A-tỳ-đạt-ma Phẩm Loại Túc Luận · Quyển 2
阿毘達磨品類足論 · T1542
Hán văn
尊者世友造 三藏法師玄奘奉 詔譯 辯諸智品第二之餘 何故道智是道智全?答:道智知聖道道、如、行、 出故。何故道智是法智少分?答:道智知欲界 繫諸行能斷道道、如、行、出故。何故道智是類 智少分?答:道智知色無色界繫諸行能斷道 道、如、行、出故。何故道智是他心智少分?答:道 智知聖道中他無漏心心所故。何故道智是 盡智少分?答:道智自遍知我已修道故。何故 道智是無生智少分?答:道智自遍知我已修 道不復當修故。 何故盡智是盡智全?答:盡智自遍知,我已知 苦、我已斷集、我已證滅、我已修道故。何故盡 智是法智少分?答:盡智自遍知,我已知欲界 繫諸行苦、我已斷欲界繫諸行集、我已證欲 界繫諸行滅、我已修欲界繫諸行能斷道故。 何故盡智是類智少分?答:盡智自遍知,我已 知色無色界繫諸行苦、我已斷色無色界繫 諸行集、我已證色無色界繫諸行滅、我已修 色無色界繫諸行能斷道故。何故盡智是苦 智少分?答:盡智自遍知我已知苦故。何故盡 智是集智少分?答:盡智自遍知我已斷集故。 何故盡智是滅智少分?答:盡智自遍知我已 證滅故。何故盡智是道智少分?答:盡智自遍 知我已修道故。 何故無生智是無生智全?答:無生智自遍知, 我已知苦不復當知、我已斷集不復當斷、我 已證滅不復當證、我已修道不復當修故。 何故無生智是法智少分?答:無生智自遍知, 我已知欲界繫諸行苦不復當知、我已斷欲 界繫諸行集不復當斷、我已證欲界繫諸行 滅不復當證、我已修欲界繫諸行能斷道不 復當修故。何故無生智是類智少分?答:無生 智自遍知,我已知色無色界繫諸行苦不復 當知、我已斷色無色界繫諸行集不復當斷、 我已證色無色界繫諸行滅不復當證、我已 修色無色界繫諸行能斷道不復當修故。何 故無生智是苦智少分?答:無生智自遍知我 已知苦不復當知故。何故無生智是集智少 分?答:無生智自遍知我已斷集不復當斷故。 何故無生智是滅智少分?答:無生智自遍知 我已證滅不復當證故。何故無生智是道智 少分?答:無生智自遍知我已修道不復當修 故。 如是十智,幾有漏、幾無漏?答:一有漏,八無 漏,一應分別。謂他心智或有漏、或無漏。云何 有漏?謂知他有漏心心所法。云何無漏?謂知 他無漏心心所法。如是十智,幾有漏緣、幾無 漏緣?答:二有漏緣,二無漏緣,六應分別。謂法 智,或有漏緣、或無漏緣。云何有漏緣?謂緣苦 集。云何無漏緣?謂緣滅道。類智、盡智、無生智 亦爾。他心智,或有漏緣、或無漏緣。云何有漏 緣?謂知他有漏心心所法。云何無漏緣?謂知 他無漏心心所法。世俗智,或有漏緣、或無漏 緣。云何有漏緣?謂緣苦集。云何無漏緣?謂緣 滅道及虛空、非擇滅。如是十智,幾有為、幾無 為?答:一切是有為,非無為。如是十智,幾有為 緣、幾無為緣?答:四有為緣,一無為緣,五應分 別。謂法智,或有為緣、或無為緣。云何有為 緣?謂緣苦集道。云何無為緣?謂緣滅。類智、 盡智、無生智亦爾。世俗智,或有為緣、或無為 緣。云何有為緣?謂緣苦集道。云何無為緣? 謂緣擇滅及虛空、非擇滅。 3 辯諸處品 品類足論辯諸處品第三 有十二處,謂眼處、色處、耳處、聲處、鼻處、香處、 舌處、味處、身處、觸處、意處、法處。此十二處,幾 有色、幾無色?答:十有色,一無色,一應分別。謂 法處,或有色、或無色。云何有色?謂法處所攝 身語業。云何無色?謂餘法處。此十二處,幾有 見、幾無見?答:一有見,十一無見。此十二處,幾 有對、幾無對?答:十有對,二無對。此十二處,幾 有漏、幾無漏?答:十有漏,二應分別。謂意處,或 有漏、或無漏。云何有漏?謂有漏作意相應意 處。云何無漏?謂無漏作意相應意處。法處,或 有漏、或無漏。云何有漏?謂法處所攝有漏身 語業及有漏受想行蘊。云何無漏?謂法處所 攝無漏身語業及無漏受想行蘊、虛空二滅。 此十二處,幾有為、幾無為?答:十一有為,一應 分別。謂法處,或有為、或無為。云何有為?謂法 處所攝身語業及受想行蘊。云何無為?謂虛 空二滅。此十二處,幾有諍、幾無諍?答:十有諍, 二應分別。謂意處、法處,若有漏,是有諍;若無 漏,是無諍。如有諍無諍,世間出世間、墮界不 墮界、有味著無味著、耽嗜依出離依、順結不 順結、順取不順取、順纏不順纏應知亦爾。此 十二處,幾有記、幾無記?答:八無記,四應分別。 謂色處,或有記、或無記。云何有記?謂善不善 色處。云何無記?謂除善不善色處諸餘色處。 聲、意、法處亦爾。此十二處,幾有覆、幾無覆?答: 八無覆,四應分別。謂色處,或有覆、或無覆。云 何有覆?謂不善有覆無記色處。云何無覆? 謂善無覆無記色處。聲、意、法處亦爾。如有覆 無覆,染污不染污、有罪無罪應知亦爾。此十 二處,幾應修、幾不應修?答:八不應修,四應分 別。謂色處,或應修、或不應修。云何應修?謂善 色處。云何不應修?謂不善、無記色處。聲、意處 亦爾。法處,或應修、或不應修。云何應修?謂善 有為法處。云何不應修?謂不善、無記法處及 擇滅。此十二處,幾有異熟、幾無異熟?答:八無 異熟,四應分別。謂色處,或有異熟、或無異熟。 云何有異熟?謂善不善色處。云何無異熟?謂 無記色處。聲處亦爾。意處,或有異熟、或無異 熟。云何有異熟?謂不善、善有漏意處。云何無 異熟?謂無記無漏意處。法處亦爾。此十二處, 幾是見、幾非見?答:一是見,十非見,一應分別。 謂法處,或是見、或非見。云何是見?謂五染污 見、世俗正見、學無學見。云何非見?謂餘法 處。此十二處,幾內、幾外?答:六內,六外。此十二 處,幾有執受、幾無執受?答:三無執受,九應分 別。謂眼處,或有執受、或無執受。云何有執受? 謂自體所攝眼處。云何無執受?謂非自體所 攝眼處。色、耳、聲、鼻、香、舌、味、身、觸處亦爾。此十 二處,幾是心、幾非心?答:一是心,十一非心。 此十二處,幾是心所、幾非心所?答:十一非心 所,一應分別。謂法處,或是心所、或非心所。云 何是心所?謂有所緣法處。云何非心所?謂無 所緣法處。此十二處,幾有所緣、幾無所緣?答: 一有所緣,十無所緣,一應分別。謂法處,或有 所緣、或無所緣。云何有所緣?謂諸心所。云何 無所緣?謂非心所法處。此十二處,幾是業、幾 非業?答:九非業,三應分別。謂色處,或是業、或 非業。云何是業?謂身表業。云何非業?謂餘色 處。聲處,或是業、或非業。云何是業?謂語表業。 云何非業?謂餘聲處。法處,或是業、或非業。云 何是業?謂法處所攝身語業及思。云何非業? 謂餘法處。 此十二處,幾善、幾不善、幾無記?答:八無記,四 應分別。謂色處,或善、或不善、或無記。云何善? 謂善身表業。云何不善?謂不善身表業。云何 無記?謂除善、不善身表業諸餘色處。聲處,或 善、或不善、或無記。云何善?謂善語表業。云何 不善?謂不善語表業。云何無記?謂除善、不善 語表業諸餘聲處。意處,或善、或不善、或無記。 云何善?謂善作意相應意處。云何不善?謂 不善作意相應意處。云何無記?謂無記作意 相應意處。法處,或善、或不善、或無記。云何善? 謂法處所攝善身語業及善受想行蘊并擇 滅。云何不善?謂法處所攝不善身語業及不 善受想行蘊。云何無記?謂無記受想行蘊及 虛空、非擇滅。 此十二處,幾見所斷、幾修所斷、 幾非所斷。答:十修所斷,二應分別。謂意處,或 見所斷、或修所斷、或非所斷。云何見所斷?謂 若意處隨信、隨法行現觀邊忍所斷。此復云 何?謂見所斷八十八隨眠相應意處。云何修 所斷?謂若意處學見迹修所斷。此復云何?謂 修所斷十隨眠相應意處及不染污有漏意 處。云何非所斷?謂無漏意處。法處,或見所斷、 或修所斷、或非所斷。云何見所斷?謂若法處 隨信隨法行現觀邊忍所斷。此復云何?謂見 所斷八十八隨眠,及彼相應法處,彼所等起 心不相應行。云何修所斷?謂若法處學見迹 修所斷。此復云何?謂修所斷十隨眠,及彼 相應法處,彼所等起身語業,彼所等起心不 相應行,并不染污有漏法處。云何非所斷?謂 無漏法處。 此十二處,幾學、幾無學、幾非學非 無學?答:十非學非無學,二應分別。謂意處,或 學、或無學、或非學非無學。云何學?謂學作意 相應意處。云何無學?謂無學作意相應意處。 云何非學非無學?謂非學非無學作意相應 意處。法處,或學、或無學、或非學非無學。云何 學?謂學身語業及學受想行蘊。云何無學?謂 無學身語業及無學受想行蘊。云何非學非 無學?謂法處所攝有漏身語業,及有漏受想 行蘊,并無為法。 此十二處,幾欲界繫、幾色界 繫、幾無色界繫、幾不繫?答:二欲界繫,十應分 別。謂眼處,或欲界繫、或色界繫。云何欲界繫? 謂若眼處欲界繫大種所造。云何色界繫?謂 若眼處色界繫大種所造色。耳、聲、鼻、舌、身處 亦爾。觸處,或欲界繫、或色界繫。云何欲界繫? 謂欲界繫四大種及欲界繫大種所造觸處。 云何色界繫?謂色界繫四大種及色界繫大 種所造觸處。意處,或欲界繫、或色界繫、或無 色界繫、或不繫。云何欲界繫?謂欲界繫作意 相應意處。云何色界繫?謂色界繫作意相應 意處。云何無色界繫?謂無色界繫作意相應 意處云。何不繫?謂無漏作意相應意處。法處, 或欲界繫、或色界繫、或無色界繫、或不繫。云 何欲界繫?謂欲界繫法處所攝身語業、受想 行蘊。云何色界繫?謂色界繫法處所攝身語 業、受想行蘊。云何無色界繫?謂無色界繫受 想行蘊。云何不繫?謂無漏身語業、受想行蘊 及無為法。 此十二處,幾過去、幾未來、幾現在? 答:十一或過去或未來或現在,一應分別。謂 法處,若有為,或過去或未來或現在;若無為, 非過去非未來非現在。 此十二處,幾苦諦攝、幾集諦攝、幾滅諦攝、幾 道諦攝、幾非諦攝?答:十苦集諦攝,二應分別。 謂意處,若有漏,苦集諦攝;若無漏,道諦攝。法 處,若有漏,苦集諦攝;若無漏,有為道諦攝;若 擇滅,滅諦攝;若虛空、非擇滅,非諦攝。 此十二 處,幾見苦所斷、幾見集所斷、幾見滅所斷、幾 見道所斷、幾修所斷、幾非所斷?答:十修所斷, 二應分別。謂意處,或見苦集滅道修所斷、或 非所斷。云何見苦所斷?謂若意處隨信隨法 行苦現觀邊忍所斷。此復云何?謂見苦所斷 二十八隨眠相應意處。云何見集所斷?謂若 意處隨信隨法行集現觀邊忍所斷。此復云 何?謂見集所斷十九隨眠相應意處。云何見 滅所斷?謂若意處隨信隨法行滅現觀邊忍 所斷。此復云何?謂見滅所斷十九隨眠相應 意處。云何見道所斷?謂若意處隨信隨法行 道現觀邊忍所斷。此復云何?謂見道所斷二 十二隨眠相應意處。云何修所斷?謂若意處 學見迹修所斷。此復云何?謂修所斷十隨眠 相應意處及不染污有漏意處。云何非所斷? 謂無漏意處。法處,或見苦集滅道修所斷、或 非所斷。云何見苦所斷?謂若法處隨信隨法 行苦現觀邊忍所斷。此復云何?謂見苦所斷 二十八隨眠,及彼相應法處,彼所等起心不 相應行。云何見集所斷?謂若法處隨信隨法 行集現觀邊忍所斷。此復云何?謂見集所斷 十九隨眠,及彼相應法處,彼所等起心不相 應行。云何見滅所斷?謂若法處隨信隨法行 滅現觀邊忍所斷。此復云何?謂見滅所斷十 九隨眠,及彼相應法處,彼所等起心不相應 行。云何見道所斷?謂若法處隨信隨法行道 現觀邊忍所斷。此復云何?謂見道所斷二十 二隨眠,及彼相應法處,彼所等起心不相應 行。云何修所斷?謂若法處學見迹修所斷。此 復云何?謂修所斷十隨眠,及彼相應法處,彼 所等起身語業、心不相應行,并不染污有漏 法處。云何非所斷?謂無漏法處。 五蘊十二處,為五攝十二、十二攝五耶?答:十 二攝五,非五攝十二。何所不攝?謂諸無為。五 蘊十八界,為五攝十八、十八攝五耶?答:十八 攝五,非五攝十八。何所不攝?謂諸無為。五蘊 二十二根,為五攝二十二、二十二攝五耶?答: 二蘊全二蘊少分攝二十二根,二十二根攝 二蘊全二蘊少分。何所不攝?謂一蘊全二蘊 少分。五蘊九十八隨眠,為五攝九十八、九十 八攝五耶?答:一蘊少分攝九十八隨眠,九 十八隨眠攝一蘊少分。何所不攝?謂四蘊 全一蘊少分。十二處十八界,為十二攝十 八、十八攝十二耶?答:互相攝,隨其事。十二處 二十二根,為十二攝二十二、二十二攝十二 耶?答:六處全一處少分攝二十二根,二十二 根攝六處全一處少分。何所不攝?謂五處全 一處少分。十二處九十八隨眠,為十二攝九 十八、九十八攝十二耶?答:一處少分攝九十 八隨眠,九十八隨眠攝一處少分。何所不攝? 謂十一處全一處少分。十八界二十二根,為 十八攝二十二、二十二攝十八耶?答:十二界 全一界少分攝二十二根,二十二根攝十二 界全一界少分。何所不攝?謂五界全一界少 分。十八界九十八隨眠,為十八攝九十八、九 十八攝十八耶?答:一界少分攝九十八隨眠, 九十八隨眠攝一界少分。何所不攝?謂十七 界全一界少分。二十二根九十八隨眠,為二 十二攝九十八、九十八攝二十二耶?答:互不 相攝。 4 辯七事品 品類足論辯七事品第四之一 十八界、十二處、五蘊、五取蘊、六界、十大地法、 十大善地法、十大煩惱地法、十小煩惱地法、 五煩惱、五觸、五見、五根、五法、六識身、六觸身、 六受身、六想身、六思身、六愛身。 十八界云 何?謂眼界色界眼識界、耳界聲界耳識界、鼻 界香界鼻識界、舌界味界舌識界、身界觸界 身識界、意界法界意識界。十二處云何?謂眼 處色處、耳處聲處、鼻處香處、舌處味處、身處觸 處、意處法處。五蘊云何?謂色蘊、受蘊、想蘊、行 蘊、識蘊。五取蘊云何?謂色取蘊、受取蘊、想取 蘊、行取蘊、識取蘊。六界云何?謂地界、水界、火 界、風界、空界、識界。十大地法云何?謂受、想、思、 觸、作意、欲、勝解、念、定、慧。十大善地法云何?謂 信、勤、慚、愧、無貪、無瞋、輕安、捨、不放逸、不害。十大 煩惱地法云何?謂不信、懈怠、失念、心亂、無明、不 正知、非理作意、邪勝解、掉舉、放逸。十小煩惱地 法云何?謂忿、恨、覆、惱、嫉、慳、誑、諂、憍、害。五煩惱 云何?謂欲貪、色貪、無色貪、瞋、癡。五觸云何? 謂有對觸、增語觸、明觸、無明觸、非明非無明 觸。五見云何?謂有身見、邊執見、邪見、見取、 戒禁取。五根云何?謂樂根、苦根、喜根、憂根、捨 根。五法云何?謂尋、伺、識、無慚、無愧。六識身云 何?謂眼識、耳識、鼻識、舌識、身識、意識。六觸身 云何?謂眼觸、耳觸、鼻觸、舌觸、身觸、意觸。六受 身云何?謂眼觸所生受、耳觸所生受、鼻觸所 生受、舌觸所生受、身觸所生受、意觸所生受。 六想身云何?謂眼觸所生想、耳觸所生想、鼻 觸所生想、舌觸所生想、身觸所生想、意觸所 生想。六思身云何?謂眼觸所生思、耳觸所生 思、鼻觸所生思、舌觸所生思、身觸所生思、 意觸所生思。六愛身云何?謂眼觸所生愛、耳 觸所生愛、鼻觸所生愛、舌觸所生愛、身觸所 生愛、意觸所生愛。 眼界云何?謂眼於色已正當見及彼同分。色 界云何?謂色為眼已正當見及彼同分。眼識 界云何?謂眼及色為緣生眼識。如是眼為增 上、色為所緣,於眼所識色諸已正當了別及 彼同分。耳界云何?謂耳於聲已正當聞及彼 同分。聲界云何?謂聲為耳已正當聞及彼同 分。耳識界云何?謂耳及聲為緣生耳識。如是 耳為增上、聲為所緣,於耳所識聲諸已正當 了別及彼同分。鼻界云何?謂鼻於香已正當 嗅及彼同分。香界云何?謂香為鼻已正當嗅 及彼同分。鼻識界云何?謂鼻及香為緣生鼻 識。如是鼻為增上、香為所緣,於鼻所識香 諸已正當了別及彼同分。舌界云何?謂舌 於味已正當嘗及彼同分。味界云何?謂味為 舌已正當嘗及彼同分。舌識界云何?謂舌及 味為緣生舌識。如是舌為增上、味為所緣,於 舌所識味諸已正當了別及彼同分。身界云 何?謂身於觸已正當觸及彼同分。觸界云何? 謂觸為身已正當觸及彼同分。身識界云何? 謂身及觸為緣生身識。如是身為增上、觸為 所緣,於身所識觸諸已正當了別及彼同分。 意界云何?謂意於法已正當了及彼同分。法 界云何?謂法為意已正當了。意識界云何?謂 意及法為緣生意識。如是意為增上、法為所 緣,於意所識法諸已正當了別及彼同分。 眼處云何?謂眼是色已正當能見及彼同分。 色處云何?謂色是眼已正當所見及彼同分。 耳處云何?謂耳是聲已正當能聞及彼同分。 聲處云何?謂聲是耳已正當所聞及彼同分。 鼻處云何?謂鼻是香已正當能嗅及彼同分。 香處云何?謂香是鼻已正當所嗅及彼同分。 舌處云何?謂舌是味已正當能甞及彼同分。 味處云何?謂味是舌已正當所甞及彼同分。 身處云何?謂身是觸已正當能觸及彼同分。 觸處云何?謂觸是身已正當所觸及彼同分。 意處云何?謂意是法已正當能了及彼同分。 法處云何?謂法是意已正當所了。 色蘊云何?謂十色處及法處所攝色。受蘊 云何?謂六受身,即眼觸所生受乃至意觸所 生受。想蘊云何?謂六想身,即眼觸所生想乃 至意觸所生想。行蘊云何?此有二種,謂心相 應行蘊、心不相應行蘊。心相應行蘊云何?謂 心相應法。此復云何?謂思、觸、作意、欲、勝解、念、 定、慧、信、勤、尋、伺、放逸、不放逸、善根、不善根、無 記根,一切結、縛、隨眠、隨煩惱、纏,諸所有智,諸 所有見,諸所有現觀。復有此餘如是類法與 心相應,總名心相應行蘊。心不相應行蘊云 何?謂心不相應法。此復云何?謂得、無想定、滅 定、無想事、命根、眾同分、依得、事得、處得、生、老、 住、無常、名身、句身、文身。復有此餘如是類法 與心不相應,總名心不相應行蘊。如是二種 合名行蘊。識蘊云何?謂六識身,即眼識乃至 意識。色取蘊云何?謂若諸色有漏有取,於此 諸色若過去若未來若現在,或欲或貪或瞋 或癡,或隨一一心所隨煩惱應生時生,是名 色取蘊。受想行識取蘊云何?謂若諸受想行 識有漏有取,於此諸受想行識若過去若未 來若現在,或欲或貪或瞋或癡,或隨一一心 所隨煩惱應生時生,是名受想行識取蘊。 地界云何?謂堅性。水界云何?謂濕性。火界云 何?謂煖性。風界云何?謂輕等動性。空界云 何?謂隣阿伽色。識界云何?謂五識身及有漏 意識。 受云何?謂受等受、各別等受、已受、受類,是名 為受。想云何?謂想等想、增上等想、已想、想類, 是名為想。思云何?謂思等思、增上等思、已思、 思類,心作意業,是名為思。觸云何?謂觸等觸、 觸性等觸性、已觸、觸類,是名為觸。作意云何? 謂牽引心,隨順牽引、思惟牽引,作意造意,轉 變心、警覺心,是名作意。欲云何?謂欲欲性 增上、欲性現前,欣喜希望樂作,是名為欲。勝 解云何?謂心正勝解、已勝解、當勝解性,是名 勝解。念云何?謂念隨念、別念憶念、不忘不失 不遺不漏不忘法性、心明記性,是名為念。定 云何?謂令心住等住安住近住堅住、不亂不 散攝止等持、心一境性,是名為定。慧云何?謂 於法簡擇極簡擇最極簡擇、解了等了遍了 近了、機黠通達審察聰叡、覺明慧行毘鉢舍 那,是名為慧。
Việt dịch
QUYỂN 2 Phẩm 2: BIỆN LUẬN CÁC TRÍ, Phần 2 Hỏi: Vì sao đạo trí là đạo trí toàn phần? Đáp: Đạo trí này biết rõ Thánh đạo chính là đạo-như-hành-xuất. Hỏi: Vì sao đạo trí là phần ít của pháp trí? Đáp: Thuộc cõi Dục, đạo trí này hiểu rõ các hành nơi đạo có khả năng đoạn chính là đạo-như-hành-xuất. Hỏi: Vì sao đạo trí là phần ít của loại trí? Đáp: Ở cõi Sắc và Vô sắc, đạo trí này hiểu rõ phương pháp năng đoạn các hành là đạo-như-hành-xuất. Hỏi: Vì sao đạo trí là phần ít của tha tâm trí? Đáp: Đạo trí này ở trong Thánh đạo, biết rõ tâm và tâm sở vô lậu của người khác. Hỏi: Vì sao đạo trí là phần ít của tận trí? Đáp: Đạo trí này tự hiểu biết khắp: Ta đã tu tập đạo. Hỏi: Vì sao đạo trí là phần ít của vô sinh trí? Đáp: Vì đạo trí này tự hiểu biết khắp: Ta đã tu tập đạo mà không phải tu tập nữa. Hỏi: Vì sao tận trí là tận trí toàn phần? Đáp: Vì tận trí này tự hiểu biết khắp: Ta đã biết rõ các khổ. Ta đã đoạn dứt các tập. Ta đã chứng được diệt. Ta đã tu tập các đạo. Hỏi: Vì sao tận trí là phần ít của pháp trí? Đáp: Vì tận trí này tự hiểu biết khắp, như biết ở Dục giới: Ta đã biết rõ các khổ. Ta đã đoạn dứt các hành tập. Ta đã chứng các hành diệt. Ta đã tu đạo có khả năng đoạn các hành. Hỏi: Vì sao tận trí là phần ít của loại trí? Đáp: Vì tận trí tự hiểu biết khắp, như biết ở cõi Sắc và Vô sắc: Ta ===== PAGE 18 ===== 258 BỘ TỲ ĐÀM 2 đã biết rõ các hành khổ. Ta đã đoạn dứt các hành tập. Ta đã chứng được các hành diệt. Ta đã tu đạo có khả năng đoạn các hành. Hỏi: Vì sao tận trí là phần ít của khổ trí? Đáp: Vì tận trí tự hiểu biết khắp, ta đã biết khổ. Hỏi: Vì sao tận trí là phần ít của tập trí? Đáp: Tận trí tự biết khắp, ta đã đoạn tập. Hỏi: Vì sao tận trí là phần ít của diệt trí? Đáp: Vì tận trí tự hiểu biết khắp, ta đã chứng được diệt. Hỏi: Vì sao tận trí là phần ít của đạo trí? Đáp: Vì tận trí tự biết khắp, ta đã tu tập các đạo. Hỏi: Vì sao vô sinh trí là vô sinh trí toàn phần? Đáp: Vì vô sinh trí tự biết khắp, ta đã biết các khổ mà không phải nhận biết nữa. Ta đã đoạn dứt các tập mà không phải đoạn trừ nữa. Ta đã chứng được diệt mà không phải chứng nữa. Ta đã tu các đạo mà không phải tu nữa. Hỏi: Vì sao vô sinh trí là phần ít của pháp trí? Đáp: Vì vô sinh trí tự hiểu biết khắp, như thuộc cõi Dục, ta đã biết rõ các hành khổ mà không phải biết nữa. Ta đã đoạn dứt các hành tập mà không phải đoạn nữa. Ta đã chứng được hành diệt mà không phải chứng nữa. Ta đã tu các hành nơi đạo có khả năng đoạn mà không phải tu nữa. Hỏi: Vì sao vô sinh trí là phần ít của loại trí? Đáp: Vì vô sinh trí tự hiểu biết khắp, như ở cõi Sắc và Vô sắc, ta đã biết rõ các hành khổ mà không phải biết nữa. Ta đã đoạn dứt các hành tập mà không phải đoạn nữa. Ta đã tu chứng được các hành diệt mà không phải chứng nữa. Ta đã tu các hành nơi đạo có khả năng đoạn mà không phải tu tập nữa. Hỏi: Vì sao vô sinh trí là phần ít của khổ trí? Đáp: Vì vô sinh trí tự hiểu khắp: Ta hiểu các khổ, không phải nhận biết nữa. Hỏi: Vì sao vô sinh trí là phần ít của tập trí? Đáp: Vì vô sinh trí tự biết khắp: Ta đã đoạn dứt các tập mà không phải đoạn nữa. Hỏi: Vì sao vô sinh trí là phần ít của diệt trí? Đáp: Vì vô sinh trí tự biết khắp: Ta đã chứng diệt mà không phải chứng nữa. Hỏi: Vì sao vô sinh trí là phần ít của đạo trí? Đáp: Vì vô sinh trí tự biết rõ ràng, ta đã tu đạo mà không cần phải ===== PAGE 19 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 259 tu gì nữa. Hỏi: Mười trí như thế, có bao nhiêu hữu lậu và bao nhiêu vô lậu? Đáp: Có một trí thuộc hữu lậu, tám trí thuộc vô lậu, còn một trí cần phải phân biệt, nghĩa là tha tâm trí hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Thế nào là hữu lậu? Tức là biết tâm và tâm sở pháp hữu lậu của người khác. Thế nào là vô lậu? Tức là biết tâm và tâm sở pháp vô lậu của người khác. Hỏi: Mười trí đó, có bao nhiêu duyên hữu lậu và bao nhiêu duyên vô lậu? Đáp: Có hai trí duyên hữu lậu và hai trí duyên vô lậu, còn sáu trí cần phải phân biệt: Pháp trí hoặc duyên hữu lậu, hoặc duyên vô lậu. Thế nào là duyên hữu lậu? Là duyên nơi khổ-tập. Thế nào là duyên vô lậu? Là duyên nơi diệt-đạo. Như pháp trí, loại trí-tận trí-vô sinh trí cũng thế. Tha tâm trí hoặc duyên hữu lậu, hoặc duyên vô lậu. Thế nào là duyên hữu lậu? Tức là biết rõ tâm-tâm sở pháp hữu lậu của người khác. Thế nào là duyên vô lậu? Tức là biết rõ tâm-tâm sở pháp vô lậu của người khác. Thế tục trí hoặc duyên hữu lậu, hoặc duyên vô lậu. Thế nào là duyên hữu lậu? Là duyên nơi khổ và tập. Thế nào là duyên vô lậu? Là duyên nơi diệt-đạo và hư không-phi trạch diệt. Hỏi: Mười trí như thế, có bao nhiêu hữu vi, bao nhiêu vô vi? Đáp: Tất cả đều thuộc hữu vi, không có vô vi. Hỏi: Mười trí đó, có bao nhiêu duyên hữu vi, bao nhiêu duyên vô vi? Đáp: Có bốn trí duyên hữu vi, một trí duyên vô vi và năm trí cần phải phân biệt: Pháp trí hoặc duyên hữu vi hoặc duyên vô vi. Thế nào là duyên hữu vi? Là duyên nơi khổ-tập và đạo. Thế nào là duyên vô vi? Là duyên nơi diệt. Như pháp trí, loại trí-tận trí-vô sinh trí cũng thế. Thế tục trí hoặc duyên hữu vi hoặc duyên vô vi. Thế nào là duyên hữu vi? Là duyên nơi khổ-tập-đạo. Thế nào là duyên vô vi? Là duyên nơi trạch diệt và hư không-phi trạch diệt. ---------------- ===== PAGE 20 ===== 260 BỘ TỲ ĐÀM 2 Phẩm 3: BIỆN VỀ CÁC XỨ Có mười hai xứ (lãnh vực): Là nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ, pháp xứ Hỏi: Mười hai xứ này, bao nhiêu có sắc, bao nhiêu không có sắc? Đáp: Mười thứ có sắc, một thứ không có sắc và một thứ cần phân biệt, tức là pháp xứ hoặc có sắc, hoặc không có sắc. Thế nào là có sắc? Tức là pháp xứ đã thâu nhiếp thân nghiệp và ngữ nghiệp. Thế nào là không sắc? Tức là pháp xứ còn lại. Hỏi: Mười hai xứ này, bao nhiêu thứ thấy được và bao nhiêu thứ không thấy được? Đáp: Có một thứ thấy được, còn mười một thứ không thấy. Hỏi: Mười hai xứ này, bao nhiêu có đối và bao nhiêu không có đối? Đáp: Có mười thứ có đối và hai thứ không có đối. Hỏi: Mười hai xứ này, bao nhiêu hữu lậu, bao nhiêu vô lậu? Đáp: Có mười thứ hữu lậu và hai thứ cần phân biệt, tức là xứ hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Thế nào là hữu lậu? Là tác ý hữu lậu tương ưng với ý xứ. Thế nào là vô lậu? Là tác ý vô lậu tương ưng với ý xứ. Pháp xứ hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Thế nào là hữu lậu? Là pháp xứ thâu nhiếp các nghiệp của thân- ngữ hữu lậu và các uẩn thọ - tưởng - hành hữu lậu. Thế nào là vô lậu? Là pháp xứ thâu nhiếp các nghiệp của thân-ngữ vô lậu và các uẩn thọ - tưởng - hành vô lậu hai diệt cùng hư không. Hỏi: Mười hai xứ này, bao nhiêu hữu vi, bao nhiêu vô vi? Đáp: Có mười một thứ hữu vi và một thứ cần phân biệt, tức là pháp xứ hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Thế nào là hữu vi? Là pháp xứ bao gồm các nghiệp của thân-ngữ và các uẩn thọ - tưởng - hành. Thế nào là vô vi? Là hai diệt cùng hư không. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu hữu tránh và bao nhiêu vô tránh? Đáp: Có mười hữu tránh và hai thứ nên phân biệt: Nghĩa là ý xứ và pháp xứ nếu hữu lậu thì hữu tránh, nếu vô lậu thì vô tránh. Cũng như hữu tránh và vô tránh, thế gian và xuất thế gian, tùy cảnh giới và không tùy cảnh giới, có mê đắm vị, không mê đắm vị, nương vào đam mê hoặc nương vào xuất ly, thuận kết hoặc không ===== PAGE 21 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 261 thuận kết, thuận chấp giữ hay không thuận chấp giữ, thuận trói buộc hay không thuận trói buộc…, nên biết cũng thế. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu hữu ký và bao nhiêu vô ký? Đáp: Có tám thứ là vô ký và bốn thứ cần phân biệt: Sắc xứ hoặc hữu ký, hoặc vô ký. Thế nào là hữu ký? Tức là sắc xứ thiện và bất thiện. Thế nào là vô ký? Nghĩa là trừ ra sắc xứ thiện và bất thiện, là những sắc xứ còn lại. Thanh xứ, ý xứ, pháp xứ cũng vậy. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu hữu phú, bao nhiêu vô phú? Đáp: Có tám thứ vô phú và bốn thứ cần phân biệt, tức là sắc xứ hoặc hữu phú, hoặc vô phú. Thế nào là hữu phú? Tức là sắc xứ bất thiện và hữu phú vô ký. Thế nào là vô phú? Tức là sắc xứ thiện và vô phú vô ký. Thanh xứ, ý xứ, pháp xứ cũng như thế. Cũng như hữu phú hay vô phú; có nhiễm ô hay không nhiễm ô, có tội hay không có tội…, nên biết cũng như thế. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ nên tu và bao nhiêu thứ không nên tu? Đáp: Có tám thứ không nên tu và bốn thứ nên phân biệt, tức là sắc xứ hoặc nên tu, hoặc không nên tu. Thế nào là nên tu? Nghĩa là sắc xứ thiện. Thế nào là không nên tu? Nghĩa là sắc xứ bất thiện và vô ký. Thanh xứ, ý xứ cũng như vậy. Pháp xứ hoặc nên tu, hoặc không nên tu Thế nào là nên tu? Là pháp xứ thiện và hữu vi. Thế nào là không nên tu? Là pháp xứ bất thiện - vô ký và trạch diệt. Hỏi: Mười hai xứ này, bao nhiêu thứ có dị thục và bao nhiêu thứ không có dị thục? Đáp: Có tám thứ không có dị thục và bốn thứ cần phân biệt. Tức là sắc xứ hoặc có dị thục, hoặc không có dị thục. Thế nào là có dị thục? Là sắc xứ thiện và bất thiện. Thế nào là không có dị thục? Là sắc xứ vô ký Thanh xứ cũng như thế. Ý xứ hoặc có dị thục, hoặc không có dị thục. Thế nào là có dị thục? Nghĩa là ý xứ thiện và bất thiện hữu lậu. Thế nào là không có dị thục? Nghĩa là ý xứ vô ký vô lậu. ===== PAGE 22 ===== 262 BỘ TỲ ĐÀM 2 Pháp xứ cũng vậy. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu là kiến và bao nhiêu không phải kiến? Đáp: Có một thứ là kiến, mười thứ không phải kiến và một thứ cần phân biệt, tức là pháp xứ hoặc kiến, hoặc không phải kiến. Thế nào là kiến? Tức là năm thứ kiến nhiễm ô, chánh kiến của thế tục, kiến học và kiến vô học. Thế nào là không phải kiến? Tức là pháp xứ còn lại. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ trong, bao nhiêu thứ ngoài? Đáp: Có sáu thứ trong và sáu thứ ngoài. Hỏi: Mười hai xứ này, bao nhiêu thứ có chấp thọ, bao nhiêu thứ không có chấp thọ? Đáp: Có ba thứ không chấp thọ và chín thứ cần phân biệt, tức là nhãn xứ hoặc có chấp thọ, hoặc không có chấp thọ. Thế nào là có chấp thọ? Là nhãn xứ thuộc về tự thể. Thế nào là không chấp thọ? Là nhãn xứ không tùy thuộc vào tự thể. Sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ cũng như vậy. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ là tâm, bao nhiêu thứ không phải là tâm? Đáp: Có một thứ là tâm, mười một thứ không phải là tâm. Hỏi: Mười hai xứ này, bao nhiêu thứ là tâm sở và bao nhiêu thứ không phải là tâm sở? Đáp: Có mười một thứ không phải là tâm sở và một thứ cần phân biệt, là pháp xứ hoặc là tâm sở, hoặc không phải là tâm sở. Thế nào là tâm sở? Là có sở duyên với pháp xứ. Thế nào là không phải tâm sở? Là không có sở duyên với pháp xứ. Hỏi: Mười hai xứ này, bao nhiêu thứ là có sở duyên và bao nhiêu thứ không có sở duyên? Đáp: Có một thứ là có sở duyên, mười thứ không phải đối tượng được duyên và một thứ cần phân biệt, tức là pháp xứ hoặc là có sở duyên, hoặc không có sở duyên. Thế nào là có sở duyên? Là các thứ tâm sở. Thế nào là không có sở duyên? Là pháp xứ không phải tâm sở. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ là nghiệp và bao nhiêu thứ ===== PAGE 23 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 263 không phải nghiệp? Đáp: Có chín thứ không phải là nghiệp và ba thứ cần phân biệt, tức là sắc xứ hoặc là nghiệp, hoặc không phải là nghiệp. Thế nào là nghiệp? Là biểu nghiệp của thân. Thế nào là không phải nghiệp? Tức là sắc xứ còn lại. Thanh xứ hoặc là nghiệp, hoặc không phải là nghiệp. Thế nào là nghiệp? Là biểu nghiệp của ngữ. Thế nào là không phải nghiệp? Là các thanh xứ còn lại. Pháp xứ hoặc là nghiệp, hoặc không phải là nghiệp. Thế nào là nghiệp? Tức là pháp xứ thâu nhiếp các nghiệp của thân-ngữ và suy nghĩ. Thế nào là không phải nghiệp? Tức là các pháp xứ còn lại. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ thiện - bất thiện - vô ký? Đáp: Có tám thứ là vô ký và bốn thứ cần phân biệt. Sắc xứ hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là thiện? Tức là biểu nghiệp thiện của thân. Thế nào là bất thiện? Tức là biểu nghiệp bất thiện của thân. Thế nào là vô ký? Tức là trừ ra biểu nghiệp thiện và bất thiện nơi thân. Thanh xứ hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là thiện? Tức là biểu nghiệp thiện của ngữ. Thế nào là bất thiện? Tức là biểu nghiệp bất thiện của ngữ. Thế nào là vô ký? Tức là trừ ra biểu nghiệp thiện và bất thiện của ngữ. Ý xứ hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là thiện? Là tác ý thiện tương ưng với ý xứ. Thế nào là bất thiện? Là tác ý bất thiện tương ưng với ý xứ. Thế nào là vô ký? Là tác ý vô ký tương ưng với ý xứ. Pháp xứ hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là thiện? Là pháp xứ thâu nhiếp các nghiệp thiện của thân - ngữ, và các uẩn thọ-tưởng-hành thuộc về thiện cùng với trạch diệt. Thế nào là bất thiện? Là pháp xứ thâu nhiếp các nghiệp bất thiện của thân ngữ, và các uẩn thọ-tưởng-hành thuộc về bất thiện. Thế nào là vô ký? Là các uẩn thọ-tưởng-hành vô ký và hư không- phi trạch diệt. Hỏi: Mười hai xứ này có bao nhiêu thứ do kiến mà đoạn trừ, bao nhiêu thứ do tu mà đoạn trừ, bao nhiêu thứ không phải đoạn trừ? ===== PAGE 24 ===== 264 BỘ TỲ ĐÀM 2 Đáp: Có mười thứ do tu mà đoạn trừ và hai thứ cần phân biệt, tức là ý xứ hoặc do kiến mà đoạn, hoặc do tu mà đoạn, hoặc không phải đoạn trừ. Thế nào là do kiến mà đoạn? Là đối với ý xứ, các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán về biên nhẫn mà đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Là kiến đã đoạn trừ tám mươi tám thứ tùy miên tương ưng với ý xứ. Thế nào là do tu mà đoạn? Là đối với ý xứ, các bậc hữu học thấy dấu đạo do tu mà đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Là do tu mà đoạn trừ mười thứ tùy miên tương ưng với ý xứ, và ý xứ hữu lậu không nhiễm ô. Thế nào là không phải đoạn trừ? Là ý xứ vô lậu. Pháp xứ hoặc do kiến mà đoạn, hoặc do tu mà đoạn, hoặc chẳng đoạn cái gì. Thế nào là do kiến mà đoạn? Nghĩa là pháp xứ đã bị đoạn do các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán biên nhẫn. Đây là nghĩa gì? Là kiến đạo mà đoạn tám mươi tám tùy miên tương ưng với pháp xứ và cùng khởi tâm bất tương ưng hành. Thế nào là do tu mà đoạn? Nghĩa là như pháp xứ, các bậc hữu học thấy dấu đạo do tu mà đoạn trừ. Đây là nghĩa gì? Tức là tu đạo mà đoạn trừ mười thứ tùy miên cùng tương ưng với pháp xứ, cùng khởi nghiệp thân-ngữ, cùng khởi tâm bất tương ưng hành và pháp xứ hữu lậu không nhiễm ô. Thế nào là không đoạn trừ? Nghĩa là pháp xứ vô lậu. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ hữu học - vô học và phi học phi vô học? Đáp: Có mười thứ thuộc phi học phi vô học, hai thứ cần phân biệt, tức là ý xứ hoặc hữu học, hoặc vô học, hoặc phi học phi vô học. Thế nào là hữu học? Là tác ý hữu học tương ưng với ý xứ. Thế nào là vô học? Là tác ý vô học tương ưng với ý xứ. Thế nào là phi học phi vô học? Là tác ý phi học phi vô học tương ưng với ý xứ. Pháp xứ hoặc hữu học, hoặc vô học, hoặc phi học phi vô học. Thế nào là hữu học? Là nghiệp của thân - ngữ hữu học và các uẩn thọ-tưởng-hành hữu học. Thế nào là vô học? Là nghiệp của thân - ngữ vô học cùng các uẩn thọ - tưởng - hành vô học. Thế nào là phi học phi vô học? Là pháp xứ bao gồm các nghiệp hữu lậu của thân - ngữ và các uẩn hữu lậu thọ - tưởng - hành cùng các pháp vô vi. ===== PAGE 25 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 265 Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ thuộc Dục giới - Sắc giới - Vô sắc giới và bao nhiêu thứ không thuộc cõi nào? Đáp: Có hai thứ thuộc cõi Dục và mười thứ nên phân biệt. Nhãn xứ hoặc thuộc Dục giới, hoặc thuộc Sắc giới. Thế nào là thuộc Dục giới? Là nhãn xứ đối với các thứ do các đại chủng tạo nên ở cõi Dục. Thế nào là thuộc Sắc giới? Là nhãn xứ đối với các thứ do các đại chủng tạo nên ở cõi Sắc. Nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ cũng như thế. Xúc xứ hoặc thuộc Dục giới, hoặc thuộc Sắc giới. Thế nào là thuộc Dục giới? Là bốn đại chủng ở Dục giới và xúc xứ do các đại chủng tạo nên ở cõi Dục. Thế nào là thuộc Sắc giới? Là bốn đại chủng ở Sắc giới và xúc xứ do các đại chủng tạo nên ở cõi Sắc. Ý xứ hoặc thuộc Dục giới, hoặc thuộc Sắc giới, hoặc thuộc Vô sắc giới, hoặc không thuộc cõi nào. Thế nào là thuộc Dục giới? Là tác ý ở Dục giới tương ưng với ý xứ. Thế nào là thuộc Sắc giới? Là tác ý ở Sắc giới tương ưng với ý xứ. Thế nào là thuộc Vô sắc giới? Là tác ý ở Vô sắc giới tương ưng với ý xứ. Thế nào là không hệ thuộc với cõi nào? Là tác ý vô lậu tương ưng với ý xứ. Pháp xứ hoặc thuộc Dục giới, hoặc thuộc Sắc giới, hoặc thuộc Vô sắc giới, hoặc không thuộc cõi nào. Thế nào là thuộc cõi Dục? Là pháp xứ thâu nhiếp các nghiệp của thân-ngữ và của các uẩn thọ-tưởng-hành thuộc cõi Dục. Thế nào là thuộc cõi Sắc? Là pháp xứ thâu nhiếp các nghiệp của thân- ngữ và các uẩn thọ-tưởng-hành thuộc cõi Sắc. Thế nào là thuộc cõi Vô sắc? Là các uẩn thọ-tưởng-hành thuộc cõi Vô sắc. Thế nào là không thuộc cõi nào? Là nghiệp vô lậu của thân -ngữ, các uẩn thọ-tưởng-hành và pháp vô vi. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ thuộc quá khứ - hiện tại và vị lai? Đáp: Có mười một thứ hoặc quá khứ hoặc hiện tại hay vị lai, và một thứ nên phân biệt, tức là pháp xứ, nếu là hữu vi thì hoặc quá khứ- ===== PAGE 26 ===== 266 BỘ TỲ ĐÀM 2 hiện tại - vị lai. Nếu là vô vi thì không thuộc về ba đời. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ thuộc về khổ đế - tập đế - diệt đế - đạo đế và không thuộc về đế? Đáp: Có mười thứ thuộc về khổ đế - tập đế, và hai thứ cần phân biệt: Ý xứ, nếu là hữu lậu thì do khổ đế và tập đế thâu giữ, nếu là vô lậu thì do đạo đế thâu giữ. Pháp xứ, nếu là hữu lậu thì do khổ đế và tập đế thâu giữ, nếu là vô lậu thì do đạo đế hữu vi thâu giữ. Nếu là trạch diệt thì do diệt đế thâu giữ, nếu là hư không-phi trạch diệt thì không thuộc về đế thâu giữ. Hỏi: Mười hai xứ này, có bao nhiêu thứ do thấy khổ mà đoạn trừ, do thấy tập mà đoạn trừ, do thấy diệt mà đoạn trừ, do thấy đạo mà đoạn trừ, do tu mà đoạn trừ và có bao nhiêu thứ không phải đoạn trừ? Đáp: Có mười thứ do tu mà đoạn trừ, có hai thứ cần phân biệt: Ý xứ hoặc do thấy khổ-tập-diệt-đạo, tu mà đoạn trừ, hoặc không phải đoạn trừ. Thế nào là do thấy khổ mà đoạn trừ? Là đối với ý xứ, các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán về hành khổ, biên nhẫn đã đoạn dứt. Đây nghiõa là gì? Nghĩa là do thấy khổ mà đoạn trừ hai mươi tám thứ tùy miên tương ưng với ý xứ. Thế nào là do thấy tập mà đoạn trừ? Là đối với ý xứ, các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán về hành tập và biên nhẫn đã đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy tập mà đoạn trừ mười chín thứ tùy miên tương ưng với ý xứ. Thế nào là do thấy diệt mà đoạn trừ? Là đối với ý xứ, các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán về hành diệt, biên nhẫn đã đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy diệt mà đoạn trừ mười chín thứ tùy miên tương ưng với ý xứ. Thế nào là do thấy đạo mà đoạn trừ? Là đối với ý xứ, các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán về hành đạo và biên nhẫn đã đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy đạo mà đoạn trừ hai mươi hai thứ tùy miên tương ưng với ý xứ. Thế nào là do tu mà đoạn trừ? Là đối với ý xứ, các bậc hữu học thấy dấu đạo và tu mà đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Là do tu mà đoạn trừ mười thứ tùy miên tương ưng với ý xứ và ý xứ hữu lậu không nhiễm ô. Thế nào là không phải đoạn trừ? Là ý xứ vô lậu. Pháp xứ hoặc do thấy khổ-tập-diệt-đạo, do tu mà đoạn trừ, hoặc không phải đoạn trừ. ===== PAGE 27 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 267 Thế nào là do thấy khổ mà đoạn trừ? Là đối với pháp xứ, các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán về hành khổ, biên nhẫn mà đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy khổ mà đoạn trừ hai mươi tám thứ tùy miên tương ưng với pháp xứ, cùng khởi lên các tâm bất tương ưng hành. Thế nào là do thấy tập mà đoạn trừ? Nghĩa là đối với pháp xứ, các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán về hành tập và biên nhẫn mà đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy tập mà đoạn trừ mười chín thứ tùy miên tương ưng với pháp xứ, cùng khởi lên các tâm bất tương ưng hành. Thế nào là do thấy diệt mà đoạn trừ? Là đối với pháp xứ, các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán về hành diệt và biên nhẫn mà đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy diệt mà đoạn trừ mười chín thứ tùy miên tương ưng với pháp xứ, cùng khởi lên các tâm bất tương ưng hành. Thế nào là do thấy đạo mà đoạn trừ? Là đối với pháp xứ, các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán về hành đạo và biên nhẫn mà đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy đạo mà đoạn trừ hai mươi hai thứ tùy miên tương ưng với pháp xứ, và cũng khởi các tâm bất tương ưng hành. Thế nào là do tu mà đoạn trừ? Nghĩa là đối với pháp xứ, các bậc hữu học thấy dấu vết đạo do tu đạo mà đoạn trừ. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là do tu mà đoạn trừ mười thứ tùy miên tương ưng với pháp xứ, cũng khởi lên các nghiệp về thân - ngữ, các tâm bất tương ưng hành, cùng các pháp xứ hữu lậu không nhiễm ô. Thế nào là không phải đoạn trừ? Nghĩa là pháp xứ vô lậu. Hỏi: Năm uẩn và mười hai xứ, thì năm uẩn thâu nhiếp mười hai xứ hay mười hai xứ thâu nhiếp năm uẩn? Đáp: Mười hai xứ thâu nhiếp năm uẩn chứ không phải năm uẩn thâu nhiếp mười hai xứ. Không thâu nhiếp cái gì? Là các thứ vô vi. Hỏi: Năm uẩn và mười tám giới, thì năm uẩn thâu nhiếp mười tám giới hay mười tám giới thâu nhiếp năm uẩn? Đáp: Mười tám giới thâu nhiếp năm uẩn chứ không phải năm uẩn thâu nhiếp mười tám giới. Không thâu nhiếp cái gì? Là các thứ vô vi. Hỏi: Năm uẩn và hai mươi hai căn, thì năm uẩn thâu nhiếp hai mươi hai căn hay hai mươi hai căn thâu nhiếp năm uẩn? ===== PAGE 28 ===== 268 BỘ TỲ ĐÀM 2 Đáp: Hai uẩn toàn phần và hai uẩn phần ít thâu nhiếp hai mươi hai căn. Hai mươi hai căn thâu nhiếp hai uẩn toàn phần và hai uẩn phần ít. Không thâu nhiếp cái gì? Tức là một uẩn toàn phần và hai uẩn phần ít. Hỏi: Năm uẩn và chín mươi tám tùy miên, thì năm uẩn gồm thâu chín mươi tám tùy miên hay chín mươi tám tùy miên thâu nhiếp năm uẩn? Đáp: Một uẩn phần ít thâu nhiếp chín mươi tám tùy miên, chín mươi tám tùy miên thâu nhiếp một uẩn phần ít. Không thâu nhiếp cái gì? Tức là bốn uẩn toàn phần và một uẩn phần ít. Hỏi: Mười hai xứ và mười tám giới, thì mười hai xứ thâu nhiếp mười tám giới hay mười tám giới thâu nhiếp mười hai xứ? Đáp: Chúng cùng tiếp nhận lẫn nhau tùy từng sự việc. Hỏi: Mười hai xứ và hai mươi hai căn, thì mười hai xứ thâu nhiếp hai mươi hai căn hay hai mươi hai căn thâu nhiếp mười hai xứ? Đáp: Sáu xứ toàn phần và một xứ phần ít thâu nhiếp hai mươi hai căn, hai mươi hai căn thâu nhiếp sáu xứ toàn phần và một xứ phần ít. Không thâu nhiếp cái gì? Tức là năm xứ toàn phần và một xứ phần ít. Hỏi: Mười hai xứ và chín mươi tám tùy miên, thì mười hai xứ thâu nhiếp chín mươi tám tùy miên hay chín mươi tám tùy miên thâu nhiếp mười hai xứ? Đáp: Một xứ phần ít thâu nhiếp chín mươi tám tùy miên, chín mươi tám tùy miên thâu nhiếp một xứ phần ít. Còn cái nào không thâu nhiếp? Tức là mười một xứ toàn phần và một xứ phần ít. Hỏi: Mười tám giới và hai mươi hai căn, thì mười tám giới thâu nhiếp hai mươi hai căn hay hai mươi hai căn thâu nhiếp mười tám giới? Đáp: Có mười hai giới toàn phần và một giới phần ít thâu nhiếp hai mươi hai căn. Hai mươi hai căn thâu nhiếp mười hai giới toàn phần và một giới phần ít. Không thâu nhiếp cái gì? Tức là năm giới toàn phần và một giới phần ít. Hỏi: Mười tám giới và chín mươi tám tùy miên, thì mười tám giới thâu nhiếp chín mươi tám tùy miên hay chín mươi tám tùy miên thâu nhiếp mười tám giới? ===== PAGE 29 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 269 Đáp: Một giới phần ít thâu nhiếp chín mươi tám tùy miên, chín mươi tám tùy miên thâu nhiếp một giới phần ít. Không thâu nhiếp cái gì? Tức là mười bảy giới toàn phần và một giới phần ít. Hỏi: Hai mươi hai căn và chín mươi tám tùy miên, thì hai mươi hai căn thâu nhiếp chín mươi tám tùy miên hay chín mươi tám tùy miên thâu nhiếp hai mươi hai căn? Đáp: Chúng không thâu nhiếp nhau. ----------------- ===== PAGE 30 ===== 270 BỘ TỲ ĐÀM 2 Phẩm 4: BIỆN VỀ BẢY SỰ, Phần 1 Mười tám giới, mười hai xứ, năm uẩn, năm thủ uẩn, sáu giới, mười pháp đại địa, mười pháp đại thiện địa, mười pháp đại phiền não địa, mười pháp tiểu phiền não địa, năm phiền não, năm xúc, năm kiến, năm căn, năm pháp, sáu thức thân, sáu xúc thân, sáu thọ thân, sáu tưởng thân, sáu tư thân, sáu ái thân… - Mười tám giới là gì? Đó là: 1. Nhãn giới. 2. Sắc giới. 3. Nhãn thức giới. 4. Nhĩ giới. 5. Thanh giới. 6. Nhĩ thức giới. 7. Tỷ giới. 8. Hương giới. 9. Tỷ thức giới. 10. Thiệt giới. 11. Vị giới. 12. Thiệt thức giới. 13. Thân giới. 14. Xúc giới. 15. Thân thức giới. 16. Ý giới. 17. Pháp giới. 18. Ý thức giới. - Mười hai xứ là gì? Đó là: 1. Nhãn xứ. 2. Sắc xứ. 3. Nhĩ xứ. 4. Thanh xứ. 5. Tỷ xứ. 6. Hương xứ. 7. Thiệt xứ. 8. Vị xứ. 9. Thân xứ. 10. Xúc xứ. 11. Ý xứ. 12. Pháp xứ. ===== PAGE 31 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 271 - Năm uẩn là gì? Đó là: 1. Sắc uẩn. 2. Thọ uẩn. 3. Tưởng uẩn. 4. Hành uẩn. 5. Thức uẩn. - Năm thủ uẩn là gì? Đó là: 1. Sắc thủ uẩn. 2. Thọ thủ uẩn. 3. Tưởng thủ uẩn. 4. Hành thủ uẩn. 5. Thức thủ uẩn. - Sáu giới là gì? Đó là: 1. Địa giới. 2. Thủy giới. 3. Hỏa giới. 4. Phong giới. 5. Không giới. 6. Thức giới. - Mười pháp đại địa là gì? Đó là: 1. Thọ. 2. Tưởng. 3. Tư. 4. Xúc. 5. Tác ý. 6. Dục. 7. Thắng giải. 8. Niệm. 9. Định. 10. Tuệ. - Mười pháp đại thiện địa là gì? Đó là: 1. Tín. 2. Cần. 3. Tàm. 4. Quý. 5. Vô tham. 6. Vô sân. 7. Khinh an. ===== PAGE 32 ===== 272 BỘ TỲ ĐÀM 2 8. Xả. 9. Bất phóng dật. 10. Bất hại. - Mười pháp đại phiền não địa là gì? Đó là: 1. Bất tín. 2. Giải đãi. 3. Thất niệm. 4. Tâm loạn. 5. Vô minh. 6. Bất chánh tri. 7. Phi lý tác ý. 8. Tà thắng giải. 9. Trạo cử. 10. Phóng dật. - Mười pháp tiểu phiền não địa là gì? Đó là: 1. Phẫn. 2. Hận. 3. Phú. (Che giấu) 4. Não. 5. Tật. (Ganh ghét) 6. Xan. (Keo kiệt) 7. Cuống. (Dối trá) 8. Siểm. (Dua nịnh) 9. Kiêu. (Kiêu căng) 10. Hại. - Năm thứ phiền não là gì? Đó là: 1. Tham nơi Dục. 2. Tham nơi Sắc. 3. Tham nơi Vô sắc. 4. Sân. 5. Nghi. - Năm xúc là gì? Đó là: 1. Xúc có đối. 2. Xúc tăng ngữ. 3. Xúc minh. 4. Xúc vô minh. 5. Xúc không phải minh không phải vô minh. - Năm kiến là gì? Đó là: ===== PAGE 33 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 273 1. Hữu thân kiến. 2. Biên chấp kiến. 3. Tà kiến. 4. Kiến thủ. 5. Giới cấm thủ. - Năm căn là gì? Đó là: 1. Lạc căn. 2. Khổ căn. 3. Hỷ căn. 4. Ưu căn. 5. Xả căn. - Năm pháp là gì? Đó là: 1. Tầm. 2. Tứ. 3. Thức. 4. Vô tàm. 5. Vô quý. - Sáu thức thân là gì? Đó là: 1. Nhãn thức. 2. Nhĩ thức. 3. Tỷ thức. 4. Thiệt thức. 5. Thân thức. 6. Ý thức. - Sáu xúc thân là gì? Đó là: 1. Nhãn xúc. 2. Nhĩ xúc. 3. Tỷ xúc. 4. Thiệt xúc. 5. Thân xúc. 6. Ý xúc. - Sáu thọ thân là gì? Đó là: 1. Nhãn xúc sinh ra thọ. 2. Nhĩ xúc sinh ra thọ. 3. Tỷ xúc sinh ra thọ. 4. Thiệt xúc sinh ra thọ. 5. Thân xúc sinh ra thọ. 6. Ý xúc sinh ra thọ. ===== PAGE 34 ===== 274 BỘ TỲ ĐÀM 2 - Sáu tưởng thân là gì? Đó là: 1. Nhãn xúc sinh ra tưởng. 2. Nhĩ xúc sinh ra tưởng. 3. Tỷ xúc sinh ra tưởng. 4. Thiệt xúc sinh ra tưởng. 5. Thân xúc sinh ra tưởng. 6. Ý xúc sinh ra tưởng. - Sáu tư thân là gì? Đó là: 1. Nhãn xúc sinh ra tư. 2. Nhĩ xúc sinh ra tư. 3. Tỷ xúc sinh ra tư. 4. Thiệt xúc sinh ra tư. 5. Thân xúc sinh ra tư. 6. Ý xúc sinh ra tư. - Sáu ái thân là gì? Đó là: 1. Nhãn xúc sinh ra ái. 2. Nhĩ xúc sinh ra ái. 3. Tỷ xúc sinh ra ái. 4. Thiệt xúc sinh ra ái. 5. Thân xúc sinh ra ái. 6. Ý xúc sinh ra ái. Nhãn giới là gì? Nghĩa là mắt đối với sắc đã chính thức nhìn thấy và đồng phần với sắc. Sắc giới là gì? Nghĩa là sắc được mắt chính thức nhìn thấy và đồng phần với mắt. Nhãn thức giới là gì? Nghĩa là mắt và sắc làm duyên sinh ra nhãn thức. Như thế, mắt là phần tăng thượng, sắc là đối tượng được duyên, nơi mắt nhận biết sắc, các thứ đã chính thức phân biệt và đồng phần với sắc. Nhĩ giới là gì? Nghĩa là tai đối với tiếng đã chính thức nghe tiếng và đồng phần với tiếng. Thanh giới là gì? Nghĩa là tiếng được tai đã chính thức nghe và đồng phần với tai. Nhĩ thức giới là gì? Nghĩa là tai và tiếng cùng làm duyên sinh ra nhĩ thức. Như thế tai là phần tăng thượng, tiếng là đối tượng được duyên, nơi tai nhận biết tiếng, các thứ đã chính thức phân biệt và đồng phần với tiếng. Tỷ giới là gì? Nghĩa là mũi đối với hương đã chính thức ngửi và ===== PAGE 35 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 275 đồng phần với hương. Hương giới là gì? Nghĩa là hương được mũi đã chính thức ngửi và đồng phần với mũi. Tỷ thức giới là gì? Nghĩa là mũi cùng hương làm duyên sinh ra tỷ thức. Như thế mũi là phần tăng thượng, hương là đối tượng được duyên, nơi mũi nhận biết hương, các thứ đã chính thức phân biệt và đồng phần với hương. Thiệt giới là gì? Nghĩa là lưỡi đối với vị đã chính thức nếm các vị và đồng phần với vị. Vị giới là gì? Nghĩa là vị được lưỡi đã chính thức nếm và đồng phần với lưỡi. Thiệt thức giới là gì? Nghĩa là lưỡi và vị làm duyên sinh ra thiệt thức. Như thế lưỡi là phần tăng thượng, vị là đối tượng được duyên nơi lưỡi nhận biết vị, các thứ đã chính thức phân biệt đồng phần. Thân giới là gì? Nghĩa là thân đối với xúc đã chính thức chạm xúc và đồng phần với vị. Xúc giới là gì? Nghĩa là xúc được thân đã chính thức chạm xúc và đồng phần với xúc. Thân thức giới là gì? Nghĩa là thân và xúc làm duyên sinh ra thân thức. Như thế thân là phần tăng thượng, xúc là đối tượng được duyên, nơi thân nhận biết xúc, các thứ đã chính thức phân biệt và đồng phần với xúc. Ý giới là gì? Nghĩa là ý đối với pháp đã chính thức nhận biết và đồng phần với pháp. Pháp giới là gì? Nghĩa là pháp được ý đã chính thức nhận biết và đồng phần với ý. Ý thức giới là gì? Nghĩa là ý và pháp làm duyên sinh ra ý thức. Như thế ý là phần tăng thượng, còn pháp là đối tượng được duyên, nơi ý nhận biết pháp, các thứ đã chính thức phân biệt và đồng phần với pháp. Nhãn xứ là gì? Tức mắt là chủ thể thấy chính thức về các sắc và đồng phần với sắc. Sắc xứ là gì? Tức sắc là đối tượng được thấy chính thức của mắt và đồng phần với mắt. Nhĩ xứ là gì? Tức tai là chủ thể nghe chính thức về các tiếng và đồng phần với tiếng. Thanh xứ là gì? Tức tiếng là đối tượng được nghe chính thức của tai và đồng phần với tai. ===== PAGE 36 ===== 276 BỘ TỲ ĐÀM 2 Tỷ xứ là gì? Tức mũi là chủ thể ngửi chính thức ngửi các mùi và đồng phần với mùi. Hương xứ là gì? Tức mùi là đối tượng được ngửi chính thức của mũi và đồng phần với mũi. Thiệt xứ là gì? Tức lưỡi là chủ thể đã chính thức nếm biết các vị và đồng phần với vị. Vị xứ là gì? Tức vị là đối tượng được nếm của lưỡi và đồng phần với lưỡi. Thân xứ là gì? Tức thân là chủ thể xúc chạm chính thức về các xúc và đồng phần với xúc. Xúc xứ là gì? Tức xúc là đối tượng được xúc chạm chính thức của thân và đồng phần với thân. Ý xứ là gì? Tức ý là chủ thể nhận biết chính thức về các pháp và đồng phần với pháp. Pháp xứ là gì? Tức pháp là đối tượng được nhận biết chính thức của ý và đồng phần với ý. Thế nào là sắc uẩn? Nghĩa là mười sắc xứ và pháp xứ cùng thâu tóm sắc. Thế nào là thọ uẩn? Nghĩa là sáu thọ thân, tức là từ mắt tiếp xúc sinh ra thọ… cho đến ý tiếp xúc sinh ra thọ. Thế nào là tưởng uẩn? Nghĩa là sáu tưởng thân, tức là từ mắt tiếp xúc sinh ra tưởng… cho đến ý tiếp xúc sinh ra tưởng. Thế nào là hành uẩn? Đây có hai thứ: Tức là hành uẩn tương ưng với tâm và hành uẩn không tương ưng với tâm. Thế nào là hành uẩn tương ưng với tâm? Nghĩa là pháp và tâm tương ưng với nhau. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là tất cả các thứ như tư - xúc- tác ý - dục - thắng giải - niệm - định - tuệ - tín - cần - tầm - tứ - phóng dật và không phóng dật, căn thiện - căn bất thiện căn vô ký, tất cả các thứ kiết phược - tùy miên - ràng buộc của tùy phiền não, các thứ trí hiện có, các thứ kiến hiện có, các thứ hiện quán hiện có. Lại có các pháp khác tương tự như thế cùng với tâm tương ưng…, gọi chung là hành uẩn tương ưng với tâm. Thế nào là hành uẩn không tương ưng với tâm? Nghĩa là pháp và tâm không tương ưng. Đây nghĩa là gì? Nghĩa là đã đạt định vô tưởng - định diệt tận - vô tưởng sự - mạng căn - chúng đồng, phần y đắc - sự đắc- xứ đắc, sinh - lão - trụ - vô thường, danh thân - cú thân - văn thân. Lại có những loại pháp khác không tương ưng với tâm như vậy…, gọi chung là hành uẩn không tương ưng với tâm. Cả hai thứ đó hợp lại gọi ===== PAGE 37 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 2 277 là hành uẩn. Thế nào là thức uẩn? Nghĩa là sáu thức thân, tức là nhãn thức… cho đến ý thức. Thế nào là sắc thủ uẩn? Nghĩa là như các sắc hữu lậu có chấp giữ. Đối với các sắc này hoặc có mặt ở quá khứ- vị lai hay hiện tại, hoặc là dục, hoặc các thứ tham - sân - si, hoặc tùy theo mỗi mỗi tâm sở, tùy phiền não, đúng lúc phát sinh lập tức phát sinh, thì gọi là sắc thủ uẩn. Thế nào là các thủ uẩn thọ-tưởng-hành- thức? Nghĩa là như thọ - tưởng - hành - thức hữu lậu, có chấp giữ đối với các thọ - tưởng - hành - thức này, nếu chúng có mặt ở các thời quá khứ- hiện tại hay vị lai, hoặc các thứ như dục - tham - sân - si, hoặc tùy theo mỗi mỗi tâm sở, tùy phiền não, đúng lúc phát sinh lập tức phát sinh, đó gọi là thủ uẩn thọ-tưởng-hành- thức. Địa giới là gì? Tức là chỉ cho tánh cứng chắc. Thủy giới là gì? Tức là chỉ cho tánh ẩm ướt. Hỏa giới là gì? Tức là chỉ cho tiùnh ấm nóng. Phong giới là gì? Tức là chỉ cho tiùnh chất nhẹ và lưu động. Không giới là gì? Tức là Lân a già sắc (Sắc của hư không). Thức giới là gì? Tức là năm thức thân và ý thức hữu lậu. Thọ là gì? Nghĩa là các loại thọ cùng thọ, thọ riêng biệt, đều thọ, đã thọ. Đó gọi là thọ. Tưởng là gì? Nghĩa là các loại tưởng cùng tưởngï, tưởng tăng thượng, đều tưởng, đã tưởng. Đó gọi là tưởng. Tư là gì? Nghĩa là các loại suy nghĩ (tư) đều suy nghĩ, suy nghĩ tăng thượng, đã suy nghĩ, tâm tác ý về nghiệp. Đó gọi là tư. Xúc là gì? Nghĩa là các loại xúc đều xúc, tính chất của chạm xúc, tính chất cùng chạm xúc, đã tiếp xúc. Đó gọi là xúc. Tác ý là gì? Nghĩa là tâm lôi kéo dẫn dắt, thuận theo sự lôi kéo dẫn dắt, tư duy lôi kéo dẫn dắt, gây tạo nên các ý nghĩ, khiến tâm biến chuyển, tâm tỉnh giác… Đó gọi là tác ý. Dục là gì? Nghĩa là ham muốn, tính chất ham muốn tăng thượng, tánh ham muốn hiện tiền, các sự vui thích - trông mong - ưa làm... Đó gọi là dục. Thắng giải là gì? Nghĩa là tâm chính thức hiểu rõ đúng tính chất của sự việc đã - đang và sẽ hiểu biết đúng. Đó gọi là thắng giải. Niệm là gì? Nghĩa là nhớ nghĩ (niệm), tùy niệm (nhớ nghĩ về, nhớ nghĩ theo). Nhớ nghĩ riêng biệt, nhớ lại… không quên, không mất, không sót, không rớt, tính chất không quên các pháp, tính chất của tâm sáng ===== PAGE 38 ===== 278 BỘ TỲ ĐÀM 2 suốt ghi nhớ... Đó gọi là niệm. Định là gì? Nghĩa là khiến tâm trụ cùng trụ, an trụ, trụ gần, trụ vững chắc, không phân tán loạn động, thâu giữ, cùng giữ tính chất nơi tâm chú vào một cảnh. Đó gọi là định. Tuệ là gì? Nghĩa là đối với các pháp biết chọn lựa, chọn lựa kỹ, chọn lựa rất cùng cực, hiểu rõ, đều hiểu rõ, hiểu rõ khắp, hiểu rõ gần, hiểu biết thông suốt, phán xét thông tỏ, tuệ sáng rõ hành, Tỳ-bát-xá- na... Đó gọi là tuệ. ===== PAGE 39 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 3 279 LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC