VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận ← Quyển 19

A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận · Quyển 20

阿毘達磨集異門足論 · T1536

Hán văn

尊者舍利子說
三藏法師玄奘奉 詔譯
十法品第十一之二
問:青遍處定加行云何?修觀行者由何方便
而能證入青遍處定?答:初修業者創修觀時,
於此世界或取青樹、或取青葉、或取青花、或
取青果、或取青衣、或取種種青莊嚴具、或取
青雲、或取青水、或取種種諸餘青物。彼於如
是隨取一相,以勝解力繫念思惟假想觀察
安立信解是某青相。彼由於此以勝解力繫
念思惟假想觀察安立信解是某青故,心便
散動馳流諸相,不能一趣繫念一境,思惟此
境是青非餘。彼心散動馳流諸相,不能一趣
繫念一境,思惟此境定是青故,未能證入青
遍處定。為攝散動馳流心故,於一青相繫念
思惟,謂此是青非為黃等。思惟此相精勤勇
猛,乃至令心相續久住,由斯加行能入青定。
精勤數習此加行已,復進修行此定方便,謂
於加行所引生道,數習數修數多所作。既於
加行所引生道,數習數修數多所作,心便安
住等住近住,相續一趣繫念一境,思惟此境
定是青相。由心安住等住近住,相續一趣繫
念一境,思惟此境定是青相,無二無轉能入

青定,而未能入青遍處定。問:若此未能入青
遍處定者,青遍處定加行云何?修觀行者由
何方便乃能證入青遍處定?答:即依如前所
入青定,令心隨順調伏趣向,漸次柔和周遍
柔和。一趣定已,復想此青漸次增廣,東南西
北遍皆是青。彼想此青漸次增廣,東南西北
遍是青故,心便散動馳流諸相,不能一趣繫
念一境,思惟此境遍皆是青。彼心散動馳流
諸相,不能一趣繫念一境,思惟此境遍是青
故,未能證入青遍處定。為攝散動馳流心故,
於遍青相繫念思惟,此遍是青非遍黃等。思
惟此相精勤勇猛,乃至令心相續久住,由斯
加行乃漸能入青遍處定。精勤數習此加行
已。復進修行此定方便。謂於加行所引生道。
數習數修數多所作。既於加行所引生道。數
習數修數多所作。心便安住等住近住。相續
一趣繫念一境。思惟此境遍皆是青。由心安
住等住近住。相續一趣繫念一境。思惟此境
遍皆是青。無二無轉從此乃入青遍處定。言
上下者,謂上下方。言傍布者,謂東南等。言無
二者,謂無間雜。無邊無際者,謂邊際難測。是
第五者,謂諸定中漸次順次相續次第數為
第五。言遍處者,謂此定中所有善色受想行
識,皆名遍處。
問:黃遍處定加行云何?修觀行者由何方便
而能證入黃遍處定?答:初修業者創修觀時,
於此世界或取黃樹、或取黃葉、或取黃花、或
取黃果、或取黃衣、或取種種黃莊嚴具、或
取黃雲、或取黃水、或取種種諸餘黃物。彼於

如是隨取一相,以勝解力繫念思惟假想觀
察安立信解是某黃相。彼由於此以勝解力
繫念思惟假想觀察安立信解是某黃故,心
便散動馳流諸相,不能一趣繫念一境,思惟此
境是黃非餘。彼心散動馳流諸相,不能一趣
繫念一境,思惟此境定是黃故,未能證入黃
遍處定。為攝散動馳流心故,於一黃相繫念
思惟,謂此是黃非為青等。思惟此相精勤勇
猛,乃至令心相續久住,由斯加行能入黃定。
精勤數習此加行已,復進修行此定方便,謂
於加行所引生道,數習數修數多所作。既於
加行所引生道,數習數修數多所作,心便安
住等住近住,相續一趣繫念一境,思惟此境
定是黃相。由心安住等住近住,相續一趣繫
念一境,思惟此境定是黃相,無二無轉能入黃
定,而未能入黃遍處定。問:若此未能入黃遍
處定者,黃遍處定加行云何?修觀行者由何
方便乃能證入黃遍處定?答:即依如前所入
黃定,令心隨順調伏趣向,漸次柔和周遍柔
和。一趣定已,復想此黃漸次增廣,東南西北
遍皆是黃,彼想此黃漸次增廣,東南西北遍
是黃故,心便散動馳流諸相,不能一趣繫念
一境,思惟此境遍皆是黃。彼心散動馳流諸
相,不能一趣繫念一境,思惟此境遍是黃故,
未能證入黃遍處定。為攝散動馳流心故,於
遍黃相繫念思惟,此遍是黃非遍青等。思惟
此相精勤勇猛,乃至令心相續久住,由斯加
行乃漸能入黃遍處定。精勤數習此加行已,
復進修行此定方便,謂於加行所引生道,數

習數修數多所作。既於加行所引生道,數習
數修數多所作,心便安住等住近住,相續一
趣繫念一境,思惟此境遍皆是黃。由心安住
等住近住,相續一趣繫念一境,思惟此境遍
皆是黃,無二無轉從此乃入黃遍處定。言上
下者,謂上下方。言傍布者,謂東南等。言無二
者,謂無間雜。無邊無際者,謂邊際難測。是第
六者,謂諸定中漸次順次相續次第數為第
六。言遍處者,謂此定中所有善色受想行識,
皆名遍處。
問:赤遍處定加行云何?修觀行者由何方便
而能證入赤遍處定?答:初修業者創修觀時,
於此世界或取赤樹、或取赤葉、或取赤花、或
取赤果、或取赤衣、或取種種赤莊嚴具、或
取赤雲、或取赤水、或取種種諸餘赤物。彼
於如是隨取一相,以勝解力繫念思惟假
想觀察安立信解是某赤相。彼由於此以勝
解力繫念思惟假想觀察安立信解是某
赤故,心便散動馳流諸相,不能一趣繫念
一境,思惟此境是赤非餘。彼心散動馳流
諸相,不能一趣繫念一境,思惟此境定是
赤故,未能證入赤遍處定。為攝散動馳流心
故,於一赤相繫念思惟,謂此是赤非為黃等。
思惟此相精勤勇猛,乃至令心相續久住,由
斯加行能入赤定。精勤數習此加行已,復進
修行此定方便,謂於加行所引生道,數習數
修數多所作。既於加行所引生道,數習數修
數多所作,心便安住等住近住,相續一趣繫
念一境,思惟此境定是赤相。由心安住等住

近住,相續一趣繫念一境,思惟此境定是赤
相,無二無轉能入赤定,而未能入赤遍處定。
問:若此未能入赤遍處定者,赤遍處定加行
云何?修觀行者由何方便乃能證入赤遍處
定?答:即依如前所入赤定,令心隨順調伏趣
向,漸次柔和周遍柔和。一趣定已,復想此赤
漸次增廣,東南西北遍皆是赤。彼想此赤漸次
增廣,東南西北遍是赤故,心便散動馳流諸
相,不能一趣繫念一境,思惟此境遍皆是赤。
彼心散動馳流諸相,不能一趣繫念一境,思
惟此境遍是赤故,未能證入赤遍處定。為攝
散動馳流心故,於遍赤相繫念思惟,此遍是
赤非遍黃等。思惟此相精勤勇猛,乃至令心
相續久住,由斯加行乃漸能入赤遍處定。精
勤數習此加行已,復進修行此定方便,謂於
加行所引生道,數習數修數多所作。既於加
行所引生道,數習數修數多所作,心便安住
等住近住,相續一趣繫念一境,思惟此境遍
皆是赤。由心安住等住近住,相續一趣繫念
一境思惟此境遍皆是赤,無二無轉從此乃
入赤遍處定。言上下者,謂上下方。言傍布者,
謂東南等。言無二者,謂無間雜。無邊無際者,
謂邊際難測。是第七者,謂諸定中漸次順次
相續次第數為第七。言遍處者,謂此定中所
有善色受想行識,皆名遍處。
問:白遍處定加行云何?修觀行者由何方便
而能證入白遍處定?答:初修業者創修觀時,
於此世界或取白樹、或取白葉、或取白花、或
取白菓、或取白衣、或取種種白莊嚴具、或取

白雲、或取白水、或取種種諸餘白物。彼於如
是隨取一相,以勝解力繫念思惟假想觀察
安立信解是某白相。彼由於此以勝解力繫
念思惟假想觀察安立信解是某白故,心便
散動馳流諸相,不能一趣繫念一境,思惟此
境是白非餘。彼心散動馳流諸相,不能一趣繫
念一境,思惟此境定是白故,未能證入白遍
處定。為攝散動馳流心故,於一白相繫念思
惟,謂此是白非為赤等。思惟此相精勤勇猛,
乃至令心相續久住,由斯加行能入白定。精
勤數習此加行已,復進修行此定方便,謂於
加行所引生道,數習數修數多所作。既於加
行所引生道,數習數修數多所作,心便安住
等住近住,相續一趣繫念一境,思惟此境定
是白相。由心安住等住近住,相續一趣繫念
一境,思惟此境定是白相,無二無轉能入白
定,而未能入白遍處定。問:若此未能入白遍
處定者,白遍處定加行云何?修觀行者由何
方便乃能證入白遍處定?答:即依如前所入
白定,令心隨順調伏趣向,漸次柔和周遍柔
和。一趣定已,復想此白漸次增廣,東南西北
遍皆是白。彼想此白漸次增廣,東南西北遍
是白故,心便散動馳流諸相,不能一趣繫念
一境,思惟此境遍皆是白。彼心散動馳流諸
相,不能一趣繫念一境,思惟此境遍是白故,
未能證入白遍處定。為攝散動馳流心故,於
遍白相繫念思惟,此遍是白非遍赤等。思惟
此相精勤勇猛,乃至令心相續久住,由斯加
行乃漸能入白遍處定。精勤數習此加行已,

復進修行此定方便,謂於加行所引生道,數
習數修數多所作。既於加行所引生道,數習
數修數多所作,心便安住等住近住,相續一
趣繫念一境,思惟此境遍皆是白。由心安住
等住近住,相續一趣繫念一境,思惟此境遍
皆是白,無二無轉從此乃入白遍處定。言上
下者,謂上下方。言傍布者,謂東南等。言無二
者,謂無間雜。無邊無際者,謂邊際難測。是第
八者,謂諸定中漸次順次相續次第數為第
八。言遍處者,謂此定中所有善色受想行識,
皆名遍處。
問:空遍處定加行云何?修觀行者由何方便
而能證入空遍處定?答:初修業者創修觀時,
於此世界取舍上空、或地上空、或樹上空、或
巖上空、或山上空、或川中空、或谷中空。於此
等空隨取一相,以勝解力繫念思惟假想觀
察安立信解是某空相。彼由於此以勝解力
繫念思惟假想觀察安立信解是某空故,心
便散動馳流諸相,不能一趣繫念一境,思惟
此境是空非餘。彼心散動馳流諸相,不能一
趣繫念一境,思惟此境定是空故,未能證入
空遍處定。為攝散動馳流心故,於一空相繫
念思惟,謂此是空非為識等。思惟此相精勤
勇猛,乃至令心相續久住,由斯加行能入空
定。精勤數習此加行已,復進修行此定方便,
謂於加行所引生道,數習數修數多所作。既
於加行所引生道,數習數修數多所作,心便
安住等住近住,相續一趣繫念一境,思惟此
境定是空相。由心安住等住近住,相續一趣

繫念一境,思惟此境定是空相,無二無轉能
入空定,而未證入空遍處定。問:若此未能入
空遍處定者,空遍處定加行云何?修觀行者
由何方便乃能證入空遍處定?答:即依如前
所入空定,令心隨順調伏趣向,漸次柔和周
遍柔和。一趣定已,復想此空漸次增廣,東南
西北遍皆是空。彼想此空漸次增廣,東南西北
遍是空故,心便散動馳流諸相,不能一趣繫
念一境,思惟此境遍皆是空。彼心散動馳流
諸相,不能一趣繫念一境,思惟此境遍是空
故,未能證入空遍處定。為攝散動馳流心故,
於遍空相繫念思惟,此遍是空非遍識等。思
惟此相精勤勇猛,乃至令心相續久住,由斯
加行乃漸能入空遍處定。精勤數習此加行
已,復進修行此定方便,謂於加行所引生
道,數習數修數多所作。既於加行所引生道,
數習數修數多所作,心便安住等住近住,相
續一趣繫念一境,思惟此境遍皆是空。由心
安住等住近住,相續一趣繫念一境,思惟此
境遍皆是空,無二無轉從此乃入空遍處定。
言上下者,謂上下方。言傍布者,謂東南等。言
無二者,謂無間雜。無邊無際者,謂邊際難測。
是第九者,謂諸定中漸次順次相續次第數
為第九。言遍處者,謂此空無邊處定中所有
善色受想行識,皆名遍處。
問:識遍處定加行云何?修觀行者由何方便
而能證入識遍處定?答:初修業者創修觀時,
於此身中或取清淨眼識相、或取清淨耳識
相、或取清淨鼻識相、或取清淨舌識相、或取

清淨身識相、或取清淨意識相。於此諸識隨
取一相,以勝解力繫念思惟假想觀察安立
信解是某識相。彼由於此以勝解力繫念思
惟假想觀察安立信解是某識故,心便散動
馳流諸相,不能一趣繫念一境,思惟此境是
識非餘。彼心散動馳流諸相,不能一趣繫念一
境,思惟此境定是識故,未能證入識遍處定。
為攝散動馳流心故,於一識相繫念思惟,謂
此是識非為空等。思惟此相精勤勇猛,乃至
令心相續久住,由斯加行能入識定。精勤數
習此加行已,復進修行此定方便,謂於加行
所引生道,數習數修數多所作。既於加行所
引生道,數習數修數多所作,心便安住等住
近住,相續一趣繫念一境,思惟此境定是識
相。由心安住等住近住,相續一趣繫念一境,
思惟此境定是識相,無二無轉能入識定,而
未能入識遍處定。問:若此未能入識遍處定
者,識遍處定加行云何?修觀行者由何方便
乃能證入識遍處定?答:即依如前所入識定,
令心隨順調伏趣向,漸次柔和周遍柔和。一
趣定已,復想此識漸次增廣,東南西北遍皆
是識,彼想此識漸次增廣,東南西北遍是識
故,心便散動馳流諸相,不能一趣繫念一境,
思惟此境遍皆是識。彼心散動馳流諸相,不
能一趣繫念一境,思惟此境遍皆識故,未能
證入識遍處定。為攝散動馳流心故,於遍識
相繫念思惟,此遍是識非遍空等。思惟此相
精勤勇猛,乃至令心相續久住,由斯加行乃
漸能入識遍處定。精勤數習此加行已,復進

修行此定方便,謂於加行所引生道,數習數
修數多所作。既於加行數習數修數多所作,
心便安住等住近住,相續一趣繫念一境,思
惟此境遍皆是識。由心安住等住近住,相續
一趣繫念一境,思惟此境遍皆是識,無二無
轉從此乃入識遍處定。言上下者,謂上下方。
言傍布者,謂東南等。言無二者,謂無間雜。無
邊無際者,謂邊際難測。是第十者,謂諸定中
漸次順次相續次第數為第十。言遍處者,謂
此識無邊處定中所有善受想行識,皆名遍
處。
十無學法者,云何為十?答:一、無學正見;二、
無學正思惟;三、無學正語;四、無學正業;五、無
學正命;六、無學正勤;七、無學正念;八、無學正
定;九、無學正解脫;十、無學正智。云何無學正
見?答:盡智、無生智,盡所不攝無學慧,是名無
學正見。云何無學正思惟?答:諸聖弟子於苦
思惟苦、於集思惟集、於滅思惟滅、於道思惟
道,無學作意相應所有思惟、等思惟、近思惟,
尋求、等尋求、近尋求,推覓、等推覓、近推覓,令
心於法麁動而轉,是名無學正思惟。云何無
學正語?答:諸聖弟子,於苦思惟苦、於集思惟
集、於滅思惟滅、於道思惟道,無學作意相應
簡擇力故,除趣邪命語四惡行,於餘語惡行
所得無學遠離、勝遠離、近遠離、極遠離,寂靜
律儀無作無造,棄捨防護不行不犯,船筏橋
樑堤塘牆塹,於所制約不踰不踰性、不越不
越性無表語業,是名無學正語。云何無學正
業?答:諸聖弟子,於苦思惟苦、於集思惟集、於
滅思惟滅、於道思惟道,無學作意相應簡擇

力故,除趣邪命身三惡行,於餘身惡行所得
無學遠離、勝遠離、近遠離、極遠離,寂靜律儀無
作無造,棄捨防護不行不犯,船筏橋梁隄塘
牆塹,於所制約不踰不踰性、不越不越性無
表身業,是名無學正業。云何無學正命?答:諸
聖弟子,於苦思惟苦、於集思惟集、於滅思惟
滅、於道思惟道,無學作意相應簡擇力故,於
趣邪命身語惡行所得無學遠離、勝遠離、近
遠離、極遠離,寂靜律儀無作無造,棄捨防護
不行不犯,船筏橋梁隄塘牆塹,於所制約不
踰不踰性、不越不越性無表身語業、是名無
學正命。云何無學正勤?答:諸聖弟子,於苦思
惟苦、於集思惟集、於滅思惟滅、於道思惟道,
無學作意相應所有勤精進勇健勢猛熾盛
難制勵意不息,是名無學正勤。云何無學正
念?答:諸聖弟子,於苦思惟苦、於集思惟集、於
滅思惟滅、於道思惟道,無學作意相應所有
念、隨念、專念、憶念,不忘不失、不遺不漏、不失
法性、心明記性,是名無學正念。云何無學正
定?答:諸聖弟子,於苦思惟苦、於集思惟集、於
滅思惟滅、於道思惟道,無學作意相應所有
心住、等住、近住、安住,不散不亂攝止等持心
一境性,是名無學正定。云何無學正解脫?答:
諸聖弟子,於苦思惟苦、於集思惟集、於滅思
惟滅、於道思惟道,無學作意相應所有心勝
解、已勝解、當勝解,是名無學正解脫。云何無
學正智?答:盡智、無生智、是名無學正智。
爾時舍利子告苾芻眾言:「具壽當知,佛於一
法乃至十法,現等覺已,為諸弟子宣說開示。

我與大眾皆共和合,親對世尊已結集竟,諸
苾芻眾皆應受持,為他演說廣令流布。佛滅
度後勿有乖違,當令隨順梵行法律久住,利
樂無量有情,哀愍世間諸天人眾,令獲殊勝
義利安樂。」
12 讚勸品
讚勸品第十二
爾時世尊知舍利子為苾芻眾說法已訖,從
臥而起身心調暢,整理衣服結加趺坐,讚
舍利子:「善哉善哉!汝今善能於此臺觀與苾
芻眾和合,結集如來所說增一法門。汝可從
今為諸大眾數復宣說如是法門,此法能令
諸天人等長夜證會義利安樂。」世尊復告苾芻
眾言:「汝等皆應受持讀誦舍利子說集異法
門。如是法門,能引大善大義大法清白梵行,
復證通慧菩提涅槃。淨信出家諸善男子,受
持讀誦如是法門,不久定當辦所辦事。」
時薄
伽梵說是語已,諸苾芻眾歡喜踊躍,頂禮佛
足信受奉行。

Việt dịch

QUYỂN 20
Phẩm 11: MƯỜI PHÁP, Phần 2
5. Gia hạnh của định biến xứ màu xanh như thế nào? Người tu 
hạnh quan sát phải do cái phương tiện nào mà có thể chứng nhập định 
màu xanh biến xứ?
Đáp: Người mới tu nghiệp, khi bắt đầu tu quán thì ở cõi thế giới 
nầy hoặc bám vào màu xanh của cây, hoặc màu xanh của lá, của hoa, 
của quả, hoặc màu xanh của áo, hoặc màu xanh của các thứ trang phục, 
hoặc màu xanh của mây, của nước, hoặc chấp lấy màu xanh của tất cả 
các vật nào khác..., người ấy đối với các thứ như thế mà chọn chấp giữ 
lấy một thứ tướng đó, rồi dùng sức hiểu biết tốt mà cột niệm suy nghĩ, 
hướng cái tưởng vào đó mà quan sát, xác lập, tìm hiểu đó là màu xanh 
gì? Cho nên tâm y liền xao động bay nhảy theo các tướng, không thể 
một mực cột niệm vào một cảnh, suy nghĩ cảnh đó là màu xanh chứ 
không phải cái gì khác, mà tâm liền loạn động v.v... Do vì các việc như 
thế, nên chưa thể chứng nhập được, nhập vào định biến xứ màu xanh.
Vì muốn kìm giữ tâm loạn động ấy, nên phải đối với một tướng 
màu xanh mà cột niệm suy nghĩ, bảo rằng đây là màu xanh chứ không 
phải là màu vàng v.v..., cứ luôn mạnh mẽ siêng năng tư duy suy nghĩ 
mãi về cái tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm liên tục trụ vào 
một chỗ thật lâu. Do gia hạnh nầy mà có thể nhập được vào định về 
màu xanh. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện thật nhiều lần gia 
hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh 
dẫn đến sinh đạo, mà luôn rèn luyện tu hành làm các việc thật nhiều 
lần. Và cứ rèn luyện tu tập nhiều lần như thế mãi, thì tâm sẽ được an 
trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư 
mãi về cảnh nầy: nhất định đó là tướng của màu xanh. Do tâm an trụ, 

===== PAGE 318 =====
318 BỘ TỲ ĐÀM 1
đều trụ, trụ gần và cứ liên tục cột niệm vào một cảnh, luôn tư duy suy 
nghĩ mãi về cảnh nhất định đó là tướng của màu xanh không hai không 
đổi khác, nên có thể nhập vào định về màu xanh, mà chưa thể nhập vào 
định biến xứ màu xanh.
Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định biến xứ màu xanh, thì gia 
hạnh của định biến xứ màu xanh nó như thế nào? Còn người tu hạnh 
quan sát phải do phương tiện nào mới chứng nhập được vào định biến 
xứ màu xanh?
Đáp: Tức là y vào việcï nhập định về màu xanh như trước đã nói, 
mà khiến tâm luôn tùy thuận điều phục hướng lên, dần dần sẽ được nhu 
hòa. Và khi cứ một mực đã được định rồi, thì lại nghĩ tưởng về màu xanh 
nầy dần dần lớn rộng, lan khắp đông tây nam bắc, khắp nơi đều là màu 
xanh cả. Nên tâm liền loạn động bay nhảy theo các tướng mà không 
thể cột niệm chuyên chú vào một cảnh, luôn suy nghĩ mãi cảnh đó, biến 
khắp mọi nơi đều là màu xanh. Vì tâm người ấy bị loạn động v.v... Như 
vừa nói, nên chưa thể chứng nhập vào định biến xứ màu xanh.
Vì muốn kìm giữ tâm loạn động bay nhảy ấy, nên đối với tướng 
biến xứ màu xanh kia mà luôn cột niệm, suy nghĩ mãi bao trùm, đó là 
màu xanh chứ không phải là màu vàng v.v... Luôn mạnh mẽ siêng năng 
suy nghĩ mãi cái tướng đó cho đến khi nào khiến được cái tâm luôn an 
trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập được vào định 
biến xứ màu xanh được. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện rất 
nhiều lần gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối 
với gia hạnh dẫn đến sinh đạo, luôn rèn luyện tu tập, làm các việc rất 
nhiều lần như thế mãi. Đã luôn cứ rèn luyện tu tập nhiều lần gia hạnh 
đó, thì tâm sẽ an trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ liên tục cột niệm chuyên 
chú vào một cảnh, suy tư mãi cảnh nầy: Khắp nơi đều toàn là màu xanh. 
Do tâm an trụ đều trụ trụ gần, mà cứ liên tục cột niệm vào một cảnh, tư 
duy suy nghĩ mãi cảnh màu xanh trùm khắp nơi luôn không hai không 
đổi khác. Từ đây thì mới nhập được vào định trùm khắp màu xanh.
- Nói trên dưới, tức là các phương trên dưới.
- Nói các phía, tức Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng.
- Nói không hai, tức là không có xen tạp ở giữa.
- Không bờ bến giới hạn, là bờ bến khó lường.
- Đó là thứ năm, tức trong các định nầy theo thứ tự liên tục đếm 
dần lên thì nó ở hàng thứ năm.
- Nói là biến xứ, tức là trong các định nầy, có bao nhiêu thứ sắc, 
thọ, tưởng, hành, thức tốt lành thì đều gọi là biến xứ.

===== PAGE 319 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 20 319
6. Gia hạnh của định biến xứ màu vàng như thế nào? Người mới tu 
quán phải do cái phương tiện nào mới có thể chứng nhập vào định biến 
xứ màu vàng?
Đáp: Người mới tu nghiệp, khi bắt đầu tu quán thì ở thế giới nầy 
hoặc duyên nơi màu vàng của cây, hoặc màu vàng của lá, của hoa, của 
quả, hoặc màu vàng của áo, màu đỏ của các thứ trang phục, màu vàng 
của mây, của nước, hoặc chấp lấy màu vàng của tất cả các vật nào 
khác... Người ấy đối với các thứ như thế mà chọn duyên nơi một tướng 
đó, rồi dùng sức hiểu biết tốt mà cột niệm suy nghĩ, hướng tưởng vào đó 
mà quan sát, xác lập tìm hiểu đó là màu xanh gì? Cho nên tâm liền bị 
xáo động bay nhảy theo các tướng, không thể cột niệm chuyên chú vào 
một cảnh, suy nghĩ cảnh đó là màu vàng chứ không phải cái gì khác, mà 
tâm liền loạn động v.v... Do các việc như thế, nên chưa thể chứng nhập 
được vào định màu vàng trùm khắp.
Vì muốn kìm giữ tâm loạn động ấy, nên phải đối với một tướng 
màu vàng mà cột niệm suy nghĩ, bảo rằng đây là màu vàng chứ không 
phải là màu xanh v.v... Cứ luôn mạnh mẽ siêng năng tư duy suy nghĩ 
mãi về tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm liên tục trụ vào một 
chỗ thật lâu. Do gia hạnh nầy mới có thể nhập được vào định về màu 
vàng. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện thật nhiều lần gia hạnh 
đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn 
đến sinh đạo, mà luôn rèn luyện tu hành làm các việc thật nhiều lần. 
Và cứ rèn luyện tu tập nhiều lần như thế mãi, thì tâm sẽ được an trụ, 
đều trụ, trụ gần. Và cứ cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi 
về cái cảnh nầy: nhất định đó là tướng của màu xanh. Do tâm an trụ, 
đều trụ, trụ gần và cứ liên tục cột niệm vào một cảnh, luôn tư duy suy 
nghĩ mãi về cảnh nhất định đó là tướng của màu vàng không hai không 
đổi khác, nên có thể nhập vào định về màu vàng, mà chưa thể nhập vào 
định trùm khắp màu vàng.
Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định biến xứ màu vàng, thì gia 
hạnh của định biến xứ màu vàng nó như thế nào? Còn người tu hạnh 
quan sát phải do phương tiện nào mới chứng nhập được vào định biến 
xứ màu vàng?
Đáp: Tức là y vào việcï nhập định về màu vàng như trước vừa nói, 
mà khiến tâm luôn tùy thuận điều phục hướng lên, dần dần sẽ được 
nhu hòa. Và khi cứ một mực đã được định rồi, thì lại nghĩ tưởng về màu 
vàng nầy dần dần lớn rộng, lan ra khắp cả đông tây nam bắc, khắp nơi 
đều là màu vàng cả. Nên tâm liền loạn động bay nhảy theo các tướng 

===== PAGE 320 =====
320 BỘ TỲ ĐÀM 1
và không thể cột niệm chuyên chú vào một cảnh, luôn suy nghĩ mãi 
cảnh đó, biến khắp mọi nơi đều là màu vàng. Vì tâm người ấy bị loạn 
động v.v..., như vừa nói, nên chưa thể chứng nhập vào định màu vàng 
trùm khắp.
Vì muốn kìm giữ tâm luôn loạn động bay nhảy ấy, nên đối với cái 
tướng màu vàng trùm khắp kia mà luôn cột niệm suy nghĩ mãi cái trùm 
khắp đó là màu vàng chứ không phải là màu xanh v.v... Luôn mạnh mẽ 
siêng năng suy nghĩ mãi tướng đó cho đến khi nào khiến được tâm luôn 
an trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập được vào 
định biến xứ màu vàng được. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện 
rất nhiều lần gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa 
là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo, luôn rèn luyện tu tập, làm các 
việc rất nhiều lần như thế mãi. Đã luôn rèn luyện tu tập rất nhiều lần 
gia hạnh đó, thì tâm sẽ an trụ, đều trụ, trụ gần, và cứ liên tục cột niệm 
chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi cảnh nầy là khắp nơi đều toàn là 
màu vàng. Do tâm an trụ, đều trụ trụ gần và cứ liên tục cột niệm vào 
một cảnh, tư duy suy nghĩ mãi cảnh màu vàng trùm khắp nơi luôn không 
hai, không đổi khác. Từ đây thì mới nhập được vào định màu vàng trùm 
khắp.
- Nói trên dưới, tức là các phương trên dưới.
- Nói các phía, tức là Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng.
- Nói không hai, tức là không có xen tạp ở giữa.
- Không bờ bến giới hạn, là khó lường bờ bến.
- Đó là thứ sáu, tức trong các định nầy theo thứ tự liên tục đếm dần 
lên thì nó ở hàng thứ sáu.
- Nói là biến xứ, tức là trong các định nầy, có bao nhiêu thứ sắc, 
thọ, tưởng, hành, thức tốt lành thì đều gọi là biến xứ.
7. Gia hạnh của định biến xứ màu đỏ như thế nào? Người mới tu 
quán phải do cái phương tiện nào mới có thể chứng nhập vào định biến 
xứ màu đỏ?
Đáp: Người mới tu nghiệp, khi bắt đầu tu quán thì ở thế giới nầy 
hoặc duyên nơi màu đỏ của cây, hoặc màu đỏ của lá, của hoa, của quả, 
hoặc chấp lấy màu đỏ của áo, màu đỏ của các thứ trang phục, hoặc màu 
đỏ của mây, của nước, hoặc chấp lấy màu đỏ của tất cả các vật nào 
khác. Người ấy đối với các thứ như thế mà chọn lựa chấp giữ lấy một 
tướng đó, rồi dùng sức hiểu biết tốt mà cột niệm suy nghĩ, hướng tưởng 
vào đó mà quan sát, xác lập tìm hiểu đó là màu đỏ gì? Cho nên tâm liền 
bị xáo động bay nhảy theo các tướng, không thể một mực cột niệm vào 

===== PAGE 321 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 20 321
một cảnh, suy nghĩ cảnh đó là màu đỏ chứ không phải cái gì khác, mà 
tâm liền loạn động v.v... Do các việc như thế nên chưa thể chứng nhập 
được vào định màu đỏ trùm khắp.
Vì muốn kìm giữ tâm loạn động ấy, nên phải đối với một tướng 
màu đỏ mà cột niệm suy nghĩ, bảo rằng đây là màu đỏ chứ không phải 
là màu vàng v.v... Cứ luôn siêng năng mạnh mẽ tư duy suy nghĩ mãi về 
tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm liên tục trụ vào một chỗ thật 
lâu. Do gia hạnh nầy mới có thể nhập được vào định về màu đỏ. Rồi cứ 
mãi siêng năng tu tập rèn luyện thật nhiều lần gia hạnh đó. Sau lại tiến 
tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo, mà 
luôn rèn luyện tu hành làm các việc thật nhiều lần. Và cứ rèn luyện tu 
tập nhiều lần như thế mãi, thì tâm sẽ được an trụ, đều trụ, trụ gần. Và 
cứ cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi về cái cảnh nầy: nhất 
định đó là tướng của màu đỏ. Do tâm an trụ, đều trụ, trụ gần và cứ liên 
tục cột niệm vào một cảnh, luôn tư duy suy nghĩ mãi về cảnh nhất định 
đó là tướng của màu đỏ không hai không đổi khác, nên có thể nhập vào 
cái định về màu đỏ, mà chưa thể nhập vào cái định màu đỏ trùm khắp.
Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định biến xứ màu đỏ thì gia hạnh 
của định biến xứ màu đỏ nó như thế nào? Còn người tu hạnh quan sát 
phải do phương tiện nào mới chứng nhập được vào định biến xứ màu 
đỏ?
Đáp: Tức là y vào việc nhập định về màu đỏ như trước vừa nói, 
mà khiến tâm luôn tùy thuận điều phục, hướng lên, dần dần sẽ được 
nhu hòa. Và khi cứ một mực đã được định rồi thì lại nghĩ tưởng về màu 
đỏ nầy dần dần lớn rộng, lan khắp đông tây nam bắc, khắp nơi đều là 
màu đỏ cả. Nên tâm liền loạn động bay nhảy theo các tướng mà không 
thể cột niệm chuyên chú vào một cảnh, luôn suy nghĩ mãi cảnh đó, biến 
khắp mọi nơi đều là màu đỏ. Vì tâm người ấy bị loạn động v.v..., như 
vừa nói, nên chưa thể chứng nhập vào định biến xứ màu đỏ.
Vì muốn kìm giữ tâm luôn loạn động bay nhảy ấy, nên đối với 
tướng màu đỏ kia trùm khắp mà luôn cột niệm suy nghĩ mãi trùm khắp 
đó là màu đỏ chứ không phải là màu vàng v.v... Luôn mạnh mẽ siêng 
năng suy nghĩ mãi tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm luôn an trụ 
vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể chứng nhập được vào 
định biến xứ màu đỏ được. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện rất 
nhiều lần gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối 
với gia hạnh dẫn đến sinh đạo, luôn rèn luyện tu tập, làm các việc rất 
nhiều lần như thế mãi. Đã luôn cứ rèn luyện tu tập nhiều lần gia hạnh 

===== PAGE 322 =====
322 BỘ TỲ ĐÀM 1
đó, thì tâm sẽ an trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ liên tục cột niệm chuyên 
chú vào một cảnh mà suy tư mãi cảnh nầy. Khắp nơi đều toàn là màu 
đỏ. Do tâm an trụ, đều trụ, trụ gần và cứ liên tục cột niệm vào một cảnh, 
tư duy suy nghĩ mãi cảnh màu đỏ biến khắp nơi luôn không hai, không 
đổi khác. Từ đây thì mới nhập được vào cái định màu đỏ trùm khắp.
- Nói trên dưới, tức là các phương tiện trên dưới.
- Nói các phía, tức là Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng.
- Nói không hai, tức là không có xen tạp ở giữa.
- Không bờ bến giới hạn, tức là khó lường bờ bến.
- Đó là thứ bảy, tức là trong các định nầy lần lượt theo thứ tự đếm 
mãi lên thì nó ở hàng thứ bảy.
- Nói là biến xứ, là trong các định nầy, có bao nhiêu thứ sắc, thọ, 
tưởng, hành, thức tốt lành thì đều gọi là biến xứ.
8. Gia hạnh của định biến xứ màu trắng như thế nào? Người mới tu 
hạnh quan sát phải do phương tiện nào mới chứng nhập được định biến 
xứ màu trắng?
Đáp: Người mới tu nghiệp, khi bắt đầu tu quán thì ở thế giới nầy 
hoặc duyên nơi màu trắng của cây, hoặc màu trắng của lá, của hoa, của 
quả, hoặc màu trắng của áo, màu trắng của các thứ trang phục, hoặc 
màu trắng của mây, của nước, hoặc màu trắng của tất cả các vật nào 
khác. Người ấy, đối với các thứ như thế mà chọn lựa duyên nơi một 
tướng đó, rồi dùng sức hiểu biết tốt mà cột niệm suy nghĩ, hướng tưởng 
vào đó mà quan sát, xác lập tìm hiểu đó là màu trắng gì? Cho nên tâm 
liền bị xáo động bay nhảy theo các tướng, không thể một mực cột niệm 
vào một cảnh, suy nghĩ cảnh đó là màu trắng chứ không phải cái gì 
khác, mà tâm liền loạn động v.v... Do các việc như thế nên chưa thể 
chứng nhập được vào định màu trắng trùm khắp.
Vì muốn kìm giữ tâm loạn động ấy, nên phải đối với một tướng 
màu đỏ trắng mà cột niệm suy nghĩ, bảo rằng đây là màu trắng chứ 
không phải là màu đỏ v.v... Cứ luôn siêng năng mạnh mẽ tư duy suy 
nghĩ mãi về tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm liên tục trụ vào 
một chỗ thật lâu. Do gia hạnh nầy mới có thể nhập được vào định về 
màu trắng. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện thật nhiều lần gia 
hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh 
dẫn đến sinh đạo mà luôn rèn tập tu hành, làm các việc thật nhiều lần 
như thế mãi, thì tâm sẽ được an trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ cột niệm 
chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi về cảnh nầy. Nhất định đó là 
tướng của màu trắng. Do tâm an trụ, đều trụ, trụ gần và cứ liên tục cột 

===== PAGE 323 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 20 323
niệm vào một cảnh, luôn tư duy suy nghĩ mãi về cảnh nhất định đó, là 
tướng của màu trắng, không hai không đổi khác, nên có thể nhập vào 
định về màu trắng, mà chưa thể nhập được vào cái định màu trắng trùm 
khắp.
Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định biến xứ màu trắng thì gia 
hạnh của định biến xứ màu trắng đó nó như thế nào? Còn người tu hạnh 
quan sát phải do phương tiện nào mới có thể chứng nhập được vào định 
biến xứ màu trắng?
Đáp: Tức là y vào việcï nhập định về màu đỏ như trước vừa nói, 
mà khiến tâm luôn tùy thuận, điều phục hướng lên dần dần sẽ được nhu 
hòa. Và khi cứ một mực đã được định rồi thì lại nghĩ tưởng về màu trắng 
đó dần dần lớn rộng lan khắp đông tây nam bắc, khắp nơi đều là màu 
trắng cả, nên tâm liền loạn động bay nhảy theo các tướng mà không thể 
cột niệm chuyên chú vào một cảnh, luôn suy nghĩ mãi cảnh đó, biến 
khắp mọi nơi đều là màu trắng. Vì tâm người ấy bị loạn động v.v... Như 
vừa nói, nên chưa thể chứng nhập vào cái định màu trắng trùm khắp.
Vì muốn kìm giữ tâm luôn loạn động bay nhảy ấy, nên đối với 
tướng màu trắng trùm khắp kia mà luôn cột niệm suy nghĩ mãi trùm 
khắp đó là màu trắng chứ không phải là màu đỏ v.v... Luôn mạnh mẽ 
siêng năng suy nghĩ mãi tướng đó, cho đến khi nào khiến được cái tâm 
luôn an trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể chứng nhập 
được vào định biến xứ màu trắng. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn 
luyện rất nhiều lần gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, 
nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo, luôn rất nhiều lần rèn luyện 
tu tập và làm các việc như thế mãi. Đã luôn tu tập rèn luyện nhiều lần 
gia hạnh đó thì tâm sẽ an trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ liên tục cột niệm 
chuyên chú vào một cảnh mà suy tư mãi cảnh nầy: khắp nơi đều toàn 
là màu trắng. Do tâm an trụ, đều trụ, trụ gần và cứ liên tục cột niệm 
vào cảnh tư duy suy nghĩ mãi cảnh màu trắng trùm khắp nơi luôn không 
hai, không đổi khác. Từ đây thì mới nhập được vào cái định màu trắng 
trùm khắp.
- Nói trên dưới, tức là các phương trên dưới.
- Nói các phía, tức là Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng.
- Nói không hai, tức là không có xen tạp ở giữa.
- Không bến bờ giới hạn, tức là khó lường bờ bến.
- Đó là thứ tám, tức là trong các định nầy, lần lượt theo thứ tự liên 
tục đếm mãi lên đó là thứ tám.
- Nói là biến xứ, tức là trong các định nầy, có bao nhiêu thứ sắc, 

===== PAGE 324 =====
324 BỘ TỲ ĐÀM 1
thọ, tưởng, hành, thức thiện thì đều gọi là biến xứ.
9. Gia hạnh của biến xứ về không gian như thế nào? Người tu hạnh 
quan sát phải do phương tiện nào mới có thể chứng nhập được vào định 
biến xứ về không gian?
Đáp: Người mới tu nghiệp, khi bắt đầu tu quán thì ở cõi thế giới 
nầy thì hãy duyên nơi nhà cửa ở trên không trung, hoặc đất ở trên không, 
hoặc cây cối, hoặc ngọn núi rất to hay núi non thường, hoặc dòng sông, 
hoặc các hang động..., đều ở trên không trung mà chọn lựa duyên nơi 
một tướng đó. Rồi nhờ sự hiểu biết tốt mà cột niệm suy nghĩ, hướng 
tưởng vào đó mà quan sát, xác lập tìm hiểu đó là cái gì ở trên không 
trung. Do đó tâm liền bị xáo động bay nhảy theo các tướng, không thể 
một mực cột niệm vào một cảnh, suy nghĩ cảnh đó là không gian chứ 
không phải cái gì khác, mà tâm liền loạn động v.v..., do các việc như 
thế nên chưa thể chứng nhập được vào định không gian trùm khắp. Vì 
muốn kìm giữ tâm loạn động bay nhảy ấy, nên phải đối với một tướng 
ở không trung mà cột niệm suy nghĩ, bảo rằng đây là không gian chứ 
không phải là thức v.v... Cứ luôn mạnh mẽ siêng năng suy nghĩ mãi về 
tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm liên tục trụ vào một chỗ thật 
lâu. Do gia hạnh nầy mới có thể nhập được vào định về không. Rồi cứ 
mãi siêng năng tu tập rèn luyện thật nhiều lần gia hạnh đó. Sau lại tiến 
tu định phương nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo mà luôn 
rèn luyện tu hành, làm các việc thật nhiều lần. Và cứ luôn rèn luyện tu 
tập rất nhiều lần như thế mãi, thì tâm sẽ được an trụ, đều trụ, trụ gần. 
Và cứ cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi về cảnh nầy: nhất 
định đó là tướng không gian. Do tâm an trụ, đều trụ, trụ gần và cứ liên 
tục cột niệm vào một cảnh, luôn tư duy suy nghĩ mãi cảnh nhất định đó 
là tướng của không gian luôn không hai không đổi khác, nên chưa thể 
nhập được vào định không gian trùm khắp.
Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định biến xứ về không gian thì 
gia hạnh của định biến xứ về không gian đó nó như thế nào? Còn người 
tu hạnh quan sát phải do phương tiện nào mới chứng nhập được định về 
không gian?
Đáp: Tức là y vào việcï nhập vào định về trùm khắp? Không gian 
như trước vừa nói, mà khiến tâm luôn tùy thuận, điều phục hướng lên, 
dần dần sẽ được nhu hòa. Và khi cứ một mực đã được định rồi thì lại 
nghĩ tưởng về không gian nầy dần dần nó lớn rộng biến khắp đông tây 
nam bắc, nơi nào cũng là khoảng không cả, nên tâm liền loạn động 
bay nhảy theo các tướng, và không thể chuyên chú cột niệm vào một 

===== PAGE 325 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 20 325
cảnh, luôn suy nghĩ mãi về cảnh đó, biến khắp mọi nơi đều là khoảng 
không. Vì tâm của người ấy bị loạn động v.v..., như vừa nói, nên chưa 
thể chứng nhập vào định về không gian trùm khắp.
Vì muốn kìm giữ tâm luôn loạn động bay nhảy ấy, cho nên đối 
với tướng bao trùm của không gian mà luôn cột niệm suy nghĩ mãi về 
sự bao trùm đó là không gian chứ không phải là cái bao trùm về thức 
v.v..., luôn mạnh mẽ suy nghĩ mãi tướng đó, cho đến khi nào khiến được 
tâm luôn an trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập 
được vào định biến xứ về không gian. Rồi cứ mãi siêng năng rèn luyện 
tu tập rất nhiều lần gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, 
nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo, luôn rèn luyện tu tập làm 
các việc rất nhiều lần như thế mãi. Đã luôn rèn luyện tu tập rất nhiều 
lần gia hạnh đó, thì tâm sẽ an trụ, đều trụ, trụ gần, và cứ liên tục cột 
niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi cảnh nầy, là khắp nơi đều 
toàn là khoảng không. Do tâm trụ, trụ đều, trụ trụ gần và cứ liên tục cột 
niệm chuyên chú vào cảnh, suy tư mãi cảnh nầy là khắp nơi đều toàn là 
khoảng không. Do tâm an trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ liên tục cột niệm 
vào một cảnh, tư duy suy nghĩ mãi cảnh không gian trùm khắp nơi luôn 
không hai không đổi khác. Từ đây thì mới nhập được vào định không 
gian trùm khắp.
- Nói trên dưới, tức là các phương trên dưới.
- Nói các phía, tức Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng.
- Nói không hai, tức không có xen tạp ở giữa.
- Đó là thứ chín, tức là trong định vô biên xứ nầy có bao nhiêu thứ 
sắc thọ tưởng hành thức tốt lành thì đều gọi là biến xứ.
10. Gia hạnh của định biến xứ về thức như thế nào? Người mới tu 
quán phải do phương tiện nào mới có thể chứng nhập vào định biến xứ 
về thức?
Đáp: Người mới tu nghiệp, khi bắt đầu tu quán thì ở ngay trong 
thân hoặc duyên nơi tướng nhãn thức thanh tịnh, hoặc tướng nhĩ thức 
thanh tịnh, ý thức đều thanh tịnh. Đối với các thức đó tùy ý chọn lựa 
duyên nơi một tướng. Rồi nhờ sự hiểu biết tốt mà cột niệm suy nghĩ, 
hướng cái tưởng vào đó mà quan sát, xác lập tìm hiểu đó là cái thức gì, 
cho nên tâm liền bị xáo động bay nhảy theo các tướng, không thể một 
mực cột niệm vào một cảnh, suy nghĩ cảnh đó là thức chứ không phải là 
cái gì khác, mà tâm liền loạn động v.v... Do các việc như thế nên chưa 
thể chứng nhập vào định biến trùm khắp.
Vì muốn kìm giữ tâm loạn động bay nhảy ấy nên phải đối với một 

===== PAGE 326 =====
326 BỘ TỲ ĐÀM 1
tướng của một thức mà cột niệm suy nghĩ, bảo rằng đây là thức chứ 
không phải là không gian v.v... Cứ luôn mạnh mẽ siêng năng suy nghĩ 
mãi về tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm liên tục trụ vào một 
chỗ thật lâu. Do gia hạnh nầy mới có thể nhập được vào định về thức. 
Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện thật nhiều lần gia hạnh đó. Sau 
lại tiến tu định phương nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo 
mà luôn rèn luyện tu hành, làm các việc thật nhiều lần, và cứ luôn rèn 
luyện tu tập thật nhiều lần như thế mãi, thì tâm sẽ được an trụ, đều trụ, 
trụ gần. Và cứ cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi về cảnh 
nầy: nhất định đó là tướng của thức. Do tâm an trụ, đều trụ, trụ gần và 
cứ liên tục cột niệm vào một cảnh, luôn tư duy suy nghĩ mãi cảnh nhất 
định đó là tướng của thức, luôn không hai không đổi khác, nên chưa thể 
nhập vào định thức trùm khắp.
Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định biến xứ về thức, thì gia hạnh 
của định biến xứ về thức là như thế nào? Còn người tu hạnh quan sát 
phải do phương tiện nào mới có thể chứng nhập vào định biến xứ về 
thức được?
Đáp: Tức là y vào việcï nhập vào định về thức như trước vừa nói, 
mà khiến tâm luôn tùy thuận điều phục hướng lên, dần dần sẽ được nhu 
hòa. Và khi cứ một mực đã được định rồi thì lại nghĩ tưởng tới thức nầy 
dần dần nó sẽ lớn rộng trùm khắp đông tây nam bắc, nơi nào cũng đều 
có thức cả, nên tâm liền loạn động bay nhảy theo các tướng và không 
thể chuyên chú cột niệm vào một cảnh, luôn suy nghĩ mãi về cảnh đó, 
biến khắp mọi nơi đều là thức. Vì tâm của người ấy bị loạn động v.v... 
như vừa nói, nên chưa thể chứng nhập vào định về thức trùm khắp.
Vì muốn kìm giữ tâm luôn loạn động bay nhảy ấy cho nên đối với 
tướng trùm khắp của thức mà luôn cột niệm suy nghĩ mãi về bao trùm 
đó là thức chứ không phải là cái bao trùm về không gian v.v... Cứ luôn 
mạnh mẽ suy nghĩ mãi tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm luôn 
an trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập được vào 
định biến xứ về thức. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện rất nhiều 
lần gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với 
gia hạnh dẫn đến sinh đạo, luôn rèn luyện tu tập, làm các việc khác rất 
nhiều lần như thế mãi. Đã luôn rèn luyện tu tập rất nhiều lần gia hạnh 
đó, thì tâm an trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ liên tục cột niệm chuyên chú 
vào một cảnh, suy tư mãi về cảnh nầy trùm khắp nơi đều toàn là thức. 
Do tâm an trụ, đều trụ, trụ gần và cứ liên tục cột niệm chuyên chú vào 
một cảnh, suy tư mãi về cảnh trùm khắp nầy đều toàn là thức, luôn 

===== PAGE 327 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 20 327
không hai không đổi khác. Từ đây thì mới có thể chứng nhập vào định 
thức trùm khắp.
- Nói trên dưới, tức là các phương trên dưới.
- Nói các phía, tức là Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng.
- Nói không hai, tức là xen tạp ở giữa (không gián đoạn lộn xộn).
- Không bến bờ giới hạn, tức là khó lường bờ bến.
- Đó là thứ mười, tức là trong các định nầy, theo thứ tự liên tục đến 
dần lên thì là thứ mười.
- Nói biến xứ, tức là trong định nầy, có bao nhiêu thứ sắc thọ tưởng 
hành thức tốt lành thì đều gọi là biến xứ.
Có mười pháp vô học: 
1. Chánh kiến vô học. 
2. Chánh tư duy vô học. 
3. Chánh ngữ vô học. 
4. Chánh nghiệp vô học. 
5. Chánh mạng vô học. 
6. Chánh cần vô học. 
7. Chánh niệm vô học. 
8. Chánh định vô học. 
9. Chánh giải thoát vô học. 
10. Chánh trí vô học.
- Thế nào là chánh kiến vô học?
Đáp: Tức là tận trí và vô sinh trí, cái trí mà tất cả mọi thứ đều 
không cần thâu giữ học hỏi nữa. Đó gọi là chánh kiến vô học.
- Thế nào là chánh tư duy vô học?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ tập diệt đạo thì luôn tư 
duy suy nghĩ về khổ, tập, diệt, đạo. Với vô học (không còn phải học hỏi 
nữa) luôn tác tương ưng khi có suy nghĩ. Suy nghĩ cùng cả (đẳng). Suy 
nghĩ gần, luôn tìm cầu tất cả, tìm cầu gần, luôn suy kiếm tìm hiểu tất cả 
mọi thứ, suy tìm gần để khiến tâm đối với các pháp thô và động mà đổi 
thành (trở nên) tinh tế yên tĩnh. Nên gọi đó là chánh tư duy vô học.
- Thế nào là chánh ngữ vô học?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ-tập-diệt-đạo thì tư duy 
suy nghĩ về khổ, về tập, về diệt, về đạo. Với vô học luôn tác tương ưng 
khi tuyển chọn cho nên luôn diệt trừ bốn thứ lời nói ác trong đời sống 
sai quấy (tà mệnh). Có được khả năng diệt trừ các ngữ nghiệp xấu ác. 
Vô học mà lìa bỏ lìa bỏ giỏi (thắng), lìa bỏ gần, lìa bỏ cùng cực. Có 
được các giới hạnh thanh tịnh (tịch tĩnh) không tạo tác, không làm ra. 

===== PAGE 328 =====
328 BỘ TỲ ĐÀM 1
Buông bỏ tất cả, không ngăn ngừa, gìn giữ, không làm không phạm. 
Tất cả mọi quy ước, phép tắc về thuyền bè, cầu cống, đê điều, bờ đập, 
tường vách, hào rãnh..., đều có tự tánh không vi phạm, không vượt qua, 
và có ngữ nghiệp không biểu lộ (không nói năng chê khen). Đó gọi là 
chánh ngữ vô học.
- Thế nào là chánh nghiệp vô học?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ tập diệt đạo thì tư duy 
suy nghĩ về khổ, về tập, về diệt, về đạo về đạo kỹ càng. Với vô học 
luôn tác tương ưng với sức tuyển chọn tốt, cho nên luôn diệt trừ ba thứ 
nghiệp của thân trong đời sống tà quấy, có khả năng diệt trừ hết các 
hạnh nghiệp xấu của thân. Với vô học mà từ bỏ, từ bỏ giỏi, từ bỏ gần, 
từ bỏ cùng cực. Có được giới hạnh tịch tĩnh yên vắng (thanh tịnh) không 
làm không gây tạo. Buông bỏ tất cả, không ngăn ngừa, gìn giữ, không 
làm không phạm. Tất cả mọi quy ước, phép tắc về thuyền bè cầu cống 
đê điều bờ đập, tường vách hào rãnh..., đều có tự tánh không vi phạm, 
không vượt qua, và có thân nghiệp không biểu lộ. Đó gọi là chánh ng -
hiệp vô học.
- Thế nào là chánh mạng vô học?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ tập diệt đạo thì tư duy 
suy nghĩ về khổ, về tập, về diệt, về đạo. Với vô học luôn tác ý tương 
ưng với sức tuyển chọn tốt cho nên có khả năng diệt trừ các hạnh ác 
ngữ và thân nghiệp trong đời sống tà quấy. Với vô học mà từ bỏ, từ bỏ 
giỏi, từ bỏ gần, từ bỏ cùng cực. Có giới hạnh tịch tĩnh yên vắng thanh 
tịnh, không làm, không gây tạo. Buông bỏ tất cả, không ngăn ngừa gìn 
giữ, không làm không phạm. Tất cả mọi quy ước, phép tắc về thuyền 
bè, cầu kỳ đê điều, bờ đập, tường vách, hào rãnh..., có tự tánh không 
vi phạm, không vượt qua, và có ngữ nghiệp không biểu lộ. Đó gọi là 
chánh mạng vô học.
- Thế nào là chánh cần vô học?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ tập diệt đạo thì luôn 
tư duy suy nghĩ về khổ, về tập, về diệt, về đạo. Với vô học mà tác ý 
tương ưng với các sự chuyên cần siêng gắng mạnh mẽ cố gắng nổ lực 
tột cùng, với lòng cố sức không ngừng khó ngăn cản. Đó là chánh cần 
vô học. 
- Thế nào là chánh niệm vô học?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ tập diệt đạo luôn tư duy 
suy nghĩ kỹ lưỡng về khổ, về tập, về diệt, về đạo. Với vô học luôn tác 
ý tương ưng khi có nghĩ nhớ. Nghĩ nhớ tùy theo, nghĩ nhớ chuyên biệt, 

===== PAGE 329 =====
SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 20 329
nghĩ nhớ rõ, không quên mất, không sót lộn, có tính chất không quên 
không lỗi, với chánh pháp, tâm trí sáng ghi nhớ tốt. Đó gọi là chánh 
niệm vô học.
- Thế nào là chánh định vô học?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ tập diệt đạo luôn tư duy 
suy nghĩ kỹ lưỡng về khổ, về tập, về diệt, về đạo. Với vô học luôn tác 
ý tương ưng với tâm ý. Tâm luôn trụ đều trụ trụ gần an trụ nơi không hề 
phân tán loạn động có tính chất luôn ngăn ngừa giữ gìn cho tâm chuyên 
chú vào một cảnh. Đó gọi là chánh định vô học.
- Thế nào là chánh giải thoát vô học?
Đáp: Các hàng đệ tử của Phật đối với khổ tập diệt đạo luôn tư duy 
suy nghĩ kỹ lưỡng về khổ, về tập, về diệt, về đạo. Với vô học luôn tác 
ý tương ưng khi có tâm trí thắng giải đã thắng giải và sẽ thắng giải. Đó 
gọi là chánh giải thoát vô học.
- Thế nào là chánh trí vô học?
Đáp: Với trí tâm và vô sinh trí thì gọi là chánh trí vô học.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-tử bảo toàn thể chúng Bí-sô: Quý vị nên 
biết, đối với một pháp cho đến mười pháp, Đức Phật đã hiểu biết thấu 
suốt rất rõ ràng đầy đủ, rồi đem diễn giảng chỉ bày cho hàng đệ tử. Đại 
chúng đều đã cùng ta hòa hợp thân cận gần gũi với Đức Thế Tôn đã 
kiết tập xong. Toàn thể chúng Bí-sô đều nên thọ trì tuân hành và diễn 
giảng các pháp nầy cho người khác biết để được truyền bá rộng rãi, và 
sau khi Đức Phật đã diệt độ thì không có sự tranh cãi nhau. Chúng ta 
nên tuân giữ giới luật, tu phạm hạnh để đem lại sự lợi lạc lâu dài cho vô 
số hữu tình. Hãy thương xót hàng trời, người ở thế gian khiến họ nhận 
được nhiều nghĩa lý lợi ích và an lạc thật cao quý.
----------------
Phẩm 12: KHEN - KHUYÊN
Khi đó, Đức Thế Tôn biết rõ Tôn giả Xá-lợi-tử đã diễn giảng giáo 
pháp cho chúng Bí-sô vừa xong, nên Ngài hân hoan đứng dậy sửa ngay 
ngắn lại pháp y rồi ngồi kiết già đoan nghiêm ngỏ lời khen ngợi Tôn 
giả Xá-lợi-tử: Quý hóa thay! Nay thầy đã từ trên đài cao đẹp đẽ nầy 
cùng toàn chúng Bí-sô đã hóa hợp kiết tập những điều diễn nói Như Lai 
tập trung thành một pháp môn thêm mới. Vậy từ nay thầy hãy cùng đại 
chúng thường nên diễn nói các pháp môn như thế, vì các pháp môn ấy 
có thể giúp hàng trời, người luôn được thấu hiểu nghĩa lý lợi ích, chứng 
ngộ và được an lạc. Đức Thế Tôn lại khuyên bảo toàn chúng Bí-sô: 

===== PAGE 330 =====
330 BỘ TỲ ĐÀM 1
Toàn thể quý thầy đều nên đọc tụng thọ trì pháp môn tập dị (tập hợp 
các lời dạy khác nhau) mà thầy Xá-lợi-tử vừa diễn nói xong, vì pháp 
môn như thế sẽ dần đến điều thiện lớn, nghĩa lý lớn, giáo pháp lớn, về 
phạm hạnh trinh trắng, chính nhớ đó mà chứng được trí tuệ sáng suốt 
cao tột của Niết-bàn Bồ-đề. Những vị xuất gia tịnh tín và các Thiện 
nam hãy nên thọ trì đọc tụng các pháp môn như thế, thì không bao lâu 
nhất định quý vị sẽ hoàn thành xong tất cả mọi phận việc sự nghiệp cao 
quý.
Khi nghe xong lời khuyên bảo của Đức Bạc-già-phạm, toàn thể 
chúng Bí-sô đều hết sức vui mừng, cùng đảnh lễ dưới chân Phật và tin 
tưởng, thọ trì, tuân hành.
