc ba Thọ câu sinh, nay Lạc-Hỷ-Xả chỉ tương ưng với câu sinh thuộc căn của mình, cho nên nói là phần ít. Khổ căn-Ưu căn tương ưng với phần ít của sáu căn, đó là Ý căn và năm căn như Tín… Thế nào là tương ưng với phần ít của sáu căn ấy? Đó là sáu căn ấy thuộc năm Thọ câu sinh, nay Khổ căn-Ưu căn chỉ tương ưng với câu sinh thuộc căn của mình, cho nên nói là phần ít. Tín căn tương ưng với bốn căn và pha àn ít của chín căn. Bốn căn, đó là Tinh tiến-Niệm-Định và Tuệ căn. Tương ưng với phần ít của chín căn, đó là Ý căn-năm Thọ và ba căn Vô lậu. Tương ưng với phần ít của Ý căn và năm Thọ, bởi vì sáu căn ấy bao gồm nhiễm ô và không nhiễm ô, nay Tín căn chỉ tương ưng với thiện không nhiễm ô, cho nên nói là SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 154 69 www.daitangkinh.org phần ít. Tương ưng với phần ít của ba ca ên Vô lậu, bởi vì ba căn ấy lấy chín pháp làm tánh, nay trừ ra tự Thể của Tín tương ưng với loại khác, cho nên nói là phần ít. Như Tín căn, Tinh tiến-Niệm-Định và Tuệ căn cũng như vậy. Vị tri đương tri căn tương ưng với Vị tri đương tri căn và phần ít của chín căn. Tương ưng với Vị tri đương tri căn, bởi vì căn này lấy chín pháp làm tánh, mỗi một pháp trừ ra tự Thể tương ưng với loại khác, đều gọi là căn này tương ưng với căn này. Tương ưng với phần ít của chín căn, đó là Ý-Lạc-Hỷ-Xả và năm căn như Tín… Thế nào là tương ưng với phần ít của chín căn ấy? Đó là bởi vì chín căn ấy bao gồm hữu lậu và vô lậu, nay chỉ tương ưng với vô lậu thuộc căn ấy; ở trong vô lậu bao gồm Kiến đạo-Tu đạo và đạo Vô học, nay chỉ tương ưng với Kiến đạo thuộc căn ấy, cho nên nói là phần ít. Như Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn cũng như vậy, bởi vì chỉ riêng phần vị có khác nhau, còn lại đều giống nhau. Hỏi: Tín lực cho đến Tuệ lực , Niệm đẳng giác chi cho đến Xả đẳng giác chi, Chánh Kiến cho đến Chánh Định, Pháp trí cho đến Đạo trí, Không-Vô nguyện-Vô tướng, tương ưng với mấy căn? Đáp: Tín lực tương ưng với bốn căn và phần ít của chín căn. Bốn căn, đó là Tinh tiến-Niệm-Định và Tuệ căn. Tương ưng với phần ít của chín căn, đó là Ý căn-năm Thọ căn và ba căn Vô lậu, nghĩa nói như trước. Như Tín lực, bốn Lực còn lại cũng như vậy, đó là Tinh tiến-Niệm- Định và Tuệ lực. Niệm đẳng giác chi tương ưng với phần ít của mười một căn, đó là Ý-Lạc-Hỷ-Xả căn, bốn căn như Tín…, và ba căn Vô lậu. Tương ưng với phần ít của Ý căn-ba Thọ căn-bốn căn như Tín…, bởi vì tám căn ấy bao gồm hữu lậu và vô lậu, nay chỉ tương ưng với vô lậu thuộc căn ấy, cho nên nói là phần ít. Tương ưng với phần ít của ba căn Vô lậu, bởi vì ba căn ấy lấy chín pháp làm tánh, nay trừ ra tự tánh của Niệm tương ưng với loại khác, cho nên nói là phần ít. Như Niệm đẳng giác chi, Trạch pháp-Tinh tiến-Định đẳng giác chi cũng như vậy. Hỷ đẳng giác chi tương ưng với phần ít của chín căn, đó là Ý căn- năm căn như Tín… và ba căn Vô lậu. Tương ưng với phần ít của Ý căn và năm căn như Tín…, bởi vì sáu căn ấy bao gồm hữu lậu và vô lậu, nay chỉ tương ưng với vô lậu thuộc căn ấy; ở trong vô lậu bao gồm dựa vào chín địa, đó là Vị chí-Tĩnh lự trung gian-bốn Tĩnh lự và ba Vô sắc dưới, 70 BỘ TỲ ĐÀM 6 nay chỉ tương ưng với hai Tĩnh lự đầu mà căn ấy dựa vào, cho nên nói là phần ít. Tương ưng với phần ít của ba căn Vô lậu, bởi vì ba căn ấy bao gồm Lạc-Hỷ-Xả, và câu sinh của nó, nay chỉ tương ưng với câu sinh của Hỷ căn, cho nên nói là phần ít. Khinh an-Xả đẳng giác chi tương ưng với ba căn và phần ít của chín căn. Ba căn, đó là ba căn Vô lậu. Tương ưng với phần ít của chín căn, đó là Ý-Lạc-Hỷ-Xả và năm căn như Tín… Thế nào là tương ưng với phần ít của chín căn ấy? Đó là bởi vì chín căn ấy bao gồm hữu lậu và vô lậu, nay chỉ tương ưng với vô lậu thuộc căn ấy, cho nên nói là phần ít. Chánh Kiến tương ưng với phần ít của mười một căn, đó là Ý-Lạc- Hỷ-Xả-bốn căn như Tín... và ba căn Vô lậu, nghĩa nói như Niệm đẳng giác chi. Như Chánh Kiến, Chánh Tư duy-Chánh Cần-Chánh Định cũng như vậy. Nhưng Chánh Tư duy có chút sai biệt, đó là Ý-Hỷ-Xả-năm căn như Tín… và ba căn Vô lậu, thì gọi là mười một. Mười một căn này cùng dựa vào các địa, nay chỉ tương ưng với dựa vào Vị chí-Tĩnh lự thứ nhất, cho nên nói là phần ít. Còn lại không phải là tương ưng với căn, đó là Chánh Ngữ-Nghiệp-Mạng không phải là tương ưng với căn, bởi vì không phải là pháp tương ưng. Pháp trí tương ưng với phần ít của mười một căn, nói như Chánh Kiến. Như Pháp trí, Loại trí và Khổ-Tập-Diệt-Đạo trí cũng như vậy. Tha tâm trí tương ưng với phần ít của mười căn, đó là Ý-Lạc-Hỷ- Xả-bốn căn như Tín…, Dĩ tri căn và Cụ tri căn, nghĩa nói như trong phần thâu nhiếp. Thế tục trí tương ưng với hai căn và phần ít của tám căn. Hai căn, đó là Khổ căn và Ưu căn. Tương ưng với phần ít của tám căn, đó là Ý- Lạc-Hỷ-Xả và bốn căn như Tín… Thế nào là tương ưng với phần ít của tám căn ấy? Đó là tám căn ấy bao gồm hữu lậu và vô lậu, nay chỉ tương ưng với hữu lậu thuộc căn ấy, cho nên nói là phần ít. Không-Vô nguyện-Vô tướng tương ưng với phần ít của mười một căn, nói như Niệm đẳng giác chi.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt