A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 174
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
五百大阿羅漢等造 三藏法師玄奘奉 詔譯 4 不還納息1 定蘊第七中不還納息第四之一 有五不還。謂中般涅槃。生般涅槃。有行般 涅槃。無行般涅槃。上流往色究竟。為五攝 一切。為一切攝五耶。如是等章及解章義 既領會已應廣分別。問何故作此論。答為 欲分別契經義故。如契經說有五不還。 謂中般涅槃。乃至廣說。彼經雖作是說。而 不明為五攝一切。為一切攝五。亦未曾 顯勝劣差別。今欲具明故作斯論。 為五攝一切一切攝五耶。答一切攝五。非 五攝一切。不攝何等。謂現法般涅槃。及往無 色不還。此中一切多非五故。一切攝五非 五攝一切。猶如大器覆於小器非小器覆 大。一切者謂七不還即前五。并現法般涅槃。 及往無色不還。於中後二非五所攝故名為 多。問亦有不定般涅槃者。謂或於欲界而 般涅槃。或於色界而般涅槃。或於無色界 而般涅槃。此中何故不說。答應說而不說 者當知此義有餘。復次彼即攝在七不還 中故不別說。謂彼若在欲界般者。即現法 般涅槃攝。色界般者即五不還攝。無色界般 者即往無色不還攝。問亦有轉生般涅槃者。 謂彼或從極七返有。或從家家。或從一來。 或從一間得不還果。彼得果已必於此生 得般涅槃。彼非現法般涅槃。以契經說云 何現法般涅槃。謂即此生得預流果。進斷餘 結得一來不還阿羅漢果。由此因緣轉生 般者非七所攝。此中何故不說。答應說而 不說者當知有餘。復次彼由厭受生故得 不還果已。未經幾時即般涅槃。於其中間 時極促故。不容建立是以不說。復次彼亦 攝在現法般涅槃中故不別說。以依此生 得不還果。即於此生般涅槃故。 中般涅槃生般涅槃何者為勝。答若住等斷 則中般涅槃為勝。若生般涅槃斷結多則彼 為勝。謂此二不還若並具初靜慮縛。乃至若 俱斷第四靜慮前八品結。則中般涅槃由三 事故勝。一受苦少此受一有苦。彼受二有 苦故。二速滅煩惱火。三疾捨蘊擔。若中般 涅槃具初靜慮縛。乃至斷第四靜慮前七品 結。生般涅槃斷初靜慮一品結。乃至斷第四 靜慮前八品結。則生般涅槃由一事故勝。謂 住多斷。中般涅槃。乃至上流。往色究竟。何者 為勝。答若住等斷則中般涅槃為勝。若乃至 上流往色究竟斷結多則彼為勝。謂中般涅 槃。若對有行般涅槃無行般涅槃。皆如對生 般涅槃說。若對上流往色究竟則於受苦 有差別。謂此唯受一有苦。彼極少受四有 苦故。餘如前說。如是生般涅槃。乃至上流 往色究竟有行般涅槃。乃至上流往色究竟 無行般涅槃上流往色究竟何者為勝。答若 住等斷則生般涅槃等為勝。若有行般涅槃 等斷結多則彼為勝。謂此諸不還隨所相對。 若並具初靜慮縛。乃至若俱斷第四靜慮前 八品結。則生般涅槃於有行般涅槃由一 事故勝。謂生般涅槃有勤修道及速進道。 有行般涅槃唯有勤修道無速進道。於無 行般涅槃由二事故勝。彼無勤修道亦無 速進道故。於上流往色究竟由一事故勝。 謂受苦少此受二有苦。彼極少受四有苦 故。有行般涅槃於無行般涅槃由一事故 勝。此有勤修道。彼俱無故。於上流往色究 竟由一事故勝。無行般涅槃於上流往色 究竟亦由一事故勝。皆如前說。若生般涅 槃等具初靜慮縛。乃至斷第四靜慮前七品 結。有行般涅槃等斷初靜慮一品結。乃至斷 第四靜慮前八品結。則有行般涅槃等。於生 般涅槃等由一事故勝。謂住多斷。 復次集異門說。有五種不還補特伽羅。謂中 般涅槃。乃至上流往色究竟。云何中般涅槃。 謂有補特伽羅前生中於五順下分結已斷 已遍知。於五順上分結未斷未遍知。造作 增長順起有受業。不造作增長順生有受 業。從彼命終起色界中有。即住彼中有得 如是種類無漏道。由此道力進斷餘結。於 無餘依涅槃界而般涅槃。是名中般涅槃問 何故名中般涅槃。答此補特伽羅已過欲界。 未到色界住彼中有而般涅槃故名中般 涅槃。復次此補特伽羅利根軟煩惱故。能 於中有而般涅槃故名中般涅槃。復次此補 特伽羅先得有心。有心無間得學心。學心無 間得無學心。無學心無間得非學非無學心。 即住彼心而般涅槃故名中般涅槃。問此言 欲差別誰。答欲差別餘聖者。謂餘聖者學 心無間或起無學心。或起非學非無學心。此 則不爾學心無間必起無學心。餘聖者非 學非無學心無間或般涅槃。或更起無學心。 此則不爾。非學非無學心無間定般涅槃。以 餘聖者數起聖道現在前。此不數起故。 云何生般涅槃。謂有補特伽羅。前生中於五 順下分結已斷已遍知。於五順上分結未 斷未遍知。造作增長順起有受業。順生有 受業。從彼命終起色界中有生色界天。生 已未久得如是種類無漏道。由此道力進 斷餘結。於有餘依般涅槃界而般涅槃。是 名生般涅槃。問何故名生般涅槃。答此補特 伽羅。生彼未久得阿羅漢果而般涅槃。故 名生般涅槃。復次此補特伽羅。生彼未久 得阿羅漢果。盡其壽量方般涅槃。故名生 般涅槃。問若彼盡壽方般涅槃者。何故名生 般涅槃。答依煩惱涅槃說。非蘊涅槃故無 過。云何有行般涅槃。謂有補特伽羅前生 中依有行道恒時作意。依不息加行三摩 地。於五順下分結已斷已遍知。於五順上 分結未斷未遍知。造作增長順起有受業。 順生有受業。從彼命終起色界中有生色 界天。生已多時。復依有行道。恒時作意。依 不息加行三摩地進斷餘結。於有餘依般涅 槃界而般涅槃。是名有行般涅槃。問何故 名有行般涅槃。答此補特伽羅由有行道。 斷餘煩惱而般涅槃。故名有行般涅槃。復 次此補特伽羅由有行道得阿羅漢果。盡 其壽量而般涅槃。故名有行般涅槃。復次此 補特伽羅依有為緣道。進斷餘結而般涅 槃。故名有行般涅槃。云何無行般涅槃。謂 有補特伽羅前生中依無行道不恒時作 意。依止息加行三摩地。於五順下分結已 斷已遍知。於五順上分結未斷未遍知。造 作增長順起有受業。順生有受業。從彼命終 起色界中有生色界天。生已多時。復依無 行道不恒時作意。依止息加行三摩地進 斷餘結。於有餘依般涅槃界而般涅槃。是 名無行般涅槃。問何故名無行般涅槃。答此 補特伽羅由無行道。斷餘煩惱而般涅槃。 故名無行般涅槃。復次此補特伽羅由無行 道得阿羅漢果。盡其壽量而般涅槃。故名 無行般涅槃。復次此補特伽羅依無為緣 道。進斷餘結而般涅槃。故名無行般涅槃。 云何上流往色究竟。謂有補特伽羅前生中 於五順下分結已斷已遍知。於五順上分 結未斷未遍知。得世俗四靜慮。將命終 時退上三靜慮住初靜慮。由即彼愛及彼 地造作增長順起有受業。順生有受業。故 從彼命終起色界中有生梵眾天。生已復 能入世俗第二靜慮。由即彼愛及彼地。造 作增長順起有受業。順生有受業故。從彼 命終生極光淨天。生已復能入世俗第三靜 慮。由即彼愛乃至從彼命終生遍淨天。生 已復能入世俗第四靜慮。由即彼愛乃至從 彼命終生廣果天。生已復能起下品雜修世 俗第四靜慮。由即彼愛乃至從彼命終生 無煩天。如是乃至於餘四品雜修世俗第四 靜慮。次第遍起於餘四天次第遍生。是名 上流往色究竟。問何故名上流往色究竟。答 流有二種。一生死愛。二後有業。此補特伽羅 於二種流並未斷未遍知。由此為緣及為 因故。上行上隨行。上往上隨往。上受上隨 受。上流上隨流。故名上流往色究竟。復次此 補特伽羅不下行唯勝進行得轉上轉妙轉 勝定。及生入彼定受彼生。故名上流往色 究竟。復次此補特伽羅上流上生令上生相 續故名上流。問異生亦有上流上生令上 生相續。何故不名上流耶。答若唯上流不 下流者名為上流。異生上流亦下流故不 名上流。有說。若上流遍一切處無礙者名 為上流。異生不能遍一切處無礙故不 名上流。彼於淨居則有礙故。問聖者上流 亦於二處有礙。謂大梵王及無想處。何故 得名上流。答彼無別處即梵輔廣果二處 攝故。猶得名為遍一切處。有說。若上流能 越界得果。永斷順五下分結者說名上流。 異生雖能越界而不得果。亦不永斷順五 下分結故不名上流。有說。具三種流者說 名上流。謂業煩惱及與聖道。異生唯有業煩 惱流無聖道流是以不名上流。 復次上流有二種。一行色界。二行無色界。 行色界者乃至色究竟天。行無色界者乃 至非想非非想天。又行色界者有雜修靜 慮。行無色界者無雜修靜慮。復次上流有 三種。一全超二半超三一切處歿。全超者謂 欲界歿生梵眾天。梵眾天歿生色究竟。或 生非想非非想處而般涅槃。半超者謂欲界 歿生梵眾天。梵眾天歿於上一切天處或更 生一處或二或三或四或五。乃至或唯超一 處遍生餘處然後生色究竟。或生非想非 非想處而般涅槃。一切處歿者謂欲界歿生 梵眾天。梵眾天歿生梵先行天如是次第 生上諸處乃至生廣果天。從此以上有二 路別。一入淨居。二入無色。入淨居者廣果 天歿生無煩天。次第乃至生色究竟而般涅 槃。入無色者廣果天歿生空無邊處。次第 乃至生非想非非想處而般涅槃。如一切處 歿有二路別。應知全超半超亦爾。問何等上 流入淨居。何等上流入無色。答有二上流 謂毘鉢舍那行奢摩他行。毘鉢舍那行者入 淨居。奢摩他行者入無色。復次有二上流 謂樂勝定及樂勝生。樂勝定者入淨居。樂勝 生者入無色。復次有二上流謂樂決擇及樂 寂靜。樂決擇者入淨居。樂寂靜者入無色。 復次有二上流謂雜修不雜修。雜修者入淨 居。不雜修者入無色。又一切處歿上流有來 所顯非去。有去所顯非來。有來所顯亦去 所顯。有來所顯非去者。謂生色究竟或非 想非非想處。有去所顯非來者。謂生梵眾 天。有來所顯亦去所顯者。謂生中間諸處。 非來所顯非去所顯者無。問如前說往色 究竟者。先得世俗四靜慮。後退住初靜慮。 彼往非想非非想處者。亦先得世俗四無 色。後退住初靜慮為不耶。答亦有。如先得 世俗四靜慮。後退住初靜慮命終生梵世。 展轉乃至生色究竟。如是亦有先得世俗四 靜慮四無色。後退住初靜慮命終生梵世。 展轉乃至生非想非非想處。但不必須爾。 問何故不說彼退初靜慮耶。答無有退初 靜慮而命終者是以不說。又此中顯不還 差別彼退初靜慮者非復不還是故不說。 問如說退住初靜慮生梵眾天作全超半 超。一切處歿上流。彼若退住第二靜慮生 少光天。退住第三靜慮生少淨天。退住第 四靜慮生無雲天等。彼亦得作全超半超。 一切處歿上流不耶。答有說不得。以生梵 世於上不還所應生處無缺減故。依彼建 立全超半超。一切處歿若退生上地處便缺 減。故不依彼立全超等。有說。彼亦得名 半超以超少分中間處故。有說。亦得具 名三種彼說從欲界歿隨生何處。即於彼 上所應生處亦可施設全超半超一切處歿 故。問若不還者欲界歿生無色界亦得作 全超等不。答有說不得。有說。彼亦得名 半超。有說。彼亦具名三種此中所以皆如 前釋。問如往色究竟上流。必先得四靜慮 退生梵世。然後能往色究竟天。彼往非想 非非想處上流。亦必先得四無色退生梵 世。然後能往非想非非想處耶。答不必爾。 以生色界不能初起雜修靜慮。要欲界 時曾起今復重修方能往色究竟。生無色 者更無如是殊勝類業。要於欲界曾起今 更重修然後能生有頂。是故往有頂者若先 得無色而退。若先不得彼欲界歿生梵眾 天皆能往非想非非想處。問所說上流為但 是信勝解。為亦有見至耶。答若不退上定 而上流者此通二種。若退上定而上流者唯 信勝解。復次即退上定而上流者亦通二 種。問彼見至云何退耶。答彼非本性見至。 但於退後未命終頃從信勝解練根作見 至。然後命終而生上界為上流故。 問如色界有中般涅槃欲界亦有耶。答無。 問何故。答欲界是不定界非修地非離染 地多諸過失災橫留難。住本有時尚難得 果。況住中有微劣身耶。色界不爾故住中 有能般涅槃。復次若住欲界中有般涅槃者 則依中有能越三界。然無依中有身能越 三界者。復次若住欲界中有般涅槃者。則 中有中能斷三界煩惱。然無住中有身能斷 三界煩惱者。復次若住欲界中有般涅槃者 則中有中能斷不善無記二種煩惱。然無住 中有身能斷不善無記二種煩惱者。復次若 住欲界中有般涅槃者則中有中能證若二 若三沙門果。然無住中有身能證若二若三 沙門果者。以是義故唯色界有中般涅槃 欲界則無。復次中般涅槃必於前生已離欲 界染。已離欲界染者必不起欲界中有。故 於欲界無中般涅槃。復次欲界煩惱業重。 非於中有微劣身中所能除斷。復次中有 非得不還果所依。但是得阿羅漢果所依。 復次欲界中有必不能起聖道現前以劣 弱故。色界不爾。由此義故欲界無有中般 涅槃。復次中有微劣唯能起自根本地聖道 現前非未至等以難起故。若欲界中有般 涅槃者則與此相違故必無有。復次欲界有 違順相應煩惱。有外六門煩惱有能引二果 煩惱。有無慚無愧相應煩惱。及有忿等種種 雜類諸隨煩惱。難破難斷難越難離。住本 有中作大功用。尚難除斷況在中有。故無 欲界中般涅槃。復次要曾具修九品對治方 於中有能般涅槃。欲界中有必未具修九 品對治故彼中有不般涅槃。問如欲界歿 受色界中有得般涅槃。如是從色界歿受 色界中有亦般涅槃不。答不。所以者何。彼 於欲界多苦多障多諸災橫可厭之身極 生厭逆。既捨離已起色界中有現在前時。 於當所受長時異熟亦生厭患便般涅槃。 色界無有如是災橫極可厭事令生厭逆。 如於本有有緣礙故不般涅槃。今中有亦 爾。故從彼歿所起中有不般涅槃。復次若色 界歿即彼中有般涅槃者。應亦名上流則五 不還便成雜亂。謂彼無有差別因緣。唯欲 界歿住中有中般涅槃者名中般涅槃。非 色界歿者。又無因緣從彼趣上不名上流。 由此過失故彼中有不般涅槃。問若欲界歿 起色界中有由厭逆故得涅槃者。何不即 於欲界本有得涅槃耶。增厭逆故。答彼住 本有得不還果已起阿羅漢果。加行圓滿 於未起聖道頃即便命終故。由前勢力能 於中有進斷餘結而般涅槃。問彼加行圓 滿何故不起聖道而便命終。答彼或壽盡故 或業盡故或福盡故或他所害故或為饒益 他故。或非意遇惡緣故。不及起聖道而 便命終。有說。彼得不還果。已修後加行將 圓滿時便遭長病。或闕資具。或遇命等諸 難因緣未能盡漏從彼展轉遂至命終。既 得色界中有新蘊諸根大種增上力故。速 能引起聖道現前進斷餘結而般涅槃。問 若欲界歿生無色界亦有生般涅槃等不。 答有。以欲界歿生上二界更不再生般涅 槃者。隨在何處即彼生中皆可建立生等 三種二生。以上隨在何處皆可建立為上 流故。問樂慧上流不至色究竟。樂定上流 不至有頂。於下諸處般涅槃者亦得名為 樂慧樂定二上流不。答彼亦隨類得二種 名。然說樂慧至色究竟。樂定至有頂者依 極處說。過此更無行處故。如預流者或名 極七返有。而於中間般涅槃者亦得此名 彼亦如是問何故聖者於上二界一一生處 但受一生於欲界中不如是耶。答欲界是 不定界是雜亂地諸煩惱業相陵相雜無分 齊法式故。令聖者從下生上上復生下。或 於一處而受多生。色無色界是定界非雜 亂地。諸煩惱業不相陵雜有分齊法式故。 令聖者唯上不下一處一生。 復次生欲界聖者不名不還。而名極七返 有等故生上下亦一處重生。生上界聖者 名曰不還故唯生上亦不重生。由此義故 不還義滿。以尚不生本處況有還生下 者。 復次不還補特伽羅廣說有無量種。今且分 別行色界五種。當知此依界建立故說一。 生不生建立故說二。分位差別建立故說五。 謂中般涅槃乃至上流。往色究竟即此根建 立故說十五。謂下中上根。各五地建立故說 二十。謂初靜慮乃至第四靜慮。各五種性建 立故說三十。謂退法種性乃至不動法種性。 各五處建立故說八十。謂梵眾天乃至色究 竟天。各五種性根建立故說九十。謂退法種 性下中上根。各有五乃至不動法種性亦爾。 地種性建立故說百二十。謂初靜慮六種性 各有五乃至第四靜慮亦爾。地種性根建立 故說三百六十。謂初靜慮六種性三根各五 乃至第四靜慮亦爾。處種性建立故說四百 八十。謂梵眾天六種性各五乃至色究竟天亦 爾。處種性根建立故說一千四百四十。謂梵 眾天六種性三根各五乃至色究竟天亦爾。 離染處種性根建立故說一萬二千九百六 十。謂前一千四百四十各有九種離染差別。 復次一中般涅槃差別建立亦有多種。謂界 故說一。根故說三。地故說四。種性故說六。 離染故說九。處故說十六。種性根故說十 八。地種性故說二十四。地離染故說三十 六。地種性根故說七十二。處種性故說九十 六。地離染根故說一百八。處離染故說一百 四十四。種性離染根故說一百六十二。地離 染種性故說二百一十六。處種性根故說二 百八十八。地離染種性根故說六百四十八。 處種性離染故說八百六十四。處種性離染 根故說二千五百九十二。如中般涅槃有 爾所乃至上流亦爾。如是總有一萬二千九 百六十不還差別。如行色界不還差別建立。 如是行無色不還差別建立隨應亦爾。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 174 395 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 174 CHƯƠNG VII: ĐỊNH UẨN (Tiếp Theo) Phẩm Thứ Tư: LUẬN VỀ BẤT HOÀN LUẬN VỀ BẤT HOÀN (Phần 1) Có năm loại Bất hoàn, đó là Trung bát Niết-bàn, Sinh bát Niết- bàn, Hữu hành bát Niết-bàn, Vô hành bát Niết-bàn và Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh, là năm loại thâu nhiếp tất cả, hay là ta át cả thâu nhiếp năm loại? Các chương như vậy và giải thích về nghĩa của từng chương đã lĩnh hội rồi, nay cần phải phân biệt rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn phân biệt nghĩa lý trong kinh. Như trong kinh nói: “Có năm loại Bất hoàn, đó là Trung bát Niết-bàn…” Kinh ấy tuy nói ra điều này, mà không nói rõ là na êm loại thâu nhiếp tất cả, hay là tất cả thâu nhiếp năm loại, c ũng chưa hề hiển bày về mạnh-yếu sai biệt, nay cần phải trình bày đầy đủ, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Là năm loại thâu nhiếp tất cả, hay là tất cả thâu nhiếp năm loại? Đáp: Tất cả thâu nhiếp năm lo ại, không phải là năm loại thâu nhiếp tất cả. Không thâu nhiếp những gì? Đó là Bất hoàn nhập Niết- bàn trong pháp hiện tại(hiện pháp bát niết-bàn) và Bất hoàn sinh đến cõi Vô sắc. Trong này, tất cả là nhiều chứ không phải là năm loại, cho nên tất cả thâu nhiếp năm loại, không phải là năm thâu nhiếp tất cả; giống như cái chậu lớn che phủ cái chậu nhỏ, chứ không phải là cái chậu nhỏ che phủ cái chậu lớn. Tất cả, đó là bảy loại Bất hoàn, tức là năm loại trước, cọng thêm Bất hoàn nhập Niết-bàn trong pháp hiện tại và Bất hoàn sinh đến cõi 396 BỘ TỲ ĐÀM 6 Vô sắc. Trong đó, hai loại sau không phải là do năm loại thâu nhiếp, cho nên gọi là nhiều. Hỏi: Cũng có loại nhập Niết-bàn không nhất định, đó là hoặc ở tại cõi Dục mà nhập Niết-bàn, hoặc ở tại cõi Sắc mà nhập Niết-bàn, hoặc ở tại cõi Vô sắc mà nhập Niết-bàn, vì sao trong này không nói? Đáp: Cần phải nói mà không nói đến, thì nên biết là nghĩa này có khác. Lại nữa, loại ấy chính là tha âu nhiếp ở trong bảy loại Bất hoàn, cho nên không nói riêng biệt. Nghĩa là loại ấy nếu nhập Niết-bàn ở cõi Dục, thì chính là thuộc về Bất hoàn nhập Niết-bàn trong pháp hiện tại; nhập Niết-bàn ở cõi Sắc thì thuộc về năm loại Bất hoàn; nhập Niết-bàn ở cõi Vô sắc thì thuộc về Bất hoàn sinh đến cõi Vô sắc. Hỏi: Cũng có loại chuyển sinh mà nhập Niết-bàn, đó là người ấy hoặc từ phần vị qua lại bảy lần cuối cùng trong sinh tử (cực thất phản hữu), hoặc từ phần vị Gia gia, hoặc từ phần vị Nhất lai, hoặc từ phần vị Nhất gián, đạt được quả Bất hoàn, người ấy đạt được quả rồi nhất định ở đời này có thể nhập Niết-bàn, người ấy không phải là nhập Niết-bàn trong pháp hiện tại, bởi vì trong kinh nói: “Thế nào là nhập Niết-bàn trong pháp hiện tại? Đó là ngay đời na øy đạt được quả Dự lưu, tiến tới đoạn kiết còn sót lại, đạt được quả Nhất lai-Bất hoàn và quả A-la-hán.” Bởi vì nhân duyên này cho nên chuyển sinh mà nhập Niết-bàn không phải là do bảy loại thâu nhiếp, vì sao trong này không nói? Đáp: Cần phải nói mà không nói đến, thì nên biết là nghĩa này có khác. Lại nữa, loại ấy do chán ngán đầu thai(thọ sinh) cho nên đạt được quả Bất hoàn rồi, chưa trải qua bao lâu thì nhập Niết-bàn, bởi vì ở trong thời gian ấy rất ngắn ngủi, cho nên không có thể kiến lập, vì vậy không nói đến. Lại nữa, loại ấy cũng thâu nhiếp ở trong Bất hoàn nhập Niết-bàn trong pháp hiện tại, cho nên không nói riêng biệt, bởi vì dựa vào đời này đạt được quả Bất hoàn, thì nhập Niết-bàn ngay ở đời này. Hỏi: Trung bát Niết-bàn và Sinh bát Niết-bàn, loại nào là hơn hẳn? Đáp: Nếu trú và đoạn bằng nha u thì Trung bát Niết-bàn là hơn hẳn, nếu Sinh bát Niết-bàn đoạn kiết nhiều thì loại ấy là hơn hẳn. Nghĩa là hai Bất hoàn này nếu cùng có đ ủ phiền não(phược) của Tĩnh lự thứ nhất, cho đến nếu cùng đoạn kiết thuộc tám phẩm trước của Tĩnh lự thứ tư, thì Trung bát Niết-bàn do ba điều cho nên hơn hẳn: SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 174 397 www.daitangkinh.org 1. Nhận lấy khổ ít hơn, bởi vì lo ại này nhận lấy khổ của một đời(hữu), loại kia nhận lấy khổ của hai đời. 2. Nhanh chóng dập tắt lửa phiền não. 3. Nhanh chóng rời bỏ gánh nặng cu ûa Uẩn. Nếu Trung bát Niết- bàn có đủ phiền não của Tĩnh lự thứ nhất, cho đến đoạn kiết thuộc bảy phẩm trước của Tĩnh lự thứ tư; Sinh bát Niết-bàn đoạn một phẩm kiết của Tĩnh lự thứ nhất, cho đến đoạn kiết thuộc tám phẩm trước của Tĩnh lự thứ tư, thì Sinh bát Niết-bàn do một điều cho nên hơn hẳn, đó là trú nhiều trong đoạn. Hỏi: Trung bát Niết-bàn cho đến Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh, loại nào là hơn hẳn? Đáp: Nếu trú và đoạn bằng nhau thì Trung bát Niết-bàn là hơn hẳn; nếu cho đến Thượng lưu vãng Sa éc Cứu Cánh đoạn kiết nhiều thì loại ấy là hơn hẳn. Nghĩa là Trung bát Niết-bàn, nếu so với Hữu hành bát Niết-bàn và Vô hành bát Ni ết-bàn, thì đều nói như so với Sinh bát Niết-bàn; nếu so với Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh thì có sai biệt đối với nhận lấy khổ, đó là bởi vì loại này chỉ nhận lấy khổ của một đời, loại kia ít nhất phải nhận lấy khổ của bốn đời, còn lại nói như trước. Hỏi: Như vậy Sinh bát Niết-bàn, cho đến Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh; Hữu hành bát Niết-bàn, cho đến Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh; Vô hành bát Niết-bàn và Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh, loại nào là hơn hẳn? Đáp: Nếu trú và đoạn bằng nhau thì Sinh bát Niết-bàn… là hơn hẳn. Nếu Hữu hành bát Niết-bàn… đoa ïn kiết nhiều thì loại ấy là hơn hẳn. Nghĩa là các Bất hoàn này tùy theo sự đối lập với nhau, nếu cùng có đủ phiền não của Tĩnh lự thứ nhất, cho đến nếu cùng đoạn kiết thuộc tám phẩm trước của Tĩnh lự thứ tư, thì Sinh bát Niết-bàn so với Hữu hành bát Niết-bàn, do một điều ch o nên hơn hẳn, đó là Sinh bát Niết- bàn có sự chuyên cần về Tu đạo và nhanh chóng tiến thêm về đạo, Hữu hành bát Niết-bàn chỉ có sự chuyên cần về Tu đạo mà không có nhanh chóng tiến thêm về đạo; so với Vô hành bát Niết-bàn, do hai điều cho nên hơn hẳn, bởi vì loại ấy không c ó sự chuyên cần về Tu đạo cũng không có nhanh chóng tiến thêm về đa ïo; so với Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh, do một điều cho nên hơn hẳn, đó là nhận lấy khổ ít hơn, bởi vì loại này nhận lấy khổ của hai đời, loại kia ít nhất phải nhận lấy khổ của bốn đời. Hữu hành bát Niết-bàn so với Vô hành bát Niết-bàn, do một điều cho nên hơn hẳn, bởi vì loại này có sự chuyên cần về Tu đạo, loại kia 398 BỘ TỲ ĐÀM 6 không có cả hai; so với Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh, do một điều cho nên hơn hẳn, đó là nhận lấy khổ ít hơn, bởi vì loại này nhận lấy khổ của hai đời, loại kia ít nhất phải nhận lấy khổ của bốn đời. Vô hành bát Niết-bàn so với Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh, cũng do một điều cho nên hơn hẳn, đó là nhận lấy khổ ít hơn, bởi vì loại này nhận lấy khổ của hai đời, loại kia ít nhất phải nhận lấy khổ của bốn đời. Nếu Sinh bát Niết-bàn… có đủ phiền não của Tĩnh lự thứ nhất, cho đến đoạn kiết thuộc bảy phẩm trước c ủa Tĩnh lự thứ tư, Hữu hành bát Niết-bàn… đoạn một phẩm kiết của Tĩnh lự thứ nhất, cho đến đoạn kiết thuộc tám phẩm trước của Tĩnh lự t hứ tư, thì Hữu hành bát Niết-bàn…, so với Sinh bát Niết-bàn…, do một điều cho nên hơn hẳn, đó là trú nhiều trong đoạn. Lại nữa, luận Tập Dị Môn nói: “Có năm loại Bổ-đặc-già-la Bất hoàn, đó là Trung bát Niết-bàn, cho đến Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh”. Thế nào là Trung bát Niết-bàn? Đ ó là có Bổ-đặc-già-la, trong đời trước đã đoạn-đã biết khắp đối với năm kiết thuận phần dưới, chưa đoạn-chưa biết khắp đối với năm kiết thuận pha àn trên, tạo tác tăng trưởng thuận theo Khởi hữu mà t họ nghiệp, không tạo tác tăng trưởng thuận theo Sinh hữu mà thọ nghiệp, t ừ đó mạng chung khởi lên Trung hữu của cõi Sắc, liền trú vào Trung hữu ấy đạt được đạo vô lậu thuộc chủng loại như vậy. Nhờ vào lực của đạo này tiến tới đoạn kiết còn sót lại, mà nhập Niết-bàn ở cảnh giới Niết-bàn Vô dư y, đó gọi là Trung bát Niết-bàn.” Hỏi: Vì sao gọi là Trung bát Niết-bàn? Đáp: Bổ-đặc-già-la này đã vượt qua cõi Dục, chưa đến cõi Sắc, trú vào Trung hữu ấy mà nhập Niết-bàn, cho nên gọi là Trung bát Niết- bàn. Lại nữa, Bổ-đặc-già-la này là lợi căn, bởi vì phiền não nhẹ nhàng, có thể ở phần vị Trung hữu mà nhập Niết-bàn, cho nên gọi là Trung bát Niết-bàn. Lại nữa, Bổ-đặc-già-la này trước đây đạt được c ó tâm, có tâm không gián đoạn đạt được tâm Học, tâm Học không gián đoạn đạt được tâm Vô học, tâm Vô học không gián đoạn đạt được tâm Phi học phi vô học, liền trú vào tâm ấy mà nhập Niết-bàn, cho nên gọi là Trung bát Niết-bàn. Hỏi: Ở đây nói đến Dục sai biệt là ai? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 174 399 www.daitangkinh.org Đáp: Dục sai biệt là Thánh giả khác, nghĩa là Thánh giả khác đối với tâm Học không gián đoa ïn, hoặc là khởi lên ta âm Vô học, hoặc là khởi lên tâm Phi học phi vô học; lo ại này thì không như vậy, tâm Học không gián đoạn, nhất định khởi lên tâm Vô học. Thánh giả khác đối với tâm Phi học phi vô học không gián đoạn, hoặc là nhập Niết-bàn, hoặc lại khởi lên tâm Vô học; loại này thì không như vậy, tâm Phi học phi vô học không gián đoạn, nhất định nhập Niết-bàn. Bởi vì Thánh giả khác thường xuyên khởi lên Thánh đạo hiện rõ ở trước mắt, loại này thì không thường xuyên khởi lên. “Thế nào là Sinh bát Niết-bàn? Đó là có Bổ-đặc-già-la, trong đời trước đã đoạn-đã biết khắp đối với năm kiết thuận phần dưới, chưa đoạn-chưa biết khắp đối với năm kiết thuận pha àn trên, tạo tác tăng trưởng thuận theo Khởi hữu mà thọ nghiệp, thuận theo Sinh hữu mà thọ nghiệp, từ đó mạng chung khởi lên Trung hữu của cõi Sắc, sinh vào trời cõi Sắc, sinh rồi chưa bao lâu đạt được đạo vô lậu thuộc chủng loại như vậy. Nhờ vào lực của đạo này tiến t ới đoạn kiết còn sót lại, mà nhập Niết-bàn ở cảnh giới Niết-bàn Hữu dư y, đó gọi là Sinh bát Niết-bàn.” Hỏi: Vì sao gọi là Sinh bát Niết-bàn? Đáp: Bổ-đặc-già-la này, sinh ở đó chưa bao lâu thì đạt được quả A-la-hán mà nhập Niết-bàn, cho nên gọi là Sinh bát Niết-bàn. Lại nữa, Bổ-đặc-già-la này, si nh ở đó chưa bao lâu thì đạt được quả A-la-hán, hết thọ lượng của nơi ấy mới nhập Niết-bàn, cho nên gọi là Sinh bát Niết-bàn. Hỏi: Nếu hết thọ lượng của nơi ấy mới nhập Niết-bàn, thì vì sao gọi là Sinh bát Niết-bàn? Đáp: Bởi vì dựa vào phiền na õo mà nói Niết-bàn, không phải là dựa vào Uẩn mà nói Niết-bàn, cho nên không có lỗi. “Thế nào là Hữu hành bát Niết-ba øn? Đó là có Bổ-đặc-già-la, trong đời trước dựa vào đạo có hành luôn luôn tác ý, dựa vào Tam-ma- địa không ngừng gia hạnh, đã đoạn-đã biết khắp đối với năm kiết thuận phần dưới, chưa đoạn-chưa biết khắp đối với năm kiết thuận phần trên, tạo tác tăng trưởng thuận theo Khởi hữu mà thọ nghiệp, thuận theo Sinh hữu mà thọ nghiệp, từ đó mạng chung khởi lên Trung hữu của cõi Sắc, sinh vào trời cõi Sắc, sinh rồi trải qua thời gian dài. Lại dựa vào đạo có hành luôn luôn tác ý, dựa vào Tam-ma-địa không ngừng gia hạnh, tiến tới đoạn kiết còn sót lại, mà nha äp Niết-bàn ở cảnh giới Niết-bàn Hữu dư y, đó gọi là Hữu hành bát Niết-bàn.” Hỏi: Vì sao gọi là Hữu hành bát Niết-bàn? 400 BỘ TỲ ĐÀM 6 Đáp: Bổ-đặc-già-la này nhờ vào đạo có hành, đoạn phiền não còn sót lại mà nhập Niết-bàn, cho nên gọi là Hữu hành bát Niết-bàn. Lại nữa, Bổ-đặc-già-la này nhờ vào đạo có hà nh, đạt được quả A-la-hán, hết thọ lượng ấy mà nhập Niết-bàn, cho nên gọi là Hữu hành bát Niết-bàn. Lại nữa, Bổ-đặc-già-la này dựa vào đạo duyên với hữu vi, tiến tới đoạn kiết còn sót lại mà nhập Niết -bàn, cho nên gọi là Hữu hành bát Niết-bàn. “Thế nào là Vô hành bát Niết-bàn? Đó là có Bổ-đặc-già-la, trong đời trước dựa vào đạo không có ha ønh, không luôn luôn tác ý, dựa vào Tam-ma-địa dừng lại gia hạnh, đã đoạn- đã biết khắp đối với năm kiết thuận phần dưới, chưa đoạn-chưa biết khắp đối với năm kiết thuận phần trên, tạo tác tăng trưởng thuận theo Khởi hữu mà thọ nghiệp, thuận theo Sinh hữu mà thọ nghiệp, từ đó mạng chung khởi lên Trung hữu của cõi Sắc, sinh vào trời cõi Sắc, sinh rồi trải qua thời gian dài. Lại dựa vào đạo không có hành, không luôn luôn tác ý, dựa vào Tam-ma-địa dừng lại gia hạnh, tiến tới đoạn kiết còn sót lại, mà nhập Niết-bàn ở cảnh giới Niết-bàn Hữu dư y, đó gọi là Vô hành bát Niết-bàn.” Hỏi: Vì sao gọi là Vô hành bát Niết-bàn? Đáp: Bổ-đặc-già-la này nhờ vào đạo không có hành, đoạn phiền não còn sót lại mà nhập Niết-bàn, cho nên gọi là Vô hành bát Niết- bàn. Lại nữa, Bổ-đặc-già-la này nhờ vào đạo không có hành, đạt được quả A-la-hán, hết thọ lượng ấy mà nhập Niết-bàn, cho nên gọi là Vô hành bát Niết-bàn. Lại nữa, Bổ-đặc-già-la này dựa vào đạo duyên với vô vi, tiến tới đoạn kiết còn sót lại mà nhập Ni ết-bàn, cho nên gọi là Vô hành bát Niết-bàn. “Thế nào là Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh? Đó là có Bổ-đặc- già-la, trong đời trước đã đoạn-đã biết khắp đối với năm kiết thuận phần dưới, chưa đoạn-chưa biết khắp đối với năm kiết thuận phần trên, đạt được bốn Tĩnh lự thế tục, lúc sa ép mạng chung thì lui sụt ba Tĩnh lự trên, trú vào Tĩnh lự thứ nhất. Bởi vì dựa vào ái của đị a ấy và địa ấy, tạo tác tăng trưởng thuận theo Khởi hữu mà thọ nghiệp, thuận theo Sinh hữu mà thọ nghiệp, từ đó mạng chung khởi lên Trung hữu của cõi Sắc, sinh vào cõi trời Phạm Chúng. Sinh rồi lại có t hể tiến vào Tĩnh lự thứ hai thuộc thế tục, bởi vì dựa vào ái c ủa địa ấy và địa ấy, tạo tác tăng trưởng thuận theo Khởi hữu mà thọ nghiệp, thuận theo Sinh hữu mà thọ SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 174 401 www.daitangkinh.org nghiệp, từ đó mạng chung sinh vào cõi trời Cực Quang Tịnh. Sinh rồi lại có thể tiến vào Tĩnh lự thứ ba thuộc thế tục, bởi vì dựa vào ái của địa ấy, cho đến từ đó mạng chung sinh vào c õi trời Biến Tịnh. Sinh rồi lại có thể tiến vào Tĩnh lự thứ tư thuộc thế tục, bởi vì dựa vào ái của địa ấy, cho đến từ đó mạng chung sinh vào cõi trời Quảng Quả. Sinh rồi lại có thể khởi lên phẩm Hạ tu xen lẫn Tĩnh lự thứ tư thuộc thế tục, bởi vì dựa vào ái của địa ấy, cho đến từ đó mạng chung sinh vào cõi trời Vô Phiền. Như vậy cho đến lần lượt khởi lên tất cả bốn phẩm còn lại, tu xen lẫn ở Tĩnh lự thứ tư thuộc thế tục, lần lượ t sinh đến ở tất cả bốn cõi trời còn lại. Đó gọi là Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh.” Hỏi: Vì sao gọi là Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh? Đáp: Lưu có hai loại, một là do ái sinh tử, hai là do nghiệp đời sau. Bổ-đặc-già-la này đối với hai lo ại Lưu đều chưa đoạn-chưa biết khắp, từ đây làm duyên và làm nhân, hiện hành ở cõi trên-hiện hành theo cõi trên, qua lại ở cõi trên-qua lại theo cõi trên, thọ nhận ở cõi trên-thọ nhận theo cõi trên, lưu chuyển ở cõi trên-lưu chuyển theo cõi trên, cho nên gọi là Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh. Lại nữa, Bổ-đặc-già-la này không hiện hành ở cõi dưới, chỉ hiện hành thắng tiến đạt được Định và sinh ra chuyển lên cõi trên-chuyển sang vi diệu-chuyển sang thù thắng, tiến vào Định ấy-thọ sinh nơi ấy, cho nên gọi là Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh. Lại nữa, Bổ-đặc-già-la này lưu chuyển ở cõi trên-sinh đến cõi trên, làm cho nối tiếp nhau sinh đến cõi trên, cho nên gọi là Thượng lưu. Hỏi: Dị sinh cũng có lưu chuyển ở cõi trên-sinh đến cõi trên, làm cho nối tiếp nhau sinh đến cõi trên, vì sao không gọi là Thượng lưu? Đáp: Nếu chỉ lưu chuyển ở cõi trên chứ không lưu chuyển ở cõi dưới, thì gọi là Thượng lưu; dị sinh lưu chuyển ở cõi trên mà cũng lưu chuyển ở cõi dưới, cho nên không gọi là Thượng lưu. Có người nói: Nếu lưu chuyển ở cõi trên, khắp tất cả mọi nơi không có gì chướng ngại, thì gọi la ø Thượng lưu; dị sinh không có thể ở khắp tất cả mọi nơi không có gì chướng ngại, c ho nên không gọi là Thượng lưu, bởi vì họ ở cõi Tịnh Cư thì có chướng ngại. Hỏi: Thánh giả lưu chuyển ở c õi trên cũng có chướng ngại đối với hai nơi, đó là Đại Phạm Vương và Vô tưởng xứ, vì sao có thể gọi là Thượng lưu? Đáp: Bởi vì nơi ấy không có xứ sở riêng biệt, mà thuộc về hai cõi Phạm Phụ-Quảng Quả, cho nên vẫn có thể gọi là khắp tất cả mọi nơi. 402 BỘ TỲ ĐÀM 6 Có người nói: Nếu lưu chuyển ở cõi trên, mà có thể vượt qua cõi- đạt được quả, vĩnh viễn đoạn trừ năm kiết thuận phần dưới, thì gọi là Thượng lưu; dị sinh tuy có thể vượt qua cõi mà không đạt được quả, cũng không vĩnh viễn đoạn trừ năm kiết thuận phần dưới, cho nên không gọi là Thượng lưu. Có người nói: Đầy đủ ba loại Lưu thì gọi là Thượng lưu, đó là nghiệp-phiền não cùng với Thánh giả; dị sinh chỉ có lưu chuyển của ng- hiệp-phiền não chứ không có lưu c huyển của Thánh giả, vì vậy không gọi là Thượng lưu. Lại nữa, Thượng lưu có hai loại: 1. Hiện hành ở cõi Sắc. 2. Hiện hành ở cõi Vô sắc. Hiện hành ở cõi Sắc là cho đến cõi trời Sắc Cứu Cánh. Hiện hành ở cõi Vô sắc là cho đến cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng. Vả lại, hiện hành ở cõi Sắc thì có tu xen lẫn Tĩ nh lự, hiện hành ở cõi Vô sắc thì không có tu xen lẫn Tĩnh lự. Lại nữa, Thượng lưu có ba loại: 1. Vượt qua toàn bộ. 2. Vượt qua một nửa. 3. Chết ở tất cả mọi nơi. Vượt qua toàn bộ, đó là ở cõi Dục chết đi sinh đến cõi trời Phạm Chúng, ở cõi trời Phạm Chúng chết đi sinh đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, hoặc là sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, mà nhập Niết-bàn. Vượt qua một nửa, đó là ở cõi Dục chết đi sinh đến cõi trời Phạm Chúng, ở cõi trời Phạm Chúng chết đi, đối với tất cả các cõi trời phía trên hoặc là sinh trở lại một nơi, hoặc hai-hoặc ba-hoặc bốn-hoặc năm, cho đến hoặc là chỉ vượt qua một nơi, sinh đến khắp mọi nơi khác, sau đó mới sinh đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, hoặc là sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, mà nhập Niết-bàn. Chết ở tất cả mọi nơi, đó là ở cõi Dục chết đi sinh đến cõi trời Phạm Chúng, ở cõi trời Phạm Chúng chết đi sinh đến cõi trời Phạm Quang Hành, như vậy lần lượt sinh đến các cõi trên, cho đến sinh vào cõi trời Quảng Quả, từ đó trở lên có hai con đường riêng biệt: 1. Tiến vào Tịnh Cư. 2. Tiến vào Vô sắc. Tiến vào Tịnh Cư, là ở cõi trời Quảng Quả chết đi sinh đến cõi trời Vô Phiền, lần lượt cho đến sinh vào cõi trời Sắc Cứu Cánh mà nhập Niết-bàn. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 174 403 www.daitangkinh.org Tiến vào Vô sắc, là ở cõi trời Quảng Quả chết đi sinh đến Không vô biên xứ, lần lượt cho đến sinh vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, mà nhập Niết-bàn. Như chết ở tất cả mọi nơi có hai con đường riêng biệt, nên biết vượt qua toàn bộ và vượt qua một nửa cũng như vậy. Hỏi: Những gì là Thượng lưu tiến vào Tịnh Cư, những gì là Thượng lưu tiến vào Vô sắc? Đáp: Có hai loại Thượng lưu, đó la ø hành Tỳ-bát-xá-na và hành Xa-ma-tha. Hành Tỳ-bát-xá-na thì tiến vào Tịnh Cư, hành Xa-ma-tha thì tiến vào Vô sắc. Lại nữa, có hai loại Thượng lưu, đó là vui với Định thù thắng và vui với Sinh thù thắng. Vui với Định thù thắng thì tiến vào Tịnh Cư. Vui với Sinh thù thắng thì tiến vào Vô sắc. Lại nữa, có hai loại Thượng lưu, đó là vui với Quyết trạch và vui với Tịch tĩnh. Vui với Quyết trạch thì tiến vào Tịnh Cư. Vui với Tịch tĩnh thì tiến vào Vô sắc. Lại nữa, có hai loại Thượng lưu, đó là Tu xen lẫn và Tu không xen lẫn. Tu xen lẫn thì tiến vào Tịnh Cư. Tu không xen lẫn thì tiến vào Vô sắc. Vả lại, Thượng lưu chết ở tất cả mọi nơi, có lúc hiển bày nơi đến chứ không phải là nơi đi, có lúc hi ển bày nơi đi chứ không phải là nơi đến, có lúc hiển bày nơi đến cũng là hi ển bày nơi đi. Có lúc hiển bày nơi đến chứ không phải là nơi đi, đó là sinh đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, hoặc là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Có lúc hiển bày nơi đi chứ không phải là nơi đến, đó là sinh đến cõi trời Phạm Chúng. Có lúc hiển bày nơi đến cũng là hiển bày nơi đi, đó là sinh vào các cõi trung gian. Không phải là hiển bày nơi đến cũng không pha ûi là hiển bày nơi đi, loại này không có. Hỏi: Như trước nói là người hướn g đến Sắc Cứu Cánh, thì trước đó đạt được bốn Tĩnh lự thế tục, sau đó lui sụt trú vào Tĩnh lự thứ nhất; người ấy hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì trước đó cũng đạt được bốn Tĩnh lự thế tục, sau đó lui sụt thì trú vào Tĩnh lự thứ nhất hay không? Đáp: Cũng có. Như trước đó đạt được bốn Tĩnh lự thế tục, sau đó lui sụt trú vào Tĩnh lự thứ nhất, mạng chung sinh đến cõi Phạm Thế, lần lượt chuyển tiếp cho đến sinh vào c õi trời Sắc Cứu Cánh; như vậy cũng có trước đó đạt được bốn Tĩnh lự thế tục-bốn Vô sắc, sau đó lui sụt trú vào Tĩnh lự thứ nhất, mạng chung sinh đến cõi Phạm Thế, lần lượt chuyển tiếp cho đến sinh vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng không nhất định phải như vậy. 404 BỘ TỲ ĐÀM 6 Hỏi: Vì sao không nói người ấy lui sụt Tĩnh lự thứ nhất? Đáp: Bởi vì không có ai lui sụt Tĩnh lự thứ nhất mà mạng chung, vì vậy không nói đến. Vả lại, trong này hiển bày về sự sai biệt của Bất hoàn, người ấy lui sụt Tĩnh lự thứ nhất thì không phải là Bất hoàn, vì vậy không nói đến. Hỏi: Như nói lui sụt trú vào Tĩnh lự thứ nhất, sinh đến cõi trời Phạm Chúng, làm Thượng lưu vượt qua toàn bộ, vượt qua một nửa, chết ở tất cả mọi nơi; người ấy nếu lui sụt trú vào Tĩnh lự thứ hai, sinh đến cõi trời Thiểu Quang, lui sụt trú vào Tĩnh lự thứ ba, sinh đến cõi trời Thiểu Tịnh, lui sụt trú vào Tĩnh lự thứ tư, sinh đến cõi trời Vô Vân…, thì lúc ấy cũng có thể làm Thượng lưu vượt qua toàn bộ, vượt qua một nửa, chết ở tất cả mọi nơi hay không? Đáp: Có người nói: Không có thể, bởi vì sinh đến cõi Phạm Thế, không có thiếu hụt đối với nơi sinh phù hợp của Bất hoàn ở cõi trên, dựa vào đó mà kiến lập vượt qua toàn bộ, vượt qua một nửa, chết ở tất cả mọi nơi. Nếu lui sụt mà sinh vào nơi của địa trên thì sẽ có thiếu hụt, cho nên không dựa vào đó để kiến lập vượt qua toàn bộ… Có người nói: Lúc ấy cũng có thể gọi là vượt qua một nửa, bởi vì vượt qua phần ít của cõi trung gian. Có người nói: Cũng có thể gọi là đầy đủ ba loại. Người ấy nói bởi vì từ cõi Dục chết đi hễ sinh va øo nơi nào, thì đối với nơi sinh phù hợp ở cõi trên ấy, cũng có thể thi thiết vượt qua toàn bộ, vượt qua một nửa, chết ở tất cả mọi nơi. Hỏi: Nếu người Bất hoàn từ cõi Dục chết đi sinh đến cõi Vô sắc, thì cũng có thể làm Thượng lưu vượt qua toàn bộ… hay không? Đáp: Có người nói: Không có thể. Có người nói: Lúc ấy cũng có thể gọi là vượt qua một nửa. Có người nói: Lúc ấy cũng gọi là đầy đủ ba loại. Trong này, nguyên cớ đều giải thích như trước. Hỏi: Như Thượng lưu hướng đến Sắc Cứu Cánh, nhất định trước đó đạt được bốn Tĩnh lự, lui sụt sinh đến cõi Phạm Thế, sau đó mới có thể hướng đến cõi trời Sắc Cứu Cánh; lúc ấy Thượng lưu hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, cũng nhất đị nh trước đó đạt được bốn Vô sắc, lui sụt sinh đến cõi Phạm Thế, sau đó mới có thể hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ chăng? Đáp: Không nhất định phải như va äy, bởi vì sinh ở cõi Sắc không có thể bắt đầu khởi lên tu xen lẫn Tĩnh lự, phải là lúc ở cõi Dục đã từng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 174 405 www.daitangkinh.org khởi lên, nay tiếp tục tu trở lại thì mới có thể hướng đến Sắc Cứu Cánh. Sinh ở Vô sắc thì càng không có nghiệp loại thù thắng như vậy, phải là ở cõi Dục đã từng khởi lên, nay tiếp tục tu trở lại, sau đó mới có thể sinh đến cõi Hữu Đảnh. Vì vậy, người hướng đến cõi Hữu Đảnh, nếu trước đó đạt được Vô sắc mà lui sụt, hoặc là trước đó không đạt được, lúc ấy ở cõi Dục chết đi, sinh đến cõi trời Phạm Chúng, thì đều có thể hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Hỏi: Đã nói đến Thượng lưu, là chỉ riêng Tín thắng giải, hay là cũng có Kiến chí? Đáp: Nếu không lui sụt Định của địa trên mà Thượng lưu, thì đây là bao gồm hai loại; nếu lui sụt Định của địa trên mà Thượng lưu, thì chỉ riêng Tín thắng giải. Lại nữa, ngay lúc lui sụt Đị nh của địa trên mà Thượng lưu, thì cũng bao gồm hai loại. Hỏi: Kiến chí ấy vì sao lui sụt ? Đáp: Bởi vì Kiến chí ấy không phải là tánh vốn có, chỉ ở sau lúc lu i sụt trong thời gian chưa mạng chung, từ Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, sau đó mạng chung mà sinh lên cõi trên làm Thượng lưu. Hỏi: Như cõi Sắc có Trung bát Niết-bàn, cõi Dục cũng có chăng? Đáp: Không có. Hỏi: Vì sao? Đáp: Bởi vì cõi Dục là cõi không nhất định, không phải là địa của tu, không phải là địa của lìa nhi ễm, có nhiều những sai lầm, nhiều tai họa bất ngờ làm cho trở ngại, lúc trú trong Bổn hữu hãy còn khó đạt được quả, huống là trú trong thân mong manh yếu kém của Trung hữu hay sao? Cõi Sắc thì không như vậy, cho nên trú vào Trung hữu mà có thể nhập Niết-bàn. Lại nữa, nếu trú vào Trung hữu của cõi Dục mà nhập Niết-bàn, thì dựa vào Trung hữu có thể vượt qua ba cõi; nhưng không có ai có thể vượt qua ba cõi nhờ vào thân Trung hữu. Lại nữa, nếu trú vào Trung hữu của cõi Dục mà nhập Niết-bàn, thì có thể đoạn dứt phiền não của ba cõi trong thân Trung hữu ; nhưng không có ai có thể đoạn dứt phiền na õo của ba cõi ở trong thân Trung hữu . Lại nữa, nếu trú vào Trung hữu của cõi Dục mà nhập Niết-bàn, thì có thể đoạn dứt hai loại phiền não bất thiện-vô ký trong thân Trung hữu; nhưng không có ai có thể đoạn dứt hai loại phiền não bất thiện-vô ký ở trong thân Trung hữu. 406 BỘ TỲ ĐÀM 6 Lại nữa, nếu trú vào Trung hữu của cõi Dục mà nhập Niết-bàn, thì có thể chứng được hoặc là hai hay là ba quả Sa-môn trong thân Trung hữu; nhưng không có ai có thể chứng được hoặc là hai hay là ba quả Sa- môn trong thân Trung hữu. Bởi vì nghĩa này, cho nên chỉ riêng cõi Sắc là có Trung bát Niết-bàn, mà cõi Dục thì không có. Lại nữa, Trung bát Niết-bàn thì nhất định ở đời trước đã lìa nhiễm của cõi Dục, đã lìa nhiễm của cõi Dục th ì chắc chắn không khởi lên Trung hữu của cõi Dục, cho nên ở cõi Dục không có Trung bát Niết- bàn. Lại nữa, phiền não-nghiệp của cõi Dục nặng nề, không phải là ở trong thân mong manh yếu kém của Trung hữu mà có thể đoạn trừ. Lại nữa, Trung hữu không phải là sở y đạt được quả Bất hoàn, mà chỉ là sở y đạt được quả A-la-hán. Lại nữa, Trung hữu của cõi Dục chắc chắn không có thể khởi lên Thánh đạo hiện rõ trước mắt, bởi vì yếu kém; cõi Sắc thì không như vậy. Bởi vì nghĩa này, cho nên cõi Dục không có Trung bát Niết-bàn. Lại nữa, Trung hữu mong manh yếu kém chỉ có thể khởi lên Thánh đạo hiện rõ trước mắt ở đị a Căn bản của mình, chứ không phải là Vị chí…, bởi vì khó khởi lên. Nếu Trung hữu của cõi Dục mà nhập Niết-bàn, thì cùng với điều này trái ngược nhau, cho nên chắc chắn không có. Lại nữa, cõi Dục có phiền não tương ưng với nghịch-thuận, có phiền não của sáu cửa ngõ bên ngoài, có phiền não có thể dẫn đến hai quả, có phiền não tương ưng với không có Tàm-không có Qúy, và có các tùy phiền não với đủ loại hỗn tạp như Phẫn-Hận…, khó phá bỏ-khó đoạn trừ-khó vượt qua-khó xa rời. Trú trong Bổn hữu dấy lên công dụng to lớn, mà hãy còn khó đoạn trừ, huống là ở phần vị Trung hữu? Vì vậy không có Trung bát Niết-bàn ở cõi Dục. Lại nữa, nếu như đã từng tu đầy đ ủ chín phẩm đối trị thì mới có thể nhập Niết-bàn ở phần vị Trung hữu, Trung hữu của cõi Dục chắc chắn chưa tu đầy đủ chín phẩm đ ối trị, cho nên Trung hữu ấy không nhập Niết-bàn. Hỏi: Như ở cõi Dục chết đi, nha än lấy Trung hữu của cõi Sắc, có thể nhập Niết-bàn; như vậy từ cõi Sắc chết đi, nhận lấy Trung hữu của cõi Sắc, cũng nhập Niết-bàn hay không? Đáp: Không. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì thân ấy ở cõi Dục nhiều khổ đau-nhiều chướng ngại, rất nhiều tai họa bất ngờ đáng chán ngán, sinh ra chán ngán hết sức, lúc đã rời bỏ rồi khởi lên Trung hữu của cõi SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 174 407 www.daitangkinh.org Sắc hiện rõ ở trước mắt, ở nơi ấy nhận lấy dị thục trải qua thời gian dài, cũng sinh ra chán ngán lo buồn liền nhập Niết-bàn. Cõi Sắc không có tai họa bất ngờ, sự việc hết sức đa ùng chán ngán, làm cho sinh ra chán ngán lo buồn như vậy, như đối với Bổn hữu có duyên ngăn ngại cho nên không nhập Niết-bàn, nay Trung hữu cũng như vậy. Vì vậy từ nơi ấy chết đi khởi lên Trung hữu không nhập Niết-bàn. Lại nữa, nếu từ cõi Sắc chết đi, ngay Trung hữu ấy mà nhập Niết- bàn, lẽ ra cũng gọi là Thượng lưu, thì năm loại Bất hoàn sẽ trở thành tạp loạn, đó là năm loại ấy không có nh ân duyên sai biệt. Chỉ riêng ở cõi Dục chết đi, trú vào thân Trung hữu mà nhập Niết-bàn, thì gọi là Trung bát Niết-bàn, chứ không phải là ở cõi Sắc chết đi. Vả lại, không có nhân duyên từ cõi ấy hướng lên phía trên, cho nên không gọi là Thượng lưu. Do sai lầm này, cho nên Trung hữu của cõi ấy không nhập Niết-bàn. Hỏi: Nếu từ cõi Dục chết đi, khởi lên Trung hữu của cõi Sắc, bởi vì chán ngán cho nên được nhập Ni ết-bàn, thì vì sao không ngay nơi Bổn hữu của cõi Dục được nhập Niết-bàn, bởi vì đã từng chán ngán? Đáp: Bởi vì lúc ấy trú trong B ổn hữu đạt được quả Bất hoàn rồi khởi lên quả A-la-hán, gia hạnh trọn vẹn vào lúc Thánh đạo chưa khởi lên thì đã mạng chung, nhờ vào thế lực trước đây cho nên có thể ở phần vị Trung hữu, tiến tới đoạn kiết còn sót lại mà nhập Niết-bàn. Hỏi: Lúc ấy gia hạnh trọn vẹn vì sao không khởi lên Thánh đạo mà liền mạng chung? Đáp: Bởi vì lúc ấy hoặc là tuổi thọ đã hết, hoặc là nghiệp đã hết, hoặc là phước đã hết, hoặc là do người khác làm hại, hoặc là vì lợi ích cho người khác, hoặc là trái ý gặp phải duyên xấu, không kịp khởi lên Thánh đạo mà đã mạng chung. Có người nói: Lúc ấy đạt được quả Bất hoàn rồi, về sau tu gia hạnh lúc sắp trọn vẹn thì gặp phải bệnh tật kéo dài, hoặc là thiếu hụt vật dụng cung cấp, hoặc là gặp phải nhân duyên về các tai họa của tính mạng, chưa có thể diệt hết phiền não, từ đó lần lượt chuyển tiếp cho đến mạng chung. Bởi vì đã đạt được Uẩn mới thuộc Trung hữu của cõi Sắc, nhờ vào lực tăng thượng của đại chủng và các căn, lập tức có thể dẫn dắt khởi lên Thánh đạo hiện rõ trước mắt, tiến tới đoạn kiết còn sót lại mà nhập Niết-bàn. Hỏi: Nếu từ cõi Dục chết đi, sinh đến cõi Vô sắc, thì cũng có Sinh bát Niết-bàn… hay không? Đáp: Có, bởi vì từ cõi Dục chết đi, sinh đến hai cõi trên, không tiếp tục trải qua Sinh bát Niết-bàn, hễ ở nơi nào thì trong đời sống ở đó, 408 BỘ TỲ ĐÀM 6 đều có thể kiến lập ba loại là Sinh bát Niết-bàn…, cho nên hai đời trở lên, hễ ở nơi nào thì đều có thể kiến lập làm Thượng lưu. Hỏi: Thượng lưu vui với Tuệ không đến cõi Sắc Cứu Cánh, Thượng lưu vui với Định không đến cõi Hữu Đảnh, nhập Niết-bàn ở các cõi dưới thì cũng có thể gọi là hai loại Thượng lưu vui với Tuệ-vui với Định hay không? Đáp: Lúc ấy cũng tùy loại có được tên gọi của hai loại, nhưng nói vui với Tuệ đến cõi Sắc Cứu Cánh, vui với Định đến cõi Hữu Đảnh, là dựa vào nơi cuối cùng mà nói, bởi vì vượt quá nơi này lại không có nơi nào đi đến. Như người Dự lưu, hoặc gọi là qua lại bảy lần cuối cùng trong sinh tử (cực thất phản hữu), ma ø ở trong thời gian ấy nhập Niết- bàn, thì cũng có được tên gọi này; loại ấy cũng như vậy. Hỏi: Vì sao Thánh giả đối với mỗi một nơi sinh của hai cõi trên, chỉ nhận lấy một đời, ở trong cõi Dục thì không như vậy? Đáp: Bởi vì cõi Dục là cõi không nhất định, là địa của tạp loạn, các phiền não-nghiệp lấn ép nhau, xen tạp nhau, không có phạm vi- cách thức chuẩn xác, khiến cho Thánh giả từ địa dưới sinh lên địa trên, từ địa trên lại sinh xuống địa dưới, hoa ëc là ở một nơi mà nhận chịu nhiều lần sinh; cõi Sắc-Vô sắc là c õi nhất định, không phải là địa của tạp loạn, các phiền não-nghiệp không lấn ép-xen tạp nhau, có phạm vi-cách thức chuẩn xác, khiến cho Th ánh giả chỉ sinh lên địa trên chứ không sinh xuống địa dưới, mỗi nơi chỉ một lần sinh. Lại nữa, Thánh giả sinh ở cõi Dục không gọi là Bất hoàn, mà gọi là qua lại bảy lần cuối cùng trong sinh tử…, bởi vì sinh ở địa trên-địa dưới cũng là sinh trở lại một nơi; Thánh giả sinh ở cõi trên gọi là Bất hoàn, bởi vì chỉ sinh lên địa trên cũng không sinh trở lại. Dựa vào nghĩa này, cho nên nghĩa về Bất hoàn đầy đủ, bởi vì hãy còn không sinh vào nơi ban đầu, huống gì có sinh trở lại địa dưới hay sao? Lại nữa, Bổ-đặc-già-la Bất hoàn nói rộng ra có vô lượng loại, nay tạm thời phân biệt về năm loại đi đến cõi Sắc. Nên biết đây là: Dựa vào Cõi để kiến lập cho nên nói là một. Dựa vào Sinh-Bất sinh để kiến lập cho nên nói là hai. Dựa vào Phần vị sai biệt để ki ến lập cho nên nói là năm, đó là Trung bát Niết-bàn cho đến Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh, tức là đã nói ở đây. Dựa vào Căn để kiến lập cho nên nói là mười lăm, đó là căn Hạ- Trung-Thượng, đều có năm. Dựa vào Địa để kiến lập cho nên nói là hai mươi, đó là Tĩnh lự thứ nhất cho đến Tĩnh lự thứ tư, đều có năm. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 174 409 www.daitangkinh.org Dựa vào Chủng tánh để kiến lập cho nên nói là ba mươi, đó là chủng tánh Thối pháp cho đến chủng tánh Bất động pháp, đều có năm. Dựa vào Xứ để kiến lập cho nên nói là tám mươi, đó là cõi trời Phạm Chúng cho đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, đều có năm. Dựa vào Căn của Chủng tánh để kiến lập cho nên nói là chín mươi, đó là căn Hạ-Trung-Thượng của chủng tánh Thối pháp đều có năm, cho đến chủng tánh Bất động pháp cũng như vậy. Dựa vào Chủng tánh của Địa để kiến lập cho nên nói là một trăm hai mươi, đó là sáu chủng tánh của Tĩnh lự thứ nhất đều có năm, cho đến Tĩnh lự thứ tư cũng như vậy. Dựa vào Căn thuộc Chủng tánh của Địa để kiến lập cho nên nói là ba trăm sáu mươi, đó là ba căn thuộc sáu chủng tánh của Tĩnh lự thứ nhất đều có năm, cho đến Tĩnh lự thứ tư cũng vậy. Dựa vào Chủng tánh của Xứ để kiến lập cho nên nói là bốn trăm tám mươi, đó là sáu chủng tánh của cõi trời Phạm Chúng đều có năm, cho đến cõi trời Sắc Cứu Cánh cũng như vậy. Dựa vào Căn thuộc Chủng tánh c ủa Xứ để kiến lập cho nên nói là một ngàn bốn trăm bốn mươi, đó là ba căn thuộc sáu chủng tánh của cõi trời Phạm Chúng đều có năm, cho đến cõi trời Sắc Cứu Cánh cũng như vậy. Dựa vào Căn thuộc Chủng tánh của Xứ lìa nhiễm để kiến lập cho nên nói là một vạn hai ngàn chín tr ăm sáu mươi, đó là một ngàn bốn trăm bốn mươi trước đây đều có chín loại lìa nhiễm sai biệt. Lại nữa, một Trung bát Niết-bàn kiến lập sai biệt cũng có nhiều loại. Đó là: Cõi cho nên nói là một. Căn cho nên nói là ba. Địa cho nên nói là bốn. Chủng tánh cho nên nói là sáu. Lìa nhiễm cho nên nói là chín. Xứ cho nên nói là mười sáu. Căn của Chủng tánh cho nên nói là mười tám. Chủng tánh của Địa cho nên nói là hai mươi bốn. Lìa nhiễm của Địa cho nên nói là ba mươi sáu. Căn thuộc Chủng tánh của Địa cho nên nói là bảy mươi hai. Chủng tánh của Xứ cho nên nói là chín mươi sáu. Căn thuộc Lìa nhiễm của Địa cho nên nói là một trăm lẻ tám. 410 BỘ TỲ ĐÀM 6 Lìa nhiễm của Xứ cho nên nói là một trăm bốn mươi bốn. Căn thuộc Lìa nhiễm của Chủng tánh cho nên nói là một trăm sáu mươi hai. Chủng tánh thuộc Lìa nhiễm của Địa cho nên nói là hai trăm mười sáu. tám. Căn thuộc Chủng tánh của Xứ cho nên nói là hai trăm tám mươi Căn thuộc Chủng tánh về Lìa nhiễm của Địa cho nên nói là sáu trăm bốn mươi tám. Lìa nhiễm thuộc Chủng tánh của Xứ cho nên nói là tám trăm sáu mươi bốn. Căn về Lìa nhiễm thuộc Chủng tánh của Xứ nói là hai ngàn năm trăm chín mươi hai. Như Trung bát Niết-bàn có bao nhiêu, cho đến Thượng lưu vãng Sắc Cứu Cánh cũng như vậy. Như vậy tổng cọng có một vạn hai ngàn chín trăm sáu mươi Bất hoàn khác nhau. Như kiến lập sai biệt về Bất hoàn đi đến cõi Sắc, như vậy kiến la äp sai biệt về Bất hoàn đi đến cõi Vô sắc tùy theo thích hợp cũng như vậy.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt