A-tỳ-đạt-ma Phẩm Loại Túc Luận · Quyển 7
阿毘達磨品類足論 · T1542
Hán văn
尊者世友造 三藏法師玄奘奉 詔譯 辯攝等品第六之三 身業云何?謂身表及無表。語業云何?謂語表 及無表。意業云何?謂思。善業云何?謂善身語 業及善思。不善業云何?謂不善身語業及不 善思。無記業云何?謂無記身語業及無記思。 學業云何?謂學身語業及學思。無學業云何? 謂無學身語業及無學思。非學非無學業云 何?謂有漏身語業及有漏思。見所斷業云何? 謂若業隨信隨法行現觀邊忍所斷。此復云 何?謂見所斷八十八隨眠相應思。修所斷業 云何?謂若業學見迹修所斷。此復云何?謂修 所斷十隨眠相應思,及彼等起身語業,并不 染污有漏業。非所斷業云何?謂無漏身語業 及無漏思。順現法受業云何?謂若業此生造 作增長,彼業即於此生受異熟非餘生,是名 順現法受業。順次生受業云何?謂若業此生 造作增長,彼業隨第二生受異熟非餘生,是 名順次生受業。順後次受業云何?謂若業此 生造作增長,彼業或隨第三生、或隨第四生、 或復過此受異熟非餘生,是名順後次受業。 順樂受業云何?謂欲界繫善業及色界繫,乃 至第三靜慮地善業。順苦受業云何?謂不善 業。順不苦不樂受業云何?謂第四靜慮地繫 善業,及無色界繫善業。 身念住云何?謂十有色處及法處所攝色。受 念住云何?謂六受身,即眼觸所生受乃至意 觸所生受。心念住云何?謂六識身,即眼識乃 至意識。法念住云何?謂受所不攝非色法處。 復次身增上所起善有漏無漏道,是名身念 住。受增上所起善有漏無漏道,是名受念住。 心增上所起善有漏無漏道,是名心念住。法 增上所起善有漏無漏道,是名法念住。復次 緣身所起善有漏無漏慧,是名身念住。緣受 所起善有漏無漏慧,是名受念住。緣心所起 善有漏無漏慧,是名心念住。緣法所起善有 漏無漏慧,是名法念住。為令已生惡不善法 得永斷故勤修正斷云何?謂為令已生惡不 善法永斷,增上所起善有漏無漏道。為令未 生惡不善法永不生故勤修正斷云何?謂為 令未生惡不善法不生,增上所起善有漏無 漏道。為令未生善法生故勤修正斷云何?謂 為令未生善法得生,增上所起善有漏無漏 道。為令已生善法堅住不忘修滿倍復增廣 智作證故勤修正斷云何?謂為令已生善法 堅住不忘修滿倍復增廣智證,增上所起善 有漏無漏道。欲三摩地斷行成就神足云何? 謂欲增上所起善有漏無漏道。勤三摩地斷 行成就神足云何?謂勤增上所起善有漏無 漏道。心三摩地斷行成就神足云何?謂心增 上所起善有漏無漏道。觀三摩地斷行成就 神足云何?謂觀增上所起善有漏無漏道。 初靜慮云何?謂初靜慮所攝善五蘊。第二靜 慮云何?謂第二靜慮所攝善五蘊。第三靜慮 云何?謂第三靜慮所攝善五蘊。第四靜慮云 何?謂第四靜慮所攝善五蘊。苦聖諦云何?謂 五取蘊。集聖諦云何?謂有漏因。滅聖諦云何? 謂擇滅。道聖諦云何?謂學無學法。慈無量云 何?謂慈及慈相應受想行識,若彼等起身語 業、若彼等起心不相應行,是名慈無量。悲無 量云何?謂悲及悲相應受想行識,若彼等起 身語業、若彼等起心不相應行,是名悲無量。 喜無量云何?謂喜及喜相應受想行識,若彼 等起身語業、若彼等起心不相應行,是名喜 無量。捨無量云何?謂捨及捨相應受想行識, 若彼等起身語業、若彼等起心不相應行,是 名捨無量。空無邊處云何?此有二種:一定、二 生,此中所有受想行識,是名空無邊處。識無 邊處云何?此有二種:一定、二生,此中所有受 想行識,是名識無邊處。無所有處云何?此有 二種:一定、二生,此中所有受想行識,是名 無所有處。非想非非想處云何?此有二種:一 定、二生,此中所繫受想行識,是名非想非非 想處。 隨所得衣喜足聖種云何?謂隨所得衣喜足 增上所起善有漏無漏道,是名隨所得衣喜 足聖種。隨所得食喜足聖種云何?謂隨所得 食喜足增上所起善有漏無漏道,是名隨所 得食喜足聖種。隨所得臥具喜足聖種云何? 謂隨所得臥具喜足增上所起善有漏無漏 道,是名隨所得臥具喜足聖種。樂斷樂修聖 種云何?謂樂斷樂修增上所起善有漏無漏 道,是名樂斷樂修聖種。預流果云何?此有二 種:一有為、二無為。有為預流果云何?謂證預 流果所有學法,已正當得。無為預流果云何? 謂證預流果所有結斷,已正當得。是名預流 果。一來果云何?此有二種:一有為、二無為。有 為一來果云何?謂證一來果所有學法,已正 當得。無為一來果云何?謂證一來果所有結 斷,已正當得。是名一來果。不還果云何?此有 二種:一有為、二無為。有為不還果云何?謂證 不還果所有學法,已正當得。無為不還果云 何?謂證不還果所有結斷,已正當得。是名不 還果。阿羅漢果云何?此有二種:一有為、二無 為。有為阿羅漢果云何?謂證阿羅漢果所有 無學法,已正當得。無為阿羅漢果云何?謂證 阿羅漢果所有結斷,已正當得。是名阿羅漢 果。法智、苦智等二種四智,如前應知。法無礙 解云何?謂於名句文身所有不退智。義無礙 解云何?謂於勝義所有不退智。詞無礙解云 何?謂於言詞所有不退智。辯無礙解云何?謂 於無滯應理言詞及於等持自在顯示所有 不退智。 因緣云何?謂一切有為法。等無間緣云何?謂 除過去現在阿羅漢命終時心心所法,諸餘 過去現在心心所法。所緣緣及增上緣云何? 謂一切法。段食云何?謂緣段食,諸根長養、大 種增益,資助隨資助、充悅隨充悅、護隨護、轉 隨轉、益隨益,是名段食。觸食云何?謂緣有漏 觸,諸根長養、大種增益,資助隨資助、充悅隨 充悅、護隨護、轉隨轉、益隨益,是名觸食。意 思食云何?謂緣有漏思,諸根長養、大種增益, 資助隨資助、充悅隨充悅、護隨護、轉隨轉、益 隨益,是名意思食。識食云何?謂緣有漏識,諸 根長養、大種增益,資助隨資助、充悅隨充悅、 護隨護、轉隨轉、益隨益,是名識食。 欲瀑流云何?謂除欲界繫見及無明,諸餘欲 界繫結、縛、隨眠、隨煩惱、纏,是名欲瀑流。有 瀑流云何?謂除色無色界繫見及無明,諸餘 色無色界繫結、縛、隨眠、隨煩惱、纏,是名有瀑 流。見瀑流云何?謂三界五見,即有身見、邊 執見、邪見、見取、戒禁取,是名見瀑流。無明 瀑流云何?謂三界無智。四扼亦爾。欲取云 何?謂除欲界繫五見,諸餘欲界繫結、縛、隨眠、 隨煩惱、纏,是名欲取。見取云何?謂四見,即有 身見、邊執見、邪見、見取,是名見取。戒禁取云 何?謂如有一取戒言戒能清淨、能解脫、能出 離、能超苦樂至超苦樂處;取禁言禁能清淨、 能解脫、能出離、能超苦樂至超苦樂處;取戒禁 言戒禁能清淨、能解脫、能出離、能超苦樂至超 苦樂處。是名戒禁取。我語取云何?謂除色無 色界繫五見,諸餘色無色界繫結、縛、隨眠、隨 煩惱、纏,是名我語取。過去法云何?謂過去五 蘊。未來法云何?謂未來五蘊。現在法云何?謂 現在五蘊。非過去非未來非現在法云何?謂 無為法。欲界繫法云何?謂欲界繫五蘊。色界 繫法云何?謂色界繫五蘊。無色界繫法云何? 謂無色界四蘊。不繫法云何?謂一切無漏法。 善為因法云何?謂善有為法及善法異熟。不 善為因法云何?謂欲界繫染污及不善法異 熟。無記為因法云何?謂無記有為及不善法。 非善為因非不善為因非無記為因法云何? 謂無為法。緣有所緣法云何?謂緣心、心所法、 意識及相應法。緣無所緣法云何?謂五識身 及相應法,并緣色、無為、心不相應行、意識及 相應法。緣有所緣緣無所緣法云何?謂緣心、 心所法、色、無為、心不相應行、意識及相應法。 非緣有所緣非緣無所緣法云何?謂色、無為、 心不相應行。 五蘊、五取蘊如前說。捺落迦趣云何?謂那落 迦諸有情類,同性同類同眾同分,依得事得 處得,生彼有情無覆無記色受想行識,是名 捺落迦趣。傍生趣云何?謂傍生諸有情類,同 性同類同眾同分,依得事得處得,生彼有情, 無覆無記色受想行識,是名傍生趣。鬼趣云 何?謂鬼諸有情類,同性同類同眾同分,依得 事得處得,生彼有情無覆無記色受想行識, 是名鬼趣。人趣云何?謂人諸有情類,同性同 類同眾同分,依得事得處得,生彼有情無覆 無記色受想行識,是名人趣。天趣云何?謂天 諸有情類,同性同類同眾同分,依得事得處 得,生彼有情無覆無記色受想行識,是名天 趣。見苦所斷煩惱部云何?謂有煩惱部隨信 隨法行苦現觀邊忍所斷。此復云何?謂見苦 所斷二十八隨眠,及彼相應諸煩惱眾。見集 所斷煩惱部云何?謂有煩惱部隨信隨法行 集現觀邊忍所斷。此復云何?謂見集所斷十 九隨眠,及彼相應諸煩惱眾。見滅所斷煩惱 部云何?謂有煩惱部隨信隨法行滅現觀邊 忍所斷。此復云何?謂見滅所斷十九隨眠,及 彼相應諸煩惱眾。見道所斷煩惱部云何?謂 有煩惱部隨信隨法行道現觀邊忍所斷。此 復云何?謂見道所斷二十二隨眠,及彼相應 諸煩惱眾。修所斷煩惱部云何?謂有煩惱部 學見迹修所斷。此復云何?謂修所斷十隨眠, 及彼相應煩惱眾。色等五法如前說。 地等六界如前說。見苦所斷法云何?謂若法 隨信隨法行苦現觀邊忍所斷。此復云何?謂 見苦所斷二十八隨眠,及彼相應法,并彼等 起心不相應行,是名見苦所斷法。見集所斷 法云何?謂若法隨信隨法行集現觀邊忍所 斷。此復云何?謂見集所斷十九隨眠,及彼相 應法,并彼等起心不相應行,是名見集所斷 法。見滅所斷法云何?謂若法隨信隨法行滅 現觀邊忍所斷。此復云何?謂見滅所斷十九 隨眠,及彼相應法,并彼等起心不相應行,是 名見滅所斷法。見道所斷法云何?謂若法隨 信隨法行道現觀邊忍所斷。此復云何?謂見 道所斷二十二隨眠,及彼相應法,并彼等起 心不相應行,是名見道所斷法。修所斷法云 何?謂若法學見迹修所斷。此復云何?謂修所 斷十隨眠,及彼相應法,若彼等起身語業、若 彼等起心不相應行、若不染污諸有漏法,是 名修所斷法。非所斷法云何?謂諸無漏法。欲 貪隨眠云何?謂於諸欲諸貪等貪,執藏防護 耽著愛樂。瞋隨眠云何?謂於有情心懷憤恚、 欲為損害,根栽對礙、憎怒凶悖、猛烈暴惡,已 正當瞋,令諸有情互相違害。有貪隨眠云 何?謂於色無色諸貪等貪,執藏防護耽著愛 樂。慢隨眠云何?謂慢已慢當慢,心高舉、心恃 篾。無明隨眠云何?謂三界無智。見隨眠云 何?謂五染污見。疑隨眠云何?謂於諦猶豫。初 識住云何?謂有色有情,身異想異,如人一分 天,是初識住。此中初者,謂隨算數漸次順 次相續次第,此最在初。彼繫諸色受想行識, 總名識住。第二識住云何?謂有色有情,身異 想一,如梵眾天劫初時,是第二識住。此中第 二者,謂隨算數漸次順次相續次第,此居第 二。彼繫諸色受想行識,總名識住。第三識住 云何?謂有色有情,身一想異,如極光淨天,是 第三識住。此中第三者,謂隨算數漸次順次 相續次第,此居第三。彼繫諸色受想行識,總 名識住。第四識住云何?謂有色有情,身一想 一,如遍淨天,是第四識住。此中第四者,謂隨 算數漸次順次相續次第,此居第四。彼繫諸 色受想行識,總名識住。第五識住云何?謂無 色有情,超一切色想、滅有對想,不思惟種種 想入無邊空,空無邊處具足住,如空無邊處 天,是第五識住。此中第五者,謂隨算數漸次 順次相續次第,此居第五。彼繫諸受想行識, 總名識住。第六識住云何?謂無色有情,超一 切空無邊處入無邊識,識無邊處具足住,如 識無邊處天,是第六識住。此中第六者,謂隨 算數漸次順次相續次第,此居第六。彼繫諸 受想行識,總名識住。第七識住云何?謂無色 有情,超一切識無邊處入無所有,無所有處 具足住,如無所有處天,是第七識住。此中第 七者,謂隨算數漸次順次相續次第,此居第 七。彼繫諸受想行識,總名識住。 念等覺支云何?謂聖弟子等,於苦思惟苦、於 集思惟集、於滅思惟滅、於道思惟道,無漏作 意相應,諸念隨念別念憶念、不忘不失不遺 不漏,不忘法性、心明記性,是名念等覺支。擇 法等覺支云何?謂聖弟子等,於苦思惟苦、於 集思惟集、於滅思惟滅、於道思惟道,無漏作 意相應,於法簡擇極簡擇最極簡擇、解了等 了遍了近了,機黠通達、審察聰叡,覺明慧行、 毘般舍那,決擇法性,是名擇法等覺支。精進 等覺支云何?謂聖弟子等,於苦思惟苦、於集 思惟集、於滅思惟滅、於道思惟道,無漏作意 相應,諸勤精進、勇健勢猛、熾盛難制、勵意不 息,心勇悍性,是名精進等覺支。喜等覺支云 何?謂聖弟子等,於苦思惟苦、於集思惟集、於 滅思惟滅、於道思惟道,無漏作意相應,心欣 極欣現前極欣、欣性欣類、適意悅意、喜性喜 類、樂和合不別離、歡欣悅豫,有堪任性、踊躍 踊躍性、歡喜歡喜性,是名喜等覺支。輕安等 覺支云何?謂聖弟子等,於苦思惟苦、於集思 惟集、於滅思惟滅、於道思惟道,無漏作意相 應,身輕安、心輕安、已輕安、輕安類,是名輕安 等覺支。定等覺支云何?謂聖弟子等,於苦思 惟苦、於集思惟集、於滅思惟滅、於道思惟道, 無漏作意相應,諸令心住等住安住近住堅 住、不亂不散攝止等持,心一境性,是名定等 覺支。捨等覺支云何?謂聖弟子等,於苦思惟 苦、於集思惟集、於滅思惟滅、於道思惟道,無 漏作意相應,心平等性,心正直性,心無警覺 寂靜住性,是名捨等覺支。 初解脫云何?謂有色觀諸色,是初解脫。此中 初者,謂隨算數漸次順次相續次第,此最在 初。又隨入定漸次順次相續次第,此最在初。 如是定中所有善色受想行識,是名解脫。第 二解脫云何?謂內無色想觀外色,是第二解 脫。此中第二者,謂隨算數漸次順次相續次 第,此居第二。又隨入定漸次順次相續次第, 此居第二。如是定中所有善色受想行識,是 名解脫。第三解脫云何?謂淨解脫身作證具 足住,是第三解脫。此中第三者,謂隨算數漸 次順次相續次第,此居第三。又隨入定漸次 順次相續次第,此居第三。如是定中所有善 色受想行識,是名解脫。第四解脫云何?謂超 一切色想、滅有對想,不思惟種種想入無邊 空,空無邊處具足住,是第四解脫。此中第四 者,謂隨算數漸次順次相續次第,此居第四。 又隨入定漸次順次相續次第,此居第四。如 是定中所有善受想行識,是名解脫。第五解 脫云何?謂超一切空無邊處入無邊識,識無 邊處具足住,是第五解脫。此中第五者,謂隨 算數漸次順次相續次第,此居第五。又隨入 定漸次順次相續次第,此居第五。如是定中 所有善受想行識,是名解脫。第六解脫云何? 謂超一切識無邊處入無所有,無所有處具 足住,是第六解脫。此中第六者,謂隨算數漸 次順次相續次第,此居第六。又隨入定漸次 順次相續次第,此居第六。如是定中所有善 受想行識,是名解脫。第七解脫云何?謂超一 切無所有處,入非想非非想處具足住,是第 七解脫。此中第七者,謂隨算數漸次順次相 續次第,此居第七。又隨入定漸次順次相續 次第,此居第七。如是定中所有善受想行識, 是名解脫。第八解脫云何?謂超一切非想非 非想處,入想受滅身作證具足住,是第八解 脫。此中第八者,謂隨算數漸次順次相續次 第,此居第八。又隨入定漸次順次相續次第, 此居第八。如是定中,諸解脫、勝解脫、異極解 脫。復次若法想微細為因、想微細為等無間, 是與想不俱義,非不成就義,是名解脫。 初勝處云何?謂內有色想觀外色少,若好顯 色、若惡顯色,於彼諸色勝知勝見,具如是想, 是初勝處。此中初者,謂隨算數漸次順次相 續次第,此最在初。又隨入定漸次順次相續 次第,此最在初。如是定中所有善色受想行 識,是名勝處。第二勝處云何?謂內有色想觀 外色多,若好顯色、若惡顯色,於彼諸色勝知 勝見,具如是想,是第二勝處。此中第二者,謂 隨算數漸次順次相續次第,此居第二。又隨 入定漸次順次相續次第,此居第二。如是定 中所有善色受想行識,是名勝處。第三勝處 云何?謂內無色想觀外色少,若好顯色、若惡 顯色,於彼諸色勝知勝見,具如是想,是第三 勝處。此中第三者,謂隨算數漸次順次相續 次第,此居第三。又隨入定漸次順次相續次 第,此居第三。如是定中所有善色受想行識, 是名勝處。第四勝處云何?謂內無色想觀外 色多,若好顯色、若惡顯色,於彼諸色勝知勝 見,具如是想,是第四勝處。此中第四者,謂隨 算數漸次順次相續次第,此居第四。又隨入 定漸次順次相續次第,此居第四。如是定中 所有善色受想行識,是名勝處。第五勝處云 何?謂內無色想觀外諸色,若青青顯青現青 光,猶如烏莫迦花,或如婆羅痆斯深染青衣, 若青青顯青現青光。內無色想觀外諸色,若 青青顯青現青光,亦復如是。於彼諸色勝知 勝見,具如是想,是第五勝處。此中第五者,謂 隨算數漸次順次相續次第,此居第五。又隨 入定漸次順次相續次第,此居第五。如是定 中所有善色受想行識,是名勝處。第六勝處 云何?謂內無色想觀外諸色,若黃黃顯黃現 黃光,猶如羯尼迦花,或如婆羅痆斯深染黃 衣,若黃黃顯黃現黃光。內無色想觀外諸色, 若黃黃顯黃現黃光,亦復如是。於彼諸色勝 知勝見,具如是想,是第六勝處。此中第六者, 謂隨算數漸次順次相續次第,此居第六。又 隨入定漸次順次相續次第,此居第六。如是 定中所有善色受想行識,是名勝處。第七勝 處云何?謂內無色想觀外諸色,若赤赤顯赤 現赤光,猶如槃豆時縛迦花,或如婆羅痆斯 深染赤衣,若赤赤顯赤現赤光。內無色想觀 外諸色,若赤赤顯赤現赤光,亦復如是。於彼 諸色勝知勝見,具如是想,是第七勝處。此中 第七者,謂隨算數漸次順次相續次第,此居 第七。又隨入定漸次順次相續次第,此居第 七。如是定中所有善色受想行識,是名勝處。 第八勝處云何?謂內無色想觀外諸色,若白 白顯白現白光,猶如烏殺斯星,或如婆羅痆 斯極鮮白衣,若白白顯白現白光。內無色想 觀外諸色,若白白顯白現白光,亦復如是。於 彼諸色勝知勝見,具如是想,是第八勝處。此 中第八者,謂隨算數漸次順次相續次第,此 居第八。又隨入定漸次順次相續次第,此居 第八。如是定中所有善色受想行識,是名勝 處。
Việt dịch
QUYỂN 7 Phẩm 6: BIỆN VỀ THÂU GIỮ, Phần 3 Thân nghiệp là gì? Nghĩa là các việc do thân biểu hiện hoặc không biểu hiện ra. Ngữ nghiệp là gì? Nghĩa là các việc do lời nói, nói năng biểu hiện hoặc không biểu hiện ra. Ý nghiệp là gì? Nghĩa là suy tư nghĩ ngợi… Nghiệp thiện là gì? Tức là các nghiệp thiện của thân - ngữ và tư thiện. Nghiệp bất thiện là gì? Nghĩa là các nghiệp bất thiện của thân - ngữ và tư bất thiện. Nghiệp vô ký là gì? Nghĩa là các nghiệp vô ký của thân- ngữ và tư vô ký. Nghiệp hữu học là gì? Nghĩa là các nghiệp hữu học của thân-ngữ và tư hữu học. Nghiệp vô học là gì? Nghĩa là các nghiệp vô học của thân - ngữ và tư vô học. Nghiệp phi hữu học phi vô học là gì? Tức là các nghiệp hữu lậu của thân - ngữ và tư hữu lậu. Nghiệp do thấy mà đoạn trừ là gì? Nghĩa là các nghiệp của các bậc tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán biên, nhẫn mà đoạn trừ. Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy mà đoạn trừ tám mươi tám thứ tùy miên tương ưng với tư (ý, suy nghĩ). Nghiệp do tu mà đoạn trừ là gì? Nghĩa là nghiệp của các thứ học, thấy dấu vết đạo và do tu mà đoạn trừ… Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là do tu mà đoạn trừ mười thứ tùy miên tương ưng với tư, và nó luôn khởi lên các nghiệp của thân- ngữ và các nghiệp hữu lậu không nhiễm ô. ===== PAGE 118 ===== 358 BỘ TỲ ĐÀM 2 Nghiệp không có gì đoạn trừ là gì? Nghĩa là các nghiệp vô lậu của thân - ngữ, và tư vô lậu. Nghiệp thọ nhận trong hiện tại là gì? Nghĩa là các nghiệp đã được tạo tác tăng trưởng trong đời này, các nghiệp ấy ngay trong đời này nhận chịu các dị thục, chứ không phải ở các đời khác. Nghiệp thọ nhận trong đời kế tiếp là gì? Nghĩa là các nghiệp do trong đời này đã tạo tác tăng trưởng, các nghiệp ấy ngay trong đời thứ hai sẽ nhận chịu các dị thục, chứ không phải ở các đời khác. Nghiệp thọ nhận ở đời kế tiếp sau nữa là gì? Nghĩa là các nghiệp do trong đời này đã tạo tác tăng trưởng, các nghiệp đó hoặc trong đời thứ ba hay đời thứ tư hoặc xa hơn nữa sẽ nhận chịu các dị thục, chứ không phải ở các đời khác. Nghiệp thọ nhận thuận vui là gì? Tức là các nghiệp thiện ở cõi Dục và Sắc…, cho đến các nghiệp thiện ở bậc tĩnh lự thứ ba tạo ra. Nghiệp thọ nhận thuận khổ là gì? Tức là các nghiệp bất thiện tạo ra. Nghiệp thọ nhận thuận không khổ không vui là gì? Nghĩa là các nghiệp thiện ở bậc tĩnh lự thứ tư và các nghiệp thiện ở cõi Vô sắc tạo ra. Thân niệm trụ là gì? Nghĩa là sắc xứ của mười hữu (cõi) và sắc do pháp xứ thâu giữ. Thọ niệm trụ là gì? Nghĩa là sáu thọ của thân, tức là mắt tiếp xúc sinh ra thọ…, cho đến ý tiếp xúc sinh ra thọ. Tâm niệm trụ là gì? Nghĩa là sáu thức của thân, tức là nhãn thức… cho đến ý thức. Pháp niệm trụ là gì? Nghĩa là thọ nhận mà không thâu giữ các thứ không phải là lãnh vực của sắc pháp. Lại nữa, thân tăng thượng khởi lên các đạo hữu lậu thiện và vô lậu thì gọi là Thân niệm trụ. Thọ tăng thượng khởi lên các đạo hữu lậu thiện và vô lậu thì gọi là Thọ niệm trụ. Tâm tăng thượng khởi lên các đạo hữu lậu thiện và vô lậu thì gọi là Tâm niệm trụ. Pháp tăng thượng khởi lên các đạo hữu lậu thiện và vô lậu thì gọi là Pháp niệm trụ. Lại nữa, do duyên vào thân mà khởi lên các tuệ hữu lậu thiện và vô lậu, đó là Thân niệm trụ. Do duyên vào thọ mà khởi lên các tuệ hữu lậu thiện và vô lậu, đó là Thọ niệm trụ. Do duyên vào tâm mà khởi lên các tuệ hữu lậu thiện và vô lậu, đó là Tâm niệm trụ. Do duyên vào pháp mà khởi lên các tuệ hữu lậu thiện và vô lậu, đó là Pháp niệm trụ. Thế nào là các pháp ác, bất thiện đã sinh thì quyết đoạn dứt hẳn, siêng tu chánh đoạn? Nghĩa là các pháp ác, bất thiện đã sinh thì quyết ===== PAGE 119 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 7 359 đoạn dứt hẳn, làm chính duyên (tăng thượng) mà khởi lên các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Thế nào là các pháp ác, bất thiện chưa sinh thì quyết khiến nó vĩnh viễn không sinh, siêng tu chánh đoạn? Là đối với các việc trên làm chính duyên mà khởi lên các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Thế nào là các pháp thiện chưa sinh thì quyết khiến sinh ra, siêng tu chánh đoạn? Nghĩa là với sự việc nêu trên làm chính duyên mà khởi lên các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Thế nào là các pháp thiện đã sinh thì quyết khiến trụ vững chắc, không quên, luôn tu tập tăng tiến khiến trí tác chứng càng lớn mạnh, siêng tu chánh đoạn? Nghĩa là với sự việc nêu trên làm chính duyên mà khởi lên các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Thế nào là thần túc Dục Tam-ma-địa đoạn hạnh thành tựu? Nghĩa là dục làm chính duyên (tăng thượng) để khởi tạo các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Thế nào là thần túc Cần Tam-ma-địa đoạn hạnh thành tựu? Nghĩa là cần làm chính duyên để khởi tạo các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Thế nào là thần túc Tâm Tam-ma-địa đoạn hạnh thành tựu? Nghĩa là tâm làm chính duyên để khởi tạo các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Thế nào là thần túc Quán Tam-ma-địa đoạn hạnh thành tựu? Nghĩa là quán làm chính duyên để khởi tạo các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Thế nào là tĩnh lự thứ nhất? Tức là tĩnh lự thứ nhất thâu giữ năm uẩn thiện. Thế nào là tĩnh lự thứ hai? Tức là tĩnh lự thứ hai thâu giữ năm uẩn thiện. Thế nào là tĩnh lự thứ ba? Tức là tĩnh lự thứ ba thâu giữ năm uẩn thiện. Thế nào là tĩnh lự thứ tư? Tức là tĩnh lự thứ tư thâu giữ năm uẩn thiện. Khổ thánh đế là gì? Tức là năm thủ uẩn. Tập thánh đế là gì? Tức là các nhân hữu lậu. Diệt thánh đế là gì? Tức là trạch diệt. Đạo thánh đế là gì? Tức là các pháp hữu học và vô học. Từ vô lượng là gì? Nghĩa là tâm Từ và Từ tương ưng với thọ- tưởng-hành-thức, hoặc nó luôn khởi lên các nghiệp của thân và ngữ, hoặc nó luôn khởi tâm bất tương ưng hành. Đó là Từ vô lượng. Bi vô lượng là gì? Nghĩa là tâm Bi và Bi tương ưng với thọ-tưởng- hành-thức, hoặc nó luôn khởi lên các nghiệp của thân - ngữ, hoặc nó ===== PAGE 120 ===== 360 BỘ TỲ ĐÀM 2 luôn khởi tâm bất tương ưng hành. Đó là Bi vô lượng. Hỷ vô lượng là gì? Nghĩa là tâm Hỷ và Hỷ luôn tương ưng với thọ- tưởng-hành-thức, hoặc nó luôn khởi lên các nghiệp của thân và ngữ, hoặc nó luôn khởi tâm bất tương ưng hành. Đó là Hỷ vô lượng. Xả vô lượng là gì? Nghĩa là tâm Xả và Xả luôn tương ưng với thọ- tưởng-hành-thức, hoặc nó luôn khởi lên các nghiệp của thân và ngữ, hoặc nó luôn khởi tâm bất tương ưng hành. Đó là Xả vô lượng. Không vô biên xứ là gì? Đây có hai thứ: Một là định, hai là sinh. Trong đó đều có thọ-tưởng-hành-thức, nên gọi là Không vô biên xứ. Thức vô biên xứ là gì? Đây có hai thứ: Một là định, hai là sinh. Trong đó đều có thọ-tưởng-hành-thức, nên gọi là Thức vô biên xứ. Vô sở hữu xứ là gì? Đây có hai thứ: Một là định, hai là sinh. Trong đó có cả thọ-tưởng-hành-thức, nên gọi là Vô sở hữu xứ. Phi tưởng phi phi tưởng xứ là gì? Đây cũng có hai thứ: Một là định, hai là sinh. Trong đó có cả thọ-tưởng-hành-thức, nên gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Thánh chủng tùy việc được y phục mà vui đủ là gì? Nghĩa là tùy việc được y phục lấy làm vui đủ, làm chính duyên (tăng thượng) để khởi tạo các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Đó gọi là Thánh chủng tùy được y phục mà vui đủ. Thánh chủng tùy việc được ăn uống lấy làm vui đủ là gì? Nghĩa là tùy việc được ăn uống lấy làm vui đủ làm chính duyên để khởi tạo các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Đó gọi là Thánh chủng tùy được ăn uống mà vui đủ. Thánh chủng tùy việc được ngọa cụ mà vui đủ là gì? Nghĩa là tùy việc được ngọa cụ lấy làm vui đủ làm chính duyên để khởi tạo các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Đó gọi là Thánh chủng tùy được ngọa cụ mà vui đủ. Thánh chủng vui thích đoạn trừ- vui thích tu tập là gì? Nghĩa là vui thích đoạn trừ và tu tập, làm chính duyên để khởi tạo các đạo hữu lậu thiện và vô lậu. Đó gọi là Thánh chủng vui thích đoạn trừ và tu tập. 1. Quả Dự lưu là gì? Đây có hai thứ: Một là hữu vi, hai là vô vi. Quả Dự lưu hữu vi là gì? Nghĩa là khi chứng được quả Dự lưu, nếu có pháp học nào thì đều chính thức có được cả. Quả Dự lưu vô vi là gì? Nghĩa là khi chứng được quả Dự lưu, nếu có các thứ đoạn kiết nào thì đều chính thức có được cả. Đó gọi là quả Dự lưu. 2. Quả Nhất lai là gì? Đây có hai thứ: Hữu vi và vô vi. ===== PAGE 121 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 7 361 Quả Nhất lai hữu vi là gì? Nghĩa là khi chứng được quả Nhất lai, nếu có các pháp học nào thì đều chính thức có được. Quả Nhất lai vô vi là gì? Nghĩa là khi chứng được quả Nhất lai, nếu có các thứ đoạn kiết nào thì đều chính thức có được cả. Đó gọi là quả Nhất lai. 3. Quả Bất hoàn là gì? Cũng có hai thứ: Hữu vi và vô vi. Quả Bất hoàn hữu vi là gì? Nghĩa là khi chứng được quả Bất hoàn, nếu có các pháp học nào thì đều chính thức có được. Quả Bất hoàn vô vi là gì? Nghĩa là khi chứng được quả Bất hoàn, nếu có các thứ đoạn kiết nào thì đều chính thức có được cả. Đó gọi là quả Bất hoàn. 4. Quả A-la-hán là gì? Cũng có hai thứ: Hữu vi và vô vi. Quả A-la-hán hữu vi là gì? Nghĩa là khi chứng được quả A-la-hán, nếu có các pháp học nào thì đều chính thức có được cả. Quả A-la-hán vô vi là gì? Nghĩa là khi chứng được quả A-la-hán, nếu có các thứ đoạn kiết nào thì đều chính thức có được cả. Đó gọi là quả A la hán. Các thứ pháp trí, khổ trí v.v..., hai loại bốn trí đều như trước đã nói, nên biết. Hiểu biết về pháp vô ngại là gì? Nghĩa là đối với tiếng chữ- câu nghĩa - đoạn văn hiện có, trí không hề thoái chuyển. Hiểu biết về nghĩa vô ngại là gì? Nghĩa là đối với các nghĩa lý thù thắng hiện có, trí cũng không hề thoái chuyển. Hiểu biết về lời lẽ vô ngại là gì? Nghĩa là đối với các ngôn từ hiện có, trí không hề thoái chuyển. Hiểu biết về biện luận vô ngại là gì? Nghĩa là đối với ngôn từ lý lẽ ứng hợp- lưu loát, cùng với pháp đẳng trì luôn tự tại hiển bày, trí không thoái chuyển. Nhân duyên là gì? Tức là tất cả pháp hữu vi. Đẳng vô gián duyên là gì? Nghĩa là trừ ra các tâm và tâm sở của bậc A-la-hán khi mạng chung ở thời quá khứ hay hiện tại, còn lại tất cả các tâm và tâm sở trong thời quá khứ và hiện tại. Sở duyên duyên và tăng thượng duyên là gì? Nghĩa là tất cả các pháp. Thế nào là ăn bằng từng phần ăn? Nghĩa là khi duyên nơi việc ăn uống thì các căn sẽ được nuôi dưỡng, các đại dồi dào, thức ăn sẽ giúp đỡ, giữ gìn, chuyển đổi tạo bổ ích đưa đến chỗ nào cần bồi bổ, chuyển đổi tăng trưởng. Đó gọi là ăn uống bằng từng phần ăn. ===== PAGE 122 ===== 362 BỘ TỲ ĐÀM 2 Thế nào là ăn bằng chạm xúc? Nghĩa là duyên xúc hữu lậu mà các căn sẽ được nuôi lớn, các đại dồi dào, nó giúp đỡ, giữ gìn, chuyển đổi tạo bổ ích đưa vào những chỗ cần thiết. Đó gọi là ăn bằng chạm xúc. Thế nào là ăn bằng ý nghĩ? Nghĩa là khi duyên nơi các ý nghĩ hữu lậu thì các căn được nuôi lớn, các đại dồi dào, nó giúp đỡ, giữ gìn, chuyển đổi tạo bổ ích đưa vào những nơi cần thiết. Đó gọi là ăn bằng ý nghĩ. Thế nào là ăn bằng thức? Nghĩa là khi duyên nơi các thức hữu lậu, các căn được nuôi lớn, các đại dồi dào, nó sẽ giúp đỡ, giữ gìn, chuyển đổi tạo bổ ích vào những nơi cần thiết. Đó gọi là ăn bằng thức. Dục bộc lưu (dòng thác của dục) là gì? Nghĩa là trừ ra các kiến và vô minh thuộc cõi Dục, còn lại các thứ thuộc cõi Dục như kiết, phược, tùy miên, tùy phiền não trói buộc…, đều gọi là dục bộc lưu. Hữu bộc lưu là gì? Nghĩa là trừ ra các thứ kiến và vô minh thuộc cõi Sắc - Vô sắc, còn lại các thứ thuộc cõi Sắc và Vô sắc như các kiết, phược, tùy miên, tùy phiền não trói buộc…, đều gọi là hữu bộc lưu. Kiến bộc lưu là gì? Nghĩa là năm thứ kiến của ba cõi, đó là hữu thân kiến, biên chấp kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ. Đó gọi là kiến bộc lưu. Vô minh bộc lưu là gì? Tức là sự ngu si vô trí trong ba cõi. Nói về bốn ách cũng như thế. Dục thủ là gì? Nghĩa là trừ ra năm kiến thuộc cõi Dục, còn lại các thứ ở cõi Dục như kiến, phược, tùy miên, tùy phiền não trói buộc…, đều gọi là dục thủ. Kiến thủ là gì? Nghĩa là bốn thứ kiến: Hữu thân kiến, biên chấp kiến, tà kiến, kiến thủ. Giới cấm thủ là gì? Nghĩa là như có người giữ các giới nói: Các giới này sẽ giúp ta được thanh tịnh, giải thoát, xuất ly, vượt mọi khổ vui và đến được cõi vượt lên trên khổ vui. Kẻ giữ các giới cấm khác thì bảo các giới cấm này khiến ta được thanh tịnh, giải thoát, xuất ly, vượt mọi khổ vui, đến được chỗ vượt lên trên mọi vui khổ. Còn kẻ giữ các điều răn cấm khác cũng bảo y những lời như thế. Đó gọi là giới cấm thủ. Ngã ngữ thủ là gì? Nghĩa là trừ ra năm kiến ở cõi Sắc và Vô sắc, còn lại các thứ ở cõi Sắc và Vô sắc như kiết, phược, tùy miên, tùy phiền não trói buộc…, đều gọi là ngã ngữ thủ. Pháp quá khứ là gì? Tức là năm uẩn ở thời quá khứ. Pháp vị lai là gì? Tức là năm uẩn ở thời vị lai. ===== PAGE 123 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 7 363 Pháp hiện tại là gì? Tức là năm uẩn ở thời hiện tại. Pháp không phải quá khứ, không phải vị lai, không phải hiện tại là gì? Tức là pháp vô vi. Pháp thuộc cõi Dục là gì? Tức là năm uẩn ở cõi Dục. Pháp thuộc cõi Sắc là gì? Tức là năm uẩn ở cõi Sắc. Pháp thuộc cõi Vô sắc là gì? Là bốn uẩn ở cõi Vô sắc. Pháp không hệ thuộc là gì? Tức là tất cả pháp vô lậu. Pháp thiện làm nhân là gì? Tức là pháp hữu vi thiện và dị thục của pháp thiện. Pháp bất thiện làm nhân là gì? Tức là những thứ nhiễm ô ở cõi Dục và quả dị thục của pháp bất thiện. Pháp vô ký làm nhân là gì? Tức là pháp hữu vi vô ký và pháp bất thiện. Pháp không phải thiện làm nhân, không phải bất thiện làm nhân, không phải vô ký làm nhân là gì? Nghĩa là pháp vô vi. Pháp duyên có sở duyên là gì? Nghĩa là ý thức duyên nơi tâm và tâm sở pháp cùng các pháp tương ưng. Pháp duyên không có sở duyên là gì? Nghĩa là năm thức của thân cùng với pháp tương ưng và ý thức duyên nơi sắc- vô vi- tâm bất tương ưng hành, và các pháp tương ưng với nó. Pháp duyên có sở duyên, duyên không có sở duyên là gì? Nghĩa là ý thức và pháp tương ưng với nó duyên nơi sắc- vô vi- tâm và tâm sở pháp với tâm bất tương ưng hành. Pháp không phải duyên có sở duyên, không phải duyên không có sở duyên là gì? Nghĩa là sắc -vô vi-sắc bất tương ưng hành. Năm uẩn và năm thủ uẩn, như trước đã nói. Cõi Nại-lạc-ca là gì? Tức là các loài hữu tình ở Nại-lạc-ca (địa ngục), có đồng tánh, đồng loại, đồng chúng, đồng phần, y đắc, sự đắc, xứ đắc. Loài hữu tình sinh ở đó có sắc- thọ-tưởng-hành-Thức vô phú vô ký. Cõi bàng sinh là gì? Nghĩa là các loài hữu tình thuộc loài bàng sinh có đồng tánh, đồng loại, đồng chúng, đồng phần, y đắc, sự đắc, xứ đắc. Loài hữu tình sinh ở cõi đó có sắc- thọ-tưởng-hành-Thức vô phú vô ký. Cõi quỷ là gì? Nghĩa là các loài hữu tình ở cõi quỷ có đồng tánh, đồng loại, đồng chúng, đồng phần, y đắc, sự đắc, xứ đắc. Loài hữu tình sinh ở đó có sắc-thọ-tưởng-hành-Thức vô phú vô ký. Cõi người là gì? Nghĩa là các loài hữu tình thuộc loài người có đồng tánh, đồng loại, đồng chúng, đồng phần, y đắc, sự đắc, xứ đắc. ===== PAGE 124 ===== 364 BỘ TỲ ĐÀM 2 Loài hữu tình sinh ở đó có sắc- thọ-tưởng-hành-Thức vô phú vô ký. Cõi trời là gì? Nghĩa là các loài hữu tình thuộc loài trời có đồng tánh, đồng loại, đồng chúng, đồng phần, y đắc, sự đắc, xứ đắc. Loài hữu tình sinh ở đó có sắc-thọ-tưởng-hành-Thức vô phú vô ký. Thế nào là do thấy khổ mà đoạn trừ bộ phiền não? Nghĩa là có bộ phiền não, do tùy tín hành hành, tùy pháp hành, hiện quán khổ biên nhẫn mà đoạn trừ chúng. Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy khổ mà đoạn trừ hai mươi tám thứ tùy miên, và mọi thứ phiền não mà nó tương ưng. Thế nào là do thấy tập mà đoạn trừ bộ phiền não? Nghĩa là có bộ phiền não, do tùy tín hành hành, tùy pháp hành, hiện quán tập biên nhẫn mà đoạn trừ chúng. Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy tập mà đoạn trừ mười chín thứ tùy miên, và mọi thứ phiền não mà nó tương ưng. Thế nào là do thấy diệt mà đoạn trừ bộ phiền não? Nghĩa là có bộ phiền não, do tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán diệt biên nhẫn mà đoạn trừ chúng. Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy diệt mà đoạn trừ mười chín thứ tùy miên, và mọi thứ phiền não mà nó tương ưng. Thế nào là do thấy đạo mà đoạn trừ bộ phiền não? Nghĩa là có bộ phiền não, do tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán đạo biên nhẫn mà đoạn trừ chúng. Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy đạo mà đoạn trừ hai mươi hai thứ tùy miên, và mọi thứ phiền não mà nó tương ưng. Thế nào là do tu mà đoạn trừ bộ phiền não? Nghĩa là có bộ phiền não, do học thấy dấu vết đạo và tu mà đoạn trừ. Vậy là nghĩa gì? Nghĩa là do tu mà đoạn trừ mười thứ tùy miên, và mọi thứ phiền não tương ưng với nó. Năm pháp như sắc v.v..., như trước đã nói. Sáu giới như địa v.v..., cũng như trước đã nói. Pháp do thấy khổ mà đoạn trừ là gì? Nghĩa là do các pháp tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán khổ biên nhẫn mà đoạn trừ. Vậy là sao? Nghĩa là do thấy khổ mà đoạn trừ hai mươi tám thứ tùy miên và các pháp tương ưng, cũng luôn khởi tâm bất tương ưng hành. Đó gọi là pháp do thấy khổ mà đoạn trừ. Pháp do thấy tập mà đoạn trừ là gì? Nghĩa là các pháp do tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán tập biên nhẫn mà đoạn trừ. Vậy là gì? Nghĩa là do thấy tập mà đoạn trừ mười chín thứ tùy miên và các pháp tương ưng, cũng luôn khởi tâm bất tương ưng hành. Đó gọi là pháp do thấy tập mà đoạn trừ. Pháp do thấy diệt mà đoạn trừ là gì? Nghĩa là do các pháp tùy tín ===== PAGE 125 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 7 365 hành, tùy pháp hành, hiện quán diệt biên nhẫn mà đoạn trừ. Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là do thấy diệt mà đoạn trừ mười chín thứ tùy miên và các pháp tương ưng, cũng đều khởi tâm bất tương ưng hành. Đó gọi là pháp do thấy diệt mà đoạn trừ. Pháp do thấy đạo mà đoạn trừ là gì? Nghĩa là do các pháp tùy tín hành, tùy pháp hành, hiện quán đạo biên nhẫn mà đoạn trừ. Vậy là sao? Nghĩa là do thấy đạo mà đoạn trừ hai mươi hai thứ tùy miên và các pháp tương ưng, cũng luôn khởi tâm bất tương ưng hành. Đó gọi là pháp do thấy đạo mà đoạn trừ. Pháp do tu mà đoạn trừ là gì? Nghĩa là do các pháp như học thấy vết tích và tu mà đoạn trừ. Vậy là sao? Nghĩa là do tu mà đoạn trừ mười thứ tùy miên và các pháp tương ưng, nó luôn khởi lên các nghiệp của thân và ngữ, hoặc luôn khởi tâm bất tương ưng hành, hoặc các pháp hữu lậu không nhiễm ô. Đó gọi là pháp do tu mà đoạn trừ. Pháp không có gì đoạn trừ là gì? Là các pháp vô lậu. Tùy miên tham dục là gì? Nghĩa là đối với các thứ dục và các thứ tham đều tham muốn, rồi cất giấu giữ gìn, ham thích đam mê. Tùy miên giận dữ là gì? Nghĩa là đối với các loài hữu tình, tâm luôn ôm mối giận dữ, muốn gây tổn hại, chống đối, cản trở, oán ghét, bạo ác, khiến các hữu tình thường xuyên trái nghịch, tàn hại nhau. Tùy miên có tham là gì? Nghĩa là đối với các thứ tham thuộc Sắc và Vô sắc đều ham muốn, rồi sinh ra cất giấu, giữ gìn, yêu thích đam mê. Tùy miên kiêu mạn là gì? Nghĩa là kiêu mạn, lòng luôn tự cao ỷ mình mà coi thường miệt thị người khác. Tùy miên vô minh là gì? Nghĩa là sự ngu si vô trí trong cả ba cõi. Tùy miên kiến là gì? Tức là năm thứ kiến nhiễm ô. Tùy miên nghi ngờ là gì? Tức là đối với những điều chân thật đúng đắn thì luôn ngờ vực, do dự. Thức trụ đầu tiên là gì? Nghĩa là loài hữu tình có sắc, khác thân- khác tưởng, như loài người và một phần cõi trời, đó là thức trụ đầu tiên. Đầu tiên ở đây, là tùy theo sự tính đếm, theo thứ tự liên tục, trước hết là mức đầu tiên, nó liên hệ với sắc- thọ-tưởng-hành-thức, gọi chung là thức trụ. Thức trụ thứ hai là gì? Nghĩa là loài hữu tình có sắc, khác thân- một loại tưởng, như cõi trời Phạm chúng ở thời kiếp sơ, là thức trụ thứ hai, có liên hệ với sắc-thọ-tưởng-hành-thức, gọi chung là thức trụ. Thức trụ thứ ba là gì? Nghĩa là loài hữu tình có sắc, một thân- khác ===== PAGE 126 ===== 366 BỘ TỲ ĐÀM 2 tưởng, như cõi trời Cực quang tịnh, là thức trụ thứ ba, có liên hệ với sắc- thọ-tưởng-hành-thức, gọi chung là thức trụ. Thức trụ thứ tư là gì? Nghĩa là loài hữu tình có sắc, một thân, một loại tưởng, như ở cõi trời Biến tịnh, là thức trụ thứ tư, có liên hệ với sắc- thọ-tưởng-hành-thức, gọi chung là thức trụ. Thức trụ thứ năm là gì? Nghĩa là loài hữu tình không có sắc, vượt lên trên tất cả các sắc tưởng, diệt hết các tưởng có đối, không nghĩ ngợi các thứ tưởng, nhập vào vô biên không, trụ đầy đủ vào Không vô biên xứ, như cõi trời Không vô biên xứ, đây là thức trụ thứ năm, có liên hệ với thọ-tưởng-hành-thức, gọi chung là thức trụ. Thức trụ thứ sáu là gì? Nghĩa là loài hữu tình không có sắc, vượt lên trên tất cả Không vô biên xứ, nhập vào Thức vô biên và trụ đầy đủ vào Thức vô biên xứ, như cõi trời Thức vô biên xứ, đây là thức trụ thứ sáu, có liên hệ với thọ-tưởng-hành-thức, gọi chung là thức trụ. Thức trụ thứ bảy là gì? Nghĩa là loài hữu tình không có sắc, vượt lên trên tất cả Thức vô biên xứ, nhập vào vô sở hữu xứ, trụ đầy đủ vào Vô sở hữu xứ, như cõi trời Vô sở hữu xứ, đó là thức trụ thứ bảy, có liên hệ với thọ-tưởng-hành-thức, gọi chung là thức trụ. Niệm đẳng giác chi là gì? Nghĩa là hàng đệ tử của bậc Thánh, đối với khổ thì suy tư về khổ, đối với tập suy tư về tập, đối với diệt suy tư về diệt, đối với đạo suy tư về đạo, luôn tác ý tương ưng với các pháp vô lậu. Các niệm, tùy niệm, nghĩ nhớ theo đó, nghĩ nhớ riêng biệt, nghĩ nhớ các việc không quên mất, không sót thiếu, không quên pháp tánh, tính chất của tâm sáng nhớ kỹ… Đó là Niệm đẳng giác chi. Trạch pháp đẳng giác chi là gì? Nghĩa là các đệ tử của bậc Thánh, đối với bốn đế khổ- tập- diệt- đạo thì suy tư kỹ lưỡng, luôn tác ý tương ưng với các pháp vô lậu. Đối với các pháp luôn chọn lựa, tuyển trạch rất tích cực, cùng tột, hiểu rõ, đều hiểu rõ, hiểu rõ khắp, hiểu rõ gần, hiểu biết thông suốt, xét đoán tinh tường, tuệ hành sáng thông. Tỳ-bát- xá-na có tính chất quyết đoán chọn lựa tinh tế. Đó là Trạch pháp đẳng giác chi. Tinh tiến đẳng giác chi là gì? Nghĩa là các hàng đệ tử của bậc Thánh, đối với bốn đế khổ-tập-diệt-đạo thì suy tư, kỹ lưỡng, luôn tác ý tương ưng với các pháp vô lậu. Với các thứ chuyên cần thì uy lực mạnh mẽ, hăng hái khó cản ngăn, lòng luôn cố gắng không ngơi nghỉ, tính chất rất quyết đoán. Đó gọi là Tinh tiến đẳng giác chi. Hỷ đẳng giác chi là gì? Nghĩa là các hàng đệ tử của bậc Thánh, đối với bốn đế khổ-tập-diệt-đạo luôn suy tư thật kỹ lưỡng, luôn tác ý ===== PAGE 127 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 7 367 tương ưng với các pháp vô lậu. Tâm vui vẻ luôn hân hoan, rất vui vẻ trong mọi lúc, tính chất vui tươi, chủng loại của vui tươi, nói chung là mọi thứ hoan hỷ vui mừng. Đó gọi là Hỷ đẳng giác chi. Khinh an đẳng giác chi là gì? Nghĩa là các hàng đệ tử của bậc Thánh, đối với bốn đế khổ-tập-diệt-đạo luôn suy tư thật kỹ lưỡng, luôn tác ý tương ưng với các pháp vô lậu. Thân tâm nhẹ nhàng khoan khoái, đã luôn được khinh an, chủng loại của khinh an. Đó gọi là Khinh an đẳng giác chi. Định đẳng giác chi là gì? Nghĩa là các hàng đệ tử của bậc Thánh, đối với bốn đế khổ-tập-diệt-đạo luôn suy tư thật kỹ lưỡng, luôn tác ý tương ưng với các pháp vô lậu. Các thứ khiến tâm trụ đều trụ, an trụ, trụ gần, trụ kiên trì, không phân tán loạn động, gìn giữ, ngăn cấm, tính chất chuyên chú vào một cảnh. Đó gọi là Định đẳng giác chi. Xả đẳng giác chi là gì? Nghĩa là các hàng đệ tử của bậc Thánh, đối với bốn đế khổ-tập-diệt-đạo luôn suy tư tìm hiểu thật kỹ lưỡng, luôn tác ý tương ưng với các pháp vô lậu, tính chất nơi tâm luôn bình đẳng, tính chất nơi tâm thẳng suốt không nghiêng lệch, tâm tỉûnh giác tìm biết, tính chất luôn trụ trong yên lặng tịch mịch. Đó gọi là Xả đẳng giác chi. Giải thoát thứ nhất là gì? Nghĩa là có sắc quán các sắc, đó là giải thoát thứ nhất, theo thứ tự thì nó đứng hàng đầu. Lại tùy bậc nhập định thì theo thứ tự nó cũng đứng hàng đầu. Trong định đó tất cả các thứ sắc- thọ-tưởng-hành-thức đều thiện, đó gọi là giải thoát. Giải thoát thứ hai là gì? Nghĩa là bên trong không có sắc tưởng quán sắc bên ngoài, đó là giải thoát thứ hai, theo thứ tự thì nó đứng thứ hai. Lại tùy bậc thiền định thì theo thứ tự nó cũng đứng hàng thứ hai. Ở trong định đó tất cả các thứ sắc- thọ-tưởng-hành-thức đều thiện. Đó gọi là giải thoát. Giải thoát thứ ba là gì? Nghĩa là giải thoát thanh tịnh trụ đầy đủ vào thân tác chứng. Đó là giải thoát thứ ba, theo thứ tự thì nó đứng thứ ba. Ở trong định như thế hết thảy các thứ sắc- thọ-tưởng-hành-thức đều thiện. Đó gọi là giải thoát. Giải thoát thứ tư là gì? Nghĩa là vượt ra ngoài tất cả các sắc- tưởng, diệt hết các tưởng có đối, không còn tư duy về các thứ tưởng, nhập vào vô biên không, trụ đầy đủ vào Không vô biên xứ. Đó là giải thoát thứ tư, theo thứ tự thì nó đứng thứ tư, theo bậc thiền định thì cũng ở hàng thứ tư. Ở trong định tất cả các thứ thọ-tưởng-hành-thức đều thiện. Đó gọi là giải thoát. Giải thoát thứ năm là gì? Nghĩa là vượt ra ngoài tất cả không vô ===== PAGE 128 ===== 368 BỘ TỲ ĐÀM 2 biên xứ, nhập vào vô biên thức, trụ đầy đủ vào Thức vô biên xứ. Đó là giải thoát thứ năm, theo thứ tự thì nó đứng thứ năm, theo bậc thiền định thì cũng ở hàng thứ năm. Ở trong định như thế, tất cả các thứ thọ-tưởng- hành-thức đều thiện. Đó gọi là giải thoát. Giải thoát thứ sáu là gì? Nghĩa là vượt ra ngoài tất cả Thức vô biên xứ, nhập vào vô sở hữu, trụ đầy đủ vào Vô sở hữu xứ. Đó là giải thoát thứ sáu, theo thứ tự thì nó ở hàng thứ sáu, theo bậc thiền định thì cũng ở hàng thứ sáu. Ở trong định, tất cả các thứ thọ-tưởng-hành-thức đều thiện, đó gọi là giải thoát. Giải thoát thứ bảy là gì? Nghĩa là vượt ra ngoài tất cả các vô sở hữu xứ, nhập và trụ đầy đủ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là giải thoát thứ bảy, theo thứ tự thì nó ở hàng thứ bảy theo bậc thiền định thì cũng ở hàng thứ bảy. Ở trong định như thế, tất cả các thứ thọ-tưởng- hành-thức đều thiện. Đó gọi là giải thoát. Giải thoát thứ tám là gì? Nghĩa là vượt ra ngoài tất cả phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhập vào tưởng thọ diệt, trụ đầy đủ nơi thân tác chứng. Đó là giải thoát thứ tám, theo thứ tự thì nó ở hàng thứ tám, theo bậc thiền định thì cũng ở hàng thứ tám. Ở trong định đó, các thứ được giải thoát, giải thoát thù thắng, giải thoát tột cùng. Lại nếu lúc ấy còn do các tưởng vi tế làm nhân, hoặc tưởng vi tế làm đẳng vô gián, nhưng cùng với tưởng không có ảnh hưởng nghĩa lý gì nữa, bấy giờ tất cả đều thành tựu vẹn toàn, tức là hoàn toàn giải thoát. Thắng xứ thứ nhất là gì? Nghĩa là bên trong có sắc tưởng, quán ít sắc bên ngoài, đối với các sắc đó xấu hay đẹp đều thấy biết rõ ràng, đủ các tưởng như thế thì gọi là thắng xứ thứ nhất, vì theo thứ tự thì nó ở hàng đầu, xét theo bậc thiền định thì, nó cũng là hàng đầu tiên. Ở trong định này, tất cả sắc- thọ-tưởng-hành-thức đều thiện, nên gọi là thắng xứ. Thắng xứ thứ hai là gì? Nghĩa là bên trong có sắc tưởng, quán nhiều sắc bên ngoài, các sắc đó xấu hay đẹp đều thấy biết rõ ràng, đủ các tưởng như thế, gọi là thắng xứ thứ hai, vì theo thứ tự thì nó ở hàng thứ hai xét theo bậc thiền định thì nó cũng là hàng thứ hai. Ở trong định đó, tất cả sắc-thọ-tưởng-hành-thức đều thiện, nên gọi là thắng xứ. Thắng xứ thứ ba là gì? Nghĩa là bên trong không có sắc tưởng, quán ít sắc bên ngoài, các sắc ấy xấu hay đẹp đều thấy biết rõ ràng, đủ các tưởng như thế, gọi là thắng xứ thứ ba, vì theo thứ tự hay xét theo bậc thiền định thì nó ở hàng thứ ba. Ở trong định này, tất cả sắc- thọ- tưởng- hành - thức đều thiện, nên gọi là thắng xứ. ===== PAGE 129 ===== SỐ 1542 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC - Quyển 7 369 Thắng xứ thứ tư là gì? Nghĩa là bên trong không có sắc tưởng, quán nhiều sắc bên ngoài, các sắc ấy xấu hay đẹp đều thấy biết rõ ràng, đủ các tưởng như thế, gọi là thắng xứ thứ tư, vì theo thứ tự và xét theo bậc thiền định thì nó ở hàng thứ tư. Ở trong định này, tất cả sắc-thọ- tưởng-hành-thức đều thiện, nên gọi là thắng xứ. Thắng xứ thứ năm là gì? Nghĩa là bên trong không có sắc tưởng, quán các sắc bên ngoài. Nếu bên ngoài là màu xanh có ánh xanh hiện bày rõ ràng, như màu xanh của hoa Ô-mạc-ca hay áo nhuộm xanh nơi xứ Bà-la-ni-tư. Bên trong không có tưởng, quán các sắc bên ngoài, cũng thấy toàn màu xanh như thế, đối các sắc ấy đều thấy biết rõ ràng. Đủ các tưởng như thế, gọi là thắng xứ thứ năm, vì theo thứ tự và xét theo bậc thiền định nó đều thuộc hàng thứ năm. Ở trong định này, tất cả sắc- thọ-tưởng-hành-thức đều thiện, nên gọi là thắng xứ. Thắng xứ thứ sáu là gì? Nghĩa là bên trong không có sắc tưởng, quán các sắc bên ngoài, thấy có màu vàng ánh sắc vàng hiện bày rõ ràng, như màu vàng hoa Yết-ni-ca hay màu của áo nhuộm vàng xứ Bà- la-ni-tư. Bên trong không có sắc tưởng, quán thấy các sắc đều màu vàng và thấy biết rõ ràng. Đầy đủ các tưởng như thế, gọi là thắng xứ thứ sáu, vì theo thứ tự và xét về bậc thiền định nó đều ở hàng thứ sáu. Ở trong định này, tất cả các thứ sắc-thọ-tưởng-hành-thức đều thiện, nên gọi là thắng xứ. Thắng xứ thứ bảy là gì? Nghĩa là bên trong không có sắc tưởng, quán các sắc bên ngoài, thấy có màu đỏ ánh sắc đỏ hiện bày rõ ràng như màu đỏ hoa Bàn-đậu-thi-phược-ca, hay màu áo nhuộm đỏ nơi xứ Bà-la- ni-tư. Bên trong không có sắc tưởng, quán thấy các sắc đều màu đỏ và thấy biết rõ ràng. Đủ các tưởng như thế, gọi là thắng xứ thứ bảy, vì theo thứ tự và xét theo bậc thiền định nó đều ở hàng thứ bảy. Ở trong định đó, tất cả sắc, thọ-tưởng-hành-thức đều thiện, nên gọi là thắng xứ. Thắng xứ thứ tám là gì? Nghĩa là bên trong không có sắc tưởng, quán các sắc bên ngoài, thấy có màu trắng ánh sắc trắng hiện bày rõ ràng, như màu trắng ngôi sao Ô-sát-tư hoặc màu áo trắng nơi xứ Bà-la- ni-tư. Bên trong không có sắc tưởng, nhìn thấy các sắc đều màu trắng và thấy biết rõ ràng. Đủ các tưởng như thế, gọi là thắng xứ thứ tám, vì theo thứ tự và xét về bậc thiền định nó ở hàng thứ tám. Ở trong định đó, tất cả sắc-thọ-tưởng-hành-thức đều thiện, nên gọi là thắng xứ. ===== PAGE 130 ===== 370 BỘ TỲ ĐÀM 2 LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHẨM LOẠI TÚC