VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 158Quyển 160 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 159

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

諸法善無色起。彼法善心俱耶。乃至廣說問
何故作此論。答欲止說無相應法無生老住
滅無退者意。及欲顯說自宗正理相應法故
而作斯論。問何故此中唯問無色起不問
色耶。答彼作論者意欲爾故。隨彼意欲而
作此論。但不違法相便不應責。有說。若
法一切界。一切地。一切部。一切心中可得
者。此中問之。色法非一切界。乃至非一切
心中可得故。此不問。有說。若法多分是心
俱有。由心力生隨心而轉。此中則問。色法
多分非心俱有。非心力生。非隨心轉。如苦
法智忍時有九十八隨眠得起。然彼諸得非
忍俱有。非忍力生。非隨忍轉。雖與忍俱
同無色法尚不說。彼與忍心俱。況諸色法
是故不問。此中所說無色法起善等心俱者。
要是彼心勢力所引。諸無色法。
諸法善無色起。彼法善心俱耶。答諸法善無
色起。彼法或善心俱。或不善心俱。或無記心
俱。云何善心俱。答諸法彼心相應。彼心俱有。
善無色彼心相應。善無色者。謂善心所法。彼
心俱有。善無色者。謂彼法生老住無常。此中
亦有同類得起略故不說彼應准知。云何

不善心俱。答如不善心。若退若生。善法得
起不善心退善得起者。謂諸聖者已離欲染。
若起欲界下下下中二品纏退時。彼心與一
來果及勝果道。并善惡作憂根俱生品四蘊
諸得俱起。若起下上品纏退時。猶能護加
行者。彼心亦與如前善得俱起。其有不能
護加行者。除一來勝果道。彼心與餘如前
善得俱起。問此中云何名護加行不護加行
耶。答令於修斷彼加行有能護煩惱勢力
現在前時。有不能護故。若起中下乃至上
中五品纏退時。彼心與預流果。及勝果道。
并善惡作憂根俱生品四蘊諸得俱起。若起
上上品纏退時。猶能護加行者。彼心亦與
如前善得俱起。其有不能護加行者。除
預流勝果道。彼心與餘如前善得俱起。若一
來者前六品纏隨起何退。除善惡作憂根俱
生品得。彼心隨其所應與餘如前善得俱
起。若諸異生已離欲染。隨起何品不善纏
退時。彼心與善惡作憂根俱生品四蘊諸得
俱起。不善心生善得起者。謂從色無色界歿
生欲界。以不善心結生時。彼心與欲界生
得善四蘊諸得俱起。有說。彼心亦有與一
分聞思所成四蘊諸得俱起。云何無記心俱。
答如無記心若退若生。善法得起。無記心退
善得起者。謂阿羅漢退勝根住劣根時。彼
無記心與劣根品善得俱起。學退勝種性。
住劣種性亦爾若阿羅漢起非想非非想
處纏退時。彼心與不還果及勝果道。并非想
非非想處順退分諸得俱起。如是乃至起初

靜慮後八品纏退時。彼心與不還果。及勝果
道。并初靜慮順退分諸得俱起。若起初靜
慮上上品纏退時。猶能護加行者。彼心亦
與如前善得俱起。其有不能護加行者。
除不還勝果道。彼心與餘如前善得俱起。
若不還者及諸異生。已離無所有處染。起無
所有處纏退時。彼心與無所有處順退分諸
得俱起。如是乃至起初靜慮纏退時。彼心
與初靜慮順退分諸得俱起。如已離無所有
處染。若已離識處染。乃至已離初靜慮染
應知亦爾。若諸異生已離欲染。起欲界有
身見邊執見纏退時。彼心與善惡作憂根俱
生品四蘊諸得俱起。無記心生善得起者。謂
無色界上地歿生下地時。彼心與彼地善四
蘊諸得俱起。若從無色界。及上靜慮地歿。
生下諸靜慮地時。彼心與彼地善五蘊諸
得俱起。若從色無色界歿生欲界。以有身
見邊執見結生時。彼心與欲界生得善四蘊
諸得俱起。有說。彼心亦有與一分聞思所
成諸得俱起。若從欲界歿生上二界。及上
二界下地歿生上地時。彼心與彼地生得善
四蘊諸得。俱起。
設法善心俱起。彼法善無色耶。答諸法善心
俱起。彼法或善無。色或無記無色。云何善無
色。答諸法彼心相應。彼心俱有善無色。義如
前釋。云何無記無色。答如善心勝進。無記法
得起。及住善心無記諸根長養大種增益。彼
法得生老住無常。善心勝進無記得起者。謂
離欲染第九無間道滅。解脫道起時。彼心

與初靜慮果。無記通果心品諸得俱起。乃至
離第三靜慮染。第九無間道滅。解脫道起時。
彼心與第四靜慮果。無記通果心品諸得俱
起。金剛喻定滅。盡智起時。彼心與隨所應靜
慮果。無記通果心品諸得俱起。已離欲染。
信勝解練根作見至加行道時。有說。及解
脫道時。彼心與隨所應靜慮果。無記通果心
品諸得俱起。時解脫阿羅漢練根作不動。
依未至定乃至第四靜慮。加行道時彼心與
隨所應靜慮果。無記通果心品諸得俱起及
依一切地第九解脫道時。彼心與四靜慮
果。無記通果心品諸得俱起。引發五通諸加
行道五無間道。三解脫道時。雜修靜慮初後
無間解脫道時。起四無量。初三解脫。八勝
處。前八遍處時。起無礙解。及依未至定。乃
至第四靜慮增長時起無諍願智邊際定。及
增長時依未至定乃至第四靜慮起空空無
願無願無相無相等諸功德及增長時彼心
與隨所應靜慮果。無記通果心品諸得俱起。
及住善心乃至彼法得生老住無常者。謂生
欲色界善心流注久相續起時。諸根大種長
養增益彼心。與彼得四相俱起。諸根長養
大種增益。問答解釋如大種蘊。
諸法不善無色起彼法不善心俱耶。答諸法
不善無色起。彼法或不善心俱。或無記心俱。
云何不善心俱。答諸法彼心相應。彼心俱有
不善無。色義如前釋。云何無記心俱。答如
無記心若退若生不善法得起無記心退不
善得起者。謂諸異生已離欲染。起欲界有身

見邊執見纏退時。彼心與見修所斷。不善四
蘊諸得俱起。無記心生不善得起者。謂從色
無色界歿生欲界。以有身見邊執見結生
時。彼心與見修所斷不善四蘊諸得俱起。
設法不善心俱起。彼法不善無色耶。答諸法
不善心俱起。彼法或不善無色。或善無色。或
無記無色。云何不善無色。答諸法彼心相應。
彼心俱有不善無色。義如前釋。云何善無色。
答如不善心若退若生善法得起。此如前善
無色起不善心俱釋。云何無記無色。答如不
善心若退若生。無記法得起及住不善心無
記諸根長養大種增益。彼法得生老住無常。
不善心退無記得起者。謂阿羅漢起欲界纏
退時。彼心與上八地修所斷無記四蘊諸得
俱起。諸不還者。若已離無所有處染。起欲
界纏退時。彼心與七地修所斷無記四蘊諸
得俱起。乃至若已離初靜慮染。未離第二
靜慮染。起欲界纏退時。彼心與一地修所
斷無記四蘊諸得俱起。諸異生類若已離無
所有處染。起不善纏退時。彼心與七地見
修所斷。及欲界見所斷。無記四蘊諸得俱起。
乃至若已離初靜慮染。未離第二靜慮染。
起不善纏退時。彼心與一地見修所斷。及
欲界見所斷。無記四蘊諸得俱起。若已離欲
界染。未離初靜慮染。起不善纏退時。彼心
與欲界見所斷無記四蘊諸得俱起。不善心
生無記得起者。謂非想非非想處歿生欲界。
以不善心結生時彼心與七地見修所斷。及
欲界見所斷無記四蘊。修所斷無記色行二

蘊諸得俱起。有說。亦與欲界修所斷。無記
心心所諸得俱起。謂善串習威儀路工巧處
四蘊。乃至初靜慮歿生欲界。以不善心結生
時。彼心與欲界見所斷無記四蘊。修所斷無
記色行二蘊諸得俱起。有說。亦與欲界修
所斷無記心心所諸得俱起。如前說。及住
不善心。乃至彼法得生老住無常者。謂諸異
生三十四隨眠。聖者四隨眠隨一流注久相
續起時。諸根大種長養增益。彼心與彼得四
相俱起。餘如前說。
諸法無記無色起。彼法無記心俱耶。答諸法
無記無色起。彼法或無記心俱。或善心俱。或
不善心俱。云何無記心俱。答諸法彼心相應。
彼心俱有無記無色。義如前釋。云何善心俱。
答如善心勝進無記法得起。及住善心無記
諸根長養大種增益。彼法得生老住無常。此
如前善心俱起無記無色釋。云何不善心俱。
答如不善心若退若生無記法得起。及住不
善心。無記諸根長養大種增益。彼法得生老
住無常。此如前不善心俱起無記無色釋。設
法無記心俱起。彼法無記無色耶。答諸法無
記心俱起。彼法或無記無色或善無色。或不
善無。色云何無記無色。答諸法彼心相應。彼
心俱有無記無色。義如前釋。云何善無色。
答如無記心若退若生善法得起。此如前善
無色起無記心俱釋。云何不善無色。答如無
記心若退若生不善法得起。此如前不善無
色起無記心俱釋。諸法欲界無色起彼法欲
界心俱耶。答諸法欲界無色起。彼法或欲界

心俱。或色界心俱。或無色界心俱。或不繫心
俱。云何欲界心俱。答諸法彼心相應彼心俱
有。欲界無色彼心相應。欲界無色者。謂欲界
心所法彼心俱有。欲界無色者。謂彼法生老
住無常。此中亦有同類得起。略故不說。云
何色界心俱。答如色界心若生若勝進欲界
法得起。及住色界心欲界諸根長養大種增
益。彼法得生老住無常。色界心生欲界得起
者。謂無色界歿。若生第四靜慮時。彼心與
第四靜慮果。欲界通果心品諸得俱起。乃至
若生初靜慮時。彼心與初靜慮果。欲界通
果心品諸得俱起。如無色界歿生色界。上
地歿生下地亦爾。色界心勝進欲界得起者。
謂以世俗道離欲界染。第九無間道滅。解
脫道起時。彼心與初靜慮果。欲界通果心品
諸得俱起。乃至以世俗道離第三靜慮染。
第九無間道滅。解脫道起時。彼心與第四靜
慮果。欲界通果心品諸得俱起。已離欲染
信勝解練根作見至。世俗加行道時。彼心與
隨所應靜慮果。欲界通果心品諸得俱起。依
未至定。乃至第四靜慮。時解脫阿羅漢練根
作不動世俗加行道時。彼心與隨所應靜慮
果。欲界通果心品諸得俱起。引發五通諸加
行道五無間道。二解脫道。及世俗他心智通。
解脫道時。雜修靜慮中間心時起四無量。初
三解脫。八勝處前八遍處時起無礙解及依
未至定乃至第四靜慮。世俗無礙解增長時
起無諍願智邊際定。及增長時依未至定乃
至第四靜慮。起空空無願無願無相無相等

世俗諸功德。及增長時彼心與隨所應靜慮
果。欲界通果心品諸得俱起。及住色界心。
乃至彼法得生老住無常者。謂生欲界入色
界定時。諸根大種長養增益。彼心與彼得四
相俱起。云何無色界心俱。答如住無色界
心。欲界諸根長養大種增益。彼法得生老住
無常。謂生欲界入無色界定時。諸根大種
長養增益彼心與彼得四相俱起。云何不繫
心俱。答如不繫心勝進欲界法得起。及住不
繫心欲界諸根長養大種增益。彼法得生老
住無常。不繫心勝進欲界法得起者。謂住見
道三類智時。彼心與苦集滅二現觀邊。所
修欲界世俗智品諸得俱起。以無漏道離欲
界染。第九無間道滅。解脫道起時。彼心與初
靜慮果。欲界通果心品諸得俱起。乃至以無
漏道離第三靜慮染。第九無間道滅。解脫道
起時。彼心與第四靜慮果。欲界通果心品諸
得俱起。金剛喻定滅。盡智起時。彼心與隨
所應靜慮果。欲界通果心品諸得。及爾時所
得欲界善法諸得俱起。已離欲染。信勝解練
根作見至。無漏加行道時。有說。及解脫道
時。彼心與隨所應靜慮果。欲界通果心品諸
得俱起。時解脫阿羅漢練根作不動。依未
至定乃至第四靜慮無漏加行道時。彼心與
隨所應靜慮果。欲界通果心品諸得俱起。依
一切地第九解脫道時。彼心與四靜慮果。
欲界通果心品諸得。及爾時所得欲界善法
諸得俱起起無漏他心智通時。雜修靜慮
初後心時。依未至定乃至第四靜慮無漏無

礙解等增長時。彼心與隨所應靜慮果。欲界
通果心品諸得俱起及住不繫心。乃至彼法
得生老住無常者。謂生欲界入無漏未至乃
至無所有處定時。諸根大種長養增益。彼心
與彼得四相俱起。設法欲界心俱起。彼法欲
界無色耶。答諸法欲界心俱起。彼法或欲界
無色。或色界無色。或無色界無色。或不繫無
色。云何欲界無色。答諸法彼心相應彼心俱
有。欲界無色義如前釋。云何色界無色。答
如欲界心。若退若生色界法得起。欲界心退
色界得起者。謂諸聖者已離色染。起欲界纏
退時。彼心與色界四地修所斷法諸得俱
起。乃至已離初靜慮染。未離第二靜慮染。
起欲界纏退時彼心與色界一地。修所斷
法諸得俱起。若諸異生已離色染。起欲界
纏退時。彼心與色界四地見修所斷法諸得
俱起。乃至已離初靜慮染。未離第二靜慮
染。起欲界纏退時。彼心與色界一地見修
所斷法諸得俱起。欲界心生色界得起者。謂
從無色界歿生欲界時。彼心與色界四地。
見修所斷法諸得俱起。乃至從第二靜慮歿
生欲界時。彼心與色界一地。見修所斷法
諸得俱起。云何無色界無色。答如欲界心
若退若生無色界法得起。欲界心退無色界
得起者。謂阿羅漢起欲界纏退時。彼心與
無色界四地修所斷法諸得俱起。若不還者
已離無所有處染。起欲界纏退時。彼心與
無色界三地。修所斷法諸得俱起。乃至已離
空無邊處染。未離識無邊處染。起欲界纏

退時。彼心與無色界一地。修所斷法諸得
俱起。若諸異生已離無所有處染。起欲界纏
退時。彼心與無色界三地。見修所斷法諸
得俱起。乃至已離空無邊處染。未離識無
邊處染。起欲界纏退時。彼心與無色界一
地。見修所斷法諸得俱起。欲界心生無色界
得起者。謂從非想非非想處歿生欲界時。
彼心與無色界三地。見修所斷法諸得俱起。
乃至從識無邊處歿生欲界時。彼心與無
色界一地。見修所斷法諸得俱起。云何不繫
無色。答如欲界心退不繫法得起。謂阿羅漢
退勝根住劣根時。彼欲界心與劣根品不
繫得俱起。學退勝種性住劣種性亦爾。
若諸聖者已離欲染。起欲界下下下中二品
纏退時。彼心與一來果及勝果道諸得俱
起。若起下上品纏退時。猶能護加行者。彼
心亦與如前諸不繫得俱起。其有不能護
加行者。彼心唯與一來果諸得俱起。若起
中下乃至上中五品纏退時。彼心與預流果
及勝果道諸得俱起。若起上上品纏退時。
猶能護加行者。彼心亦與如前諸不繫得
俱起。其有不能護加行者。彼心唯與預流
果諸得俱起。若一來者前六品纏隨起何退。
彼心隨應亦與如前諸不繫得俱起。問欲
界心勝進不繫法得亦起。如或由施。或由
戒。或由聞。或由思故。令於惡趣等得非
擇滅。此中何故不說。有說。應說而不說者。
當知此義有餘。如是說者。非擇滅雖不繫。
而彼得非不繫。此中說不繫得起是故不

說。
諸法色界無色起。彼法色界心俱耶。答諸法
色界無色起。彼法或色界心俱。或欲界心
俱。或無色界心俱。或不繫心俱。云何色界
心俱。答諸法彼心相應彼心俱有。色界無
色義如前釋。云何欲界心俱。答如欲界心
若退若生。色界法得起。此如前欲界心俱
起色界無色說。云何無色界心俱。答如住
無色界心。色界諸根長養大種增益。彼法
得生老住無常。謂生色界入無色界定時。
諸根大種長養增益。彼心與彼得四相俱起。
云何不繫心俱。答如不繫心勝進色界法得
起。及住不繫心。色界諸根長養大種增益。
彼法得生老住無常。不繫心勝進色界得起
者。謂住見道三類智時。彼心與苦集滅
三現觀邊所修色界世俗智品諸得俱起。以
無漏道離欲界染。若無漏為加行。諸加
行道九無間道。九解脫道時。彼心與未來
所修色界道諸得俱起。第九解脫道時。亦與
初靜慮果。色界通果心品諸得俱起。以無漏
道離初靜慮。乃至第三靜慮染時。若無漏
為加行。諸加行道九無間道。九解脫道時。彼
心與未來所修色界道諸得俱起。最後解脫
道時。亦與第二靜慮乃至第四靜慮果。色界
通果心品諸得俱起。以無漏道離第四靜慮
染。及依未至定。乃至第四靜慮。離空無邊
處乃至非想非非想處染。若無漏為加行諸
加行道時。彼心與未來所修色界道諸得俱
起。金剛喻定滅。盡智起時。彼心與爾時所得

色界善諸得俱起。亦與隨所應靜慮果。色界
通果心品諸得俱起。未離欲染信勝解練
根作見至。若無漏為加行彼加行道時。有
說。及解脫道時。彼心與未來所修色界道諸
得俱起。已離欲染信勝解練根作見至。若
無漏為加行彼加行道時。有說。及解脫道
時。彼心與未來所修色界道諸得。及隨所應
靜慮果。色界通果心品諸得俱起。時解脫阿
羅漢練根作不動。依未至定乃至第四靜慮
無漏加行道時。彼心與未來所修色界道諸
得。及隨所應靜慮果。色界通果心品諸得俱
起。依一切地第九解脫道時。彼心與爾時
所得色界善諸得。及四靜慮果。色界通果心
品諸得俱起。起無漏他心智通時。雜修靜
慮初後心時。依未至定。乃至第四靜慮無漏。
無礙解增長時。即依彼諸地起無漏念住
時。彼心與未來所修色界道諸得。及隨所應
靜慮果。色界通果心品諸得俱起。及住不繫
心。乃至彼法得生老住無常者。謂生色界
入無漏未至。乃至無所有處定時。諸根大種
長養增益。彼心與彼得四相俱起。設法色界
心俱起。彼法色界無色耶。答諸法色界心俱
起。彼法或色界無色。或欲界無色。或無色界
無。色或不繫無色。云何色界無色。答諸法彼
心相應。彼心俱有色界無色義如前釋。云何
欲界無色。答如色界心若生若勝進。欲界法
得起。及住色界心欲界。諸根長養大種增
益。彼法得生老住無常。此如前欲界無色起
色界心俱釋。云何無色界無色。答如色界心

若退若生。無色界法得起。色界心退無色界
得起者。謂阿羅漢起色界纏退時。彼心與
無色界四地。修所斷法諸得俱起。諸不還者
已離無所有處染。起色界纏退時。彼心與
無色界三地。修所斷法諸得俱起。乃至已離
空無邊處染。未離識無邊處染。起色界纏
退時。彼心與無色界一地。見修所斷法諸
得俱起。若諸異生已離無所有處染。起色
界纏退時。彼心與無色界三地。見修所斷法
諸得俱起。乃至已離空無邊處染。未離識
無邊處染。起色界纏退時。彼心與無色界
一地。見修所斷法諸得俱起。色界心生無色
界得起者。謂從非想非非想處歿生色界
時。彼心與無色界三地。見修所斷法諸得俱
起。乃至識無邊處歿生色界時。彼心與無
色界一地。見修所斷法諸得俱起。云何不繫
無色。答如色界心若退若勝進。不繫法得起。
色界心退不繫得起者。謂阿羅漢起色界纏
退時。彼心與不還果。及勝果道諸得俱起。
色界心勝進不繫得起者。謂諸聖者以世俗
道離欲界乃至第三靜慮染。若世俗為加
行。一切加行無間解脫道時。彼心與未來所
修不繫法諸得俱起。依未至定乃至第四靜
慮。離第四靜慮乃至非想非非想處染。若世
俗為加行。諸加行道時。彼心與未來所修不
繫法諸得俱起。信勝解練根作見至。及依
未至定乃至第四靜慮。時解脫阿羅漢練根
作不動。若世俗為加行。諸加行道時。彼
心與未來所修不繫法諸得俱起。若諸聖者

引發諸通諸加行道。五無間道二解脫道。及
世俗他心智通。解脫道時。雜修靜慮中間心
時。若諸聖者起四無量。初三解脫。八勝處前
八遍處時。起無礙解及依未至定乃至第
四靜慮。世俗無礙解增長時起無諍願智。邊
際定及增長時。依未至定乃至第四靜慮。
起空空無願無願無相無相時。及聖者即依
彼地。起不淨觀。持息念。世俗念住等諸功
德。及增長時。彼心與未來所修不繫法諸得
俱起。問色界心生時不繫法得亦起。如無色
界歿生第四靜慮時。彼心與第三靜慮見修
所斷蘊擇滅得俱起。乃至上地歿生初靜慮
時。彼心與欲界見修所斷蘊擇滅得俱起。此
中何故不說。答有說。應說而不說者當知
此義有餘。如是說者。爾時所得擇滅雖
不繫而彼諸得是色界繫。非不繫是故不
說。

Việt dịch

QUYỂN 159

LUẬN VỀ ĐẮC (Phần 3)

Các pháp vô sắc thiện khởi lên, pháp ấy đi cùng với tâm thiện
chăng? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì cần phải ngăn chặn ý nói là không có pháp tương ưng,
không có sinh-lão-trú-diệt, không có lui sụt, và muốn hiển bày về pháp
tương ưng theo chánh lý của tông chỉ mà mình đã nói, cho nên soạn ra
phần luận này.
Hỏi: Vì sao trong này chỉ hỏi về khởi lên vô sắc chứ không hỏi
về sắc?
Đáp: Bởi vì đó là ý của người  soạn luận muốn như vậy, tùy theo
ý muốn ấy mà soạn ra phần luận này, nhưng không trái với pháp tướng,
thì không cần phải vặn hỏi.
Có người nói: Nếu pháp ở trong tất cả các cõi, tất cả các địa, tất cả
các bộ, tất cả các tâm có thể đạt được, thì trong này hỏi đến; sắc pháp
không phải là trong tất cả các cõi , cho đến không phải là trong tất cả
các tâm có thể đạt được, cho nên trong này không hỏi.
Có người nói: Nếu pháp phần nhiều la ø tâm cùng có, do lực của
tâm sinh ra, tùy theo tâm mà chuyển, thì trong này hỏi đến; sắc pháp
phần nhiều không phải là tâm cùng có, không phải là lực của tâm sinh
ra, không phải là tùy theo tâm chuyển. Như Khổ pháp trí nhẫn khởi lên
thì có chín mươi tám tùy miên đạt  được, nhưng các pháp đạt được ấy
không phải là Nhẫn cùng có, không phải là lực của Nhẫn sinh ra, không
phải là tùy theo Nhẫn chuyển; tuy đi  cùng với Nhẫn, cùng là pháp vô
sắc, mà hãy còn không nói là pháp ấy đi cùng với Tâm-Nhẫn, huống gì
các sắc pháp? Vì vậy cho nên không hỏi.
Trong này đã nói pháp vô sắc thiện khởi lên đi cùng với tâm, chủ
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 159 147  
www.daitangkinh.org  
yếu là do thế lực của tâm ấy mà dẫn dắt các pháp vô sắc.
Hỏi: Các pháp vô sắc thiện khởi  lên, pháp ấy đi cùng với tâm
thiện chăng?
Đáp: Các pháp vô sắc thiện khởi lên, pháp ấy hoặc là đi cùng với
tâm thiện, hoặc là đi cùng với tâm ba át thiện, hoặc là đi cùng với tâm
vô ký.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm thiện?
Đáp: Các pháp vô sắc thiện tương ưng với tâm ấy, tâm ấy cùng có
vô sắc thiện. Vô sắc thiện tương ưng với tâm ấy, đó là tâm sở pháp thiện.
Tâm ấy cùng có vô sắc thiện, đó là pháp sinh-lão-trú-vô thường.
Trong này, cũng có khởi lên đạt được  cùng loại, bởi vì tóm lược
cho nên không nói đến, điều đó cần phải biết rõ.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm bất thiện?
Đáp: Như tâm bất thiện, nếu lui sụt hay là sinh ra, thì khởi lên đạt
được pháp thiện.
Tâm bất thiện lui sụt, khởi lên đạt được pháp thiện, đó là các
Thánh giả đã lìa nhiễm cõi Dục. Nếu lúc khởi lên Triền thuộc hai phẩm
Hạ Hạ-Hạ Trung của cõi Dục mà lui sụt, thì tâm ấy cùng với quả Nhất
lai và đạo của quả thù thắng, khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được
bốn Uẩn thuộc phẩm câu sinh của thiện-ác tác-ưu căn.
Nếu lúc khởi lên Triền thuộc pha åm Hạ Thượng mà lui sụt, gia
hạnh vẫn còn có thể bảo vệ, thì tâm ấy cũng khởi lên cùng lúc với pháp
thiện đạt được như trước; gia hạnh ấy có lúc không có thể bảo vệ, là trừ
ra quả Nhất lai và đạo của quả thù thắng, tâm ấy khởi lên cùng lúc với
pháp thiện đạt được như trước còn lại.
Hỏi: Trong này, thế nào gọi là gia hạnh bảo vệ-gia hạnh không
bảo vệ?
Đáp: Khiến cho gia hạnh ấy c ó năng lực bảo vệ pháp Tu Đoạn
vào lúc thế lực của phiền não hiện rõ ở trước mắt, bởi vì có lúc không
có thể bảo vệ.
Nếu lúc khởi lên Triền thuộc năm phẩm Trung Hạ cho đến Thượng
Trung mà lui sụt, thì tâm ấy cùng với  quả Dự lưu và đạo của quả thù
thắng, khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được bốn Uẩn thuộc phẩm câu
sinh của thiện-ác tác-ưu căn.
Nếu lúc khởi lên Triền thuộc phẩm Thượng Thượng mà lui sụt,
gia hạnh vẫn còn có thể bảo vệ, thì tâm ấy cũng khởi lên cùng lúc với
pháp thiện đạt được như trước; gia hạnh ấy có lúc không có thể bảo vệ,
thì trừ ra quả Dự lưu và đạo của quả thù thắng, tâm ấy khởi lên cùng lúc
148 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
với pháp thiện đạt được như trước còn lại.
Nếu người Nhất lai tùy theo Triền thuộc sáu phẩm trước, khởi
lên phẩm nào mà lui sụt, trừ ra pháp đạt được thuộc phẩm câu sinh của
thiện-ác tác-ưu căn, thì tâm ấy tùy theo sự thích hợp khởi lên cùng lúc
với với pháp thiện đạt được như trước còn lại.
Nếu các dị sinh đã lìa nhiễm cõi Dục, tùy theo lúc khởi lên Triền
bất thiện thuộc phẩm nào mà lui s ụt, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với
các pháp đạt được bốn Uẩn thuộc phẩm câu sinh của thiện-ác tác-ưu
căn.
Khởi lên đạt được thiện sinh ra do ta âm bất thiện, đó là lúc từ cõi
Sắc-Vô sắc chết đi sinh vào cõi Dục, dùng tâm bất th iện để tiến vào
thai(kiết sinh), tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được bốn Uẩn
thiện đạt được do sinh ở cõi Dục.
Có người nói: Tâm ấy cũng có khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được bốn Uẩn thuộc một phần do Văn-Tư mà thành.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm vô ký?
Đáp: Như tâm vô ký, nếu lui sụt ha y là sinh ra, thì khởi lên đạt
được pháp thiện.
Tâm vô ký lui sụt, khởi lên đạt đượ c pháp thiện, đó là lúc A-la-
hán lui sụt căn thù thắng trú va øo căn yếu kém, tâm vô ký ấy khởi lên
cùng lúc với pháp thiện đạt được thuộc phẩm căn yếu kém.
Học lui sụt chủng tánh thù thắng, trú vào chủng tánh yếu kém
cũng như vậy.
Nếu lúc A-la-hán khởi lên Triền của Phi tưởng phi phi tưởng xứ
mà lui sụt, thì tâm ấy cùng với quả Bất hoàn và đạo của quả thù thắng,
khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được thuận phần lui sụt của Phi tưởng
phi phi tưởng xứ. Như vậy cho đến l úc khởi lên Triền thuộc tám phẩm
sau của Tĩnh lự thứ nhất mà lui su ït, tâm ấy cùng với quả Bất hoàn và
đạo của quả thù thắng, khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được thuận
phần lui sụt của Tĩnh lự thứ nhất.
Nếu lúc khởi lên Triền thuộc  phẩm Thượng Thượng của Tĩnh lự
thứ nhất mà lui sụt, gia hạnh vẫn còn có thể bảo vệ, thì tâm ấy cũng
khởi lên cùng lúc với pháp thiện đạt được như trước; gia hạnh ấy có lúc
không có thể bảo vệ, là trừ ra quả Bất hoàn và đạo của quả thù thắng,
tâm ấy khởi lên cùng lúc với pháp thiện đạt được như trước còn lại.
Nếu người Bất hoàn và các dị si nh đã lìa nhiễm của Vô sở hữu
xứ, lúc khởi lên Triền của Vô sở hữu xứ mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đạt được thua än phần lui sụt của Vô sở hữu xứ.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 159 149  
www.daitangkinh.org  
Như vậy cho đến lúc khởi lên Triền của Tĩnh lự thứ nhất mà lui sụt, tâm
ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được thuận phần lui sụt của Tĩnh
lự thứ nhất.
Như đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, nếu đã lìa nhiễm của Thức
vô biên xứ, cho đến đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, nên biết cũng
như vậy.
Nếu các dị sinh đã lìa nhiễm cõi Dục, lúc khởi lên Triền thuộc
Hữu thân kiến-Biên chấp kiến của cõi  Dục mà lui sụt, thì tâm ấy khởi
lên cùng lúc với các pháp đạt được bốn Uẩn thuộc phẩm câu sinh của
thiện-ác tác-ưu căn.
Khởi lên đạt được thiện sinh ra do tâm vô ký, đó là lúc ở địa trên
của cõi Vô sắc chết đi sinh vào địa dưới, tâm ấy khởi lên cùng lúc với
các pháp đạt được thuộc bốn Uẩn thiện của địa ấy.
Nếu lúc từ cõi Vô sắc, và địa Tĩnh lự trên chết đi sinh vào địa của
các Tĩnh lự dưới, thì tâm ấy khởi l ên cùng lúc với các pháp đạt được
thuộc năm Uẩn thiện của địa ấy.
Nếu lúc từ cõi Sắc-V ô sắc chết đi sinh va øo cõi Dục, dùng Hữu
thân kiến-Biên chấp kiến để tiến vào thai, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc
với các pháp đạt được bốn Uẩn thiện đạt được do sinh ở cõi Dục.
Có người nói: Tâm ấy cũng có khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được thuộc một phần do Văn-Tư mà thành.
Nếu lúc từ cõi Dục chết đi sinh đến hai cõi trên, và lúc ở địa dưới
của hai cõi trên chết đi sinh lên địa trên, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với
các pháp đạt được bốn Uẩn thiện đạt được do sinh ở địa ấy.
Hỏi: Giả sử pháp khởi lên cùng lúc  với tâm thiện, thì pháp ấy là
vô sắc thiện chăng?
Đáp: Các pháp khởi lên cùng lúc  với tâm thiện, pháp ấy hoặc là
vô sắc thiện, hoặc là vô sắc vô ký.
Hỏi: Thế nào là vô sắc thiện?
Đáp: Các pháp vô sắc thiện tương ưng với tâm ấy, tâm ấy cùng có
vô sắc thiện, nghĩa giải thích như trước.
Hỏi: Thế nào là vô sắc vô ký?
Đáp: Như tâm thiện thắng tiến, khởi lên đạt được pháp vô ký, và
trú trong tâm thiện vô ký nuôi lớn cá c căn-tăng thêm đại chủng, pháp
ấy đạt được là sinh-lão-trú-vô thường.
Tâm thiện thắng tiến khởi lên đạt được vô ký, đó là lúc lìa nhiễm
cõi Dục, đạo vô gián thứ chín diệt  đi, đạo giải thoát khởi lên, tâm ấy
khởi lên cùng lúc với các pháp đạt  được quả của Tĩnh lự thứ nhất, và
150 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
phẩm tâm Thông quả vô ký; cho đến lúc lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba,
đạo vô gián thứ chín diệt đi, đạo giả i thoát khởi lên, tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đạt được quả của Tĩnh lự thứ tư, và phẩm tâm
Thông quả vô ký. Lúc Định Kim cang dụ diệt đi, Tận trí khởi lên, tâm
ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được tùy theo sự thích hợp của
quả Tĩnh lự, và phẩm tâm Thông quả vô ký.
Đã lìa nhiễm cõi Dục, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, lúc
đạo gia hạnh; có người nói: Và đạo giải thoát. Tâm ấy khởi lên cùng lúc
với các pháp đạt được tùy theo sự thích hợp của quả Tĩnh lự, và phẩm
tâm Thông quả vô ký.
A-la-hán Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, dựa vào Định
Vị chí cho đến Tĩnh lự thứ tư, lúc đạo gia hạnh, tâm ấy khởi lên cùng lúc
với các pháp đạt được tùy theo sự thích hợp của quả Tĩnh lự, và phẩm
tâm Thông quả vô ký; và lúc dựa vào đạo giải thoát thứ chín của tất cả
các địa, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được quả của Tĩnh lự
thứ tư, và phẩm tâm Thông quả vô ký.
Lúc các đạo gia hạnh, năm đạo vô gián, ba đạo giải thoát dẫn dắt
phát khởi năm thông; lúc đạo vô gián- giải thoát đầu và sau, tu Tĩnh lự
xen tạp; lúc khởi lên bốn Vô lượng, ba Giải thoát đầu, tám Thắng xứ,
tám Biến xứ trước; khởi lên  Vô ngại giải và dựa  vào Định Vị chí, cho
đến lúc tăng trưởng Tĩnh lự thứ tư; khởi lên Nguyện trí-Vô tranh-Định
Biên tế, và lúc tăng trưởng; dựa va øo Định Vị chí cho đến Tĩnh lự thứ
tư, khởi lên các công đức như Không Không-Vô nguyện Vô nguyện-
Vô tướng Vô tướng, và lúc tăng tr ưởng, tâm ấy khởi lên cùng lúc với
các pháp đạt được tùy theo sự thích hợp của quả Tĩnh lự, và phẩm tâm
Thông quả vô ký.
Và trú trong tâm thiện… cho đến pháp ấy đạt được là sinh-lão-
trú-vô thường, đó là lúc sinh ở cõi Dục-Sắc khởi lên tâm thiện nối tiếp
nhau tồn tại lâu dài, nuôi lớn các căn tăng thêm đại chủng, tâm ấy khởi
lên cùng lúc với bốn tướng đạt được ấy. Nuôi lớn các căn tăng thêm đại
chủng, hỏi-đáp giải thích như chương Đại Chủng Uẩn.
Hỏi: Các pháp vô sắc bất thiện khởi lên, pháp ấy đi cùng với tâm
bất thiện chăng?
Đáp: Các pháp vô sắc bất thiện khởi lên, pháp ấy hoặc là đi cùng
với tâm bất thiện, hoặc là đi cùng với tâm vô ký.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm bất thiện?
Đáp: Các pháp vô sắc bất thi ện tương ưng với tâm ấy, tâm ấy
cùng có vô sắc bất thiện, nghĩa giải thích như trước.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 159 151  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm vô ký?
Đáp: Như tâm vô ký, nếu lui sụt ha y là sinh ra, thì khởi lên đạt
được pháp bất thiện.
Tâm vô ký lui sụt, khởi lên đạt được bất thiện, đó là các dị sinh đã
lìa nhiễm cõi Dục, lúc khởi lên Tri ền thuộc Hữu thân kiến-Biên chấp
kiến của cõi Dục, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được bốn
Uẩn bất thiện do Kiến-Tu mà đoạn.
Tâm vô ký sinh ra, khởi lên đạt được bất thiện, đó là lúc từ cõi
Sắc-Vô sắc chết đi sinh vào cõi  Dục, dùng Hữu thân kiến-Biên chấp
kiến để tiến vào thai, tâm ấy khởi l ên cùng lúc với cá c pháp đạt được
bốn Uẩn bất thiện do Kiến-Tu mà đoạn.
Hỏi: Giả sử pháp khởi lên cùng lúc với tâm bất thiện, thì pháp ấy
là vô sắc bất thiện chăng? Đáp: Các pháp khởi lên cùng lúc với tâm bất
thiện, pháp ấy hoặc là vô sắc bất th iện, hoặc là vô sắc thiện, hoặc là
vô sắc vô ký.
Hỏi: Thế nào là vô sắc bất thiện?
Đáp: Các pháp vô sắc bất thi ện tương ưng với tâm ấy, tâm ấy
cùng có vô sắc bất thiện, nghĩa giải thích như trước.
Hỏi: Thế nào là vô sắc thiện?
Đáp: Như tâm bất thiện, nếu lui sụt hay là sinh ra, thì khởi lên đạt
được pháp thiện. Phần này giải thích như vô sắc thiện khởi lên đi cùng
với tâm bất thiện trước đây.
Hỏi: Thế nào là vô sắc vô ký?
Đáp: Như tâm bất thiện, nếu lui s ụt hay là sinh ra, khởi lên đạt
được pháp vô ký, và trú trong tâm bất thiện vô ký, nuôi lớn các căn tăng
thêm đại chủng, pháp ấy đạt được là sinh-lão-trú-vô thường.
Tâm bất thiện lui sụt, khởi lên đạt được vô ký, đó là lúc A-la-hán
khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các
pháp đạt được bốn Uẩn vô ký do Tu mà đoạn của tám địa trên.
Những người Bất hoàn, nếu đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, lúc
khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với
các pháp đạt được bốn Uẩn vô ký do Tu mà đoạn của bảy địa; cho đến
nếu đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhấ t, chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ
hai, lúc khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên cùng
lúc với các pháp đạt được bốn Uẩn vô ký do Tu mà đoạn của một địa.
Các loại dị sinh, nếu đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, lúc khởi lên
Triền bất thiện mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được bốn Uẩn vô ký do Kiến-Tu mà đoạn của bảy địa, và do Kiến  mà
152 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
đoạn của cõi Dục; cho đến nếu đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, chưa
lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai, lúc khởi lên Triền bất thiện mà lui sụt, thì
tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được bốn Uẩn vô ký do Kiến-
Tu mà đoạn của một địa, và do Kiến mà đoạn của cõi Dục.
Nếu đã lìa nhiễm của cõi Dục, chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất,
lúc khởi lên Triền bất thiện mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với
các pháp đạt được bốn Uẩn vô ký do Kiến mà đoạn của cõi Dục.
Tâm bất thiện sinh ra, khởi lên đạt được vô ký, đó là lúc ở Phi
tưởng phi phi tưởng xứ chết đi sinh vào cõi Dục, dùng tâm bất thiện để
tiến vào thai, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được bốn Uẩn
vô ký do Kiến-Tu mà đoạn của bảy địa, và do Kiến mà đoạn của cõi
Dục, Sắc uẩn-Hành uẩn vô ký do Tu mà đoạn.
Có người nói: Cũng khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được tâm-
tâm sở vô ký do Tu mà đoạn của cõi Dục, đó là khéo luyện tập xuyên
suốt bốn Uẩn thuộc Oai nghi lộ-Công xảo xứ.
Cho đến lúc ở Tĩnh lự thứ nhất chết đi sinh vào cõi Dục, dùng tâm
bất thiện để tiến vào thai, tâm ấy khởi  lên cùng lúc với các pháp đạt
được bốn Uẩn vô ký do Kiến mà đoạn của cõi Dục, Sắc uẩn-Hành uẩn
vô ký do Tu mà đoạn.
Có người nói: Cũng khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được tâm-
tâm sở vô ký do Tu mà đoạn của cõi Dục, nói như trước.
Và trú trong tâm bất thiện… cho đến pháp ấy đạt được là sinh-lão-
trú-vô thường, đó là lúc các dị si nh khởi lên ba mươi bốn Tùy miên,
Thánh giả khởi lên bốn Tùy miên, tùy theo một loại nối tiếp nhau tồn
tại lâu dài, nuôi lớn các căn tăng thêm đại chủng, tâm ấy khởi lên cùng
lúc với bốn tướng đạt được ấy. Phần còn lại nói như trước.
Hỏi: Các pháp vô sắc vô ký khởi lên, pháp ấy đi cùng với tâm vô
ký chăng?
Đáp: Các pháp vô sắc vô ký khởi lên, pháp ấy hoặc là đi cùng với
tâm vô ký, hoặc là đi cùng với tâm thi ện, hoặc là đi cùng với tâm bất
thiện.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm vô ký?
Đáp: Các pháp vô sắc vô ký tương ưng với tâm ấy, tâm ấy cùng
có vô sắc vô ký, nghĩa giải thích như trước.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm thiện?
Đáp: Như tâm thiện thắng tiến, khởi lên đạt được pháp vô ký, và
trú trong tâm thiện vô ký, nuôi lớn các căn tăng thêm đại chủng, pháp
ấy đạt được là sinh-lão-trú-vô thường. Phần này giải thích như vô   sắc
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 159 153  
www.daitangkinh.org  
vô ký khởi lên đi cùng với tâm thiện trước đây.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm bất thiện?
Đáp: Như tâm bất thiện, nếu lui s ụt hay là sinh ra, khởi lên đạt
được pháp vô ký, và trú trong tâm ba át thiện vô ký, nuôi lớn các căn
tăng thêm đại chủng, pháp ấy đạt được là sinh-lão-trú-vô thường. Phần
này giải thích như vô sắc vô ký khởi lên đi cùng với tâm bất thiện trước
đây.
Hỏi: Giả sử pháp khởi lên cùng lúc với tâm vô ký, thì pháp ấy là
vô sắc vô ký chăng?
Đáp: Các pháp khởi lên cùng lúc với tâm vô ký, pháp ấy hoặc là
vô sắc vô ký, hoặc là vô sắc thiện, hoặc là vô sắc bất thiện.
Hỏi: Thế nào là vô sắc vô ký?
Đáp: Các pháp vô sắc vô ký tương ưng với tâm ấy, tâm ấy cùng
có vô sắc vô ký, nghĩa giải thích như trước.
Hỏi: Thế nào là vô sắc thiện?
Đáp: Như tâm vô ký, nếu lui sụt hay là sinh ra, khởi lên đạt được
pháp thiện. Phần này giải thích như vô sắc thiện khởi lên đi cùng với
tâm vô ký trước đây.
Hỏi: Thế nào là vô sắc bất thiện?
Đáp: Như tâm vô ký, nếu lui sụt hay là sinh ra, khởi lên đạt được
pháp bất thiện. Phần này giải thích như vô sắc bất thiện khởi lên đi cùng
với tâm vô ký trước đây.
Hỏi: Các pháp vô sắc của cõi Dục khởi lên, pháp ấy đi cùng với
tâm của cõi Dục chăng?
Đáp: Các pháp vô sắc của cõi Dục khởi l ên, pháp ấy hoặc là đi
cùng với tâm của cõi Dục, hoặc là đi cùng với tâm của cõi Sắc, hoặc
là đi cùng với tâm của cõi Vô sắc, hoặc là đi cùng với tâm không hệ
thuộc.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm của cõi Dục?
Đáp: Các pháp vô sắc của cõi Dục tương ưng với tâm ấy, tâm ấy
cùng có vô sắc của cõi Dục.
Vô sắc của cõi Dục tương ưng với tâm ấy, đó là tâm sở pháp của
cõi Dục. Tâm ấy cùng có vô sắc của cõi Dục, đó là pháp sinh-lão-trú-vô
thường. Trong này, cũng có khởi lên đạt được cùng loại, bởi vì tóm lược
cho nên không nói đến.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm của cõi Sắc?
Đáp: Như tâm của cõi Sắc, nếu sinh ra hay là thắng tiến, khởi lên
đạt được pháp của cõi Dục, và trú trong tâm của cõi Sắc, nuôi lớn  các
154 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
căn tăng thêm đại chủng của cõi Dục, thì pháp ấy đạt được là sinh-lão-
trú-vô thường.
Tâm của cõi Sắc sinh ra khởi lên đạt được cõi Dục, đó là ở cõi Vô
sắc chết đi, nếu lúc sinh vào Tĩnh lự thứ tư, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc
với các pháp đạt được quả Tĩnh lự thứ tư, phẩm tâm Thông quả của cõi
Dục; cho đến nếu lúc sinh vào Tĩnh lự thứ nhất, thì tâm ấy khởi lên cùng
lúc với các pháp đạt được quả Tĩ nh lự thứ nhất, phẩm tâm Thông quả
của cõi Dục. Như ở cõi Vô sắc chết đi sinh vào cõi Sắc, ở địa trên chết
đi sinh vào địa dưới cũng như vậy.
Tâm của cõi Sắc thắng tiến khởi lên  đạt được cõi Dục, đó là lúc
dùng đạo thế tục lìa nhiễm của cõi Dục, đạo vô gián thứ chín diệt đi,
đạo giải thoát khởi lên, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được
quả Tĩnh lự thứ nhất, phẩm tâm Thông quả của cõi Dục; cho đến lúc
dùng đạo thế tục lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, đạo vô gián thứ chín diệt
đi, đạo giải thoát khởi lên, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được quả Tĩnh lự thứ tư, phẩm tâm Thông quả của cõi Dục.
Đã lìa nhiễm của cõi Dục, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí,
lúc đạo gia hạnh thế tục, tâm ấy khởi  lên cùng lúc với các pháp đạt
được tùy theo sự thích hợp của quả Tĩnh lự, phẩm tâm Thông quả của
cõi Dục.
Dựa vào Định Vị chí, cho đến Tĩnh lự thứ tư, A-la-hán Thời giải
thoát luyện căn làm Bất động, lúc đạo gia hạnh thế tục, tâm ấy khởi
lên cùng lúc với các pháp đạt được tùy theo sự thích hợp của quả Tĩnh
lự, phẩm tâm Thông quả của cõi D ục. Lúc các đạo gia hạnh, năm đạo
vô gián, hai đạo giải thoát dẫn dắt phát khởi năm thông, và Tha tâm
trí thông thế tục; lúc đa ïo giải thoát, tu xen lẫn Tĩnh lự trung gian; lúc
tâm khởi lên bốn Vô lượng, ba Giải thoát đầu, tám Thắng xứ, tám Biến
xứ trước; khởi lên Vô ngại giải, va ø dựa vào Định Vị chí, cho đến Tĩnh
lự thứ tư, lúc tăng trưởng Vô ngại giải thế tục; khởi lên Nguyện trí-Vô
tranh-Định Biên tế, và lúc tăng tr ưởng; dựa vào Định Vị chí cho đến
Tĩnh lự thứ tư, khởi lên các công đức thế tục như Không Không-Vô
nguyện Vô nguyện-Vô tướng Vô tướng, và lúc tăng trưởng, tâm ấy khởi
lên cùng lúc với các pháp đạt được tùy theo sự thích hợp của quả Tĩnh
lự, và phẩm tâm Thông quả của cõi Dục.
Và trú trong tâm của cõi Sắc…, cho đến pháp ấy đạt được là sinh-
lão-trú-vô thường, đó là lúc sinh ở cõi  Dục tiến vào định của cõi Sắc,
nuôi lớn các căn tăng thêm đại chủng, tâm ấy khởi lên cùng lúc với bốn
tướng đạt được ấy.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 159 155  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm của cõi Vô sắc?
Đáp: Như trú trong tâm của cõi Vô sắc, nuôi lớn các căn tăng
thêm đại chủng của cõi Dục, pháp ấy đạt được là sinh-lão-trú-vô
thường, nghĩa là lúc sinh ở cõi Dục tiến vào Định của cõi Vô sắc, nuôi
lớn các căn tăng thêm đại chủng, ta âm ấy khởi lên cùng lúc với bốn
tướng đạt được nơi ấy.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm không hệ thuộc?
Đáp: Như tâm không hệ thuộc thắng tiến, khởi lên đạt được pháp
của cõi Dục, và trú trong tâm không hệ thuộc nuôi lớn các căn tăng thêm
đại chủng của cõi Dục, pháp ấy đạt được là sinh-lão-trú-vô thường.
Tâm không hệ thuộc thắng tiến, khởi lên đạt được pháp của cõi
Dục, đó là lúc trú trong ba Loại trí của Kiến đạo, tâm ấy khởi lên cùng
lúc với các pháp đạt được ba Hiện quán biên v ề Khổ-Tập-Diệt thuộc
phẩm Thế tục trí của cõi Dục đã tu.
Lúc dùng đạo vô lậu lìa nhiễm của cõi Dục, đạo vô gián thứ chín
diệt đi, đạo giải thoát khởi lên, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp
đạt được quả Tĩnh lự thứ nhất, và phẩm tâm Thông quả của cõi Dục;
cho đến lúc dùng đạo vô lậu lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, đạo vô gián
thứ chín diệt đi, đạo giải thoát khởi lên, tâm ấy khởi lên cùng lúc với
các pháp đạt được quả Tĩnh lự thứ tư, và phẩm tâm Thông quả của cõi
Dục.
Lúc Định Kim cang dụ diệt đi, Tận trí khởi lên, tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đạt được tùy  theo sự thích hợp của quả Tĩnh lự,
phẩm tâm Thông quả của cõi Dục, và lúc bấy giờ đã đạt được các pháp
đạt được thuộc pháp thiện của cõi Dục.
Đã lìa nhiễm cõi Dục, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, lúc
đạo gia hạnh vô lậu; có người nói: Và lúc đạo giải thoát, tâm ấy khởi
lên cùng lúc với các pháp đạt được tùy theo sự thích hợp của quả Tĩnh
lự, và phẩm tâm Thông quả của cõi Dục.
A-la-hán Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, lúc dựa vào đạo
gia hạnh vô lậu của Định Vị chí cho đến Tĩnh lự thứ tư, tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đạt được tùy  theo sự thích hợp của quả Tĩnh lự,
phẩm tâm Thông quả của cõi Dục; lúc dựa vào đạo giải thoát thứ chín
của tất cả các địa, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được quả
của bốn Tĩnh lự, phẩm tâm Thông quả của  cõi Dục, và lúc bấy giờ đã
đạt được các pháp đạt được thuộc pháp thiện của cõi Dục.
Lúc khởi lên Tha tâm trí thông vô lậu, lúc tâm đầu và sau tu xen
tạp Tĩnh lự, lúc dựa vào sự tăng trưởng của Định Vị chí cho đến Tĩnh lự
156 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
thứ tư-Vô ngại giải vô lậu…, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được tùy theo sự thích hợp của quả  Tĩnh lự, và phẩm tâm Thông quả
của cõi Dục.
Và trú trong tâm không hệ thuộc… cho đến pháp ấy đạt được là
sinh-lão-trú-vô thường, đó là lúc sinh ở cõi Dục tiến vào Định Vị chí
vô lậu cho đến Định của Vô sở hữu xứ, nuôi lớn các căn tăng thêm đại
chủng, tâm ấy khởi lên cùng lúc với bốn tướng đạt được nơi ấy.
Hỏi: Giả sử pháp khởi lên cùng lúc với tâm của cõi Dục, thì pháp
ấy là vô sắc của cõi Dục chăng?
Đáp: Các pháp khởi lên cùng lúc  với tâm của cõi Dục, pháp ấy
hoặc là vô sắc của cõi Dục, hoặc là vô sắc của cõi Sắc, hoặc là vô sắc
của cõi Vô sắc, hoặc là vô sắc không hệ thuộc.
Hỏi: Thế nào là vô sắc của cõi Dục?
Đáp: Các pháp vô sắc của cõi Dục tương ưng với tâm ấy, tâm ấy
cùng có vô sắc của cõi Dục, nghĩa giải thích như trước.
Hỏi: Thế nào là vô sắc của cõi Sắc?
Đáp: Như tâm của cõi Dục, nếu lui sụt hay là sinh ra, khởi lên đạt
được pháp của cõi Dục.
Tâm của cõi Dục lui sụt, khởi lên đạt được ở cõi Sắc, đó là lúc các
Thánh giả đã lìa nhiễm cõi Sắc, khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt,
tâm ấy khởi lên cùng lúc với các ph áp đạt được thuộc pháp do Tu mà
đoạn của bốn địa ở cõi Sắc; cho đến đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất,
chưa lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai, lúc khởi lên Triền của cõi Dục mà
lui sụt, tâm ấy khởi lên cùng lúc vớ i các pháp đạt được thuộc pháp do
Tu mà đoạn của một địa ở cõi Sắc.
Nếu các dị sinh đã lìa nhiễm cõi Sa éc, lúc khởi lên Triền của cõi
Dục mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được thuộc
pháp do Kiến-Tu mà đoạn của bốn địa ở cõi Sắc; cho đến đã lìa nhiễm
của Tĩnh lự thứ nhất, chưa lìa nhiễm c ủa Tĩnh lự thứ hai, lúc khởi lên
Triền của cõi Dục mà lui sụt, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được thuộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của một địa ở cõi Sắc.
Tâm của cõi Dục sinh ra, khởi lên đạt được ở cõi Sắc, đó là lúc từ
cõi Vô sắc chết đi si nh vào cõi Dục, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các
pháp đạt được thuộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của bốn địa ở cõi Sắc;
cho đến lúc từ Tĩnh lự thứ hai chết đi sinh vào cõi Dục, tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đạt được th uộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của
một địa ở cõi Sắc.
Hỏi: Thế nào là vô sắc của cõi Vô sắc?
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 159 157  
www.daitangkinh.org  
Đáp: Như tâm của cõi Dục, nếu lui sụt hay là sinh ra, khởi lên đạt
được pháp của cõi Vô sắc.
Tâm của cõi Dục lui sụt, khởi lên đạt được ở cõi Vô sắc, đó là lúc
A-la-hán khởi lên Triền của cõi D ục mà lui sụt, ta âm ấy khởi lên cùng
lúc với các pháp đạt được thuộc pháp do Tu mà đoạn của bốn địa ở cõi
Vô sắc.
Nếu người Bất hoàn đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, lúc khởi lên
Triền của cõi Dục mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp
đạt được thuộc pháp do Tu mà đoạn c ủa ba địa ở cõi Vô sắc; cho đến
đã lìa nhiễm của Không vô biên xứ, c hưa lìa nhiễm của Thức vô biên
xứ, lúc khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt, tâm ấy khởi lên cùng lúc
với các pháp đạt được thuộc pháp do Tu mà đoạn của một địa ở cõi Vô
sắc.
Nếu các dị sinh đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, lúc khởi lên Triền
của cõi Dục mà lui sụt, thì tâm a áy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được thuộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của ba địa ở cõi Vô sắc; cho đến
đã lìa nhiễm của Không vô biên xứ, c hưa lìa nhiễm của Thức vô biên
xứ, lúc khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt, tâm ấy khởi lên cùng lúc
với các pháp đạt được thuộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của một địa ở
cõi Vô sắc.
Tâm của cõi Dục sinh ra, khởi lên đạt được ở cõi Vô sắc, đó là lúc
từ Phi tưởng phi phi tưởng xứ chết đi sinh vào cõi Dục, tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đa ït được thuộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của
ba địa ở cõi Vô sắc; cho đến lúc từ Thức vô biên xứ chết đi sinh vào
cõi Dục, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được thuộc pháp do
Kiến-Tu mà đoạn của một địa ở cõi Vô sắc.
Hỏi: Thế nào là vô sắc không hệ thuộc?
Đáp: Như tâm của cõi Dục lui sụt, khởi lên đạt được pháp không
hệ thuộc, đó là lúc A-la-hán lui sụt căn thù thắng trú vào căn yếu kém,
lúc ấy tâm của cõi Dục khởi lên cùng lúc đạt được không hệ thuộc của
phẩm căn yếu kém.
Học lui sụt chủng tánh thù thắng trú vào chủng tánh yếu kém,
cũng như vậy.
Nếu các Thánh giả đã lìa nhiễm cõi Dục, lúc khởi lên Triền thuộc
hai phẩm Hạ Hạ-Hạ Trung của cõi Dục mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đạt được quả Nhất lai và đạo của quả thù thắng.
Nếu lúc khởi lên Triền thuộc pha åm Hạ Thượng mà lui sụt, gia
hạnh vẫn còn có thể bảo vệ, thì tâm ấy cũng khởi lên cùng lúc đạt được
158 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
những pháp không hệ thuộc như trước; gia hạnh ấy có lúc không có thể
bảo vệ, thì tâm ấy chỉ khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được quả Nhất
lai.
Nếu khởi lên Triền thuộc năm phẩm từ Trung Hạ cho đến Thượng
Trung mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được quả
Dự lưu và đạo của quả thù thắng.
Nếu lúc khởi lên Triền thuộc phẩm Thượng Thượng mà lui sụt,
gia hạnh vẫn còn có thể bảo vệ, thì ta âm ấy cũng khởi lên cùng lúc đạt
được những pháp không hệ thuộc như trước; gia hạnh ấy có lúc không
có thể bảo vệ, thì tâm ấy chỉ khởi l ên cùng lúc với các pháp đạt được
quả Dự lưu.
Nếu người Nhất lai, tùy theo Triền thuộc sáu phẩm trước hễ khởi
lên phẩm nào mà lui sụt, thì tâm ấy tùy theo cũng khởi lên cùng lúc đạt
được những pháp không hệ thuộc như trước.
Hỏi: Tâm của cõi Dục thắng tiến cũng khởi lên đạt được pháp
không hệ thuộc, như hoặc là do Thí, hoa ëc là do Giới, hoặc là do Văn,
hoặc là do Tư, khiến cho đạt được Phi trạch diệt đối với những nẽo ác,
trong này vì sao không nói?
Đáp: Có người nói: Cần phải nói mà không nói đến thì nên biết là
nghĩa này có khác.
Nói như vậy thì Phi trạch diệt tuy là không hệ thuộc, mà đạt được
pháp ấy không phải là không hệ thuộc. Trong này nói khởi lên đạt được
không hệ thuộc, vì vậy cho nên không nói đến.
Hỏi: Các pháp vô sắc của cõi Sắc khởi lên, pháp ấy đi cùng với
tâm của cõi Sắc chăng?
Đáp: Các pháp vô sắc của cõi Sa éc khởi lên, pháp ấy hoặc là đi
cùng với tâm của cõi Sắc, hoặc là đi cùng với tâm của cõi Dục, hoặc
là đi cùng với tâm của cõi Vô sắc, hoặc là đi cùng với tâm không hệ
thuộc.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm của cõi Sắc?
Đáp: Các pháp vô sắc của cõi Sắc tương ưng với tâm ấy, tâm ấy
cùng có vô sắc của cõi Sắc, nghĩa giải thích như trước.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm của cõi Dục?
Đáp: Như tâm của cõi Dục, nếu lui sụt hay là sinh ra, khởi lên đạt
được pháp của cõi Sắc. Phần này nói  như vô sắc của cõi Sắc khởi lên
cùng lúc với tâm của cõi Dục trước đây.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm của cõi Vô sắc?
Đáp: Như trú trong tâm của cõi Vô sắc, nuôi lớn các căn tăng thêm
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 159 159  
www.daitangkinh.org  
đại chủng của cõi Sắc, pháp ấy đạt được là sinh-lão-trú-vô thường, ng-
hĩa là lúc sinh ở cõi Sắc tiến vào Định của cõi Vô sắc, nuôi lớn các căn
tăng thêm đại chủng, tâm ấy khởi lên cùng lúc với bốn tướng đạt được
nơi ấy.
Hỏi: Thế nào là đi cùng với tâm không hệ thuộc?
Đáp: Như tâm không hệ thuộc thắng tiến, khởi lên đạt được pháp
của cõi Sắc, và trú trong tâm không hệ thuộc nuôi lớn các căn tăng thêm
đại chủng của cõi Sắc, pháp ấy đạt được là sinh-lão-trú-vô thường.
Tâm không hệ thuộc thắng tiến, khởi lên đạt được pháp của cõi
Sắc, đó là lúc trú trong ba Loại trí của Kiến đạo, tâm ấy khởi lên cùng
lúc với các pháp đạt được ba Hi ện quán biên về Khổ-Tập-Diệt thuộc
phẩm Thế tục trí của cõi Sắc đã tu.
Dùng đạo vô lậu lìa nhiễm của cõi Dục, nếu vô lậu làm gia hạnh,
lúc các đạo gia hạnh-chín đạo vô gia ùn-chín đạo giải thoát, thì tâm ấy
khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được đạo của cõi Sắc đã tu thuộc vị
lai; lúc đạo giải thoát thứ chín, cũng khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được quả Tĩnh lự thứ nhất, và phẩm tâm Thông quả của cõi Sắc.
Dùng đạo vô lậu lúc lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất cho đến Tĩnh
lự thứ ba, nếu vô lậu làm gia hạnh, l úc các đạo gia hạnh-chín đạo vô
gián-chín đạo giải thoát, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được đạo của cõi Sắc đa õ tu thuộc vị lai; lúc đạo giải thoát cuối cùng,
cũng khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được quả Tĩnh lự thứ hai cho
đến Tĩnh lự thứ tư, và phẩm tâm Thông quả của cõi Sắc.
Dùng đạo vô lậu lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, và dựa vào Định Vị
chí cho đến Tĩnh lự thứ tư, lìa nhiễm của Không vô biên xứ cho đến lìa
nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu vô lậu làm gia hạnh, lúc các
đạo gia hạnh, thì tâm ấy khởi lên c ùng lúc với các pha ùp đạt được đạo
của cõi Sắc đã tu thuộc vị lai.
Lúc Định Kim cang dụ diệt đi, Tận  trí khởi lên, tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đạt được thuộc về thiện của cõi Sắc đã đạt được
lúc bấy giờ, cũng khởi lên cùng lúc  với các pháp đạt được tùy theo sự
thích hợp của quả Tĩnh lự, và phẩm tâm Thông quả của cõi Sắc.
Chưa lìa nhiễm cõi Dục, Tín th ắng giải luyện căn làm Kiến chí,
nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc đạo gia hạnh ấy; có người nói: Và lúc
đạo giải thoát, thì tâm ấy khởi lên  cùng lúc với các pháp đạt được đạo
của cõi Sắc đã tu thuộc vị lai.
Đã lìa nhiễm cõi Dục, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, nếu
vô lậu làm gia hạnh, thì lúc đạo gia hạnh ấy; có người nói: Và lúc  đạo
160 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
giải thoát, thì tâm ấy khởi lên cùn g lúc với các pháp đạt được đạo của
cõi Sắc đã tu thuộc vị lai, và các pháp đạt được tùy theo sự thích hợp của
quả Tĩnh lự, phẩm tâm Thông quả của cõi Sắc.
A-la-hán Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, lúc dựa vào đạo
gia hạnh vô lậu của Định Vị chí cho đến Tĩnh lự thứ tư, tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đạt được đạo của cõi Sắc đã tu thuộc vị lai, và các
pháp đạt được tùy theo sự thích hợp của quả Tĩnh lự, phẩm tâm Thông
quả của cõi Sắc.
Lúc dựa vào đạo giải thoát thứ chín của tất cả các địa, tâm ấy khởi
lên cùng lúc với các pháp đạt được t huộc về thiện của co õi Sắc đã đạt
được lúc bấy giờ, và các pháp đạt được quả của bốn Tĩnh lự, phẩm tâm
Thông quả của cõi Sắc.
Lúc khởi lên Tha tâm trí thông vô lậu, lúc tâm đầu và sau tu xen
tạp Tĩnh lự, lúc dựa vào sự tăng trưởng của Định Vị chí cho đến Tĩnh lự
thứ tư-Vô ngại giải vô lậu…, tức là lúc dựa vào các địa ấy khởi lên Niệm
trú vô lậu, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được đạo của cõi
Sắc đã tu thuộc vị lai, và các pha ùp đạt được tùy theo sự thích hợp của
quả Tĩnh lự, phẩm tâm Thông quả của cõi Sắc.
Và trú trong tâm không hệ thuộc… cho đến pháp ấy đạt được là
sinh-lão-trú-vô thường, đó là lúc sinh ở cõi Sắc tiến vào Định Vị chí vô
lậu, cho đến Định Vô sở hữu xứ, nuôi lớn các căn tăng thêm đại chủng,
tâm ấy khởi lên cùng lúc với bốn tướng đạt được nơi ấy.
Hỏi: Giả sử pháp khởi lên cùng lúc với tâm của cõi Sắc, thì pháp
ấy là vô sắc của cõi Sắc chăng?
Đáp: Các pháp khởi lên cùng lúc với tâm của cõi Sắc, pháp ấy
hoặc là vô sắc của cõi Sắc, hoặc là vô sắc của cõi Dục, hoặc là vô sắc
của cõi Vô sắc, hoặc là vô sắc không hệ thuộc.
Hỏi: Thế nào là vô sắc của cõi Sắc?
Đáp: Các pháp vô sắc của cõi Sắc tương ưng với tâm ấy, tâm ấy
cùng có vô sắc của cõi Sắc, nghĩa giải thích như trước.
Hỏi: Thế nào là vô sắc của cõi Dục?
Đáp: Như tâm của cõi Sắc, nếu sinh ra hay là thắng tiến, khởi lên
đạt được pháp của cõi Dục, và trú trong tâm của cõi Sắc, nuôi lớn các
căn tăng thêm đại chủng của cõi Dục, pháp ấy đạt được là sinh-lão-trú-
vô thường. Phần này giải thích như vô sắc của cõi Dục khởi lên đi cùng
với tâm của cõi Sắc trước đây.
Hỏi: Thế nào là vô sắc của cõi Vô sắc?
Đáp: Như tâm của cõi Sắc, nếu lui sụt hay là sinh ra, khởi lên đạt
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 159 161  
www.daitangkinh.org  
được pháp của cõi Vô sắc.
Tâm của cõi Sắc lui sụt, khởi lên đạt được ở cõi Vô sắc, đó là lúc
A-la-hán khởi lên Triền của cõi Sắc  mà lui sụt, tâm ấy khởi lên cùng
lúc với các pháp đạt được thuộc pháp do Tu mà đoạn của bốn địa ở cõi
Vô sắc.
Những người Bất hoàn lúc đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, khởi
lên Triền của cõi Sắc mà lui sụt, tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp
đạt được thuộc pháp do Tu mà đoạn c ủa ba địa ở cõi Vô sắc; cho đến
lúc đã lìa nhiễm của Không vô bie ân xứ, chưa lìa nhiễm của Thức vô
biên xứ, khởi lên Triền của cõi Sắc mà lui sụt, tâm ấy khởi lên cùng
với các pháp đạt được thuộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của một địa ở
cõi Vô sắc.
Nếu các dị sinh đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, lúc khởi lên Triền
của cõi Sắc mà lui sụt, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được thuộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của ba địa ở cõi Vô sắc; cho đến
đã lìa nhiễm của Không vô biên xứ, c hưa lìa nhiễm của Thức vô biên
xứ, lúc khởi lên Triền của cõi Sắc mà lui sụt, tâm ấy khởi lên cùng lúc
với các pháp đạt được thuộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của một địa ở
cõi Vô sắc.
Tâm của cõi Sắc sinh ra, khởi lên đạt được ở cõi Vô sắc, đó là lúc
từ Phi tưởng phi phi tưởng xứ chết đi sinh vào cõi Sắc, tâm ấy khởi lên
cùng lúc với các pháp đạt được thuộc pháp do Kiến-Tu mà đoạn của ba
địa ở cõi Vô sắc; cho đến lúc ở Thức vô biên xứ chết đi sinh vào cõi Sắc,
tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được thuộc pháp do Kiến-Tu
mà đoạn của một địa ở cõi Vô sắc.
Hỏi: Thế nào là vô sắc không hệ thuộc?
Đáp: Như tâm của cõi Sắc, nếu lui sụt hay là thắng tiến, khởi lên
đạt được pháp không hệ thuộc.
Tâm của cõi Sắc lui sụt, khởi  lên đạt được pháp không hệ thuộc,
đó là lúc A-la-hán khởi lên Triền của cõi Sắc mà lui sụt, tâm ấy khởi
lên cùng lúc với các pháp đạt được thuộc quả Bất hoàn, và đạo của quả
thù thắng.
Tâm của cõi Sắc thắng tiến, khởi lên đạt được pháp không hệ
thuộc, đó là các Thánh giả dùng đạo thế tục lìa nhiễm cõi Dục, cho
đến lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, nếu t hế tục làm gia hạnh, lúc tất cả
các đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát , thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với
các pháp đạt được pháp không hệ thuộc đã tu của vị lai. Dựa vào Định
Vị chí cho đến Tĩnh lự thứ tư, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư cho đến  Phi
162 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm gia hạnh, lúc các đạo gia hạnh,
thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được pháp không hệ thuộc
đã tu của vị lai.
Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, và dựa vào Định Vị chí cho
đến Tĩnh lự thứ tư; A-la-hán Thời gi ải thoát luyện căn làm Bất động,
nếu thế tục làm gia hạnh, lúc các đạo gia hạnh, thì tâm ấy khởi lên cùng
lúc với các pháp đạt được pháp không hệ thuộc đã tu của vị lai.
Nếu lúc các Thánh giả dẫn dắt phát khởi các thần thông, các đạo
gia hạnh, năm đạo vô gián, hai đạo giải thoát, và Tha tâm trí thông thế
tục, lúc đạo giải thoát, lúc tâm tu xen tạp Tĩnh lự trung gian, thì tâm ấy
khởi lên cùng lúc với các pháp đạt được pháp không hệ thuộc đã tu của
vị lai.
Nếu lúc các Thánh giả khởi lên bốn Vô lượng, ba Giải thoát đầu,
tám Thắng xứ, tám Biến xứ trước, khởi l ên Vô ngại giải, và dựa vào
Định Vị chí, cho đến Tĩnh lự thứ tư; lúc tăng trưởng Vô ngại giải thế
tục, khởi lên Nguyện trí-Vô tranh-Định Biên tế, và lúc tăng trưởng, dựa
vào Định Vị chí cho đến Tĩnh lự thứ tư; lúc khởi lên Không Không-Vô
nguyện Vô nguyện-Vô tướng Vô tướng, và Thánh giả vẫn dựa vào địa
ấy, khởi lên các công đức như quán Bất tịnh, Trì tức niệm, Niệm trú thế
tục…, và lúc tăng trưởng, thì tâm ấy khởi lên cùng lúc với các pháp đạt
được pháp không hệ thuộc đã tu của vị lai.
Hỏi: Lúc tâm của cõi Sắc sinh ra, cũng khởi lên đạt được pháp
không hệ thuộc, như lúc ở cõi Vô sắc chết đi sinh vào Tĩnh lự thứ tư, tâm
ấy khởi lên cùng lúc với đạt được Trạch diệt thuộc Uẩn do Kiến-Tu mà
đoạn của Tĩnh lự thứ ba, cho đến lúc ở địa trên chết đi sinh vào Tĩnh lự
thứ nhất, tâm ấy khởi lên cùng lúc với đạt được Trạch diệt thuộc Uẩn do
Kiến-Tu mà đoạn của cõi Dục, vì sao trong này không nói đến?
Đáp: Có người nói: Cần phải nói mà không nói đến thì nên biết là
nghĩa này có khác.
Nói như vậy thì lúc bấy giờ đa õ đạt được Trạch diệt tuy là không
hệ thuộc, mà các pháp đạt được ấy là hệ thuộc cõi Sắc, không phải là
không hệ thuộc, vì vậy cho nên không nói đến.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt