A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 175
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
如契經說。佛告苾芻。有七善士趣。能進斷 餘結得般涅槃。問云何建立七善士趣。為 以界沙門果故。為以地處所故。為以根 煩惱故而建立耶。設爾何過。若以界沙門 果故而建立者應但說一。謂行色界不還。 若以地處所故而建立者但應說四或說 十六。若以根煩惱故而建立者應說有九。 以彼各有九品故。答皆不以此三緣建 立。但以生不生品上行故建立七種。若由 此故立初生品。則由此故立初不生品。若 由此故立第二生品。則由此故立第二不 生品。若由此故立第三生品。則由此故立 第三不生品。復以上行義勝立上流為一。 由此建立七善士趣。謂生者或有勤修道 有速進道。或有勤修道無速進道。或無勤 修道無速進道。初為第一次為第二後為 第三。如生有三不生亦爾。復以上行義勝 立上流為一。由此建立七善士趣。復次生 者有上根有中根有軟根如次為三。如 生有三不生亦爾。餘如前說。煩惱差別與 此相違說亦爾。復次生者有上品道有中 品道有下品道如次為三。如生有三不生 亦爾餘如前說。復次生者有上品業有中 品業有下品業如次為三。此依無漏業說。 若依有漏業說則後為第一次為第二初 為第三如生有三不生亦爾。餘如前說。有 說。生者有精進增上亦得勝慧。有精進增 上不得勝慧。有得勝慧非精進增上如 次為三。如生有三不生亦爾。餘如前說。有 說。生者有常加行亦頓加行。有常加行不 頓加行。有頓加行不常加行。如次為三。如 生有三不生亦爾餘如前說。有說。生者有 於生死見上品過患。有於生死見中品過 患。有於生死見下品過患。如次為三。如 生有三不生亦爾。餘如前說。於涅槃作功 德勝解差別說亦爾。有說。生者或有上品 奢摩他毘鉢舍那。或有中品或有下品如 次為三。如生有三不生亦爾。餘如前說。餘 善根差別說亦如是。有說。世尊顯示從七 分位七種性七門七階七迹七路。而越非想 非非想處難斷難壞修所斷結。得阿羅漢 果故說如是七善士趣。 問如生不生各有三種上流亦爾。謂全超 半超一切處歿。何故但說一耶。答生不生各 是一有相續。於中分位差別難知欲令知 故各說三種上流。三種生數自辯差別易 知。是故但隨上行義勝合說一種。復次生 與不生一期時促差別義少分齊易知。是故 分三上流時。長差別多種分齊難辯故合立 一。復次生不生亦有等義。上流亦有別義。 欲以二文互相顯故作如是說。復次生與 不生善士趣相現前易了。以彼速趣般涅 槃故各分為三。其上流者善士趣相微隱難 知。以彼尚經多生死故但合說一。 問何故經中不生三種以三喻顯。於生三 種則不爾耶。答如以三喻顯不生三。當 知亦已顯生三種是故前說。若由此故立 初生品則由此故立初不生乃至廣說。復 次以不生者趣生處時如涉路者。於中有 去未遠便般涅槃。有去少遠而般涅槃。有 去已遠垂至生處而般涅槃。是故世尊以 三喻顯生中三種皆至生處。更無所趣遠 近差別故無別喻。復次不生三種微細不現 難覺難了故以喻顯。生中三種麁現易知 不以喻顯。復次不生三種界攝非趣。生攝 非趣相不圓滿故以喻顯。生三不爾故無 喻顯。復次佛觀未來有僻執者於中有中 而生誹謗。如分別論師等。佛因欲決定中 有義故以三譬喻顯滅差別。於生有等無 此誹謗故於生三不復說喻。復次中般涅 槃於生般等有三事勝。一受苦少。二速滅 煩惱火。三疾捨蘊擔故。以三喻顯之。生等 不爾故無喻顯。 問中般涅槃起何地聖道進斷餘結得阿 羅漢果耶。答起自地聖道。謂若住初靜慮 地中有般涅槃者。彼起初靜慮地聖道。乃至 若住第四靜慮地中有般涅槃者。彼起第四 靜慮地聖道。問彼得果已亦有起未至定靜 慮中間聖道耶。答有說。亦有起者。謂若先 依彼得不還果者今亦能起。如是說者。應 說不起。所以者何。由法爾故。復次以時 促故彼得果已疾般涅槃何容更起餘地無 漏。復次中有唯於根本地聖道隨順非近 分地。以近分地聖道苦道所攝難現前故。復 次若地有定亦有生者住中有中起彼聖 道。未至定有定無生。靜慮中間雖亦有生 而是異生所生非聖者。四根本靜慮有定有 生故住中有起彼聖道。問彼何故不起無 色聖道答初時未得故。後時無用故。復次 彼他地攝難現前故。復次彼苦道攝不欲 起故。 問何故不說預流一來為善士趣耶。答應 說而不說者當知此義有餘。有說。世尊此 中以七善士趣讚美中子。或時有處讚美 長子。如伽他言。 阿羅漢極樂以無貪愛心 及我慢已斷永絕癡網故 或時有處讚美幼子如池喻經廣說。今此亦 以讚美中子。是故不說預流一來。有說。本 為差別預流一來。世尊說此七善士趣。謂 彼雖得名為善士如契經言云何善士。謂 若成就有學正見。乃至正定。云何勝善 士。謂若成就無學正見乃至正定。然其不得 名善士趣。以彼尚遠非能近趣勝善士故。 唯不還者名為善士亦名善士趣彼是善 士。又能隣趣勝善士故。由此義故預流一 來非善士趣。有說。有學位中若已越界已 得果者立善士趣。預流一來雖已得果而 未越界。有說。有學位中若已越界永斷不 善煩惱業者立善士趣。預流一來二俱不 爾。有說。有學位中若已得果及永斷不善煩 惱業者立善士趣。預流一來不能如是故 不立善士趣。如不善煩惱業。如是有異熟 無慚無愧相應二果煩惱業亦爾。有說。有學 位中若已越界。及永斷五順下分結者立 善士趣。預流一來不爾。有說。有學位中若 已得果。及永斷五順下分結者立善士趣。 預流一來不爾。有說。有學位中若已永斷 非善士共有法者立善士趣。何等名為非善 士共有法。謂樂在家愛戀妻子。貪著臥具 衣服飲食。好著種種花鬘瓔珞及諸香等塗 飾其身。貯畜一切不淨財物。所謂金銀珍寶 倉庫田宅奴僕作使諸象馬等。及以染心 摩觸骨瑣眾惡所集不淨之身而生淨想 染習欲事。或時發怒起加拳等苦楚有情 諸損惱業預流一來猶有此事故不說在 善士趣中。有說。於有學位若更不入黑闇 牢獄母胎藏中稟諸不淨。而為身分生熟 二藏中間住者立善士趣。預流一來尚有 斯事是故不立七善士趣。尊者妙音作如 是說。若學已斷欲貪瞋恚不於母胎受迫 迮苦者立善士趣。預流一來不爾。有說。若 學不為違順境界嬈觸心者立善士趣。預 流一來不爾。有說。若趣上生不退還者 立善士趣。預流一來不爾。有說。若學已得 雜修靜慮雖退而不失靜慮者立善士趣 預流一來不爾。有說。若學唯行善士法不 行不善士法者立善士趣。預流一來亦行 不善士法。由如此義預流一來不立善士 趣。問行無色不還於行色界不還有五事 勝。謂界勝地勝斷煩惱勝損減蘊勝三摩鉢 底勝。何故不立為善士趣答應說而不說 者當知此義有餘。有說。若麁現易了立善 士趣。彼不顯了是故不說。有說。佛為勸 誘未離欲界多過患處染聖者令速離故。 說行色界不還為善士趣。不為勸誘未離 色界少過患處染聖者令速離故。不說行 無色不還為善士趣。有說。若有色身依有 色處有來去等寂靜威儀可令他知是善 士者立善士趣。行無色者無如是事故不 立善士趣。有說。若處有五不還可施設 七善趣者立善士趣。行無色不還不具五 種不可施設七善士趣是故不說。有說。若 彼界有唯聖者生處立善士趣。無色界不 爾。有說。若已得雜修靜慮雖退而不失靜 慮者立善士趣。行無色者不爾。有說。若界 已離不善士法有諸善士往還談論於是 界中立善士趣。無色界不爾故不立善士 趣。問何故阿羅漢非善士趣。答亦應說阿 羅漢為善士趣。而不說者當知此義有餘。 復次趣上生者立善士趣。阿羅漢無生是故 不立。復次趣上果者立善士趣。阿羅漢則 是上果更無上果可趣是故不立。問時解脫 阿羅漢亦趣上果。謂求不動何故非善士 趣。答彼趣上種性非趣上果。復次若聖者 成就煩惱而不成就非善士法者立善士 趣。阿羅漢不成就煩惱是故不說。復次有 學位中有成就非善士法者。對彼施設七 善士趣。無學位不爾是故不說。復次不還是 善士趣。阿羅漢是勝善士趣。若當說為善士 趣者便是損減非謂如實是故不說。 問如所說雜修靜慮以何為自性。答以五 蘊為自性。問何故名為雜修靜慮彼雜修 言欲何所顯。答遍熏故名雜修。合熏故 名雜修。令嚴好故名雜修。令明淨故名 雜修。譬喻者說緣彼故名雜修。遍熏故名 雜修者如衣置於一篋以香遍熏。諸瑜伽 師亦復如是。以前後二剎那無漏遍熏中 間。一剎那有漏合熏故名雜修者。如花與 苣蕂合熏令發香。彼瑜伽師亦復如是。 以二剎那無漏隣雜熏發。一剎那有漏令 嚴好故名雜修者。如以眾花散制多上 令其嚴好。如是行者以二剎那無漏散一 剎那有漏上。令其妙好令明淨故名雜修 者。如以金等置於爐中調鍊銷鎔令轉明 淨。如是行者以一剎那有漏置於無漏二 剎那中。數數調鍊令轉淨妙緣彼故名雜 修者。彼說以二剎那無漏緣一剎那有漏 故名雜修。界者。所雜修墮色界。能雜修不 墮界。地者。能所雜修皆在根本四靜慮地。 問有雜修無色不。答有說無。以難見故微 細故。有說。佛於無色有雜修。非聲聞獨覺 所依者依欲色界行相者。有說。能雜修所 雜修皆作十六聖行相。所以者何。以聖行相 無間能起聖道。聖道無間復起聖行相故。 如是說者。能雜修作十六行相。所雜修或 作十六行相。或作餘行相。謂無量解脫勝處 等所緣者。有說。能雜修以所雜修為所緣 所雜修所緣不定。如是說者。能雜修緣四聖 諦。所雜修緣一切法念住者。有說。若能雜 修若所雜修皆作法念住。有說。所雜修四念 住。能雜修唯法念住。如是說者。能雜修所雜 修皆容作四念住智者。有說。能雜修是苦 集類智。所雜修是世俗智。如是說者。能雜修 是四法四類智。所雜修是世俗智。若總說者 有學七智。無學九智除他心智。三摩地俱者。 有說。能雜修空無願三摩地俱。所雜修非三 摩地俱。如是說者。能雜修三三摩地俱所雜 修非三摩地俱。根相應者總而言之。能所雜 修皆與樂喜捨三根相應。過去未來現在者 能所雜修俱三世。緣三世者。有說。能雜修 緣過未。所雜修緣三世及離世。如是說者。 俱緣三世及離世。前已說能雜修緣四諦 故不應異說。善不善無記者。能所雜修俱是 善緣。善等者俱緣三種三界繫不繫者所雜 修色界繫。能雜修是不繫。緣界繫不繫者。 俱緣三界繫及不繫。學無學非學非無學者。 能雜修或學或無學。所雜修非學非無學。緣 學等者俱緣三種見所斷修所斷不斷者。所 雜修是修所斷。能雜修是不斷緣見所斷等 者俱緣三種。緣名緣義者俱緣名義。緣 自相續他相續非相續者俱緣三種。何處起 者欲色界起。然初起在欲界人趣三洲。於此 起已或退不退。後生色界復起現前。加行得 離染得生得者。佛離染得餘加行得。云何加 行謂瑜伽師先入第四靜慮起多剎那無漏。 從此則起多剎那有漏。此後復起多剎那 無漏。如是旋還後後漸減乃至最後二剎那 無漏無間二剎那有漏現前。二剎那有漏無 間復二剎那無漏現前。齊此名為雜修靜慮 加行圓滿。從此已後不由功用能從一剎 那無漏無間起一剎那有漏。則此無間復 起一剎那無漏。如是中間剎那有漏前後 剎那無漏雜故名雜修靜慮。爾時名為雜 修靜慮根本成就。如是雜修第四靜慮已乘 此勢力隨其所應亦能雜修下三靜慮先 依欲界人趣三洲如是雜修諸靜慮已後 生色界。由串習力復能如前隨其所應 雜修靜慮。問何等補特伽羅雜修靜慮。答是 聖者非異生亦學亦無學謂信勝解見至時 解脫不時解脫皆能雜修。問彼何故雜修靜 慮。答三因緣故雜修靜慮。一樂等至故。二怖 煩惱故。三樂受生故。樂等至者謂為現法樂 住故。或為受用聖法財故。或為遊戲功德 故。或為觀本所作故。或為引勝功德故。 怖煩惱者謂懼退起煩惱現前失勝德故。或 畏退起煩惱現前燒身心故。樂受生者謂樂 生彼不共異生五淨居故。信勝解具由三因 緣雜修靜慮。見至由二因緣雜修靜慮。除怖 煩惱不退法故。時解脫由二因緣雜修靜慮 除樂受生背一切生故。不時解脫由一因 緣雜修靜慮除怖煩惱及樂受生。不退法故 背一切生故。問雜修靜慮有幾品耶。答有 五。一下品二中品三上品四上勝圓滿品五 上極圓滿品。此一一品於成滿位皆有三 心。一心有漏二心無漏。如是總說有十五心 五心有漏十心無漏。問此十五心為不起定。 為起定耶。答有說。不起定。譬如見道相續 現前。有說。起定譬如修道數起數入。如是 說者。此則不定或有不起定能十五心相續 而轉。或復起定於中或有起三心已而便起 定。或有起六心已而便起定。或有起九心 已而便起定。或有起十二心已而便起定。是 故於彼五品中間或起不起雜修成滿。問此 十五心幾是曾得。幾是未曾得。答有說。五是 未曾得。十是曾得。謂前五現在前時餘十未 來修故。有說。十是未曾得五是曾得。謂前十 現在前時後五未來修故。如是說者。此則不 定或有十五皆未曾得。或有十五皆是曾 得。或有少分曾得少分未曾得。問此十五心 幾是轉。幾是隨轉。答有說。前五是轉後十是 隨轉。有說。前十是轉後五是隨轉。如是說 者。此則不定。或一切皆是轉或一切皆是隨 轉。或少分是轉少分是隨轉。問若此品類轉 則此品類隨轉亦餘品類耶。答有說。若此 品類轉則此品類隨轉。謂智所緣行相念住 前後相順方成雜修。是故若此轉必此隨轉 不爾便於雜修為障。有說。若此品類轉餘 品類隨轉。謂智所緣行相念住異類相間方 成雜修。是故若此轉必餘隨轉不爾便應 乖雜修義。如是說者。此則不定。謂若法智 為轉。或法智或類智為隨轉。若類智為轉。 或類智或法智為隨轉。餘智亦爾。若緣有 為為轉。或緣有為或緣無為為隨轉。緣 餘法亦爾。若無常行相為轉。或無常或苦等 行相為隨轉。餘行相亦爾。若身念住為轉。 或身念住或受念住等為隨轉。餘念住亦爾。 問若轉隨轉或不同者行相所緣有雜亂故。 云何不於雜修靜慮而作留難。答先加行 位已熟修故。逕路已成雖復雜亂而於雜 修不作留難。如見道中及世俗道雜染。 雖行相所緣上下雜亂。而無留難此亦如 是。問若轉隨轉或亦同者云何得名雜修靜 慮非於一類行相所緣得名雜故。答有漏 無漏相間相雜說名雜修。非謂智等前後 異故說名為雜。問何故修雜修靜慮要有 漏無漏相雜起耶。答欲顯於此二類靜慮 中俱得入出自在故。復次欲以無漏置於 前後。熏中間有漏令轉勝妙生淨居故。 復次無始時來淨靜慮為味相應靜慮之所 陵雜。今欲令與無漏靜慮更相入出。令 味相應不復相雜展轉遠故。復次行者久 入靜慮時極受長養遍身充密。欲令身中 暫時開暢故與無漏相雜而起。諸欲雜修四 靜慮者。要先雜修第四靜慮彼成滿已。次 復雜修第三靜慮。次復雜修第二靜慮。後 雜修初靜慮。若不先雜修第四靜慮。彼終 不能雜修下地。問因論生論何故必先雜 修第四。然後能修下三地耶。答第四靜慮諸 靜慮中最圓滿故。是起功德最勝依故。能 引最勝輕安樂故。令所依身遍充密故。是 多功德所依止故。是不動定故。樂行中最勝 故。最有堪能故。復次第四靜慮於無漏定 最居中故。於上於下各三地故。復次第四靜 慮過殑伽沙數如來應正等覺。並皆依之得 阿耨多羅三藐三菩提故。復次第四靜慮具 五種因五種果故。五種因者謂五品雜修五 種果者謂五淨居天。問雜修下三靜慮有幾 品耶。答有說。但有三品謂下中上。下地無 有五淨居故。如是說者。亦有五品。問彼 無五果何故有五品因。答雖無五果而其 彼定法有五品。復次下地雖無五淨居果 而有五品根故。問因論生論下三靜慮既有 五品雜修。何緣無有五淨居果答非其田 非其器。乃至廣說。復次聖者厭患異生共生 處故求生淨居。若下地有淨居者便於異 生共生處所不能厭離。於上處所未離染 故。復次聖者欲超異生受生處所故生淨 居。若下地有淨居者便為不能超過異生 受生處所。於上猶有異生處故。復次聖者 厭災患處故求生淨居。下三地中皆有災 患故無淨居。復次淨居勝業所感壽量長遠。 若下地有者三災起時彼定壽者為命終不。 若命終者彼壽量定不應中夭。若不命終 應與災起而作留難。如說若處有一有情 下至蟻卵災終不壞。欲令無如是過故下 地無淨居。尊者世友說曰。何故下地無淨 居者。以雜修靜慮乃生淨居。雜修靜慮時 必已離下三地染。非於已離染地而得受 生。是故淨居非下地所有。又利根者乃能雜 修。能雜修者必能速超下不淨地至純淨 處故下地無淨居。又彼要得邊際定所依 地乃能雜修。能雜修者乃生彼處故於下 地無有淨居。大德說曰。下地有情多於世 界壞時生上成時生下。生淨居者無如是 事是故下地無淨居天。問何故淨居唯五不 增不減。脇尊者言。此不應問。所以者何。若 多若少俱亦生疑不以疑故便為乖理。然 於法相如實義中唯應有五不增不減。有 說。為對異生不共生處唯有五。故聖者生 處亦唯有五。異生不共生處五者謂三惡趣 北洲無想天。有說。雜修靜慮有五品故所 感淨居亦唯有五。問則雜修靜慮何故唯五 不增減耶。答雜修勢力唯爾所故。如見道 十五心勢唯爾所不增不減。如是雜修靜 慮勢力亦十五心而無增減。復次雜修靜慮 是勝功德非下中品所攝。唯有上下上中上 上上勝上極故唯有五。有餘師說。雜修靜 慮則是調練信等五根。如其次第隨一增 上而成五品故唯有五。是故由雜修有五 品故淨居亦唯有五。有說。第四靜慮有九 品善根次第生於九處。謂下下善根生無雲 天。下中善根生福生天。乃至上上善根生色 究竟。於此諸處不可增減。是故淨居唯應 有五。有說。第四靜慮有九品煩惱。若於九 品全未伏者生無雲天。伏上上品者生福 生天。乃至伏下中品者生色究竟。無有伏 下下品而受生者是故淨居唯有五種。問頗 有雜修靜慮而不生淨居耶。答有。謂雜修 靜慮已或成現法般涅槃或退生下地。或 進生無色界。此謂不樂淨居而雜修靜慮者。 問頗有具起五品雜修靜慮而生無雲天 等耶。答有。謂有先生無雲。次生福生。次 生廣果。後乃次第生五淨居。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 175 411 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 175 LUẬN VỀ BẤT HOÀN (Phần 2) Như trong kinh nói: “Đức Phật bảo với Tỳ kheo: Có nơi đến của bảy loại Thiện sĩ (thất thiện sĩ thú), có thể tiến tới đoạn kiết còn sót lại mà được nhập Niết-bàn.” Hỏi: Vì sao kiến lập nơi đến (thú) của bảy loại Thiện sĩ? Là bởi vì quả Sa-môn thuộc về cõi, hay là bởi vì xứ sở thuộc về địa, hay là bởi vì phiền não thuộc về căn, mà kiến lập chăng? Giả sử như vậy thì có gì sai? Nếu bởi vì quả Sa-môn thuộc về cõi mà kiến lập thì chỉ cần nói là một, đó là Bất hoàn đi đến cõi Sắc. Nếu bởi vì xứ sở thuộc về địa mà kiến lập thì chỉ cần nói là bốn hoặc là nói mười sáu. Nếu bởi vì phiền não thuộc về căn mà kiến lập thì nên nói là có chín, bởi vì phiền não đều có chín phẩm. Đáp: Tất cả đều không dùng ba du yên này để kiến lập, chỉ dùng Hành phía trên thuộc phẩm Sinh-Bất sinh mà kiến lập bảy loại. Nếu vì vậy cho nên kiến lập phẩm Sinh thứ nha át, thì vì vậy cho nên kiến lập phẩm Bất sinh thứ nhất. Nếu vì vậy cho nên kiến lập phẩm Sinh thứ hai, thì vì vậy cho nên kiến lập phẩm Bất sinh thứ hai. Nếu vì vậy cho nên kiến lập phẩm Sinh thứ ba, thì vì va äy cho nên kiến lập phẩm Bất sinh thứ ba. Lại dùng nghĩa thù thắng c ủa Hành phía trên kiến lập Thượng lưu làm một loại, vì vậy kiến lập nơ i đến của bảy loại Thiện sĩ. Đó là Sinh thì hoặc là có sự chuyên cần về Tu đạo, có nhanh chóng tiến thêm về đạo; hoặc là có sự chuyên cần về Tu đạo, không có nhanh chóng tiến thêm về đạo; hoặc là không c ó sự chuyên cần về Tu đạo, không có nhanh chóng tiến thêm về đạo. Đầu tiên làm loại thứ nhất, tiếp đến làm loại thứ hai, cuối cùng làm loại thứ ba. Như Sinh có ba loại, Bất sinh cũng như vậy. Lại dùng nghĩa thù thắng của Hành phía trên kiến lập Thượng lưu làm một loại, vì vậy kiến lập nơi đến của bảy loại Thiện 412 BỘ TỲ ĐÀM 6 sĩ. Lại nữa, Sinh thì có căn thuộc bậc Thượng, có căn thuộc bậc Trung, có căn thuộc bậc Hạ, như thứ tự làm ba loại. Như Sinh có ba loại, Bất sinh cũng như vậy, còn lại nói như trước. Phiền não sai biệt cùng với điều này trái ngược nhau, nói cũng như vậy. Lại nữa, Sinh thì có đạo thuộc phẩm Thượng, có đạo thuộc phẩm Trung, có đạo thuộc phẩm Hạ, như thứ tự làm ba loại. Như Sinh có ba loại, Bất sinh cũng như vậy, còn lại nói như trước. Lại nữa, Sinh thì có nghiệp thuộc phẩm Thượng, có nghiệp thuộc phẩm Trung, có nghiệp thuộc phẩm Hạ, như thứ tự làm ba loại. Đây là dựa vào nghiệp vô lậu mà nói. N ếu dựa vào nghiệp hữu lậu mà nói, thì cuối cùng làm loại thứ nhất, tiếp đến làm loại thứ hai, đầu tiên làm loại thứ ba. Như Sinh có ba loại, Bất sinh cũng như vậy, còn lại nói như trước. Có người nói: Sinh thì có Tinh tiến tăng thượng cũng đạt được Tuệ thù thắng, có Tinh tiến tăng thượng mà không đạt được Tuệ thù thắng, có đạt được Tuệ thù thắng mà không phải là Tinh tiến tăng thượng, như thứ tự làm ba loại. Như Sinh có ba loại, Bất sinh cũng như vậy, còn lại nói như trước. Có người nói: Sinh thì có gia hạnh thường xuyên cũng gia hạnh cùng một lúc, có gia hạnh thường xuyên mà không gia hạnh cùng một lúc, có gia hạnh cùng một l úc mà không gia hạnh thường xuyên, như thứ tự làm ba loại. Như Sinh có ba loại, Bất sinh cũng như vậy, còn lại nói như trước. Có người nói: Sinh thì có nhận thấ y lỗi lầm tai họa thuộc phẩm Thượng đối với sinh tử, có nhận thấy lỗi lầm tai họa thuộc phẩm Trung đối với sinh tử, có nhận thấy lỗi lầm tai họa thuộc phẩm Hạ đối với sinh tử, như thứ tự làm ba loại. Như Sinh có ba loại, Bất sinh cũng như vậy, còn lại nói như trước. Thực hiện c ông đức-thắng giải sai biệt đối với Niết-bàn, nói cũng như vậy. Có người nói: Sinh thì hoặc là co ù Xa-ma-tha và Tỳ-bát-xá-na thuộc phẩm Thượng, hoặc có thuộc phẩm Trung, hoặc có thuộc phẩm Hạ, như thứ tự làm ba loại. Như Sinh có ba loại, Bất sinh cũng như vậy, còn lại nói như trước. Căn thiện sai biệt khác, nói cũng như vậy. Có người nói: Đức Thế Tôn chỉ rõ thuận theo bảy phần vị-bảy chủng tánh-bảy phương pháp-bảy tầng bậc-bảy dấu tích-bảy con đường, mà vượt qua kiết do Tu mà đoạn, khó đoạn trừ-khó phá hủy của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đạt được quả A-la-hán, cho nên nói về nơi đến SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 175 413 www.daitangkinh.org của bảy loại Thiện sĩ như vậy. Hỏi: Như Sinh-Bất sinh đều có ba loại, Thượng lưu cũng như vậy, đó là vượt qua toàn bộ, vượt qua một nửa và chết ở tất cả mọi nơi, vì sao chỉ nói một loại? Đáp: Sinh-Bất sinh đều là một loại có nối tiếp nhau (tương tục), ở trong phần vị sai biệt khó nhận bi ết, muốn làm cho nhận biết cho nên đều nói đến ba loại; ba loại Thượng lưu thì số lượng về Sinh tự nhiên phân rõ sai biệt dễ dàng nhận biết, vì thế cho nên chỉ thuận theo nghĩa thù thắng của Hành phía trên, hợp lại nói là một loại. Lại nữa, Sinh và Bất sinh cùng một kỳ hạn, thời gian ngắn ngủi sai biệt, nghĩa ít phạm vi như nhau, dễ dàng nhận biết cho nên phân làm ba loại; Thượng lưu thì thời gian lâu dài sai biệt, nhiều loại phạm vi như nhau, khó phân biệt được cho nên hợp lại làm một loại. Lại nữa, Sinh và Bất sinh cũng có nghĩa như nhau, Thượng lưu cũng có nghĩa riêng biệt, bởi vì muốn dùng hai văn để hiển bày lẫn nhau, cho nên đưa ra cách nói như vậy. Lại nữa, tướng nơi đến của Thiện sĩ thuộc Sinh và Bất sinh hiện rõ trước mắt dễ dàng sáng tỏ, bởi vì họ nhanh chóng hướng về nhập Niết- bàn, cho nên đều phân làm ba loại; tướng nơi đến của Thiện sĩ thuộc Thượng lưu sâu xa kín đáo khó nhận biết được, bởi vì họ vẫn còn trải qua nhiều sinh tử, cho nên chỉ hợp lại nói là một. Hỏi: Vì sao trong kinh dùng ba thí dụ để hiển bày về ba loại Bất sinh, đối với ba loại về Sinh thì không như vậy? Đáp: Như dùng ba thí dụ để hiển bày về ba loại Bất sinh, nên biết là cũng đã hiển bày về ba loại Sinh, vì thế cho nên trước đây nói: Nếu vì vậy cho nên kiến lập phẩm Sinh thứ nhất, thì vì vậy cho nên kiến lập phẩm Bất sinh thứ nhất, cho đến nói rộng ra. Lại nữa, bởi vì lúc người Ba át sinh hướng đến nơi sinh thì giống như người trải qua chặng đường, trong đó c ó người đi chưa xa thì nhập Niết-bàn, có người đi hơi xa mà nhập Niết-bàn, có người đi đã xa sắp đến nơi sinh mà nhập Niết-bàn. Vì thế cho nên Đức Thế Tôn dùng ba thí dụ để hiển bày ba loại trong Sinh đều đến nơi sinh, lại không có nơi đến xa-gần sai biệt, cho nên không có thí dụ riêng biệt. Lại nữa, ba loại Bất sinh vi tế không hiện bày rõ ràng, khó hiểu- khó biết, cho nên dùng thí dụ để hiển bày; ba loại trong Sinh hiện bày thô thiển, dễ dàng nhận biết, cho nên không dùng thí dụ để hiển bày. Lại nữa, ba loại Bất sinh do Cõi thâu nhiếp chứ không phải là Nẽo, tướng Sinh thâu nhiếp chứ không phải là tướng Nẽo, bởi vì không 414 BỘ TỲ ĐÀM 6 đầy đủ trọn vẹn, cho nên cho nên dùng thí dụ để hiển bày; ba loại trong Sinh thì không như vậy, cho nên không dùng thí dụ để hiển bày. Lại nữa, Đức Phật quán sát ở vị lai có người chấp trước lạ lùng, ở trong Trung hữu mà sinh ra phỉ ba ùng, như Luận sư Phân Biệt…, bởi vì Đức Phật cần phải quyết định về nghĩa của Trung hữu cho nên dùng ba thí dụ để hiển bày về sự sai biệt của Diệt; đối với Sinh hữu…, không có sự phỉ báng này, cho nên không cần pha ûi nói thí dụ đối với ba loại trong Sinh. Lại nữa, Trung bát Niết-bàn đối với Sinh bát Niết-bàn…, có ba điều hơn hẳn: 1. Nhận lấy khổ ít hơn. 2. Nhanh chóng dập tắt lửa phiền não. 3. Nhanh chóng rời bỏ gánh nặng của Uẩn. Vì vậy dùng ba thí dụ để hiển bày, Sinh… thì không như vậy cho nên không có thí dụ hiển bày. Hỏi: Trung bát Niết-bàn khởi lên Thánh đạo của địa nào, tiến tới đoạn kiết còn sót lại, đạt được quả A-la-hán? Đáp: Khởi lên Thánh đạo của địa mình, nghĩa là nếu trú trong Trung hữu của địa Tĩnh lự thứ nhất ma ø nhập Niết-bàn, thì lúc ấy khởi lên Thánh đạo của địa Tĩnh lự t hứ nhất; cho đến nếu trú trong Trung hữu của địa Tĩnh lự thứ tư mà nhập Niết-bàn, thì lúc ấy khởi lên Thánh đạo của địa Tĩnh lự thứ tư. Hỏi: Lúc ấy đạt được quả rồi cũng có người khởi lên Thánh đạo của Định Vị chí và Tĩnh lự trung gian chăng? Đáp: Có người nói: Cũng có người khởi lên, nghĩa là nếu trước đó dựa vào địa ấy đạt được quả Bất hoàn, thì nay cũng có thể khởi lên. Nói như vậy thì nên nói là không khởi lên. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì pháp vốn như vậy. Lại nữa, bởi vì thời gian ngắn ngủi cho nên lúc ấy đạt được quả rồi nhanh chóng nhập Niết-bàn, đâu có thể trở lại khởi lên đạo vô lậu của địa khác. Lại nữa, Trung hữu chỉ tùy thuận với Thánh đạo của địa Căn bản chứ không phải là địa Cận phần, bởi vì Thánh đạo của địa Cận phần do Khổ-Đạo thâu nhiếp, cho nên khó hiện rõ trước mắt. Lại nữa, nếu địa có Định mà cũng có Sinh thì trú trong Trung hữu khởi lên Thánh đạo của địa ấy, Định Vị chí có Định mà không có Sinh, Tĩnh lự trung gian tuy cũng có Sinh mà là dị dinh chứ không phải là Thánh giả, bốn Tĩnh lự Căn bản có Định và có Sinh cho nên trú trong SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 175 415 www.daitangkinh.org Trung hữu mà khởi lên Thánh đạo của địa ấy. Hỏi: Lúc ấy vì sao không khởi lên Thánh đạo của Vô sắc? Đáp: Bởi vì ban đầu thì chưa đạt được, về sau thì không còn tác dụng. Lại nữa, bởi vì lúc ấy do địa khác thâu nhiếp, cho nên khó hiện rõ trước mắt. Lại nữa, bởi vì lúc ấy do Khổ-Đạo thâu nhiếp, cho nên không muốn khởi lên. Hỏi: Vì sao không nói Dự lưu và Nhất lai làm nơi đến của Thiện sĩ? khác. Đáp: Cần phải nói mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có Có người nói: Trong này, Đức Thế Tôn dùng nơi đến của bảy loại Thiện sĩ để khen ngợi người con giữa . Hoặc là có nơi khen nợi người con trưởng, như bài tụng nói: “A-la-hán vô cùng vui sướng, bởi vì tâm không có tham ái, và đã đoạn trừ tâm ngã mạn, vĩnh viễn không còn lưới si mê.” Hoặc là có nơi khen nợi người con thơ, như kinh Trì Dụ nói rộng. Nay ở đây cũng bởi vì khen ngợi người con giữa, cho nên không nói đến Dự lưu và Nhất lai. Có người nói: Chính vì sự sai biệt của Dự lưu và Nhất lai, cho nên Đức Thế Tôn nói về nơi đến của bảy loại Thiện sĩ này, nghĩa là Dự lưu và Nhất lai tuy có được tên gọi là Thiện sĩ, mà như trong kinh nói: “Thế nào là Thiện sĩ? Đó là nếu tha ønh tựu Chánh kiến Hữu học, cho đến Chánh Định. Thế nào là Thiện sĩ thù thắng? Đó là nếu thành tựu Chánh kiến Vô học, cho đến Chánh Định.” Như vậy hàng Dự lưu và Nhất la i không được gọi là nơi đến của Thiện sĩ, bởi vì họ hãy còn cách xa chứ không phải là có thể tiếp cận nơi đến của Thiện sĩ thù thắng, chỉ riêng hàng Bất hoàn gọi là Thiện sĩ mà cũng gọi là nơi đến của Thiện sĩ, bởi vì họ là Thiện sĩ, và có thể tiếp cận nơi đến của Thiện sĩ thù thắng. Bởi vì nghĩa này, cho nên Dự lưu và Nhất lai không phải là nơi đến của Thiện sĩ. Có người nói: Trong phần vị Hữu học, nếu đã vượt qua cõi, đã đạt được quả thì thiết lập nơi đến của Th iện sĩ; Dự lưu và Nhất lai tuy đã đạt được quả mà chưa vượt qua cõi. Có người nói: Trong phần vị Hữu học, nếu đã vượt qua cõi, vĩnh viễn đoạn trừ nghiệp-phiền não bất thiện thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai thì cả hai đều không như vậy. 416 BỘ TỲ ĐÀM 6 Có người nói: Trong phần vị Hữu học, nếu đã đạt được quả và vĩnh viễn đoạn trừ nghiệp-phiền não bất thiện thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai thì không có thể như vậy, cho nên không thiết lập nơi đến của Thiện sĩ. Như nghiệp-phiền não bất thiện, như vậy nghiệp-phiền não có dị thục, không có Tàm-không có Quý tương ưng với hai quả, cũng như vậy. Có người nói: Trong phần vị Hữu học, nếu đã vượt qua cõi, và vĩnh viễn đoạn trừ năm kiết thuận pha àn dưới thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai thì không như vậy. Có người nói: Trong phần vị Hữu học, nếu đã đạt được quả, và vĩnh viễn đoạn trừ năm kiết thuận pha àn dưới thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai thì không như vậy. Có người nói: Trong phần vị Hữu học, nếu đã vĩnh viễn đoạn trừ pháp cùng có không phải là Thiện sĩ thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ. Những gì gọi là pháp cùng có không phải là Thiện sĩ? Đó là thích đời sống tại gia, yêu thương lưu luyến vợ con, tham đắm đồ nằm-áo quần- ăn uống, thích mang các loại chuỗi ngọc-vòng hoa, và thoa ướp các loại hương thơm để trang điểm thân mình; tích trữ tất cả tiền bạc đồ vật bất tịnh, nghĩa là vàng bạc châu báu, kho tàng-ruộng đất nhà cửa, tôi tớ nô lệ-các loài voi ngựa, và bởi vì tâm nhiễm ô vuốt ve thân hình bất tịnh do xương thịt dơ bẩn tập hợp mà sinh ý tưởng là thanh tịnh đắm theo tập khí tham dục. Hoặc có lúc nổi gi ận khởi lên các nghiệp làm não hại, gây khổ sở cho các hữu tình… Dự lưu và Nhất lai hãy còn có điều này, cho nên không nói ở trong nơi đến của Thiện sĩ. Có người nói: Ở phần vị Hữu học, nếu không trở lại tiến vào ngục tù tối tăm trong thai tạng của mẹ, ở giữa Sinh tạng-Thục tạng nhận chịu các loại bất tịnh mà làm thân hình, thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai hãy còn có điều này, cho nên không th iết lập nơi đến của bảy loại Thiện sĩ. Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Nếu như Học đã đoạn trừ dục tham-sân nhuế, không vào thai mẹ nhận chịu nỗi khổ bức bách chèn ép, thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai thì không như vậy.” Có người nói: Nếu như Học không bị cảnh giới thuận-nghịch làm cho tâm rối loạn, thì thiết lập nơi đ ến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai thì không như vậy. Có người nói: Nếu hướng đến sinh lên phía trên không lui sụt trở SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 175 417 www.daitangkinh.org lại, thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai thì không như vậy. Có người nói: Nếu như Học đã đạt được tu xen lẫn Tĩnh lự, tuy lui sụt mà không mất đi Tĩnh lự, thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai thì không như vậy. Có người nói: Nếu như Học chỉ t hực hành pháp của Thiện sĩ, không thực hành pháp không phải Thiện sĩ , thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; Dự lưu và Nhất lai cũng thực hành pháp không phải Thiện sĩ. Bởi vì nghĩa như vậy, cho nên Dự l ưu-Nhất lai không thiết lập nơi đến của Thiện sĩ. Hỏi: Bất hoàn đi đến cõi Vô sắc có năm điều hơn hẳn so với Bất hoàn đi đến cõi Sắc, đó là cõi hơn hẳn, địa hơn hẳn, đoạn phiền não hơn hẳn, giảm bớt uẩn hơn hẳn và Tam-ma -bát-để, vì sao không thiết lập làm nơi đến của Thiện sĩ? Đáp: Cần phải nói mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Nếu hiện bày thô thiển dễ dàng nhận biết, thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; loại ấy không hiện bày rõ ràng, vì vậy không nói đến. Có người nói: Đức Phật vì khuyến khích Thánh giả chưa lìa nhiễm của cõi Dục là nơi nhiều lỗi lầm tai họa, làm cho nhanh chóng lìa bỏ, cho nên nói Bất hoàn đi đến cõi Sắc làm nơi đến của Thiện sĩ; không vì khuyến khích Thánh giả chưa lìa nhiễm của cõi Sắc là nơi ít lỗi lầm tai họa, làm cho nhanh chóng lìa bỏ, cho nên không nói Bất hoàn đi đến cõi Vô sắc làm nơi đến của Thiện sĩ. Có người nói: Nếu có sắc thân, dựa vào nơi có sắc, có oai nghi vắng lặng như đến-đi…, có thể làm cho người khác biết là Thiện sĩ, thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; đi đ ến cõi Vô sắc thì không có sự việc như vậy, cho nên không thiết lập nơi đến của Thiện sĩ. Có người nói: Nếu nơi nào có năm lo ại Bất hoàn có thể thi thiết nơi đến của bảy loại Thiện sĩ, thì th iết lập nơi đến của Thiện sĩ; Bất hoàn đi đến cõi Vô sắc, không có đủ năm loại, không có thể thi thiết nơi đến của bảy loại Thiện sĩ, vì vậy không nói đến. Có người nói: Nếu cõi ấy chỉ có nơ i sinh của Thánh giả, thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; cõi Vô sắc thì không như vậy. Có người nói: Nếu đã đạt được tu xen lẫn (tạp tu) Tĩnh lự, tuy lui sụt mà không mất đi Tĩnh lự, thì thi ết lập nơi đến của Thiện sĩ; đi đến cõi Vô sắc thì không như vậy. 418 BỘ TỲ ĐÀM 6 Có người nói: Nếu cõi đã lìa bỏ pháp không phải Thiện sĩ, có các Thiện sĩ qua lại bàn luận ở trong cõi ấy, thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; cõi Vô sắc thì không như vậy, c ho nên không thiết lập nơi đến của Thiện sĩ. Hỏi: Vì sao A-la-hán không phải là nơi đến của Thiện sĩ? Đáp: Cũng cần phải nói A-la-ha ùn làm nơi đến của Thiện sĩ, mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác. Lại nữa, hướng đến sinh lên phía trên thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ, A-la-hán không còn sinh, vì vậy cho nên không thiết lập. Lại nữa, hướng đến quả phía trên thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ, A-la-hán tức là quả phía trên, lại không có quả phía trên để có thể hướng đến, vì vậy cho nên không thiết lập. Hỏi: A-la-hán Thời giải thoát cũng hướng đến quả phía trên, đó là cầu mong Bất động, vì sao không phải là nơi đến của Thiện sĩ? Đáp: Lúc ấy hướng đến chủng tánh phía trên, chứ không phải là hướng đến quả phía trên. Lại nữa, nếu Thánh giả thành tựu phiền não mà không thành tựu pháp không phải là Thiện sĩ, thì thiết lập nơi đến của Thiện sĩ; A-la-hán không thành tựu phiền não, vì vậy cho nên không nói đến. Lại nữa, trong phần vị Hữu học có lúc thành tựu pháp không phải là Thiện sĩ, đối với điều ấy thi thiết nơi đến của bảy loại Thiện sĩ; phần vị Vô học thì không như vậy, vì thế cho nên không nói đến. Lại nữa, Bất hoàn là nơi đến của Thiện sĩ, A-la-hán là nơi đến của Thiện sĩ thù thắng, nếu phải nói là làm nơi đến của Thiện sĩ, thì chính là giảm bớt chứ không phải là nói đúng như thật, vì thế cho nên không nói đến. Hỏi: Như đã nói tu xen lẫn (tạp tu) Tĩnh lự, thì tu xen lẫn lấy gì làm tự tánh? Đáp: Lấy năm uẩn làm tự tánh. Hỏi: Vì sao gọi là tu xen lẫn Tĩ nh lự, nói tu xen lẫn ấy là muốn nêu rõ điều gì? Đáp: Bởi vì xông ướp khắp nơi cho nên gọi là tu xen lẫn, xông ướp hợp lại cho nên gọi là tu xen lẫn, khiến cho kín đáo tốt đẹp cho nên gọi là tu xen lẫn, khiến cho trong sáng rõ ràng cho nên gọi là tu xen lẫn. Phái Thí Dụ nói: “Duyên với pháp ấy cho nên gọi là tu xen lẫn.” Xông ướp khắp nơi cho nên gọi là tu xen lẫn, như chiếc áo đặt vào một cái hòm, dùng hương thơm xông ướp khắp nơi; các Sư Du-già cũng lại như vậy, dùng hai sát-na vô lậu trước-sau để xông ướp khắp nơi một SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 175 419 www.daitangkinh.org sát-na hữu lậu ở giữa. Xông ướp hợp lại cho nên gọi là tu xen lẫn, như hoa cùng với cây Oa-cự hợp lại xông ướp khiến cho phát ra hương thơm; Sư Du-già ấy cũng lại như vậy, dùng hai sát -na vô lậu gần cạnh xông ướp xen lẫn nhau, phát ra một sát-na hữu lậu. Khiến cho trang nghiêm đẹp đẽ cho nên gọi là tu xen lẫn, như dùng các loại hoa để rải phía trên tòa tháp, làm cho tòa tháp ấy trang nghiêm đẹp đẽ; như vậy, hành giả dùng hai sát-na vô lậu để rải phía trên một sát-na hữu lậu, khiến cho sát-na ấy đẹp đẽ tuyệt vời. Khiến cho trong sáng rõ ràng cho nên gọi là tu xen lẫn, như đem quặng vàng bỏ vào trong lò lửa nung chảy tinh l uyện làm cho chuyển sang trong sáng rực rỡ; như vậy, hành giả dùng một sát-na hữu lậu đặt vào giữa hai sát-na vô lậu, thường xuyên điều hòa tinh luyện khiến cho thanh tịnh tuyệt vời. Duyên với pháp ấy cho nên gọi là tu xen lẫn, phái ấy nói dùng hai sát-na vô lậu duyên với một sát-na hữu lậu, cho nên gọi là tu xen lẫn. Về Cõi, thì thụ động tu xen lẫn thuộc về cõi Sắc, chủ động tu xen lẫn không thuộc về cõi. Về Địa, thì chủ động và thụ động tu xen lẫn đều thuộc về địa Căn bản của bốn Tĩnh lự. Hỏi: Có tu xen lẫn Vô sắc hay không? Đáp: Có người nói: Không có, bởi vì khó thấy, bởi vì vi tế. Có người nói: Đức Phật đối với Vô sắc thì có tu xen lẫn, chứ không phải là Thanh văn-Độc giác. Về Sở y, thì dựa vào cõi Dục-Sắc. Về Hành tướng, có người nói: Chủ động tu xen lẫn và thụ động tu xen lẫn đều làm mười sáu hành tướng Thánh. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì hành tướng Thánh không gián đoạn th ì có thể khởi lên Thánh đạo, Thánh đạo không gián đoạn thì tiếp tục khởi lên hành tướng Thánh. Nói như vậy thì chủ động tu xen lẫn làm mười sáu hành tướng, thụ động tu xen lẫn có lúc làm mười sáu hành tướng, có lúc làm các hành tướng khác, đó là Vô lượng-Giải thoát-Thắng xứ… Về Sở duyên, có người nói: C hủ động tu xen lẫn lấy thụ động tu xen lẫn làm sở duyên, thụ động tu xen lẫn thì sở duyên không nhất định. Nói như vậy thì chủ động tu xen lẫn duyên với bốn Thánh đế, thụ động tu xen lẫn duyên với tất cả các pháp. Về Niệm trú, có người nói: Nếu chủ động tu xen lẫn hay là thụ 420 BỘ TỲ ĐÀM 6 động tu xen lẫn, thì đều là Pháp niệm trú. Có người nói: Thụ động tu xen lẫn là bốn Niệm trú, chủ động tu xen lẫn chỉ là Pháp niệm trú. Nói như vậy thì chủ động tu xen la ãn hay là thụ động tu xen lẫn, đều có thể là bốn Niệm trú. Về Trí, có người nói: Chủ động tu xen la ãn là Khổ trí-Tập trí, thụ động tu xen lẫn là Thế tục trí. Nói như vậy thì chủ động tu xen lẫn là bốn Pháp trí-bốn Loại trí, thụ động tu xen lẫn là Thế tục trí. Nếu nói chung thì Hữu học là bảy trí, Vô học là chín trí trừ ra Tha tâm trí. Về Tam-ma-địa đi cùng, có người nói: Chủ động tu xen lẫn đi cùng Tam-ma-địa Không và V ô nguyện, thụ động tu xen lẫn không phải là đi cùng Tam-ma-địa. Nói như vậy thì chủ động tu xen la ãn đi cùng ba Tam-ma-địa, thụ động tu xen lẫn không phải là đi cùng Tam-ma-địa. Về Căn tương ưng, nói một cách tổng quát thì chủ động-thụ động tu xen lẫn đều tương ưng với ba căn Lạc-Hỷ và Xả. Về quá khứ-vị lai-hiện tại, th ì chủ động-thụ động tu xen lẫn đi cùng ba đời. Về duyên với ba đời, có người nói: Chủ động tu xen lẫn duyên với quá khứ, thụ động tu xen lẫn duyên với ba đời và tách lìa thời gian (ly thế). Nói như vậy thì chủ động và thụ động đều duyên với ba đời và tách lìa thời gian, vì trước đã nói chủ động tu xen lẫn duyên với bốn Thánh đế, cho nên không cần phải nói khác đi. Về thiện-bất thiện và vô ký, chủ động và thụ động tu xen lẫn đều là thiện. Về duyên với thiện…, chủ động và thụ động tu xen lẫn đều duyên với ba loại. Về hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc, thụ động tu xen lẫn hệ thuộc cõi Sắc, chủ động tu xen lẫn là không hệ thuộc. Về duyên với hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc, chủ động-thụ động tu xen lẫn đều duyên với hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc. Về Học-Vô học và Phi học phi vô học, chủ động tu xen lẫn hoặc là Học, hoặc là Vô học; thụ động tu xen lẫn là Phi học phi vô học. Về duyên với Học…, chủ động và thụ động tu xen lẫn đều duyên với ba loại. Về do Kiến mà đoạn-do Tu mà đoạn và không đoạn, thụ động tu SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 175 421 www.daitangkinh.org xen lẫn là do Tu mà đoạn, chủ động tu xen lẫn là không đoạn. Về duyên với do Kiến mà đoạn…, chủ động và thụ động tu xen lẫn đều duyên với ba loại. Về duyên với danh-duyên với nghĩa, chủ động-thụ động tu xen lẫn đều duyên với hai loại. Về duyên với Tự tương tục-Tha tương tục-Phi tương tục, chủ động và thụ động tu xen lẫn đều duyên với ba loại. Khởi lên ở nơi nào, đó là khởi lên ở cõi Dục-Sắc. Nhưng bắt đầu khởi lên ở loài người thuộc ba châu của cõi Dục, từ đây khởi lên rồi hoặc là lui sụt-không lui sụt, sau đó sinh đến cõi Sắc lại khởi lên hiện rõ trước mắt. Về gia hạnh đạt được-lìa nhiễm đạt được và sinh ra đạt được, Phật là lìa nhiễm đạt được, còn lại là gia hạnh mà đạt được. Gia hạnh như thế nào? Đó là Sư Du-già trước khi tiến vào Tĩnh lự thứ tư khởi lên nhiều sát-na vô la äu, từ đây đã khởi lên nhiều sát-na hữu lậu, sau đó lại khởi lên nhiều sát-n a vô lậu.Như vậy lặp đi lặp lại nhiều lần, về sau từ từ giảm bớt cho đến cuối cùng, hai sát-na vô lậu không gián đoạn, hai sát-na hữu lậu hiện rõ trước mắt;hai sát-na hữu lậu không gián đoạn, hai sát-na vô lậu la ïi hiện rõ trước mắt. Đến đây gọi là gia hạnh tu xen lẫn Tĩnh lự đầy đủ trọn vẹn. Từ đây về sau không nhờ vào công dụng mà có thể từ một sát- na vô lậu không gián đoạn, khởi lên một sát-na hữu lậu; ngay sát-na hữu lậu này không gián đoạn, lại khởi lên một sát-na vô lậu. Như vậy, sát-na hữu lậu ở giữa, sát-na vô lậu xen lẫn trước-sau, cho nên gọi là tu xen lẫn Tĩnh lự. Lúc bấy giờ gọi la ø thành tựu căn bản về tu xen lẫn Tĩnh lự. Như vậy tu xen lẫn Tĩnh lự thứ tư rồi, nhờ vào thế lực này tùy theo sự thích hợp cũng có thể tu xen lẫn ba Tĩnh lự dưới. Trước là dựa vào loài người thuộc ba châu của cõi Dục, tu xen lẫn các Tĩnh lự như vậy rồi, sau đó sinh đến cõi Sắc, nhờ vào lực luyện tập thành thạo lại có thể như trước tùy theo sự thích hợp mà tu xen lẫn Tĩnh lự. Hỏi: Những Bổ-đặc-già-la nào tu xen lẫn Tĩnh lự? Đáp: Là Thánh giả chứ không phải là dị sinh, cũng là Học-cũng là Vô học, đó là Tín thắng giải-Kiến chí-Thời giải thoát-Bất thời giải thoát đều có thể tu xen lẫn Tĩnh lự. Hỏi: Vì sao những loại ấy tu xen lẫn Tĩnh lự? Đáp: Bởi vì ba nhân duyên cho nên tu xen lẫn Tĩnh lự: 1. Bởi vì vui với Đẳng chí. 422 BỘ TỲ ĐÀM 6 2. Bởi vì sợ hãi phiền não. 3. Bởi vì thích sinh đến nơi ấy. Vui với Đẳng chí, đó là bởi vì trú trong niềm vui của pháp hiện tại, hoặc là vì thọ dụng tài sản giáo pháp bậc Thánh, hoặc là vì dạo chơi trong công đức, hoặc là vì quán xét những việc làm vốn có, hoặc là vì dẫn dắt công đức thù thắng. Sợ hãi phiền não, đó là bởi vì lo sợ lui sụt khởi lên phiền não hiện rõ trước mắt mất đi công đức thù thắng, hoặc là vì lo sợ lui sụt khởi lên phiền não hiện rõ trước mắt thiêu đốt thân tâm. Thích sinh đến nơi ấy, đó là bởi vì thích sinh đến năm cõi trời Tịnh Cư, nơi ấy không chung với dị sinh. Tín thắng giải do đầy đủ ba nhân duyên cho nên tu xen lẫn Tĩnh lự. Kiến chí do hai nhân duyên cho nên tu xen lẫn Tĩnh lự, trừ ra sợ hãi phiền não, bởi vì không lui sụt pháp. Thời giải thoát do hai nhân duyên cho nên tu xen lẫn Tĩnh lự, trừ ra thích sinh đến nơi ấy, bởi vì rời bỏ tất cả mọi nơi sinh. Bất thời giải thoát do một nhân duyên cho nên tu xen lẫn Tĩnh lự, trừ ra sợ hãi phiền não và thích sinh đến nơi ấy, bởi vì không lui sụt pháp và bởi vì rời bỏ tất cả mọi nơi sinh. Hỏi: Tu xen lẫn Tĩnh lự có mấy phẩm? Đáp: Có năm phẩm: 1. Phẩm Hạ. 2. Phẩm Trung. 3. Phẩm Thượng. 4. Phẩm đầy đủ trọn vẹn thù thắng nhất. 5. Phẩm đầy đủ trọn vẹn cao nhất. Mỗi một phẩm này ở phần vị thành tựu đầy đủ đều có ba tâm, đó là một tâm hữu lậu và hai tâm vô lậu. Như vậy nói tổng quát là có mười lăm tâm, đó là năm tâm hữu lậu và mười tâm vô lậu. Hỏi: Mười lăm tâm này, là không khởi lên Định, hay là khởi lên Định? Đáp: Có người nói: Không khởi lên Định, ví như Kiến đạo nối tiếp nhau hiện rõ trước mắt. Có người nói: Khởi lên Định, ví như Tu đạo thường xuyên khởi lên, thường xuyên tiến vào. Nói như vậy thì điều này là không nhất định, hoặc có lúc không SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 175 423 www.daitangkinh.org khởi lên Định nhưng mười lăm tâm có thể nối tiếp nhau mà chuyển; hoặc là khởi lên Định, trong đó hoặc có lúc khởi ba tâm rồi mà liền khởi lên Định, hoặc có lúc khởi sáu tâm rồi mà liền khởi lên Định, hoặc có lúc khởi chín tâm rồi mà liền khởi lên Định, hoặc có lúc khởi mười hai tâm rồi mà liền khởi lên Định. Vì thế cho nên ở trung gian của năm phẩm ấy, hoặc là khởi lên- không khởi lên tu xen lẫn thành tựu đầy đủ. Hỏi: Mười lăm tâm này, mấy tâm là đã từng đạt được, mấy tâm là chưa từng đạt được? Đáp: Có người nói: Năm tâm là chưa từng đạt được, mười tâm là đã từng đạt được, đó là bởi vì lúc năm tâm trước hiện rõ ở trước mắt, mười tâm còn lại tu ở vị lai. Có người nói: Mười tâm là chưa t ừng đạt được, năm tâm là đã từng đạt được , đó là bởi vì lúc mười tâm trước hiện rõ ở trước mắt, năm tâm sau tu ở vị lai. Nói như vậy thì điều này là không nhất định, hoặc có lúc mười lăm tâm đều là chưa từng đạt được, hoặc có lúc mười lăm tâm đều là đã từng đạt được, hoặc có lúc phần ít la ø đã từng đạt được-phần ít là chưa từng đạt được. Hỏi: Mười lăm tâm này, mấy ta âm là Chuyển, mấy tâm là Tùy chuyển? Đáp: Có người nói: Năm tâm trước là Chuyển, mười tâm sau là Tùy chuyển. Có người nói: Mười tâm trước la ø Chuyển, năm tâm sau là Tùy chuyển. Nói như vậy thì điều này là không nha át định, hoặc có lúc tất cả đều là Chuyển, hoặc có lúc tất cả đều là Tùy chuyển, hoặc có lúc phần ít là Chuyển-phần ít là Tùy chuyển. Hỏi: Nếu chủng loại của phẩm này Chuyển thì chủng loại của phẩm này Tùy chuyển, cũng là chủng loại của phẩm khác chăng? Đáp: Có người nói: Nếu chủng loại của phẩm này Chuyển thì chủng loại của phẩm này Tùy chuyển, đó là Trí-Sở duyên-Hành tướng- Niệm trú trước sau thuận theo nhau thì mới thành tựu tu xen lẫn. Vì thế cho nên nếu chủng loại của phẩm này Chuyển thì chắc chắn chủng loại của phẩm này T ùy chuyển, không như vậy thì làm trở ngại đối với tu xen lẫn. Có người nói: Nếu chủng loại c ủa phẩm này Chuyển thì chủng loại của phẩm khác Tùy chuyển, đó là Trí-Sở duyên-Hành tướng-Niệm 424 BỘ TỲ ĐÀM 6 trú khác chủng loại xen kẽ lẫn nhau thì mới thành tựu tu xen lẫn. Vì thế cho nên nếu chủng loại của phẩm này Chuyển thì chắc chắn chủng loại của phẩm khác Tùy chuyển, không như vậy thì sẽ trái với nghĩa của tu xen lẫn. Nói như vậy thì điều này là không nhất định, đó là nếu Pháp trí làm Chuyển, thì hoặc Pháp trí, hoặc Loại trí làm Tùy chuyển; nếu Loại trí làm Chuyển thì hoặc Loại trí, hoặc Pháp trí làm Tùy chuyển; trí khác cũng như vậy. Nếu duyên với hữu vi làm Chuyển, thì hoặc duyên với hữu vi, hoặc duyên với vô vi làm Tùy chuyển; duyên với pháp khác cũng như vậy. Nếu hành tướng Vô thường làm Chuyển, thì hoặc là hành tướng Vô thường, hoặc là hành tướng Khổ… làm Tùy chuyển; hành tướng khác cũng như vậy. Nếu Thân niệm trú làm Chuyển, thì hoặc là Thân niệm trú, hoặc là Thọ niệm trú… làm Tùy chuyển; Niệm trú khác cũng như vậy. Hỏi: Nếu Chuyển và Tùy chuyển, hoặc là không giống nhau thì Sở duyên-Hành tướng có tạp loạn, vì sao không làm cho trở ngại đối với tu xen lẫn Tĩnh lự? Đáp: Bởi vì phần vị gia hạnh trước đây đã tu thuần thục, con đường thẳng tắp đã thành tựu, tuy là tạp loạn mà không làm trở ngại đối với tu xen lẫn. Như tạp nhiễm trong Kiến đạo và đạo thế tục, tuy Hành tướng- Sở duyên trên dưới tạp loạn, mà không có gì trở ngại; ở đây cũng như vậy. Hỏi: Nếu Chuyển và Tùy chuyển, hoặc là cũng giống nhau thì làm sao có thể gọi là tu xen lẫn Tĩnh lự, bởi vì không phải là đối với một loại Hành tướng-Sở duyên mà có thể gọi là xen lẫn? Đáp: Bởi vì hữu lậu và vô la äu xen kẽ nhau-lẫn tạp nhau cho nên gọi là tu xen lẫn, không phải là Trí… trước sau khác nhau mà gọi là xen lẫn. Hỏi: Vì sao tu xen lẫn Tĩnh lự phải là hữu lậu va ø vô lậu xen lẫn nhau mà khởi lên? Đáp: Bởi vì muốn hiển bày ở trong hai loại Tĩnh lự này có thể tiến vào-rời ra tự tại. Lại nữa, bởi vì muốn dùng vô lậu đặt ở trước sau, xông ướp hữu lậu ở giữa khiến cho càng vi diệu thù thắng mà sinh đến cõi Tịnh Cư. Lại nữa, bởi vì từ vô thỉ đến nay Tịnh của Tĩnh lự bị Vị tương ưng của Tĩnh lự lấn ép xen tạp, nay muốn làm cho cùng với Vô lậu của Tĩnh lự thay đổi lẫn nhau tiến vào-rời ra, khiến cho Vị tương ưng của Tĩnh lự không còn xen tạp với nhau, lần lượt chuyển đổi mà cách xa. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 175 425 www.daitangkinh.org Lại nữa, hành giả trải qua thời gian dài tiến vào Tĩnh lự, cuối cùng cảm thọ sự nuôi lớn đầy đủ khắp toàn thân, bởi vì muốn làm cho trong thân tạm thời thông suốt thư thả, cho nên cùng với Vô lậu xen lẫn nhau mà khởi lên. Những người muốn tu xen lẫn bốn Tĩnh lự, trước hết cần phải tu xen lẫn Tĩnh lự thứ tư, lúc pháp tu ấy đã thành tựu đầy đủ, tiếp theo lại tu xen lẫn Tĩnh lự thứ ba, tiếp theo lại tu xen lẫn Tĩnh lự thứ hai, cuối cùng tu xen lẫn Tĩnh lự thứ nhất . Nếu không tu xen lẫn Tĩnh lự thứ tư trước tiên, thì người ấy đến cuối cùng không có thể tu xen lẫn địa dưới. Hỏi: Dựa vào luận mà phát sinh luận, vì sao trước hết cần phải tu xen lẫn Tĩnh lự thứ tư, sau đó mới có thể tu ba địa dưới? Đáp: Bởi vì Tĩnh lự thứ tư đầy đủ trọn vẹn nhất trong các Tĩnh lự, là nơi nương tựa thù thắng nhất để khởi lên công đức, có thể dẫn đến niềm vui Khinh an thù thắng nhất, khiến cho đầy đủ khắp toàn thân sở y, là nơi nương tựa của nhiều công đức, là Định không lay chuyển, niềm vui thù thắng nhất trong các hành, có khả năng chịu đựng cao nhất. Lại nữa, bởi vì Tĩnh lự thứ tư ở chính giữa các Định vô lậu, ở phía trên và ở phía dưới đều có ba địa. Lại nữa, bởi vì Tĩnh lự thứ tư là nơi hằng hà sa số tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, đều dựa vào đây mà đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại nữa, bởi vì Tĩnh lự thứ tư có đủ năm loại nhân-năm loại quả, năm loại nhân đó là năm phẩm tu xen lẫn, năm loại quả đó là năm cõi trời Tịnh Cư. Hỏi: Tu xen lẫn ba Tĩnh lự dưới có mấy phẩm? Đáp: Có người nói: Chỉ có ba phẩm, đó là Hạ-Trung và Thượng, bởi vì địa dưới không có năm cõi trời Tịnh Cư. Nói như vậy thì cũng có năm phẩm. Hỏi: Địa ấy không có năm quả, vì sao có nhân của năm phẩm? Đáp: Tuy không có năm quả mà pha ùp Định của địa ấy có năm phẩm. Lại nữa, bởi vì địa dưới tuy không có quả của năm cõi trời Tịnh Cư mà có căn của năm phẩm. Hỏi: Dựa vào luận mà phát sinh luận, ba Tĩnh lự dưới đã có năm phẩm tu xen lẫn, vì sao không có quả của năm cõi trời Tịnh Cư? Đáp: Bởi vì không phải là ruộng đất, không phải là đồ đựng, cho đến nói rộng ra. 426 BỘ TỲ ĐÀM 6 Lại nữa, bởi vì Thánh giả chán ngán lo sợ cùng nơi sinh với dị sinh, cho nên cầu mong sinh đến cõi tr ời Tịnh Cư; nếu địa dưới có cõi trời Tịnh Cư, thì ở nơi sinh cùng với dị sinh không có thể chán ngán lìa xa, bởi vì chưa lìa nhiễm đối với nơi sinh phía trên. Lại nữa, bởi vì Thánh giả muốn vượt qua nơi thọ sinh của dị sinh, cho nên sinh đến cõi trời Tịnh Cư; nếu địa dưới có cõi trời Tịnh Cư, thì không có thể vượt qua nơi thọ sinh của dị sinh, bởi vì ở phía trên vẫn có nơi của dị sinh. Lại nữa, bởi vì Thánh giả ch án ngán nơi tai họa, cho nên cầu mong sinh đến cõi trời Tịnh Cư; bởi vì trong ba địa dưới đều có tai họa, cho nên không có cõi trời Tịnh Cư. Lại nữa, cõi trời Tịnh Cư là do nghiệp thù thắng mà cảm đến thọ lượng lâu dài; nếu địa dưới có cõi trời Tịnh Cư, thì lúc ba tai họa nổi lên, thọ lượng nhất định ấy có mạng chung hay không? Nếu mạng chung thì thọ lượng ấy nhất định không phải là chết yểu. Nếu không mạng chung thì lẽ ra phải làm trở ngại đến tai họa nổi lên. Như nói: Nếu nơi nào có một hữu tình cho đến trứng kiến tồn tại, thì tai họa hoàn toàn không hủy hoại. Bởi vì muốn làm cho không có lỗi lầm như vậy, cho nên địa dưới không có cõi trời Tịnh Cư. Tôn giả Thế Hữu nói rằng: “Vì sao địa dưới không có cõi trời Tịnh Cư? Bởi vì tu xen lẫn Tĩnh lự mới si nh đến cõi trời Tịnh Cư, lúc tu xen lẫn Tĩnh lự thì chắc chắn đã lìa nhiễm của ba địa dưới, chứ không phải là ở địa đã lìa nhiễm mà có thể thọ sinh. Vì thế cho nên cõi trời Tịnh Cư không phải là địa dưới vốn có. Lại nữa, người lợi căn mới có thể tu xen lẫn, người có thể tu xen lẫn thì chắc chắn có thể nhanh ch óng vượt qua địa bất tịnh ở dưới mà đến nơi thuần tịnh, cho nên địa dưới không có cõi trời Tịnh Cư. Lại nữa, người ấy cần phải đạt được địa sở y của Định Biên tế thì mới có thể tu xen lẫn, người có thể tu xen lẫn thì mới sinh đến nơi ấy, cho nên ở địa dưới không có cõi trời Tịnh Cư.” Đại đức nói rằng: “Hữu tình ở địa dưới, phần nhiều vào lúc thế giới hủy hoại thì sinh lên trên, lúc thế giới thành lập thì sinh xuống dưới, sinh ở cõi trời Tịnh Cư thì không có sự việc như vậy, vì thế cho nên địa dưới không có cõi trời Tịnh Cư.” Hỏi: Vì sao Tịnh Cư chỉ có năm chứ không tăng-không giảm? Đáp: Hiếp Tôn giả nói: “Điều này không cần phải hỏi. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu nhiều hay ít thì cũng đều sinh ra nghi ngờ, không bởi vì nghi ngờ mà cho là trái với lý, nhưng ở trong nghĩa như thật về SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 175 427 www.daitangkinh.org pháp tướng chỉ cần có năm chứ không tăng-không giảm.” Có người nói: Bởi vì đối với nơi sinh không chung của dị sinh chỉ có năm, cho nên nơi sinh của Thánh giả cũng chỉ có năm; năm nơi sinh không chung của dị sinh, đó là ba nẽo ác, châu Bắc Câu-lô và cõi trời Vô tưởng. Có người nói: Bởi vì tu xen lẫn Tĩnh lự có năm phẩm, cho nên đã cảm đến cõi trời Tịnh Cư cũng chỉ có năm. Hỏi: Ngay cả tu xen lẫn Tĩnh lự, vì sao chỉ có năm chứ không tăng-giảm? Đáp: Bởi vì thế lực của tu xen lẫn chỉ có bấy nhiêu; như xu thế của Kiến đạo là mười lăm tâm, chỉ có bấy nhiêu chứ không tăng-không giảm. Như vậy, thế lực của tu xen lẫn Tĩnh lự cũng là mười lăm tâm mà không có tăng-giảm. Lại nữa, bởi vì tu xen lẫn Tĩnh lự là công đức thù thắng, không phải là do phẩm Hạ-Trung tha âu nhiếp, chỉ có Thượng Hạ-Thượng Trung-Thượng Thượng-Thượng Thắng-Thượng Cực, cho nên chỉ có năm phẩm. Có Sư khác nói: Tu xen lẫn Tĩnh lự tức là điều hòa luyện tập năm căn như Tín…, như thứ tự ấy tùy theo một căn tăng thượng mà thành năm phẩm, cho nên chỉ có năm. Vì vậy dựa vào tu xen lẫn có năm phẩm, cho nên cõi trời Tịnh Cư cũng chỉ có năm. Có người nói: Tĩnh lự thứ tư có căn thiện thuộc chín phẩm theo thứ tự sinh vào chín nơi, đó là căn thiện Hạ Hạ sinh vào cõi trời Vô Vân, căn thiện Hạ Trung sinh vào cõi trời Phước Sinh, cho đến căn thiện Thượng Thượng sinh đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, đối với những nơi này không có thể tăng-giảm, vì thế cho nên cõi trời Tịnh Cư chỉ cần có năm. Có người nói: Tĩnh lự thứ tư c ó phiền não thuộc chín phẩm, nếu đối với chín phẩm hoàn toàn chưa điều phục thì sinh vào cõi trời Vô Vân, điều phục phẩm Thượng Thượng thì sinh vào cõi trời Phước Sinh, cho đến điều phục phẩm Hạ Trung thì sinh đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, không có ai điều phục phẩm Hạ Hạ mà thọ sinh nơi ấy, vì thế cho nên cõi trời Tịnh Cư chỉ có năm loại. Hỏi: Có thể có tu xen lẫn Tĩnh lự mà không sinh đến cõi trời Tịnh Cư chăng? Đáp: Có, đó là tu xen lẫn Tĩnh lự rồi hoặc là thành tựu mà nhập Niết-bàn trong pháp hiện tại, hoặc là lui sụt sinh ở địa dưới, hoặc là tiến tới sinh đến cõi Vô sắc, đây gọi là người không thích cõi trời Tịnh Cư mà tu xen lẫn Tĩnh lự. 428 BỘ TỲ ĐÀM 6 Hỏi: Có thể có khởi lên đầy đủ năm phẩm tu xen lẫn Tĩnh lự mà sinh vào cõi trời Vô Vân… chăng? Đáp: Có, đó là có người trước hết sinh vào cõi trời Vô Vân, tiếp đến sinh vào cõi trời Phước Sinh, tiếp đến sinh vào cõi trời Quảng Quả, cuối cùng mới theo thứ tự sinh đến năm cõi trời Tịnh Cư.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt