VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 188Quyển 190 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 189

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

若入正性離生苦集現觀各四心頃。道現觀
三心頃。法念住現在修未來修四一行相。現
在修未來修四同分修非不同分。滅現觀四
心頃。法念住現在修即此未來修。非初無漏
蘊滅觀即能修緣蘊道故一行相現在修未
來修四同分修非不同分。以初得無漏種性
力未廣故。道類智法念住現在修未來修四
同分不同分修一行相現在修未來修十六已
得無漏種性勢增廣故。從此以上一切聖者
起未曾得善根現在前時。未來皆修四念住
十六行相。唯除聞思所成慧。及入滅定微
微心時。餘一切異生又無聖行相。是故從此
以後但說修念住多少不說行相。
若諸異生離欲界染加行道時。四念住隨一
現在修未來修四。九無間道九解脫道時法
念住現在修未來修四。如離欲界染乃至
離第三靜慮染亦爾。離第四靜慮染。若則
以第四靜慮為加行。彼加行道時四念住隨
一現在修未來修四。若以空無邊處近分為

加行諸有欲令彼近分地有別緣者彼加
行道時。四念住隨一現在修未來修四。九無
間道八解脫道時。法念住現在修未來修四。
第九解脫道時法念住現在修未來修三除
身念住。諸有欲令彼近分地唯總緣者。彼
加行道九無間道八解脫道時。法念住現在修
則此未來修。第九解脫道時法念住現在修
未來修三除身念住。如離第四靜慮染乃
至離無所有染亦爾。差別者除身念住。則
諸異生起不淨觀持息念。身念住初三解脫
八勝處前八遍處。及引發神境天眼天耳通
時。身念住現在修未來修四。起後三念住隨
一現在修未來修四。起四無量引發宿住隨
念通。時法念住現在修未來修四。引發他心
通時心念住或受心法念住隨一現在修未
來修四。若起無色解脫及後三念住時。後三
念住隨一現在修未來修三除身念住。若起
空無邊處識無邊處遍處時。法念住現在修
未來修三除身念住。是謂異生位所修差別。
若諸聖者離欲界乃至非想非非想處染一
切加行道時。四念住隨一現在修未來修四。
一切無間解脫道時。法念住現在修未來修
四。信勝解練根作見至。時解脫練根作不
動。一切加行道時四念住隨一現在修未來
修四。一切無間道解脫道時法念住現在修
未來修四。若諸聖者起不淨觀持息念身念
住初三解脫八勝處前八遍處。及引發神境
天眼天耳通。及起詞無礙解時身念住現在
修未來修四。若雜修靜慮及諸有欲令一切

法皆是勝義者。起義無礙解辯無礙解願智
邊際定無色解脫。入滅定想微細心時。四念
住隨一現在修未來修四。若起四無量宿住
隨念通。及諸有欲令唯涅槃是勝義者。起
義無礙解法無礙解無諍後二遍處空空無願
無願無相無相時。法念住現在修未來修四。
若引發他心通時。心念住或受心法念住及
起後三念住時隨一現在修未來修四。是
謂此處略毘婆沙。
若修身念住彼受耶。設修受念住彼身耶。
答應作四句。有修身念住非受。謂已得
身念住現在前。以曾得法現在前時。無力
能及未來故不修受念住。然現前是習修
故說修身念住。問亦有未得身念住現在
前不修受。如未曾得聞思所成身念住現
在前時。此中何故不說。答應說而不說者
當知此義有餘。有說。此中依修所成念住
而作論。無有未得修所成身念住現在前
時不修受念住者是故不說。有修受念
住非身。謂已得受念住現在前。若未得受
念住現在前不修身。若未得心法念住現
在前修受非身。已得受念住現在前者如
前釋。未得受念住現在前不修身者。謂諸
異生離空無邊處乃至無所有處染。若以受
念住為加行。彼加行道時若諸異生起受念
住無色解脫時。於如是時未得受念住現
在前修受非身。未得心念住現在前修受
非身者。謂諸異生離空無邊處乃至無所有
處染。若以心念住為加行。彼加行道時若

諸異生起心念住無色解脫時。於如是時
未得心念住現在前修受非身。未得法念
住現在前修受非身者。謂諸異生離第四
靜慮染最後解脫道時。離空無邊處乃至無
所有處染。若依下根本地起法念住為加
行。彼加行道時若依上近分地為加行。諸
有欲令無色近分有別緣者。若以法念住
為加行。彼加行道九無間道九解脫道時。諸
有欲令無色近分唯總緣者唯第九解脫道
時。若諸異生起法念住無色解脫。及起後
二遍處時。於如是時未得法念住現在前
修受非身。有俱修謂未得身念住現在前。
若未得受念住現在前修身。若未得心法
念住現在前修身受。未得身念住現在前
者。謂增長煗頂位身念住現在前。若離欲界
乃至非想非非想處染。身念住為加行彼加
行道時。若信勝解練根作見至。時解脫練根
作不動。身念住為加行彼加行道時。若起
不淨觀持息念身念住。初三解脫八勝處前八
遍處引發神境天眼天耳通。起詞無礙解時。
若以身念住雜修靜慮時。諸有欲令一切
法是勝義者。彼起身念住義無礙解及身念
住辯無礙解願智邊際定無色解脫入滅定想
微細心時。於如是時未得身念住現在前
修身受。未得受念住現在前修身者。謂增
長煗頂位受念住現在前時。若離欲界乃至
非想非非想處染。受念住為加行彼加行道
時。若信勝解練根作見至。時解脫練根作不
動。受念住為加行。彼加行道時若引發他心

通受念住現在前時。若以受念住雜修靜
慮時。諸有欲令一切法是勝義者。彼起受
念住義無礙解及受念住辯無礙解。願智邊
際定無色解脫入滅定想微細心時。於如是
時未得受念住現在前修身受未得心念
住現在前修身受者。謂增長煗頂位心念住
現在前時。若離欲界乃至非想非非想處染
心念住為加行。彼加行道時若信勝解練根
作見至。時解脫練根作不動。心念住為加
行彼加行道時。若引發他心通心念住現在
前時。若以心念住雜修靜慮時。諸有欲令
一切法是勝義者。起心念住義無礙解。及心
念住辯無礙解願智邊際定無色解脫入滅定
想微細心時。於如是時未曾得心念住現在
前修身受。未得法念住現在前修身受者。
謂初煗位緣三諦增長煗緣四諦法念住現在
前時。若初及增長頂緣四諦法念住現在前
時。若一切忍及世第一法時。若入正性離生
苦集道現觀各四心頃。若離欲界乃至非想
非非想處染法念住為加行。彼一切加行無
間解脫道時。若信勝解練根作見至。時解脫
練根作不動。法念住為加行。彼一切加行無
間解脫道時。若引發他心通法念住現在前
及引發宿住隨念通起四無量時。若以法
念住雜修靜慮時。諸有欲令一切法是勝
義者。彼起法念住義無礙解時。諸有欲令
唯涅槃是勝義者。彼起義無礙解法無礙解
無諍。後二遍處空空無願無願無相無相時。
若起法念住辯無礙解願智邊際定無色解

脫入滅定想微細心時。於如是時未得法
念住現在前修身受。有俱不修。謂已得心
法念住現在前。若未得法念住現在前。不
修身受一切染污心。無記心在無想定滅盡
定生無想天。已得心法念住現在前者如
前釋。未得法念住現在前不修身受者。謂
初煗位緣滅諦若入正性離生滅現觀四心
頃。若諸異生離第四靜慮乃至無所有處染。
諸有欲令無色近分唯總緣者。若上地近分
為加行彼一切加行道九無間道八解脫道
時。於如是時未得法念住現在前。不修
身受。一切染污心者。謂染污心皆順退分性
沈重懈怠相應。要順勝進性輕舉精進相應。
心方能修故。無記心者。謂無記心其性羸劣
腐敗萎歇要住強勢堅勝之心方能修故。在
無想定滅盡定者。謂彼無心要有心者方能
修故。生無想者。有說。生彼於一切時善
心不起。有說。雖起而非修所依以不能
修未來法故。於如是時不修身受。問
亦有未得心念住現在前不修身受。如未
曾得聞思所成心念住現在前時。此中何故
不說。答應說而不說者當知此義有餘。
有說。此中說未曾得念住現在前時。能
修未來而不修身受者。無未曾得心念住
現在前時。能修未來而不修身受者是故
不說。問若爾亦應說一切散善心何故但
說染污心無記心耶。答應說而不說者當
知此義有餘。有說。彼不決定難用稱說。謂
若以修言之則彼無力能修未來。若以不

修言之則現前時是習修攝。是故於此修不
修中皆不說。彼如身念住受念住。應知身
念住心念住亦爾。以未來受念住心念住修
不修必俱故。
若修身念住彼法耶。設修法念住彼身耶。
答應作四句。有修身念住非法。謂已得
身念住現在前此如前釋。有修法念住非
身。謂已得法念住現在前。若未得法念住
現在前不修身。若未得受心念住現在前
修法非身。已得法念住現在前者如前釋。
未得法念住現在前不修身者。謂初煖位
緣滅諦。若入正性離生滅現觀四心頃。若
諸異生離第四靜慮染。諸有欲令空無邊處
近分唯總緣者。若以彼為加行彼加行道
九無間道九解脫道時。若諸異生離空無邊
處乃至無所有處染。以法念住為加行彼
一切加行無間解脫道時。若諸異生起法念
住無色解脫。及起後二遍處時。於如是時。
未得法念住現在前不修身。未得受念住
現在前修法非身者。如前未得受念住現
在前不修身說。未得心念住現在前修法
非身者即如受說有俱修。謂未得身念住
現在前。若未得法念住現在前修身。若未
得受心念住現在前修身法。未得身念住
現在前者如前未得身念住現在前說。未
得法念住現在前修身者如前未得法念
住現在前修身受說。未得受心念住現在前
修身法者。謂增長煗頂位受心念住現在
前時。若離欲界乃至非想非非想處染。受心

念住為加行彼加行道時。若信勝解練根作
見至。時解脫練根作不動。受心念住為加
行彼加行道時若引發他心通受心念住現
在前時。若以受心念住雜修靜慮時。諸有
欲令一切法是勝義者。彼起受心念住義
無礙解。及受心念住辯無礙解願智邊際定
無色解脫入滅定想微細心時。於如是時
未得受心念住現在前修身法。有俱不修。
謂已得受心念住現在前一切染污心無記
心在無想定滅盡定生無想天皆如前釋。
若修受念住彼心耶。設修心念住彼受耶。
答應作四句。有修受念住非心。謂已得
受念住現在前。有修心念住非受。謂已得
心念住現在前皆如前釋。有俱修謂未得
身受心念住現在前。若未得法念住現在前
修受心。未得身念住現在前者如前諸未
得身念住現在前說。未得受心念住現在前
者如前諸未得受心念住現在前說。未得法
念住現在前修受心者如前諸未得法念住
現在前修餘念住說。有俱不修謂已得身法
念住現在前。若未得法念住現在前不修
受心。一切染污心無記心在無想定滅盡定
生無想天。未得法念住現在前不修受心
者。如前諸未得法念住現在前不修餘念住
說餘如前釋。
若修受念住彼法耶。設修法念住彼受耶。
答應作四句。有修受念住非法。謂已得
受念住現在前此如前釋。有修法念住非
受。謂已得法念住現在前。若未得法念住

現在前不修受。已得法念住現在前者如
前釋。未得法念住現在前不修受者。如前
諸未得法念住現在前不修餘念住說。有俱
修謂未得身受心念住現在前。若未得法
念住現在前修受。未得身念住現在前者。
如前諸未得身念住現在前說。未得受心念
住現在前者如前諸未得受心念住現在前
說。未得法念住現在前修受者。如前諸未
得法念住現在前。修餘念住說。有俱不修謂
已得身心念住現在前。一切染污心無記心
在無想定滅盡定生無想天。皆如前釋。如
受念住法念住應知。心念住法念住亦爾。
以未來受念住心念住修不修必俱故。
於身循身觀念住當言法智。乃至廣說。問
此文應先修而說。所以者何。以有自性乃
可修故而不先說者有何意耶。答阿毘達
磨應以相求不以次第。以阿毘達磨正欲
分別諸法性相但不違其義。若先若後說
皆無失。有餘師說。欲顯此中唯分別修所
成念住非聞思所成等故。先說修後明自
性。於身循身觀念住。當言法智。謂知欲界
繫及一分無漏色當言類智。謂知色界繫
及一分無漏色。不說他心智者他心智知心
心所。法身念住唯知色法故。當言世俗智。
謂知一切色。當言苦智。謂知有漏色作非
常苦空非我行相。當言集智。謂知有漏色
作因集生緣行相。不說滅智者。滅智唯知
無為法。身念住知有為法故。當言道智。謂
知無漏色作道如行出行相。此中不說盡無

生智者。以此是見蘊但說諸見性智。彼智非
見性是故不說。顯自性已。當顯地。當言有
尋有伺。謂依未至初靜慮。當言無尋唯伺。
謂依靜慮中間。當言無尋無伺。謂依上三
靜慮及四無色。顯地已當顯相應。當言樂
根相應。謂依第三靜慮。當言喜根相應。謂
依初及第二靜慮。當言捨根相應。謂依未
至靜慮中間第四靜慮及四無色。顯相應已
當顯行相。當言空三摩地俱。謂二行相。當
言無願三摩地俱。謂十行相。不說無相三
摩地俱者如不說滅智說。顯行相已。當顯
所緣。當言緣欲色界繫。謂緣苦集。當言緣
不繫謂緣道。於受循受觀念住。當言法智。
謂知欲界繫及一分無漏受。當言類智。謂
知色無色界繫及一分無漏受。當言他心
智。謂知欲色界繫及一分無漏他相續現在
前受。當言世俗智。謂知一切受。當言苦
智。謂知有漏受作非常等四行相。當言集
智謂知有漏受作因等四行相。不說滅智
者。以受念住唯知有為法故。當言道智。謂
知無漏受作道等四行相。不說餘智者。如
前釋。顯自性已。地相應行相皆如前說。當
顯所緣。當言緣三界繫。謂緣苦集。當言緣
不繫。謂緣道。如於受於心亦爾。此二所緣
常相應故。於法修法觀念住。當言法智。謂
知欲界繫諸行及彼因彼滅彼一切法智品。
當言類智。謂知色無色界繫諸行及彼因彼
滅彼一切類智品。當言他心智。謂知欲色
界繫及一分無漏他相續現在前。除受及心

餘心所法。當言世俗智。謂知一切法。當言
苦智。謂知五取蘊作無常等四行相。當言
集智。謂知有漏因作因等四行相。當言滅
智。謂知擇滅作滅等四行相。當言道智。謂
知無漏五蘊作道等四行相。不說餘智
者亦如前釋。顯自性已。地相應如前說。當
顯行相。當言空無願三摩地俱亦如前釋。
當言無相三摩地俱。謂四行相。顯行相已。
當顯所緣。當言緣三界繫。謂緣苦集。當
言緣不繫。謂緣滅道。
如說受樂受時。如實知我受樂受。此四智。
乃至廣說。問何故此中再度分別受心法念
住。一度分別身念住耶。答彼作論者意欲
爾故。乃至廣說。有說。此中世尊亦應作是
說。彼行住等時如實知我行住等此四智。乃
至廣說。而不說者有何意耶。答若法微細
難見難覺不明了。不現見者則重分別身
念住麁顯。乃至現見故不重說。有說。若依
彼起種種不相似異相文句。及異相智者則
重分別身念住。若分別時文句不異智亦
不異故不重說。問受樂受時則不如實知。
如實知時則不受樂受。所以者何。受樂受
時彼受在現在非爾時能如實知。不知相應
故無二心品俱行故。如實知時彼受在過去
未來。非爾時名受樂受無作用故。苦受不
苦不樂受說亦爾。佛何故說受樂受時如實
知我受樂受等耶。有說。此中應作是說。
受樂受已如實知我已受樂受受苦受不
苦不樂受已如實知我已受苦受不苦不樂

受。而不作是說者有何意耶。應知此中
說已受名受於過去說現在聲。如說大王
從何方來。此說已來名來。又如說菩薩
入正性離生時得現觀邊世俗智。此說已入
名入彼亦如是。尊者世友說曰。諸受在過
去未來時則不可受。在現在時唯自性轉
亦不可受。云何說受樂受苦耶。當知彼觀
樂苦眾具相續而說。謂觀樂具相續言我
受樂。觀苦具相續言我受苦。復次彼觀樂
苦因緣相續而說。謂觀攝受因緣相續言
我受樂。觀損害因緣相續言我受苦。復次
彼於諸受相續轉時中間數起彼境意識。便
謂此於所依為益為損故言我今受樂受
苦。大德說曰。彼於樂苦受所依大種相續轉
中謂之為受故言我今受樂受苦。
如說受樂受時如實知我受樂受。此四智
謂法類世俗道。問何故此中不說他心智。答
他心智知他相續心心所法。此中如實智知
自相續心心所法是故不說。復次他心智知
現在心心所法。此中如實智知過去心心所
法。復次他心智但知心心所法。此中如實智
亦知心心所法所依所緣。復次他心智一一
法緣。此中如實智亦多法總緣以是故不說
他心智。問此中復何故不說苦集智耶。有
說。此中亦應說苦集智而不說者當知此
義有餘。有說。苦集智是厭行相智。此中如
實智是欣行相智是故不說。有說。苦集智
緣所厭事。此中如實智緣所欣事。有說。苦
集智憎惡所緣而轉。此中如實智愛樂所

緣而轉。有說。此中說如實知有漏無漏心
心所法。然有漏心心所法無始數知。又麁近
易了起世俗智則能了知不待起無漏智。
是故無有捨世俗智而以苦集智知者。無
漏心心所法昔來未知。又微細難了起無漏
智乃能知之。是故此中如實知有漏心心所
法。唯世俗智如實知無漏心心所法。謂餘三
智由此不說有苦集智。有說。此中說如實
知有漏無漏心心所法事差別相。彼有漏者。
起世俗智則知更不起苦集智以難起故。
及起時但知總相故。彼無漏者起世俗智
不能知故便起道智。然道智生雖不如前
唯差別知。然以總相知差別事故有道智
無苦集智。有說。此中說。如實知有漏無漏
心心所法行相差別。然有漏心心所法多非
緣諦行相。設所有者亦未善成就故。但以
世俗智作非諦行相。如實知其行相差別。
無漏心心所法皆是緣諦行相極善成就故。
還以道智作諦行相如實知其行相差別。
是故此中無苦集智不說盡無生智者。此
是見蘊但說諸見性智。彼非見性智是故不
說。此中法智者。謂知法智品樂受。類智者。
謂知類智品樂受。世俗智者。謂知有漏樂
受。道智者。謂知無漏樂受。雖無一樂受四
智所知。謂有漏者一智知。無漏者三智知。然
以總說故言四智如實知樂受。有說。無漏
樂受四智所知。受苦受時如實知受苦受
此一智謂世俗。以苦受唯有漏故世俗智知。
受不苦不樂受時如實知受不苦不樂受。

此四智謂法類世俗道。如知樂受說。

Việt dịch

SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 189 663  
www.daitangkinh.org  


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

QUYỄN 189

LUẬN VỀ NIỆM TRÚ (Phần 3)

Nếu tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ-Tập đều
trong bốn tâm, Hiện quán về Đạo trong ba tâm, thì Pháp niệm trú là
tu hiện tại, vị lai tu bốn loại, một hành tướng tu ở hiện tại, vị lai tu bốn
hành tướng, tu đồng phần chứ không phải là không đồng phần; Hiện
quán về Diệt trong bốn tâm, Pháp niệm trú là tu hiện tại, ngay loại này
tu ở vị lai, không phải là ban đầu quán về uẩn vô lậu diệt đi mà có thể
tu về đạo duyên với uẩn, cho nên một hành tướng là tu hiện tại, vị lai tu
bốn hành tướng, tu đồng phần chứ không phải là không đồng phần, bởi
vì ban đầu đạt được chủng tánh vô lậu, cho nên thế lực chưa mở rộng.
Đạo loại trí thì Pháp niệm trú là tu  hiện tại, vị lai tu bốn loại, tu
đồng phần và không đồng phần, một hành tướng tu ở hiện tại, vị lai tu
mười sáu hành tướng, bởi vì đã đa ït được chủng tánh vô lậu, cho nên
thế lực mở rộng hơn. Từ đây trở lên tất  cả Thánh giả lúc khởi lên căn
thiện chưa từng đạt được hiện rõ ở trước mắt, thì vị lai đều tu mười sáu
hành tướng của bốn Niệm trú, chỉ trừ ra Tuệ do Văn-Tư mà thành, và
lúc tâm Vi vi tiến vào Định Diệt tận, còn lại tất cả dị sinh cũng không
có hành tướng Thánh. Vì thế cho nên từ đây về sau chỉ nói đến tu Niệm
trú nhiều ít chứ không nói đén hành tướng.
Nếu các dị sinh lúc lìa nhiễm của cõi Dục là đạo gia hạnh, thì bốn
Niệm trú tùy theo một loại là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại; lúc chín đạo
vô gián-chín đạo giải thoát, thì Pháp niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn
loại.
Như lìa nhiễm của cõi Dục, cho đến lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba
cũng như vậy.
Lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, nếu vẫn dùng Tĩnh lự thứ tư làm gia
hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh, bốn Niệm trú tùy theo một loại là   tu
664 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
hiện tại, vị lai tu bốn loại.
Nếu dùng Cận phần của Không vô biên xứ làm gia hạnh:
Có những người muốn làm cho địa Cận phần ấy có duyên riêng
biệt, thì lúc ấy là đạo gia hạnh, bốn Niệm trú tùy theo một loại là tu hiện
tại, vị lai tu bốn loại; lúc chín đạo vô gián-tám đạo giải thoát, thì Pháp
niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại; lúc đạo giải thoát thứ chín, thì
Pháp niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu ba loại, trừ ra Thân niệm trú.
Có những người muốn làm cho địa Cận phần ấy chỉ là duyên tổng
quát, thì lúc ấy là đạo gia hạnh-ch ín đạo vô gián-tám đạo giải thoát,
Pháp niệm trú là tu hiện tại, ngay loại này tu ở vị lai; lúc đạo giải thoát
thứ chín, thì Pháp niệm trú là tu hiện ta ïi, vị lai tu ba loại, trừ ra Thân
niệm trú.
Như lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, cho đến lìa nhiễm của Vô sở hữu
xứ cũng như vậy. Sai biệt là trừ ra Thân niệm trú.
Ngay các dị sinh khởi lên quán Bất tịnh-Trì tức niệm-Thân niệm
trú, ba Giải thoát đầu-tám Thắng xứ-tám Biến xứ trước, và lúc dẫn dắt
phát khởi Thần cảnh-Thiên nhãn-Thiên nhĩ thông, Thân niệm trú là tu
hiện tại, vị lai tu bốn loại; khởi lên ba Niệm trú sau, tùy theo một loại là
tu hiện tại, vị lai tu bốn loại. L úc khởi lên bốn Vô lượng, dẫn dắt phát
khởi Túc trú tùy niệm thông, thì Pháp ni ệm trú là tu hiện tại, vị lai tu
bốn loại. Lúc dẫn dắt phát khởi Tha tâm thông, thì Tâm niệm trú hoặc
là Thọ-Tâm-Pháp niệm trú tùy theo một loại là tu hiện tại, vị lai tu bốn
loại.
Nếu lúc khởi lên Vô sắc-Giải th oát và ba Niệm trú sau, thì ba
Niệm trú sau tùy theo một loại là tu hiện tại, vị lai tu ba loại, trừ ra Thân
niệm trú.
Nếu lúc khởi lên Biến xứ của Không vô biên xứ-Thức vô biên xứ,
thì Pháp niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu ba loại, trừ ra Thân niệm trú.
Đó gọi là sự tu tập sai biệt ở phần vị dị sinh.
Nếu các Thánh giả lúc lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì tất cả là đạo gia hạnh, bốn Niệm trú tùy
theo một loại là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại; lúc tất cả là đạo vô gián-
giải thoát, thì Pháp niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại.
Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, Thời giải thoát luyện căn
làm Bất động, lúc tất cả là đạo gia hạnh, bốn Niệm trú tùy theo một loại
là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại; lúc tất cả là đạo vô gián-giải thoát, thì
Pháp niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại.
Nếu các Thánh giả khởi lên qua ùn Bất tịnh-Trì tức niệm-Thân
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 189 665  
www.daitangkinh.org  
niệm trú, ba Giải thoát đầu-tám Thắng xứ-tám Biến xứ trước, và lúc
dẫn dắt phát khởi Thần cảnh-Thiên nhãn-Thiên nhĩ thông, và lúc khởi
lên Từ vô ngại giải, thì Thân niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại.
Nếu tu xen lẫn Tĩnh lự, và c ó nhũng người muốn làm cho tất cả
pháp đều là Thắng nghĩa, lúc khởi lên Nghĩa vô ngại giải-Biện vô ngại
giải, Nguyện trí-Định Biên tế, Vô sắc -Giải thoát, tiến vào Định Diệt
tận, Tưởng-Tâm vi tế, thì bốn Niệm trú tùy theo một loại là tu hiện tại,
vị lai tu bốn loại.
Nếu khởi lên bốn Vô lượng-Túc trú tùy niệm thông, và có những
người muốn làm cho chỉ riêng Niết-bàn là Thắng nghĩa, lúc khởi lên
Nghĩa vô ngại giải-Pháp vô ngại giải, Vô tranh-hai Biến xứ sau, Không
Không, Vô nguyện Vô nguyện, Vô tướng V ô tướng, thì Pháp niệm trú
là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại.
Nếu lúc dẫn dắt phát khởi Tha tâm thông, thì Tâm niệm trú hoặc
là Thọ-Tâm-Pháp niệm trú, và lúc khởi lên ba Niệm trú sau, tùy theo
một loại là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại.
Đây gọi là Tỳ-bà-sa tóm lược ở nơi này.
Hỏi: Nếu tu Thân niệm trú thì lúc  ấy tu Thọ niệm trú chăng, giả
sử tu Thọ niệm trú thì lúc ấy tu Thân niệm trú chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc tu Thân niệm trú mà không phải là Thọ niệm trú, đó là
đã đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt, bởi vì lúc pháp đã từng
đạt được hiện rõ ở trước mắt, không có năng lực và thuộc vị lai, cho nên
không tu Thọ niệm trú. Nhưng hiện rõ trước mắt là tu luyện tập, cho nên
nói là tu Thân niệm trú.
Hỏi: Cũng có lúc chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt
mà không tu Thọ niệm trú, như lúc chưa từng đạt được Thân niệm trú do
Văn-Tư mà thành hiện rõ ở trước mắt, vì sao trong này không nói đến?
Đáp: Cần phải nói mà không nói đến, thì nên biết là nghĩa này
có khác.
Có người nói: Trong này dựa vào Ni ệm trú do Tu mà thành để
soạn luận, không có lúc nào chưa đạt được Thân niệm trú do Tu mà
thành hiện rõ ở trước mắt nhưng không tu Thọ niệm trú, vì thế cho nên
không nói đến.
2. Có lúc tu Thọ niệm trú mà không phải là Thân niệm trú, đó là
đã đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở  trước mắt, nếu chưa đạt được Thọ
niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì kh ông tu Thân niệm trú, nếu chưa đạt
được Tâm-Pháp niệm trú hiện rõ ở tr ước mắt thì tu Thọ niệm trú chứ
666 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
không phải là Thân niệm trú.
Đã đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở trước mắt, giải thích như
trước.
Chưa đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì không tu Thân
niệm trú, đó là các dị sinh lìa nhie ãm của Không vô biên xứ nhiễm của
Vô sở hữu xứ, nếu dùng Thọ niệm trú làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo
gia hạnh.
Nếu các dị sinh lúc khởi lên Thọ niệm trú, Vô sắc-Giải thoát.
Những lúc như vậy, chưa đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì không tu Thân niệm trú.
Chưa đạt được Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thọ niệm
trú chứ không phải là Thân niệm trú, đó là các dị sinh lìa nhiễm của
Không vô biên xứ cho đến nhiễm của  Vô sở hữu xứ, nếu dùng Tâm
niệm trú làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Nếu các dị sinh lúc khởi lên Tâm niệm trú, Vô sắc-Giải thoát.
Những lúc như vậy, chưa đạt được  Tâm niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thọ niệm trú chứ không phải là Thân niệm trú.
Chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thọ niệm
trú chứ không phải là Thân niệm trú, đó là các dị sinh lìa nhiễm của
Tĩnh lự thứ tư, lúc ấy là đạo giải thoát cuối cùng. Lìa nhiễm của Không
vô biên xứ cho đến nhiễm của Vô sở hữu xứ, nếu dựa vào địa Căn bản
dưới, khởi lên Pháp niệm trú làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Nếu dựa vào địa Cận phần trên làm gia hạnh: Có những người
muốn làm cho Cận phần của Vô sắc có duyên riêng biệt, nếu dùng
Pháp niệm trú làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh-chín đạo vô
gián-chín đạo giải thoát. Có những người muốn làm cho Cận phần của
Vô sắc chỉ là duyên tổng quát, thì lúc ấy chỉ là đạo giải thoát thứ chín.
Nếu các dị sinh lúc khởi lên Pháp niệm trú, Vô sắc-Giải thoát, và
lúc khởi lên hai Biến xứ sau.
Những lúc như vậy, chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thọ niệm trú chứ không phải là Thân niệm trú.
3. Có lúc tu cả hai loại, đó là chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ
ở trước mắt, nếu chưa đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu
Thân niệm trú, nếu chưa đạt được Ta âm-Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thân-Thọ niệm trú.
Chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt, đó là phần vị
Noãn-Đảnh tăng trưởng, Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt, nếu lìa
nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Thân
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 189 667  
www.daitangkinh.org  
niệm trú làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Nếu Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, Thời giải thoát luyện
căn làm Bất động, Thân niệm trú làm gi a hạnh, thì lúc ấy là đạo gia
hạnh.
Nếu lúc khởi lên quán Bất tịnh-Trì tức niệm-Thân niệm trú, ba
Giải thoát đầu-tám Thắng xứ-tám  Biến xứ trước, dẫn dắt phát khởi
Thần cảnh-Thiên nhãn-Thiên nhĩ thông, khởi lên Từ vô ngại giải.
Nếu lúc dùng Thân niệm trú tu xen lẫn Tĩnh lự: Có những người
muốn làm cho tất cả pháp là Thắng nghĩa, thì lúc ấy khởi lên Thân niệm
trú-Nghĩa vô ngại giải, và Thân niệm trú-Biện vô ngại giải, Nguyện trí-
Định Biên tế, Vô sắc-Giải thoát, tiến vào Định Diệt tận,  Tưởng-Tâm
vi tế.
Những lúc như vậy, chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thân-Thọ niệm trú.
Chưa đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thân niệm
trú, đó là phần vị Noãn-Đảnh tăng trưởng, lúc Thọ niệm trú hiện rõ ở
trước mắt, nếu lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, Thọ niệm trú làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Nếu Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, Thời giải thoát luyện
căn làm Bất động, Thọ niệm trú làm gi a hạnh, thì lúc ấy là đạo gia
hạnh.
Nếu lúc dẫn dắt phát khởi Tha tâm thông, Thọ niệm trú hiện rõ ở
trước mắt.
Nếu lúc dùng Thọ niệm trú tu xen lẫn Tĩnh lự: Có những người
muốn làm cho tất cả pháp là Thắng nghĩa, thì lúc ấy khởi lên Thọ niệm
trú-Nghĩa vô ngại giải, và Thọ niệm trú-Biện vô ngại giải, Nguyện trí-
Định Biên tế, Vô sắc-Giải thoát, tiến vào Định Diệt tận,  Tưởng-Tâm
vi tế.
Những lúc như vậy, chưa đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thân-Thọ niệm trú.
Chưa đạt được Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thân-Thọ
niệm trú, đó là phần vị Noãn-Đả nh tăng trưởng, lúc Tâm niệm trú
hiện rõ ở trước mắt, nếu lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, Tâm niệm trú la øm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo
gia hạnh.
Nếu Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, Thời giải thoát luyện
căn làm Bất động, Tâm niệm trú làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia
hạnh.
668 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Nếu lúc dẫn dắt phát khởi Tha tâm thông, Tâm niệm trú hiện rõ
ở trước mắt.
Nếu lúc dùng Tâm niệm trú tu  xen lẫn Tĩnh lự: Có những người
muốn làm cho tất cả pháp là Thắng nghĩa, thì lúc ấy khởi lên Tâm niệm
trú-Nghĩa vô ngại giải, và Tâm niệm trú-Biện vô ngại giải, Nguyện trí-
Định Biên tế, Vô sắc-Giải thoát, tiến vào Định Diệt tận,  Tưởng-Tâm
vi tế.
Những lúc như vậy, chưa đạt được  Tâm niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thân-Thọ niệm trú.
Chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thân-Thọ
niệm trú, đó là phần vị Noãn ban đầu duyên với ba Đế, phần vị Noãn
tăng trưởng duyên với bốn Đế, lúc Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt.
Nếu phần vị Đảnh ban đầu và tăng trưởng duyên với bốn Đế, lúc
Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt.
Nếu lúc tất cả Nhẫn và Thế đệ nhất pháp.
Nếu tiến vào Chánh tánh ly si nh, Hiện quán về Khổ-Tập đều
trong bốn tâm.
Nếu lìa nhiễm của cõi Dục c ho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi
tưởng xứ, Pháp niệm trú làm gia hạnh, lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô
gián-giải thoát.
Nếu Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, Thời giải thoát luyện
căn làm Bất động, Pháp niệm trú làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo
gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Nếu dẫn dắt phát khởi Tha tâm thông, Pháp niệm trú hiện rõ ở
trước mắt, và dẫn dắt phát khởi Tu ùc trú tùy niệm thông. Lúc khởi lên
bốn Vô lượng.
Nếu lúc dùng Pháp niệm trú tu xen lẫn Tĩnh lự: Có những người
muốn làm cho tất cả pháp là Thắng nghĩa, thì lúc ấy khởi lên Pháp niệm
trú-Nghĩa vô ngại giải. Có những người muốn làm cho chỉ riêng Niết-
bàn là Tháng nghĩa, thì lúc ấy khởi lên Nghĩa vô ngại giải-Pháp vô ngại
giải, Vô tranh-hai Biến xứ sau, Không Không, Vô nguyện Vô nguyện,
Vô tướng Vô tướng.
Nếu lúc khởi lên Pháp niệm trú- Biện vô ngại giải, Nguyện trí-
Định Biên tế, Vô sắc-Giải thoát, tiến vào Định Diệt tận,  Tưởng-Tâm
vi tế.
Những lúc như vậy, chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thân-Thọ niệm trú.
4. Có lúc không tu cả hai loại, đó là đã đạt được Tâm-Pháp niệm
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 189 669  
www.daitangkinh.org  
trú hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì không tu Thân-Thọ niệm trú, tất cả tâm nhiễm ô-tâm vô ký, ở
Định Vô tưởng-Định Diệt tận, sinh ở cõi trời Vô Tưởng.
Đã đạt được Tâm-Pháp niệm trú hi ện rõ ở trước mắt, giải thích
như trước.
Chưa đạt được Pháp niệm trú hi ện rõ ở trước mắt thì không tu
Thân-Thọ niệm trú, đó là phần vị Noãn ban đầu duyên với Diệt đế.
Nếu tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Diệt trong bốn
tâm.
Nếu các dị sinh lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư cho đến nhiễm   của
Vô sở hữu xứ: Có những người muốn làm cho Cận phần của Vô sắc chỉ
là duyên tổng quát, nếu Cận phần của địa trên làm gia hạnh, thì lúc ấy
là tất cả đạo gia hạnh-chín đạo vô gián-tám đạo giải thoát.
Những lúc như vậy, chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì không tu Thân-Thọ niệm trú.
Tất cả tâm nhiễm ô, đó là bởi vì  tất cả tâm nhiễm ô đều là tánh
thuận phần lui sụt tương ưng với nặng nề lười nhác, phải là tánh thuận
phần thắng tiến tương ưng với tâm nhẹ nhàng tinh tiến thì mới có thể
tu được.
Tâm vô ký, đó là bởi vì tâm vô ký thì tánh yếu kém-mục ruỗng-
khô héo, cần phải trú trong tâm mạnh mẽ-vững chắc-thù thắng thì mới
có thể tu được.
Ở Định Vô tưởng-Định Diệt tận, đó là những phần vị không có
tâm, cần phải ở phần vị có tâm thì mới có thể tu được.
Sinh ở cõi trời Vô Tưởng, có người nói: Sinh đến cõi trời ấy thì căn
thiện không khởi lên ở tất cả mọi lúc.
Có người nói: Tuy khởi lên mà không phải là nơi nương tựa của tu,
bởi vì không có thể tu pháp thuộc vị lai.
Những lúc như vậy, không tu Thân-Thọ niệm trú.
Hỏi: Cũng có lúc chưa đạt được Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt
mà không tu Thân-Thọ niệm trú, như lúc chưa từng đạt được Tâm niệm
trú do Văn-Tư mà thành hiện rõ ở trước mắt, vì sao trong này không nói
đến?
Đáp: Cần phải nói mà không nói đến, thì nên biết là nghĩa này
có khác.
Có người nói: Trong này nói lúc Tâm niệm trú chưa từng đạt được
hiện rõ ở trước mắt, có thể tu vị  lai mà không tu Th ân-Thọ niệm trú,
là bởi vì không có lúc nào Tâm niệm trú chưa từng đạt được hiện rõ  ở
670 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
trước mắt, có thể tu vị lai mà không tu Thân-Thọ niệm trú, vì thế cho
nên không nói đến.
Hỏi: Nếu như vậy thì cũng nên nói tất cả tâm thiện phân tán, vì
sao chỉ nói đến tâm nhiễm ô và tâm vô ký?
Đáp: Cần phải nói mà không nói đến, thì nên biết là nghĩa này
có khác.
Có người nói: Điều ấy không quyết định, khó mà nói phù hợp với
tác dụng. Nghĩa là nếu bởi vì tu mà nói  thì pháp ấy không có sức lực
có thể tu vị lai, nếu bởi vì không tu mà nói thì lúc hiện rõ trước mắt là
thuộc về tu luyện tập. Vì thế c ho nên ở trong này đều không nói đến
tu-không tu.
Như Thân niệm trú-Thọ niệm trú, nên biết Thân niệm trú-Tâm
niệm trú cũng như vậy, bởi vì Thọ niệm trú-Tâm niệm trú ở vị lai thì
tu-không tu nhất định phải đi cùng.
Hỏi: Nếu tu Thân niệm trú thì lúc ấy tu Pháp niệm trú chăng, giả
sử tu Pháp niệm trú thì lúc ấy tu Thân niệm trú chăng? Đáp: Nên làm
thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc tu Thân niệm trú mà không phải là Pháp niệm trú, đó là
đã đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt, câu này giải thích như
trước.
2. Có lúc tu Pháp niệm trú mà không phải là Thân niệm trú, đó là
đã đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Pháp
niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì kh ông tu Thân niệm trú, nếu chưa đạt
được Thọ-Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Pháp niệm trú chứ
không phải là Thân niệm trú.
Đã đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt, giải thích như
trước.
Chưa đạt được Pháp niệm trú hi ện rõ ở trước mắt thì không tu
Thân niệm trú, đó là phần vị Noãn ban đầu duyên với Diệt đế.
Nếu tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Diệt trong bốn
tâm.
Nếu các dị sinh lìa nhiễm của  Tĩnh lự thứ tư: Có những người
muốn làm cho Cận phần của Không vô biên xứ chỉ là duyên tổng quát,
nếu dùng địa ấy làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-chín đạo
vô gián-chín đạo giải thoát.
Nếu các dị sinh lìa nhiễm c ủa Không vô biên xứ cho đến nhiễm
của Vô sở hữu xứ, dùng Pháp niệm trú làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả
đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 189 671  
www.daitangkinh.org  
Nếu các dị sinh lúc khởi lên Pháp niệm trú, Vô sắc-Giải thoát, và
lúc khởi lên hai Biến xứ sau.
Những lúc như vậy, chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì không tu Thân niệm trú.
Chưa đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Pháp niệm
trú chứ không phải là Thân niệm tr ú, nói như phần chưa đạt được Thọ
niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì không tu Thân niệm trú ở trước.
Chưa đạt được Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Pháp niệm
trú chứ không phải là Thân niệm tr ú, tức là nói như phần Thọ niệm
trú.
3. Có lúc tu cả hai loại, đó là chưa đạt được Thân niệm trú hiện
rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì
tu Thân niệm trú, nếu chưa đạt được Thọ-Tâm niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thân-Pháp niệm trú.
Chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt, nói như phần
chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thọ-Tâm niệm
trú ở trước đây.
Chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thân niệm
trú, nói như phần chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu
Thân-Thọ niệm trú ở trước đây.
Chưa đạt được Thọ-Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thân-
Pháp niệm trú, đó là phần vị Noã n-Đảnh tăng trưởng, lúc Thọ-Tâm
niệm trú hiện rõ ở trước mắt, nếu lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm
của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Thọ-Tâm niệm trú làm gia hạnh, thì lúc
ấy là đạo gia hạnh.
Nếu Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, Thời giải thoát luyện
căn làm Bất động, Thọ-Tâm niệm trú la øm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo
gia hạnh.
Nếu lúc dẫn dắt phát khởi Tha tâm thông, Thọ-Tâm niệm trú hiện
rõ ở trước mắt.
Nếu lúc dùng Thọ-Tâm niệm trú tu xen lẫn Tĩnh lự: Có những
người muốn làm cho tất cả pháp là Th ắng nghĩa, thì lúc ấy khởi lên
Thọ-Tâm niệm trú-Nghĩa vô ngại giải, và Thọ-Tâm niệm trú-Biện vô
ngại giải, Nguyện trí-Định Biên tế, V ô sắc-Giải thoát, tiến vào Định
Diệt tận, Tưởng-Tâm vi tế.
Những lúc như vậy, chưa đạt được Thọ-Tâm niệm trú hiện rõ ở
trước mắt thì tu Thân-Pháp niệm trú.
4. Có lúc không tu cả hai loại, đó là đã đạt được Thọ-Tâm  niệm
672 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
trú hiện rõ ở trước mắt, tất cả tâm nhiễm ô-tâm vô ký, ở Định Vô tưởng-
Định Diệt tận, sinh ở cõi trời Vô Tưởng, đều giải thích như trước.
Hỏi: Nếu tu Thọ niệm trú thì lúc ấy tu Tâm niệm trú chăng, giả sử
tu Tâm niệm trú thì lúc ấy tu Thọ niệm trú chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc tu Thọ niệm trú mà không phải là Tâm niệm trú, đó là
đã đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở trước mắt. Giải thích như trước.
2. Có lúc tu Tâm niệm trú mà không phải là Thọ niệm trú, đó là
đã đạt được Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt. Giải thích như trước.
3. Có lúc tu cả hai loại, đó là chưa đạt được Thân-Thọ-Tâm niệm
trú hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thọ-Tâm niệm trú.
Chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt, nói như các
phần chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt, trước đây.
Chưa đạt được Thọ-Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt, nói như các
phần chưa đạt được Thọ-Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt, trước đây.
Chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thọ-Tâm
niệm trú, nói như các phần chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu niệm trú khác, trước đây.
4. Có lúc không tu cả hai loại, đó là đã đạt được Thân-Pháp niệm
trú hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì không tu Thọ-Tâm niệm trú, tất cả tâm nhiễm ô-tâm vô ký, ở
Định Vô tưởng-Định Diệt tận, sinh ở cõi trời Vô Tưởng.
Chưa đạt được Pháp niệm trú hi ện rõ ở trước mắt thì không tu
Thọ-Tâm niệm trú, nói như các phần chưa đạt được Pháp niệm trú hiện
rõ ở trước mắt thì không tu niệm trú khác, trước đây. Còn lại giải thích
như trước.
Hỏi: Nếu tu Thọ niệm trú thì lúc ấy tu Pháp niệm trú chăng, giả
sử tu Pháp niệm trú thì lúc ấy tu Thọ niệm trú chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc tu Thọ niệm trú mà không phải là Pháp niệm trú, đó là
đã đạt được Thọ niệm trú hiện rõ ở trước mắt. Câu này giải thích như
trước.
2. Có lúc tu Pháp niệm trú mà không phải là Thọ niệm trú, đó là
đã đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Pháp
niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì không tu Thọ niệm trú.
Đã đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt, giải thích như
trước.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 189 673  
www.daitangkinh.org  
Chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì không tu Thọ
niệm trú, nói như các phần chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì không tu niệm trú khác, trước đây.
3. Có lúc tu cả hai loại, đó là chưa đạt được Thân-Thọ-Tâm niệm
trú hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước
mắt thì tu Thọ niệm trú.
Chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt, nói như các
phần chưa đạt được Thân niệm trú hiện rõ ở trước mắt, trước đây.
Chưa đạt được Thọ-Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt, nói như các
phần chưa đạt được Thọ-Tâm niệm trú hiện rõ ở trước mắt, trước đây.
Chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt thì tu Thọ niệm
trú, nói như các phần chưa đạt được Pháp niệm trú hiện rõ ở trước mắt
thì tu niệm trú khác, trước đây.
4. Có lúc không tu cả hai loại, đó là đã đạt được Thân-Tâm niệm
trú hiện rõ ở trước mắt, tất cả tâm nhiễm ô-tâm vô ký, ở Định Vô tưởng-
Định Diệt tận, sinh ở cõi trời Vô Tưởng, đều giải thích như trước.
Như Thọ niệm trú-Pháp niệm trú, nên biết Tâm niệm trú-Pháp
niệm trú cũng như vậy, bởi vì Thọ niệm trú-Tâm niệm trú ở vị lai thì
tu-không tu nhất định phải đi cùng.
Đối với Thân thuận theo Thân quán sát, thì Niệm trú nên nói là
Pháp trí, cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Văn này lẽ ra phải nói trước phần tu. Nguyên cớ thế nào?
Bởi vì có tự tánh thì mới có thể tu, mà không nói đến trước là có ý gì?
Đáp: A-tỳ-đạt-ma nên dùng t ướng để tìm hiểu chứ không dùng
thứ tự, bởi vì A-tỳ-đạt-ma chính là muốn phân biệt về tánh tướng của
các pháp nhưng không trái với nghĩa c ủa nó, nếu nói trước hay sau thì
cũng không có sai lầm.
Có Sư khác nói: Bởi vì muốn hiển bày trong này chỉ phân biệt về
Niệm trú do Tu mà thành chứ không phải là Niệm trú do Văn-Tư mà
thành, cho nên trước nói đến tu-sau trình bày về tự tánh.
Đối với Thân thuận theo Thân qu án sát thì Niệm trú nên nói là
Pháp trí, đó là nhận biết hệ thuộc cõi Dục và một phần Sắc vô lậu.
Nên nói là Loại trí, đó là nhận biết hệ thuộc cõi Sắc và một phần
Sắc vô lậu.
Không nên nói là Tha tâm trí, bởi vì Tha tâm trí nhận biết tâm-
tâm sở pháp, mà Thân niệm trú chỉ nhận biết Sắc pháp.
Nên nói là Thế tục trí, đó là nhận biết tất cả các Sắc.
Nên nói là Khổ trí, đó là nhận biết Sắc hữu lậu làm hành    tướng
674 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Vô thường-Khổ-Không-Vô ngã.
Nên nói là Tập trí, đó là nhận biết Sắc hữu la äu làm hành tướng
Nhân-Tập-Sinh-Duyên.
Không nói là Diệt trí, bởi vì Diệt trí chỉ nhận biết về pháp Vô vi,
mà Thân niệm trú nhận biết về pháp hữu vi.
Nên nói là Đạo trí, đó là nhận biết Sắc vô lậu làm hành tướng
Đạo-Như-Hành-Xuất.
Trong này không nói đến Tận trí-Vô sinh trí, bởi vì chương này là
Kiến Uẩn, chỉ nói đến các trí thuộc tánh Kiến, hai trí ấy không phải là
tánh Kiến, vì thế cho nên không nói đến.
Hiển bày về Tự tánh rồi, nên hiển bày về Địa.
Nên nói là có Tầm-có Tứ, đó là dựa vào Vị chí-Tĩnh lự thứ nhất.
Nên nói là không có Tầm-chỉ có Tứ, đó là dựa vào Tĩnh lự  trung
gian.
Nên nói là không có Tầm-không có Tứ, đó là dựa vào ba Tĩnh lự
trên và bốn Vô sắc.
Hiển bày về Địa rồi, nên hiển bày về Tương ưng.
Nên nói là tương ưng với Lạc căn, đó là dựa vào Tĩnh lự thứ ba.
Nên nói là tương ưng với Hỷ căn, đó là dựa vào Tĩnh lự thứ nhất
và Tĩnh lự thứ hai.
Nên nói là tương ưng với Xả căn, đó là dựa vào Vị chí-Tĩnh lự
trung gian-Tĩnh lự thứ tư và bốn Vô sắc.
Hiển bày về Tương ưng rồi, nên hiển bày về Hành tướng.
Nên nói là đi cùng với Tam-ma-địa Không, đó là hai hành tướng.
Nên nói là đi cùng với Tam-ma-địa Vô nguyện, đó là mười hành
tướng.
Không nói đi cùng với Tam-ma-địa Vô tướng, nói như không nói
đến Diệt trí.
Hiển bày về Hành tướng rồi, nên hiển bày về Sở duyên.
Nên nói là duyên với hệ thuộc cõi Dục-Sắc, đó là duyên với Khổ-
Tập.

Nên nói là duyên với không hệ thuộc, đó là duyên với Đạo.
Đối với Thọ thuận theo Thọ quán sát thì Niệm trú nên nói là Pháp
trí, đó là nhận biết hệ thuộc cõi Dục và một phần Thọ vô lậu.
Nên nói là Loại trí, đó là nhận bi ết hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc và
một phần Thọ vô lậu.
Nên nói là Tha tâm trí, đó là nhận biết hệ thuộc cõi Dục-Sắc và
một phần Thọ vô lậu nối tiếp nhau nơi khác hiện rõ ở trước mắt.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 189 675  
www.daitangkinh.org  
Nên nói là Thế tục trí, đó là nhận biết tất cả các Thọ.
Nên nói là Khổ trí, đó là nha än biết Thọ hữu lậu làm bốn hành
tướng Vô thường-Khổ-Không-Vô ngã.
Nên nói là Tập trí, đó là nhận biết Thọ hữu lậu làm hành tướng
Nhân-Tập-Sinh-Duyên.
Không nói là Diệt trí, bởi vì Thọ niệm trú chỉ nhận biết về pháp
hữu vi.
Nên nói là Đạo trí, đó là nhận biết Thọ vô lậu làm hành tướng
Đạo-Như-Hành-Xuất.
Không nói đến trí khác, giải thích như trước.
Hiển bày về Tự tánh rồi, Địa-Tương ưng-Hành tướng đều nói như
trước, nên hiển bày về Sở duyên.
Nên nói là duyên với hệ thuộc ba cõi, đó là duyên với Khổ-Tập.
Nên nói là duyên với không hệ thuộc, đó là duyên với Đạo.
Như đối với Thọ niệm trú, đối với Tâm niệm trú cũng như vậy, bởi
vì Sở duyên của hai loại này thường tương ưng với nhau.
Đối với Pháp thuận theo Pháp quán sát thì Niệm trú nên nói là
Pháp trí, đó là nhận biết các hành hệ thuộc cõi Dục và nhân của nó-diệt
của nó-tất cả phẩm Pháp trí của nó.
Nên nói là Loại trí, đó là nhận biết các hành hệ thuộc cõi Sắc-Vô
sắc và nhân của nó-diệt của nó-tất cả phẩm Loại trí của nó.
Nên nói là Tha tâm trí, nhận biết hệ thuộc cõi Dục-Sắc và một
phần vô lậu nối tiếp nhau nơi khác hiện rõ ở trước mắt, trừ ra Thọ và
Tâm, còn lại tâm sở pháp.
Nên nói là Thế tục trí, đó là nhận biết tất cả các pháp.
Nên nói là Khổ trí, đó là nhận biết năm Thủ uẩn làm hành tướng
Vô thường-Khổ-Không-Vô ngã.
Nên nói là Tập trí, đó là nhận biết nhân hữu lậu làm hành tướng
Nhân-Tập-Sinh-Duyên.
Nên nói là Diệt trí, đó là nhận biết Trạch diệt làm bốn hành tướng
Diệt-Tĩnh-Diệu-Ly.
Nên nói là Đạo trí, đó là nhận biết năm uẩn vô lậu làm hành
tướng Đạo-Như-Hành-Xuất.
Không nói đến trí khác, cũng giải thích như trước.
Hiển bày về Tự tánh rồi, Địa-Tương ưng đều nói như trước, nên
hiển bày về Hành tướng.
Nên nói là đi cùng với Tam- ma-địa Không và Vô nguyện, cũng
giải thích như trước.
676 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Nên nói là đi cùng với Tam-ma-địa Vô tướng, đó là bốn hành
tướng.
Hiển bày về Hành tướng rồi, nên hiển bày về Sở duyên.
Nên nói là duyên với hệ thuộc ba cõi, đó là duyên với Khổ-Tập.
Nên nói là duyên với không hệ thuộc, đó là duyên với Diệt-Đạo.
Như nói lúc cảm thọ Lạc thọ, nhận biết như thật là mình cảm thọ
Lạc thọ, đây là bốn trí. Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao trong này nhiều lần phân biệt về Thọ-Tâm-Pháp niệm
trú, mà chỉ một lần phân biệt về Thân niệm trú?
Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến
nói rộng ra.
Có người nói: Trong này Đức Thế Tôn cũng cần phải đưa ra cách
nói này: Lúc ấy đi đứng… nhận bi ết như thật là mình đi đứng…, đây
là bốn trí, cho đến nói rộng ra. Nh ưng mà không nói là có ý gì? Trả
lời rằng nếu pháp vi tế khó thấy-khó hiểu, không rõ ràng thì trở lại
phân biệt; Thân niệm trú hiển bày thô thiển cho đến hiện thấy, cho nên
không nói lại.
Có người nói: Nếu dựa vào pháp ấy khởi lên các loại không tương
tự, văn cú khác nhau và trí khác nhau, thì trở lại phân biệt; Thân niệm
trú nếu lúc phân biệt thì văn cú không khác nhau, trí cũng không khác
nhau, cho nên không nói lại.
Hỏi: Lúc cảm thọ Lạc thọ th ì không nhận biết như thật, lúc nhận
biết như thật thì không cảm thọ Lạc thọ. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì lúc
cảm thọ Lạc thọ thì cảm thọ ấy ở hiện tại, không phải là lúc bấy giờ có
thể nhận biết như thật, vì tương ưng với không nhận biết, vì không có
hai phẩm tâm cùng đi với nhau. Lúc nhận biết như thật thì cảm thọ ấy
ở quá khứ-vị lai, không phải là lúc bấy giờ gọi là cảm thọ Lạc thọ, bởi
vì không có tác dụng. Khổ thọ va ø không khổ không lạc thọ, nói cũng
như vậy. Vì sao Đức Phật nói lúc cảm thọ Lạc thọ, nhận biết như thật là
mình cảm thọ Lạc thọ…?
Đáp: Có người nói: Trong này nên đưa ra cách nói này: Cảm thọ
Lạc thọ rồi nhận biết như thật là mình đã cảm thọ Lạc thọ, cảm thọ Khổ
thọ và không khổ không lạc thọ rồi nha än biết như thật là mình đã cảm
thọ Khổ thọ và không khổ không lạc thọ. Nhưng mà không đưa ra cách
nói này là có ý gì? Nên biết rằng trong này nói đã cảm thọ gọi là cảm
thọ, đối với quá khứ mà nói theo thanh hiện tại; như nói Đại Vương từ
phương nào đến, đây là nói đã đến gọi là đến. Lại như nói lúc Bồ-tát
tiến vào Chánh tánh ly sinh đạt được Thế tục trí Hiện quán biên, đây là
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 189 677  
www.daitangkinh.org  
nói đã tiến vào gọi là tiến vào; điều ấy cũng như vậy.
Tôn giả Thế Hữu nói rằng: “Các cảm thọ lúc ở quá khứ-vị lai thì
không có thể cảm thọ, lúc ở hiện ta ïi chỉ do tự tánh mà chuyển cũng
không có thể cảm thọ, vì sao nói là cảm thọ về Lạc-cảm thọ về Khổ?
Nên biết rằng đó là quán sát về những khổ vui vốn có nối tiếp nhau mà
nói, đó là quán sát về niềm vui vốn có nối tiếp nhau nói là mình cảm
thọ niềm vui, quán sát về nỗi khổ vốn có nối tiếp nhau nói là mình cảm
thọ nỗi khổ.
Lại nữa, lúc ấy quán sát về nhân duyên của niềm vui-nỗi khổ
nối tiếp nhau mà nói, đó là quán sát về nhân duyên nối tiếp nhau thâu
nhiếp tiếp nhận nói là mình cảm thọ niềm vui, quán sát về nhân duyên
nối tiếp nhau làm cho tổn hại nói là mình cảm thọ nỗi khổ.
Lại nữa, lúc ấy ở trong thời gi an chuyển biến nối tiếp nhau của
các cảm thọ liên tục khởi lên ý thức về cảnh ấy, liền cho rằng đây là
có ích-là có hại đối với sở y, cho nên nói là mình đang cảm thọ niềm
vui-cảm thọ nỗi khổ.”
Đại đức nói rằng: “Lúc ấy ở trong sự chuyển biến nối tiếp nhau
của đại chủng sở y mà cảm thọ niềm vui-nỗi khổ, cho rằng là cảm thọ,
cho nên nói là mình đang cảm thọ niềm vui-cảm thọ nỗi khổ.”
Như nói lúc cảm thọ Lạc thọ, nhận biết như thật là mình cảm thọ
Lạc thọ, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế tục và Đạo trí.
Hỏi: Vì sao trong này không nói đến Tha tâm trí?
Đáp: Tha tâm trí nhận biết tâm-ta âm sở pháp nối tiếp nhau của
người khác, trong này nói đến trí như thật nhận biết về tâm-tâm sở pháp
nối tiếp nhau của mình, vì thế cho nên không nói.
Lại nữa, Tha tâm trí nhận biết tâm-tâm sở pháp hiện tại, trong này
nói đến trí như thật nhận biết về tâm-tâm sở pháp quá khứ.
Lại nữa, Tha tâm trí chỉ nhận biết tâm-tâm sở pháp, trong này
nói đến trí như thật cũng nhận biết về sở y và sở duyên của tâm-tâm sở
pháp.
Lại nữa, Tha tâm trí duyên với từng pháp một, trong này nói đến
trí như thật cũng duyên chung với nhiều pháp, vì thế cho nên không nói
đến Tha tâm trí.
Hỏi: Vì sao trong này lại không nói đến Khổ-Tập trí?
Đáp: Có người nói: Trong này cũng cần phải nói đến Khổ-Tập trí,
mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Khổ-Tập trí là trí thuộc hành tướng chán ngán, trong
này nói đến trí như thật là trí thuộc hành tướng vui mừng, vì thế cho nên
678 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
không nói.
Có người nói: Khổ-Tập trí duyên với sự việc mà chán ngán, trong
này nói đến trí như thật duyên với sự việc mà vui mừng.
Có người nói: Khổ-Tập trí chán ghét sở duyên mà chuyển, trong
này nói đến trí như thật yêu thích sở duyên mà chuyển.
Có người nói: Trong này nói nhận biết như thật về tâm-tâm sở
pháp hữu lậu-vô lậu. Nhưng mà tâm-tâm sở pháp hữu lậu từ vô thỉ đến
nay thường xuyên nhận biết, lại thô thiển gần gũi dễ dàng biết rõ, khởi
lên trí Thế tục thì có thể nhận biết rõ ràng, không cần phải khởi lên trí
vô lậu, vì thế cho nên không có ai rời bỏ trí Thế tục mà dùng Khổ-Tập
trí để nhận biết. Tâm-tâm sở pháp vô lậu từ xưa đến nay chưa hề nhận
biết, lại vi tế khó hiểu, khởi lên trí vô lậu thì mới có thể nhận biết. Vì
thế cho nên trong này nhận biết về ta âm-tâm sở pháp hữu lậu chỉ là trí
Thế tục, nhận biết như thật về tâm-tâm sở pháp vô lậu đó là ba trí còn
lại. Do đó không nói là có Khổ-Tập trí.
Có người nói: Trong này nói nhận biết như thật về sự sai biệt của
tâm-tâm sở pháp hữu lậu-vô lậu. Tướng hữu lậu ấy, khởi lên trí Thế tục
thì nhận biết, lại không khởi lên Khổ-Tập trí bởi vì khó khởi lên, và bởi
vì lúc khởi lên chỉ nhận biết về tướng chung. Tướng vô lậu ấy, khởi lên
trí Thế tục thì không có thể nhận bi ết, cho nên liền khởi lên Đạo trí,
nhưng Đạo trí sinh khởi tuy không như trước  mà chỉ nhận biết sai biệt.
Nhưng bởi vì tướng chung mà nhận biết về sự sai biệt, cho nên có Đạo
trí chứ không có Khổ-Tập trí.
Có người nói: Trong này nói nhận biết như thật về hành tướng sai
biệt của tâm-tâm sở pháp hữu lậu-vô lậu. Nhưng tâm-tâm sở pháp hữu
lậu phần nhiều không phải là hành tướng duyên với Đế, giả sử vốn có
thì cũng chưa dễ dàng thành tựu, cho nên chỉ dùng trí Thế tục làm hành
tướng không phải là Đế, để nhận biết  như thật về hành tướng sai biệt
ấy; tâm-tâm sở pháp vô lậu đều là hành tướng duyên với Đế, bởi vì rất
dễ dàng thành tựu, cho nên vẫn dùng Đa ïo trí làm hành tướng của Đế,
để nhận biết như thật về hành tướng sai biệt ấy. Vì thế cho nên trong
này không có Khổ-Tập trí.
Không nói đến Tận trí-Vô sinh trí, bởi vì chương này là Kiến Uẩn,
chỉ nói đến các trí thuộc tánh Kiến, hai trí ấy không phải là trí thuộc
tánh Kiến, vì thế cho nên không nói đến.
Trong này, Pháp trí đó là nhận biết  về Lạc thọ thuộc phẩm Pháp
trí; Loại trí đó là nhận biết về Lạc thọ thuộc phẩm Loại trí; Thế tục trí
đó là nhận biết về Lạc thọ hữu lậu; Đạo trí đó là nhận biết về Lạc  thọ
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 189 679  
www.daitangkinh.org  
vô lậu. Tuy không có một Lạc thọ do bốn trí nhận biết, đó là hữu lậu thì
một trí nhận biết, vô lậu thì ba trí nhận biết, nhưng mà bởi vì nói chung
cho nên nói là bốn trí nhận biết như thật về Lạc thọ.
Có người nói: Lạc thọ vô lậu do bốn trí nhận biết.
Lúc cảm thọ Khổ thọ, nhận biết như thật là cảm thọ Khổ thọ, đây
là một trí, đó là Thế tục trí, bởi vì Khổ thọ chỉ là hữu lậu, cho nên Thế
tục trí nhận biết.
Lúc cảm thọ không khổ không lạc t họ thọ, nhận biết như thật là
cảm thọ không khổ không lạc thọ, đây là bốn trí, đó là Pháp-Loại-Thế
tục và Đạo trí; nói như nhận biết về Lạc thọ.


„
680 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt