VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 162Quyển 164 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 163

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

淨初靜慮有四種。謂順退分。順住分。順勝
進分。順決擇分。順退分者。謂若住此多分退
失。順住分者。謂若住此多分不退失不勝
進。順勝進分者。謂若住此多分勝進。順決擇
分者。謂若住此多分能入正性離生。復次順
退分者。與諸煩惱相𣣋相雜煩惱無間此
現前此無間煩惱現前。順住分者。能觀下地
為麁苦障而生厭背。能觀自地為靜妙離
而樂安住。順勝進分者。能觀自地為麁苦
障而生厭背。能觀上地為靜妙離而生欣
樂。順決擇分者。即煗頂忍世第一法等。復次
順退分者。隨順煩惱。順住分者。隨順自地。
順勝進分者。隨順上地。順決擇分者。隨順
聖道。此分或作聖行相。或作餘行相而向
聖道趣於解脫。如初靜慮乃至有頂隨應
亦爾。
頗有淨初靜慮。離染故得。離染故捨。退故

得。退故捨。生故得生故捨耶。答有。謂順退分
初靜慮離欲界染時得。離梵世染時捨。起
梵世纏退時得。起欲界纏退時捨。從上地
歿生梵世時得。從梵世歿生欲界時捨。乃
至有頂隨應亦爾。問若欲界沒生第二靜慮。
第二靜慮歿生初靜慮者。彼於初靜慮何
法往歿時捨。還生時不得。何法還生時得。往
沒時不捨。何法往沒時捨。還生時得。何法往
沒時不捨。還生時不得耶。答彼於初靜慮
順勝進分順決擇分往沒時捨。還生時不得。
順退分及生得還生時得。往沒時不捨。順住
分往沒時捨。還生時得。除前相所餘法。往
沒時不捨。還生時不得。問若初靜慮沒生
第二靜慮。第二靜慮沒生初靜慮者。彼於
初靜慮何法往沒時捨。還生時不得。何法還
生時得。往沒時不捨。何法往沒時捨。還生時
得。何法往沒時不捨。還生時不得耶。答彼
於初靜慮。順勝進分。順決擇分。往沒時捨。
還生時不得。順退分還生時得。往沒時不
捨。順住分及生得往沒時捨。還生時得。除
前相所餘法。往沒時不捨。還生時不得。如
初靜慮於第二靜慮如是。乃至無所有處。
於非想非非想處亦爾。如根本地。如是諸
近分地亦應廣說。頗有起第二靜慮纏退。
無漏初靜慮耶。答有。謂無學初靜慮。及上七
地對治學初靜慮等。頗有起第二靜慮纏退。
淨初靜慮耶。答有。謂阿羅漢所修淨初靜慮。
及雜修淨初靜慮等。
若修淨初靜慮。彼亦修無漏耶。乃至廣說。

修有四種。謂得修。習修。對治修。除遣修。此
中前二修。謂有為善法。後二修。謂有漏法。外
國師說。修有六種。謂前四。及防護修。分別
修。防護修者。即是修根。如契經說。若於六
根善調善覆善防善護。善修者能引後樂。分
別修者即是修身。如契經說。於此身中有
髮毛爪齒。乃至廣說。此後二修應知即是對
治修除遣修攝。是故修唯有四。此中依二
修作論。謂得修習修。如餘處說。若修法智
彼亦修類智耶。乃至廣說。彼亦依二修作
論。謂得修習修。餘處復說。若道過去彼道一
切已修已安耶。乃至廣說。彼亦依二修作
論。謂得修習修。如餘處說。若修身彼修戒
耶。乃至廣說。彼依二修作論。謂對治修除
遣修。餘處復說。若修眼根彼修耳根耶。乃
至廣說。彼亦依二修作論。謂對治修除遣
修。如餘處說。若修空三摩地。彼亦修無願
三摩地耶。乃至廣說。餘處復說。若修身念
住。彼亦修受念住耶。乃至廣說。彼亦皆依
二修作論。謂得修習修。如餘處說。若修無
常想。彼思惟無常想耶。乃至廣說。有說。彼
依得修作論。有說。彼依習修作論。有說。
彼依二修作論。謂得修習修。如餘處說。云
何應修法。謂善有為法。此法雖復具四修義。
而彼但依二修作論。謂得修習修。由此義
故應作四句。有法有前二修無後二修。謂
有為無漏法。有法有後二修無前二修。謂
染污無覆無記法。有法具有四修。謂善有漏
法。有法俱無四修。謂無為法。問何故名修。

答遍修故名修。數習故名修。熏故名修。學
故名修。令光淨故名修。應知此中現在
習修所顯。未來得修所顯。復次現在習故名
修。未來得故名修。復次現在受用故名修。
未來引發故名修。復次現在辦事故名修。未
來與欲故名修。復次現在身中故名修。未
來得自在故名修。復次現在現前故名修。
未來成就故名修。問何故已得善法現在前
時不修未來耶。答已衰歇故。已受用故。已
作事故。已與果故。復次已修故。已息故。勢用
減故。復次已得法現前受用時。唯有漸盡
更無餘勢。云何能修未來。如人受用先所
積財。唯有漸減更無增益。復次作功用
起者能修未來。非起曾得法。須作功用
故不修未來。復次若已得法現在前。復能
修未來者。則佛般涅槃時。現起一切靜慮
解脫等持等至。爾時亦應更修未來。如此
則盡智時。應不具得一切功德。云何得名
所作究竟。勿有此過故已得法現在前時。
不修未來諸餘功德。若修淨初靜慮。彼亦
修無漏耶。設修無漏初靜慮。彼亦修淨耶。
答應作四句。有修淨初靜慮。非無漏。謂已
得淨初靜慮現在前。若未得淨初靜慮現在
前。而不修無漏。若未得非初靜慮世俗智
現在前。而修淨初靜慮非無漏。已得淨初
靜慮現在前者。謂異生及聖者。或學或無學。
或聲聞。或獨覺。或如來。或為現法樂住故。
或為觀本所作故。或為遊戲功德故。或為
受用聖財故。起曾得世俗初靜慮現在前

時。彼勢分尚不及自第二剎那。況能修餘
未來功德。然現前位即是習修故。得名修淨
初靜慮。若未得淨初靜慮現在前而不修
無漏者。謂異生離欲界染。若最後解脫道。
起根本初靜慮現在前時。即異生為離初
靜慮染。依初靜慮為加行道時。即異生依
初靜慮引發五通。諸加行道五無間道三解
脫道時。即異生依初靜慮起四無量。初二
解脫。前四勝處。不淨觀。念住。三義觀。煗頂
忍世第一法。有說。亦起持息念時。如是等
時。雖起未曾得淨初靜慮。而不修無漏。若
未得非初靜慮。世俗智現在前而修淨初
靜慮。非無漏者。此中餘地以智名說即未
至定靜慮中間。謂異生離欲界染即依未至
定。起第九解脫道時。即異生為離初靜慮
染。依未至定起加行道時。即異生已離欲
染。依未至定起三無量。初二解脫。前四勝
處。不淨觀。持息念。念住。三義觀時。即異生
為離初靜慮染。依靜慮中間起加行道時。
即異生依靜慮中間起三無量。初二解脫。
前四勝處。不淨觀。持息念。念住。三義觀時。
如是等時。起未曾得非初靜慮世俗智現在
前。而修淨初靜慮非無漏。有修無漏初靜
慮非淨。謂已得無漏初靜慮現在前。若未
得無漏初靜慮現在前。而不修淨。若未得
非初靜慮世俗智。及未得非初靜慮無漏智。
彼現在前而修無漏初靜慮非淨。已得無
漏初靜慮現在前者。謂諸聖者或學。乃至或
如來。或為現法樂住故。乃至或為受用聖

財故。起曾得無漏初靜慮現在前時。彼勢
分尚不及自第二剎那。況能修餘未來功
德。然現前位即是習修故。得名修無漏初靜
慮。若未得無漏初靜慮現在前。而不修淨
者。謂依初靜慮入正性離生。苦集滅現觀
各三心頃。道現觀四心頃。聖者依初靜慮
離初靜慮乃至無所有處染。九無間道。九解
脫道時。及離非想非非想處染。九無間道。八
解脫道時。信勝解依初靜慮練根作見至。
無間道。解脫道時。有說。除解脫道時。以此
時亦修世俗道故。如是說者。爾時唯修無
漏道。以同見道得果故。時解脫阿羅漢。依
初靜慮練根作不動。九無間道。八解脫道
時。於如是時起未曾得無漏。初靜慮現在
前而不修淨。若未得非初靜慮世俗智現
在前。而修無漏初靜慮。非淨者。此中餘地
以智名說即從第二靜慮近分。乃至非想非
非想處。謂聖者以世俗道離初靜慮染。若
即第二靜慮近分為加行。彼加行道。九無間
道。九解脫道時。即聖者依第二靜慮近分
起三無量。初二解脫。前四勝處。不淨觀。持
息念。念住。三義觀時。即聖者依第二靜慮。
為離第二靜慮乃至非想非非想處染。若世
俗為加行。彼加行道時。依第二靜慮。信勝
解練根作見至。時解脫練根作不動。若世俗
為加行。彼加行道時。雜修第二靜慮中間心
時。即聖者依第二靜慮。引發五通諸加行
道。五無間道。二解脫道。及世俗他心智通解
脫道時。即聖者依第二靜慮。起四無量。初

二解脫。前四勝處。不淨觀。世俗念住。三義觀
七處善。有說。亦起持息念時。依第二靜慮
起無礙解。及世俗無礙解增長時。依第二靜
慮。起空空無願無願無相無相。及增長時。即
聖者以世俗道離第二靜慮染。若即第三靜
慮近分為加行。彼加行道。九無間道。九解脫
道時。即聖者依第三靜慮近分。起三無量。
不淨觀。持息念。念住三義觀時。即聖者依第
三靜慮。為離第三靜慮。乃至非想非非想處
染。若世俗為加行。彼加行道時。依第三靜
慮信勝解練根作見至。乃至起空空無願無
願無相無相。及增長時。廣如第二靜慮說。差
別者除解脫勝處喜無量。餘皆如前。即聖者
以世俗道。離第三靜慮染。若即第四靜慮近
分為加行。彼加行道。九無間道。九解脫道
時。即聖者依第四靜慮近分。起三無量。淨
解脫。後四勝處。前八遍處。不淨觀。念住三義
觀時。即聖者依第四靜慮。為離第四靜慮。
乃至非想非非想處染。若世俗為加行。彼加
行道時。依第四靜慮信勝解練根作見至。
時解脫練根作不動。若世俗為加行。彼加行
道時。雜修第四靜慮中間心時。即聖者依
第四靜慮。引發五通諸加行道。五無間道。二
解脫道。及世俗他心智通解脫道時。即聖者
依第四靜慮。起三無量。淨解脫。後四勝處。
前八遍處。不淨觀。世俗念住。三義觀。七處善
時。依第四靜慮。起無礙解。及世俗無礙解
增長時。起無諍願智邊際定。及增長時。依
第四靜慮。起空空無願無願無相無相。及增

長時。即聖者以世俗道。離第四靜慮染。若
即空無邊處近分為加行。彼加行道。九無間
道九解脫道時。即聖者依空無邊處。為離
空無邊處。乃至非想非非想處染。若世俗為
加行。彼加行道時。依空無邊處。時解脫阿羅
漢練根作不動。若世俗為加行。彼加行道
時。即聖者起空無邊處。世俗解脫遍處。世俗
念住時。依空無邊處起二無礙解。及世俗
無礙解增長時。依空無邊處。起空空無願無
願無相無相及增長時。即聖者以世俗道。
離空無邊處染。若即識無邊處近分為加行。
彼加行道。九無間道。九解脫道時。即聖者依
識無邊處。為離識無邊處。乃至非想非非想
處染。若世俗為加行。彼加行道時。餘廣如
空無邊處說。即聖者以世俗道。離識無邊處
染。若即無所有處近分為加行。彼加行道。九
無間道。九解脫道時。即聖者依無所有處。為
離無所有處。及非想非非想處染。若世俗
為加行。彼加行道時。餘亦廣如空無邊處
說。差別者除遍處。即聖者以世俗道。離無
所有處染。若即非想非非想處近分為加行。
彼加行道。九無間道。九解脫道時。即聖者依
非想非非想處。為離非想非非想處染。加行
道時。時解脫阿羅漢練根作不動。以非想非
非想處為加行。彼加行道時。即聖者起非
想非非想解脫念住時。依非想非非想處。起
二無礙解。空空。無願無願。無相無相。及增長
時。起入滅定想微細心時。於如是時起未
曾得。非初靜慮世俗智現在前。而修無漏初

靜慮。非淨及未得非初靜慮無漏智現在
前。而修無漏初靜慮。非淨者此中餘地以智
名說。即從未至定除初靜慮乃至無所有
處。謂已離欲染依未至定入正性離生。道
類智時依未至定離初靜慮。乃至無所有處
染。一切無間解脫道時。離非想非非想處染。
九無間道。八解脫道時。已離欲染信勝解。
依未至定練根作見至。無間解脫道時。時
解脫阿羅漢。依未至定練根作不動。九無
間道。八解脫道時。依靜慮中間入正性離
生。苦集滅現觀。各三心頃。道現觀四心頃。
依靜慮中間。離初靜慮。乃至無所有處染。
一切無間解脫道時。離非想非非想處染。九
無間道。八解脫道時。依靜慮中間信勝解練
根作見至。無間解脫道時。時解脫阿羅漢練
根作不動。九無間道。八解脫道時。依第二
靜慮入正性離生。苦集滅現觀。各三心頃。
道現觀四心頃。依第二靜慮。離第二靜慮。
乃至無所有處染。若無漏為加行。一切加行
無間解脫道時。離非想非非想處染。若無漏
為加行。諸加行道。九無間道。八解脫道時。
依第二靜慮。信勝解練根作見至。若無漏
為加行。彼加行無間解脫道時。時解脫阿羅
漢練根作不動。若無漏為加行。彼加行道。
九無間道。八解脫道時。雜修第二靜慮初後
心時。依第二靜慮起無漏他心智通。無漏
念住。及無漏二無礙解增長時。如依第二靜
慮。如是依第三靜慮。依第四靜慮。廣說亦
爾。差別者即離彼上染。依空無邊處離空

無邊處。乃至無所有處染。若無漏為加行。一
切加行無間解脫道時。離非想非非想處染。
若無漏為加行。彼加行道。九無間道。八解脫
道時。依空無邊處。時解脫阿羅漢練根作不
動。若無漏為加行。彼加行道。九無間道。八
解脫道時。起無漏空無邊處解脫無漏念住。
及無漏二無礙解增長時。如依空無邊處。如
是依識無邊處。依無所有處亦爾。差別者
即離彼上染。於如是時起未曾得。非初靜
慮無漏智現在前。而修無漏初靜慮非淨。
有修淨初靜慮亦無漏。謂未得淨初靜慮
現在前。而修無漏若未得無漏初靜慮現
在前。而修淨若未得非初靜慮世俗智無漏
智彼現在前。而修淨初靜慮及無漏。若未得
淨初靜慮現在前而修無漏者。謂聖者以
世俗道離欲界染。最後起根本地解脫道
時。即聖者依初靜慮為離初靜慮乃至非
想非非想處染。若世俗為加行。彼加行道時
依初靜慮信勝解練根作見至。時解脫練根
作不動。若世俗為加行。彼加行道時。雜修
初靜慮中間心時。即聖者依初靜慮。引發
五通諸加行道。五無間道。二解脫道。及世俗
他心智通解脫道時。即聖者依初靜慮起四
無量。初二解脫。前四勝處。不淨觀。世俗念住。
三義觀。七處善。有說。亦起持息念時。依初
靜慮起無礙解。及世俗無礙解增長時。依
初靜慮起空空無願無願無相無相。及增長
時。於如是時起未曾得。淨初靜慮現在前
而修無漏。若未得無漏初靜慮現在前。而

修淨者。謂依初靜慮入正性離生。苦集滅
現觀各一心頃。若以無漏道離欲界染。最
後起根本地解脫道時。依初靜慮為離初
靜慮。乃至非想非非想處染。若無漏為加行。
彼加行道時。依初靜慮得阿羅漢果。初盡
智起時。依初靜慮信勝解練根作見至。若
無漏為加行。彼加行道時。時解脫阿羅漢練
根作不動。若無漏為加行。彼加行道及最後
解脫道時。雜修初靜慮初後心時。依初靜
慮起無漏他心智通。無漏念住無漏無礙解
增長時。於如是時起未曾得。無漏初靜慮
現在前。而修淨。若未得非初靜慮世俗智
現在前。而修淨初靜慮及無漏者。此中餘地
以智名說。即未至定靜慮中間。謂聖者以
世俗道離欲界染。即依未至定起最後解
脫道時。依未至定為離初靜慮。乃至非想
非非想處染。若世俗為加行。彼加行道時。
依未至定已離欲染。信勝解練根作見至。
時解脫練根作不動。若世俗為加行。彼加行
道時。已離欲染聖者。依未至定起三無量。
初二解脫。前四勝處。不淨觀。持息念。世俗念
住。三義觀。七處善。起無礙解。及世俗無礙
解增長時。起空空無願無願無相無相。及增
長時。即聖者依靜慮中間。為離初靜慮。乃
至非想非非想處染。若世俗為加行。彼加行
道時。依靜慮中間。信勝解練根作見至。時
解脫練根作不動。若世俗為加行。彼加行道
時。即聖者依靜慮中間。起三無量。初二解
脫。前四勝處。不淨觀。持息念。世俗念住。三義

觀。七處善。起無礙解。及世俗無礙解增長時。
起空空無願無願無相無相。及增長時。於如
是時起未曾得。非初靜慮世俗智現在前。
而修淨初靜慮及無漏。及未得非初靜慮無
漏智現在前。而修淨初靜慮及無漏者。此中
餘地以智名說。即從未至定除初靜慮。乃
至無所有處。謂以無漏道離欲界染。即依
未至定起最後解脫道時。依未至定為離
初靜慮。乃至非想非非想處染。若無漏為加
行。彼加行道時。依未至定得阿羅漢果。初
盡智起時。依未至定已離欲染。信勝解練
根作見至。若無漏為加行。彼加行道時。時
解脫練根作不動。若無漏為加行。彼加行
道。及最後解脫道時。已離欲染聖者。依未
至定起無漏念住。及無漏無礙解增長時。
依靜慮中間入正性離生。苦集滅現觀各一
心頃。依靜慮中間為離初靜慮。乃至非想
非非想處染。若無漏為加行。彼加行道時。
依靜慮中間得阿羅漢果。初盡智起時。依
靜慮中間信勝解練根作見至。若無漏為加
行。彼加行道時。時解脫練根作不動。若無漏
為加行。彼加行道。及最後解脫道時。依靜
慮中間起無漏念住。及無漏無礙解增長時。
依第二靜慮入正性離生。苦集滅現觀各一
心頃。依第二靜慮。得阿羅漢果初盡智起
時。依第二靜慮時解脫練根作不動。最後
解脫道時。如說。依第二靜慮。依第三第四
靜慮亦應如是說。依空無邊處得阿羅漢
果。初盡智起時。依空無邊處時解脫練根

作不動。最後解脫道時。如說。依空無邊處。
依識無邊處。無所有處。亦應如是說。於如
是時起未曾得。非初靜慮無漏智現在前。
而修淨初靜慮及無漏。

Việt dịch

QUYỂN 163

LUẬN VỀ DUYÊN (Phần 2)

Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất có bốn loại, đó là thuận phần lui sụt,
thuận phần an trú, thuận phần thắng tiến, thuận phần quyết trạch.
Thuận phần lui sụt, đó là nếu tr ú vào pháp này thì phần nhiều là
lui sụt mất đi. Thuận phần an tr ú, đó là nếu trú vào pháp này thì phần
nhiều là không lui sụt mất đi và cũng không thắng tiến. Thuận phần
thắng tiến, đó là nếu trú vào pháp na øy thì phần nhiều là thắng tiến.
Thuận phần quyết trạch, đó là nếu trú vào pháp này thì phần nhiều có
thể tiến vào Chánh tánh ly sinh.
Lại nữa, thuận phần lui sụt, đó là cùng với các phiền não lấn át-
xen tạp lẫn nhau, phiền não không gián đoạn thì pháp này hiện rõ trước
mắt, pháp này không gián đoạn thì phiền não hiện rõ trước mắt. Thuận
phần an trú, đó là có thể quán xét địa dưới là Thô-Khổ-Chướng mà sinh
ra chán bỏ, có thể quán xét địa mình là Tĩnh-Diệu-Ly mà vui thích an
trú. Thuận phần thắng tiến, đó là có thể quán xét địa mình là Thô-Khổ-
Chướng mà sinh ra chán bỏ, có thể quán xét địa trên là Tĩnh-Diệu-Ly
mà sinh ra vui thích. Thuận phần quyết trạch, tức là Noãn-Đảnh-Nhẫn-
Thế đệ nhất pháp…
Lại nữa, thuận phần lui sụt, đó là tùy thuận với phiền não. Thuận
phần an trú, đó là tùy thuận với đị a mình. Thuận phần thắng tiến, đó
là tùy thuận với địa trên. Thuận pha àn quyết trạch, đó là tùy thuận với
Thánh đạo. Phần này hoặc làm hành tướng Thánh, hoặc làm hành tướng
khác mà hướng về Thánh đạo, tiến vào giải thoát.
Như Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Hữu Đảnh tùy theo thích hợp cũng
như vậy.
Hỏi: Có thể có lúc  Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất, lìa nhiễm mà đạt
được, lìa nhiễm mà rời bỏ, lui sụt mà đạt được, lui sụt mà rời bỏ, sinh ra
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 163 217  
www.daitangkinh.org  
mà đạt được, sinh ra mà rời bỏ chăng?
Đáp: Có, đó là thuận phần lui sụt  của Tĩnh lự thứ nhất, lúc lìa
nhiễm của cõi Dục thì đạt được, lúc lìa nhiễm của cõi Phạm Thế thì rời
bỏ, lúc khởi lên Triền của  cõi Phạm Thế mà lui sụt thì đạt được, lúc
khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt  thì rời bỏ, lúc từ địa trên chết đi
sinh vào cõi Phạm Thế th ì đạt được, lúc từ cõi Phạm Thế chết đi sinh
vào cõi Dục thì rời bỏ; cho đến Hữu Đảnh tùy theo thích hợp cũng như
vậy.
Hỏi: Nếu ở cõi Dục chết đi sinh vào Tĩnh lự thứ hai, ở Tĩnh lự thứ
hai chết đi sinh vào Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy ở Tĩnh lự thứ nhất, pháp
nào lúc chết đi thì rời bỏ, lúc sinh trở lại thì không đạt được? Pháp nào
lúc sinh trở lại thì đạt được, lúc chết đi thì không rời bỏ? Pháp nào lúc
chết đi thì rời bỏ, lúc sinh trở lại th ì đạt được? Pháp nào lúc chết đi thì
không rời bỏ, lúc sinh trở lại thì không đạt được?
Đáp: Lúc ấy ở Tĩnh lự thứ nhất , thuận phần thắng tiến và thuận
phần quyết trạch lúc chết đi thì rời bỏ, lúc sinh trở lại thì không đạt
được; thuận phần lui sụt và do sinh mà được lúc sinh trở lại thì đạt được,
lúc chết đi thì không rời bỏ; thuận phần an trú lúc chết đi thì rời bỏ, lúc
sinh trở lại thì đạt được; trừ ra những tướng trước, còn lại các pháp lúc
chết đi thì không rời bỏ, lúc sinh trở lại thì không đạt được.
Hỏi: Nếu ở Tĩnh lự thứ nhất chết  đi sinh vào Tĩnh lự thứ hai, ở
Tĩnh lự thứ hai chết đi sinh vào Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy ở Tĩnh lự thứ
nhất, pháp nào lúc chết đi thì rời bỏ, lúc sinh trở lại thì không đạt được?
Pháp nào lúc sinh trở lại thì đạt được, lúc chết đi thì không rời bỏ? Pháp
nào lúc chết đi thì rời bỏ, lúc sinh trở lại thì đạt được? Pháp nào lúc chết
đi thì không rời bỏ, lúc sinh trở lại thì không đạt được?
Đáp: Lúc ấy ở Tĩnh lự thứ nhất , thuận phần thắng tiến và thuận
phần quyết trạch lúc chết đi thì rời bỏ, lúc sinh trở lại thì không đạt được;
thuận phần lui sụt lúc sinh trở lại thì đạt được, lúc chết đi thì không rời
bỏ; thuận phần an trú và do sinh mà được lúc chết đi thì rời bỏ, lúc sinh
trở lại thì đạt được; trừ ra những tướng trước, còn lại các pháp lúc chết
đi thì không rời bỏ, lúc sinh trở lại thì không đạt được.
Như Tĩnh lự thứ nhất đối với Tĩnh lự thứ hai, như vậy cho đến Vô
sở hữu xứ đối với Phi tưởng phi phi tưởng xứ, cũng như vậy. Như địa
Căn bản, như vậy các địa Cận phần cũng phải nói rộng ra.
Hỏi: Có thể có lúc khởi lên Triền của Tĩnh lự thứ hai mà lui sụt
Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất chăng?
Đáp: Có, đó là Vô học của Tĩnh lự thứ nhất, và đối trị của bảy địa
218 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
trên-Học của Tĩnh lự thứ nhất…
Hỏi: Có thể có lúc khởi lên Triền của Tĩnh lự thứ hai mà lui sụt
Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất chăng?
Đáp: Có, đó là A-la-hán đã tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất, và tu xen
tạp Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất…
Nếu tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy cũng tu Vô lậu chăng?
Cho đến nói rộng ra.
Tu có bốn loại, đó là tu đạt được, tu luyện tập, tu đối trị, tu loại
bỏ. Trong này, hai loại tu trước gọi là pháp thiện hữu vi, hai loại tu sau
gọi là pháp hữu lậu.
Các Sư nước ngoài nói: “Tu có sáu loại, đó là bốn loại trước, và
tu phòng hộ, tu phân biệt.”
Tu phòng hộ, tức là tu Căn, như trong kinh nói: “Nếu đối với sáu
căn khéo điều phục, khéo che chở, khéo đề phòng, khéo giữ gìn, khéo
tu dưỡng thì có thể dẫn đến niềm vui của đời sau.” Tu phân biệt, tức
là tu Thân, như trong kinh nói: “Ở tr ong thân này có lông-tóc-răng-
móng...”
Hai loại tu sau ở đây nên biết chính là thuộc về tu đối trị và tu loại
bỏ, vì thế cho nên tu chỉ có bốn loại. Trong này dựa vào hai loại tu để
soạn luận, đó là tu đạt được và tu luyện tập.
Như nơi khác nói: “Nếu tu Pháp tr í thì lúc ấy cũng tu Loại trí
chăng? Cho đến nói rộng ra.” Đó là cũng dựa vào hai loại tu mà soạn
luận, gọi là tu đạt được và tu luyện tập.
Nơi khác lại nói: “Nếu đạo quá khứ thì tất cả đạo ấy đã tu-đã an
chăng? Cho đến nói rộng ra.” Đó là cũng dựa vào hai loại tu mà soạn
luận, gọi là tu đạt được và tu luyện tập.
Như nơi khác nói: “Nếu tu Thân thì lúc ấy tu Giới chăng? Cho đến
nói rộng ra.” Đó là dựa vào hai loại tu mà soạn luận, gọi là tu đối trị và
tu loại bỏ.
Nơi khác lại nói: “Nếu tu Nhãn căn thì lúc ấy tu Nhĩ căn chăng?
Cho đến nói rộng ra.” Đó là cũng dựa vào hai loại tu mà soạn luận, gọi
là tu đối trị và tu loại bỏ.
Như nơi khác nói: “Nếu tu Tam-ma-địa Không, thì lúc ấy cũng tu
Tam-ma-địa Vô nguyện chăng? Cho đến nói rộng ra.”
Nơi khác lại nói: “Nếu tu Thân niệm trú, thì lúc ấy cũng tu Thọ
niệm trú chăng? Cho đến nói rộng ra.” Đó là cũng đều dựa vào hai loại
tu mà soạn luận, gọi là tu đạt được và tu luyện tập.
Như nơi khác nói: “Nếu tu Tưởng về Vô thường, thì lúc ấy tư duy
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 163 219  
www.daitangkinh.org  
về Tưởng Vô thường chăng? Cho đến nói rộng ra.” Có người nói: Đó là
dựa vào tu đạt được mà soạn luận. Có người nói: Đó là dựa vào tu luyện
tập mà soạn luận. Có người nói: Đó là dựa vào hai loại tu mà soạn luận,
gọi là tu đạt được và tu luyện tập.
Như nơi khác nói: “Thế nào là pháp nên tu? Đó là pháp thiện hữu
vi.” Pháp này tuy là có đủ nghĩa của bốn loại tu, mà nơi ấy chỉ dựa vào
hai loại tu để soạn luận, đó là tu đạt được và tu luyện tập.
Bởi vì nghĩa này cho nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có pháp có hai loại tu trước mà không có hai loại tu sau, đó là
pháp hữu vi vô lậu.
2. Có pháp có hai loại tu sau mà không có hai loại tu trước, đó là
pháp nhiễm ô-vô phú vô ký.
3. Có pháp có đủ bốn loại tu, đó là pháp thiện hữu lậu.
4. Có pháp không có cả bốn loại tu, đó là pháp Vô vi.
Hỏi: Vì sao gọi là Tu?
Đáp: Tu khắp nơi cho nên gọi là Tu. Thường xuyên luyện tập cho
nên gọi là Tu. Xông ướp cho nên gọi là Tu. Học hỏi cho nên gọi là Tu.
Làm cho trong sáng cho nên gọi là Tu. Nên biết trong này hiện tại là do
Tu luyện tập mà hiển bày, vị lai là do Tu đạt được mà hiển bày.
Lại nữa, hiện tại luyện tập cho nên gọi là Tu, vị lai đạt được cho
nên gọi là Tu.
Lại nữa, hiện tại thọ dụng cho nên gọi là Tu, vị lai dẫn phát cho
nên gọi là Tu.
Lại nữa, hiện tại làm việc cho nên gọi là Tu, vị lai thỏa mãn mong
muốn cho nên gọi là Tu.
Lại nữa, hiện tại ở trong thân cho nên gọi là Tu, vị lai đạt được tự
tại cho nên gọi là Tu.
Lại nữa, hiện tại hiện rõ trước mắt cho nên gọi là Tu, vị lai thành
tựu cho nên gọi là Tu.
Hỏi: Vì sao lúc pháp thiện đã đạt được hiện rõ ở trước mắt thì
không tu vị lai?
Đáp: Bởi vì đã suy yếu, đã t họ dụng, đã làm việc, đã thỏa mãn
mong muốn.
Lại nữa, bởi vì đã tu, đã ngừng, cho nên thế mạnh và tác dụng
không còn.
Lại nữa, lúc pháp đã đạt được hiện rõ trước mắt, thì thọ dụng chỉ
có từ từ hết chứ không còn thế mạnh nào khác, làm sao có thể tu vị lai?
Như người thọ dụng tài sản đã tích lũy trước đây, chỉ có từ từ giảm  bớt
220 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
chứ không có gì tăng thêm.
Lại nữa, làm cho công dụng khởi lên thì có thể tu vị lai, không
phải là khởi lên pháp đã từng đạt được; bởi vì cần phải làm công dụng,
cho nên không tu vị lai.
Lại nữa, nếu pháp đã đạt được hiện rõ ở trước mắt, lại có thể tu vị
lai, thì lúc Đức Phật nhập Niết-bàn, hiện khởi tất cả Tĩnh lự-Giải thoát-
Đẳng trì-Đẳng chí, lúc bấy giờ cũng sẽ tiếp tục tu vị lai. Như vậy thì lúc
Tận trí hiện khởi, sẽ không đạt được đầy đủ tất cả công đức, làm sao có
thể gọi là việc làm đã đến nơi cuối cùng? Bởi vì không có sai lầm này,
cho nên lúc pháp đã đạt được hiện rõ ở trước mắt, không tu các công
đức khác của vị lai.
Hỏi: Nếu tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nha át, thì lúc ấy cũng tu Vô lậu
chăng? Giả sử tu Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc ấy cũng tu Tịnh
chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc tu Tịnh của Tĩnh lự t hứ nhất mà không phải là Vô lậu:
Đó là đã đạt được Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt; hoặc là
chưa đạt được Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt, mà không
tu Vô lậu; hoặc là ch ưa đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất, Thế
tục trí hiện rõ ở trước mắt mà tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất, chứ không
phải là Vô lậu.
Đã đạt được Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt: Đó là
dị sinh và Thánh giả, hoặc là Học, hoặc là Vô học, hoặc là Thanh văn,
hoặc là Độc giác, hoặc là Như Lai,  hoặc là trú trong pháp lạc hiện tại,
hoặc là quán xét những việc làm trước đây, hoặc là dạo chơi trong công
đức, hoặc là thọ dụng Thánh tài, lúc khởi lên Tĩnh lự thứ nhất, Thế tục
đã từng đạt được hiện rõ ở trước ma ét, thế lực ấy hãy còn không sánh
bằng từ sát-na thứ hai, huống là có thể tu công đức vị lai nào khác?
Nhưng bởi vì phần vị hiện rõ trước mắt tức là tu luyện tập, cho nên được
gọi là tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất.
Hoặc là chưa đạt được Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước
mắt, mà không tu Vô lậu: Đó là lúc dị sinh lìa nhiễm của cõi Dục, nếu
cuối cùng là đạo giải thoát, thì khởi  lên Tĩnh lự thứ nhất Căn bản hiện
rõ ở trước mắt.
Ngay lúc dị sinh vì lìa nhiễm của  Tĩnh lự thứ nhất, dựa vào Tĩnh
lự thứ nhất làm đạo gia hạnh. Ngay lúc dị sinh dựa vào Tĩnh lự thứ nhất
dẫn dắt phát khởi năm thần thông, các đạo gia hạnh, năm đạo vô gián,
ba đạo giải thoát. Ngay lúc dị sinh dựa vào Tĩnh lự thứ nhất khởi lên bốn
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 163 221  
www.daitangkinh.org  
Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, quán Bất tịnh, Niệm
trú, ba Nghĩa quán, Noãn-Đảnh-Nhẫn-Thế đệ nhất pháp. Có người nói:
Cũng khởi lên Trì tức niệm.
Những lúc như vậy, tuy khởi lên Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất chưa
từng đạt được, mà không tu Vô lậu.
Hoặc là chưa đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất, Thế tục trí
hiện rõ ở trước mắt mà tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất, chứ không phải là
Vô lậu: Trong này, địa khác dùng tên gọi của Trí mà nói, tức là Định Vị
chí-Tĩnh lự trung gian.
Đó là lúc dị sinh lìa nhiễm của cõi Dục, dựa vào Định Vị chí, khởi
lên đạo giải thoát thứ chín. Ngay lúc dị sinh vì lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ
nhất, dựa vào Định Vị chí khởi lên đa ïo gia hạnh. Ngay lúc dị sinh đã
lìa nhiễm cõi Dục, dựa vào Định Vị chí khởi lên ba Vô lượng, hai Giải
thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, quán  Bất tịnh, Trì tức niệm, Niệm trú,
ba Nghĩa quán. Ngay lúc dị sinh vì lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, dựa
vào Tĩnh lự trung gian khởi lên đạo gia hạnh. Ngay lúc dị sinh dựa vào
Tĩnh lự trung gian khởi lên ba Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng
xứ trước, quán Bất tịnh, Trì tức niệm, Niệm trú, ba Nghĩa quán.
Những lúc như vậy, khởi lên chưa từng đạt được không phải là
Tĩnh lự thứ nhất, Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt, mà tu Tịnh của Tĩnh lự
thứ nhất chứ không phải là Vô lậu.
2. Có lúc tu Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất mà không phải là Tịnh:
Đó là đã đạt được Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt; hoặc
là chưa đạt được Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt, mà
không tu Tịnh; hoặc là chưa đạt được  không phải là Tĩnh lự thứ nhất
thuộc Thế tục trí, và chưa đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất thuộc
Vô lậu trí, lúc ấy hiện rõ ở trước mắt, mà tu Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất
chứ không phải là Tịnh.
Đã đạt được Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt: Đó
là các Thánh giả, hoặc là Học ch o đến hoặc là Như La i, hoặc là trú
trong pháp lạc hiện tại cho đến hoặc là thọ dụng Thánh tài, lúc khởi lên
Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất đã từn g đạt được hiện rõ ở trước mắt, thế
lực ấy hãy còn không sánh bằng từ sa ùt-na thứ hai, huống là có thể tu
công đức vị lai nào khác? Nhưng bởi vì phần vị hiện rõ trước mắt tức là
tu luyện tập, cho nên được gọi là tu Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất.
Hoặc là chưa đạt được Vô lậu c ủa Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở
trước mắt, mà không tu Tịnh: Đó là dựa vào Tĩnh lự thứ nhất mà tiến
vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ-Tập-Diệt đều trong ba tâm,
222 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Hiện quán về Đạo trong bốn tâm.
Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, lúc lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ
nhất cho đến Vô sở hữu xứ, là chín đạo vô gián-chín đạo giải thoát, và
lúc lìa nhiễm của Phi tưởng phi ph i tưởng xứ, là chín đạo vô gián-tám
đạo giải thoát.
Lúc Tín thắng giải dựa vào Tĩnh lự thứ nhất luyện căn làm Kiến
chí, là đạo vô gián-đạo giải thoát. C ó người nói: Trừ ra lúc là đạo giải
thoát, bởi vì lúc này cũng là tu th uộc đạo thế tục. Nói như vậy thì lúc
bấy giờ chỉ là tu thuộc đạo vô lậu, bởi vì cùng Kiến đạo đạt được quả.
Lúc A-la-hán Thời giải thoát dựa vào Tĩnh lự thứ nhất luyện căn
làm Bất động, là chín đạo vô gián-tám đạo giải thoát.
Những lúc như vậy, khởi lên chưa từng đạt được Vô lậu của Tĩnh
lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt, mà không tu Tịnh.
Hoặc là chưa đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất thuộc Thế
tục trí hiện rõ ở trước mắt, mà tu Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất chứ không
phải là Tịnh: Trong này, địa khác dùng tên gọi của Trí mà nói, tức là từ
Cận phần Tĩnh lự thứ hai cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Đó là lúc Thánh giả dùng đạo thế tục để lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ
nhất, nếu ngay Cận phần Tĩnh lự thứ hai làm gia hạnh, thì lúc ấy là chín
đạo vô gián, chín đạo giải thoát.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ hai, khởi lên
ba Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, quán Bất tịnh, Trì
tức niệm, Niệm trú, ba Nghĩa quán.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ hai để lìa nhiễm của Tĩnh
lự thứ hai cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm gia hạnh,
thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Dựa vào Tĩnh lự thứ hai, Tín th ắng giải luyện căn làm Kiến chí,
Thời giải thoát luyện căn làm Ba át động, nếu thế tục làm gia hạnh, thì
lúc ấy là đạo gia hạnh.
Lúc tâm tu xen tạp Tĩnh lự thứ ha i-Tĩnh lự trung gian, ngay lúc
Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ hai dẫn dắt phát khởi năm thần thông,
các đạo gia hạnh, năm đạo vô gián, hai đa ïo giải thoát, và lúc Tha tâm
trí thông thế tục, lúc ấy là đạo giải thoát.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ hai, khởi lên bốn Vô
lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, quán Bất tịnh, Niệm trú
thế tục, ba Nghĩa quán, bảy Xứ thiện. Có người nói: Cũng khởi lên Trì
tức niệm.
Lúc dựa vào Tĩnh lự thứ hai, khởi lên Vô ngại giải, và lúc tăng
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 163 223  
www.daitangkinh.org  
trưởng Vô ngại giải thế tục; lúc dựa vào Tĩnh lự thứ hai, khởi lên
Không Không- Vô nguyện Vô nguyện-Vô tướng Vô tướng, và lúc tăng
trưởng.
Ngay lúc Thánh giả dùng đạo thế tục để lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ
hai, nếu ngay Cận phần Tĩnh lự thứ ba làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo
gia hạnh, chín đạo vô gián, chín đạo giải thoát.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ ba, khởi lên ba
Vô lượng, quán Bất tịnh, Trì tức niệm, Niệm trú, ba Nghĩa quán.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ ba để lìa nhiễm của Tĩnh
lự thứ ba cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm gia hạnh,
thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Dựa vào Tĩnh lự thứ ba, Tín tha éng giải luyện căn làm Kiến chí,
cho đến lúc khởi lên Không Không- Vô nguyện Vô nguyện-Vô tướng
Vô tướng, và lúc tăng trưởng. Nói rộng ra như Tĩnh lự thứ hai. Sai biệt
là trừ ra Giải thoát-Thắng xứ và Hỷ vô lượng, còn lại đều như trước.
Ngay lúc Thánh giả dùng đạo thế tục để lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ
ba, nếu ngay Cận phần Tĩnh lự thứ tư làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia
hạnh, chín đạo vô gián, chín đạo giải thoát.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ tư, khởi lên ba
Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Tha éng xứ sau, tám Biến xứ trước, quán
Bất tịnh, Niệm trú, ba Nghĩa quán.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ tư để lìa nhiễm của Tĩnh
lự thứ tư cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm gia hạnh,
thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Dựa vào Tĩnh lự thứ tư, Tín th ắng giải luyện căn làm Kiến chí,
Thời giải thoát luyện căn làm Ba át động, nếu thế tục làm gia hạnh, thì
lúc ấy là đạo gia hạnh.
Lúc tâm tu xen tạp Tĩnh lự thứ tư-Tĩnh lự trung gian, ngay lúc
Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ tư dẫn dắt phát khởi năm thần thông, các
đạo gia hạnh, năm đạo vô gián, hai đạo giải thoát, và lúc Tha tâm trí
thông thế tục, lúc ấy là đạo giải thoát.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ tư, khởi lên ba Vô lượng,
Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, quán Bất tịnh,
Niệm trú thế tục, ba Nghĩa quán, bảy Xứ thiện.
Lúc dựa vào Tĩnh lự thứ tư, khởi lên Vô ngại giải, và lúc tăng
trưởng Vô ngại giải thế tục; khởi lên Nguyện trí-Vô tranh-Định Biên tế,
và lúc tăng trưởng; lúc dựa vào Tĩnh lự thứ tư, khởi lên Không Không-
Vô nguyện Vô nguyện-Vô tướng Vô tướng, và lúc tăng trưởng.
224 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Ngay lúc Thánh giả dùng đạo thế tục để lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ
tư, nếu ngay Cận phần Không vô biên xứ làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo
gia hạnh, chín đạo vô gián, chín đạo giải thoát. Ngay lúc Thánh giả
dựa vào Không vô biên xứ để lìa nhiễm của Không vô biên xứ cho đến
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo
gia hạnh.
Dựa vào Không vô biên xứ, A-la-hán Thời giải thoát luyện căn
làm Bất động, nếu thế tục làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Ngay lúc Thánh giả khởi lên Không vô biên xứ, Giải thoát-Biến
xứ thế tục, Niệm trú thế tục; lúc  dựa vào Không vô biên xứ, khởi lên
hai Vô ngại giải, và l úc tăng trưởng Vô ngại giả i thế tục; lúc dựa vào
Không vô biên xứ, khởi lên Không Không-Vô nguyện Vô nguyện-Vô
tướng Vô tướng, và lúc tăng trưởng.
Ngay lúc Thánh giả dùng đạo thế tục để lìa nhiễm của Không vô
biên xứ, nếu ngay Cận phần Thức vô biên xứ làm gia hạnh, thì lúc ấy là
đạo gia hạnh, chín đạo vô gián, chín đạo giải thoát.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào T hức vô biên xứ để lìa nhiễm của
Thức vô biên xứ cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm
gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh . Còn lại nói rộng ra như Không vô
biên xứ.
Ngay lúc Thánh giả dùng đạo thế tục để lìa nhiễm của Thức vô
biên xứ, nếu ngay Cận phần Vô sở hữu xứ làm gia hạnh, thì lúc ấy là
đạo gia hạnh, chín đạo vô gián, chín đạo giải thoát.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào V ô sở hữu xứ để lìa nhiễm của Vô
sở hữu xứ cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm gia hạnh,
thì lúc ấy là đạo gia hạnh. Còn lại cũng nói rộng ra như Không vô biên
xứ, sai biệt là trừ ra Biến xứ.
Ngay lúc Thánh giả dùng đạo thế tục để lìa nhiễm của Vô sở hữu
xứ, nếu ngay Cận phần Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm gia hạnh, thì lúc
ấy là đạo gia hạnh, chín đạo vô gián, chín đạo giải thoát.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ để lìa
nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
A-la-hán Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, dùng Phi tưởng
phi phi tưởng xứ làm gia hạnh, lúc ấy là đạo gia hạnh.
Ngay lúc Thánh giả khởi l ên Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Giải
thoát-Tiệm trú; dựa vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, lúc khởi lên hai Vô
ngại giải, Không Không- Vô nguyện Vô nguyện-Vô tướng Vô tướng,
và lúc tăng trưởng. Lúc khởi tâm tiến vào Định Diệt tận-Tưởng vi tế.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 163 225  
www.daitangkinh.org  
Những lúc như vậy, khởi lên chưa từng đạt được không phải là
Tĩnh lự thứ nhất, Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt, mà tu Vô lậu của Tĩnh
lự thứ nhất chứ không phải là Tịnh.
Và chưa đạt được không phải là Tĩ nh lự thứ nhất, Vô lậu trí hiện
rõ ở trước mắt, mà tu Vô lậu của  Tĩnh lự thứ nhất chứ không phải là
Tịnh: Trong này, địa khác dùng tên gọi c ủa Trí mà nói, tức là từ Định
Vị chí trừ ra Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Vô sở hữu xứ.
Đó là đã lìa nhiễm cõi Dục, dựa vào Định Vị chí tiến vào Chánh
tánh ly sinh, lúc ấy là đạo loại tr í. Dựa vào Định Vị  chí lìa nhiễm của
Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Vô sở hữu xứ, lúc ấy là tất cả đạo vô gián-giải
thoát. Lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, lúc ấy là chín đạo vô
gián, tám đạo giải thoát.
Đã lìa nhiễm cõi Dục, Tín tha éng giải dựa vào Định Vị chí luyện
căn làm Kiến chí, lúc ấy là đạo vô gián-giải thoát.
A-la-hán Thời giải thoát dựa vào Định Vị chí luyện căn làm Bất
động, lúc ấy là chín đạo vô gián, tám đạo giải thoát.
Dựa vào Tĩnh lự trung gian ti ến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện
quán về Khổ-Tập-Diệt đều trong ba tâm, Hiện quán về Đạo trong bốn
tâm. Dựa vào Tĩnh lự trung gian, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất cho đến
Vô sở hữu xứ, lúc ấy tất cả là đạo vô gián-giải thoát. Lìa nhiễm của Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, lúc ấy là chín đạo vô gián, tám đạo giải thoát.
Dựa vào Tĩnh lự trung gian, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến
chí, lúc ấy là đạo vô gián-giải thoát.
A-la-hán Thời giải thoát luyện ca ên làm Bất động, lúc ấy là chín
đạo vô gián, tám đạo giải thoát.
Dựa vào Tĩnh lự thứ hai tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán
về Khổ-Tập-Diệt đều trong ba tâm, Hiện quán về Đạo trong bốn tâm.
Dựa vào Tĩnh lự thứ hai, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai cho đến Vô sở
hữu xứ, nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy tất cả là đạo gia hạnh-vô
gián-giải thoát. Lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu vô lậu
làm gia hạnh, thì lúc ấy là các đạo gia hạnh, chín đạo vô gián, tám đạo
giải thoát.
Dựa vào Tĩnh lự thứ hai, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí,
nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
A-la-hán Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, nếu vô lậu làm
gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia ha ïnh, chín đạo vô gián, tám đạo giải
thoát.
Lúc tâm đầu và sau tu xen tạp Tĩnh lự thứ hai; lúc dựa vào Tĩnh lự
226 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
thứ hai khởi lên Tha tâm trí thông vô lậu, Niệm trú vô lậu, và lúc tăng
trưởng hai Vô ngại giải vô lậu.
Như dựa vào Tĩnh lự thứ hai, như vậy dựa vào Tĩnh lự thứ ba, dựa
vào Tĩnh lự thứ tư, nói rộng ra cũn g như vậy, sai biệt là lìa nhiễm của
địa trên.
Dựa vào Không vô biên xứ, lìa nhiễm của Không vô biên xứ cho
đến Vô sở hữu xứ, nếu ô lậu làm gia hạnh, th ì lúc ấy tất cả là đạo gia
hạnh-vô gián-giải thoát. Lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu
vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy là đa ïo gia hạnh, chín đạo vô gián, tám
đạo giải thoát.
Dựa vào Không vô biên xứ, A-la-hán Thời giải thoát luyện căn
làm Bất động, nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh, chín
đạo vô gián, tám đạo giải thoát.
Lúc khởi lên Không vô biên xứ vô  lậu, Giải thoát, Niệm trú vô
lậu, và lúc tăng trưởng hai Vô ngại giải vô lậu.
Như dựa vào Không vô biên xứ, n hư vậy dựa vào Thức vô biên
xứ, dựa vào Vô sở hữu xứ cũng như vậy, sai biệt là lìa nhiễm của địa
trên.
Những lúc như vậy, khởi lên chưa từng đạt được không phải là
Tĩnh lự thứ nhất, Vô lậu trí hiện rõ ở trước mắt, mà tu Vô lậu của Tĩnh
lự thứ nhất chứ không phải là Tịnh.
3. Có lúc tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất cũng là Vô lậu: Đó là chưa
đạt được Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất hi ện rõ ở trước mắt, mà tu Vô lậu;
hoặc là chưa đạt được Vô lậu của Tĩnh lự thứ nha át hiện rõ ở trước mắt
mà tu Tịnh; hoặc là chưa đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất, Thế
tục trí-Vô lậu trí lúc ấy hiện rõ ở trước mắt, mà tu Tịnh của Tĩnh lự thứ
nhất và Vô lậu.
Hoặc là chưa đạt được Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước
mắt mà tu Vô lậu: Đó là lúc Thánh giả dùng đạo thế tục lìa nhiễm của
cõi Dục, lúc đầu khởi lên là đạo giải thoát của địa Căn bản.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Tĩ nh lự thứ nhất để lìa nhiễm của
Tĩnh lự thứ nhất cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm gia
hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí,
Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, nếu thế tục làm gia hạnh, thì
lúc ấy là đạo gia hạnh.
Lúc tâm tu xen tạp Tĩnh lự thứ nhất-Tĩnh lự trung gian, ngay lúc
Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ nhất dẫn dắt phát khởi năm thần thông,
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 163 227  
www.daitangkinh.org  
các đạo gia hạnh, năm đạo vô gián, hai đạo giải thoát, và lúc Tha tâm
trí thông thế tục, lúc ấy là đạo giải thoát.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, khởi lên bốn Vô
lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, quán Bất tịnh, Niệm trú
thế tục, ba Nghĩa quán, bảy Xứ th iện. Có người nói: Lúc ấy cũng khởi
lên Trì tức niệm.
Dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, lúc khởi  lên Vô ngại giải, và lúc tăng
trưởng Vô ngại giải thế tục; dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, lúc khởi lên
Không Không- Vô nguyện Vô nguyện-Vô tướng Vô tướng, và lúc tăng
trưởng.
Những lúc như vậy, khởi lên chưa từng đạt được Tịnh của Tĩnh lự
thứ nhất hiện rõ ở trước mắt mà tu Vô lậu.
Hoặc là chưa đạt được Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước
mắt mà tu Tịnh: Đó là dựa vào Tĩnh lự thứ nhất tiến vào Chánh tánh ly
sinh, Hiện quán về Khổ-Tập-Diệt đều trong một tâm. Nếu dùng đạo vô
lậu lìa nhiễm của cõi Dục, lúc cuối cùng khởi lên là đạo giải thoát của
địa Căn bản.
Dựa vào Tĩnh lự thứ nhất để lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, cho
đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy là
đạo gia hạnh.
Dựa vào Tĩnh lự thứ nhất đạt được  quả A-la-hán, lúc Tận trí bắt
đầu khởi lên.
Dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí,
nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
A-la-hán Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, nếu vô lậu làm
gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh và cuối cùng là đạo giải thoát.
Lúc tâm đầu và sau tu xen tạp Tĩnh lự thứ nhất; lúc dựa vào Tĩnh
lự thứ nhất khởi lên Tha tâm trí thông vô lậu, Niệm trú vô lậu, và lúc
tăng trưởng Vô ngại giải vô lậu.
Những lúc như vậy, khởi lên chưa từng đạt được Vô lậu của Tĩnh
lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt mà tu Tịnh.
Hoặc là chưa đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất, Thế tục trí
hiện rõ ở trước mắt, mà tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất và Vô lậu: Trong
này, địa khác dùng tên gọi của Trí mà nói, tức là Định Vị chí và Tĩnh
lự trung gian.
Đó là Thánh giả dùng đạo thế tục lìa nhiễm của cõi Dục, ngay lúc
dựa vào Định Vị chí khởi lên đạo giải thoát cuối cùng.
Dựa vào Định Vị chí để lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, cho   đến
228 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo
gia hạnh.
Dựa vào Định Vị chí đã lìa nhiễm cõi Dục, Tín thắng giải luyện
căn làm Kiến chí, Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, nếu thế tục
làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Đã lìa nhiễm cõi Dục, Thánh giả  dựa vào Định Vị chí, khởi lên
ba Vô lượng, hai Giải thoát đa àu, bốn Thắng xứ trước, quán Bất tịnh,
Trì tức niệm, Niệm trú thế tục, ba  Nghĩa quán, bảy Xứ thiện; lúc khởi
lên Vô ngại giải, và lúc tăng trưởng V ô ngại giải thế tục; lúc khởi lên
Không Không- Vô nguyện Vô nguyện-Vô tướng Vô tướng, và lúc tăng
trưởng.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Tĩnh lự trung gian, để lìa nhiễm của
Tĩnh lự thứ nhất cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu thế tục làm gia
hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh
Dựa vào Tĩnh lự trung gian, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến
chí, Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, nếu thế tục làm gia hạnh,
thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Ngay lúc Thánh giả dựa vào Tĩ nh lự trung gian, khởi lên ba Vô
lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, quán Bất tịnh, Trì tức
niệm, Niệm trú thế tục, ba Nghĩa qua ùn, bảy Xứ thiện; lúc khởi lên
Vô ngại giải, và lúc tăng trưởng V ô ngại giải thế tục; lúc khởi lên
Không Không- Vô nguyện Vô nguyện-Vô tướng Vô tướng, và lúc tăng
trưởng.
Những lúc như vậy, khởi lên chưa từng đạt được không phải là
Tĩnh lự thứ nhất, Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt, mà tu Tịnh của Tĩnh lự
thứ nhất và Vô lậu.
Và chưa đạt được không phải là Tĩ nh lự thứ nhất, Vô lậu trí hiện
rõ ở trước mắt, mà tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất và Vô lậu: Trong này,
địa khác dùng tên gọi của Trí mà nói, tức là từ Định Vị chí trừ ra Tĩnh
lự thứ nhất, cho đến Vô sở hữu xứ.
Đó là dùng đạo vô lậu lìa nhiễm của cõi Dục, ngay lúc dựa vào
Định Vị chí khởi lên đạo giải thoát cuối cùng.
Dựa vào Định Vị chí để lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, cho đến
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo
gia hạnh. Dựa vào Định Vị chí đạt được quả A-la-hán, lu ùc Tận trí bắt
đầu khởi lên. Dựa vào Định Vị chí đã lìa nhiễm cõi Dục, Tín thắng giải
luyện căn làm Kiến chí, nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia
hạnh. Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, nếu vô lậu làm gia hạnh,
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 163 229  
www.daitangkinh.org  
thì lúc ấy là đạo gia hạnh và cuối cùng là đạo giải thoát.
Đã lìa nhiễm cõi Dục, Thánh giả dựa vào Định Vị chí, lúc khởi lên
Niệm trú vô lậu, và lúc tăng trưởng Vô ngại giải vô lậu.
Dựa vào Tĩnh lự trung gian ti ến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện
quán về Khổ-Tập-Diệt đều trong một tâm. Dựa vào Tĩnh lự trung gian
để lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất , cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh. Dựa vào Tĩnh lự
trung gian đạt được quả A-la-hán, lúc Tận trí bắt đầu khởi lên. Dựa vào
Tĩnh lự trung gian, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, nếu vô lậu
làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh. Thời giải thoát luyện căn làm
Bất động, nếu vô lậu làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh và cuối
cùng là đạo giải thoát . Dựa vào Tĩnh lự trung gian, khởi lên Niệm trú
vô lậu, và lúc tăng trưởng Vô ngại giải vô lậu.
Dựa vào Tĩnh lự thứ hai tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán
về Khổ-Tập-Diệt đều trong một tâm. Dựa vào Tĩnh lự thứ hai đạt được
quả A-la-hán, lúc Tận trí bắt đầu khởi lên. Dựa vào Tĩnh lự thứ hai,
Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, lúc ấy cuối cùng là đạo giải
thoát.
Như nói dựa vào Tĩnh lự thứ hai,  dựa vào Tĩnh lự thứ ba-thứ tư
cũng nên nói như vậy.
Dựa vào Không vô biên xứ đạt được quả A-la-hán, lúc Tận trí bắt
đầu khởi lên. Dựa vào Không vô biên xứ, Thời giải thoát luyện căn làm
Bất động, lúc ấy cuối cùng là đạo giải thoát.
Như nói dựa vào Không vô biên xứ, dựa vào Thức vô biên xứ, Vô
sở hữu xứ, cũng nên nói như vậy.
Những lúc như vậy, khởi lên chưa từng đạt được không phải là
Tĩnh lự thứ nhất, Vô lậu trí hiện rõ ở trước mắt, mà tu Tịnh của Tĩnh lự
thứ nhất và Vô lậu.


„
230 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

QUYỂM 164

LUẬN VỀ DUYÊN (Phần 3)

4. Có lúc không tu Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất cũng không phải là
Vô lậu, đó là đã đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất, Thế tục trí-Vô
lậu trí hiện rõ ở trước mắt; hoặc là chưa đạt được không phải là Tĩnh lự
thứ nhất, Thế tục trí-Vô lậu trí lúc ấy hiện rõ ở trước mắt, mà không tu
Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất và Vô lậu; hoặc là tất cả tâm nhiễm ô-tâm vô
ký hiện rõ ở trước mắt; hoặc là trú trong Định Vô tưởng-Định Diệt tận,
sinh ở cõi trời Vô tưởng.
Đã đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất, Thế tục trí hiện rõ ở
trước mắt: Trong này, địa khác dùng tên gọi của Trí mà nói, tức là từ
cõi Dục-Định Vị chí trừ ra Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Phi tưởng phi phi
tưởng xứ. Đó là lúc công đức thế tục đã từng đạt được của các địa này
hiện rõ ở trước mắt, thế lực ấy hãy còn không sánh bằng từ sát-na thứ
hai, huống là có thể tu công đức vị lai nào khác? Lại không phải là Tĩnh
lự thứ nhất, cho nên đối với Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất đều không
có nghĩa của tu.
Đã đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất, Vô lậu trí hiện rõ ở
trước mắt: Trong này, địa khác cũng dùng tên gọi của Trí mà nói, tức là
từ Định Vị chí trừ ra Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Vô sở hữu xứ. Đó là lúc
công đức vô lậu đã từng đạt được của  các địa này hiện rõ ở trước mắt,
thế lực ấy hãy còn không sánh bằng từ sát-na thứ hai, huống là có thể
tu công đức vị lai nào khác? Lại không phải là Tĩnh lự thứ nhất, cho nên
đối với Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất đều không có nghĩa của tu.
Hoặc là chưa đạt được không phải là Tĩnh lự thứ nhất, Thế tục trí
hiện rõ ở trước mắt, mà không tu Tịnh c ủa Tĩnh lự thứ nhất và Vô lậu:
Trong này, địa khác cũng dùng tên gọi của Trí mà nói, tức là từ cõi Dục-
Định Vị chí trừ ra Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt