VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Phẩm Loại Túc Luận Quyển 2 →

A-tỳ-đạt-ma Phẩm Loại Túc Luận · Quyển 1

阿毘達磨品類足論 · T1542

Hán văn

尊者世友造
三藏法師玄奘奉 詔譯
1 辯五事品
辯五事品第一
有五法:一、色;二、心;三、心所法;四、心不相應
行;五、無為。色云何?謂諸所有色,一切四大
種及四大種所造色。四大種者,謂地界、水界、
火界、風界。所造色者,謂眼根、耳根、鼻根、舌根、
身根、色、聲、香、味、所觸一分及無表色。心云何?
謂心意識。此復云何?謂六識身,即眼識、耳識、
鼻識、舌識、身識、意識。心所法云何?謂若法心

相應。此復云何?謂受、想、思、觸、作意、欲、勝解、念、
定、慧、信、勤、尋、伺、放逸、不放逸、善根、不善根、無記
根,一切結、縛、隨眠、隨煩惱、纏,諸所有智,諸所
有見,諸所有現觀。復有所餘如是類法與心
相應,總名心所法。心不相應行云何?謂若法
心不相應。此復云何?謂得、無想定、滅定、無想
事、命根、眾同分、依得、事得、處得、生、老、住、無常
性、名身、句身、文身,復有所餘如是類法與心
不相應,總名心不相應行。無為云何?謂三無
為:一、虛空;二、非擇滅;三、擇滅。
地界云何?謂堅性。水界云何?謂濕性。火界云
何?謂煖性。風界云何?謂輕等動性。眼根云
何?謂眼識所依淨色。耳根云何?謂耳識所依
淨色。鼻根云何?謂鼻識所依淨色。舌根云
何?謂舌識所依淨色。身根云何?謂身識所依
淨色。色云何?謂諸所有色,若好顯色、若惡顯
色、若二中間,似顯處色。如是諸色二識所識,
謂眼識及意識。此中一類眼識先識,眼識受
已意識隨識。聲云何?此有二,謂有執受大種
為因聲,及無執受大種為因聲。如是諸聲二
識所識,謂耳識及意識。此中一類耳識先識,
耳識受已意識隨識。香云何?謂諸所有香,若
好香、若惡香、若平等香,鼻所嗅。如是諸香二
識所識,謂鼻識及意識。此中一類鼻識先識,
鼻識受已意識隨識。味云何?謂諸所有味,若
可意、若不可意、若順捨處,舌所嘗。如是諸味
二識所識,謂舌識及意識。此中一類舌識先
識,舌識受已意識隨識。所觸一分云何?謂滑
性、澁性、輕性、重性、冷飢渴性,身所觸。如是諸

觸及四大種,二識所識,謂身識及意識。此中
一類身識先識,身識受已意識隨識。無表色
云何?謂法處所攝色。此及五色根,於一切時
一識所識,謂意識。
眼識云何?謂依眼根各了別色。耳識云何?謂
依耳根各了別聲。鼻識云何?謂依鼻根各了
別香。舌識云何?謂依舌根各了別味。身識云
何?謂依身根各了別所觸。意識云何?謂依意
根了別諸法。
受云何?謂領納性。此有三種,謂樂受、苦受、不
苦不樂受。想云何?謂取像性。此有三種,謂
小想、大想、無量想。思云何?謂心造作性,即是
意業。此有三種,謂善思、不善思、無記思。觸云
何?謂三和合性。此有三種,謂順樂受觸、順苦
受觸、順不苦不樂受觸。作意云何?謂心警覺
性。此有三種,謂學作意、無學作意、非學非無
學作意。欲云何?謂樂作性。勝解云何?謂心正
勝解、已勝解、當勝解性。念云何?謂心明記性。
定云何?謂心一境性。慧云何?謂心擇法性。信
云何?謂心澄淨性。勤云何?謂心勇悍性。尋云
何?謂心麁動性。伺云何?謂心細動性。放逸云
何?謂不修善法性。不放逸云何?謂修善法性。
善根云何?謂三善根,即無貪善根、無瞋善根、
無癡善根。不善根云何?謂三不善根,即貪不
善根、瞋不善根、癡不善根。無記根云何?謂四
無記根,即無記愛、無記見、無記慢、無記無明。
結有九種,謂愛結、恚結、慢結、無明結、見結、取
結、疑結、嫉結、慳結。愛結云何?謂三界貪。恚結
云何?謂於有情能為損害。慢結云何?謂七慢

類,即慢、過慢、慢過慢、我慢、增上慢、卑慢、邪慢。
慢者,於劣謂己勝、或於等謂己等,由此正慢
已慢當慢,心高舉、心恃篾。過慢者,於等謂
己勝、或於勝謂己等,由此正慢已慢當慢,心
高舉、心恃篾。慢過慢者,於勝謂己勝,由此
正慢已慢當慢,心高舉、心恃篾。我慢者,於
五取蘊等隨觀執我或我所,由此正慢已
慢當慢,心高舉、心恃篾。增上慢者,於所未
得上勝證法謂我已得、於所未至上勝證
法謂我已至、於所未觸上勝證法謂我已觸、
於所未證上勝證法謂我已證,由此正慢已
慢當慢,心高舉、心恃篾。卑慢者,於他多勝
謂自少劣,由此正慢已慢當慢,心高舉、心恃
篾。邪慢者,於實無德謂我有德,由此正慢
已慢當慢,心高舉、心恃篾。無明結云何?謂
三界無智。見結云何?謂三見,即有身見、邊執
見、邪見。有身見者,於五取蘊等隨觀執我或
我所,由此起忍樂慧觀見。邊執見者,於五取
蘊等隨觀執或斷或常,由此起忍樂慧觀見。
邪見者,謗因謗果、或謗作用、或壞實事,由此
起忍樂慧觀見。取結云何?謂二取,即見取、戒
禁取。見取者,於五取蘊等隨觀執為最為勝、
為上為極,由此起忍樂慧觀見。戒禁取者,於
五取蘊等隨觀執為能清淨、為能解脫、為能
出離,由此起忍樂慧觀見。疑結云何?謂於諦
猶豫。嫉結云何?謂心妬忌。慳結云何?謂心鄙
悋。縛云何?謂諸結亦名縛。復有三縛,謂貪縛、
瞋縛、癡縛。隨眠有七種,謂欲貪隨眠、瞋隨眠、
有貪隨眠、慢隨眠、無明隨眠、見隨眠、疑隨

眠。欲貪隨眠有五種,謂欲界繫見苦集滅道、
修所斷貪。瞋隨眠有五種,謂見苦集滅道、修
所斷瞋。有貪隨眠有十種,謂色界繫五,無色
界繫五。色界繫五者,謂色界繫見苦集滅道、
修所斷貪。無色界繫五亦爾。慢隨眠有十五
種,謂欲界繫五,色界繫五,無色界繫五。欲界
繫五者,謂欲界繫見苦集滅道、修所斷慢。色
無色界繫各五亦爾。無明隨眠有十五種,謂
欲界繫五,色界繫五,無色界繫五。欲界繫五
者,謂欲界繫見苦集滅道、修所斷無明。色無
色界繫各五亦爾。見隨眠有三十六種,謂欲
界繫十二,色界繫十二,無色界繫十二。欲界
繫十二者,謂欲界繫有身見、邊執見,見苦道
所斷邪見、見取、戒禁取,見集滅所斷邪見、見
取。色無色界繫各十二亦爾。疑隨眠有十二
種,謂欲界繫四,色界繫四,無色界繫四。欲界
繫四者,謂欲界繫見苦集滅道所斷疑。色無
色界繫各四亦爾。隨煩惱云何?謂諸隨眠亦
名隨煩惱。有隨煩惱不名隨眠,謂除隨眠諸
餘染污行蘊心所。纏有八種,謂惛沈、掉舉、睡
眠、惡作、嫉、慳、無慚、無愧。
諸所有智者,有十智,謂法智、類智、他心智、世
俗智、苦智、集智、滅智、道智、盡智、無生智。法智
云何?謂緣欲界繫諸行諸行因諸行滅諸行
能斷道諸無漏智。復有緣法智及法智地諸
無漏智亦名法智。類智云何?謂緣色無色界
繫諸行諸行因諸行滅諸行能斷道諸無漏
智。復有緣類智及類智地諸無漏智亦名類
智。他心智云何?謂若智修所成,是修果依

止,修已得不失智,欲色界繫和合現前他
心心所及一分無漏他心心所,皆名他心智。
世俗智云何?謂諸有漏慧。苦智云何?謂於五
取蘊思惟非常、苦、空、非我所起無漏智。集智
云何?謂於有漏因思惟因、集、生、緣所起無漏
智。滅智云何?謂於擇滅思惟滅、靜、妙、離所起
無漏智。道智云何?謂於聖道思惟道、如、行、出
所起無漏智。盡智云何?謂自遍知,我已知苦、
我已斷集、我已證滅、我已修道,由此而起智
見明覺、解慧光觀,皆名盡智。無生智云何?謂
自遍知,我已知苦不復當知、我已斷集不復
當斷、我已證滅不復當證、我已修道不復當
修,由此而起智見明覺、解慧光觀,皆名無生
智。諸所有見者,且諸智亦名見。有見非智,謂
八現觀邊忍。一苦法智忍;二苦類智忍;三集
法智忍;四集類智忍;五滅法智忍;六滅類智
忍;七道法智忍;八道類智忍。諸所有現觀者,
若智若見俱名現觀。
得云何?謂得諸法。無想定云何?謂已離遍淨
染、未離上染,出離想作意,為先心心所滅。滅
定云何?謂已離無所有處染,止息想作意,為
先心心所滅。無想事云何?謂生無想有情天
中心心所滅。命根云何?謂三界壽。眾同分云
何?謂有情同類性。依得云何?謂得所依。處事
得云何?謂得諸蘊。處得云何?謂得內外處。生
云何?謂令諸蘊起。老云何?謂令諸蘊熟。住云
何?謂令已生諸行不壞。無常云何?謂令已生
諸行滅壞。名身云何?謂增語。句身云何?謂字
滿。文身云何?謂字眾。虛空云何?謂體空虛,

寬曠無礙,不障色行。非擇滅云何?謂滅非
離繫。擇滅云何?謂滅是離繫。
2 辯諸智品
品類足論辯諸智品第二之一
有十智,如前說。法智何所緣?謂緣欲界繫諸
行及一分無漏法。類智何所緣?謂緣色無色
界繫諸行及一分無漏法。他心智何所緣?謂
緣欲色界繫和合現前他心心所及一分無漏
他心心所。世俗智何所緣?謂緣一切法。苦
智何所緣?謂緣五取蘊。集智何所緣?謂緣有
漏因。滅智何所緣?謂緣擇滅。道智何所緣?謂
緣學無學法。盡智何所緣?謂緣一切有為法
及擇滅。無生智何所緣?謂緣一切有為法及
擇滅。何故法智緣欲界繫諸行及一分無漏
法?答:法智知欲界繫諸行諸行因諸行滅諸
行能斷道故。何故類智緣色無色界繫諸行
及一分無漏法?答:類智知色無色界繫諸行
諸行因諸行滅諸行能斷道故。何故他心智
緣欲色界繫和合現前他心心所及一分無漏
他心心所?答:他心智知欲色界繫和合現前
他心心所及一分無漏他心心所故。何故世
俗智緣一切法?答:世俗智知一切法,或如理
所引、或不如理所引、或非如理非不如理所
引故。何故苦智緣五取蘊?答:苦智知五取蘊
非常、苦、空、非我故。何故集智緣有漏因?答:
集智知有漏因因、集、生、緣故。何故滅智緣擇
滅?答:滅智知擇滅滅、靜、妙、離故。何故道智緣
學無學法?答:道智知學無學法道、如、行、出故。
何故盡智緣一切有為法及擇滅?答:盡智自
遍知,我已知苦、我已斷集、我已證滅、我已修道

故。何故無生智緣一切有為法及擇滅?答:
無生智自遍知,我已知苦不復當知、我已斷
集不復當斷、我已證滅不復當證、我已修道
不復當修故。
法智是幾智全、幾智少分?答:法智是法智全,
七智少分,謂他心智、苦智、集智、滅智、道智、盡
智、無生智。類智是幾智全、幾智少分?答:類智
是類智全,七智少分,謂他心智、苦智、集智、滅
智、道智、盡智、無生智。他心智是幾智全、幾智
少分?答:他心智是他心智全,四智少分,謂法
智、類智、世俗智、道智。世俗智是幾智全、幾智
少分?答:世俗智是世俗智全,一智少分,謂他
心智。苦智是幾智全、幾智少分?答:苦智是苦
智全,四智少分,謂法智、類智、盡智、無生智。集
智、滅智應知亦爾。道智是幾智全、幾智少分?
答:道智是道智全,五智少分,謂法智、類智、他
心智、盡智、無生智。盡智是幾智全、幾智少分?
答:盡智是盡智全,六智少分,謂法智、類智、苦
智、集智、滅智、道智。無生智亦爾。
何故法智是法智全?答:法智知欲界繫諸行
諸行因諸行滅諸行能斷道故。何故法智是
他心智少分?答:法智知欲界繫諸行能斷道
中他無漏心心所故。何故法智是苦智少分?
答:法智知欲界繫五取蘊非常、苦、空、非我故。
何故法智是集智少分?答:法智知欲界繫諸
行因因、集、生、緣故。何故法智是滅智少分?答:
法智知欲界繫諸行滅滅、靜、妙、離故。何故法
智是道智少分?答:法智知欲界繫諸行能斷
道道、如、行、出故。何故法智是盡智少分?答:法

智自遍知,我已知欲界繫諸行苦、我已斷欲
界繫諸行集、我已證欲界繫諸行滅、我已修
欲界繫諸行能斷道故。何故法智是無生智
少分?答:法智自遍知,我已知欲界繫諸行苦
不復當知、我已斷欲界繫諸行集不復當斷、
我已證欲界繫諸行滅不復當證、我已修欲
界繫諸行能斷道不復當修故。何故類智是
類智全?答:類智知色無色界繫諸行諸行因
諸行滅諸行能斷道故。何故類智是他心智少
分?答:類智知色無色界繫諸行能斷道中他
無漏心心所故。何故類智是苦智少分?答:類
智知色無色界繫五取蘊非常、苦、空、非我故。
何故類智是集智少分?答:類智知色無色界
繫諸行因因、集、生、緣故。何故類智是滅智少
分?答:類智知色無色界繫諸行滅滅、靜、妙、離
故。何故類智是道智少分?答:類智知色無色
界繫諸行能斷道道、如、行、出故。何故類智是
盡智少分?答:類智自遍知,我已知色無色界
繫諸行苦、我已斷色無色界繫諸行集、我
已證色無色界繫諸行滅、我已修色無色界
繫諸行能斷道故。何故類智是無生智少分?
答:類智自遍知,我已知色無色界繫諸行苦
不復當知、我已斷色無色界繫諸行集不復
當斷、我已證色無色界繫諸行滅不復當證、
我已修色無色界繫諸行能斷道不復當修
故。
何故他心智是他心智全?答:他心智知欲色
界繫和合現前他心心所及一分無漏他心
心所故。何故他心智是法智少分?答:他心智

知欲界繫諸行能斷道中他無漏心心所故。
何故他心智是類智少分?答:他心智知色無
色界繫諸行能斷道中他無漏心心所故。何
故他心智是世俗智少分?答:他心智知他有
漏心心所故。何故他心智是道智少分?答:他
心智知聖道中他無漏心心所故。
何故世俗智是世俗智全?答:世俗智知一切
法,或如理所引、或不如理所引、或非如理非
不如理所引故。何故世俗智是他心智少分?
答:世俗智知他有漏心心所故。
何故苦智是苦智全?答:苦智知五取蘊非常、
苦、空、非我故。何故苦智是法智少分?答:苦智
知欲界繫五取蘊非常、苦、空、非我故。何故苦
智是類智少分?答:苦智知色無色界繫五取
蘊非常、苦、空、非我故。何故苦智是盡智少分?
答:苦智自遍知我已知苦故。何故苦智是無
生智少分?答:苦智自遍知我已知苦不復當
知故。
何故集智是集智全?答:集智知有漏因因、集、
生、緣故。何故集智是法智少分?答:集智知欲
界繫諸行因因、集、生、緣故。何故集智是類智
少分?答集智知色無色界繫諸行因因、集、生、
緣故。何故集智是盡智少分?答:集智自遍知
我已斷集故。何故集智是無生智少分?答:集
智自遍知我已斷集不復當斷故。
何故滅智是滅智全?答:滅智知擇滅滅、靜、妙、
離故。何故滅智是法智少分?答:滅智知欲界
繫諸行滅滅、靜、妙、離故。何故滅智是類智少
分?答:滅智知色無色界諸行滅滅、靜、妙、離故。

何故滅智是盡智少分?答:滅智自遍知我已
證滅故。何故滅智是無生智少分?答:滅智自
遍知我已證滅不復當證故。

Việt dịch

QUYỂN 1
Phẩm 1: BIỆN VỀ NĂM SỰ
Có năm pháp:
1. Sắc.
2. Tâm.
3. Tâm sở pháp.
4. Tâm bất tương ưng hành. 
5. Vô vi.
Hỏi: Sắc là gì?
Đáp: Là các sắc hiện có nơi tất cả bốn đại chủng và sắc mà bốn 
đại chủng tạo ra.
Bốn đại chủng là: Địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.
Sắc được tạo là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, sắc, 
thanh, hương, vị, một phần đối tượng được tiếp xúc và vô biểu sắc.
Hỏi: Tâm là gì?
Đáp: Là tâm - ý - thức. Đây lại hiện bày ra sao? Đó là sáu thức 
thân, tức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.
Hỏi: Tâm sở pháp là gì?

===== PAGE 4 =====
244 BỘ TỲ ĐÀM 2
Đáp: Là như tâm và pháp tương ưng. Đây lại hiện bày ra sao? Đó 
là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, dục, thắng giải, niệm, định, tuệ, tín, cần, 
tầm, tứ, phóng dật, bất phóng dật, căn thiện, căn bất thiện, căn vô ký. 
Tất cả kiết ràng buộc, tùy miên, tùy phiền não ràng buộc. Mọi trí, mọi 
kiến hiện có, các hiện quán hiện có và mọi loại pháp như thế tương ưng 
với tâm, gọi chung là tâm sở pháp.
Hỏi: Tâm bất tương ưng hành là gì?
Đáp: Là những pháp không tương ưng với tâm.
Nó gồm những gì? Là đắc, định vô tưởng, định diệt, vô tưởng sự, 
mạng căn, chúng đồng phần, y đắc, sự đắc, xứ đắc, sinh, lão, trụ, vô 
thường, tánh, danh thân, cú thân, văn thân và các pháp cùng loại như 
thế không tương ưng với tâm, gọi chung là tâm bất tương ưng hành.
Hỏi: Vô vi là gì?
Đáp: Là ba thứ vô vi:
1. Hư không.
2. Phi trạch diệt.
3. Trạch diệt.
Địa giới là gì? Là tính chất cứng.
Thủy giới là tính chất thấm ướt.
Hỏa giới là tính chất ấm.
Phong giới là tính chất lay động như nhẹ nhàng v.v...
Nhãn căn: Tịnh sắc nơi nhãn thức nương dựa.
Nhĩ căn: Tịnh sắc nơi nhĩ thức nương dựa.
Tỷ căn: Tịnh sắc nơi tỷ thức nương dựa.
Thiệt căn: Tịnh sắc nơi thiệt thức nương dựa.
Thân căn: Tịnh sắc nơi thân thức nương dựa.
Sắc là gì? Là các sắc hiện có. Hoặc sắc hiện rõ đẹp. Hoặc sắc hiện 
rõ xấu, hoặc trung gian giữa hai thứ trên. Tức là tương tự với sắc ở nơi 
hiện rõ.
Các sắc như thế là đối tượng được nhận biết của hai thức, là nhãn 
thức và ý thức.
Ở đây, một loại nhãn thức nhận biết trước, tức là nhãn thức cảm 
nhận xong, ý thức mới nhận biết theo sau.
Thanh là gì? Là tiếng, tiếng này có hai: Nghĩa là tiếng có chấp 
nhận đại chủng làm nhân và tiếng không chấp nhận đại chủng làm 
nhân.
Các thứ tiếng như thế là đối tượng được nhận biết của hai thức, là 
nhĩ thức và ý thức.

===== PAGE 5 =====
SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 1 245
Ở đây, một loại nhĩ thức biết trước, là nhĩ thức cảm nhận xong, ý 
thức mới nhận biết theo.
Hương là gì? Là các mùi hiện có, hoặc mùi thơm - mùi thối, hoặc 
mùi trung bình mà mũi ngửi.
Các mùi hương như thế là đối tượng được nhận biết của hai thức, 
là tỷ thức và ý thức.
Ở đây, một loại tỷ thức biết trước, là tỷ thức cảm nhận xong, ý 
thức mới nhận biết theo sau.
Vị là gì? Là mọi thứ vị hiện có, hoặc vừa ý hay không vừa ý, hoặc 
ở nơi thuận bỏ mà lưỡi nếm. 
Các vị như thế là đối tượng được nhận biết của hai thức, là thiệt 
thức và ý thức.
Ở đây một loại thiệt thức biết trước, là thiệt thức cảm nhận rồi, ý 
thức mới nhận biết theo sau.
Một phần được tiếp xúc là gì? Là các tính chất trơn, nhám, nhẹ, 
nặng, lạnh, đói, khát, là đối tượng được thân tiếp xúc. Các xúc và bốn 
đại chủng như thế là đối tượng được nhận biết của hai thức, là thân thức 
và ý thức. Ở đây một loại thân thức biết trước, là thân thức cảm thọ rồi, 
ý thức mới nhận biết theo.
Vô biểu sắc là gì? Là sắc mà lãnh vực pháp tiếp nhận. Sắc này và 
năm sắc căn là đối tượng được nhận biết của một thức là ý thức, bất cứ 
khi nào.
Nhãn thức là gì? Là nương vào nhãn căn mà nó phân biệt rõ mọi 
sắc.
Nhĩ thức là gì? Là nương vào nhĩ căn mà nó phân biệt rõ mọi 
tiếng.
Tỷ thức là gì? Là nương vào tỷ căn mà nó phân biệt rõ mùi 
hương.
Thiệt thức là gì? Là nương vào thiệt căn mà nó phân biệt rõ vị.
Thân thức là gì? Là nương vào thân căn mà nó phân biệt rõ đối 
tượng được tiếp xúc.
Ý thức là gì? Là nương vào ý căn mà phân biệt rõ các pháp.
Thọ là gì? Là tính chất nhận lãnh. Thọ này có ba thứ là cảm nhận 
vui, cảm nhận khổ và cảm nhận không khổ không vui.
Tưởng là gì? Là nhận lấy tính chất của hình tượng. Tưởng này có 
ba thứ là tưởng nhỏ, tưởng lớn, tưởng vô lượng.
Tư là gì? Là tính chất của tâm tạo tác, tức là ý nghiệp. Tư này có 
ba thứ là nghĩ thiện, nghĩ bất thiện và nghĩ vô ký.

===== PAGE 6 =====
246 BỘ TỲ ĐÀM 2
Xúc là gì? Là tính chất hòa hợp của ba thứ. Sự tiếp xúc này có ba 
loại là sự tiếp xúc cảm nhận thuận với vui, sự tiếp xúc cảm nhận thuận 
với khổ, và sự tiếp xúc cảm nhận thuận với không khổ không vui.
Tác ý là gì? Là tính chất tỉnh thức, nhận biết của tâm. Sự tác ý này 
có ba thứ là tác ý học, tác ý vô học và tác ý không phải học không phải 
vô học.
Dục là gì? Là tánh ưa tạo tác.
Thắng giải là gì? Là tính chất biết chắc, đúng của tâm đã hiểu rõ 
- sẽ hiểu rõ.
Niệm là gì? Là tính chất ghi nhớ sáng tỏ của tâm.
Định là gì? Là tánh của tâm chuyên nhất nơi cảnh.
Tuệ là gì? Là tính chất lựa chọn pháp của tâm.
Tín là gì? Là tánh lặng sạch của tâm.
Cần là gì? Là tính chất dũng mãnh của tâm.
Tầm là gì? Là tánh dao động thô tháo của tâm.
Tứ là gì? Là tính chất dao động vi tế của tâm.
Phóng dật là gì? Là tính chất không tu tập pháp thiện.
Không phóng dật là gì? Là tính chất tu tập pháp thiện.
Căn thiện là gì? Là ba căn thiện, tức là căn thiện không tham, căn 
thiện không giận, căn thiện không si.
Căn bất thiện là gì? Là ba căn bất thiện, tức là căn bất thiện tham, 
căn bất thiện sân, căn bất thiện si.
Căn vô ký là gì? Là bốn căn vô ký, tức là ái vô ký, kiến vô ký, 
mạn vô ký, vô minh vô ký.
Kiết có chín thứ: Kiết ái, kiết sân hận, kiết mạn, kiết vô minh, kiết 
kiến, kiết thủ, kiết nghi, kiết tật (ganh ghét), kiết xan (keo kiệt).
Kiết ái: Tham ba cõi.
Kiết sân hận: Có khả năng làm tổn hại mọi hữu tình.
Kiết mạn là bảy thứ mạn, tức là mạn, quá mạn, mạn quá mạn, ngã 
mạn, tăng thượng mạn, ty mạn, tà mạn.
Mạn là đối với kém, cho là mình hơn, hoặc đối với sự ngang bằng 
cho là mình ngang bằng. Do chính sự kiêu mạn này, đã kiêu mạn - sẽ 
kiêu mạn, với tâm niệm tự đề cao, tâm miệt thị người khác.
Quá mạn là đối với sự ngang bằng cho rằng mình cao hơn, hoặc 
đối với người hơn mình thì cho là mình ngang bằng họ. Do chính kiêu 
mạn này, đã kiêu mạn - sẽ kiêu mạn, với tâm tự đề cao, tâm miệt thị 
người khác.
Mạn quá mạn là với người hơn mình, cho rằng mình hơn họ. Do 

===== PAGE 7 =====
SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 1 247
đó, đang kiêu mạn - đã kiêu mạn - sẽ kiêu mạn, với tâm tự đề cao, tâm 
miệt thị người khác.
Ngã mạn là đối với năm thủ uẩn v.v... tùy thuận quán sát chấp ngã 
hoặc sở hữu của ngã. Do chính ngã mạn này, nên đã ngã mạn - sẽ ngã 
mạn, với tâm tự đề cao, tâm miệt thị người khác.
Tăng thượng mạn là đối với điều chưa đạt được pháp thắng thượng, 
cho là ta đã đạt được. Mình chưa đạt đến chỗ chứng ngộ pháp thắng 
thượng mà cho là đã đạt đến. Chưa tiếp xúc với pháp chứng ngộ thắng 
thượng mà cho là đã tiếp xúc, mình chưa chứng ngộ mà cho là đã chứng 
ngộ. Do chính mạn này nên đã ngã mạn - sẽ ngã mạn, với tâm tự đề 
cao, tâm miệt thị người khác.
Ty mạn là đối với người khác hơn mình rất nhiều, thì cho rằng 
mình chỉ kém họ chút ít. Do chính sự ngã mạn này, nên đã ngã mạn - sẽ 
ngã mạn, với tâm tự đề cao, tâm miệt thị người khác.
Tà mạn là thật sự mình không có đức mà cho là có đức. Do chính 
sự ngã mạn này, nên đã ngã mạn - sẽ ngã mạn, với tâm tự đề cao, tâm 
miệt thị người khác.
Kiết vô minh là gì? Là không có trí hiểu biết về ba cõi.
Kiết kiến là gì? Là ba thứ kiến chấp, tức là có thân kiến, biên chấp 
kiến, tà kiến.
Có thân kiến là đối với năm thủ uẩn v.v... tùy theo đấy quán sát 
chấp ngã, hoặc sở hữu của ngã. Do sự chấp ngã này mà khởi sự nhẫn, 
ưa chấp nơi tuệ quán sát.
Biên chấp kiến là đối với năm thủ uẩn v.v... tùy theo đấy quán sát 
chấp, hoặc đoạn, hoặc thường. Do sự chấp này, mà khởi hiện nhẫn, ưa 
chấp nơi tuệ quán sát.
Tà kiến là hủy báng nhân - quả, hoặc chê bai tác dụng, hoặc làm 
hoại sự thật. Do tà kiến này, mà khởi sự nhẫn, ưa chấp nơi tuệ quán 
sát.
Kiết thủ là thế nào? Là hai thủ, tức là kiến thủ và giới cấm thủ.
Kiến thủ là đối với năm thủ uẩn v.v... tùy theo đấy quán sát chấp 
cho là hơn hết, là tột bậc. Do kiến chấp này mà khởi sự nhẫn, ưa chấp 
nơi tuệ quán sát.
Giới cấm thủ là với năm thủ uẩn v.v... tùy theo đấy quán sát, cho 
là mình có khả năng thanh tịnh, có khả năng giải thoát, có khả năng 
xuất ly. Do quan niệm này, mà khởi sự nhẫn, ưa chấp nơi tuệ quán sát.
Kiết nghi là đối với chân lý còn do dự.
Kiết tật là tâm đố kỵ.

===== PAGE 8 =====
248 BỘ TỲ ĐÀM 2
Kiết xan là tâm bỏn sẻn, keo kiệt.
Phược: Các kiết cũng gọi là phược(trói buộc). Lại có ba thứ trói 
buộc là trói buộc của tham, trói buộc của sân, trói buộc của si.
Tùy miên: Có bảy thứ, nghĩa là tùy miên dục tham, tùy miên giận, 
tùy miên có tham, tùy miên mạn, tùy miên vô minh, tùy miên kiến, tùy 
miên nghi.
Tùy miên dục tham có năm thứ, là thuộc cõi Dục nhận thấy khổ-
tập-diệt-đạo, do tu tập mà đoạn tham.
Tùy miên giận có năm thứ là nhận thấy khổ-tập-diệt-đạo, do tu 
tập mà đoạn giận.
Tùy miên có tham có mười thứ, tức là thuộc cõi Sắc có năm, thuộc 
cõi Vô sắc có năm.
Thuộc cõi Sắc có năm: Nghĩa là thuộc cõi Sắc nhận thấy khổ-tập-
diệt-đạo, do tu tập mà đoạn tham.
Thuộc cõi Vô sắc có năm cũng thế.
Tùy miên mạn có mười lăm thứ: Thuộc cõi Dục có năm, thuộc cõi 
Sắc có năm, thuộc cõi Vô sắc có năm.
Thuộc cõi Dục có năm: Thuộc cõi Dục thấy khổ-tập-diệt-đạo, do 
tu tập mà đoạn mạn
Thuộc cõi Sắc và Vô sắc đều có năm cũng thế.
Tùy miên vô minh có mười lăm thứ: Nghĩa là thuộc cõi Dục có 
năm, thuộc cõi Sắc có năm, thuộc cõi Vô sắc có năm.
Thuộc cõi Dục có năm: Thuộc cõi Dục thấy khổ-tập-diệt-đạo, do 
tu tập mà đoạn vô minh.
Thuộc cõi Sắc -Vô sắc đều có năm cũng thế.
Tùy miên kiến có ba mươi sáu thứ: Thuộc cõi Dục có mười hai, 
thuộc cõi Sắc có mười hai, thuộc cõi Vô sắc có mười hai.
Thuộc cõi Dục có mười hai: Thuộc cõi Dục có thân kiến, biên 
chấp kiến. Do nhận thấy khổ- đạo, mà đoạn tà kiến, kiến thủ, giới cấm 
thủ. Do nhận thấy tập-diệt, mà đoạn tà kiến, kiến thủ.
Thuộc cõi Sắc-Vô sắc, mỗi cõi đều có mười hai cũng thế.
Tùy miên nghi có mười hai thứ: Nghĩa là thuộc cõi Dục có bốn, 
thuộc cõi Sắc có bốn, thuộc cõi Vô sắc có bốn.
Thuộc cõi Dục có bốn: Thuộc cõi Dục, nhận thấy khổ-tập-diệt-
đạo, mà đoạn sự nghi ngờ.
Thuộc cõi Sắc -Vô sắc mỗi cõi đều có bốn cũng thế.
Tùy phiền não là thế nào? Là các tùy miên cũng gọi là tùy phiền 
não, nhưng có tùy phiền não không gọi là tùy miên, nghĩa là trừ các 

===== PAGE 9 =====
SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 1 249
nhiễm ô khác của tùy miên.
Sự ràng buộc của tâm sở nơi hành uẩn có tám thứ: Nghĩa là hôn 
trầm, trạo cử, thùy miên, ố tác (ăn năn), tật, xan, vô tàm, vô quý (hôn 
trầm, dao động, ngủ say, ăn năn, ganh ghét, keo kiệt, không hổ, không 
thẹn).
Các trí hiện có: Có mười trí là Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục 
trí-khổ trí-tập trí-diệt trí-đạo trí-tận trí-vô sinh trí.
Pháp trí là các trí vô lậu duyên các hành thuộc cõi Dục, các hành 
tạo nhân, các hành diệt, các hành có khả năng đoạn đạo.
Lại có các trí vô lậu duyên pháp trí và cảnh giới của pháp trí, cũng 
gọi là pháp trí.
Loại trí là các trí vô lậu duyên các hành thuộc cõi Sắc-Vô sắc, các 
hành tạo nhân, các hành diệt, các hành nơi đạo có khả năng đoạn.
Lại có các trí vô lậu duyên loại trí và cảnh giới của loại trí, cũng 
gọi là loại trí.
Tha tâm trí, là như trí do tu tập thành, là quả dựa vào sự tu tập, 
tu tập xong được trí không mất, thuộc cõi Dục và cõi Sắc hòa hợp hiện 
tiền. Tâm sở nơi tâm kẻ khác và một phần vô lậu nơi tâm-tâm sở của 
kẻ khác, đều gọi là tha tâm trí.
Thế tục trí là các tuệ hữu lậu.
Khổ trí là gì? Đối với năm thủ uẩn, trí này tư duy về vô thường-
khổ-không-vô ngã, mà khởi trí vô lậu.
Tập trí là gì? Là đối với nhân hữu lậu, tư duy nhân nơi sự tập hợp 
sinh duyên mà khởi trí vô lậu.
Diệt trí là gì? Là đối với trạch diệt tư duy về diệt-tĩnh-diệu-ly mà 
khởi trí vô lậu.
Đạo trí là gì? Là đối với Thánh đạo tư duy về đạo, như, hành, xuất 
mà khởi trí vô lậu.
Tận trí là tự nhận biết khắp: Ta đã biết khổ, ta đã đoạn tập, ta 
đã chứng diệt, ta đã tu đạo. Do đấy mà khởi quán về trí, thấy giác ngộ 
thông tỏ, lãnh hội tuệ sáng, đều gọi là tận trí.
Vô sinh trí là tự nhận biết khắp: Ta đã biết khổ, không còn biết 
khổ nữa. Ta đã đoạn tập, không còn đoạn tập nữa. Ta đã chứng diệt, 
không còn chứng diệt nữa. Ta đã tu đạo, không còn tu đạo nữa. Do đấy 
mà khởi quán về trí, thấy giác ngộ thông tỏ, lãnh hội tuệ sáng, đều gọi 
là vô sinh trí.
Các kiến hiện có: Lại như các trí cũng gọi là kiến, nhưng có kiến 
không phải trí.

===== PAGE 10 =====
250 BỘ TỲ ĐÀM 2
Có tám hiện quán về biên nhẫn:
1. Khổ pháp trí nhẫn.
2. Khổ loại trí nhẫn.
3. Tập pháp trí nhẫn.
4. Tập loại trí nhẫn.
5. Diệt pháp trí nhẫn.
6. Diệt loại trí nhẫn.
7. Đạo pháp trí nhẫn.
8. Đạo loại trí nhẫn.
Các hiện quán hiện có: Hoặc trí, hoặc kiến đều gọi là hiện quán.
Thế nào là đắc? Nghĩa là được các pháp.
Định vô tưởng là gì? Là đã lìa nhiễm ở cõi Biến tịnh, chưa lìa 
nhiễm ở cõi trên. Tác ý của tưởng xuất ly, vì trước là diệt tâm-tâm sở.
Định diệt là đã lìa nhiễm nơi Vô sở hữu xứ, tác ý chấm dứt tưởng, 
vì trước là diệt tâm-tâm sở.
Sự vô tưởng: Là tâm-tâm sở đã diệt trong cõi trời hữu tình, sinh 
vô tưởng.
Thế nào là mạng căn? Là thọ mạng trong ba cõi.
Thế nào là chúng đồng phần? Là hữu tình cùng tính chất.
Thế nào là y đắc? Là được chỗ nương dựa.
Xứ sự đắc là gì? Là được các uẩn.
Xứ đắc là gì? Là được lãnh vực trong ngoài.
Sinh là gì? Là khiến các uẩn khởi hiện.
Lão là gì? Là khiến các uẩn thuần thục (chín).
Trụ là gì? Là khiến các hành đã sinh không hoại.
Vô thường là gì? Là khiến các hành đã sinh, diệt hoại.
Danh thân là gì? Là tăng ngữ.
Cú thân là gì? Là chữ đầy đủ.
Văn thân là gì? Là sự gồm nhiều chữ.
Thế nào là hư không? Là thể hư không bao la, không ngăn ngại, 
không cản trở mọi hoạt động của sắc.
Thế nào là phi trạch diệt? Là diệt mọi sai trái, lìa trói buộc.
Thế nào là trạch diệt? Là diệt trừ, là lìa trói buộc.
----------------

===== PAGE 11 =====
SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 1 251
Phẩm 2: BIỆN LUẬN CÁC TRÍ, Phần 1
Có mười trí: Như trước đã nói.
Hỏi: Pháp trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên các hành và một phần pháp vô lậu thuộc cõi Dục.
Hỏi: Loại trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên các hành và một phần pháp vô lậu thuộc cõi cõi 
Sắc-Vô sắc.
Hỏi: Tha tâm trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên sự hòa hợp hiện tiền theo tâm-tâm sở của người 
khác ở cõi Dục - cõi Sắc, và một phần tâm-tâm sở vô lậu của người 
khác thuộc cõi Dục-Sắc.
Hỏi: Thế tục trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên tất cả pháp.
Hỏi: Khổ trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên năm thủ uẩn.
Hỏi: Tập trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên nhân hữu lậu.
Hỏi: Diệt trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên trạch diệt.
Hỏi: Đạo trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên pháp học - vô học.
Hỏi: Tận trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên tất cả pháp hữu vi và trạch diệt.
Hỏi: Vô sinh trí duyên cái gì?
Đáp: Là duyên tất cả pháp hữu vi và trạch diệt.
Hỏi: Vì sao pháp trí duyên các hành và một phần pháp vô lậu 
thuộc cõi Dục?
Đáp: Pháp trí nhận biết các hành thuộc cõi Dục, các hành tạo 
nhân, các hành diệt, và các hành nơi đạo có khả năng đoạn.
Hỏi: Vì sao loại trí duyên các hành và một phần pháp vô lậu thuộc 
cõi Sắc-Vô sắc?
Đáp: Vì loại trí duyên các hành thuộc cõi Sắc -Vô sắc, các hành 
tạo nhân, các hành diệt, các hành nơi đạo có khả năng đoạn.
Hỏi: Vì sao tha tâm trí duyên sự hòa hợp hiện tiền theo tâm sở 
của người khác ở cõi Dục - cõi Sắc và một phần tâm-tâm sở vô lậu của 
người khác ở cõi Dục-Sắc?
Đáp: Vì tha tâm trí nhận biết sự hòa hợp hiện tiền theo tâm-tâm 
sở của người khác và một phần tâm-tâm sở vô lậu của người khác thuộc 

===== PAGE 12 =====
252 BỘ TỲ ĐÀM 2
cõi Dục - cõi Sắc.
Hỏi: Vì sao thế tục trí duyên tất cả pháp?
Đáp: Thế tục trí biết tất cả pháp vì như lý đã dẫn phát, hoặc không 
như lý đã dẫn phát, hoặc không phải như lý, không phải không như lý 
đã dẫn phát.
Hỏi: Vì sao khổ trí duyên năm thủ uẩn? 
Đáp: Khổ trí nhận biết năm thủ uẩn là vô thường-khổ-không-vô 
ngã.
Hỏi: Vì sao tập trí duyên nhân hữu lậu?
Đáp: Tập trí nhận biết nhân hữu lậu từ đó phát sinh duyên.
Hỏi: Vì sao diệt trí duyên trạch diệt?
Đáp: Diệt trí nhận biết về trạch diệt, là diệt trừ, là tĩnh lặng, là sự 
xa lìa mầu nhiệm.
Hỏi: Vì sao đạo trí duyên pháp học - vô học?
Đáp: Đạo trí nhận biết pháp học - vô học là đạo như hành xuất 
ly.
Hỏi: Vì sao tận trí duyên tất cả pháp hữu vi và trạch diệt?
Đáp: Tận trí tự biết khắp: Ta đã biết khổ, ta đã đoạn tập, ta đã 
chứng diệt và ta đã tu đạo.
Hỏi: Vì sao vô sinh trí duyên tất cả pháp hữu vi và trạch diệt?
Đáp: Vô sinh trí tự biết khắp: Ta đã biết khổ, sẽ không còn biết 
nữa. Ta đã đoạn tập, không còn đoạn tập nữa. Ta đã chứng diệt, không 
còn chứng diệt nữa. Ta đã tu đạo, không còn tu đạo nữa.
Hỏi: Pháp trí có bao nhiêu trí toàn phần và trí phần ít?
Đáp: Pháp trí là pháp trí toàn phần và bảy trí phần ít là tha tâm 
trí-khổ trí-tập trí-diệt trí-đạo trí-tận trí-vô sinh trí.
Hỏi: Loại trí có bao nhiêu trí toàn phần và bao nhiêu trí phần ít?
Đáp: Loại trí là loại trí toàn phần và bảy trí phần ít, đó là tha tâm 
trí-khổ trí-tập trí-diệt trí-đạo trí-tận trí-vô sinh trí.
Hỏi: Tha tâm trí có bao nhiêu trí toàn phần và bao nhiêu trí phần 
ít?
Đáp: Tha tâm trí là tha tâm trí toàn phần và bốn trí phần ít, đó là 
pháp trí-loại trí-thế tục trí và đạo trí.
Hỏi: Thế tục trí có bao nhiêu trí toàn phần và bao nhiêu trí phần 
ít?
Đáp: Thế tục trí là thế tục trí toàn phần và một trí phần ít, đó là 
tha tâm trí.
Hỏi: Khổ trí có bao nhiêu trí toàn phần và bao nhiêu trí phần ít?

===== PAGE 13 =====
SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 1 253
Đáp: Khổ trí là khổ trí toàn phần và bốn trí phần ít, đó là pháp trí- 
loại trí - tận trí và vô sinh trí.
Tập trí, diệt trí nên biết cũng như thế.
Hỏi: Đạo trí có bao nhiêu trí toàn phần và bao nhiêu trí phần ít?
Đáp: Đạo trí là đạo trí toàn phần và năm trí phần ít, đó là pháp trí 
- loại trí - tha tâm trí - tận trí và vô sinh trí.
Hỏi: Tận trí có bao nhiêu trí toàn phần và bao nhiêu trí phần ít?
Đáp: Tận trí là tận trí toàn phần và sáu trí phần ít, đó là pháp trí 
- loại trí - khổ trí - tập trí - diệt trí - đạo trí.
Vô sinh trí cũng thế.
Hỏi: Vì sao pháp trí là pháp trí toàn phần?
Đáp: Pháp trí nhận biết các hành thuộc cõi Dục, các hành tạo 
nhân, các hành diệt, các hành có khả năng đoạn đạo.
Hỏi: Tại sao pháp trí là phần ít của tha tâm trí?
Đáp: Vì pháp trí nhận biết tâm-tâm sở vô lậu của kẻ khác trong 
các hành nơi đạo có khả năng đoạn thuộc cõi Dục.
Hỏi: Tại sao pháp trí là phần ít của khổ trí?
Đáp: Vì pháp trí nhận biết năm thủ uẩn thuộc cõi Dục là vô thường, 
là khổ, là không, là vô ngã.
Hỏi: Tại sao pháp trí là phần ít của tập trí?
Đáp: Vì pháp trí nhận biết nhân của các hành thuộc cõi Dục, là 
nhân tập sinh duyên.
Hỏi: Tại sao pháp trí là phần ít của diệt trí?
Đáp: Vì pháp trí nhận biết các hành diệt thuộc cõi Dục, là diệt-
tĩnh-diệu-ly.
Hỏi: Tại sao pháp trí là phần ít của đạo trí?
Đáp: Vì pháp trí biết phương pháp có khả năng đoạn các hành 
thuộc cõi Dục, là đạo - như - hành - xuất.
Hỏi: Tại sao pháp trí là phần ít của tận trí?
Đáp: Vì pháp trí tự biết khắp: Ta đã biết rõ các hành khổ ở cõi 
Dục. Ta đã dứt các hành tập ở cõi Dục. Ta đã chứng các hành diệt ở cõi 
Dục. Ta đã tu các hành đạo có thể đoạn trừ ở cõi Dục.
Hỏi: Vì sao pháp trí là phần ít của vô sinh trí?
Đáp: Vì pháp trí tự biết khắp tất cả: Ta biết rõ các hành khổ ở cõi 
Dục mà không phải biết nữa. Ta đã đoạn dứt các hành tập ở cõi Dục mà 
không phải đoạn nữa. Ta đã chứng các hành diệt ở cõi Dục mà không 
phải chứng nữa. Ta đã tu các hành đạo có thể đoạn trừ ở cõi Dục mà 
không phải tu nữa.

===== PAGE 14 =====
254 BỘ TỲ ĐÀM 2
Hỏi: Vì sao loại trí là loại trí toàn phần?
Đáp: Loại trí này biết rõ các hành thuộc cõi Sắc và Vô sắc, các 
hành tạo nhân, các hành diệt, các hành có khả năng đoạn đạo.
Hỏi: Vì sao loại trí là phần ít của tha tâm trí?
Đáp: Thuộc cõi Sắc và Vô sắc, loại trí này ở trong các hành nơi 
đạo có khả năng đoạn biết rõ tâm-tâm sở vô lậu của người khác.
Hỏi: Vì sao loại trí là phần ít của khổ trí?
Đáp: Thuộc cõi Sắc và Vô sắc, loại trí này biết rõ năm thủ uẩn là 
vô thường-khổ-không-vô ngã.
Hỏi: Vì sao loại trí là phần ít của tập trí?
Đáp: Thuộc cõi Sắc và Vô sắc, loại trí này biết rõ nhân của các 
hành là nhân - tập - sinh - duyên.
Hỏi: Vì sao loại trí là phần ít của diệt trí?
Đáp: Thuộc cõi Sắc và Vô sắc, loại trí này biết rõ các hành diệt, 
là diệt-tĩnh-diệu-ly.
Hỏi: Vì sao loại trí là phần ít của đạo trí?
Đáp: Thuộc cõi Sắc và Vô sắc, loại trí này biết rõ phương pháp có 
khả năng đoạn các hành là đạo, như, hành - xuất.
Hỏi: Vì sao loại trí là phần ít của tận trí?
Đáp: Vì loại trí này tự hiểu biết khắp: Ta thuộc cõi Sắc và Vô sắc, 
đã biết rõ các hành khổ. Ta đã đoạn các hành tập. Ta đã chứng các hành 
diệt và ta đã tu các hành đạo.
Hỏi: Vì sao loại trí là phần ít của vô sinh trí?
Đáp: Vì loại trí này tự hiểu biết khắp: Ta ở cõi Sắc và Vô sắc, đã 
biết các hành khổ mà không phải tìm biết nữa. Ta đã chứng các hành 
diệt mà không phải chứng nữa. Ta đã tu các hành đạo có thể đoạn trừ 
mà không phải tu nữa.
Hỏi: Vì sao tha tâm trí là tha tâm trí toàn phần?
Đáp: Ở cõi Dục và Sắc, tha tâm trí này nhận biết rõ sự hòa hợp 
ngay trong hiện tại về tâm tâm sở của người khác và phần tâm tâm sở 
vô lậu của người khác.
Hỏi: Vì sao tha tâm trí là phần ít của pháp trí?
Đáp: Thuộc cõi Dục, tha tâm trí này ở trong các hành có khả năng 
đoạn đạo biết rõ tâm và tâm sở vô lậu của người khác.
Hỏi: Vì sao tha tâm trí là phần ít của loại trí?
Đáp: Ở cõi Sắc -Vô sắc, tha tâm trí này nhận biết tâm-tâm sở vô 
lậu của người khác trong các hành nơi đạo có thể đoạn.
Hỏi: Vì sao tha tâm trí là phần ít của thế tục trí?

===== PAGE 15 =====
SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 1 255
Đáp: Vì tha tâm trí này nhận biết được tâm và tâm sở hữu lậu của 
người khác.
Hỏi: Vì sao tha tâm trí là phần ít của đạo trí?
Đáp: Vì ở trong Thánh đạo, tha tâm trí này biết rõ tâm và tâm sở 
vô lậu của người khác.
Hỏi: Vì sao thế tục trí là thế tục trí toàn phần?
Đáp: Vì thế tục trí biết rõ tất cả các pháp với các điều đã dẫn giải 
hoặc là đúng lý hoặc là không đúng lý, hoặc không phải đúng lý hay 
không phải không đúng lý.
Hỏi: Vì sao thế tục trí là phần ít của tha tâm trí?
Đáp: Vì thế tục trí biết rõ các tâm và tâm sở hữu lậu của người 
khác.
Hỏi: Vì sao khổ trí là khổ trí toàn phần?
Đáp: Vì khổ trí biết rõ năm thủ uẩn là vô thường - khổ - không 
- vô ngã.
Hỏi: Vì sao khổ trí là phần ít của pháp trí?
Đáp: Thuộc cõi Dục, khổ trí biết rõ năm thủ uẩn là vô thường - 
khổ - không - vô ngã.
Hỏi: Vì sao khổ trí là phần ít của loại trí?
Đáp: Thuộc cõi Sắc và Vô sắc, khổ trí này biết rõ năm thủ uẩn là 
vô thường - khổ - không - vô ngã.
Hỏi: Vì sao khổ trí là phần ít của tận trí?
Đáp: Vì khổ trí này tự nhận biết tất cả: Ta nhận biết các khổ.
Hỏi: Vì sao khổ trí là phần ít của vô sinh trí?
Đáp: Vì khổ trí này tự nhận biết khắp: Ta biết rõ các khổ mà 
không phải biết nữa.
Hỏi: Vì sao tập trí là tập trí toàn phần?
Đáp: Vì tập trí này biết rõ các nhân hữu lậu là nhân - tập - sinh 
- duyên.
Hỏi: Vì sao tập trí là phần ít của pháp trí?
Đáp: Vì tập trí nhận biết nhân của các hành thuộc cõi Dục là 
nhân- tập- sinh- duyên.
Hỏi: Vì sao tập trí là phần ít của loại trí?
Đáp: Ở cõi Sắc và Vô sắc, tập trí này hiểu rõ các hành nhân, là 
nhân - tập - sinh - duyên.
Hỏi: Vì sao tập trí là phần ít của tận trí?
Đáp: Vì trí này tự nhận biết khắp: Ta đã đoạn dứt các tập.
Hỏi: Vì sao tập trí là phần ít của vô sinh trí?

===== PAGE 16 =====
256 BỘ TỲ ĐÀM 2
Đáp: Vì tập trí này tự nhận biết khắp: Ta đã đoạn dứt các tập mà 
không phải đoạn trừ nữa.
Hỏi: Vì sao diệt trí là diệt trí toàn phần?
Đáp: Diệt trí này biết rõ trạch diệt là diệt-tĩnh-diệu-ly.
Hỏi: Vì sao diệt trí là phần ít của pháp trí?
Đáp: Trong cõi Dục, diệt trí này biết rõ các hành diệt là diệt-tĩnh-
diệu-ly.
Hỏi: Vì sao diệt trí là phần ít của loại trí?
Đáp: Ở cõi Sắc và Vô sắc, diệt trí này biết rõ các hành diệt là 
diệt-tĩnh-diệu-ly.
Hỏi: Vì sao diệt trí là phần ít của tận trí?
Đáp: Vì diệt trí này tự nhận biết khắp: Ta đã chứng được diệt.
Hỏi: Vì sao diệt trí là phần ít của vô sinh trí?
Đáp: Diệt trí tự nhận biết khắp: Ta đã chứng được diệt mà không 
phải chứng nữa.


===== PAGE 17 =====
SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 257
 
LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC