A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận · Quyển 19
阿毘達磨集異門足論 · T1536
Hán văn
尊者舍利子說 三藏法師玄奘奉 詔譯 八法品第九之二 八勝處者,云何為八?答內有色想觀外色少, 若好若惡,於彼諸色勝知勝見有如是想,是 第一勝處。內有色想觀外色多,若好若惡,於 彼諸色勝知勝見有如是想,是第二勝處。內 無色想觀外色少,若好若惡,於彼諸色勝知 勝見有如是想,是第三勝處。內無色想觀外 色多,若好若惡,於彼諸色勝知勝見有如是 想,是第四勝處。內無色想觀外諸色,若青 青顯青現青光,猶如烏莫迦花,或如婆羅痆 斯深染青衣,若青青顯青現青光。內無色想 觀外諸色,若青青顯青現青光亦復如是,於 彼諸色勝知勝見有如是想,是第五勝處。內 無色想觀外諸色,若黃黃顯黃現黃光,猶如 羯尼迦花,或如婆羅痆斯深染黃衣,若黃黃 顯黃現黃光。內無色想觀外諸色,若黃黃顯 黃現黃光亦復如是,於彼諸色勝知勝見有 如是想,是第六勝處。內無色想觀外諸色,若 赤赤顯赤現赤光,猶如槃豆時縛迦花,或如 婆羅痆斯深染赤衣,若赤赤顯赤現赤光。內 無色想觀外諸色,若赤赤顯赤現赤光亦復 如是,於彼諸色勝知勝見有如是想,是第七 勝處。內無色想觀外諸色,若白白顯白現白 光,猶如烏沙斯星色,或如婆羅痆斯極鮮白 衣,若白白顯白現白光。內無色想觀外諸色, 若白白顯白現白光亦復如是,於彼諸色勝知 勝見有如是想,是第八勝處。內有色想者,謂 彼於內各別色想未遠離未別遠離、未調伏 未別調伏、未滅沒未破壞,由彼於內各別色 想未遠離未別遠離、未調伏未別調伏、未滅 沒未破壞,名內有色想。故觀外色少者,謂 所觀色其量甚小微細非多,故名為少。若好 者,謂所觀色已善磨瑩青黃赤白,故名若好。 若惡者,謂所觀色未善磨瑩青黃赤白,故名 若惡。於彼諸色勝知勝見者,謂即於彼所觀 諸色已伏欲貪、已斷欲貪、已超欲貪,於彼已 得勝知勝見,降伏自在都無所畏。如貴勝人 或貴勝子,以勝知見執取僮僕,降伏自在都 無所畏。諸瑜伽師亦復如是,於所觀色已伏 欲貪、已斷欲貪、已超欲貪,於彼已得勝知勝 見,降伏自在都無所畏。有如是想者,謂如實 想正現在前。第一者,謂諸定中漸次順次相 續次第數為第一。勝處者,謂此定中所有善 色受想行識,皆名勝處。內無色想觀外色多 等者,謂所觀色其量廣大無邊無際,故名為 多。餘如前說。內無色想者,謂彼於內各別色 想已遠離已別遠離、已調伏已別調伏、已滅 沒已破壞。由彼於內各別色想已遠離已別 遠離、已調伏已別調伏、已滅沒已破壞,故名 內無色想。觀外色少多等,皆如前說。內無色 想觀外諸色若青者,謂總顯示所有青色青 聚青眾,故說若青。青顯者,謂此青色是顯非 形,故說青顯。青現者,謂此青色如是眼識所 行境界,亦是意識所行境界,故說青現。青光 者,謂此青色能現能發種種光明,故說青光。 餘如前說。如說若青等,若黃等亦爾。 10 九法品 九法品第十 時舍利子復告眾言:「具壽當知,佛於九法自 善通達,現等覺已,為諸弟子宣說開示。我等 今應和合結集,佛滅度後勿有乖諍,當令隨 順梵行法律久住,利樂無量有情,哀愍世間 諸天人眾,令獲殊勝義利安樂。」 九法云何?此 中略有二種九法,所謂九結、九有情居。 九結 者,云何為九?答:一、愛結;二、恚結;三、慢結;四、無 明結;五、見結;六、取結;七、疑結;八、嫉結;九、慳 結。云何愛結?答:三界貪是名愛結。云何恚結? 答:於諸有情欲為損害,內懷栽孽欲為擾惱, 已嗔當嗔現嗔,樂為過患、極為過患,意極憤 恚,於諸有情各相違戾欲為過患,已為過患、 當為過患、現為過患,是名恚結。云何慢結?答: 有七慢類說名慢結。云何為七?答:一、慢;二、過 慢;三、慢過慢;四、我慢;五、增上慢;六、卑慢;七、 邪慢。此七慢類合為慢結。云何無明結?答:三 界無智名無明結。云何見結?答:三種見名見 結。云何為三?答:一、薩迦耶見;二、邊執見;三、邪 見。如是三見合為見結。云何取結?答:二種取 名取結。云何為二?答:一、見取;二、戒禁取。如是 二取合為取結。云何疑結?答:於諦猶豫是名 疑結。云何嫉結?答:心不忍許是名嫉結。云何 慳結?答:心有祕悋是名慳結。 九有情居者,云何為九?答:有色有情,有種種 身有種種想,如人及一分天,是第一有情居。 有色有情,有種種身有一種想,如梵眾天劫 初起位,是第二有情居。有色有情,有一種身 有種種想,如光音天,是第三有情居。有色有 情,有一種身有一種想,如遍淨天,是第四有 情居。有色有情,無想無別想,如無想有情天, 是第五有情居。無色有情,超一切色想滅有 對想,不思惟種種想入無邊空,空無邊處具 足住,如空無邊處天,是第六有情居。無色有 情,超一切空無邊處,入無邊識識無邊處具 足住,如識無邊處天,是第七有情居。無色有 情,超一切識無邊處,入無所有無所有處具 足住,如無所有處天,是第八有情居。無色有 情,超一切無所有處,入非想非非想處具足 住,如非想非非想處天,是第九有情居。此中 有色者,謂彼有情,有色施設、有色身有、有色 處有、有色界、有色蘊,故名有色。有情者,謂諦 義勝義雖諸有情不可獲不可得無所有非 現有,而依蘊界處假立有情,諸想等想施設 言說轉,謂有情、人、意生、儒童、命者、生者、養者、 士夫、補特伽羅,故名有情。種種身者,謂彼有 情有種種顯色身、種種相、種種形,非一顯色、 非一相、非一形故,名種種身。種種想者,謂彼 有情有樂想、苦想、不苦不樂想,故名種種想。 如人及一分天者,謂總顯示人及欲界天,故 名如人及一分天。是第一者,漸次順次相續 次第數為第一。有情居者,謂諸有情所居所住、 所依所止、所樂生處,即總顯示此中所有有漏 色受想行識蘊,名有情居。有色有情種種身 者,義如前說。一種想者,謂諸有情有時有分, 於此世界劫將壞時,多往生上光音等天眾 同分中。於彼具足意成色身,根無缺減支分 圓滿,形顯清淨長壽久住。有時有分於此世 界劫初成時,於下空中有空宮殿欻然而起。 有一有情壽業福盡,從彼處沒生下梵世空 宮殿中,獨一無侶長壽久住。時彼有情長時 住已,欻然生愛及生不樂,作如是念:「云何當 令諸餘有情生我同分為我伴侶?」當彼有情 起此心願,有餘有情壽業福盡,復從彼沒生 下梵宮,與前有情共為伴侶。時前生者便作 是念:「此有情類是我所化。我於此類及餘世 間,是自在者、作者、化者、生者、起者,是真父祖。」 時諸有情亦作是念:「我等有情是彼所化。彼 於有情及世間物,是自在者、作者、化者、生者、 起者,是真父祖。」故名一想。如梵眾天者,謂此 義中總顯生在梵眾等天有種種身唯有一 想。劫初起位者,謂劫初生時。是第二等,義如 前說。有色有情者,亦如前說。一種身者,謂彼 有情有一顯色身、一種相、一種形,無種種顯 色、無種種相、無種種形,故名一種身。種種想 者,謂彼有情有樂想、不苦不樂想,故名種種 想。餘如前說。有色有情一種身者,亦如前說。 一種想者,謂彼有情唯有樂想,故名一種想。 餘如前說。有色有情者,亦如前說。言無想者, 總顯無想。無別想者,別顯無想。此中以想而 為上首,顯無一切心心所法。如無想有情天 者,謂別顯示無想有想天。是第五等,義如前 說。無色者,謂彼有情無色施設、無色身、無有 色處、無有色界、無色蘊,故名無色。有情者,如 前說。超一切色想等,如八解脫中廣說。然於 此中,唯取有漏受想行識為有情居。 11 十法品 十法品第十一之一 時舍利子復告眾言:「具壽當知,佛於十法自 善通達,現等覺已,為諸弟子宣說開示。我等 今應和合結集,佛滅度後勿有乖諍,當令隨 順梵行法律久住,利樂無量有情,哀愍世間 諸天人眾,令獲殊勝義利安樂。」 十法云何?此 中略有二種十法,謂十遍處、十無學法。 十 遍處者,云何為十?具壽當知,地遍一想如是 上下傍布無二無邊無際,是第一遍處。復次 具壽,水遍一想如是上下傍布無二無邊無 際,是第二遍處。復次具壽,火遍一想如是上 下傍布無二無邊無際,是第三遍處。復次具 壽,風遍一想如是上下傍布無二無邊無際, 是第四遍處。復次具壽,青遍一想如是上下 傍布無二無邊無際,是第五遍處。復次具壽, 黃遍一想如是上下傍布無二無邊無際,是 第六遍處。復次具壽,赤遍一想如是上下傍 布無二無邊無際,是第七遍處。復次具壽,白 遍一想如是上下傍布無二無邊無際,是第 八遍處。復次具壽,空遍一想如是上下傍布 無二無邊無際,是第九遍處。復次具壽,識遍 一想如是上下傍布無二無邊無際,是第十 遍處。 問:地遍處定加行云何?修觀行者由何方便 而能證入地遍處定?答:初修業者創修觀時, 於此大地彼彼方所,若高若下若刺若杌若 醎若榛若險若穢,如是等處皆不思惟。於此 大地彼彼方所,平坦顯了猶如掌中,具淨園 林可愛樂處隨取一相,以勝解力繫念思惟 假想觀察安立信解是某地相。彼由於此以 勝解力繫念思惟假想觀察安立信解是某地 故,心便散動馳流諸相,不能一趣繫念一境, 思惟此境是地非餘。彼心散動馳流諸相,不 能一趣繫念一境,思惟此境定是地故,未能 證入地遍處定。為攝散動馳流心故,於一地 相繫念思惟,謂此是地非為水等。思惟此相 精勤勇猛,乃至令心相續久住,由斯加行能 入地定。精勤數習此加行己,復進修行此定 方便,謂於加行所引生道,數習數修數多所 作。既於加行所引生道,數習數修數多所作, 心便安住等住近住,相續一趣繫念一境,思 惟此境定是地相。由心安住等住近住,相續 一趣繫念一境,思惟此境定是地相,無二無 轉能入地定,而未能入地遍處定。問:若此未 能入地遍處定者,地遍處定加行云何?修觀 行者由何方便乃能證入地遍處定?答:即依 如前所入地定,令心隨順調伏趣向,漸次柔 和周遍柔和。一趣定已復想此地,漸次增廣 東南西北遍皆是地。彼想此地漸次增廣東 南西北遍是地故,心便散動馳流諸相,不能 一趣繫念一境,思惟此境遍皆是地。彼心散動 馳流諸相,不能一趣繫念一境,思惟此境遍 是地故,未能證入地遍處定。為攝散動馳流 心故,於遍地相繫念思惟此遍是地非遍水 等。思惟此相精進勇猛,乃至令心相續久住, 由斯加行乃漸能入地遍處定。精勤數習此 加行已,復進修行此定方便,謂於加行所引 生道,數習數修數多所作。既於加行所引生 道,數習數修數多所作,心便安住等住近住, 相續一趣繫念一境思惟此境遍皆是地。由 心安住等住近住,相續一趣繫念一境,思惟 此境遍皆是地,無二無轉從此乃入地遍處 定。言上下者,謂上下方。言傍布者,謂東南 等。言無二者,謂無間雜。無邊無際者,謂邊 際難測。是第一者,謂諸定中漸次順次相續 次第數為第一。言遍處者,謂此定中所有善 色受想行識,皆名遍處。 問水遍處定加行云何?修觀行者由何方便 而能證入水遍處定?答:初修業者創修觀時, 於此世界或取大水注相、或取大泉水相、或 取大池水相、或取大陂水相、或取大湖水相、 或取殑伽水相、或取鹽母那水相、或取設臘 婆水相、或取阿視羅筏底水相、或取莫醯河 水相,乃至或取東大海水相、或取南大海水 相、或取西大海水相、或取北大海水相、或取 四大海水相、或取大水輪相。於如是等隨取 一相,以勝解力繫念思惟假想觀察安立信 解是某水相。彼由於此以勝解力繫念思惟 假想觀察安立信解是某水故,心便散動馳 流諸相,不能一趣繫念一境思惟此境是水 非餘。彼心散動馳流諸相,不能一趣繫念一 境思惟此境定是水故,未能證入水遍處定。 為攝散動馳流心故,於一水相繫念思惟,謂 此是水非為地等。思惟此相精勤勇猛乃至 令心相續久住,由斯加行能入水定。精勤數 習此加行已,復進修行此定方便,謂於加行 所引生道,數習數修數多所作。既於加行所 引生道,數習數修數多所作,心便安住等住 近住,相續一趣繫念一境,思惟此境定是水 相。由心安住等住近住,相續一趣繫念一境, 思惟此境定是水相,無二無轉能入水定,而 未能入水遍處定。問:若此未能入水遍處定 者,水遍處定加行云何?修觀行者由何方便 乃能證入水遍處定?答:即依如前所入水定, 令心隨順調伏趣向,漸次柔和周遍柔和。一趣 定已復想此水,漸次增廣東南西北遍皆是 水。彼想此水漸次增廣東南西北遍是水故, 心便散動馳流諸相,不能一趣繫念一境,思 惟此境遍皆是水。彼心散動馳流諸相,不能一 趣繫念一境,思惟此境遍是水故,未能證入 水遍處定。為攝散動馳流心故,於遍水相繫 念思惟,此遍是水非遍地等。思惟此相精勤 勇猛,乃至令心相續久住,由斯加行乃漸能 入水遍處定。精勤數習此加行已,復進修行 此定方便,謂於加行所引生道,數習數修數 多所作。既於加行所引生道,數習數修數多 所作,心便安住等住近住,相續一趣繫念一 境,思惟此境遍皆是水。由心安住等住近住, 相續一趣繫念一境,思惟此境遍皆是水,無 二無轉從此乃入水遍處定。言上下者,謂上 下方。言傍布者,謂東南等。言無二者,謂無間 雜。無邊無際者,謂邊際難測。是第二者,謂 諸定中漸次順次相續次第數為第二。言遍 處者,謂此定中所有善色受想行識,皆名遍 處。 問火遍處定加行云何?修觀行者由何方便 而能證入火遍處定?答初修業者創修觀時, 於此世界或取清淨日輪火相、或取妙藥光 明火相、或取神珠光明火相、或取星宿宮殿 火相、或取火聚大猛焰相、或取燒村大火焰 相、或取燒城大火焰相、或取燒川大火焰 相、或取燒野大火焰相、或取燒十載木大火 焰相、或取燒二十載木大火焰相、或取燒三 十載木大火焰相、或復取燒四十載木大火 焰相、或復取燒五十載木大火焰相、或復 取燒百載木大火焰相、或取燒千載木大火 焰相、或取燒百千載木大火焰相、或取燒 無量百載木大火焰相、或取燒無量千載木 大火焰相、或取燒無量百千載木大火焰相。 彼見如是諸火焰相,先漸熾然、復極熾然、轉 遍熾然、後皆洞然。於如是等隨取一相,以 勝解力繫念思惟假想觀察安立信解是某 火相。彼由於此以勝解力繫念思惟假想 觀察安立信解是某火故,心便散動馳流諸 相,不能一趣繫念一境,思惟此境是火非 餘。彼心散動馳流諸相,不能一趣繫念一境, 思惟此境定是火故,未能證入火遍處定。為 攝散動馳流心故,於一火相繫念思惟,謂此 是火非為水等。思惟此相精勤勇猛,乃至令 心相續久住,由斯加行能入火定。精勤數習 此加行已,復進修行此定方便,謂於加行所 引生道,數習數修數多所作。既於加行所引 生道,數習數修數多所作,心便安住等住近 住,相續一趣繫念一境,思惟此境定是火 相。由心安住等住近住,相續一趣繫念一境, 思惟此境定是火相,無二無轉能入火定,而 未能入火遍處定。問:若此未能入火遍處定 者:火遍處定加行云何?修觀行者由何方便 乃能證入火遍處定?答:即依如前所入火定, 令心隨順調伏趣向,漸次柔和周遍柔和一 趣定已,復想此火漸次增廣,東南西北遍 皆是火。彼想此火漸次增廣,東南西北遍是 火故,心便散動馳流諸相,不能一趣繫念一 境,思惟此境遍皆是火。彼心散動馳流諸相, 不能一趣繫念一境,思惟此境遍是火故,未 能證入火遍處定。為攝散動馳流心故,於遍 火相繫念思惟,此遍是火非遍水等。思惟此 相精勤勇猛,乃至令心相續久住,由斯加行 乃漸能入火遍處定。精勤數習此加行已,復 進修行此定方便,謂於加行所引生道,數習 數修數多所作。既於加行所引生道,數習數 修數多所作,心便安住等住近住,相續一趣 繫念一境,思惟此境遍皆是火。由心安住等 住近住,相續一趣繫念一境,思惟此境遍皆 是火,無二無轉從此乃入火遍處定。言上下 者,謂上下方。言傍布者,謂東南等。言無二 者,謂無間雜。無邊無際者,謂邊際難測。是第 三者,謂諸定中漸次順次相續次第數為第 三。言遍處者,謂此定中所有善色受想行識, 皆名遍處。 問風遍處定加行云何?修觀行者由何方便 而能證入風遍處定?答:初修業者創修觀時, 於此世界或取東方所有風相、或取南方所 有風相、或取西方所有風相、或取北方所有 風相、或取有塵風相、或取無塵風相、或取吠 濕摩風相、或取吠嵐婆風相、或取小風相、或 取大風相、或取無量風相、或取大風輪相。於 如是等隨取一相,以勝解力繫念思惟假想 觀察安立信解是某風相。彼由於此以勝解 力繫念思惟假想觀察安立信解是某風故, 心便散動馳流諸相,不能一趣繫念一境,思 惟此境是風非餘。彼心散動馳流諸相,不能 一趣繫念一境,思惟此境定是風故,未能證 入風遍處定。為攝散動馳流心故,於一風相 繫念思惟,謂此是風非為火等。思惟此相精 勤勇猛,乃至令心相續久住,由斯加行能入 風定。精勤數習此加行已,復進修行此定方 便,謂於加行所引生道,數習數修數多所作。 既於加行所引生道,數習數修數多所作,心 便安住等住近住,相續一趣繫念一境,思惟 此境定是風相。由心安住等住近住,相續一趣 繫念一境,思惟此境定是風相,無二無轉能入 風定,而未能入風遍處定。問,若此未能入風 遍處定者,風遍處定加行云何?修觀行者由 何方便乃能證入風遍處定?答:即依如前所 入風定,令心隨順調伏趣向,漸次柔和周遍 柔和。一趣定已復想此風,漸次增廣東南西 北遍皆是風。彼想此風漸次增廣東南西北 遍是風故,心便散動馳流諸相,不能一趣繫 念一境,思惟此境遍皆是風。彼心散動馳流 諸相,不能一趣繫念一境,思惟此境遍是風 故,未能證入風遍處定。為攝散動馳流心故, 於遍風相繫念思惟,此遍是風非遍火等。思 惟此相精勤勇猛,乃至令心相續久住,由斯 加行乃漸能入風遍處定。精勤數習此加行 已,復進修行此定方便,謂於加行所引生道, 數習數修數多所作。既於加行所引生道,數 習數修數多所作,心便安住等住近住,相續 一趣繫念一境,思惟此境遍皆是風。由心安 住等住近住,相續一趣繫念一境,思惟此境 遍皆是風,無二無轉從此乃入風遍處定。言 上下者,謂上下方。言傍布者,謂東南等。言無 二者,謂無間雜。無邊無際者,謂邊際難測。是 第四者,謂諸定中漸次順次相續次第數為 第四。言遍處者,謂此定中所有善色受想行 識,皆名遍處。
Việt dịch
QUYỂN 19 Phẩm 9: TÁM PHÁP, Phần 2 Có tám lĩnh vực cao vượt (Bát thắng xứ): 1. Bên trong có sắc tưởng, quán chút sắc ở ngoài. Các thứ sắc ấy hoặc đẹp hay xấu, đều thấy biết cao tuyệt. Nếu có tưởng như thế thì gọi là lĩnh vực cao vượt thứ nhất. 2. Bên trong có sắc tưởng, quán nhiều sắc ở ngoài. Các thứ sắc ấy hoặc đẹp hay xấu, đều thấy biết cao tuyệt. Nếu có tưởng như thế thì gọi là lĩnh vực cao vượt thứ hai. 3. Bên trong không có sắc tưởng, quán chút sắc ở ngoài. Các thứ sắc ấy hoặc đẹp hay xấu, đều thấy biết cao tuyệt. Nếu có tưởng như thế thì gọi là lĩnh vực cao vượt thứ ba. 4. Bên trong không có sắc tưởng, quán nhiều sắc ở ngoài. Các thứ sắc ấy hoặc đẹp hay xấu, đều thấy biết cao tuyệt. Nếu có tưởng như thế, thì gọi là lĩnh vực cao vượt thứ tư. 5. Bên trong không có sắc tưởng, quán các sắc ở ngoài có màu xanh hiện ra rõ ràng với ánh sáng xanh, cũng như loại hoa ô mô ca hoặc như chất ba la phỉ tư để nhuộm xanh quần áo. Nếu với màu xanh hiện ra rõ ràng với ánh sáng xanh thì là bên trong không có sắc tưởng quán các sắc ở ngoài, cùng với màu xanh hiện ra rõ ràng với ánh sáng xanh cũng thế với các sắc đó đều thấy biết cao tuyệt. Nếu có tưởng như thế, thì là lĩnh vực cao vượt thứ năm. 6. Bên trong không có sắc tưởng, quán các sắc bên ngoài nếu có màu vàng hiện ra rõ ràng với ánh sáng vàng, giống như hoa yết ni ca hoặc như chất Bà la phỉ tư nhuộm vàng quần áo. Nếu với màu vàng hiện ra rõ ràng với ánh sáng vàng thì là bên trong không có sắc tưởng mà quán các sắc ở ngoài, cũng có màu vàng hiện ra rõ ràng với ánh sáng ===== PAGE 303 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 19 303 vàng như thế... Đối với các sắc đó mà thấy biết cao tuyệt. Nếu có tưởng như thế, thì gọi là lĩnh vực cao vượt thứ sáu. 7. Bên trong không có sắc tưởng, quán các sắc bên ngoài, nếu có màu đỏ hiện ra rõ ràng với ánh sáng đỏ giống như hoa bàn đậu thì phược ca, hoặc như chất bà la phỉ tư nhuộm đỏ quần áo. Nếu có màu đỏ hiện ra rõ ràng với ánh sáng đỏ, thì là bên trong không có sắc tưởng mà quán các sắc ở ngoài cũng có màu đỏ hiện ra rõ ràng với ánh sáng đỏ như the. Đối với các sắc đó mà thấy biết cao tuyệt. Nếu có tưởng như thế, thì đó là lĩnh vực cao vượt thứ bảy. 8. Bên trong không có sắc tưởng, quán các sắc bên ngoài, nếu có màu trắng hiện ra rõ ràng với ánh sáng trắng giống như màu ô sa tư tinh hoặc như chất bà la phỉ tư làm áo quần rất trắng tươi. Nếu có màu trắng hiện ra rõ ràng với ánh sáng trắng, thì là bên trong không có sắc tưởng mà nhìn xem các sắc ở ngoài cũng có màu trắng hiện ra rõ ràng với ánh sáng trắng như thế. Đối với các sắc đó mà thấy biết rõ ràng. Nếu có tưởng như thế, thì đó là lĩnh vực cao vượt thứ tám. Bên trong có sắc tưởng, là người ấy đối với mỗi thứ sắc tưởng riêng biệt bên trong mà chưa lìa bỏ, chưa riêng, lìa bỏ, chưa điều phục, chưa riêng điều phục, chưa diệt mất, chưa phá hỏng, thì do vì chưa các việc như thế nên gọi là bên trong các sắc tưởng. Quán chút ít sắc bên ngoài. Nghĩa là cái lượng sắc được nhìn thì khá ít, bé nhỏ không nhiều nên gọi là ít. Hoặc đẹp, là sắc được xem bóng ngời, rực rỡ lóng lánh đủ màu xanh, vàng, đỏ trắng, nên gọi là đẹp. Hoặc xấu, là các sắc đã xem chưa bóng láng rực rỡ đủ màu xanh, vàng đỏ, trắng, nên gọi hoặc xấu. Đối với các sắc đỏ thấy biết cao tuyệt, là các sắc mà người ấy nhìn thấy thì hãy còn ẩn núp tham dục, hoặc đã đoạn dứt tham dục hay đã vượt thoát khỏi tham dục, và đối với người ấy khi đã được thấy biết sáng tỏ, thì tức là đã hành phục và được tự tại, không còn sự sợ hãi nào cả. Cũng như một người sang trọng hay con cháu người ấy do đã thấy biết kỹ lưỡng nên đã thâu nhận các tiểu đồng theo hầu, vì đã thu phục được tự tại, không còn chút e dè sợ hãi chi cả. Các Du Già sư (nhà biện luận) cũng như thế. Đối với các sắc, được nhìn thấy thì tham dục đã bị khuất phục, đã bị đoạn trừ, đã được vượt thoát, đối với người ấy đã được thấy biết kỹ lưỡng, đã được thu phục, được tự tại không còn e dè sợ hãi. Có tưởng như thế, tức là tưởng như thực đang có trước mặt. Hàng thứ nhất, là trong các định, theo thứ tự liên tục đếm dần lên ===== PAGE 304 ===== 304 BỘ TỲ ĐÀM 1 thì nó ở hàng thứ nhất. Lĩnh vực cao vượt, là trong định nầy, có bao nhiêu sắc thọ, tưởng, hành thức tốt lành, đều gọi là lĩnh vực cao vượt. Bên trong không có sắc tưởng quán nhiều sắc ở ngoài v.v... Nghĩa là số lượng sắc nhìn thấy rất rộng lớn, không có giới hạn, nên gọi là nhiều, khác với trước đây đã nói là ít. Bên trong không có sắc tưởng, là nó đối với mỗi sắc tưởng riêng biệt ở trong thì đã lìa bỏ, đã riêng lìa bỏ, đã điều phục, đã riêng điều phục, đã diệt mất, đã phá hoại. Do người ấy đối với các sắc tưởng đã làm như thế nên gọi là “Bên trong không có sắc tưởng”. Quán nhiều ít các sắc ở ngoài thì như trước đã nói. Bên trong không có sắc tưởng quán các sắc ở ngoài hoặc màu xanh, là chỉ chung có bao nhiêu màu xanh, các thứ xanh nhóm xanh... cho nên nói là xanh. Màu xanh rõ ràng, là màu xanh nầy không có hình tướng nên gọi là thanh hiển (xanh rõ ràng). Màu xanh hiện ra, là màu xanh nầy là đối tượng làm việc của nhãn thức, cũng là đối tượng làm việc của ý thức, nên gọi là màu xanh hiện ra. Ánh sáng xanh, là màu nầy có thể hiện ra, phát ra các thứ ánh sáng, nên gọi là ánh sáng xanh. Các thứ khác thì như trước đã nói, như nói về màu xanh, các màu vàng, đỏ v.v..., cũng y như thế. --------------- Phẩm 10: CHÍN PHÁP Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-tử lại bảo đại chúng: Quý thầy nên biết! Với chín pháp, Đức Phật đã chính mình hiểu biết thấu suốt kỹ càng, rồi đem giảng dạy chỉ bày cho hàng đệ tử của Ngài. Nay chúng ta nên hòa hợp kết tập ôn lại, để sau nầy Đức Phật đã diệt độ thì không có sự tranh cãi với nhau. Và chúng ta nên tu phạm hạnh, tuân giữ luật pháp để đem lại lợi ích lâu dài cho vô số chúng sinh. Hãy nên thương xót hàng trời, người ở thế gian, khiến họ thâu nhận được nhiều nghĩa lý lợi ích và sự an lạc đặc biệt. Chín pháp là gì? Ở đây tóm tắt có hai thứ chín pháp. Đó là chín kết và chín chỗ ở của hữu tình. Có chín kết: 1. Kết ái. ===== PAGE 305 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 19 305 2. Kết giận dữ. 3. Kết kiêu mạn. 4. Kết vô minh. 5. Kết chấp. 6. Kết bám chặt. 7. Kết nghi ngờ. 8. Kết ganh tỵ. 9. Kết keo kiệt. - Thế nào là kết ái? Tham lam ham muốn trong ba cõi thì gọi là kết ái. - Thế nào là kết giận dữ? Muốn gây tổn hại cho các loài hữu tình, trong lòng luôn ôm ấp sự tàn hại để gây bao sầu não cho mọi người. Đã, sắp và đang giận dữ. Thích gây tai họa và rất thích gây tai họa. Lòng lúc nào cũng toàn giận dữ. Đối với mọi người luôn làm trái nghịch lại, để cố tình gây tai họa. Đã từng, hiện đang và sẵn sàng gây bao tai họa. Nên gọi là kết giận dữ. - Thế nào là kết kiêu mạn? Đáp: Kiêu mạn có bảy thứ: 1. Mạn. 2. Quá mạn. 3. Mạn quá mạn. 4. Ngã mạn. 5. Tăng thượng mạn. 6. Ty mạn. 7. Tà mạn. Bảy thứ mạn nầy hợp lại gọi chung là kiêu mạn. - Thế nào là kết vô minh? Đáp: Ở trong ba cõi ngu si không trí tuệ sáng suốt thì gọi là kết vô minh. - Thế nào là kết chấp? Đáp: Có ba thứ kết chấp: 1. Chấp Tát-ca-da (thân kiến). 2. Chấp lệch về một bên. 3. Chấp sai lầm (tà kiến). Ba thứ đó gọi chung là kết chấp. - Thế nào là kết bám chặt (chấp lấy)? Đáp: Có hai thứ bám chặt: Đó là sự thấy biết bám chặt và các điều răn cấm bám chặt (giới cấm thủ). Cả hai thứ đó gọi chung là kết bám ===== PAGE 306 ===== 306 BỘ TỲ ĐÀM 1 chặt. - Thế nào là kết nghi ngờ? Đáp: Đối với các điều đúng chắc thật thì lại ngờ vực hoang mang do dự, lừng khừng, nên gọi là kết nghi ngờ. - Thế nào là kết ganh tỵ? (Ganh ghét) Đáp: Không cam tâm an phận nên gọi là kết ganh tỵ. Có chín chỗ ở của hữu tình: 1. Loại hữu tình có sắc, có nhiều thứ thân và nhiều thứ tưởng như người và một phần trời, đó là chỗ ở thứ nhất của loài hữu tình. 2. Loài hữu tình có sắc, có nhiều thứ thân và một thứ tưởng như cõi trời Phạm chúng mới được thành lập ở kiếp. Đó là chỗ ở thứ hai của loài hữu tình. 3. Loài hữu tình có sắc, có một thứ thân và nhiều thứ tưởng như cõi trời Quang âm. Đó là chỗ ở thứ ba của loài hữu tình. 4. Loài hữu tình có sắc, có một thứ thân và một thứ tưởng. Như cõi trời Biến tịnh. Đó là chỗ ở thứ tư của loài hữu tình. 5. Loài hữu tình có sắc, không có tưởng, không có tưởng riêng biệt. Như cõi trời Vô tưởng hữu tình. Đó là chỗ ở thứ năm của loài hữu tình. 6. Loài hữu tình không có sắc, vượt ra ngoài tất cả các sắc tưởng, diệt hết “có đối tưởng”, không tư duy siêng năng các thứ tưởng, nhập vào không vô biên, trụ đầy đủ vào Không vô biên xứ, như cõi trời Không vô biên xứ. Đó là chỗ ở thứ sáu của loài hữu tình. 7. Loài hữu tình không có sắc, vượt ra ngoài tất cả Không vô biên xứ, nhập vào thức vô biên, trụ đầy đủ vào Thức vô biên xứ, như cõi trời Thức vô biên xứ. Đó là chỗ ở thứ bảy của loài hữu tình. 8. Loài hữu tình không có sắc, vượt ra ngoài tất cả Thức vô biên xứ. Nhập vào vô sở hữu, trụ đầy đủ vào Vô sở hữu xứ, như cõi trời Vô sở hữu xứ. Đó là chỗ ở thứ tám của loài hữu tình. 9. Loài hữu tình không có sắc, vượt ra ngoài tất cả Vô sở hữu xứ. Nhập vào Phi tưởng, trụ đầy đủ vào Phi phi tưởng xứ, như cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng. Đó là chỗ ở thứ chín của loài hữu tình. Có sắc, nghĩa là loài hữu tình có sắc đó, bày lập ra cái thân có sắc và các thứ có sắc về xứ, giới uẩn nên gọi là có sắc. Loài hữu tình, tức là theo nghĩa chắc thật cao quý, thì các loại hữu tình dù không thể thụ nhận được, không thể được, không có, không hiện hữu. Nhưng dựa vào các uẩn xứ giới mà giả lập ra. Các tưởng đều tưởng bày ra mà nói, thay đổi. Tức là loài hữu tình có ý, sinh ra trẻ hài ===== PAGE 307 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 19 307 nhi có nuôi dưỡng lớn lên thành hạng người Bổ-đặc-già-la, nên gọi là hữu tình. Có nhiều thứ thân, là loài hữu tình đó có nhiều thứ sắc rõ ràng, còn thân có nhiều hình, nhiều tướng không phải chỉ có một thứ sắc, một thứ hình, một thứ tướng, nên gọi là nhiều thứ thân. Nhiều thứ tưởng, là loài hữu tình đó có tưởng vui, tưởng khổ và tưởng không vui không khổ, nên gọi là nhiều thứ tưởng. Như loài người và một phần hàng Trời, tức là chỉ chung cho loài người và loài trời cõi Dục, nên gọi là như loài người và một phần loài trời. Đó là hàng thứ nhất, tức là theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó ở hàng thứ nhất. Chỗ ở của loài hữu tình, là các chỗ của các loài hữu tình ở trụ sống nương nhờ, nên thích sống, thích được sinh vào đó, tức là chỉ chung trong đó có bao nhiêu thứ sắc thọ tưởng hành thức hữu lậu nên gọi là chỗ ở của loài hữu tình. Còn loài hữu tình có sắc, có nhiều thứ thân, thì có nghĩa như đã nói trước rồi. Có một thứ tưởng, là các loài hữu tình đều có thời hạn và phần số. Đối với kiếp thế giới nầy khi sắp hoại (sắp bị tiêu diệt) thì có nhiều người vãng sinh lên cõi trời Quang âm cùng có số phận như nhau. Nơi đó có đầy đủ thức và tạo nên sắc thân, các căn không thiếu sót, các bộ phận đều đầy đủ có hình tướng rõ ràng trong sạch, tuổi thọ sống rất lâu nhưng có thời gian có số phần kiếp sống. Còn với kiếp thế giới nầy khi mới thành lập, thì ở khoảng không gian phía dưới có nhiều cung điện trống rỗng không người ở, bỗng hiện ra. Có một hữu tình (chúng sinh) đã hết tuổi thọ, hết nghiệp và hết phước, từ cõi đó chết đi và được sinh vào cõi Phạm chúng ở trong các cung điện trống vắng đó. Riêng sống một mình ở đó, không có bạn bè nhưng tuổi thọ rất cao. Loài hữu tình ấy sống ở đó trong một thời gian rất lâu bỗng nhiên phát sinh ái dục và lòng buồn rũ rượi nên nghĩ: Phải chi có số hữu tình khác cùng chung số phần sinh lên đây cùng sống làm bạn với ta nhỉ? Khi người đó ước ao như thế thì có các hữu tình khác do vì đã hết tuổi thọ, hết nghiệp, hết phước..., nên ở cõi đó chết đi và sinh vào cung điện cõi Phạm chúng đó mà sống làm bạn bè với người đầu tiên đó. Bấy giờ người sinh vào cõi ấy đầu tiên nghĩ: Dám hữu tình mới lên sau đây vậy là do ta hóa ra. Đối với loại hữu tình nầy và các thế gian khác thì ta luôn được tự do, chính ta làm ra, hóa ra, sinh tạo ra chúng. Vậy thì ta đáng là tổ phụ cõi nầy. ===== PAGE 308 ===== 308 BỘ TỲ ĐÀM 1 Ngay lúc ấy, đám hữu tình kia cũng nghĩ: Chúng ta là do ông ấy hóa ra. Đối với các loài hữu tình và mọi vật trên thế gian nầy thì ông ta tự tại, tự do. Chính ông ta làm ra, hóa ra, sinh ra..., thật đáng tôn ông ấy lên làm tổ phụ. Cho nên gọi là một ý tưởng. Như cõi trời Phạm chúng, tức là nghĩa ở đây gọi chung các loài trời sinh ở cõi Phạm chúng có nhiều thứ thân mà chỉ có một thứ tưởng. Từ kiếp xưa khi mới thành lập, là hàng thứ hai v.v..., thì nghĩa như trước đã trình bày rồi. Loài hữu tình có sắc, thì cũng như trước nói rồi. Có một thứ thân, nghĩa là loài hữu tình ấy chỉ có một thứ sắc rõ ràng, còn thân thì chỉ có một hình, một tướng, không có nhiều thứ sắc, nhiều hình tướng, cho nên gọi là một thứ thân. Có nhiều thứ tưởng, nghĩa là loài hữu tình đó có tưởng vui và tưởng không vui không khổ, nên gọi là có nhiều thứ tưởng. Các điều khác như trước đã nói. Loài hữu tình có sắc, chỉ có một thứ thân, như trước cũng đã nói rồi. Có một thứ tưởng, nghĩa là loài hữu tình đó chỉ có một thứ tưởng vui, nên gọi là một thứ tưởng. Các điều khác giống như trước nói. Loài hữu tình có sắc..., như trước đã nói rồi. Nói không có tưởng là chỉ chung loài không có tưởng. Không có tưởng riêng, tức là không có tưởng riêng biệt rõ ràng. Trong đây lấy tưởng làm trên hết mà chỉ rõ không có tất cả tâm và tâm sở. Như cõi trời vô tưởng hữu tình, nghĩa là riêng chỉ rõ về cõi trời không có tưởng và có tưởng, là hàng thứ năm, thì như trước đã nói. Không có sắc, nghĩa là loài hữu tình không có sắc đó bày lập ra cái thân không sắc, không có các thứ xứ có sắc, giới có sắc và uẩn có sắc, nên gọi là không có sắc. Hữu tình, thì như trước đã nói rồi. Vượt tất cả sắc tưởng v.v..., thì như trong tám giải thoát trước đây đã nói kỹ rồi. Song ở đây chỉ có các thứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức... duyên nơi hữu lậu, là chỗ ở của loài hữu tình. -------------- ===== PAGE 309 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 19 309 Phẩm 11: MƯỜI PHÁP, Phần 1 Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-tử bảo đại chúng: Quý thầy nên biết! Với mười pháp Đức Phật đã chính mình tự hiểu biết đầy đủ thấu suốt kỹ càng rồi đem giảng dạy chỉ bày cho hàng đệ tử của Ngài. Nay chúng ta nên hòa hợp kết tập ôn lại để sau khi Đức Phật đã diệt độ thì không có sự tranh cãi với nhau. Và chúng ta nên tu phạm hạnh, tuân giữ luật pháp để đem lại lợi ích lâu dài cho vô số chúng sinh. Hãy nên thương xót hàng trời, người ở thế gian, khiến họ thâu nhận được nhiều nghĩa lý lợi ích và sự an lạc quý báu đặc biệt. Mười pháp là gì? Trong đây tóm tắt có hai thứ, tức là mười thứ biến xứ và mười pháp vô học. Có mười thứ biến xứ: 1. Quý thầy nên biết: Đất trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên gọi đó là biến xứ thứ nhất. 2. Lại nữa, quý vị nên biết, nước trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên gọi đó là biến xứ thứ hai. 3. Lại nữa, quý vị nên biết, lửa trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên gọi đó là biến xứ thứ ba. 4. Lại nữa, quý vị nên biết, gió trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên gọi đó là biến xứ thứ 4. 5. Lại nữa, quý vị nên biết, màu xanh trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên gọi đó là biến xứ thứ năm. 6. Lại nữa, quý vị nên biết, màu vàng trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên gọi đó là biến xứ thứ sáu. 7. Lại nữa, quý vị nên biết, màu đỏ trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên gọi đó là biến xứ thứ bảy. 8. Lại nữa, quý vị nên biết, màu trắng trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên gọi đó là biến xứ thứ tám. 9. Lại nữa, quý vị nên biết, khoảng không trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên ===== PAGE 310 ===== 310 BỘ TỲ ĐÀM 1 gọi đó là biến xứ thứ chín. 10. Lại nữa, quý vị nên biết, thức trùm khắp tưởng như thế trên dưới, các phía đều không hai, không có bến bờ giới hạn, nên gọi đó là biến xứ thứ mười. Gọi đó là biến xứ thứ mười. 1. Gia hạnh của định địa biến xứ như thế nào? Người mới tu quán phải do phương tiện nào mà có thể chứng nhập vào định địa biến xứ? Đáp: Người mới tu nghiệp, khi mới tu quán thì nên đối với đất đai nầy, ở khắp nơi chốn, hoặc có cao thấp, gai gốc, lùm bụi, hoặc hiểm trở, nhơ bẩn..., ở các chỗ như thế đều không thể suy nghĩ. Ở những nơi đất đai rộng lớn như thế mà yên nhiên thấy biết rõ ràng như vật để trong bàn tay, có đầy đủ các khu vườn..., các khoảng rừng sạch đẹp, những nơi rất thích ý mến yêu, rồi theo đó bám dính vào một tướng nhất định, nhờ sức hiểu biết đặc biệt và cột niệm hướng cái ý tưởng vào một chỗ mà suy nghĩ, quan sát xác lập tin hiểu về cái tưởng của đất là cái gì... Do nó suy tư quan sát như thế nên tâm liền xáo động bay nhảy theo các tướng, không thể chuyên chú cột niệm vào một cảnh mà tư duy siêng năng đây là đất chứ không phải cái gì khác..., mà tâm liền loạn động. Do làm các việc như thế nên chưa thể chứng nhập vào định địa biến xứ. Và vì muốn kìm giữ tâm loạn động đó nên căn cứ vào một tướng của đất mà cột niệm chuyên tâm suy nghĩ mãi. Bảo đó là đất chứ không phải là nước v.v... Luôn siêng năng mạnh mẽ kiên trì suy nghĩ mãi tướng đó, đến khi nào khiến được tâm luôn luôn an trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh như thế nên mới có thể nhập vào địa định (định về đất). Rồi cứ siêng năng tu tập mãi gia hạnh đó sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo mà luôn luôn rèn luyện tu tập làm các việc thật nhiều lần. Và luôn luôn cứ rèn tập rất nhiều lần như thế mãi thì tâm sẽ được an trụ và đều trụ, trụ gần. Và cứ liên tục cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi cái cảnh nầy: nhất định đó là tướng của đất. Do tâm an trụ đều trụ, trụ gần, cứ liên tục cột niệm vào một cảnh, luôn tư duy suy nghĩ, về cảnh nầy nhất định đó là tướng đất, không hai không đổi, nên có thể nhập vào định về đất, nhưng vẫn chưa thể nhập vào định địa biến xứ. Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định địa biến xứ thì gia hạnh của định địa biến xứ như thế nào. Người tu hạnh quan sát do phương tiện nào mới chứng được vào định địa biến xứ? Đáp: Tức là y vào sự nhập định về đất như trước nói mà khiến tâm ===== PAGE 311 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 19 311 luôn tùy thuận điều phục hướng lên dần dần sẽ được nhu hòa. Và khi một mực được định rồi thì lại nghĩ tưởng về đất nầy, dần dần lớn rộng lan khắp đông, tây, nam, bắc khắp nơi đều là tất cả, nên tâm liền loạn động bay nhảy theo các tướng. Không thể một mực cột niệm vào một cảnh, suy nghĩ mãi cảnh đó, biến khắp nơi đều là đất. Vì tâm người ấy bị loạn động như vừa nói nên chưa thể chứng nhập vào định địa biến xứ. Vì muốn kìm giữ tâm loạn động bay nhảy nầy, nên đối với cái tướng đất trùm khắp, mà luôn cột niệm suy nghĩ mãi sự trùm đó là đất chứ không phải là bao trùm của nước v.v..., luôn siêng năng mạnh mẽ suy nghĩ mãi tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm luôn an trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập vào định địa biến xứ. Rồi mãi siêng năng rèn luyện tu tập rất nhiều lần cái hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo, luôn rèn luyện tu tập làm các việc rất nhiều lần như thế mãi. Đã luôn cứ rèn tập tu hành nhiều lần gia hạnh đó thì tâm sẽ an trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ liên tục cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi cái cảnh nầy! Khắp nơi đều biến thành đất. Do tâm an trụ đều trụ, trụ gần, liên tục cột niệm vào một cảnh, tư duy suy nghĩ mãi cái cảnh đất bao trùm khắp nơi ấy không hai không đổi. Từ đây mới nhập được vào định địa biến xứ. Nói trên dưới, là các phương trên dưới. Nói các phía, tức là Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng. Nói không hai, là không có xen tạp ở giữa. Không bờ bến giới hạn, là bờ bến khó lường. Đó là thứ nhất, tức trong các định nầy theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó ở hàng thứ nhất. Nói là biến xứ trùm khắp là, tức là trong các định nầy, có bao nhiêu thứ sắc thọ tưởng hành thức tốt lành thì gọi là biến xứ. 2. Gia hạnh của định thủy biến xứ như thế nào? Người mới tu quán phải do phương tiện nào mà có thể chứng nhập vào định thủy biến xứ. Đáp: Người mới tu nghiệp, khi mới tu quán thì ở cõi thế giới nầy hoặc duyên nơi các tướng của nước chảy, hoặc nước trong giếng, hay nước trong ao, trong bờ đá, trong hồ hoặc chấp lấy (bám vào) cái tướng, nước khắc-già, tướng nước Lam-mẫu-na, hay Thiết-lạp-bà, hoặc A-hiện-la-phiệt chỉ hoặc tướng nước sông Mô-ê (mạc ê) cho đến các tướng nước ở các biển lớn đông tây nam bắc hoặc bốn biển lớn, hoặc dòng nước lớn..., trong các thứ đó tùy theo duyên nơi một tướng rồi do ===== PAGE 312 ===== 312 BỘ TỲ ĐÀM 1 sức hiểu biết tốt mà cột niệm suy nghĩ, hướng cái tưởng vào đó mà quan sát, xác lập, tìm hiểu đó là tướng nước gì? Nên tâm liền xao động bay nhảy các khắp tướng, không thể một mực cột niệm vào một cảnh, suy nghĩ cảnh nầy là nước chứ không phải là thứ khác, mà tâm liền loạn động. Do vì các việc như thế nên chưa thể chứng nhập và định thủy biến xứ được. Vì muốn kìm giữ tâm loạn động bay nhảy nầy, nên đối với một tướng nước mà cột niệm suy nghĩ, nghĩa là đây là nước chứ không phải là đất. Cứ mãi tư duy suy nghĩ một cách siêng năng mạnh mẽ về tướng đó cho đến khi nào khiến được tâm liên tục trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập vào định về nước. Rồi mãi siêng năng tu tập rèn luyện thật nhiều gia hạnh đó. Xong rồi lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo mà luôn rèn luyện tu tập làm các việc rất nhiều lần như thế mãi. Và cứ luôn rèn luyện tu tập gia hạnh đó thì tâm sẽ an trụ đều trụ trụ gần. Và cứ liên tục cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi cảnh đó, nhất định là tướng của nước. Do tâm an trụ đều trụ trụ gần, liên tục cột niệm vào một cảnh tư duy suy nghĩ mãi cảnh nhất định là nước, không hai không đổi thì có thể nhập vào định về nước. Nhưng chưa thể nhập vào định thủy biến xứ. Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định thủy biến xứ thì gia hạnh của định thủy biến xứ như thế nào? Người tu hạnh quan sát phải do phương tiện nào mới chứng nhập vào định thủy biến xứ? Đáp: Tức là y vào sự nhập thủy định như trước đã nói mà khiến tâm luôn tùy thuận, điều phục hướng lên, dần dần sẽ được nhu hòa. Và khi một mực đã được định rồi thì lại nghĩ tưởng về nước nầy, dần dần rộng lớn lan khắp đông tây nam bắc, khắp nơi đều nước cả. Nên tâm liền loạn động bay nhảy theo các tướng, không thể cứ một mực cột niệm vào một cảnh, suy nghĩ mãi cảnh đó biến khắp nơi đều là nước. Tâm người ấy bị loạn động v.v..., như vừa nói, nên chưa thể chứng nhập vào định thủy biến xứ. Vì muốn kìm giữ tâm loạn động bay nhảy nầy nên đối với tướng thủy trùm khắp mà luôn cột niệm suy nghĩ mãi bao trùm đó là nước chứ không phải là đất v.v..., luôn siêng năng mạnh mẽ siêng năng mãi tướng đó cho đến khi nào khiến được tâm luôn an trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập vào định thủy biến xứ. Rồi mãi siêng năng rèn luyện tu tập rất nhiều lần gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo, luôn rèn luyện tu tập làm các việc rất nhiều lần như thế mãi. Và luôn cứ rèn tập tu hành rất nhiều lần hạnh đó, thì tâm sẽ an trụ đều trụ trụ gần. Và ===== PAGE 313 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 19 313 cứ liên tục cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi cảnh khắp nơi đều biến thành nước. Do tâm an trụ đều trụ trụ gần, liên tục cột niệm vào một cảnh tư duy suy nghĩ mãi cảnh nước trùm khắp nơi không hai không đổi. Từ đây mới nhập được vào định thủy biến xứ. Nói trên dưới, là các phương trên dưới. Nói các phía, tức Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng. Nói không hai, là không có xen tạp ở giữa. Không bờ bến giới hạn, là khó lường bờ bến. Đó là thứ hai, tức trong các định nầy theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó ở hàng thứ hai. Nói biến xứ, tức là trong các định nầy, có bao nhiêu thứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức tốt lành thì gọi là biến xứ. 3. Gia hạnh của định hỏa biến xứ như thế nào? Người mới tu quán phải do cái phương tiện nào mà có thể chứng được định hỏa biến xứ. Đáp: Người mới tu nghiệp khi mới tu quán thì ở cõi thế giới nầy thì duyên nơi tướng lửa của vầng thái dương trong sạch, hoặc tướng lửa của thứ ánh sáng đẹp vui tuyệt diệu, hoặc lửa của ánh sáng ngọc thềm, hoặc lửa của cung điện tinh tú, hoặc ánh lửa dữ tợn của đống lửa to, hoặc ánh lửa cháy cả thôn xóm, hoặc ánh lửa rực cháy cả thành ấp lớn, hoặc ánh lửa rực cháy cả đồng cỏ lớn, hoặc ánh lửa cháy gỗ to của mười xe tải lớn, hoặc ánh lửa cháy gỗ lớn trên hai mươi xe to, hoặc ánh lửa rực rỡ khi cháy gỗ to của ba mươi xe tải lớn, hoặc của bốn mươi xe to, hoặc của năm mươi xe, hoặc một trăm xe, hoặc một ngàn xe, hoặc một trăm ngàn xe, hoặc vô lượng trăm xe. Người đó thấy tướng của các ánh lửa như thế đầu tiên cháy bùng lên, càng bùng lên dữ dội, rồi lan cháy khắp nơi và sau đó thì chỉ toàn lóe sáng. Trong các thứ lửa ấy hãy chọn lấy một thứ tướng nào đó, rồi dùng sức hiểu biết tốt mà cột niệm vào một chỗ mà suy nghĩ, hướng cái tưởng vào đó mà quan sát, xác lập, tìm hiểu đó là cái tướng lửa gì? Nên tâm liền xao động bay nhảy theo khắp các tướng, không thể một mực cột niệm vào một cảnh, suy nghĩ cảnh nầy là lửa chứ không phải là thứ gì khác, mà tâm liền loạn động. Do vì các việc như thế nên chưa thể chứng nhập vào định hỏa biến xứ được. Vì muốn kìm giữ tâm loạn động ấy, nên đối với một tướng lửa mà cột niệm suy nghĩ, bảo rằng đây là lửa chứ không phải là nước v.v... Cứ luôn siêng năng mạnh mẽ tư duy suy nghĩ mãi về cái tướng đó..., cho đến khi nào khiến được tâm liên tục trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh nầy mới có thể nhập vào định về lửa. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện thật nhiều gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, ===== PAGE 314 ===== 314 BỘ TỲ ĐÀM 1 là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo mà luôn luôn rèn luyện tu tập làm các việc thật nhiều lần. Và cứ rèn tập tu hành nhiều lần như thế mãi, thì tâm sẽ được an trụ đều trụ trụ gần..., và cứ cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi cảnh nầy: nhất định đó là tướng của lửa. Do tâm an trụ đều trụ trụ gần, cứ liên tục cột niệm vào một cảnh, luôn tư duy suy nghĩ mãi cảnh nhất định đó là tướng của lửa không hai không đổi, nên có thể nhập vào định vì lửa, nhưng vẫn chưa thể nhập vào định hỏa biến xứ. Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định hỏa biến xứ thì gia hạnh của định hỏa biến xứ như thế nào? Người tu hạnh quan sát phải do phương tiện nào mới chứng nhập vào định thủy biến xứ? Đáp: Tức là y vào sự nhập vào định về lửa như đã nói ở trước mà khiến tâm luôn tùy thuận, điều phục hướng lên dần dần sẽ được nhu hòa. Và khi cứ một mực đã được định rồi thì lại nghĩ tưởng về lửa nầy, dần dần lớn rộng, lan khắp đông tây nam bắc, khắp nơi đều là lửa cả. Nên tâm liền loạn động bay nhảy theo các tướng, không thể cột niệm chuyên chú vào một cảnh, luôn suy nghĩ mãi cảnh đó, biến khắp mọi nơi đều là lửa. Vì tâm người ấy bị loạn động v.v... Như vừa nói, nên chưa thể chứng nhập vào định hỏa biến xứ. Vì muốn kìm giữ tâm loạn động bay nhảy ấy, nên đối với tướng lửa trùm khắp mà luôn cột niệm suy nghĩ mãi trùm khắp đó là lửa chứ không phải là cái trùm khắp của nước v.v... Luôn siêng năng mạnh mẽ suy nghĩ mãi tướng đó, cho đến khi nào khiến được tâm luôn an trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập vào định hỏa biến xứ được. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện rất nhiều lần gia hạnh đó sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo luôn luôn rèn luyện tu tập làm các việc rất nhiều lần như thế mãi. Đã luôn cứ rèn luyện tu tập nhiều lần gia hạnh đó, thì tâm sẽ an trụ, đều trụ trụ gần... Và cứ liên tục cột niệm chuyên chú vào một cảnh suy tư mãi cảnh nầy; khắp nơi đều toàn là lửa. Do tâm an trụ đều trụ trụ gần và cứ liên tục cột niệm vào một cảnh, tư duy suy nghĩ mãi cảnh lửa trùm khắp nơi ấy không hai không đổi khác. Từ đây mới nhập được vào định hỏa biến xứ. Nói trên dưới, là các phương trên dưới. Nói các phía, tức Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng. Nói không hai, tức là không có xen tạp ở giữa. Không bờ bến giới hạn, là bờ bến khó lường. Đó là thứ ba, tức là trong các định nầy theo thứ tự liên tục đếm dần ===== PAGE 315 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 19 315 lên thì nó ở hàng thứ ba. Nói biến xứ, tức là trong các định nầy, có bao nhiêu thứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức tốt lành thì gọi là biến xứ. 4. Gia hạnh của định phong biến xứ như thế nào? Người mới tu quán phải do cái phương tiện nào mà có thể chứng nhập vào định phong biến xứ. Đáp: Người mới tu nghiệp, khi bắt đầu tu quán thì ở cõi thế giới nầy hoặc duyên nơi vào tướng gió có từ phương đông, hoặc tướng gió có từ phương nam, hay từ phương tây, hay từ phương bắc. Hoặc chấp lấy tướng gió có bụi rậm hay không bụi rậm hoặc tướng gió Phệ-thấp-ma, hay Phệ-lam-bà, hoặc tướng gió nhe hiu hiu, hoặc tướng gió to mạnh, hoặc tướng gió vô lượng, hoặc tướng một vầng gió cả..., đối với các thứ như thế mà chọn lấy, duyên nơi một tướng gió đó, rồi dùng sức hiểu biết tốt mà cột niệm suy nghĩ, hướng cái tưởng vào đó mà quan sát, xác lập, tìm hiểu đó là cái tướng gió gì? Do đó tâm liền xao động bay nhảy theo khắp các tướng, không thể một mực cột niệm vào một cảnh, suy nghĩ cảnh nầy là gió, chứ không phải thứ gì khác, mà tâm liền loạn động. Do vì các việc như thế, nên chưa thể chứng được, nhập vào định phong biến xứ được. Vì muốn kìm giữ tâm loạn động ấy, nên phải đối với một tướng gió mà luôn cột niệm suy nghĩ, bảo rằng đây là gió chứ không phải là lửa v.v..., cứ luôn mạnh mẽ siêng năng tư duy suy nghĩ mãi về tướng đó..., cho đến khi nào khiến được tâm liên tục trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập vào định vô gió. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện thật nhiều gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy. Nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo mà luôn rèn luyện tu tập làm các việc thật nhiều lần. Và cứ rèn tập tu hành nhiều lần như thế mãi, thì tâm sẽ được an trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi về cảnh nầy: Nhất định đó là tướng của gió. Do tâm an trụ, đều trụ, trụ gần và cứ liên tục cột niệm vào một cảnh luôn tư duy suy nghĩ mãi cảnh nhất định đó là tướng của gió không hai không đổi nên có thể nhập vào định về gió, nhưng vẫn chưa thể nhập vào định hỏa biến xứ. Hỏi: Nếu đây chưa thể nhập vào định phong biến xứ thì gia hạnh của định phong biến xứ nó như thế nào? Còn người tu hạnh quan sát phải do phương tiện nào mới chứng nhập được vào định không biến xứ? Đáp: Tức là y vào sự nhập vào định về gió như đã nói ở trước, mà ===== PAGE 316 ===== 316 BỘ TỲ ĐÀM 1 khiến tâm luôn tùy thuận điều phục hướng lên, dần dần sẽ được nhu hòa. Và khi cứ một mực đã được định rồi thì lại nghĩ tưởng về thứ gió đó dần dần lớn mãi, lan khắp cả đông tây nam bắc, khắp nơi đều có gió cả. Tâm liền loạn động bay nhảy theo các tướng không thể cột niệm chuyên chú vào một cảnh, luôn suy nghĩ mãi cảnh đó, biến khắp mọi nơi đều là gió. Vì tâm người ấy bị loạn động v.v... Như vừa nói, nên chưa thể chứng nhập vào định phong biến xứ. Vì muốn kìm giữ tâm loạn động bay nhảy, nên đối với tướng gió khắp nơi mà luôn cột niệm, suy nghĩ mãi trùm khắp đó là gió chứ không phải là cái trùm khắp của lửa v.v..., luôn siêng năng mạnh mẽ suy nghĩ mãi tướng đó cho đến khi nào khiến được tâm luôn an trụ vào một chỗ thật lâu. Do gia hạnh đó mới có thể nhập vào định phong biến xứ được. Rồi cứ mãi siêng năng tu tập rèn luyện rất nhiều lần gia hạnh đó. Sau lại tiến tu định phương tiện nầy, nghĩa là đối với gia hạnh dẫn đến sinh đạo, luôn rèn luyện tu tập, làm các việc rất nhiều lần như thế mãi. Đã luôn cứ rèn luyện tu tập nhiều lần gia hạnh đó thì tâm sẽ an trụ, đều trụ, trụ gần. Và cứ liên tục cột niệm chuyên chú vào một cảnh, suy tư mãi cảnh nầy: Khắp nơi đều toàn là gió. Do tâm an trụ đều trụ trụ gần, cứ liên tục cột niệm vào một cảnh, tư duy suy nghĩ mãi cảnh gió khởi lên khắp nơi ấy không hai không đổi khác. Từ đây mới nhập được vào định phong biến xứ. Nói trên dưới, tức là các phương trên dưới. Nói các phía, tức là Đông Tây Nam Bắc v.v..., các hướng. Nói không hai, tức là không có xen tạp ở giữa. Không bờ bến giới hạn, là bờ bến khó lường. Đó là thứ tư, tức trong các định nầy theo thứ tự liên tục đếm dần lên thì nó ở hàng thứ tư. Nói là biến xứ, tức là trong các định nầy, có bao nhiêu thứ sắc thọ tưởng hành thức tốt lành thì đều gọi là biến xứ. ===== PAGE 317 ===== SỐ 1536 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC - Quyển 20 317 LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẬP DỊ MÔN TÚC