VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← Thi Thiết Luận ← Quyển 2Quyển 4 →

Thi Thiết Luận · Quyển 3

施設論 · T1538

Hán văn

西天譯經三藏朝散大夫
試光祿卿傳梵大師賜紫
沙門臣法護等奉 詔譯
對法大論中因施設門第四之二
「又復阿難!我出母胎未久之間,即觀四方,乃
作是念:『我當得成如來、應供、正等正覺已,當
為眾生演說四聖諦法。』此是菩薩先現瑞相。
「又復阿難!我出胎未久,即作是言:『今我此身
是邊際生。』乃作是念:『我當得成如來、應供、正
等正覺已,當為一切眾生普盡生死邊際。』此
是菩薩先現瑞相。
「又復阿難!我出胎未久,空中自然雨眾天花,
謂優鉢羅花、俱母陀花、鉢訥摩花、奔拏利
迦花等。又雨眾妙沈水薰陸、旃檀香粖及散
天花。乃作是念:『我當得成如來、應供、正等正
覺已,具大智慧、具大福德,飲食衣服、床座
醫藥諸受用具悉皆豐足。』此是菩薩先現瑞
相。
「又復阿難!我出胎未久,空中自然奏天音樂。
乃作是念:『我當得成如來、應供、正等正覺已、

聲聞十方。』
「又復阿難!我昔宮中,與諸宮屬同處床座。
乃作是念:『從今已往我不復處王宮之座。今
我此座是即最後所處之座。』作是念已從床
座起,詣王宮門志欲求出。時有聖賢密開其
門,我於是時出宮門已,漸次前詣重重宮禁,
一一門首皆有聖賢為開其門。我於爾時即
作是念:『我當得成如來、應供、正等正覺已,普
為眾生開甘露門。』此是菩薩先現瑞相。
「又復阿難!我時乘彼迦蹉迦馬王出王城
已,至於他邦即時下馬。乃作是念:『今此是我
最後所乘王宮寶馬。』我時所有眾莊嚴具及
迦蹉迦馬王而悉不受,還其馭者。乃起是
念:『今此是我最後所有世間嚴具,而悉棄置
不復受之。』阿難當知!我時即持妙色寶劍,自
斷頂髻。斷已復念:『今此是我最後自斷頂髮
寶髻,不復重生。』即時見一被袈裟衣者,儀相
調善。見已歡喜,前詣彼所而謂之曰:『我今奉
汝迦尸迦衣,汝可授我袈裟法衣。』即作是念:
『今此是我最後所棄王宮之服,不復重以俗
服被體。』
「又復阿難!其後我於吉祥長者所受吉祥草,
詣菩提樹下自敷其草,端身正念加趺而
坐,作是念言:『我若不成阿耨多羅三藐三菩
提果,誓願不起于座。』又作是念:『我今快得善
利。何以故?一切眾生處無明中、住著無明,
無明卵㲉障覆慧眼。我當破無明卵,令諸眾
生吉祥安樂。』
「又復阿難!我成佛未久,觀見眾生世間所生

亦世間老,有利根者、有中根者、有下根者。其
下根者,隨其行相而調伏之。乃至不聞正法
諸缺減者,彼等眾生我觀見已,於彼彼所起
大悲心,為說正法而化度之。
「又復阿難!我復作是念:『我今快得善利。我於
世間雜染中生而無雜染心意所行。』」
對法大論中因施設門第五
總說頌曰:
如子下族并貧族,賊難劫初至十歲,
牛貨勝身俱盧洲,無我及彼欲色界,
佛從定起入涅槃,最後大衣不焚爇。
又問:何因菩薩於一切眾生中最上最勝,有
不發大菩提心而能正信出家者邪?答:菩薩
長時觀諸眾生等同一子,勤修善業長養成
熟,勝妙果報現前克成,法爾如是。殑伽沙等
諸菩薩眾,未有不發大菩提心而能正信出
家之者。如其所說,即是不能受欲樂故。
又問:何因菩薩不於下族中生?答:下族生者,
習近慢心。菩薩長時遠離諸慢、親近善法修
習施作,是故菩薩決定於其上族中生。又若
菩薩下族生者,即起謗訕。
又問:何因菩薩不於貧族中生?答:貧族生者,
習近慳吝。菩薩長時離慳吝垢,親近修習廣
多施作無慳吝法,是故菩薩決定於其富族
中生。謂以菩薩諸有所得色聲香味觸等諸
境,不歷艱苦自他平等而受用之。又若菩
薩生貧族者,即起謗訕。
又問:何因菩薩不生極邊國土及多賊難鄙
惡之方?答:邊惡國土於戒於見而悉艱苦,不

與菩薩相似同等。而菩薩者,勤修諸善長養
成熟,現前勝妙果報克成,是故菩薩決定於
其大國中生。設有利根清淨眾生,值遇菩薩
大威德者,然亦不能發起最上無漏善法,所
謂無上正等菩提、緣覺菩提、聲聞菩提到彼岸
法,及餘最上無漏善根。
又問:何因菩薩不於劫初時生,彼時人壽始
八萬歲?答:劫初時人軟品根性,所行愚鈍,朴
質種類,不與菩薩相似同等。菩薩大士大威
德者,於長時中勤修善法長養成熟。設有利
根清淨眾生值遇菩薩大威德者,然亦不能
發起最上無漏善法。
又問:何因菩薩不於人壽最後十歲時生?答:
人壽十歲之時,廣多罪業、廣多煩惱,不與菩
薩相似同等。是故菩薩大威德者,不於人壽
十歲時生。
又問:何因菩薩不生西瞿陀尼洲?答:西瞿陀
尼洲人軟品根性,所行愚鈍,朴質種類,不與
菩薩相似同等。菩薩大士大威德者,勤修善
法長養成熟,現前勝妙果報克成,是故菩薩
決定於其大國中生。設有利根清淨眾生,值
遇菩薩大威德者,然亦不能發起最上無漏
善法,所謂無上正等菩提、緣覺菩提、聲聞菩
提到彼岸法,及餘最上無漏善根。
又問:何因菩薩不生東勝身洲?答:如西瞿陀
尼洲其事廣說。
又問:何因菩薩不生北俱盧洲?答:北俱盧洲
人軟品根性,所行愚鈍,朴質種類隨作艱
辛,不與菩薩相以同等。菩薩大士大威德

者,於長時中勤修諸善長養成熟,現前勝
妙果報克成,是故菩薩決定於其大國中生。
設有利根清淨眾生,值遇菩薩大威德者,然
亦不能於一切處發起最上無漏善根。而北
俱盧洲人無我所執。此中問言:北俱盧洲人
何故無我所執邪?答:謂以眾生數多、境界廣
大、所受境界咸皆悅意平等無差,故無我
所。
又問:何因菩薩不生欲界諸天?答:謂欲界中
諸天子眾,著諸境界、愛樂放逸,不與菩薩相
似同等。雖能修持少分梵行,不能廣為比丘、
比丘尼、優婆塞、優婆夷等四眾廣大宣演梵
行,令諸天人各獲利益。以是緣故,不生欲界
諸天。
又問:何因菩薩不生色界諸天:答:謂色界中
諸天子眾,雖能修持少分梵行,而亦不能廣
為四眾別別開演所有梵行,令諸天人各獲
利益。又復菩薩不於色界諸天趣證涅槃。
此中應問:何故色界天中不入涅槃?答:謂無
色相正受處故,但作意已正入涅槃。
又問:若如此說者,不善心入邪、無記心入邪?
答:此說應知無記心入。
又問:何因諸佛世尊住世教化?何故賢上大
聲聞眾先入涅槃,佛乃後入?答:以諸聲聞長
時無間勤修善法長養成熟,現前勝妙果報
克成。若見世尊入涅槃者,彼諸聲聞所有勝
報即不圓成。又復法爾,殑伽沙數等諸佛世
尊所有賢上大聲聞眾,皆先涅槃,佛乃後入。
如其所說入涅槃者,諸佛世尊於第四禪不

動地中現前證入。此中應問:云何世尊入涅
槃邪、或復起邪?答:若有所起,即無所入。
又問:何因如來世尊入涅槃已,聖體既焚,大
衣如故,若內若外都無所損?答:天威力故,謂
以諸天於佛世尊極生淨信。又復二種制止
不燒:一者內身;二者外財。當知皆是佛神力
故。
對法大論中因施設門第六之一
總說頌曰:
二緣及彼二眾出,聲聞三千大千界,
大慈大悲二種心,不思議及隨順法,
眾生差別所行中,如象王住地獄等。
又問:何因佛及輪王皆具三十二大丈夫相,
一謂如來、應供、正等正覺,二謂轉輪聖王。答:
轉輪聖王者,往昔修因其事廣大,於長時中
常起是念:「我當廣行布施、植諸勝福,長養一
切眾生,淨持戒行。世間癡暗無歸救者,悉為
救度。」如來、應供、正等正覺者,隨諸所作一切
善法,普施世間一切眾生。廣發大願,如願所
行,捨家出家成等正覺。以是因故,轉輪聖
王、如來應供正等正覺皆具大丈夫相。
又問:何因佛與緣覺於一時中不相值遇?答:
諸緣覺眾於長時中修緣覺法,勝妙果報現
前克成,無所願求,於最上法無復施作,亦不
樂欲親近恭敬瞻覩如來。由是因故,佛與緣
覺不同時出。
又問:何因二轉輪王不同時出?答:轉輪聖王
往昔修因其事廣大,謂於長時勤修諸善,同
一妙蓋普覆一切。一輪王出,觀諸眾生同一

子想。一輪王出,同一境界尊重供養,隨所應
作一切善業,勝願果報現前克成。由是因故,
二轉輪王不同時出。
又問:何因二佛如來、應供、正等正覺不同時
出?答:菩薩往昔修因其事廣大,謂於長時,唯
一師教、一種修習,作諸善法,隨其所作同一
解脫、唯一所尊、唯一大智。作諸善業,長養成
熟,於一時中無二果報現前所起。此復云
何?答:二難並故。以是因故,於一時中二佛如
來、應供、正等正覺不同出世。
又問:何因女人不作轉輪聖王、不成帝釋、不
成梵王、不成魔王、不證緣覺菩提、不證無上
正等菩提?答:謂諸女人善力劣弱,男子勝善
樂欲根力之所建立,以其極生善欲心故。女
無勢力,皆是男子善業因作。又復女人無其
利根,唯彼男子善力成故。又彼男子善力增
極,乃能獲得利根勝業。以如是因故,女人不
作轉輪聖王、不成帝釋、不成梵王、不成魔王、
不證緣覺菩提、不證無上正等菩提。
又問:何因佛世尊者具無邊智、具無邊慧無
邊辯才?答菩薩長時於其三慧親近修習廣
多施作,謂聞所成慧、思所成慧、修所成慧,增
極勤勇。以如是因故,佛世尊具無邊智慧無
邊辯才。
又問:何因佛世尊出清淨妙音,普聞三千大
千世界悉令曉了?答:以佛世尊成道未久,住
梵界已,普令親近得聞解脫。頌句
頌曰:
「安住諸佛正教中,發起精進求出離,

能破生死大力軍,猶如狂象在草舍。
今此清淨正法律,不放逸心善所行,
即能斷滅生死輪,乃盡一切苦邊際。」
如是頌句,一一世界、一一眾生普皆得聞,分
明曉了。此是如來清淨妙音,普聞三千大千
世界。

Việt dịch

QUYỂN 3
- Phần thứ tư: Nhân thi thiết trong Đối Pháp Đại Luận (Phần II)
“Lại nữa, này A-nan! Khi Ta ra khỏi thai mẹ chưa bao lâu thì liền 
nhìn khắp bốn phương và nghĩ: Ta sẽ thành Như Lai Ứng Cúng Chánh 
Đẳng Chánh Giác, sẽ diễn nói bốn Thánh pháp cho tất cả chúng sinh. 
Việc nhìn bốn phương, đó là Bồ-tát muốn báo hiệu trước điềm lành.
Lại nữa, này A-nan! Khi vừa sinh ra khỏi thai chưa bao lâu, thì Ta 
liền nói: Thân này của Ta là đời sống cuối cùng. Và nghĩ: Ta sẽ thành 
Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác, chỉ bày cho tất cả chúng 
sinh cách dứt hết biên vực sinh tử. Đây là Bồ-tát muốn báo trước điềm 
lành đó.
Lại nữa, này A-nan! Khi Ta vừa ra khỏi thai mẹ chưa bao lâu, thì 
trên không trung tự nhiên có hoa trời mưa xuống như các thứ hoa Ưu-
bát-la, hoa Cù-mẫu-đà, hoa Bát-nạp-na, hoa Bôn-noa-lợi-già. Và lại 
mưa xuống các thứ nước trầm hương quý, nước huân lục, hương bột, 
chiên-đàn, cùng tung rải hoa trời... Ta nghĩ: Sẽ thành Như Lai Ứng 
Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác có đầy đủ trí tuệ lớn, đầy đủ phước đức 
lớn, các thứ ăn uống, y phục, giường nằm, thuốc men và các thứ vật 
dụng khác tất cả đều đầy đủ. Đây là Bồ-tát hiện trước điềm lành.
Lại nữa, này A-nan! Khi Ta vừa ra khỏi thai chưa bao lâu, thì trên 
không trung tự nhiên có tiếng nhạc trời réo rắc trình tấu. Ta liền nghĩ: 
Sẽ thành Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác tiếng đồn vang khắp 
mười phương.
Lại nữa, này A-nan! Khi xưa lúc còn ở trong cung vua, Ta đã cùng 
các người trong cung ngồi chung ghế, nằm chung giường. Khi đó Ta 
nghĩ: Từ nay trở đi Ta sẽ không còn nằm ngồi trên các ghế này nữa. 
Nay Ta ngồi trên ghế này thì đây là lần ngồi cuối cùng. Khi nghĩ thế rồi 
Ta liền đứng dậy đi về phía cửa cung với ý chí mong muốn được ra khỏi 

===== PAGE 22 =====
578 BỘ TỲ ĐÀM 1
nơi ấy. Bấy giờ có các Thiên thần ngầm mở cửa cung. Khi ra khỏi cửa 
cung rồi Ta phải lần lượt đi qua lớp lớp các cấm cung và mỗi cửa cung 
đều có Thiên thần mở giúp. Khi đó Ta có ý nghĩ: Ta sẽ thành Như Lai 
Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác, mở các cửa cam lộ cho tất cả chúng sinh. 
Đây là Bồ-tát hóa hiện báo trước điềm lành.
Lại nữa, này A-nan! Khi ấy Ta cỡi con ngựa chúa Kasaca ra khỏi 
hoàng thành đến một nước khác, Ta liền xuống ngựa và nghĩ: Đây là 
lần sau cùng cỡi vương mã”. Bấy giờ tất cả đồ trang sức quý giá và chú 
ngựa chúa kia Ta đều giao lại cho người hầu giữ ngựa. Khi ấy Ta nghĩ: 
Đây là lần cuối cùng Ta đeo đồ trang sức ở thế gian và liền bỏ xuống 
hết. Nầy A-nan nên biết! Khi ấy Ta rút cây kiếm báu xinh đẹp cắt 
ngang búi tóc trên đỉnh đầu. Cắt xong Ta lại nghĩ: Đây là lần sau cùng 
Ta cắt đứt búi tóc đẹp này và nó không bao giờ mọc lại nữa.
Ta liền thấy một người mặc áo cà sa, dáng vẻ hiền lành, thấy vậy 
Ta rất thích ý, liền đến trước người ấy bảo: Nay Ta cho ông chiếc áo 
Ca-thi-ca quý đẹp này, ông hãy đổi lại cho Ta chiếc pháp y cà sa đó. 
Rồi lại nghĩ: Đây là lần sau cùng Ta bỏ chiếc hoàng bào, chẳng bao giờ 
mặc đồ thế tục nữa.
Lại nữa, này A-nan! Sau đó Ta đến chỗ ông Trưởng giả Kiết 
Tường, nhận bó cỏ kiết tường, rồi đến bên cội cây Bồ-đề trải cỏ và 
nghiêm mình chánh niệm, ngồi kiết già. Ta lại nghĩ: Nếu Ta chưa 
chứng được quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng thì thề rằng không 
bao giờ từ bỏ tòa cỏ này mà đứng dậy. Ta lại nghĩ: Ta nay chắc chắn 
có được lợi ích tốt lành (lợi thiện). Vì sao? Vì tất cả chúng sinh đang ở 
trong chốn vô minh, bám chắc lấy vô minh, sống trong trứng vô minh, 
mắt tuệ bị che chắn bao phủ. Ta cần phải phá bỏ cái vỏ trứng vô minh 
đó, khiến tất cả chúng sinh đều được tốt đẹp kiết tường an lạc.
Lại nữa, này A-nan! Khi thành Phật chưa được bao lâu, Ta nhìn 
thấy sự sinh ra cũng như sự già đi của chúng sinh trong cõi thế gian này. 
Có kẻ thì căn tánh thông minh lanh lợi, có kẻ căn tánh trung bình, có kẻ 
căn tánh thấp kém ngu độn. Đối vớiù kẻ có căn tánh thấp kém đó, thì tùy 
theo hành tướng của họ mà tìm cách điều phục chế ngự. Cho đến như 
những kẻ không chịu nghe diễn giảng chánh pháp, các thứ đều thiếu 
sót, đối với những chúng sinh như thế, khi Ta nhìn thấy và biết rõ rồi, sẽ 
diễn giảng dạy dỗ chánh pháp để hóa độ họ với tất cả tấm lòng lo lắng 
thương xót một cách bao la rộng lớn.
Lại nữa, này A-nan! Ta lại nghĩ: “Ta nay nhất định là có được lợi 
thiện, vì Ta sinh ra từ cõi thế gian đầy tạp nhiễm ô uế tội lỗi này, nhưng 

===== PAGE 23 =====
SỐ 1538 - LUẬN THI THIẾT - Quyển 3 579
tâm ý của Ta trong tất cả mọi việc làm, đều không hề bị nhuộm dính 
uế tạp đó”.
-----------------
- Phần thứ năm: Nhân thi thiết trong Đối Pháp Đại Luận.
Tụng nêu chung:
Như con, dòng thấp kém, dòng nghèo,
Nạn giặc - kiếp sơ - đến mười tuổi,
Ngưu hóa, Thắng thân, Câu lô châu,
Vô ngã và cõi Dục, cõi Sắc,
Phật từ định khởi nhập Niết-bàn,
Cuối cùng đại y không bị cháy.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát là bậc tối thượng, tối thắng đối với tất cả chúng 
sinh, có người không phát tâm đại Bồ-đề mà có thể chánh tín xuất gia 
chăng?
Đáp: Bồ-tát luôn nhìn xem tất cả chúng sinh đều như con một, 
luôn siêng năng tu tập nghiệp thiện, nuôi dưỡng chúng trở nên thuần 
thục, có được các quả báo tốt đẹp, nhanh chóng thành tựu ngay trong 
hiện tại. Pháp là như vậy. Các chúng Bồ-tát nhiều như cát sông Hằng, 
chưa có ai chẳng phát tâm đại Bồ-đề mà chánh tín xuất gia được cả. 
Như điều đã nói tức là không nên mê say dục lạc.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát không sinh vào dòng dõi hạ tiện thấp kém?
Đáp: Dòng dõi thấp kém thì quen thói lười biếng khinh nhờn. 
Trong khi Bồ-tát luôn luôn lìa bỏ sự lười nhác khinh mạn, mà gần gũi tu 
tập các pháp thiện và làm việc bố thí. Thế nên Bồ-tát quyết định phải 
sinh vào dòng dõi cao quý. Nếu Bồ-tát sinh ra từ dòng dõi thấp kém thì 
sẽ bị chống báng chê bai.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát không sinh từ dòng dõi nghèo hèn?
Đáp: Dòng dõi nghèo hèn thì thường quen thói tham lam keo kiệt 
hối tiếc. Trong khi Bồ-tát luôn luôn xa lìa tật xấu tham lam keo kiệt 
luyến tiếc mà gần gũi tu tập, rộng làm hạnh bố thí, không hề luyến tiếc 
keo kiệt. Thế nên Bồ-tát nhất quyết phải sinh trong dòng dõi giàu sang. 
Tức là Bồ-tát có đủ các thứ sắc-thanh-hương-vị-xúc mà không phải trải 
qua gian khổ. Mình và người đều bình đẳng khi thọ dụng. Lại nếu Bồ-
tát sinh từ nhà nghèo thì sẽ bị khinh khi.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát không sinh vào chốn biên giới hẻo lánh và 
chốn nhiều giặc cướp quê mùa xấu xí?
Đáp: Nơi biên giới xa xôi hẻo lánh thì đối với các kiến thức hiểu 
biết và giới hạnh đều rất khó khăn khổ nhọc, không tương đồng với hạnh 

===== PAGE 24 =====
580 BỘ TỲ ĐÀM 1
Bồ-tát. Trong khi Bồ-tát luôn siêng năng tu tập các pháp thiện, nuôi lớn 
thành thục trong hiện tại, các quả báo tốt lành cao đẹp sẽ nhanh chóng 
hoàn thành. Thế nên Bồ-tát quyết định phải sinh vào chốn kinh thành 
trung tâm của đất nước. Ở đó giả sử có nhiều chúng sinh lợi căn thanh 
tịnh may gặp được Bồ-tát đại oai đức, song những người này cũng không 
thể phát khởi được các pháp thiện vô lậu thù thắng nhất được, đó là 
những pháp Bồ-đề đáo bỉ ngạn, Vô thượng Chánh đẳng, Bồ-đề Duyên 
giác, Bồ-đề Thanh văn, cùng các thiện căn thù thắng vi diệu.
Hỏi: Tại sao Bồ-tát không sinh vào thời kiếp sơ, ở thời tuổi thọ con 
người mới đầu là tám vạn năm.
Đáp: Người ở thời kiếp sơ thì căn tánh mềm yếu, việc làm của họ 
nhiều ngu si đần độn, thuộc loại chất phác thật thà nên không đồng tính 
chất với Bồ-tát. Bồ-tát Đại sĩ có oai đức to lớn, đã có một thời gian lâu 
dài siêng năng tu tập các pháp thiện và nuôi lớn thành thục. Giả như 
có chúng sinh căn tánh lanh lợi thanh tịnh gặp được Bồ-tát đại oai đức, 
song cũng không thể phát khởi các pháp thiện vô lậu được.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát lại không sinh vào lúc loài người có tuổi thọ tối 
đa là mười tuổi?
Đáp: Vì loài người khi tuổi thọ tối đa còn mười tuổi thì có rất nhiều 
tội ác, rất nhiều phiền não, nên không giống tính chất của Bồ-tát. Thế 
nên Bồ-tát có oai đức lớn, không sinh vào loài người có tuổi thọ mười 
tuổi.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát lại không sinh vào châu Tây Cù-đà-ni?
Đáp: Người thuộc châu Tây Cù-đà-ni có căn tánh và phẩm chất 
mềm yếu, việc làm nhiều ngu si đần độn, thuộc loại chất phác thật 
thà không giống tính chất của Bồ-tát. Trong khi Bồ-tát đại oai đức thì 
luôn siêng năng tu tập các pháp thiện, nuôi nấng pháp thiện thêm lớn 
và thành thục. Ngay trong hiện tại các quả báo tốt lành cao quý nhanh 
chóng hoàn thành. Thế nên quyết định ở trung tâm cõi nước lớn. Giả sử 
có chúng sinh căn tánh lanh lợi thanh tịnh gặp được Bồ-tát đại oai đức, 
song cũng không thể phát khởi được các pháp thiện vô lậu, như là các 
pháp Bồ-đề đáo bỉ ngạn, Bồ-đề Duyên giác, Chánh đẳng Chánh giác 
Vô thượng, Bồ-đề Thanh văn, và thiện căn vô lậu thù thắng khác.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát không sinh vào châu Đông Thắng thân?
Đáp: Cũng như ở châu Tây Cù-đà-ni, các việc cũng đã nói rộng.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát không hóa sinh vào châu Bắc Câu-lô?
Đáp: Vì người ở châu Bắc Câu-lô có căn tánh và phẩm chất mềm 
yếu, việc làm nhiều ngu độn, thuộc loại chất phác thực thà, thường đeo 

===== PAGE 25 =====
SỐ 1538 - LUẬN THI THIẾT - Quyển 3 581
đuổi các công việc gian khổ, không giống tính chất của Bồ-tát. Bồ-tát 
Đại sĩ có oai đức to lớn trong suốt thời gian dài luôn siêng năng tu tập 
các pháp thiện, nuôi dưỡng chúng được thành thục. Trong hiện tiền các 
quả báo tốt lành cao quý nhanh chóng kết thành. Thế nên Bồ-tát nhất 
quyết sinh tại trung tâm của một cõi nước lớn. Giả sử có chúng sinh 
lợi căn thông minh, thanh tịnh gặp được Bồ-tát đại oai đức, song cũng 
không thể đối với tất cả xứ sở mà phát khởi các thiện căn vô lậu thù 
thắng nhất.
Mà con người ở châu Bắc Câu-lô thì lại không chấp ngã sở.
Ở đây hỏi: Vì sao người châu Bắc Câu-lô lại không chấp ngã sở?
Đáp: Vì có số đông chúng sinh đối với nhiều cảnh giới rộng lớn, 
mà số cảnh giới nhận được đều rất thích ý, bình đẳng không khác nhau, 
nên không có ngã sở.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát lại không sinh vào các cõi trời thuộc Dục 
giới?
Đáp: Vì ở cõi trời thuộc Dục giới, các Thiên chúng ở đấy mê đắm 
cảnh giới, ưa thích phóng dật, không giống tính chất của Bồ-tát. Tuy có 
thể tu tập giữ gìn một phần nhỏ phạm hạnh nhưng không thể rộng vì bốn 
chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di mà diễn giảng rộng 
rãi về phạm hạnh, khiến các hàng trời, người đều đạt được nhiều lợi ích 
tốt đẹp. Do nhân duyên đó nên Bồ-tát không sinh vào các cõi trời thuộc 
Dục giới.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát lại không sinh vào các cõi trời thuộc Sắc giới?
Đáp: Ở các cõi trời thuộc Sắc giới, tuy chư Thiên có thể tu trì một 
phần phạm hạnh nhưng cũng không thể rộng rãi vì bốn chúng, tất cả 
đều diễn giảng riêng về các phạm hạnh khiến cho hàng trời, người được 
lợi ích tốt đẹp. Vả lại, Bồ-tát không thể ở tại các cõi trời thuộc Sắc giới 
mà chứng nhập Niết-bàn.
Ở đây hỏi: Vì sao nơi các cõi trời thuộc Sắc giới không nhập được 
Niết-bàn?
Đáp: Nghĩa là tướng vô sắc chính là thọ xứ, cho nên chỉ cần tác ý 
là đã chính thức nhập Niết-bàn.
Hỏi: Như các việc vừa nói thì đó là tâm bất thiện mà nhập, hay là 
tâm vô ký mà nhập?
Đáp: Nên biết ở đây nói là tâm vô ký mà nhập.
Hỏi: Vì sao chư Phật Thế Tôn ra đời giáo hóa chúng sinh, mà các 
chúng Thanh văn hiền sĩ lại nhập Niết-bàn trước, còn Phật thì nhập 
sau?

===== PAGE 26 =====
582 BỘ TỲ ĐÀM 1
Đáp: Vì các chúng Thanh văn suốt thời gian lâu dài không gián 
đoạn siêng năng tu tập các pháp thiện, nuôi lớn chúng thành thục, nên 
ngay trong hiện tiền, các quả báo tốt lành liền nhanh chóng thành tựu. 
Nếu như thấy Phật Thế Tôn nhập Niết-bàn trước, thì các chúng Thanh 
văn kia dù có bao nhiêu quả báo tốt đẹp cũng không thể hoàn thành 
trọn vẹn được. Vả lại, pháp là như vậy, như cát sông Hằng, chư Phật 
Thế Tôn có bao nhiêu, thì chúng Thanh văn hiền sĩ đều nhập Niết-bàn 
trước, còn chư Phật nhập sau. Như đã nói về việc nhập Niết-bàn, đó 
là chư Phật Thế Tôn đối với địa Bất động của đệ tứ thiền thì đã chứng 
nhập trong hiện tại rồi.
Ở đây cần hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn lại nhập Niết-bàn hay chỉ là 
khởi ý?
Đáp: Nếu có chỗ khởi thì sẽ không có chỗ nhập.
Hỏi: Vì sao Đức Như Lai Thế Tôn khi đã nhập Niết-bàn rồi, Thánh 
thể đã được hỏa thiêu mà đại y của Ngài vẫn còn nguyên vẹn như cũ, 
hoặc trong hay ngoài đều không hư hao chút nào?
Đáp: Đó là do oai lực của chư Thiên, nghĩa là vì chư Thiên đối với 
Phật Thế Tôn hết lòng tịnh tín, tin tưởng chí thành. Vả lại có hai thứ 
cấm không cho thiêu đốt, đó là nội thân và ngoại tài. Nên biết đây là do 
thần lực của Phật mà được thế.
------------------
- Phần thứ sáu: Nhân thi thiết trong Đối Pháp Đại Luận (Phần I)
Tụng nêu chung:
Hai duyên - Hai chúng kia xuất hiện,
Thanh văn và ba ngàn đại thiên,
Đại từ đại bi hai thứ tâm,
Chẳng nghĩ bàn, cùng pháp tùy thuận,
Việc làm khác nhau ở trong chúng,
Như voi chúa và việc địa ngục.
Hỏi: Vì sao Phật và Luân vương đều có đủ ba mươi hai tướng đại 
trượng phu, mà một vị gọi là Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác, còn 
vị kia thì gọi là Chuyển luân Thánh vương?
Đáp: Chuyển luân Thánh vương là do kiếp trước đã tu nhân tích 
đức làm phước rất nhiều, và trong suốt thời gian dài thường nghĩ: Ta nên 
rộng tu hạnh bố thí, gieo trồng các phước thiện cao quý, nuôi lớn tất cả 
chúng sinh, luôn giữ gìn giới hạnh được thanh tịnh. Cả thế gian ngu tối 
mê mờ không nơi nương nhờ, không ai cứu độ, Ta sẽ cứu độ tất cả.
Còn Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác là tùy theo các việc 

===== PAGE 27 =====
SỐ 1538 - LUẬN THI THIẾT - Quyển 3 583
làm, tất cả các pháp thiện, bố thí khắp cho tất cả chúng sinh ở thế gian, 
phát nguyện rộng lớn, và đúng như lời nguyện mà thực hiện. Bỏ nhà 
ra đi xuất gia, được chứng quả Chánh giác. Do nhân duyên đó mà cả 
Chuyển luân Thánh vương và Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng 
Giác đều có đầy đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu.
Hỏi: Vì sao Phật và bậc Duyên giác tuy cùng ở một thời nhưng lại 
không gặp nhau?
Đáp: Các chúng Duyên giác đã trong một thời gian lâu dài tu pháp 
Duyên giác, quả báo tốt lành cao quý đã hoàn thành nhanh chóng ngay 
trong hiện tại, không còn điều gì phải ước nguyện mong cầu, còn đối với 
pháp tối thượng (Đại thừa) thì không chịu thực hiện tu hành. Lại cũng 
không ưa thích gần gũi cung kính chiêm ngưỡng Đức Như Lai. Do nhân 
duyên đó mà Phật và Duyên giác không xuất hiện cùng một thời.
Hỏi: Vì sao trong một lúc không xuất hiện hai vị Chuyển luân 
Thánh vương?
Đáp: Chuyển luân Thánh vương do kiếp trước tu nhân tích đức, 
làm phước rất nhiều. Tức là trong suốt thời gian dài luôn siêng tu các 
pháp thiện. Cùng có một chiếc lọng vi diệu trùm khắp tất cả. Một vị 
Chuyển luân Thánh vương xuất hiện thì xem tất cả chúng sinh, có cảm 
tưởng như là một đứa con duy nhất. Một vị Luân vương xuất hiện thì 
cùng một cảnh giới, ai cũng tôn trọng cúng dường, tùy theo chỗ mà làm 
tất cả các nghiệp thiện, các ước nguyện và quả báo tốt đẹp đều hoàn 
thành nhanh chóng trong hiện tiền. Do nhân duyên đó mà hai vị Chuyển 
luân Thánh vương không thể đồng thời xuất hiện.
Hỏi: Vì sao hai Đức Phật Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác 
không cùng thời xuất hiện?
Đáp: Bồ-tát ở nhiều kiếp trước đã tu nhân tích đức, làm phước rất 
nhiều. Nghĩa là trong suốt thời gian dài chỉ có một thầy dạy duy nhất, 
chỉ có một loại tu tập duy nhất mà hành các pháp thiện, tùy theo chỗ 
thực hiện làm việc nhưng cùng một giải thoát, chỉ có một bậc đáng tôn 
quý duy nhất, chỉ có một bậc đại trí duy nhất tạo các nghiệp thiện, luôn 
nuôi lớn chúng cho đến thành thục. Trong cùng một lúc, không có hai 
quả báo cùng hiện tiền khởi lên. Vậy nghĩa là sao? Vì hai cái khó mà 
cùng lúc xảy ra. Vì lý do đó mà trong một thời, không có hai Đức Phật 
Như Lai cùng ra đời.
Hỏi: Vì sao người phụ nữ không thể làm Chuyển luân Thánh 
vương, không thể thành Đế thích hay Phạm vương, Ma vương, cũng 
không thể chứng được quả Bồ-đề Duyên giác hay chứng được quả Vô 

===== PAGE 28 =====
584 BỘ TỲ ĐÀM 1
thượng Chánh đẳng Bồ-đề?
Đáp: Vì người phụ nữ có sức thiện yếu kém, còn người nam thì 
sự tạo dựng các căn lực ham thích ưa muốn mạnh mẽ, do họ có tâm 
ưa thích làm thiện rất mạnh mẽ, trái lại người nữ thì không có thế lực 
mạnh, nên việc tạo nhân tốt cho nghiệp thiện đều là do người nam làm 
cả. Vả lại, người nữ thì không có lợi căn thông minh bằng và chỉ có 
người nam mới đủ sức có thể hoàn thành. Vả lại, sức lực tốt đẹp của 
người nam ngày càng phát triển mạnh hơn nên hay thu nhập được các 
căn nghiệp lợi ích cao quý. Do nguyên nhân đó mà người nữ không 
thể làm Chuyển luân Thánh vương, cũng không thể thành tựu được Đế 
thích, Phạm vương, Ma vương, cũng không thể chứng được quả Bồ-đề 
Duyên giác và cả quả Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.
Hỏi: Vì sao chư Phật Thế Tôn được đầy đủ trí vô biên, đầy đủ tuệ 
vô biên và đầy đủ biện tài vô biên?
Đáp: Vì Bồ-tát suốt thời gian dài đối với ba thứ tuệ đó luôn gần 
gũi tu tập, rộng làm các hạnh bố thí. Nghĩa là đối với ba tuệ Văn- Tư- 
Tu đã thành tựu lại càng siêng năng cố gắng mạnh mẽ bồi đắp. Do nhân 
duyên đó mà chư Phật Thế Tôn có đầy đủ vô biên trí tuệ, vô biên biện 
tài.
Hỏi: Vì sao chư Phật Thế Tôn có thể phát ra tiếng nói nhiệm mầu 
thanh tịnh khiến cho khắp tam thiên đại thiên thế giới đều nghe thấy và 
đều thấu hiểu?
Đáp: Vì chư Phật Thế Tôn thành đạo chưa được bao lâu thì lại trụ 
vào cõi Phạm thanh tịnh, nên khiến cho tất cả những ai thường gần gũi 
nghe được thì liền giải thoát.
Tụng nói:
An trụ chánh giác của chư Phật,
Phát sinh tinh tấn cầu xuất ly,
Phá tan sinh tử sức đại quân,
Khác nào voi mạnh phá nhà cỏ.
Nay chánh pháp luật thanh tịnh này,
Tâm không buông lung, làm điều thiện,
Liền đoạn dứt được vòng sinh tử,
Hết tất cả khổ đến ngọn nguồn.
Với lời kệ như thế, tất cả chúng sinh khắp mọi thế giới đều được 
nghe thấy, thấu hiểu rõ ràng. Đấy chính là tiếng nói mầu nhiệm thanh 
tịnh của Như Lai, vang vọng khắp ba ngàn đại thiên thế giới đều nghe 
thấy.

===== PAGE 29 =====
SỐ 1538 - LUẬN THI THIẾT - Quyển 4 585
LUẬN THI THIẾT