A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 169
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
頗有成就味相應四靜慮非淨非無漏耶。 答有。謂欲愛未盡。彼於四靜慮所有善法 皆未得故。無淨無漏即以此故成就味相應 四靜慮。頗有成就淨四靜慮非味相應非 無漏耶。答有。謂異生生欲界梵世色愛盡。 異生故無無漏色愛盡故無味相應。生欲 界梵世色愛盡故成就淨四靜慮。頗有成 就無漏四靜慮非味相應非淨耶。答有。謂 聖者生無色界。以聖者生彼故成就無漏 四靜慮。即以生彼處故無味相應淨。問若 色愛盡依未至定初靜慮靜慮中間入正性 離生。或練根作見至。彼得果已不起勝果 道。命終生無色界。彼皆不成就無漏上三 靜慮。何故說四耶。答有說。此依漸次得果 者說不依餘故。有說。彼入正性離生者 得不還果已。必起勝果道修無漏四靜慮 然後生上。若不爾者應有聖者生廣果以 上不成就樂根。若爾便違十門所說。其信 勝解練根作見至者。有說。彼得果已亦必 起勝果道如前說。修無漏四靜慮然後命 終生無色界。有說。彼練根時即亦修上無 漏靜慮是故無過。 頗有成就淨無漏四靜慮非味相應耶。答 有。謂聖者生欲界梵世色愛盡。問若色愛盡 依未至定入正性離生。十五心頃不成就 無漏靜慮。至道類智但成就一即彼乃至。 依第三靜慮入正性離生。十六心頃但成 就三何故說四耶。答有說。此中依漸次得 果離染者說。有說。彼得果已不久必起勝 果道現前修上無漏。是故於十六心時雖 未成就。必當得故亦說成就頗有成就餘 二或三耶。答無謂成就味相應四靜慮者。 必不成就四淨四無漏故。頗有不成就味 相應四靜慮非淨非無漏耶。答有。謂聖者 生欲界梵世色愛盡。此如前成就中第六句 釋。頗有不成就淨四靜慮非味相應非無 漏耶。答無。頗有不成就無漏四靜慮。非味 相應非淨耶。答無。此皆如前成就中所無 第四第五句釋。頗有不成就味相應淨四靜 慮非無漏耶。答有。謂聖者生無色界。此如 前成就中第三句釋。頗有不成就味相應無 漏四靜慮非淨耶。答有。謂異生生欲界梵 世色愛盡。此如前成就中第二句釋。頗有 不成就淨無漏四靜慮非味相應耶。答有。 謂欲愛未盡。此如前成就中初句釋。頗有 不成就味相應淨無漏四靜慮耶。答有。謂 異生生無色界。異生故無無漏四靜慮。生 無色界故無味淨四靜慮。 頗有成就味相應四無色非淨非無漏耶。 答有。謂色愛未盡彼於四無色所有善法皆 未得故。無淨無漏即以此故成就味相應四 無色。頗有成就淨無漏四無色非味相應 耶。答有。謂生欲色界空無邊處阿羅漢。阿 羅漢故無味相應。生彼地故具成就四淨 三無漏。頗有成就餘耶。答無。此中無第 二句唯成就四淨者。以必有無漏味隨一 或俱故無第三句。唯成就三無漏者以必 有淨故無第四句。成就四味淨非無漏及 無第五句。成就四味三無漏非淨者。以成 就四味時必不成就四淨或三無漏故。即 由此義無第七句。頗有不成就味相應四 無色非淨非無漏耶。答有。謂生欲色界空 無邊處阿羅漢。此如前成就中第六句釋。頗 有不成就淨無漏四無色非味相應耶。答 有。謂色愛未盡。此如前成就中初句釋。頗 有不成就餘耶。答無。此中無唯不成就四 淨者。以彼必亦不成就無漏故。無唯不 成就三無漏者。如成就中所無第四句釋。 無不成就四味淨非無漏者。如成就中。所無 第三句釋。無不成就四味三無漏非淨者。如 成就中所無第二句釋。無一切皆不成就者。 以於三中隨一或二必成就故。於此靜慮 無色成就不成就中。具成就者名成就。具不 成就者名非成就。及具不成就者名不成就。 具成就者名非不成就應知。 頗有得味相應四靜慮非淨非無漏耶。答 有。謂色愛盡起欲界。纏退時。若無色界歿 生欲界時。此中退者通異生及聖者。或學 或無學起彼纏時。具得四味非淨無漏。生 者。唯異生於結生時具得四味非淨無漏。 頗有得無漏四靜慮非味相應非淨耶。答 有。謂依第四靜慮入正性離生。若得阿羅 漢果時。此中入正性離生時者。謂苦法忍 起時。爾時無漏。四靜慮先無。而得非味非 淨。得阿羅漢果時者。謂盡智起時。爾時無 漏四靜慮皆捨。而得非味非淨。雖淨四靜 慮。爾時亦有得者。然其種類先有不捨。今 但更得少分。於淨四靜慮無一名得。何況 四耶。是故說非味非淨。有說。此依生無色 界得阿羅漢果者說。問學練根時亦有於 無漏四靜慮皆捨而得。何故不說耶。答應 說而不說者。當知此義有餘。有說。此中略 舉初後以顯中間。故不具說。有說。彼所捨 所得俱是學類。非全別類。是以不說。由此 亦不說無學練根。頗有得餘耶。答無。此中 無第二句。唯得四淨及無第六句。得四淨 無漏非味者。無有俱時得四淨故。問依第 四靜慮見道三類智時。及得阿羅漢果時。豈 非具得四淨及無漏耶。何故不說。答彼 於爾時於淨四靜慮皆先得不捨。今雖更 得少分。猶於淨四靜慮無一名得。況復四 耶。是故不說。無第四句。得四味淨非無 漏。及無第五句。得四味無漏。非淨者。以 得四味時必不得四淨或四無漏故。即由 此義亦無第七句。頗有捨味相應四靜慮。 非淨非無漏耶。答無。無有俱時離四地 染故。頗有捨淨四靜慮。非味相應。非無 漏耶。答有。謂異生遍淨愛盡。起欲界纏退 時。若欲界梵世歿生無色界時。此中生無 色界通異生及聖者。頗有捨淨無漏四靜 慮。非味相應耶。答有。謂聖者遍淨愛盡。起 欲界纏退時。頗有捨餘耶。答無。此中無第 三句。唯捨四無漏者。以退捨時或非全捨 故。或彼時還得故。或兼捨淨故。得果捨時 還即得故。無第四第五第七句者。無有俱 時斷四味故。頗有得味相應四無色。非淨 非無漏耶。答有。謂阿羅漢起欲色界纏退 時。爾時具得四味非淨無漏。頗有得無漏 三無色。非味相應非淨耶。答有。謂得阿羅 漢果時。如前靜慮中釋。頗有得餘耶。答無。 此中無第二句。唯得四淨者。無有俱時得 四淨故。無第四第五第七句者。以得四 味時必不得四淨三無漏故無第六句。得 四淨三無漏非味相應者。以於得三無 漏時。雖亦少分得淨。而不名得故。具如前 釋。頗有捨味相應四無色。非淨非無漏耶。 答無。以無俱時離四地染故。頗有捨淨四 無色。非味相應。非無漏耶。答有。謂異生無 所有處愛盡。起欲色界纏退時。頗有捨淨 無漏四無色。非味相應耶。答有。謂聖者無 所有處愛盡。起欲色界纏退時。頗有捨餘 耶。答無。此中無第三句。唯捨三無漏者。如 靜慮中說。無第四第五第七句者。以無俱 時斷四味故。於此靜慮無色得及捨中。全 得者名得。全不得者名非得。全捨者名捨。 全不捨者名非捨。應知。 頗有退味相應四靜慮。非淨非無漏耶。答 無。以於功德法有退非於過失法故。亦 無俱時捨四味故。頗有退淨四靜慮非味 相應。非無漏耶。答有。謂異生遍淨愛盡。起 欲界纏退時。頗有退淨無漏四靜慮。非味 相應耶。答有。謂聖者遍淨愛盡。起欲界纏 退時。頗有退餘耶。答無。此中無第三句。唯 退無漏四靜慮者。或與淨俱退故。或不全 退故。或退時還得彼地故。無第四第五第 七句者於味無退故。無唯退四無漏故。頗 有退味相應四無色。非淨非無漏耶。答無。 如前說。頗有退淨四無色。非味相應非無 漏耶。答有。謂異生無所有處愛盡。起欲色 界纏退時。頗有退淨無漏四無色。非味相 應耶。答有。謂聖者無所有處愛盡。起欲色 界纏退時。頗有退餘耶。答無。此中無第三 句。唯退無漏三無色者。或與淨俱退故。或 非全退故。無第四第五第七句者。如靜慮 中說。 問頗有退無漏靜慮。非淨耶。答有。謂學者 起無色纏退時。爾時退彼對治無漏靜慮 非淨故。問頗有不起無色纏。而退無漏靜 慮非淨耶。答有。謂無學練根未至第九解脫 道位。不起煩惱而退所得。無間解脫道時。 問頗有不起纏而退無漏靜慮非淨耶。答 有。即前所說。及學練根未至見至位不起煩 惱而退。所得無間解脫道時。問頗有退七 地所攝無漏功德。而非淨耶。答有。謂少分 離非想非非想處染。還起彼地所斷品纏 退時。問頗有唯捨無漏靜慮而得淨無漏 耶。答有。謂得阿羅漢果時。問頗有捨淨無 漏靜慮。唯得無漏耶。答有。謂阿羅漢起無 色纏退時。問頗有無漏靜慮與淨俱時得而 別捨耶。答有。謂得阿羅漢果。及依靜慮得 不還果。并學者練根時。問頗有淨靜慮與 無漏俱時得而別捨耶。答有。謂聖者離自 地染。及生上地時。問頗有淨無漏靜慮別時 得俱時捨耶。答有。謂聖者離自地染起下 地纏退時。問頗有淨無漏靜慮俱時得俱時 捨耶。答有。謂聖者已離下地染起下地纏 退時。如問靜慮。如是無色亦應准問。 復次如前所說等至。略有二十三種。謂靜慮 有十二。即四味相應四淨四無漏。無色有十 一即四味相應四淨三無漏。此二十三若廣 建立成六十五等至。謂前二十三加四無量。 四無礙解。八解脫。八勝處。十遍處。六通。無 諍願智所依。問此六十五幾唯緣自地。幾唯 緣下地。幾緣自地及下地。幾緣自地及上 地。幾緣一切地。答十等至唯緣自地。謂八 味相應。及空識無邊處遍處。二十四等至唯 緣下地。謂四無量。初三解脫。八勝處。前八 遍處。及無諍。或有欲令無諍緣欲色界者。 除無諍。七等至緣自地及下地。謂法詞二無 礙解。五通所依。九等至緣自地及上地。謂淨 無漏三無色。及下三無色解脫。此依緣有漏 者說。十二等至緣一切地。謂淨無漏四靜慮 義辯二無礙解漏盡通願智所依。此亦但依 緣有漏者說。若通依緣無漏者說。則有二 十三等至緣一切地。謂即前十二加十一無 色。謂淨無漏無色及無色解脫。 問若等至隨以何味相應靜慮為因。即以 彼為等無間耶。設等至隨以何味相應靜 慮為等無間。即以彼為因耶。答諸等至隨 以彼味相應靜慮為因。亦即以彼為等無 間。有等至以彼味相應靜慮為等無間。而 不以彼為因。於中若等至以味相應初靜 慮為等無間。而不以彼為因者有十六。謂 淨初靜慮。四無量。初二解脫。前四勝處。五通 所依。若等至以味相應第二靜慮為等無 間。而不以彼為因者有十七。謂淨第二靜 慮。四無量。初二解脫。前四勝處。五通所依。 及淨初靜慮。若等至以味相應第三靜慮為 等無間。而不以彼為因者有十。謂淨第三 靜慮。三無量。五通所依。及淨第二靜慮。若 等至以味相應第四靜慮為等無間。而不 以彼為因者有二十三。謂淨第四靜慮。三 無量。淨解脫。後四勝處。前八遍處。五通所 依。及淨第三靜慮。 問若等至隨以何味相應無色為因。即以 彼為等無間耶。設等至隨以何味相應無 色為等無間。即以彼為因耶。答諸等至隨 以彼味相應無色為因。亦即以彼為等無 間。有等至以彼味相應無色為等無間。而 不以彼為因。於中若等至以味相應空無 邊處為等無間。而不以彼為因者有四。謂 淨空無邊處。即彼解脫即彼遍處。及淨第四 靜慮。若等至以味相應識無邊處為等無 間。而不以彼為因者有五。謂淨識無邊處 即彼解脫。即彼遍處。及淨空無邊處。即彼解 脫。若等至以味相應無所有處為等無間。 而不以彼為因者有四。謂淨無所有處。即 彼解脫及淨識無邊處。即彼解脫。若等至以 味相應非想非非想處為等無間。而不以 彼為因者有四。謂淨非想非非想處。即彼 解脫。及淨無所有處。即彼解脫。問若等至隨 以何淨靜慮為因。即以彼為等無間耶。設 等至隨以何淨靜慮為等無間。即以彼為 因耶。答諸等至隨以彼淨靜慮為因。亦即 以彼為等無間。有等至以彼淨靜慮為等 無間。而不以彼為因。於中若等至以淨初 靜慮為等無間。而不以彼為因者有六。謂 自地味相應無漏。及淨無漏第二第三靜慮。 若等至以淨第二靜慮為等無間。而不以 彼為因者有八。謂自地味相應無漏。及淨 無漏初第三第四靜慮。若等至以淨第三靜 慮為等無間。而不以彼為因者有十一。謂 自地味相應無漏。及淨無漏初第二第四靜 慮。空無邊處即彼解脫。若等至以淨第四靜 慮為等無間。而不以彼為因者有十二。謂 自地味相應無漏。及淨無漏第二第三靜慮。 空識無邊處即彼解脫。 問若等至隨以何淨無色為因。即以彼為 等無間耶。設等至隨以何淨無色為等無 間。即以彼為因耶。答諸等至隨以彼淨無 色為因。亦即以彼為等無間。有等至以 彼淨無色為等無間。而不以彼為因。於中 若等至以淨空無邊處為等無間。而不以 彼為因者有十二。謂自地味相應無漏。及 淨無漏第三第四靜慮。識無邊處。無所有處。 即彼二處解脫。若等至以淨識無邊處為等 無間。而不以彼為因者有十二。謂自地味 相應無漏。及淨無漏第四靜慮。空無邊處。無 所有處。即彼二處解脫。淨非想非非想處。即 彼解脫。若等至以淨無所有處為等無間。 而不以彼為因者有十。謂自地味相應無 漏。及淨無漏空識無邊處。即彼解脫。淨非想 非非想處。即彼解脫。若等至以淨非想非非 想處為等無間。而不以彼為因者有七。謂 自地味相應。及淨無漏識無邊處。無所有處。 即彼二處解脫。 問若等至隨以何無漏靜慮為因。即以彼 為等無間耶。設等至隨以何無漏靜慮為 等無間。即以彼為因耶。答依一一無漏靜 慮皆應作四句。依無漏初靜慮作四句 者。有等至以無漏初靜慮為因。非等無 間。此有七。謂無漏第四靜慮。三無色。及三 無色解脫。有等至以無漏初靜慮為等無 間非因。此有十九。謂淨初第二第三靜慮。 四無量。初二解脫。前四勝處。二無礙解。四通 所依。有等至以無漏初靜慮為因。亦等無 間此有七。謂無漏初第二第三靜慮。二無礙 解。他心漏盡通所依。有等至不以無漏初 靜慮為因。亦非等無間。此有三十二。謂八 味相應淨第四靜慮。四無色。三解脫。後四勝 處。十遍處。無諍願智所依。依無漏第二靜 慮作四句者。有等至以無漏第二靜慮為 因。非等無間。此有六。謂無漏三無色。及三 無色解脫。有等至以無漏第二靜慮為等 無間非因。此有十九。謂淨四靜慮。四無量 初二解脫。前四勝處。法無礙解。四通所依。 有等至以無漏第二靜慮為因。亦等無間。 此有八。謂無漏四靜慮。二無礙解。他心漏盡 通所依。有等至不以無漏第二靜慮為因。 亦非等無間。此有三十二。謂八味相應淨四 無色。三解脫。後四勝處。十遍處。詞無礙解。 無諍願智所依。依無漏第三靜慮作四句 者。有等至以無漏第三靜慮為因。非等無 間。此有四。謂無漏識無邊處。無所有處。即 彼二處解脫。有等至以無漏第三靜慮為 等無間非因。此有十三。謂淨四靜慮。空無 邊處。三無量。法無礙解。四通所依。有等至 以無漏第三靜慮為因。亦等無間。此有十 一。謂無漏四靜慮。空無邊處。即彼解脫。二無 礙解。他心漏盡通所依。有等至不以無漏 第三靜慮為因。亦非等無間。此有三十八。 謂八味相應。上三淨無色。喜無量。五解脫。八 勝處。十遍處。詞無礙解。無諍願智所依。依 無漏第四靜慮作四句者。有等至以無漏 第四靜慮為因。非等無間。此有三。謂無漏 初靜慮。無所有處。及無所有處解脫。有等 至以無漏第四靜慮為等無間非因。此有 二十八。謂淨第二第三第四靜慮。空識無邊 處。三無量。淨解脫。後四勝處。前八遍處。法 無礙解。四通無諍願智所依。有等至以無漏 第四靜慮為因。亦等無間。此有十一。謂無 漏第二第三第四靜慮。空識無邊處。即彼解 脫。二無礙解。他心漏盡通所依。有等至不 以無漏第四靜慮為因。亦非等無間。此有 二十三。謂八味相應。淨初靜慮。無所有處。 非想非非想處。喜無量。四解脫。前四勝處。後 二遍處。詞無礙解所依。 問若等至隨以何無漏無色為因。即以彼 為等無間耶。設等至隨以何無漏無色為 等無間。即以彼為因耶。答依一一無漏無 色皆應作四句。依無漏空無邊處作四句 者。有等至以無漏空無邊處為因。非等無 間。此有三。謂無漏初第二靜慮。及他心通所 依。有等至以無漏空無邊處為等無間非 因。此有六。謂淨第三第四靜慮。下三無色。 及空無邊處。遍處。有等至以無漏空無邊 處為因。亦等無間。此有十一。謂無漏第三 第四靜慮。三無色。及下三無色解脫。二無礙 解。漏盡通所依。有等至不以無漏空無邊 處為因。亦非等無間。此有四十五。謂八味 相應。淨初第二靜慮。非想非非想處。四無量。 五解脫。八勝處。九遍處。二無礙解。四通無諍 願智所依。依無漏識無邊處作四句者。有 等至以無漏識無邊處為因。非等無間。此 有四。謂無漏初第二第三靜慮。他心通所依 有等至以無漏。識無邊處為等無間非因。 此有七。謂淨第四靜慮。四無色。非想非非想 處解脫。識無邊處遍處。有等至以無漏識無 邊處為因。亦等無間。此有十。謂無漏第四 靜慮。三無色。及下三無色解脫。二無礙解。漏 盡通所依。有等至不以無漏識無邊處為 因。亦非等無間。此有四十四。謂八味相應 淨初第二第三靜慮。四無量。四解脫。八勝處。 九遍處。二無礙解。四通無諍願智所依。依無 漏無所有處作四句者。有等至以無漏無 所有處為因。非等無間。此有五。謂無漏四 靜慮。及他心通所依。有等至以無漏無所有 處為等無間非因。此有五。謂淨四無色。及 非想非非想處解脫。有等至以無漏無所有 處為因。亦等無間。此有九。謂無漏三無色。 下三無色解脫。二無礙解。漏盡通所依。有等 至不以無漏無所有處為因。亦非等無間。 此有四十六。謂八味相應淨四靜慮。四無量。 四解脫。八勝處。十遍處。二無礙解。四通無諍 願智所依。 問若等至隨以何味相應靜慮為因。即以 彼為所緣耶。設等至隨以何味相應靜慮 為所緣。即以彼為因耶。答諸等至隨以彼 味相應靜慮為因。亦即以彼為所緣。有等 至以彼味相應靜慮為所緣。而不以彼為 因。於中若等至以味相應初靜慮為所緣。 而非因者有十三。謂淨無漏四靜慮。義無礙 解。三通願智所依。或有欲令無諍亦緣色 界者。彼說有十四。加無諍。如是說者。初說 為善。如味相應初靜慮。味相應第二第三第 四靜慮亦爾。 問若等至隨以何味相應無色為因。即以 彼為所緣耶。設等至隨以何味相應無色 為所緣。即以彼為因耶。答諸等至隨以彼 味相應無色為因。亦即以彼為所緣。有等 至以彼味相應無色為所緣。而不以彼為 因。於中若等至以味相應空無邊處為所 緣。而不以彼為因者。有十五。謂淨無漏四 靜慮。義無礙解。漏盡通。願智所依。淨無漏空 無邊處。即彼解脫遍處。若等至以味相應識 無邊處為所緣。而不以彼為因者。有十 八。謂淨無漏四靜慮。義無礙解漏盡通。願智 所依。淨無漏空識無邊處。即彼解脫。識無邊 處。遍處。若等至以味相應無所有處為所 緣。而不以彼為因者。有二十。謂淨無漏四 靜慮。義無礙解。漏盡通。願智所依。淨無漏下 三無色。及下三無色解脫。若等至以味相應 非想非非想處為所緣。而不以彼為因者。 有二十二。謂即前二十加淨非想非非想 處。及彼解脫。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 169 311 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 169 LUẬN VỀ NHHIẾP (Phần 4) Hỏi: Có thể có thành tựu Vị tương ưng của bốn Tĩnh lự, không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là Ái cõi Dục chưa hết, bởi vì lúc ấy đối với pháp thiện vốn có của bốn Tĩnh lự đều chưa đạt được, cho nên không có Tịnh-Vô lậu, chính vì điều này cho nên thành tựu Vị tương ưng của bốn Tĩnh lự. Hỏi: Có thể có thành tựu Tị nh của bốn Tĩnh lự, không phải là Vị tương ưng, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là dị sinh sinh ở cõi Dục-Phạm Thế, Ái cõi Sắc đã hết. Bởi vì dị sinh cho nên không có Vô lậu, bởi vì Ái cõi Sắc đã hết cho nên không có Vị tương ưng. Bởi vì sinh ở cõi Dục-Phạm Thế, Ái cõi Sắc đã hết, cho nên thành tựu Tịnh của bốn Tĩnh lự. Hỏi: Có thể có thành tựu Vô lậu của bốn Tĩnh lự, không phải là Vị tương ưng, không phải là Tịnh chăng? Đáp: Có, đó là Thánh giả sinh ở cõi Vô sắc. Bởi vì Thánh giả sinh ở cõi ấy cho nên thành tựu Vô lậu của bốn Tĩnh lự, chính vì sinh ở cõi ấy cho nên không có Vị tương ưng-Tịnh. Hỏi: Nếu Ái cõi Sắc đã hết dựa vào Định Vị chí, Tĩnh lự thứ nhất, Tĩnh lự trung gian tiến vào Chánh ta ùnh ly sinh, hoặc là luyện căn làm Kiến chí, lúc ấy đạt được quả rồi không khởi lên đạo của quả thù thắng, mạng chung sinh vào cõi Vô sắc, lúc ấy đều không thành tựu Vô lậu của ba Tĩnh lự trên, vì sao nói là bốn? Đáp: Có người nói: Bởi vì đây là dựa vào người từ từ đạt được quả mà nói, chứ không dựa vào điều gì khác. Có người nói: Người ấy tiến vào Chánh tánh ly sinh đạt được quả Bất hoàn rồi, chắc chắn khởi lên đạo của quả thù thắng mà tu Vô lậu 312 BỘ TỲ ĐÀM 6 của bốn Tĩnh lự, sau đó mới si nh lên địa trên. Nếu không như vậy thì phải có Thánh giả sinh đến cõi Qu ảng Quả trở lên sẽ không thành tựu Lạc căn. Nếu như vậy thì trái với pha àn Thập Môn đã nói về Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí. Có người nói: Lúc ấy đạt được quả rồi cũng chắc chắn khởi lên đạo của quả thù thắng mà tu Vô lậu của bốn Tĩnh lự, sau đó mạng chung sinh đến cõi Vô sắc. Có người nói: Lúc ấy luyện căn th ì cũng tu Vô lậu của Tĩnh lự trên, cho nên không có lỗi. Hỏi: Có thể có thành tựu Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, không phải là Vị tương ưng chăng? Đáp: Có, đó là Thánh giả sinh ở c õi Dục-Phạm Thế, Ái cõi Sắc đã hết. Hỏi: Nếu Ái cõi Sắc đã hết, dựa vào Định Vị chí, tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì trong mười lăm tâm không thành tựu Vô lậu của Tĩnh lự, đến Đạo loại trí chỉ thành tựu một, ngay lúc ấy cho đến dựa vào Tĩnh lự thứ ba tiến vào Chánh tánh ly sinh, trong mười sáu tâm chỉ thành tựu ba, vì sao nói là bốn? Đáp: Có người nói: Trong này dựa vào người từ từ đạt được quả lìa nhiễm mà nói. Có người nói: Lúc ấy đạt được quả rồi không bao lâu chắc chắn khởi lên đạo của quả thù thắng hiện rõ trước mắt mà tu Vô lậu của Tĩnh lự trên, vì vậy đối với thời gian mười sáu tâm tuy chưa thành tựu, mà chắc chắn sẽ đạt được cho nên cũng nói đến thành tựu. Hỏi: Có thể có thành tựu hai hoặc ba Tĩnh lự khác chăng? Đáp: Không có, đó là bởi vì thành tựu Vị tương ưng của bốn Tĩnh lự, thì chắc chắn không thành tựu bốn Tịnh-bốn Vô lậu. Hỏi: Có thể có lúc không thành tựu Vị tương ưng của bốn Tĩnh lự, chứ không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là Thánh giả sinh ở cõi Dục-Phạm Thế, Ái cõi Sắc đã hết. Câu này giải thích như câu thứ sáu trong phần thành tựu trước đây. Hỏi: Có thể có lúc không tha ønh tựu Tịnh của bốn Tĩnh lự, chứ không phải là Vị tương ưng, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Không có. Hỏi: Có thể có lúc không thành tựu Vô lậu của bốn Tĩnh lự, chứ không phải là Vị tương ưng, không phải là Tịnh chăng? Đáp: Không có. Hai câu này giải thích như câu thứ tư-thứ năm vốn SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 169 313 www.daitangkinh.org không có trong phần thành tựu trước đây. Hỏi: Có thể có lúc không tha ønh tựu Vị tương ưng -Tịnh của bốn Tĩnh lự, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là Thánh giả sinh ở cõi Vô sắc. Câu này giải thích như câu thứ ba trong phần thành tựu trước đây. Hỏi: Có thể có lúc không thành tựu Vị tương ưng-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, chứ không phải là Tịnh chăng? Đáp: Có, đó là dị sinh sinh ở cõi Dục-Phạm Thế, Ái cõi Sắc đã hết. Câu này giải thích như câu thứ hai trong phần thành tựu trước đây. Hỏi: Có thể có lúc không thành tựu Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, không phải là Vị tương ưng chăng? Đáp: Có, đó là Ái cõi Dục chưa hết. Câu na øy giải thích như câu thứ nhất trong phần thành tựu trước đây. Hỏi: Có thể có lúc không thành tựu Vị tương ưng-Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự chăng? Đáp: Có, đó là dị sinh sinh ở cõi Vô sắc. Bởi vì dị sinh cho nên không có Vô lậu của bốn Tĩnh lự, bởi vì sinh ở cõi Vô sắc cho nên không có Vị-Tịnh của bốn Tĩnh lự. Hỏi: Có thể có thành tựu Vị tương ưng của bốn Vô sắc, không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là Ái cõi Sắc chưa hết, bởi vì lúc ấy đối với pháp thiện vốn có của bốn Vô sắc đều chưa đạt được, cho nên không có Tịnh- Vô lậu, chính vì điều này cho nên thành tựu Vị tương ưng của bốn Vô sắc. Hỏi: Có thể có thành tựu Tịnh-Vô lậu của bốn Vô sắc, không phải là Vị tương ưng chăng? Đáp: Có, đó là A-la-hán sinh ở cõi Dục-Sắc và Không vô biên xứ. A-la-hán cho nên không có Vị tương ưng, sinh ở địa ấy cho nên thành tựu đầy đủ bốn Tịnh-ba Vô lậu. Hỏi: Có thể có thành tựu pháp khác chăng? Đáp: Không có. Trong này, không có câu thứ hai, ch ỉ thành tựu bốn Tịnh, bởi vì chắc chắn có Vô lậu-Vị tùy theo một, hoặc là cả hai; không có câu thứ ba, chỉ thành tựu ba Vô lậu, bởi vì chắc chắn có Tịnh; không có câu thứ tư, thành tựu bốn Vị-Tịnh chứ không pha ûi là Vô lậu, và không có câu thứ năm, thành tựu bốn Vị- ba Vô lậu chứ không phải là Tịnh, bởi vì lúc thành tựu bốn Vị thì chắc chắn không thành tựu bốn Tịnh hoặc là ba Vô lậu. Chính vì nghĩa này, cho nên không có câu thứ bảy. 314 BỘ TỲ ĐÀM 6 Hỏi: Có thể có lúc không thành tựu Vị tương ưng của bốn Vô sắc, chứ không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là A-la-hán sinh ở cõi Dục-Sắc và Không vô biên xứ. Câu này giải thích như câu thứ sáu trong phần thành tựu trước đây. Hỏi: Có thể có lúc không thành tựu Tịnh-Vô lậu của bốn Vô sắc, không phải là Vị tương ưng chăng? Đáp: Có, đó là Ái cõi Sắc chưa hết. Câu này giải thích như câu thứ nhất trong phần thành tựu trước đây. Hỏi: Có thể có lúc không thành tựu pháp khác chăng? Đáp: Không có. Trong này, không có chỉ riêng không thành tựu bốn Tịnh, bởi vì lúc ấy chắc chắn cũng không tha ønh tựu Vô lậu. Không có chỉ riêng không thành tựu ba Vô lậu, giải thích như câu thứ tư vốn không có trong phần thành tựu. Không có không thành tựu bốn Vị-Tịnh chứ không phải là Vô lậu, giải thích như câu thứ ba vốn không có trong phần thành tựu. Không có không thành tựu bốn Vị- ba Vô lậu chứ không phải là Tịnh, giải thích như câu thứ hai vốn không có trong phần thành tựu. Không có tất cả đều không thành tựu, bởi vì ở trong ba tùy theo một hoặc là hai cho nên chắc chắn thành tựu. Ở trong thành tựu-không thành tựu của Tĩnh lự-Vô sắc này, đầy đủ thành tựu thì gọi là thành t ựu, đầy đủ không thành tựu thì gọi là không phải thành tựu, và đầy đủ không thành tựu thì gọi là không thành tựu, đầy đủ thành tựu thì gọi là không phải không thành tựu, nên biết. Hỏi: Có thể có đạt được(đắc) Vị tương ưng của bốn Tĩnh lự, không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là lúc Ái cõi Sắc đã hết, khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt; hoặc là lúc ở cõi Vô sắc chết đi sinh vào cõi Dục. Trong này, lui sụt là bao gồm dị sinh và Thánh giả, hoặc là Học hay là Vô học lúc khởi lên Triền của cõi ấy, đạt được đầy đủ bốn Vị chứ không phải là Tịnh-Vô lậu. Sinh vào là chỉ riêng dị sinh ở lúc tiến vào thai(kiết sinh), đạt được đầy đủ bốn Vị chứ không phải là Tịnh-Vô lậu. Hỏi: Có thể có đạt được Vô lậu của bốn Tĩnh lự, chứ không phải là Vị tương ưng, không phải là Tịnh chăng? Đáp: Có, đó là lúc dựa vào Tĩnh lự thứ tư tiến vào Chánh tánh ly sinh, hoặc là lúc đạt được quả A-la-hán. Trong này, lúc tiến vào Chánh tán h ly sinh, đó là lúc Khổ pháp nhẫn khởi lên, lúc bấy giờ Vô lậu của bốn Tĩnh lự trước đây không có, mà đạt được không phải là Vị, không phải là Tịnh. Lúc đạt được quả SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 169 315 www.daitangkinh.org A- la-hán, đó là lúc Tận trí khởi lên, lúc bấy giờ Vô lậu của bốn Tĩnh lự đều xả bỏ, mà đạt đượ c không phải là Vị, không phải là Tịnh. Tuy là Tịnh của bốn Tĩnh lự, lúc bấy gi ờ cũng có đạt được, nhưng chủng loại ấy trước đây có mà kh ông xả bỏ, nay chỉ trở lại đạt được phần ít, đối với Tịnh của bốn Tĩnh lự không có đạt được một tên gọi, huống là bốn hay sao? Có người nói: Đây là dựa vào người sinh ở cõi Vô sắc đạt được quả A-la-hán mà nói. Hỏi: Học luyện căn thì cũng có lúc đối với Vô lậu của bốn Tĩnh lự đếu xả bỏ mà đạt được, vì sao không nói? Đáp: Cần phải nói mà không nói thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Trong này sơ lược nêu ra phần đầu và sau để hiển bày phần giữa, cho nên không nói đầy đủ. Có người nói: Lúc ấy đã xả bỏ-đã đạt được đều là chủng loại của Học, không phải là chủng loại sa i biệt, cho nên không nói đến, vì vậy cũng không nói đến Vô học luyện căn. Hỏi: Có thể có đạt được pháp khác chăng? Đáp: Không có. Trong này, không có câu thứ hai, chỉ đạt được bốn Tịnh, và không có câu thứ sáu, đạt được bốn Tịnh-Vô lậu chứ không phải là Vị, bởi vì không có cùng lúc đạt được bốn Tịnh. Hỏi: Dựa vào Tĩnh lự thứ tư Kiến đạo là lúc ba Loại trí, và lúc đạt được quả A-la-hán, lẽ nào không phải là đạt được đầy đủ bốn Tịnh và Vô lậu hay sao, vì sao không nói? Đáp: Vào lúc bấy giờ đối với Tịnh của bốn Tĩnh lự đều là trước đạt được không xả bỏ, nay tuy trở lại đạt được phần ít, mà vẫn đối với Tịnh của bốn Tĩnh lự không có đạt được một tên gọi, huống là bốn hay sao? Vì vậy không nói đến. Không có câu thứ tư, đạt được bốn Vị-Tịnh chứ không phải là Vô lậu, và không có câu thứ năm, đạt được bốn Vị-Vô lậu chứ không phải là Tịnh, bởi vì lúc đạt được bốn Vị thì chắc chắn không đạt được bốn Tịnh hoặc là bốn Vô lậu. Chính vì nghĩa này, cho nên cũng không có câu thứ bảy. Hỏi: Có thể có xả bỏ(xả) Vị tương ưng của bố n Tĩnh lự, không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Không có, bởi vì không có cùng lúc lìa nhiễm của bốn địa. Hỏi: Có thể có xả bỏ Tịnh của bốn Tĩnh lự, không phải là Vị tương 316 BỘ TỲ ĐÀM 6 ưng, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là lúc dị sinh đã hết Ái cõi Biến Tịnh, khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt; hoặc là lúc ở cõi Dục-Phạm Thế chết đi sinh vào cõi Vô sắc. Trong này, sinh vào cõi Vô sắc bao gồm dị sinh và Thánh giả. Hỏi: Có thể có xả bỏ Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, không phải là Vị tương ưng chăng? Đáp: Có, đó là lúc Thánh giả đa õ hết Ái cõi Biến Tịnh, khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt. Hỏi: Có thể có xả bỏ pháp khác chăng? Đáp: Không có. Trong này, không có câu thứ ba, chỉ xả bỏ bốn Vô lậu, bởi vì lúc lui sụt xả bỏ, hoặc không phải là hoàn toàn xả bỏ, hoặc l úc ấy trở lại đạt được, hoặc bao gồm xả bỏ Tịnh, đạt được quả lúc xả bỏ vẫn trở lại đạt được. Không có câu thứ tư-thứ năm-thứ bảy, bởi vì không có cùng lúc đoạn dứt bốn Vị. Hỏi: Có thể có đạt được Vị tương ưng của bốn Vô sắc, không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là lúc A-la-hán khởi lên Triền của cõi Dục-Sắc mà lui sụt, lúc bấy giờ đạt được đầy đủ bốn Vị chứ không phải là Tịnh-Vô lậu. Hỏi: Có thể có đạt được Vô lậu của ba Vô sắc, chứ không phải là Vị tương ưng, không phải là Tịnh chăng? Đáp: Có, đó là lúc đạt được quả A-la-hán. Giải thích như trong phần Tĩnh lự trước. Hỏi: Có thể có đạt được pháp khác chăng? Đáp: Không có. Trong này, không có câu thứ hai, chỉ đạt được bốn Tịnh, bởi vì không có cùng lúc đạt được bốn Tịnh. Không có câu thứ tư-thứ năm- thứ bảy, bởi vì lúc đạt được bốn Vị thì chắc chắn không đạt được bốn Tịnh-ba Vô lậu. Không có câu thứ sáu, đạt được bốn Tịnh-ba Vô lậu chứ không phải là Vị tương ưng, bởi vì vào lúc đạt được ba Vô lậu, tuy cũng đạt được phần ít của Tịnh, ma ø không gọi là đạt được. Giải thích đầy đủ như trước. Hỏi: Có thể có xả bỏ Vị tương ưng của bốn Vô sắc, không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Không có, bởi vì không có cùng lúc lìa nhiễm của bốn địa. Hỏi: Có thể có xả bỏ Tịnh của bốn Vô sắc, không phải là Vị tương ưng, không phải là Vô lậu chăng? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 169 317 www.daitangkinh.org Đáp: Có, đó là lúc dị sinh đã hết Ái của Vô sở hữu xứ, khởi lên Triền của cõi Dục-Sắc mà lui sụt. Hỏi: Có thể có xả bỏ Tịnh-Vô lậu của bốn Vô sắc, không phải là Vị tương ưng chăng? Đáp: Có, đó là lúc Thánh giả đã hết Ái của Vô sở hữu xứ, khởi lên Triền của cõi Dục-Sắc mà lui sụt. Hỏi: Có thể có xả bỏ pháp khác chăng? Đáp: Không có. Trong này, không có câu thứ ba, chỉ xả bỏ ba Vô lậu, nói như trong phần Tĩnh lự. Không có câu thứ tư-thứ năm-thứ bảy, bởi vì không có cùng lúc đoạn dứt bốn Vị. Ở trong đạt được và xả bỏ của Tĩnh lự-Vô sắc này, hoàn toàn đạt được thì gọi là đạt được, hoàn toàn không đạt được thì gọi là không phải đạt được, hoàn toàn xả bỏ thì gọi là xả bỏ, hoàn toàn không xả bỏ thì gọi là không phải xả bỏ, nên biết. Hỏi: Có thể có lui sụt(thối) Vị tương ưng của bốn Tĩnh lự, không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Không có, bởi vì có lui sụt đối với pháp công đức chứ không phải là đối với pháp sai lầm, cũng bởi vì không có cùng lúc xả bỏ bốn Vị. Hỏi: Có thể có lui sụt Tịnh c ủa bốn Tĩnh lự, không phải là Vị tương ưng, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là lúc dị sinh đã hết Ái của cõi Biến Tịnh, khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt. Hỏi: Có thể có lui sụt Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, không phải là Vị tương ưng chăng? Đáp: Có, đó là lúc Thánh giả đa õ hết Ái của cõi Biến Tịnh, khởi lên Triền của cõi Dục mà lui sụt. Hỏi: Có thể có lui sụt pháp khác chăng? Đáp: Không có. Trong này, không có câu thứ ba, chỉ lui sụt Vô lậu của bốn Tĩnh lự, hoặc là lui sụt cùng với Tịnh, hoặc là không hoàn toàn lui sụt, hoặc là lúc lui sụt trở lại đạt được địa ấy. Không có câu thứ tư-thứ năm-thứ bảy, bởi vì đối với Vị không có lui sụt, không có chỉ lui sụt bốn Vô lậu. Hỏi: Có thể có lui sụt Vị tương ưng của bốn Vô sắc, không phải là Tịnh, không phải là Vô lậu chăng? Đáp: Không có, nói như trước. Hỏi: Có thể có lui sụt Tịnh của bốn Vô sắc, không phải là Vị tương ưng, không phải là Vô lậu chăng? 318 BỘ TỲ ĐÀM 6 Đáp: Có, đó là lúc dị sinh đã hết Ái của Vô sở hữu xứ, khởi lên Triền của cõi Dục-Sắc mà lui sụt. Hỏi: Có thể có lui sụt Tịnh-Vô lậu của bốn Vô sắc, không phải là Vị tương ưng chăng? Đáp: Có, đó là lúc Thánh giả đã hết Ái của Vô sở hữu xứ, khởi lên Triền của cõi Dục-Sắc mà lui sụt. Hỏi: Có thể có lui sụt pháp khác chăng? Đáp: Không có. Trong này, không có câu thứ ba, chỉ lui sụt Vô lậu của ba Vô sắc, hoặc là lui sụt cùng với Tịnh, hoặc là không phải hoàn toàn lui sụt. Không có câu thứ tư-thứ năm-thứ bảy, nói như trong phần Tĩnh lự. Hỏi: Có thể có lui sụt Vô la äu của Tĩnh lự, không phải là Tịnh chăng? Đáp: Có, đó là lúc người Học khởi lên Triền cõi Vô sắc mà lui sụt, bởi vì lúc bấy giờ lui sụt pháp đối trị với Vô lậu của Tĩnh lự, chứ không phải là Tịnh. Hỏi: Có thể có lúc không khởi lên Triền cõi Vô sắc, mà lui sụt Vô lậu của Tĩnh lự, không phải là Tịnh chăng? Đáp: Có, đó là lúc Vô học luyện căn chưa đến phần vị của đạo giải thoát thứ chín, không khởi lên phiền não mà lui sụt đạo vô gián- giải thoát đã đạt được. Hỏi: Có thể có lúc không khởi l ên Triền, mà lui sụt Vô lậu của Tĩnh lự, không phải là Tịnh chăng? Đáp: Có, tức là trước đã nói, và lúc Học luyện căn chưa đến phần vị Kiến chí, không khởi lên phiền não mà lui sụt đạo vô gián-giải thoát đã đạt được. Hỏi: Có thể có lui sụt công đức Vô lậu do bảy địa thâu nhiếp, mà không phải là Tịnh chăng? Đáp: Có, đó là lúc phần ít lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trở lại khởi lên phẩm Triền đã đoạn của địa ấy mà lui sụt. Hỏi: Có thể có chỉ xả bỏ Vô lậu của Tĩnh lự mà đạt được Tịnh-Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là lúc đạt được quả A-la-hán. Hỏi: Có thể có xả bỏ Tịnh-Vô la äu của Tĩnh lự, chỉ đạt được Vô lậu chăng? Đáp: Có, đó là lúc A-la-hán khởi lên Triền cõi Vô sắc mà lui sụt. Hỏi: Có thể có Vô lậu của Tĩnh lự đạt được cùng lúc với Tịnh, mà SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 169 319 www.daitangkinh.org xả bỏ riêng biệt chăng? Đáp: Có, đó là lúc đạt được quả A-la-hán, và lúc dựa vào Tĩnh lự đạt được quả Bất hoàn, cùng với lúc người Học luyện căn. Hỏi: Có thể có Tịnh của Tĩnh lự đạt được cùng lúc với Vô lậu, mà xả bỏ riêng biệt chăng? Đáp: Có, đó là lúc Thánh giả lìa nhiễm của địa mình, và lúc sinh vào địa trên. Hỏi: Có thể có Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự đạt được khác lúc mà xả bỏ cùng lúc chăng? Đáp: Có, đó là lúc Thánh giả lìa nhiễm của địa mình, khởi lên Triền của địa dưới mà lui sụt. Hỏi: Có thể có Tịnh-Vô lậu của Tĩ nh lự đạt được cùng lúc và xả bỏ cùng lúc chăng? Đáp: Có, đó là lúc Thánh giả đã lìa nhiễm của địa dưới, khởi lên Triền của địa dưới mà lui sụt. Như hỏi về Tĩnh lự, như vậy Vô sắc cũng nên theo đây mà hỏi. Lại nữa, như trước đã nói về Đẳng chí, sơ lược có hai mươi ba loại, đó là Tĩnh lự có mười hai loại, tức là bốn Vị tương ưng-bốn Tịnh-bốn Vô lậu; Vô sắc có mười một loại, tức là bốn Vị tương ưng-bốn Tịnh-ba Vô lậu. Hai mươi ba loại này nếu kiến lập rộng ra thì thành sáu mươi lăm Đẳng chí, đó là hai mươi ba loại trước cọng thêm bốn Vô lượng, bốn Vô ngại giải, tám Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, sáu Thông, và sở y của Nguyện trí-Vô tranh. Hỏi: Sáu mươi lăm loại này, ma áy loại chỉ duyên với địa mình, mấy loại chỉ duyên với địa dưới, mấy loại duyên với địa mình và địa dưới, mấy loại duyên với địa mình và địa trên, mấy loại duyên với tất cả các địa? Đáp: Mười Đẳng chí chỉ duyên với địa mình, đó là tám Vị tương ưng, và Biến xứ của Không-Thức vô biên xứ. Hai mươi bốn Đẳng chí chỉ duyên với địa dưới, đó là bốn Vô lượng, ba Giải thoát đầu, tám Thắng xứ, tám Biến xứ trước và Vô tranh; hoặc có người muốn làm cho Vô tranh duyên với cõi Dục-Sắc, thì trừ ra Vô tranh. Bảy Đẳng chí duyên với địa mình và địa dưới, đó là Pháp vô ngại giải-Từ vô ngại giải và sở y của năm Thông. Chín Đẳng chí duyên với địa mình và địa trên, đó là Tịnh-Vô lậu của ba Vô sắc, và Giải thoát của ba Vô sắc dưới, đây là dựa vào duyên với hữu lậu mà nói. 320 BỘ TỲ ĐÀM 6 Mười hai Đẳng chí duyên với tất cả các địa, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, Nghĩa vô ngại giải, Biện vô ngại giải, Lậu tận thông và sở y của Nguyện trí. Đây cũng chỉ dựa vào duyên với hữu lậu mà nói. Nếu bao gồm dựa vào duyên với vô lậu mà nói, thì có hai mươi ba Đẳng chí duyên với tất cả các địa, đó chính là mười hai loại trước cọng thêm mười một Vô sắc, đó là Tịnh-Vô lậu của Vô sắc và Giải thoát của Vô sắc. Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gián chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng? Đáp: Các Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự ấy làm Nhân, thì cũng dùng loại ấy làm Đa úng vô gián. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự ấy làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân. Trong đó, nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười sáu loại, đó là Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, và sở y của năm Thông. Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ hai làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười bảy loại, đó là Tịnh của Tĩnh lự thứ hai, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, sở y của năm Thông, và Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất. Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ ba làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười loại, đó là Tịnh của Tĩnh lự thứ ba, ba Vô lượng, sở y của năm Thông, và Tịnh của Tĩnh lự thứ hai. Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ tư làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có hai mươi ba loại, đó là Tịnh của Tĩnh lự thứ tư, ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, sở y của năm Thông, và Tịnh của Tĩnh lự thứ ba. Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Vô sắc nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Đẳ ng vô gián chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Vô sắc nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng? Đáp: Các Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Vô sắc ấy làm Nhân, thì cũng dùng loại ấy làm Đa úng vô gián. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Vô sắc ấy làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 169 321 www.daitangkinh.org Trong đó, nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Không vô biên xứ làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có bốn loại, đó là Tịnh của Không vô biên xứ, Giải thoa ùt của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, và Tịnh của Tĩnh lự thứ tư. Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Thức vô biên xứ làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có năm loại, đó là Tịnh của Thức vô biên xứ, Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, và Tịnh của Không vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy. Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Vô sở hữu xứ làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có bốn loại, đó là Tịnh của Vô sở hữu xứ, Giải thoát của địa a áy, và Tịnh của Thức vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy. Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có bốn loại, đó là Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Gi ải thoát của địa ấy, và Tịnh của Vô sở hữu xứ, tức là Giải thoát của địa ấy. Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Tĩnh lự nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gián cha êng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Tĩnh lự nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng? Đáp: Các Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Tĩnh lự ấy làm Nhân, thì cũng dùng loại ấy làm Đẳng vô gián. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự ấy làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân. Trong đó, nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nha ân, thì có sáu loại, đó là Vị tương ưng-Vô lậu của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ hai-thứ ba. Nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự thứ hai làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì c ó tám loại, đó là Vị tương ưng- Vô lậu của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất-thứ ba-thứ tư. Nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh l ự thứ ba làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười một loại, đó là Vị tương ưng-Vô lậu của địa mình, Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai-thứ tư và Không vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy. Nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự thứ tư làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười hai loại, đó là Vị tương ưng- Vô lậu của địa mình, Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ hai-thứ ba và Không- 322 BỘ TỲ ĐÀM 6 Thức vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy. Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Vô sắc nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gián cha êng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Vô sắc nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng? Đáp: Các Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Vô sắc ấy làm Nhân, thì cũng dùng loại ấy làm Đẳng vô gián. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Vô sắc ấy làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân. Trong đó, nếu Đẳng chí dùng Tịnh c ủa Không vô biên xứ làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy la øm Nhân, thì có mười hai loại, đó là Vị tương ưng-Vô lậu của địa mình, Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba-thứ tư và Thức vô biên xứ-Vô sở hữu xứ, tức là Giải thoát của hai xứ ấy. Nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Thức vô biên xứ làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì c ó mười hai loại, đó là Vị tương ưng-Vô lậu của địa mình, Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư và Không vô biên xứ-Vô sở hữu xứ, tức là Giải t hoát của hai xứ ấy, Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tức là Giải thoát của địa ấy. Nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Vô sở hữu xứ làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười loại, đó là Vị tương ưng-Vô lậu của địa mình, Tịnh-Vô lậu của Không-Thức vô biên xứ, tức Giải thoát của địa ấy, Tịnh của Phi t ưởng phi phi tưởng xứ, tức Giải thoát của địa ấy. Nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Đẳng vô gián, mà không dùng loại ấy làm Nha ân, thì có bảy loại, đó là Vị tương ưng của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của Thức vô biên xứ-Vô sở hữu xứ, tức là Giải thoát của hai xứ ấy. Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Tĩnh lự nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gi án chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Tĩnh lự nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng? Đáp: Dựa vào Vô lậu của mỗi một Tĩnh lự đều cần phải làm thành bốn câu phân biệt. Dựa vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu c ủa Tĩnh lự thứ nhất làm Nhân chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có bảy, đó là Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư-ba Vô sắc, và Giải thoát của ba Vô sắc. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 169 323 www.daitangkinh.org 2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất làm Đẳng vô gián chứ không phải là Nhân, loại này có mười chín, đó là Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai-thứ ba, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, hai Vô ngại giải, sở y của bốn Thông. 3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất làm Nhân cũng là Đẳng vô gián, loại này có bảy, đó là Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai-thứ ba, hai Vô ngại giả i, sở y của Tha tâm thông-Lậu tận thông. 4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất làm Nhân cũng không phải là Đẳng vô gián, loại này có ba mươi hai, đó là tám Vị tương ưng-Tịnh của Tĩnh lự thứ tư-bốn Vô sắc, ba Giải thoát, bốn Thắng xứ sau, mười Biến xứ, sở y của Nguyện trí-Vô tranh. Dựa vào Vô lậu của Tĩnh l ự thứ hai làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ hai làm Nhân chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này c ó sáu, đó là Vô la äu của ba Vô sắc, và Giải thoát của ba Vô sắc. 2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ hai làm Đẳng vô gián chứ không phải là Nhân, loại này có mười chín, đó là Tịnh của bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, Pháp vô ngại giải, sở y của bốn Thông. 3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu c ủa Tĩnh lự thứ hai làm Nhân cũng là Đẳng vô gián, loại này có ta ùm, đó là Vô lậu của bốn Tĩnh lự, hai Vô ngại giải, sở y của Tha tâm thông-Lậu tận thông. 4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô la äu của Tĩnh lự thứ hai làm Nhân cũng không phải là Đẳng vô gián, loại này có ba mươi hai, đó là tám Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc , ba Giải thoát, bốn Thắng xứ sau, mười Biến xứ, Từ vô ngại giải, sở y của Nguyện trí-Vô tranh. Dựa vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba làm Nhân chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có bốn, đó là Vô lậu của Thức vô biên xứ-Vô sở hữu xứ, tức là Giải thoát của hai xứ ấy. 2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba làm Đẳng vô gián chứ không phải là Nhân, loại này có mười ba, đó là Tịnh của bốn Tĩnh lự-Không vô biên xứ, ba Vô lượng, Pháp vô ngại giải, sở y của bốn Thông. 3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba làm Nhân cũng là Đẳng vô gián, loại này có mười một, đó là Vô lậu của bốn Tĩnh lự- 324 BỘ TỲ ĐÀM 6 Không vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy, hai Vô ngại giải, sở y của Tha tâm thông-Lậu tận thông. 4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba làm Nhân cũng không phải là Đẳng vô gián, loại này có ba mươi tám, đó là tám Vị tương ưng-Tịnh của ba V ô sắc trên, Hỷ vô lượng, năm Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, Từ vô ngại giải, sở y của Nguyện trí-Vô tranh. Dựa vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư làm Nhân chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này c ó ba, đó là Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất-Vô sở hữu xứ, và Giải thoát của Vô sở hữu xứ. 2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu cu ûa Tĩnh lự thứ tư làm Đẳng vô gián chứ không phải là Nhân, loại này có hai mươi tám, đó là Tịnh của Tĩnh lự thứ hai-thứ ba-thứ tư và Không-Thức vô biên xứ, ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước,Pháp vô ngại giải, sở y của bốn Thông-Nguyện trí-Vô tranh. 3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư làm Nhân cũng là Đẳng vô gián, loại này có mười một , đó là Vô lậu của Tĩnh lự thứ hai-thứ ba-thứ tư và Không-Thức vô bi ên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy, hai Vô ngại giải, sở y của Tha tâm thông-Lậu tận thông. 4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư làm Nhân cũng không phải là Đẳng vô gián, loại này có hai mươi ba, đó là tám Vị tương ưng-Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất-Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Hỷ vô lượng, bốn Giải thoát, bốn Thắng xứ trước, hai Biến xứ sau, sở y của Từ vô ngại giải. Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng V ô lậu của Vô sắc nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gi án chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Vô sắc nào làm Đẳng v ô gián, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng? Đáp: Dựa vào Vô lậu của mỗi một Vô sắc đều cần phải làm thành bốn câu phân biệt. Dựa vào Vô lậu của Không vô biên xứ làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Nhân chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có ba, đó là Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai, và sở y của Tha tâm thông. 2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Đẳng vô gián chứ không phải là Nhân, loại này có sáu, đó là Tịnh của Tĩnh lự SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 169 325 www.daitangkinh.org thứ ba-thứ tư, ba Vô sắc dưới và Biến xứ của Không vô biên xứ. 3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Nhân cũng là Đẳng vô gián, loại này có mười một, đó là Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba-thứ tư-ba Vô sắc, và Giải thoát của ba Vô sắc dưới, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông. 4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Nhân cũng không phải là Đẳng vô gia ùn, loại này có bốn mươi lăm, đó là tám Vị tương ưng-Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai-Phi tưởng phi phi tưởng xứ, bốn Vô lượng, năm Giải thoa ùt, tám Thắng xứ, chín Biến xứ, hai Vô ngại giải, sở y của bốn Thông-Nguyện trí-Vô tranh. Dựa vào Vô lậu của Thức vô biên xứ làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Thức vô biên xứ làm Nhân chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có bốn, đó là Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai-thứ ba, và sở y của Tha tâm thông. 2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu c ủa Thức vô biên xứ làm Đẳng vô gián chứ không phải là Nhân, loại này có bảy, đó là Tịnh của Tĩnh lự thứ tư-bốn Vô sắc, Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Biến xứ của Thức vô biên xứ. 3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu c ủa Thức vô biên xứ làm Nhân cũng là Đẳng vô gián, loại này có mười, đó là Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư-ba Vô sắc, và Giải thoát của ba Vô sắc dưới, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông. 4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô la äu của Thức vô biên xứ làm Nhân cũng không phải là Đẳng vô gián, loại này có bốn mươi bốn, đó là tám Vị tương ưng-Tịnh của Tĩnh l ự thứ nhất-thứ hai-thứ ba, bốn Vô lượng, bốn Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Biến xứ, hai Vô ngại giải, sở y của bốn Thông-Nguyện trí-Vô tranh. Dựa vào Vô lậu của Vô sở hữu xứ làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Vô sở hữu xứ làm Nhân chứ không phải là Đẳng vô gián, loại na øy có năm, đó là Vô lậu của bốn Tĩnh lự, và sở y của Tha tâm thông. 2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu c ủa Vô sở hữu xứ làm Đẳng vô gián chứ không phải là Nhân, loại na øy có năm, đó là Tịnh của bốn Vô sắc, và Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ. 3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Vô sở hữu xứ làm Nhân cũng là Đẳng vô gián, loại này có chín, đó là Vô lậu của ba Vô sắc, Giải tho- át của ba Vô sắc dưới, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông. 326 BỘ TỲ ĐÀM 6 4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Vô sở hữu xứ làm Nhân cũng không phải là Đẳng vô gián, loại này có bốn mươi sáu, đó là tám Vị tương ưng-Tịnh của bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, hai Vô nga ïi giải, sở y của bốn Thông- Nguyện trí-Vô tranh. Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng? Đáp: Các Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự ấy làm Nhân, thì cũng dùng loại ấy la øm Sở duyên. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự ấy làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân. Trong đó, nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất làm Sở duyên, mà không phải là Nhân, thì có mười ba loại, đó là Tịnh- Vô lậu của bốn Tĩnh lự, Nghĩa vô ngại giải, sở y của ba Thông-Nguyện trí. Hoặc có người muốn làm cho Vô tranh cũng duyên với cõi Sắc, họ nói là có mười bốn, cọng thêm Vô tranh. Nói như vậy thì cách nói trước là hợp lý. Như Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất, Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ hai-thứ ba-thứ tư cũng như vậy. Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Vô sắc nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Vô sắc nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng? Đáp: Các Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Vô sắc ấy làm Nhân, thì cũng dùng loại ấy la øm Sở duyên. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Vô sắc ấy làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân. Trong đó, nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Không vô biên xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười lăm loại, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, Nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí, Tịnh-Vô lậu của Không vô biên xứ, tức là Giải thoát-Biến xứ của địa ấy. Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng c ủa Thức vô biên xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười tám loại, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, Nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí, Tịnh-V ô lậu của Không-Thức vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của Thức vô biên xứ. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 169 327 www.daitangkinh.org Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Vô sở hữu xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có hai mươi loại, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, Nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí, Tịnh-Vô lậu của ba Vô sắc dưới, và Giải thoát của ba Vô sắc dưới. Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có hai mươi hai loại, đó là hai mươi loại trước cọng thêm Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Giải thoát của địa ấy. 328 BỘ TỲ ĐÀM 6 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt