A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 190
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
受樂身受苦身受不苦不樂身受。及苦心受 時如實知。此一智謂世俗一切身受及苦心受 唯有漏故。起世俗智則如實知受樂心受 不苦不樂心受時此四智。謂法類世俗道此 二心受通有漏無漏故。以四智知廣釋如 上。問此中何者名身受何者名心受耶。答 若受在五識身名身受。在意地名心受。復 次若受無分別名身受。有分別名心受。復次 若受取自相境名身受。取自共相境名心 受復次若受取現在境名身受。取三世及非 世境名心受。復次若受取事別境名身受。 取事別及和合境名心受。復次若受一墮境 者名身受。數數墮境者名心受。復次若受於 境率爾轉者名身受。思度轉者名心受。復 次若受以色為所依色為所緣者名身受。 以非色為所依色非色為所緣者名心受。 如色非色。如是有對無對積聚非積聚和合 不和合廣說亦爾。尊者世友說曰。如佛所說。 彼於爾時受於二受。謂身受心受。云何身 受。云何心受。答無有受是身受一切受皆 是心受。所以者何。心相應故。然諸受若依五 根轉此受名身受。恒以身為增上故。若依 意根轉此受名心受。恒以心為增上故。復 作是說。無有受是身受。一切受皆是心受 心相應故。然諸受依取至境三根轉此受 名身受恒作想故。依取不至境三根轉此 受名心受不恒作想故。大德說曰。若是身 受彼亦心受耶。答若是身受彼亦心受。有是 心受而非身受。謂若計度外事於內取相 及於事取補特伽羅并法處所攝色。心不相 應行無為相。如此類受皆名心受。以於非 實有境分別轉故。是謂身受心受差別。 受樂有味受。苦有味受。不苦不樂有味受。及 苦無味受時如實知。此一智。謂世俗。以一 切有味受及苦無味受皆有漏故。起世俗智 則如實知。受樂無味受不苦不樂無味受 時如實知。此四智謂法類世俗道。此二無味 受通有漏無漏故以四智知。廣釋如上。此 中味者是愛味著性故。若受與彼為安足處 名有味受。有說。味名一切煩惱取著性故。 若受與彼為安足處名有味受。若受不 與愛或一切煩惱為安足處名無味受。問 若爾者則一切苦受皆名有味。皆能與愛或 一切煩惱為安足處故。又如品類足說。云 何有味法。謂有漏法。云何無味法謂無漏 法。何故此中說有苦無味受耶。答苦受 雖有漏而有少無味依性依彼故說苦無 味依受。謂彼有與煩惱相違及與煩惱不 相雜性。有餘師說。苦受雖皆是有漏而有 能引發隨順勝義無味無漏受者。依彼故 說苦無味受。以能暫時伏諸味故。 受樂耽嗜依。受苦耽嗜依。受不苦不樂耽嗜 依。受及苦出離依。受時如實知。此一智謂世 俗。以一切耽嗜依。受及苦出離依受皆有漏 故。起世俗智則如實知受樂出離依。受不 苦不樂出離依受時如實知此四智。謂法類 世俗道如前釋。此中耽嗜謂愛耽著性故。若 受與彼為安足處名耽嗜依受。有說。耽嗜 名一切煩惱執著性故。若受與彼為安足 處名耽嗜依受。苦受不與愛或一切煩 惱為安足處名出離依受。問若爾一切苦 受皆應名耽嗜依。皆能與愛或一切煩惱 為安足處故。又如品類足說。云何耽嗜依 法謂有漏法。云何出離依法謂無漏法。何故 此中說有苦出離依受耶。答苦受雖有漏 而有少出離依性。依彼故說苦出離依受。 謂彼有與煩惱相違及與煩惱不相雜性。 有餘師說。苦受雖皆是有漏而有能引發 隨順勝義出離依無漏受者。依彼故說苦出 離依受以能暫時伏諸耽嗜故。 如說有貪心如實知有貪心。乃至廣說。有 二義故。心名有貪一貪相雜故。二貪所繫 故。有說。此中依相雜有貪而作論。有說。 此中依二種有貪而作論。所以者何。若唯 依相雜有貪而作論者則有漏善。及無覆無 記心等應亦名離貪心。然彼亦是有貪心 貪所繫故。如有貪心應知有瞋心等亦爾。 此中貪所繫故名有貪心。貪對治故名離貪 心。如是說者好。謂貪所繫故名有貪心。貪 對治故名離貪心。若說貪相應故名有貪 心。貪不相應故名離貪心者則貪不相應餘 煩惱相應心等應名離貪心。然彼亦是有貪 心貪所繫故。若說貪相應故名有貪心。貪對 治故名離貪心者。則貪不相應染污心及無 覆無記一分善心。應非有貪心亦非離貪 心。然彼亦是有貪心貪所繫故。有貪心如實 知有貪心。此一智謂世俗智。離貪心如實知 離貪心。此四智謂法類世俗道皆如前釋。瞋 所繫故名有瞋心。瞋對治故名離瞋心廣說 如貪。有瞋心如實知有瞋心。此一智謂世 俗如前釋。離瞋心如實知離瞋心。此三智 謂法世俗道。此中依近對治說故不說類 智。以類智品道非欲界近對治故餘如前 釋。癡所繫故名有癡心。癡對治故名離癡 心。如是說者好。謂癡所繫故名有癡心。癡 對治故名離癡心。若說癡相應故名有癡 心。癡不相應故名離癡心者。則無覆無記一 分善心。亦應名離癡心。然彼亦名有癡心 癡所繫故。若說癡相應故名有癡心。癡對治 故名離癡心者。則無覆無記一分善心應非 有癡心。亦非離癡心。然彼亦是有癡心癡所 繫故。有癡心如實知有癡心。此一智謂世俗。 離癡心如實知離癡心。此四智謂法類世俗 道如前釋。染心者謂染污心煩惱相應故。不 染心者謂善心煩惱相違故。有說。善心無覆 無記心皆名不染心煩惱不相應故。染心如 實知染心此一智謂世俗。不染心如實知不 染心。此四智謂法類世俗道如前有癡離癡 心釋。略心者。謂善心於所緣略攝故。散心 者謂染污心於所緣馳散故。略心如實知略 心。此四智謂法類世俗道。散心如實知散心 此一智謂世俗。此隨所應如前釋。迦濕彌 羅外諸師言。略心者謂眠相應心以說心略 名眠故。如說眠云何。謂眠者所有眠夢不 能持身心略為性。問若爾者。此中所說云 何通。如說略心如實知略心此四智。乃至 廣說。答此文應作是說。略心散心下心如實 知略心散心下心此一智謂世俗。舉心如實 知舉心此四智如前說。評曰。彼不應作是 說。若作是說則染污眠相應心應亦名略 心眠相應故。亦名散心以染污故。由此應 知前說者好。下心者謂染污心懈怠相應故。 舉心者謂善心精進相應故。下心如實知下 心此一智謂世俗。舉心如實知舉心此四智 謂法類世俗道如前釋。小心者謂染污心小 生所習故。大心者謂善心大生所習故。問今 現見無量有情作惡。少有情習善。云何染心 小生所習耶。答此中不以類少名小。但以 淨法少故名小。謂若淨法少生之所習者名 小心。淨法多生之所習者名大心。是故遍生 死海中唯佛多修善法而名為大。非一切 有情。有說。染污心小價得故名小。善心大 價得故名大。以染污心因少所為便起無 量非理作意。令煩惱惡行起如河流。善心不 爾。雖捨百千珍寶或有能起或有不能 起者。有說。染污心少根故名小。善心多根 故名大。謂染污心或唯一根或復至二善 心。一切皆具三根。有說。染污心少隨轉故 名小。善心多隨轉故名大。謂染污心唯三 蘊隨轉。善心或三蘊或四蘊隨轉。有說。染污 心少眷屬故名小。善心多眷屬故名大。謂染 污心無未來修故。善心有未來修故。有說。 染污心少對治故名小。善心多對治故名大。 如一剎那苦法智忍生。能頓永斷欲界見苦 所斷十隨眠等。此一力勝非彼一切如一力 士能伏千人。而無一剎那染污心生有此勢 力。復次染污心中所有上首闕於眼足。彼上 首者則是無明。如說無明為上首為前因 故生無量種惡不善法。及彼種類無慚無愧 善心中所有上首具有眼足彼上首則是 明。如說明為上首為前因故。生無量種善 法及彼種類慚愧。復次無始時來所習不善 法。暫時習善則令永斷。猶如室中多時積 闇。燈明暫照則便除遣。如於多時習無鹽 想暫甞鹽時彼想便捨。此亦如是。不善斷 善無如是事。復次善於不善能畢竟伏。或 畢竟斷。不善於善則不如是。由此等緣染 污心名小善心名大。小心如實知小心此 一智謂世俗。大心如實知大心此四智謂法 類世俗道皆如前釋。掉心者謂染污心掉舉 相應故。不掉心者謂善心奢摩他相應故。掉 心如實知掉心。此一智謂世俗。不掉心如實 知不掉心此四智謂法類世俗道皆如前釋。 不寂靜心者。謂染污心恒喧動故。寂靜心者 謂善心背喧動故。不寂靜心如實知不寂靜 心此一智謂世俗。寂靜心如實知寂靜心。此 四智謂法類世俗道皆如前釋。不定心者。謂 染污心散亂相應故。定心者謂善心背散亂 故。不定心如實知不定心此一智謂世俗。定 心如實知定心此四智謂法類世俗道皆如 前釋。不修心者謂於得修習修俱不修心。 修心者謂於得修習修或俱或隨一修心。不 修心如實知不修心此一智謂世俗。修心如 實知修心此四智謂法類世俗道皆如前釋。 不解脫心者。謂於自性解脫相續解脫俱不 解脫心。解脫心者謂於自性解脫相續解脫。 或俱或隨一解脫心。不解脫心如實知不解 脫心此一智謂世俗。解脫心如實知解脫心 此四智謂法類世俗道皆如前釋。 如說有內貪欲蓋。乃至廣說。此聖教中內 有二種。一內處攝故名內。如說此六內處。 乃至廣說。二自相續攝故名內。如說於內 身循身觀。乃至廣說。此中依相續內而作 論不依處內。所以者何。若依處內而作論 者。則不應言有內貪欲蓋等。以貪欲蓋等 皆是外法處攝故。然彼雖是外處而以自 相續攝故說名為內。如說有內貪欲蓋。如 實知有內貪欲蓋。此一智謂世俗。此中有者 謂自相續中貪欲蓋現行可得。或未離彼得 獲成就。或彼對治道未生。此一智者以有漏 故起世俗智。則如實知無內貪欲蓋。如實 知無內貪欲蓋。此三智謂法世俗道。此中無 者謂自相續中貪欲蓋非現行可得。或已離 彼得獲成就。或彼對治道已生。此三智者謂 貪欲蓋唯欲界故。彼近對治非類智品。如 未生內貪欲蓋而生。如實知此一智謂世俗。 此中未生而生者。謂由彼彼因彼彼緣內貪 欲蓋生。此一智者如前釋。生已便斷斷已後 不復生。如實知此三智謂法世俗道。此中 生已便斷者。謂彼對治道已生貪欲蓋斷。斷 已後不復生者。謂或畢竟不生。或乃至未 退彼對治道。此三智者如前釋。如貪欲蓋 應知瞋恚惛沈睡眠掉舉惡作疑蓋亦爾。以 彼皆是欲界繫故。 如說有內眼結。如實知有內眼結此一智 謂世俗。此中亦依相續內而作論。不依處 內。廣說如前所說。有者亦謂自相續中眼結 現行可得。或未離彼得獲成就。或彼對治 道未生。此一智者如前釋。無內眼結如實 知無內眼結。此四智謂法類世俗道。此中無 者亦謂自相續中眼結非現行可得。或已離 彼得獲成就。或彼對治道已生。此四智者謂 內眼結欲色界繫故。彼近對治通法類智品。 如未生內眼結而生如實知。此一智謂世俗。 此中未生而生者。謂由彼彼因彼彼緣內眼 結生。此一智者如前釋。生已便斷斷已後不 復生。如實知此四智謂法類世俗道。此中生 已便斷者。謂彼對治道已生內眼結斷。斷已 後不復生者。謂或畢竟不生。或乃至未退 彼對治道。此四智者如前釋。如眼結應知 耳身意結亦爾。彼近對治俱通法類智品故。 鼻舌結如蓋說。皆唯欲界繫故。如說有內 念等覺支。如實知有內念等覺支。此四智謂 法類世俗道。此中有者謂自相續中念等覺 支現行可得。或已有彼得獲成就。或彼所對 治障已斷。此四智者。有說。此中真實念等覺 支三智知謂法類道智。相似念等覺支一智知 謂世俗智。有說。此中唯說真實念等覺支 則此為四智知。謂世俗智不明了知。法類 道智明了知。無內念等覺支如實知無內 念等覺支。此一智謂世俗。此中無者謂自相 續中念等覺支非現行可得。或未有彼得獲 成就。或彼所對治障未斷。一智者如前說。 如未生念等覺支而生。生已住不忘令圓滿 倍增廣智作證。此四智謂法類世俗道。此中 未生而生者謂由彼彼因彼彼緣內念等覺 支生。生已住不忘等者。問如爾所生則爾 所滅。剎那後必不住如何可說生已住不忘 等耶。答此中說二種善根。謂順住分及順勝 進分。生已住不忘者說順住分善根。生已令 圓滿倍增廣者說順勝進分善根。四智者如 前釋。如念等覺支應知擇法精進喜安定捨 等覺支亦爾。以種類同故。問喜等覺支則 是受。前受念住中已觀。今何故重觀察耶。答 前以受念住門觀察。今以法念住門觀察。 復次前獨觀察。今與餘覺支觀察。復次前 觀察彼自相。今觀察彼共相。復次前觀察有 漏無漏。今觀察無漏。有說。此中亦觀察有 漏無漏。以通觀察真實及相似覺支故。 如說等隨觀自貪瞋癡增。乃至廣說。問何故 作此論。答為欲分別佛經義故。如契經 說。諸苾芻苾芻尼等隨觀自貪增時。彼應 知退諸善法佛說名退瞋癡亦爾。契經雖 作是說而不廣分別。云何貪增乃至癡增。 彼經是此論所依根本。彼所不分別者今應 分別故作斯論。云何貪瞋癡增。答有下貪 瞋癡纏故中。有中。故上是謂增。此中有 說。依世所現見貪瞋癡增而作論。貪增 者如諸男子於童子位起下貪纏。於少年 位起中貪纏。於盛年位起上貪纏。於彼 妻亦爾。瞋增者如諸男子展轉鬪諍。未發 麁語起下瞋纏。發麁語時起中瞋纏。結憾 謀害起上瞋纏。癡增者如有男子生外道 家。未學彼書論起下癡纏。學而未達其 義起中癡纏。若究竟通達起上癡纏。有說。 此中依觀待道理而作論。謂觀下品貪纏 故施設中。觀中故施設上。瞋癡亦爾。有說。 此中依退作論。謂從下品貪纏退故中。從 中退故上。瞋癡亦爾。 如說等隨觀自貪瞋癡減。乃至廣說。問何故 復作此論。答欲分別即前經中餘所說義 故。如彼說。諸苾芻苾芻尼等隨觀自貪減時。 彼應知不退善法。佛說名不退瞋癡亦爾。 彼經雖作是說而不廣分別。云何貪減乃 至癡減。彼經是此論所依根本。彼所不說者 今悉應說故作斯論。云何貪瞋癡減。答無 上貪瞋癡纏故中。無中故下是謂減。有說。 此中依世所現見貪瞋癡減而作論。貪減 者如諸男子。於盛年位起上貪纏。於中年 位起中貪纏。於老年位起下貪纏。於彼妻 亦爾。瞋減者如諸男子展轉結憾相謀害 時起上瞋纏。為興鬪諍遣使往返起中 瞋纏。正鬪諍時起下瞋纏。癡減者如諸男 子。生外道家學彼書論。已通達時起上癡 纏。若聞佛語心中住時起中癡纏。若於佛 語少生信時起下癡纏。有說。此中依觀待 道理而作論。謂觀上品貪纏故施設中。觀 中故施設下。瞋癡亦爾。有說。此中依離染 作論謂上品貪纏減故中。中減故下。 云何死邊際受。乃至廣說。問何故作此論。答 為欲解釋契經義故。如契經說。阿難陀當 知昔有轉輪王名曰善見。有如是類死邊 際受。猶如壯士多食美食須臾迷悶。又契 經說。我今已生猛利損害死邊際受。契經雖 作是說而不分別。云何死邊際受。齊何當 言死邊際受。乃至廣說。故作斯論。有說。所 以作論者為止世間於非死邊際受。起死 邊際受想故。如世間說。我已受死邊際受。 今受當受彼於非死邊際受起死邊際受想。 所以者何。若受此受不久便命終者乃名 死邊際受故。云何死邊際受。答由此末摩斷 命根滅。問此受何故名死邊際耶。答由此引 至死邊際位故名死邊際受。問若爾應說 最後受名死邊際受。不應說由此末摩斷。 所以者何。末摩斷已或經晝夜方命終故。答 則斷末摩受亦名最後受。以斷末摩後不 久必命終故。有說。一眾同分中有二種受。 一身受。二心受。斷末摩受是身受最後。命根 滅受是心受最後。 齊何當言死邊際受。答齊此末摩斷命根 滅。問何故復作此論。答前說死邊際受自 性。而未顯位今欲顯之故作斯論。死邊際 受何處攝。答法處。幾識相應。答身識意識。謂 初末摩斷受身識相應。最後受意識相應。問 幾大種能斷末摩。答三謂水火風。問何故地 大種不能斷末摩。答非田非器。乃至廣說。 有說。猛利大種能斷末摩地大種不猛利。有 說。若諸大種能壞。外分能為外災彼亦能 壞內分能斷末摩地大種不能壞外分不 能為外災故。亦不能壞內分不能斷末 摩。此中水大種斷末摩者。謂將死時於內身 中。水界增盛。由此浸漬令一切筋爛。諸筋 爛故支節解。支節解故不久命終。火大種斷 末摩者。謂將死時於內身中火界增盛。由 此燒逼令一切筋燋。諸筋燋故支節解。支節 解故不久命終。風大種斷末摩者。謂將命 終時於內身中風界增盛。由此鼓擊令一 切筋碎。諸筋碎故支節解。支節解故不久命 終。亦有欲令地大種能斷末摩。彼作是說。 將命終時。身中地界增盛能令一切竅穴閉 塞。諸穴塞故支節解。支節解故不久命終。 問何處有斷末摩。答在欲界非色無色界。 於欲界中地獄無斷末摩以恒斷故。傍生 餓鬼有斷末摩。人中三洲非北拘盧洲。欲界 諸天亦無斷末摩。彼非惱亂業果故。 問何等補特伽羅有斷末摩。答異生聖者皆 有。於聖者中預流一來不還阿羅漢獨覺皆 有。唯除世尊無惱亂業故。諸佛世尊無 斷末摩。聲音不壞無漸命終。以佛世尊諸根 頓滅故。或阿羅漢有斷末摩。非屠羊人等。 以斷末摩是惱亂業果。故若有惱亂業者 雖阿羅漢而斷末摩。若無惱亂業雖屠羊 人等亦無斷末摩事。 問末摩中間云何安布。答象馬牛等諸大力 獸末摩中間骨節相拄而復堅固。大諾健那 骨節相接。猶如接版鉢羅塞建提骨節相鉤。 如鐵鉤相鉤。那羅延身骨節連鎖猶如鐵鎖。 佛身骨節展轉盤結猶如盤龍。諸餘有情骨 節相離而不堅固。是故彼類其力最劣。
Việt dịch
QUYỂN 190 LUẬN VỀ NIỆM TRÚ (Phần 4) Lúc cảm thọ về Lạc của tha ân thọ-Khổ của thân thọ-không khổ không lạc của thân thọ, và Khổ của tâm thọ thì nhận biết như thật, đây là một trí, đó là Thế tục trí, bởi vì tất cả thân thọ và Khổ của tâm thọ chỉ là hữu lậu, cho nên khởi lên Thế tục trí thì nhận biết như thật. Lúc cảm thọ về Lạc của ta âm thọ-không khổ không lạc của tâm thọ thì nhận biết như thật, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí, bởi vì hai tâm thọ na øy bao gồm hữu lậu-vô lậu, cho nên dùng bốn trí nhận biết, giải thích rộng ra như trên. Hỏi: Trong này thế nào gọi là thân thọ, thế nào gọi là tâm thọ? Đáp: Nếu cảm thọ thuộc về năm Thức thân thì gọi là thân thọ, thuộc về Ý địa thì gọi là tâm thọ. Lại nữa, nếu cảm thọ k hông có phân biệt thì gọi là thân thọ, có phân biệt thì gọi là tâm thọ. Lại nữa, nếu cảm thọ giữ lấy cảnh của tự tướng thì gọi là thân thọ, giữ lấy cảnh của tự tướng-cọng tướng thì gọi là tâm thọ. Lại nữa, nếu cảm thọ giữ lấy cảnh hiện tại thì gọi là thân thọ, giữ lấy cảnh của ba đời và cảnh không thuộc về đời kiếp thì gọi là tâm thọ. Lại nữa, nếu cảm thọ giữ lấy cảnh riêng biệt của sự thì gọi là thân thọ, giữ lấy cảnh riêng biệt của sự và cảnh hòa hợp thì gọi là tâm thọ. Lại nữa, nếu cảm thọ một lần rơi vào cảnh ấy thì gọi là thân thọ, nhiều lần rơi vào cảnh ấy thì gọi là tâm thọ. Lại nữa, nếu cảm thọ đối với ca ûnh sơ suất mà chuyển thì gọi là thân thọ, suy đoán mà chuyển thì gọi là tâm thọ. Lại nữa, nếu cảm thọ dùng Sắc làm sở y-Sắc làm sở duyên thì gọi là thân thọ, dùng phi Sắc làm sở y-Sắc và phi Sắc làm sở duyên thì gọi SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 190 681 www.daitangkinh.org là tâm thọ. Như Sắc-phi Sắc, như vậy có đối-không có đối, tích tụ-không phải là tích tụ, hòa hợp-không hòa hợp, nói rộng ra cũng như vậy. Tôn giả Thế Hữu nói rằng: “Như Đức Phật đã nói: Người ấy vào lúc bấy giờ cảm thọ đối với hai thọ, đó là thân thọ và tâm thọ. Thế nào là thân thọ? Thế nào là tâm thọ? Trả lời: Không có cảm thọ nào là thân thọ, tất cả cảm thọ đều là tâm thọ. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tương ưng với tâm. Nhưng các cảm thọ nếu dựa vào năm căn mà chuyển thì cảm thọ này gọi là thân thọ, bởi vì luôn luôn dùng thân làm tăng thượng; nếu dựa vào Ý căn mà chuyển thì cảm t họ này gọi là tâm thọ, bởi vì luôn luôn dùng tâm làm tăng thượng.” Lại đưa ra cách nói này: “Không có cảm thọ nào là thân thọ, tất cả cảm thọ đều là tâm thọ. Bởi vì tương ưng với tâm. Nhưng các cảm thọ dựa vào ba căn giữ lấy cảnh đến mà chuyển thì cảm thọ này gọi là thân thọ, bởi vì luôn luôn dấy lên Tưởng; dựa vào ba căn giữ lấy cảnh không đến mà chuyển thì cảm thọ này gọi là tâm thọ, bởi vì không luôn luôn dấy lên Tưởng.” Đại đức nói rằng: “Nếu là thân thọ thì đó cũng là tâm thọ chăng? Trả lời: Nếu là thân thọ thì đó cũng là tâm thọ. Có lúc là tâm thọ mà không phải là thân thọ, đó là nếu suy nghĩ về sự bên ngoài, ở bên trong giữ lấy tướng và đối với sự giữ lấy tướng của Bổ-đặc-già-la, cùng với tướng của Sắc do Pháp xứ thâu nh iếp, tướng của tâm bất tương ưng hành, tướng Vô vi. Những loại cảm thọ như vậy đều gọi là tâm thọ, bởi vì phân biệt mà chuyển đối với cảnh không phải là có thật.” Đó gọi là sự sai biệt của thân thọ và tâm thọ. Lúc cảm thọ về Lạc có vị của thọ, Khổ có vị của thọ, không khổ không lạc có vị của thọ, và Khổ kh ông có vị của thọ thì nhận biết như thật, đây là một trí, đó là Thế tục trí, bởi vì tất cả có vị của thọ và Khổ không có vị của thọ đều là hữu lậu, cho nên khởi lên Thế tục trí thì nhận biết như thật. Lúc cảm thọ về Lạc không có vị của thọ-không khổ không lạc không có vị của thọ thì nhận biết như th ật, đây là bốn trí, đó là Pháp- Loại-Thế tục và Đạo trí, bởi vì ha i loại không có vị của thọ này bao gồm hữu lậu-vô lậu, cho nên dùng bốn trí nhận biết, giải thích rộng ra như trên. Trong này, Vị gọi là Ái, bởi vì tánh đắm theo Vị. Nếu thọ làm nơi dừng chân cho pháp ấy thì gọi là có vị của thọ. Có người nói: Vị là gọi cho tất cả phiền não, bởi vì tánh đắm theo 682 BỘ TỲ ĐÀM 6 Thủ. Nếu thọ làm nơi dừng chân cho pháp ấy thì gọi là có vị của thọ. Nếu thọ không làm nơi dừng chân cho Ái, hoặc là tất cả phiền não thì gọi là không có vị của thọ. Hỏi: Nếu như vậy thì tất cả Khổ thọ đều gọi là có vị, bởi vì đều có thể làm nơi dừng chân cho Ái, hoặc là tất cả phiền não. Lại như luận Phẩm Loại Túc nói: “Thế nào là có vị của pháp? Đó là pháp hữu lậu. Thế nào là không có vị của pháp? Đó là pháp vô lậu.” Vì sao trong này nói có Khổ không có vị của thọ? Đáp: Khổ thọ tuy là hư õu lậu mà có phần ít không có vị dựa vào tánh, dựa vào đó cho nên nói là Khổ không có vị của thọ, nghĩa là pháp ấy có tánh không trái ngược với phiền não và không xen tạp với phiền não. Có Sư khác nói: Khổ thọ tuy đều là hữu lậu mà có lúc có thể dẫn dắt phát khởi thọ vô lậu không có vị tùy thua än với Thắng nghĩa, dựa vào đó cho nên nói là Khổ không có vị c ủa thọ, bởi vì có thể tạm thời điều phục các Vị. Cảm thọ về Lạc ham thích dựa vào thọ, Khổ ham thích dựa vào thọ, không khổ không lạc ham thích dựa vào thọ, và Khổ rời xa dựa vào thọ thì nhận biết như thật, đây là một trí, đó là Thế tục trí, bởi vì tất cả ham thích dựa vào thọ và Khổ rời xa dựa vào thọ đều là hữu lậu, cho nên khởi lên Thế tục trí thì nhận biết như thật. Cảm thọ về Lạc rời xa dựa vào thọ-không khổ không lạc rời xa dựa vào thọ thì nhận biết như thật, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí, giải thích như trước. Trong này, ham thích(đam thị) gọi là Ái, bởi vì tánh thuộc đắm trước. Nếu thọ làm nơi dừng chân cho pháp ấy thì gọi là ham thích dựa vào thọ. Có người nói: Ham thích là gọi cho tất cả phiền não, bởi vì tánh thuộc chấp trước. Nếu thọ làm nơi dừng chân cho pháp ấy thì gọi là ham thích dựa vào thọ. Nếu thọ không làm nơi dừng chân cho Ái, hoặc là tất cả phiền não thì gọi là rời xa dựa vào thọ. Hỏi: Nếu như vậy thì tất cả Khổ thọ đều gọi là ham thích dựa vào, bởi vì đều có thể làm nơi dừng chân cho Ái, hoặc là tất cả phiền não. Lại như luận Phẩm Loại Túc nói: “Thế nào là ham thích dựa vào pháp? Đó là pháp hữu lậu. Thế nào là rời xa dựa vào pháp? Đó là pháp vô lậu.” Vì sao trong này nói có Khổ rời xa dựa vào thọ? Đáp: Khổ thọ tuy là hữu lậu mà có phần ít rời xa dựa vào tánh, dựa vào đó cho nên nói là Khổ rời xa dựa vào thọ, nghĩa là pháp ấy có SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 190 683 www.daitangkinh.org tánh không trái ngược với phiền não và không xen tạp với phiền não. Có Sư khác nói: Khổ thọ tuy đều là hữu lậu mà có lúc có thể dẫn dắt phát khởi thọ vô lậu dựa vào rời xa tùy thuận với Thắng nghĩa, dựa vào đó cho nên nói là Khổ r ời xa dựa vào thọ, bởi vì có thể tạm thời điều phục các ham thích. Như nói: Tâm có tham thì nhận biết như thật là tâm có tham…, cho đến nói rộng ra. Bởi vì có hai nghĩa cho nên tâm gọi là có tham: 1. Xen tạp với tham. 2. Do tham ràng buộc. Có người nói: Trong này dựa vào xen tạp với có tham mà soạn luận. Có người nói: Trong này dựa vào hai loại có tham mà soạn luận. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu chỉ dựa vào xen tạp với có tham mà soạn luận, thì tâm thiện hữu lậu và tâm vô phú vô ký…, lẽ ra cũng gọi là tâm lìa tham; nhưng loại ấy cũng là tâm có tham, bởi vì tham mà ràng buộc. Như tâm có tham, nên biết tâm có sân… cũng như vậy. Trong này, bởi vì tham mà ràng buộc cho nên gọi là tâm có tham, bởi vì đối trị với tham cho nên gọi là tâm lìa tham. Nói như vậy là hợp lý, nghĩa là bởi vì tham mà ràng buộc cho nên gọi là tâm có tham, bởi vì đối trị với tham cho nên gọi là tâm lìa tham. Nếu nói tương ưng với tham cho nên gọi là tâm có tham, không tương ưng với tham cho nên gọi là tâm lìa tham, thì tâm không tương ưng với tham mà tương ưng với những phiền não khác nên gọi là tâm lìa tham; nhưng loại ấy cũng là tâm có tham, bởi vì tham mà ràng buộc. Nếu nói tương ưng với tham cho nên gọi là tâm có tham, bởi vì đối trị với tham cho nên gọi là tâm lìa tham, thì tâm nhiễm ô và tâm vô phú vô ký-một phần tâm thiện không tương ưng với tham, lẽ ra không phải là tâm có tham, cũng không phải là tâm lìa tham; nhưng loại ấy cũng là tâm có tham, bởi vì tham mà ràng buộc. Tâm có tham thì nhận biết như thật là tâm có tham, đây là một trí, đó là Thế tục trí; giải thích như trước. Tâm lìa tham thì nhận biết như thật là tâm lìa tham, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí; giải thích như trước. Bởi vì sân mà ràng buộc cho nên gọi là tâm có sân, bởi vì đối trị với sân cho nên gọi là tâm lìa sân, nói rộng ra như tham. Tâm có sân thì nhận biết như thật là tâm có sân, đây là một trí, đó 684 BỘ TỲ ĐÀM 6 là Thế tục trí; giải thích như trước. Tâm lìa sân thì nhận biết như thật là tâm lìa sân, đây là ba trí, đó là Pháp-Thế tục và Đạo trí. Trong này, dựa vào đối trị ga àn mà nói, cho nên không nói đến Loại trí, bởi vì đạo thuộc phẩm Loại trí không phải là đối trị gần của cõi Dục; còn lại giải thích như trước. Bởi vì si mà ràng buộc cho nên gọi là tâm có si, bởi vì đối trị với si cho nên gọi là tâm lìa si. Nói như vậy là hợp lý, nghĩa là bởi vì si mà ràng buộc cho nên gọi là tâm có si, bởi vì đối trị với si cho nên gọi là tâm lìa si. Nếu nói tương ưng với si cho nên gọi là tâm có si, bởi vì đối trị với si cho nên gọi là tâm lìa si, thì tâm vô phú vô ký-một phần tâm thiện, cũng nên gọi là tâm lìa si; nhưng loại ấy cũng gọi là tâm có si, bởi vì si mà ràng buộc. Nếu nói tương ưng với si cho nên gọi là tâm có si, bởi vì đối trị với si cho nên gọi là tâm lìa si, thì tâm vô phú vô ký-một phần tâm thiện, lẽ ra không phải là tâm có si, cũng không phải là tâm lìa si; nhưng loại ấy cũng là tâm có si, bởi vì si mà ràng buộc. Tâm có si thì nhận biết như thật là tâm có si, đây là một trí, đó là Thế tục trí; giải thích như trước. Tâm lìa si thì nhận biết như thật là tâm lìa si, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí; giải thích như trước. Tâm nhiễm, đó là tâm nhiễm ô, bởi vì tương ưng với phiền não. Tâm không nhiễm, đó là tâm thiện, bởi vì trái ngược với phiền não. Có người nói: Tâm thiện-tâm vô phú vô ký đều gọi là tâm không nhiễm, bởi vì không tương ưng với phiền não. Tâm nhiễm thì nhận biết như thật là tâm nhiễm, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Tâm không nhiễm thì nhận biết như thật là tâm không nhiễm, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí; giải thích như tâm có si-lìa si trước đây. Tâm hời hợt, đó là tâm thiện, bởi vì thâu nhiếp hời hợt đối với sở duyên. Tâm phân tán, đó là tâm nhiễm ô, bởi vì phân tán rong ruổi đối với sở duyên. Tâm hời hợt thì nhận biết như thật là tâm hời hợt, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 190 685 www.daitangkinh.org Tâm phân tán thì nhận biết như thậ t là tâm phân tán, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Câu này tùy theo thích hợp, giải thích như trước. Các Sư ở ngoài nước Ca-thấp-di -la nói: “Tâm hời hợt, đó là tâm tương ưng với ngủ, bởi vì nói tâm hời hợt gọi là ngủ. Như nói: Ngủ là thế nào? Đó là lúc ngủ vốn có mơ ngủ không có thể giữ được thân tâm, lấy hời hợt làm tánh.” Hỏi: Nếu như vậy thì trong này đã nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Tâm hời hợt nhận biết như thật là tâm hời hợt, đây là bốn trí…” Đáp: Văn này nên đưa ra cách nói này: Tâm hời hợt-tâm phân tán-tâm xuống thấp nhận biết như thật là tâm hời hợt-tâm phân tán-tâm xuống thấp, đây là một trí, đó là Thế tục trí; tâm lên cao nhận biết như thật là tâm lên cao, đây là bốn trí, nói như trước.” Lời bình: Người ấy không nên đưa ra ca ùch nói này. Nếu đưa ra cách nói này thì tâm nhiễm ô tương ưng với ngủ, lẽ ra cũng gọi là tâm hời hợt bởi vì tương ưng với ngủ, cũng gọi là tâm phân tán bởi vì nhiễm ô. Vì vậy nên biết cách nói trước là hợp lý. Tâm xuống thấp, đó là tâm nhiễm ô, bởi vì tương ưng với lười nhác. Tâm lên cao, đó là tâm thiện, bởi vì tương ưng với tinh tiến. Tâm xuống thấp thì nhận biết như thật là tâm xuống thấp, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Tâm lên cao thì nhận biết như thật là tâm lên cao, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Giải thích như trước. Tâm nhỏ bé, đó là tâm nhiễm ô, bởi vì nhỏ bé do thói quen mà sinh ra. Tâm to lớn, đó là tâm thiện, bởi vì to lớn do thói quen mà sinh ra. Hỏi: Nay hiện thấy vô lượng hữu tình làm điều ác, rất ít hữu tình làm điều thiện, vì sao tâm nhiễm nhỏ bé do thói quen mà sinh ra? Đáp: Trong này không vì chủng loại ít mà gọi là nhỏ bé, chỉ vì pháp thanh tịnh ít ỏi cho nên gọi là nhỏ bé, nghĩa là nếu pháp thanh tịnh ít ỏi do thói quen mà sinh ra thì gọi là tâm nhỏ bé, nếu pháp thanh tịnh phần nhiều do thói quen mà sinh ra thì gọi là tâm to lớn. Vì thế cho nên khắp trong biển rộng sinh tử chỉ có Đức Phật tu nhiều pháp thiện mà gọi là to lớn, chứ không phải là tất cả hữu tình. Có người nói: Tâm nhiễm ô đạt đư ợc giá trị nhỏ bé cho nên gọi là nhỏ bé, tâm thiện đạt được giá trị to lớn cho nên gọi là to lớn. Bởi vì tâm nhiễm ô dựa vào một ít việc đã làm liền khởi lên vô lượng tác ý phi 686 BỘ TỲ ĐÀM 6 lý, khiến cho phiền não ác hạnh dấy lên như dòng sông tuôn chảy; tâm thiện thì không như vậy, tuy bỏ ra tr ăm ngàn châu báu nhưng hoặc có người có thể khởi lên, hoặc có người không có thể khởi lên. Có người nói: Tâm nhiễm ô bởi vì ít căn cho nên gọi là nhỏ bé, tâm thiện bởi vì nhiều căn cho nên gọi là to lớn. Nghĩa là tâm nhiễm ô thì hoặc là chỉ có một căn, hoặc là đến hai căn; tâm thiện thì tất cả đều có đủ ba căn. Có người nói: Tâm nhiễm ô bởi vì ít tùy chuyển cho nên gọi là nhỏ bé, tâm thiện bởi vì nhiều tùy chuyển cho nên gọi là to lớn. Nghĩa là tâm nhiễm ô thì chỉ có ba uẩn t ùy chuyển, tâm thiện thì hoặc là ba uẩn-hoặc là bốn uẩn tùy chuyển. Có người nói: Tâm nhiễm ô bởi vì ít quyến thuộc cho nên gọi là nhỏ bé, tâm thiện bởi vì nhiều quyến thuộc cho nên gọi là to lớn. Nghĩa là bởi vì tâm nhiễm ô thì không có tu thuộc vị lai, tâm thiện thì có tu thuộc vị lai. Có người nói: Tâm nhiễm ô bởi vì ít đối trị cho nên gọi là nhỏ bé, tâm thiện bởi vì nhiều đối trị cho nên gọi là to lớn. Như Khổ pháp trí nhẫn sinh khởi trong một sát-na, có thể lập tức vĩnh viễn đoạn mười tùy miên do kiến Khổ mà đoạn của cõi Dục, một lực này hơn hẳn chứ không phải là tất cả lực kia, như một lực sĩ có thể làm cho ngàn người khuất phục; mà không có tâm nhiễm ô sinh khởi trong một sát-na, có thế lực như vậy. Lại nữa, trong tâm nhiễm ô vốn có pháp đứng đầu thiếu mất mắt và chân, pháp đứng đầu ấy tức la ø Vô minh. Như nói: Vô minh là pháp đứng đầu, là nhân tố đi trước, cho nên sinh ra vô lượng chủng loại pháp ác bất thiện, và chủng loại không có Tàm-không có Quý của nó. Trong tâm thiện vốn có pháp đứng đầu có đủ mắt và chân, pháp đứng đầu ấy tức là Minh. Như nói: Minh là pha ùp đứng đầu, là nhân tố đi trước, cho nên sinh ra vô lượng chủng loại pháp th iện, và chủng loại có Tàm-có Quý của nó. Lại nữa, từ vô thỉ đến nay đã quen theo pháp bất thiện, tạm thời luyện tập pháp thiện thì làm cho vĩ nh viễn đoạn trừ; giống như trong ngôi nhà trải qua thời gian dài t ối tăm u ám, ngọn đèn sáng vừa chiếu vào thì lập tức trừ hết bóng tối; như trải qua thời gian dài quen theo ý nghĩ là không có muối, lúc vừa nếm vị muối thì ý nghĩ ấy liền từ bỏ, ở đây cũng như vậy, pháp bất thiện đoạn dứt pháp thiện thì không có sự việc như vậy. Lại nữa, pháp thiện đối với pháp bất thiện có thể điều phục hoàn SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 190 687 www.daitangkinh.org toàn, hoặc là đoạn trừ hoàn toàn; pháp bất thiện đối với pháp thiện thì không như vậy. Bởi vì những duyên này, cho nên tâm nhiễm ô gọi là nhỏ bé, tâm thiện gọi là to lớn. Tâm nhỏ bé thì nhận biết như thật là tâm nhỏ bé, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Giải thích như trước. Tâm to lớn thì nhận biết như thật là tâm to lớn, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Giải thích như trước. Tâm lăng xăng, đó là tâm nhiễm ô, bởi vì tương ưng với trạo cử. Tâm không lăng xăng, đó là tâm thiện, bởi vì tương ưng với Xa- ma-tha. Tâm lăng xăng thì nhận biết như thật là tâm lăng xăng, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Giải thích như trước. Tâm không lăng xăng thì nhận biế t như thật là tâm không lăng xăng, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Giải thích như trước. Tâm không vắng lặng, đó là tâm nhi ễm ô, bởi vì luôn luôn náo động. Tâm vắng lặng, đó là tâm thiện, bởi vì rời xa náo động. Tâm không vắng lặng thì nhận biết như thật là tâm không vắng lặng, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Giải thích như trước. Tâm vắng lặng thì nhận biết như thật là tâm vắng lặng, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Giải thích như trước. Tâm không định, đó là tâm nhiễm ô, bởi vì tương ưng với tán loạn. Tâm định, đó là tâm thiện, bởi vì rời xa tán loạn. Tâm không định thì nhận biết như thật là tâm không định, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Giải thích như trước. Tâm định thì nhận biết như thật là tâm định, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Giải thích như trước. Tâm không tu, đó là tâm đối với tu đạt được-tu luyện tập, cả hai loại đều không tu. Tâm tu, đó là tâm đối với tu đạt được-tu luyện tập, hoặc là tu cả hai loại, hoặc là tu tùy theo một loại. Tâm không tu thì nhận biết như thật là tâm không tu, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Giải thích như trước. Tâm tu thì nhận biết như thật là tâm tu, đây là bốn trí, đó là Pháp- Loại-Thế tục và Đạo trí. Giải thích như trước. Tâm không giải thoát, đó là tâm đối với giải thoát thuộc tự tánh- 688 BỘ TỲ ĐÀM 6 giải thoát nối tiếp nhau, cả hai loại đều không giải thoát. Tâm giải thoát, đó là tâm đối với giải thoát thuộc tự tánh-giải thoát nối tiếp nhau, hoặc là giải thoát cả hai loại, hoặc là giải thoát tùy theo một loại. Tâm không giải thoát thì nhận bi ết như thật là tâm không giải thoát, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Giải thích như trước. Tâm giải thoát thì nhận biết như thật là tâm giải thoát, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Giải thích như trước. Như nói: Có Cái tham dục bên trong…, cho đến nói rộng ra. Trong Thánh giáo này, bên trong(nội) có hai loại: 1. Xứ bên trong thâu nhiếp cho nên gọi là bên trong, như nói: Sáu Xứ bên trong này… 2. Sự nối tiếp nhau của mình thâu nhiếp cho nên gọi là bên trong, như nói: Trú vào thân bên trong thuận theo thân quán sát… Trong này, dựa vào sự nối tiếp nh au bên trong mà soạn luận, không dựa vào Xứ bên trong. Nguyên cớ thế nào? Nếu dựa vào Xứ bên trong mà soạn luận, thì không nên nói là có Cái tham dục bên trong…, bởi vì Cái tham dục… bên trong đều là Pháp xứ bên ngoài thâu nhiếp. Nhưng pháp ấy tuy là Xứ bên ngoài mà bởi vì sự nối tiếp nhau của mình thâu nhiếp, cho nên gọi là bên trong. Như nói: Có Cái tham dục bên tr ong thì nhận biết như thật là có Cái tham dục bên trong, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Trong này, Có đó là Cái tham dục hiện hành có thể đạt được trong sự nối tiếp nhau của mình, hoặc là c hưa lìa sự thành tựu đạt được nó, hoặc là đạo đối trị với nó chưa sinh. Đây là một trí, bởi vì hữu lậu cho nên khởi lên trí Thế tục thì nhận biết như thật. Không có Cái tham dục bên trong thì nhận biết như thật là không có Cái tham dục bên trong, đây là ba trí, đó là Pháp-Thế tục và Đạo trí. Trong này, Không có đó là Cái tham dục không phải là hiện hành có thể đạt được trong sự nối tiếp nhau của mình, hoặc là đã lìa sự thành tựu đạt được nó, hoặc là đạo đối trị với nó đã sinh. Đây là ba trí, đó là bởi vì Cái tham dục chỉ ở cõi Dục, cho nên đối trị gần của nó không phải là Loại trí. Như nói: Cái tham dục bên trong c hưa sinh mà sinh thì nhận biết như thật, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Trong này, chưa sinh mà sinh, đó là do rất nhiều nhân-rất nhiều duyên sinh ra Cái tham dục bên trong. Đây là một trí, giải thích như SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 190 689 www.daitangkinh.org trước. Sinh rồi liền đoạn, đoạn rồi về sau không còn sinh nữa thì nhận biết như thật, đây là ba trí, đó là Pháp-Thế tục và Đạo trí. Trong này, sinh rồi liền đoạn, đó là đạo đối trị với nó đã sinh mà đoạn trừ Cái tham dục. Đoạn rồi về sau không còn sinh nữa, đó là hoặc hoàn toàn không sinh, hoặc là cho đến lúc chưa lui sụt đạo đối trị với nó. Đây là ba trí, giải thích như trước. Như Cái tham dục, nên biết Ca ùi sân nhuế-hôn trầm-thụy miên- trạo cử-ác tác-nghi cũng như vậy, bởi vì những loại ấy đều là hệ thuộc cõi Dục. Như nói: Có kiết của Nhãn bên trong thì nhận biết như thật là có kiết của Nhãn bên trong, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Trong này, cũng dựa vào sự nối tiếp nhau bên trong mà soạn luận, không dựa vào Xứ bên trong, nói rộng ra như trước đã nói. Có cũng gọi là kiết Nhãn hiện ha ønh có thể đạt được trong sự nối tiếp nhau của mình, hoặc là chưa lìa sự thành tựu đạt được nó, hoặc là đạo đối trị với nó chưa sinh. Đây là một trí, giải thích như trước. Không có kiết của Nhãn bên trong thì nhận biết như thật là không có kiết của Nhãn bên trong, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Trong này, Không có cũng gọi là ki ết của Nhãn không phải là hiện hành có thể đạt được trong sự nối tiếp nhau của mình, hoặc là đã lìa sự thành tựu đạt được nó, hoặc la ø đạo đối trị với nó đã sinh. Đây là bốn trí, đó là bởi vì kiết của Nhãn bên trong hệ thuộc cõi Dục-Sắc, cho nên đối trị gần của nó bao gồm phẩm Pháp-Loại trí. Như nói: Kiết của Nhãn bên trong chưa sinh mà sinh thì nhận biết như thật, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Trong này, chưa sinh mà sinh, đó là do rất nhiều nhân-rất nhiều duyên sinh ra Kiết của Nhãn bên trong. Đây là một trí, giải thích như trước. Sinh rồi liền đoạn, đoạn rồi về sau không còn sinh nữa thì nhận biết như thật, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Trong này, sinh rồi liền đoạn, đó là đạo đối trị với nó đã sinh mà đoạn trừ kiết của Nhãn bên trong. Đoạn rồi về sau không còn sinh nữa, đó là hoặc hoàn toàn không sinh, hoặc là cho đến lúc chưa lui sụt đạo đối trị với nó. Đây là bốn trí, giải thích như trước. Như kiết của Nhãn, nên biết kiết của Nhĩ-Thân-Ý cũng như vậy, bởi vì đối trị gần của những loại ấy đều bao gồm phẩm Pháp-Loại trí. 690 BỘ TỲ ĐÀM 6 Dục. Kiết của Tỷ-Thiệt nói như Cái , bởi vì đều chỉ là hệ thuộc cõi Như nói: Có Niệm đẳng giác chi bên trong thì nhận biết như thật là có Niệm đẳng giác chi bên trong, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Trong này, Có đó là Niệm đẳng giác chi hiện hành có thể đạt được trong sự nối tiếp nhau của mình, hoa ëc là đã có sư ï thành tựu đạt được pháp ấy, hoặc là chướng ngại do pháp ấy đối trị đã đoạn. Đây là bốn trí, có người nói: Trong này, Niệm đẳng giác chi chân thật do ba trí nhận biết, đó là Pháp-Loại-Đạo trí; Niệm đẳng giác chi tương tự do một trí nhận biết, đó là Thế tục trí. Có người nói: Trong này, chỉ nói đến Niệm đẳng giác chi chân thật, tức là loại này do bốn trí nha än biết, đó là Thế tục trí nhận biết không rõ ràng, Pháp-Loại-Đạo trí nhận biết rõ ràng. Không có Niệm đẳng giác chi bên trong thì nhận biết như thật là không có Niệm đẳng giác chi bên trong, đây là một trí, đó là Thế tục trí. Trong này, Không có đó là Niệm đẳng giác chi không phải là hiện hành có thể đạt được trong sự nối ti ếp nhau của mình, hoặc là chưa có sự thành tựu đạt được pháp ấy, hoặc là chướng ngại do pháp ấy đối trị chưa đoạn. Đây là một trí, nói như trước. Như nói: Niệm đẳng giác chi chưa sinh mà sinh, sinh rồi trú vững không quên, làm cho đầy đủ trọn vẹn, tăng thêm nhiều trí tác chứng, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí. Trong này, chưa sinh mà sinh, đó là do rất nhiều nhân-rất nhiều duyên sinh ra Niệm đẳng giác chi bên trong. Sinh rồi trú vững không quên… Hỏi: Như sinh bấy nhiêu thì diệt bấy nhiêu, sát-na sau chắc chắn không dừng lại, làm sao có thể nói là sinh rồi trú vững không quên…? Đáp: Trong này nói đến hai loại căn thiện, đó là thuận phần an trú và thuận phần thắng tiến. Sinh rồi trú vững không quên là nói đến căn thiện thuận phần an trú, sinh rồi làm cho đầy đủ trọn vẹn tăng thêm nhiều là nói đến căn thiện thuận phần thắng tiến. Đây là bốn trí, giải thích như trước. Như Niệm đẳng giác chi, nên biết Trạch pháp-Tinh tiến-Hỷ-An- Định-Xả đẳng giác chi, cũng như vậy, bởi vì chủng loại giống nhau. Hỏi: Hỷ đẳng giác chi tức là Thọ, trong Thọ niệm trú trước đây đã quán sát, nay vì sao trở lại quán sát? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 190 691 www.daitangkinh.org Đáp: Trước dùng môn Thọ niệm trú để quán sát, nay dùng môn Pháp niệm trú để quán sát. Lại nữa, trước quán sát một mình, nay quán sát cùng với Giác chi khác. Lại nữa, trước quán sát về tự tướng của pháp ấy, nay quán sát về cọng tướng của pháp ấy. Lại nữa, trước quán sát về hữu lậu-vô lậu, nay quán sát về vô lậu. Có người nói: Trong này cũng quán sát về hữu lậu-vô lậu, bởi vì bao gồm quán sát về Giác chi chân thật và tương tự. Như nói: Đều thuận theo quán sát về tham-sân-si của mình tăng lên, cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn phân biệt nghĩa lý trong kinh. Như trong kinh nói: “Các Tỳ kheo-Tỳ kheo Ni đều thuận theo quán sát lúc tham của mình tăng lên, lúc ấy nên biết là lui sụt các pháp thiện, Đức Phật nói đó là lui sụt. Sân-si cũng như vậy.” Trong kinh tuy nói ra điều này mà không phân biệt rộng ra, thế nào là tham tăng lên cho đến si tăng lên? Kinh ấy là nơi nương tựa căn bản của luận này, điều gì mà kinh không phân biệt thì nay cần phải phân biệt, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Thế nào là tham-sân-si tăng lên? Đáp: Có tham-sân-si phẩm Hạ cho nên có phẩm Trung, có phẩm Trung cho nên có phẩm Thượng, đó gọi là tăng lên. Có người nói: Trong này, dựa vào tham-sân-si tăng lên mà thế gian hiện thấy để soạn luận. Tham tăng lên là như những người đàn ông, ở giai đoạn trẻ thơ khởi lên tham ràng buộc phẩm Hạ, ở giai đoạn trưởng thành khởi lên tham ràng buộc phẩm Trung, ở giai đoa ïn tuổi trẻ khởi lên tham ràng buộc phẩm Thượng; đối với vợ của họ cũng như vậy. Sân tăng lên là như những người đa øn ông lần lượt thay đổi đánh nhau, chưa phát ra lời nói cộc cằn thì khởi lên sân ràng buộc phẩm Hạ, lúc phát ra lời nói cộc cằn thì khởi lên sân ràng buộc phẩm Trung, kết thúc thất bại mưu toan làm ha ïi thì khởi lên sân ràng buộc phẩm Thượng. Si tăng lên là như có người đàn ông sinh trong nhà ngoại đạo, chưa học sách luận của ngoại đạo thì khởi lên si ràng buộc phẩm Hạ, học mà chưa thông hiểu nghĩa lý ấy thì khởi lên si ràng buộc phẩm Trung, nếu đến cuối cùng thông hiểu thì khởi lên si ràng buộc phẩm Thượng. 692 BỘ TỲ ĐÀM 6 Có người nói: Trong này, dựa vào đạo lý quán sát đối đãi mà soạn luận, đó là quán sát tham ràng buộc phẩm Hạ cho nên thi thiết phẩm Trung, quán sát phẩm Trung cho nên thi thiết phẩm Thượng; sân-si cũng như vậy. Có người nói: Trong này, dựa vào lui sụt mà soạn luận, đó là từ tham ràng buộc phẩm Hạ cho nên thành phẩm Trung, từ phẩm Trung lui sụt cho nên thành phẩm Thượng; sân-si cũng như vậy. Như nói: Đều thuận theo quán sát về tham-sân-si của mình giảm xuống, cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn phân biệt về ngh ĩa lý còn lại ngay trong kinh trước đã nói. Như trong kinh ấy nói: “Các Tỳ kheo-Tỳ kheo Ni đều thuận theo quán sát lúc tham của mình giảm xuống, lúc ấy nên biết là không lui sụt các pháp thiện, Đức Ph ật nói đó là không lui sụt. Sân-si cũng như vậy.” Trong kinh tuy nói ra điều này mà không phân biệt rộng ra, thế nào là tham giảm xuống cho đến si giảm xuống? Kinh ấy là nơi nương tựa căn bản của luận này, điều gì mà kinh không phân biệt thì nay cần phải phân biệt, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Thế nào là tham-sân-si giảm xuống? Đáp: Không có tham-sân-si phẩm Thượng cho nên thành phẩm Trung, không có phẩm Trung cho nên thành phẩm Hạ, đó gọi là giảm xuống. Có người nói: Trong này, dựa vào tham-sân-si giảm xuống mà thế gian hiện thấy để soạn luận. Tham giảm xuống là như những người đàn ông, ở giai đoạn tuổi trẻ khởi lên tham ràng buộc phẩm Thượng, ở giai đoạn đứng tuổi khởi lên tham ràng buộc phẩm Trung, ở giai đoạn tuổi già khởi lên tham ràng buộc phẩm Hạ; đối với vợ của họ cũng như vậy. Sân giảm xuống là như những người đàn ông lần lượt thay đổi đánh nhau, kết thúc thất bại mưu to an làm hại lẫn nhau thì khởi lên sân ràng buộc phẩm Thượng, vì phát động đánh nhau mà sai sứ giả qua lại thương tuyết thì khởi lên sân ràng buộc phẩm Trung, lúc chính thức đánh nhau thì khởi lên sân ràng buộc phẩm Hạ. Si giảm xuống là như những người đàn ông sinh trong nhà ngoại đạo, học sách luận của ngoại đạo ấy đã thông hiểu thì khởi lên si ràng buộc phẩm Thượng, nếu lúc nghe lời Đức Phật dạy còn giữ lại trong tâm thì khởi lên si ràng buộc phẩm Trung, nếu lúc đối với lời Đức Phật dạy sinh ra một chút tin tưởng thì khởi lên si ràng buộc phẩm Hạ. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 190 693 www.daitangkinh.org Có người nói: Trong này, dựa vào đạo lý quán sát đối đãi mà soạn luận, đó là quán sát tham ràng buộc phẩm Thượng cho nên thi thiết phẩm Trung, quán sát phẩm Trung cho nên thi thiết phẩm Hạ; sân-si cũng như vậy. Có người nói: Trong này, dựa vào lìa nhiễm mà soạn luận, đó là từ tham ràng buộc phẩm Thượng gi ảm xuống cho nên trở thành phẩm Trung, từ phẩm Trung giảm xuống cho nên trở thành phẩm Hạ; sân-si cũng như vậy. Thế nào là cảm thọ cuối cùng về cái chết(tử biên tế thọ)? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn giải thích về nghĩa trong kinh. Như trong kinh nói: “Này A-nan-đà nên biết! Xưa có vị Chuyển Luân Vương tên gọi Thiện Kiến, có cảm thọ cuối cùng về cái chết thuộc loại như vậy, giống như tráng sĩ ăn nhiều thức ăn ngon, trong chốc lát mê man bất tỉnh.” Lại trong kinh nói: “Nay Ta đã sinh ra cảm thọ cuối cùng về cái chết làm cho tổn hại nhanh chóng.” Trong kinh tuy nói ra điều này mà không phân biệt rộng ra, thế nào là cảm thọ cuối cùng về cái chết? Đến đâu thì nên nói là cảm thọ cuối cùng về cái chết? Kinh ấy là nơi nương tựa căn bản của luận này, điều gì mà kinh không giải thích thì nay cần phải giải thích, cho nên soạn ra phần luận này. Có người nói: Nguyên cớ soạn luận là bởi vì ngăn chặn thế gian đối với lúc không phải là cảm thọ cuối cùng về cái chết, khởi lên ý tưởng cảm thọ cuối cùng về cái chết. Như thế gian nói: Tôi đã nhận lấy cảm thọ cuối cùng về cái chết, nay cảm thọ và đang cảm thọ. Đó là đối với lúc không phải là cảm thọ cuối cùng về cái chết, khởi lên ý tưởng cảm thọ cuối cùng về cái chết. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu nhận lấy cảm thọ này thì không bao lâu sẽ mạng chung, mới gọi là cảm thọ cuối cùng về cái chết. Hỏi: Thế nào là cảm thọ cuối cùng về cái chết? Đáp: Bởi vì Mạt-ma(tử huyệt) này đoạn dứt thì Mạng căn diệt đi. Hỏi: Cảm thọ này vì sao gọi là cuối cùng về cái chết? Đáp: Từ đây dẫn đến phần vị cuối cùng của cái chết, cho nên gọi là cảm thọ cuối cùng về cái chết. Hỏi: Nếu như vậy thì nên nói cảm thọ cuối cùng gọi là cảm thọ cuối cùng về cái chết, không nên nói là bởi vì Mạt-ma này đoạn dứt. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Mạt-ma đoạn dứt rồi có lúc trải qua một 694 BỘ TỲ ĐÀM 6 ngày đêm mới mạng chung. Đáp: Ngay l úc cảm thọ Mạt-ma đoạn dứt cũng gọi là cảm thọ cuối cùng, bởi vì sau khi Mạt-ma đoạn dứt thì không bao lâu nhất định phải mạng chung. Có người nói: Trong một Chúng đồng phần có hai loại cảm thọ: 1. Cảm thọ của thân. 2. Cảm thọ của tâm. Cảm thọ Mạt-ma đoạn dứt là cảm thọ cuối cùng của thân, cảm thọ mạng căn diệt đi là cảm thọ cuối cùng của tâm. Hỏi: Đến đâu thì nên nói là cảm thọ cuối cùng về cái chết? Đáp: Đến lúc Mạt-ma này đoạn dứt, mạng căn diệt đi. Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này? Đáp: Trước đây nói về tự tánh của cảm thọ cuối cùng về cái chết, mà chưa hiển bày về phần vị, nay muốn hiển bày điều ấy cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Cảm thọ cuối cùng về cái chết do Xứ nào thâu nhiếp? Đáp: Pháp xứ. Hỏi: Có mấy Thức tương ưng? Đáp: Thân thức và Ý thức, đó là đầu tiên cảm thọ về Mạt-ma đoạn dứt tương ưng với Thân thức, ca ûm thọ cuối cùng tương ưng với Ý thức. Hỏi: Mấy đại chủng có thể đoạn dứt Mạt-ma? Đáp: Ba, đó là Thủy-Hỏa và Phong. Hỏi: Vì sao đại chủng Địa không có thể đoạn dứt Mạt-ma? Đáp: Bởi vì không phải là ruộng đất, không phải là đồ chứa… Có người nói: Đại chủng mạnh mẽ nhanh nhạy có thể đoạn dứt Mạt-ma, đại chủng Địa thì không mạnh mẽ nhanh nhạy. Có người nói: Nếu các đại chủng có thể hủy hoại phần bên ngoài, có thể gây ra tai họa bên ngoài, th ì đại chủng ấy cũng có thể hủy hoại phần bên trong, có thể đoạn dứt Mạt-ma; bởi vì đại chủng Địa không có thể hủy hoại phần bên ngoài, không có thể gây ra tai họa bên ngoài, cho nên cũng không có thể hủy hoại phần bên trong, không có thể đoạn dứt Mạt-ma. Trong này, đại chủng Thủy đoạn dứt Mạt-ma, đó là lúc sắp chết, Thủy giới tăng mạnh ở trong thân bên trong, bởi vì sự ngâm ướt này khiến cho tất cả gân cơ rữa nát, bởi vì các gân cơ rữa nát cho nên các bộ phận rời ra, bởi vì các bộ phận rời ra cho nên không bao lâu sẽ mạng chung. Đại chủng Hỏa đoạn d ứt Mạt-ma, đó là lúc sắp chết, Hỏa giới SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 190 695 www.daitangkinh.org tăng mạnh ở trong thân bên trong, bởi vì sự nung đốt bức bách này khiến cho tất cả gân cơ cháy khô, bởi vì các gân cơ cháy khô cho nên các bộ phận rời ra, bởi vì các bộ ph ận rời ra cho nên không bao lâu sẽ mạng chung. Đại chủng Phong đoạn dứt Mạt-ma, đó là lúc sắp chết, Phong giới tăng mạnh ở trong thân bên trong, bởi vì sự lay động va chạm này khiến cho tất cả gân cơ vỡ nát, bởi vì các gân cơ vỡ nát cho nên các bộ phận rời ra, bởi vì các bộ phận rời ra cho nên không bao lâu sẽ mạng chung. Cũng có người muốn làm cho đại chủng Địa có thể đoạn dứt Mạt- ma, người ấy đưa ra cách nói này: Lúc sắp mạng chung, Địa giới trong thân tăng mạng, có thể làm cho tất cả huyệt đạo bế tắc, bởi vì các huyệt đạo bế tắc cho nên các bộ phận rời ra, bởi vì các bộ phận rời ra cho nên không bao lâu thì mạng chung. Hỏi: Nơi nào có đoạn dứt Mạt-ma? Đáp: Ở cõi Dục chứ không phải la ø cõi Sắc-Vô sắc. Ở trong cõi Dục thì địa ngục không có đoạn dứt Mạt-ma, bởi vì luôn luôn đoạn dứt; bàng sinh-ngạ quỷ có đoạn dứt Mạt-ma. Trong loài người thì ba châu chứ không phải là châu Bắc Câu-l ô. Chư Thiên cõi Dục cũng không có đoạn dứt Mạt-ma, bởi vì ở nơi ấy không phải là quả của nghiệp não loạn. Hỏi: Những Bổ-đặc-già-la nào có đoạn dứt Mạt-ma? Đáp: Dị sinh-Thánh giả đều có. Ở trong Thánh giả thì Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, Độc giác đều có, chỉ ngoại trừ Đức Thế Tôn, bởi vì không có nghiệp não lo ạn. Chư Phật Thế Tôn không có đoạn dứt Mạt-ma, thanh âm không hư hoại, không có từ từ mạng chung, bởi vì các căn của Phật Thế Tôn nhanh chóng diệt đi. Hoặc là A-la-hán có đoạn dứt Mạt-ma, chứ không phải là hạng người giết mổ trâu dê, bởi vì đoạn dứt Mạt-ma là quả của nghiệp não loạn. Nếu có nghiệp não loạn thì tuy là A-la-hán mà đoạn dứt Mạt-ma, nếu không có nghiệp não loạn thì tuy là hạng người giết mổ trâu dê mà cũng không có sự việc đoạn dứt Mạt-ma. Hỏi: Phần giữa Mạt-ma phân bố như thế nào? Đáp: Phần giữa Mạt-ma của nhữn g loài thú có nhiều sức mạnh như voi-ngựa-trâu…, các đốt xương chống vào nhau mà lại kiên cố; Đại Nặc-kiện-na thì các đốt xương nối liền nhau, giống như những tấm ván ghép lại; Bát-la-tắc-kiến-đề thì các đốt xương móc vào nhau, như những móc sắt móc lấy nhau; thân Na-la-diên thì các đốt xương nối liền nhau thành vòng tròn, giống như xích sắt. Thân Phật thì các đốt xương lần 696 BỘ TỲ ĐÀM 6 lượt xoay tròn chồng lên nhau mà kết lại, giống như rồng cuộn tròn. Các hữu tình khác thì đốt xương tách rời nhau mà không kiên cố, vì thế cho nên sức lực của những loại ấy là yếu nhất.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt