A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 127
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
五百大阿羅漢等造 三藏法師玄奘奉 詔譯 5 大種蘊1 大造納息1 大種蘊第五中大造納息第一之一 大種所造處。幾有見。幾無見。如是等章及解 章義。既領會已。應廣分別。問何故作此論。 答為欲分別契經義故。如契經說。諸所有 色皆是四大種。及四大種所造。雖作是說 而未廣辯。大種所造處。幾有見。幾無見。乃 至廣說。經是此論所依根本。彼未說者今應 說之。故作斯論。有說。為止餘師所說。謂 此部內有二論師。一者覺天。二者法救。覺天 所說色唯大種。心所即心。彼作是說。造色 即是大種差別。心所即是心之差別。彼何故 作是說。依契經故。如契經說。眼肉團中。若 內各別堅性堅類。近有執受名內地界。乃至 各別動性動類。近有執受名內風界。彼依此 經故說造色即是大種。又契經說云何等持。 謂善心一境性。由此故說心所即心問彼復 云何立界處蘊耶。答彼作是說諸四大種。 有是能見。有是所見。乃至有是能觸。有是 所觸。諸能見者立為眼界。諸所見者立為色 界。乃至諸能觸者立為身界。諸所觸者立為 觸界。心中有依眼根。乃至有依意根。依眼 根者立眼識界。乃至依意根者立意識界。 即六識身無間已滅立為意界。即心差別有 名為受。有名為想。有名為思。并三無為立 為法界。如界處亦爾。蘊者。諸四大種立為 色蘊。諸心差別有名為受。有名為想。有名 為思有名為識。立為四蘊。問彼云何通契 經所說。諸所有色皆是四大種。及四大種所 造。答彼作是說。非所造聲離四大種別有 所因即於大種立所造聲。云何知然。如契 經說。苾芻當知。觸由二緣。所謂眼色乃至 意法。有六觸處是先所為是先所造。我說即 是故業。應知無聞異生由此所觸受樂受 苦。由此所造或此隨一。非離前六觸處別 有第七觸處而可於中立所造聲。即於前 六說為所造。前經亦然。非離大種別有所 造。即於大種立所造聲。於我非難阿毘達 磨諸論師言。彼所引經別有密意。不可引 證前所引經。彼經前說六觸處者。謂密意說 未明了位。後言由此所造或此隨一者。謂密 意說已明了位。如未明了位已明了位。如是 無分別位有分別位。未可顯位已可顯位。未 可說位已可說位。應知亦爾。又六觸處者說 中有位。由此所造等者說本有位。尊者妙 音說曰。彼經前說六觸處者。謂密意說根無 缺位。後說由此所造等者謂密意說根有缺 位。脇尊者言。有六觸處者密意說欲界。由 此所造者。密意說色界。或此隨一者。密意 說無色界。經義如是。云何可證前經所說 所造色言。又所造言若無異者。餘經所說。復 云何通如契經說。尊者圓滿告尊者慶喜言 具壽當知。所有我執誰之所造。是色所造。是 受想行識所造我執即是薩迦耶見。若所造 言無別義者。豈可身見即是色等。然離色 等別有我執。故知經說所造色者非即大 種。問若離大種別有造色。如何會釋彼所 引經。於眼肉團中有地界等。答彼經說眼 根所依大種不說眼體。又彼經說世所共 知肉團名眼。非說眼根。世於肉團眼想轉 故。尊者妙音亦作是說。世於大種立眼根 名。以是眼根所依止故。有餘師說。彼所引 經於義無妨。彼經但說眼肉團中有地等 界。不言地等即是眼根。於義何妨。尊者法 救說。離大種別有造色。說心所法非即是 心。然說色中二非實有。謂所造觸及法處 色。立蘊處界如對法宗。彼亦不然。諸所造 觸如餘造色應別有故。若無法處所攝色 者無表戒等不應有故。欲止如是二師所 說故作斯論。有說。為止外道所說。謂外道 說大種有五。即前四及虛空。今但說四明 虛空非大種。問何故虛空不立大種。尊者 世友作是釋言。以虛空無大種相故。謂有 增有減是大種相。無增無減是虛空相。有 損有益。是大種相。無損無益是虛空相有 興有衰是大種相。無興無衰是虛空相。是 故虛空不立大種。尊者妙音作如是釋。虛 空大種其相各異。謂有情身中所有大種。多 是先業異熟所生。虛空體無異熟生義。由 此虛空不立大種。大德說曰。虛空雖大而 體非種。不能生故。餘有為法雖能為種而 體非大。相不遍故。由此虛空不立大種。為 止如是外道所執及顯自宗故作斯論。有 餘師說。非但為止他執顯自宗故而作此 論。但於法相相應義中應顯所明故作斯 論。問何故此中先辨大造。答彼作論者意 欲爾故。謂本論師隨自意欲不違法相先 辨大造。有說。有情觀此二種為入佛法 真甘露門。一不淨觀。二持息念。不淨觀觀造 色。持息念觀大種。有說。若觀大種造色漸 次能證佛獨覺聲聞三種菩提。謂若以上智 觀察彼者。起上品身念住。從此次起上品 受念住。次心。次法。次起雜緣。次煖頂忍世 第一法。次起見道。乃至起無學道。皆以上 品。爾時名為上品善士。證得無上正等菩 提。若以中智觀察彼者。起中品身念住。廣 說乃至起無學道皆以中品。爾時名為中 品善士。證得中品獨覺菩提。若以下智觀 察彼者。起下品身念住。廣說乃至起無學 道。皆以下品。爾時名為下品善士。證得下 品聲聞菩提。有說。若觀大種造色。便能降 伏一切憍逸。謂諸有情以色族姓財寶自在 眷屬等故生諸憍逸。若未觀察大種等時。 隨一現前勢力強盛。若觀察已便能降伏。所 以者何如輪王身所有大造。狗等所有大造 亦然。由觀此故便捨憍逸。以如是等所 說因緣。故此蘊中先辨大造。 契經中說諸所有色。皆是四大種及四大種 所造。諸所有言。總有二種。一有餘義。二無 餘義有餘義者。如世間說諸所有食我盡 欲噉。此但欲噉隨得少分。無餘義者。如世 間說諸所有法我盡欲知。此總欲知一切 法相。此中所說諸所有言。總顯一切色法皆 盡。謂所有色。總有二種。一四大種。二所造 色。除此更無第三色體。問何故大種唯四。 脇尊者曰。此不應責。所以者何。若增若減 俱亦生疑。不以疑故便違法相。但隨聖教 唯說四種。有餘師言。若減四者功用便闕。 若過四者則亦無用。如方床座唯有四足。 問何故名大種。答大而是種。故名大種。如 言大地。如言大王。義別體同。應持業釋。 問云何大義。云何種義。答能減能增能損能 益體有起盡。是為種義體相形量遍諸方 域成大事業。是為大義。問此四云何成大 事業。答與大積聚造色為依。令壞令成是 大事業。由此唯四不減不增。謂減不能成 大事業增於事業復為無用。問餘法何緣 不名大種。答餘無如是大種相故。謂無為 法大而非種。其餘有為種而非大故。唯此四 得名大種。 問造是何義。為是因義是緣義耶。設爾何失。 俱見其過。若是因義。此四大種於所造色 五因皆無。如何可言能造諸色。若是緣義 諸所造色各除自體。餘一切法無不皆是此 增上緣。如何但言大種所造。答應作是說 造是因義。問此於造色五因皆無。如何因義。 答雖同類等五因皆無。而別有餘五種因義。 謂生因依因立因持因養因。由此能造。有餘 師言。造是緣義。問諸所造色各除自體餘法 皆是此增上緣。如何但言大種所造。答增上 緣義。有親有疎。有近有遠。有合不合。有 在此生。有在餘生。諸親近合在此生者說 名為因。疎遠不合在餘生者說名為緣。由 此義故說諸大種與所造色為因增上。亦 不違理。 問地水火風何相何業。答堅是地相。持是地 業。濕是水相。攝是水業。煖是火相。熟是火業。 動是風相。長是風業。問地是堅相亦是色相。 廣說乃至。風是動相亦是色相。如何一法有 二相耶。答有亦無失。由此理趣於一法中。 可得施設有多相故。如一有漏法。即有 如病如癰等。廣說乃至。百四十句諸過患相 而無有失。此亦如是。有餘師言。相有二 種。一自相。二共相。堅濕煖動相是自相。色相 是共相。如是二相互不相違。於一法立亦 無有過。 問此四大種於一切時不相離耶。答如是。 云何知然。如入胎經說。佛告慶喜。初羯邏 藍。若有地界無水界者。便應乾散。今不 散者水所攝故。若有水界無地界者。便應 流治。今不流者地所持故。若有地水無 火界者。便應臭爛。今不爛者火所熟故若 有三界。無風界者應不增長。今增長者 風所動故。問餘經所說當云何通。地界擾 亂。或令至死或令有情受次死苦。乃至風 界亦復如是。答此說大種隨一增時能為擾 亂。非謂四種有時相離。 問此四大種品類有幾。答品類有四。謂異熟 生長養。等流。變化。有餘師說。品類有三。謂 異熟生。長養。等流。其變化者長養所攝。復有 說者。品類有二。謂異熟生。及長養。變化大 種入長養中。等流攝入異熟長養。評曰。於 前三說中說為善。有四大種非二攝故。 問一四大種為但造一造色極微。為能造 多。若但造一。如何不成因四果一。因多果 少理不應然。若能造多。則一四大種所造 色有多極微。云何展轉非俱有因。對法者 說。有對造色展轉相望無俱有因。許則便違 對法宗義。答應作是說。一四大種但能造 一造色極微。問如何不成因四果一。因多 果少理不應然。答果少因多理亦無失。世 現見有如是類故。因四果一於理無違。有 說造多。問若爾者一四大種所造色有多 極微。云何展轉非俱有因。答非一果故非 俱有因。以俱有因法必同一果故。此不成 因同猶豫故。評曰如前說者好。 問大種造色云何而住。為大種在下造色在 上。為大種在上造色在下。為大種造色相 雜而住。大種在外造色處中耶設爾何失。一 切有過。若大種在下造色在上。則諸造色 近大種者。可以大種為能造因。所造色中 有隔遠者。如何可以大種為因。若大種在 上造色在下。則應造色為大種因。不應大 種為造色因。若大種造色相雜而住。大種在 外造色處中者。應斷截時見諸孔隙猶如 斷藕。有說在下為因所依法應爾故。問若 爾於逼近色可說能造。於隔遠者云何造 耶。答不說一樹所有大種。都在其下造諸 造色。但說一樹分分皆有大種在下造色在 上。有作是說相雜而住。大種在外造色處 中。問若爾應斷截時見諸孔隙猶如斷藕。 答雖有孔隙而不可見。以諸大種非有 見故所見孔隙是造色故。問諸內外事其相 各別。內事別者。謂諸眾生若百若千集會一 處威儀形相各各不同。外事別者。謂果石等。 或青或黃或赤或白。香味等相各各不同。如 是相別。為由業異。為由大種異。為由造 色異。答俱由三種。依異熟因故說由業異。 依生因依因。立因。持因養因故說由大種 異。依同類因故。說由造色異。問外事差別 由何業異。答若諸有情行諸妙行。感得外 事形相平直。色香味觸皆悉美妙。若諸有情 行諸惡行。感得外事形相險曲。色香味觸皆 悉麁弊。問諸果石等其相各別。青黃赤白形 貌等異。或有相似由何威力。答由三威力 然大種強。謂諸大種不平等者。便有種種顯 形等異。若平等者則便相似。 問諸有情類口所發聲。當言何處大種所造。 有說。喉邊大種所造。有說。心邊大種所造。有 說。臍邊大種所造。評曰。總說此聲一切身支 大種所造。若別說者。輕小語聲應言喉邊大 種所造。叱吒哮吼號叫等聲。應言遍身大種 所造。現見此等舉身掉動故。 問頗有色非四大種。亦非四大種所造耶。 答有。謂一二三大種。此雖是色而非四大種。 唯一二三故。亦非四大種所造以諸大種非 所造故。問何故大種非所造耶。答能造所 造性各別故。因果異故。能成所成性各別故。 如能成所成。如是能引所引。能生所生。能 作所作。能和合所和合。能轉所轉。能相所相。 當知亦爾。有說。大種若是所造。為三造一。 為四造一。若三造一。體用闕少云何能造。 若四造一。應地界等造地界等。則有自性 觀自性過。然一切法他性為緣。能有所作 不顧自體。由此大種不名所造。 諸四大種有十一種。謂眼處所依。乃至身處 所依。色處所依乃至法處所依。諸所造色亦 有十一種。謂眼處乃至身處。色處乃至法處。 問眼處所依大種。能造幾所造色。乃至法處 所依大種。能造幾所造色。答應作是說。眼 處所依大種唯造眼處。乃至法處所依大種 唯造法處。有作是說。眼處所依大種能造 三種。謂眼處身處觸處。耳鼻舌處所依大種 亦爾。身處所依大種能造二種。謂身處觸處。 色聲香味法處。所依大種亦爾。觸處所依大 種唯造觸處。復有欲令一切大種皆能造 色聲觸。欲界大種皆造香味。彼說眼處所依 大種能造七種。謂眼處。身處。色聲香味觸 處。耳鼻舌處所依大種亦爾。身處所依大種 能造六種。謂身處色聲香味觸處法處所依 大種亦爾。色處所依大種能造五種。謂色處 聲香味觸處。聲香味觸處所依大種亦爾。有 餘師說。眼處所依大種能造十一種。乃至法 處所依大種亦爾。評曰。此諸說中初說為善。 謂眼處所依大種唯造眼處。乃至法處所依 大種唯造法處。 問云何異相大種能造同相造色。答觀別義 故說亦無失。謂觀別義故。說異相大種造 同相造色。觀別義故。說同相大種造異相 造色。觀別義故。說異相大種造異相造色。 觀別義故。說同相大種造同相造色。觀別 義故。說異相大種造同相造色者。謂堅濕 煖動相大種。造觸相造色。有說。此造見相 造色等。觀別義故說同相大種造異相造 色者。謂觸相大種。造十一種造色。觀別義 故。說異相大種造異相造色者。謂堅濕煖 動相大種。造十一種造色。觀別義故。說同 相大種造同相造色者。謂觸相大種造觸相 造色。有說。此造見相造色等。 問大種造色相別云何。尊者世友作如是說。 因是大種果是造色。能生是大種。所生是造 色。所依是大種。能依是造色。能相是大種所 相是造色。和合是大種。和合所生是造色。能 建立是大種。所建立是造色。大德說曰。堅濕 煖動相是大種。若色大種為因。而無大種相 是造色。有餘師說。大種如天帝。造色如天 眾。大種如自在。造色如眷屬。大種如王。造 色如臣。大種如日月輪。造色如日光月明。 大種如樹身。造色如枝等。大種如牆。造色 如影。大種如燈焰。造色如燈明。大種如藕。 造色如花。大種如鏡。造色如像。是故尊者 時毘羅言。 根生從大種如燈焰生明 如藕生蓮花如鏡生眾像 阿毘達磨諸論師言。大種無見。造色有見無 見。大種有對。造色有對無對。大種有漏。造色 有漏無漏。大種無記。造色善不善無記。大種 欲色界繫。造色欲色界繫及不繫。大種非學 非無學。造色學無學非學非無學。大種修斷。 造色修斷不斷。大種苦集諦攝造色苦集道 諦攝。大種無異熟。造色有異熟無異熟。大種 不染造色染不染大種非業。造色業非業。諸 如是等大種造色。二相差別有無量門 觸處實事有十一種。謂四大種。及七種造觸 七種造。觸者。謂滑澁輕重冷飢渴。滑謂細軟。 澁謂麁強。輕謂不可稱。重謂可稱。冷謂此所 逼便起暖求。飢謂此所逼便起食欲。渴謂 此所逼便起飲欲。問何大種增故滑。乃至渴 耶。有作是說。不由大種偏增故滑。乃至 渴。但由大種性類差別。有生滑果。乃至有 生渴果。有餘師言。水火增故滑。地風增故 澁。火風增故輕。地水增故。重故施設論作是 問言。何緣活時身輕調順。死便身重不調 順耶。答言活時火風未滅故身輕調順。死後 身中火風已滅故。重不調順。水風增故冷。風 增故飢。謂風增故擊動食消引飢觸生便發 食欲。火增故渴。謂火增故煎迫飲消。引渴觸 生便發飲欲。 問十一觸中極多緣。幾發生身識。有作是 說。一一別緣發生身識。以十一種相用增 故。有餘師言。極多緣五發生身識。謂四大 種滑等隨一。復有說者。總緣十一亦生身 識。問豈不五識唯取自相境耶。答自相有 二種。一事自相。二處自相。依事自相說緣 十一種觸生於身識。依處自相說五識身 取自相境。是故無過。如是說者。緣十一事 亦生身識。如緣色處二十種事。亦生眼識 此亦應爾。故五識身通緣總別。而無五識 取共相過。多事自相一識能緣。然不明了 問緣五色根所依大種發身識不。有說。不 發。如五色根不可觸故不發身識。所依大 種理亦應然。問若爾何故說為身識所識。答 依法性說身識所識。未來世中身識境故。 然無現在發身識義。有說。除身根所依大 種皆能發身識。以身根所依極隣近故不 能發身識。然他身識所緣境故。亦得名為 身識所識。問十一種觸幾在欲界。幾在色 界。答二唯在欲界。謂飢與渴。九通欲色界。 問若色界中有重觸者。以何義故。施設論 說。北俱盧洲衣重一兩。四大王眾天衣重半 兩。三十三天衣重一銖。夜摩天中衣重半 銖。覩史多天衣重一銖中四分之一。樂變化 天衣重一銖中八分之一。他化自在天衣重 一銖中十六分之一。此上天衣皆不可稱耶。 有說。色界衣雖不可稱而餘物可稱。有說。 彼界一衣雖不可稱多衣積集即可稱。如 細縷輕毛積集便重。問若色界中有冷觸者。 彼施設論何故復說。如人欲天所有冷暖。可 了知者上界俱無耶。答冷有二種。一能為 益。二能為損彼無能損。有能為益。又即彼 說所有冷暖上界俱無。豈以此言即說彼 界亦無暖觸。若爾則彼大種應唯有三非 闕功用。而能造色故。色界中冷暖俱有。 問飢渴二觸為是長養。為是等流。為是異 熟。健陀羅國西方師言。通長養等流。非異 熟生。以飲食能斷故。阿毘達磨者不許異 熟色斷已復續。有說。飢渴亦通異熟生。性 以飲食暫斷非永斷故。斷有二種。謂永斷 暫時斷。永斷不可續非暫時斷。如地獄中 暫截身分。異熟生色斷已續生。迦濕彌羅 國諸論師言。飽時彼亦不斷飲食障故不 可覺知。飲食消已還可覺知。問若是異熟 者。為善業果。惡業果耶。答是二種果。是故 富者飢渴是善業果。貧者飢渴是惡業果 問飢渴何處大種所造。有說。腹邊大種所造。 入胎經說。在母腹中。有時臍邊彼有情類。 有業異熟微風初起。即彼處大種能造飢 渴。有餘師說。遍身分中大種能造於飢渴。 時遍身擾惱故。
Việt dịch
QUYỂN 127 CHƯƠNG V: ĐẠI CHỦNG UẨN Phẩm Thứ Nhất: LUẬN VỀ ĐẠI TẠO LUẬN VỀ ĐẠI TẠO (Phần 1) Xứ do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại có thấy, mấy loại không thấy? Các chương như vậy và giả i thích về nghĩa từng chương đã lĩnh hội rồi, tiếp đến cần phải phân biệt rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Vì muốn phân biệt ý nghĩa trong Kinh. Như trong Kinh nói: “Các sắc vốn có đều là bốn Đại chủng, và do bốn Đạ i chủng đã tạo ra”. Trong Kinh tuy nói ra điều này mà chưa pb rộng về nghĩa Xứ do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại có thấy, mấy loại không thấy? Cho đến nói rộng ra. Kinh là nơi nương tựa căn bản của luận này, điều gì trong Kinh chưa giải thích thì nay cần pha ûi giải thích, cho nên soạn ra phần luận này. Có người nói: Vì ngăn chặn cách nói của Sư khác. Nghĩa là trong Bộ này có hai Luận Sự: 1. Giác Thiện. 2. Pháp Cứu. Giác Thiên đã nói sắc chỉ là Đạ i chủng, tâm sở tức là tâm. Vị ấy đưa ra cách nói này: Tạo sắc tức là sự sai biệt c ủa Đại chủng, tâm sở tức là sự sai biệt của tâm. Vì sao vị ấy đưa ra cách nói này? Bởi vì dựa vào trong Kinh. Như trong kinh nói: “Mắt trong viên thịt tròn, nếu bên trong khác nhau về tánh cứng-loại cứng, tiếp cận có sự ch ấp thọ thì gọi là Địa giới bên trong, cho đến khác nhau về tánh động-loại động, tiếp cận có sự chấp thọ thì gọi là Phong giới bên trong”. Vị ấy dựa vào kinh này, cho nên SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 127 507 www.daitangkinh.org nói tạo sắc tức là Đại chủng. Vả lại, trong Kinh nói: “Thế nào là Đẳng trì? Đó là tâm thiện cùng một ca ûnh với tánh”. Vì vậy cho nên nói tâm sở tức là tâm. Hỏi: Vị ấy lại làm sao thiết lập Giới-Xứ-uẩn? Đáp: Vị ấy đưa ra cách nói này: Đối với bốn Đại chủng, có loại là tự động nhìn thấy, có loại là không tự động nhìn thấy, cho đến có loại là tự động tiếp xúc, có loại là không tự động tiếp xúc. Các loại tự động nhìn thấy thì thiết lập làm Nhãn giới, các loại không tự động nhìn thấy thì thiết lập làm Sắc giới, cho đến các loại tự động tiếp xúc thì thiết lập làm Thân giới, các loại không tự động tiếp xúc thì thiết lập làm Xúc giới. Trong tâm có loại dựa vào nhãn căn, cho đến có loại ựa vào ý căn. Dựa vào nhãn căn thì thiết lập Nh ãn thức giới, cho đến dựa vào ý căn thì thiết lập ý thức giới; ngay nơi sáu Thức thân không gián đoạn đã diệt đi thì thiết lập làm Ý giới, ngay nơi tâm sai biệt có lúc gọi là Thọ, có lúc gọi là Tưởng, có lúc gọi là Tư, cùng với ba vô vi thiết lập làm Pháp giới. Giống như Giới, Xứ cũng như vậy. Về uẩn, đối với bốn Đại chủng thì thiết lập làm Sắc uẩn; đối với tâm sai biệt có lúc gọi là Thọ, có lúc gọi là Tưởng, có lúc gọi là Tư, có lúc gọi là Thức, thì thiết lập làm bốn Uẩn. Hỏi: Vị ấy làm thế nào thông hiểu lời trong Kinh đã nói: Các sắc vốn có đều là bốn Đại chủng, và do bốn Đại chủng đã tạo ra? Đáp: vị ấy đưa ra cách nói này: Không phải là Thanh đã tạo ra lìa bốn Đại chủng có những nhân riêng biệt, mà ngay nơi Đại chủng thiết lập Thanh đã tạo ra. Tại sao biết như vậy? Như trong Kinh nói: “Tỳ kheo nên biết! Xúc do hai duyên, đó gọi là nhãn sắc cho đến ý pháp. Có sáu Xúc xứ, là do trước đã làm-là do trước đã tạo, ta nói chính là nghiệp cũ”. Nên biết rằng dị sinh không nghe do nhữn Xúc này mà nhận lấy vui sướng-nhận lấy đau khổ. Do những tạo tác này hoặc là tùy theo mộ loại này, không phải lả lìa sáu Xúc xứ trước có Xúc xứ thứ bảy khác mà có thể ở trong đó thiết lập Thanh đa õ tạo ra, ngay nơi sáu xúc xứ trước nói là đã tạp ra. Kinh trước cũng như vậy, không phải là lìa Đại chủng có riêng những tạo tác, ngay nơi Đại chủng thiết lập Thanh đã tạo ra, đối với tôi không phải là khó. Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nói: “V ị ấy đã dẫn kinh có ý bí mật riêng, không có thể dẫn chứng cho kinh đã dẫn trước kia. Kinh ấy trước nói về sáu Xúc xứ, đó là ý bí mật nói đến phân vị chưa hiểu rõ ràng; sau nói là do những tạo tác này hoặc là tùy theo một loại này, đó là ý bí mật nói đến phần vị đã hiểu rõ ràng. Như phần vị chưa hiểu rõ ràng-phần 508 BỘ TỲ ĐÀM 5 vị đã hiểu rõ ràng, như vậy phần vị không phân biệt-phần vị có phân biệt, phần vị chưa có thể hiển bày-phần vị đã có thể hiển bày, phần vị chưa có thể nói-phần vị có thể nói , nên biết cũng như vậy. Vả lại, sáu Xúc xứ là nói đến phần vị Trung Hữu, do những tạo tác này… là nói đến phần vị Bổn Hữu”. Tôn giả Diệu Âm nói rằng: “Kinh ấy trước nói về sáu Xúc xứ, đó là ú bí mật nói đến phần vị căn không có khiếm khuyết; sau nói là do những tạo tác này…, đó là ý bí mật nói đến phần vị căn có khiếm khuyết”. Hiếp Tôn giả nói: “Có sáu Xúc xứ, là ý bí mật bói đến cõi Dục; do những tạo tác này, là ý bí mật nói đến cõi Sắc; hoặc là tùy theo một loại này, là ý bí mật nói đến cõi Vô sắc”. Nghĩa của kinh là như vậy, làm sao có thể chứng minh rằng kinh trước đã nói về sắc đã tạo ra? Vả lại, nói rằng đã tạo ra nếu không có khác nhau, thì Kinh khác đã nói lại làm sao thông hiểu? Như trong Kinh nó i: “Tôn giả Viên Mãn bảo với Tôn giả Khánh Hỷ rằng: Tỳ kheo nên biết! Chấp Ngã vốn có do đâu mà tạo ra? Là do Sắc mà tạo ra , là do Thọ-Tưởng-Hành-Thức mà tạo ra, chấp Ngã tức là Tát-ca-da kiến”. Nếu nói rằng đã tạo ra không có nghĩa riêng biệt, thì lẽ nào Thân kiến tức là Sắc… hay sao? Nhưng mà tách rời Sắc… có chấp Ngã riêng biệ t, cho nên biết kinh nói sắc đã tạo ra ấy không phải là ngay nơi Đại chủng. Hỏi: Nếu lìa Đại chủng có tạo sắc riêng biệt, thì làm sao có thể giải thích về nghĩa của kinh đã dẫn chứng: Mắt trong viên thịt tròn có Đại giới…? Đáp: Kinh ấy nói về Đại chủng la øm nơi nương tựa của nhãn căn chứ không nói đến Thể của mắt. Vả la ïi, Kinh ấy nói do thế gian cùng nhận biết vên thịc tròn gọi là mắt, không phải là nói đến nhãn căn, bởi vì thế gian đối với viên thịt tròn chuyển sang tưởng là mắt. Tôn giả Diệu Âm cũng đưa ra cách nói này: “Thế gian đối với Đại chủng thiết lập tên gọi nhãn căn, bởi vì đây là nơi nương tựa của nhãn căn”. Có Sư khác nói: Kinh đã dẫn chứng kia đối với nghĩa không có gì trở ngại, kinh ấy chỉ nói mắt trong viên thịt tròn có các Giới là Địa…, không nói Địa… chính là nhãn ca ên, đối với nghĩa nào ngại gì? Tôn giả Pháp Cứu nói: “Lìa Đại chủng có tạo sắc riêng biệt, nói tâm sở pháp không phải chính là ta âm. Nhưng nói hai loại trong sắc không phải là thật có, đó là xúc đã tạo ra và Pháp xứ. Sắc thiết lập Uẩn- Xứ-Giới như tông Đối pháp, điều ấy cũng không đúng, bởi vì các Xúc SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 127 509 www.daitangkinh.org đã tạo ra giống như tạo sắc khác phải có riêng biệt. nếu không có Sắc do Pháp xứ thâu nhiếp, thì Vô biểu giới…. Không cần phải có”. Cần phải ngăn chặn cách nói của hai Sư như vậy, cho nên soạn ra phần luận này. Có người nói: Vì ngăn chặn cách nói của ngoại đạo, nghĩa là ngoại đạo nói Đạ chủng có năm loại, tức là bốn loại trước và Hư không. Nay chỉ nói bốn loại thì rõ ràng Hư không chẳng phải là Đại chủng. Hỏi: Vì sao Hư không lại không thiết lập Đại chủng? Đáp: Tôn giả Thế Hữu đưa ra cá ch giải thích này: “Bởi vì hư không, không có tướng của Đại chủng. Nghĩ a là có tăng-có giảm là tướng của Đại chủng, không tăng-không gi ảm là tướng của Hư không; có lợi-có hại là tướng của Đại chủng, không lợi-không hại là tướng của Hư không; có hưng-có suy là t ướng của Đại chủng, không hưng-không suy là tướng của Hư không. Vì va äy cho nên Hư không, không thiết lập Đại chủng”. Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách gi ải thích như vậy: “Hư không và Đại chủng tướng ấy đều khác biệt. nghĩa là tất cả Đại chủng trong thân của hữu tình, phần lớn là do dị thục của nghiệp trước kia mà sinh ra; Thể của Hư không, không có nghĩa của dị thục sinh, vì vậy Hư không, không thiết lập Đại chủng”. Đại đức nói rằng: “Hư không tuy là Đại mà Thể không phải là Chủng, bởi vì không có năng lực sinh ra ; pháp hữu vi khác tuy có thể làm chủng mà Thể không phải là Đại, bởi vì tướng không bao trùm khắp nơi. Vì vậy Hư không, không thiết lậ Đại chủng. Vì ngăn chặn những cách chấp của ngoại đạo mà hiển bày tông chỉ của mình như vậy, cho nên soạn ra phần luận này”. Có Sư khác nói: Không phải là ch ỉ vì ngăn chặn cá ch chấp của người khác để hiển bày tông chỉ của mình mà soạn ra phần luận này, nhưng ở trong nghĩa tương ưng với pháp tướng cần phải hiển bày rõ ràng, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Vì sao trong này trước tiên phải phân rõ về Đại tạo? Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy. Nghĩa là Luận Sư của phần luận này tùy theo ý muốn của mình không trái với pháp tướng, cho nên trước tiên phải phân rõ về Đại tạo. Có người nói: Hữu tình quán xét hai loại này để tiến vào cửa ngõ cam lộ chân thật của Phật pháp: 1. Quán bất tịnh. 2. Trì tức niệm. Quán bất tịnh qua ùn xét về tạo sắc, trì tức niệm 510 BỘ TỲ ĐÀM 5 quán xét về Đại chủng. Có người nói: Nếu quán xét về Đại chủng tạo sắc thì dần dần có thể chứng được ba loại Bồ-đề của Phật-Độc giác và Thanh văn. Nghĩa là nếu dùng trí bậc Thượng quán sát về điều ấy, thì dấy khởi Thân niệm trú thuộc phẩm Thượng; từ đây tiếp tục dấy khởi Thọ niệm trú thuộc phẩm Thượng, tiếp đến Tâm niệm trú, tiếp đến Pháp niệm trú, tiếp đến dấy khởi tạp duyên, tiếp đến Noãn-Đảnh-Nhẫn-Thế đệ nhất pháp, tiếp đến dấy khởi kiến đạo, cho đến dấy khởi đạo Vô học, đều dùng phẩm Thượng. Lúc bấy giờ gọi là Th iện sĩ thuộc phẩm Thượng, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Nếu dùng trí bậc Trung quán sát về điều ấy, thì dấy khởi Thân niệm trú thuộc phẩm Trung, nói rộng ra cho đến dấy khởi đạo Vô học, đều dùng phẩm Trung. Lúc bấy giờ gọi là Thiện sĩ thuộc phẩm Trung, chứng được Bồ-đề của Độc giác ở phẩm Trung. Nếu dùng trí bậc hạ quán sát về điều ấy, thì dấy khởi Thân niệm trú thuộc phẩm hạ, nói rộng ra ch o đến dấy khởi đạo Vô học, đều dùng phẩm Hạ. Lúc bấy giờ gọi là Thiện sĩ thuộc phẩm hạ, chứng được Bồ- đề của Thanh văn ở phẩm Hạ. Có người nói: Nếu quán sát về Đại chủng tạo sắc, thì có thể hàng phục được tất cả kiêu mạn-phóng t úng. Nghĩa là các hữu tình bởi vì sắc tướng-dòng họ-tiền của-tự do-quyến thuộc… mà sinh ra các sự kiêu mạn-phóng túng, nếu lúc chưa quán sát về Đại chủng tạo sắc, thì tùy theo một loại có thế lực mạnh mẽ hiện rõ trước mắt; nếu quán sát rồi thì có thể hàng phục được. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì như Đại tạo vốn có nơi thân Luân Vương, Đại tạo vốn có nơi thân loài chó... cũng như vậy, do quán xét điều này cho nên đã rời bỏ kiêu mạn-phóng túng. Bởi vì những nhân duyên đã nói như vậy, cho nên trong Uẩn này trước tiên phải phân rõ về Đại tạo. Trong kinh nói các sắc vốn có đều là bốn Đại chủng, và do bốn Đại chủng đã tạo ra. Nói các sắc vốn có, tổng quát có hai loại: 1. Nghĩa có sót lại. 2. Nghĩa không sót lại gì. Nghĩa có sót lại, như thế gina nói những thức ăn vốn có tôi đều muốn ăn. Đây là chỉ muốn ăn tùy theo phần ít có được. Nghĩa không sót lại gì, như thế gi an nói các pháp vốn có tôi đều muốn biết. Đây là tổng quát muốn biết tất cả các pháp tướng. Trong này đã nói các sắc vốn có,tổn quát hiển bày tất cả sắc pháp đều dùng hết, nghĩa là sắc vốn có, tổng quát có hai loại: 1. Bốn Đại chủng. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 127 511 www.daitangkinh.org ba. 2. Sắc đã tạo ra. Trừ hai loại này ra, lại không có Thể của sắc thứ Hỏi: Vì sao Đại chủng chỉ có bốn loại? Đáp: Hiếp Tôn giả nói: “Điều này không cần phải vặn hỏi: Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu tăng hay giảm thì cũng đều sinh tâm nghi ngờ, không bởi vì nghi ngờ mà lại trái với pháp tướng, chỉ thuận theo Thánh giáo cho nên chỉ nói có bốn loại”. Có Sư khác nói: Nếu ít hơn bốn thì công dụng sẽ thiếu hụt, nếu nhiều hơn bốn thì cũng không có tác dụng, như giường-ghế vuông vức chỉ có bốn chân. Hỏi: Vì sao gọi là Đại chủng? Đáp: Đại mà đều là Chủng, cho nên gọi là Đại chủng; như nói Đại Địa, như nói Đại Vương, nghĩa khác biệt mà Thể giống nhau, nên giải thích thuận theo trì nghiệp (Trì nghiệp thích: Một trong sáu cách giải thích). Hỏi: Thế nào là nghĩa của Đại? Thế nào là nghĩa của chúng? Đáp: Thể có khởi lên-hết đi, t ự động giảm-tự động tăng-tự động có hại-tự động có lợi, là nghĩ a của Chúng. Thể tướng-hình tượng bao trùm mọi nơi chốn làm thành sự nghiệp to lớn, là nghĩa của Đại. Hỏi: Bốn loại này làm thành sự nghiệp to lớn như thế nào? Đáp: Làm nơi nương tựa cho Đại tích tụ tạo sắc, khiến cho hư hoại-khiến cho thành tựu là sự nghiệp to lớn. Vì vậy chỉ có bốn loại chứ không giảm-không tăng, nghĩa là giảm thì không thể nào thành tựu sự nghiệp to lớn, tăng thì đối với s ự nghiệp lại thành ra không có tác dụng. Hỏi: Những pháp khác vì sao không gọi là Đại chủng? Đáp: Bởi vì pháp khác không c ó tướng của Đại chủng như vậy, nghĩa là pháp vô vi Đại mà không phải là Chủng, còn lại pháp hữu vi là Chủng mà không phải là Đại, cho nên chỉ có bốn loại này mang lấy tên gọi Đại chủng. Hỏi: Tạo là nghĩa gì, là nghĩa c ủa nhân hay là nghĩa của duyên? Giả sử như vậy thì có gì sai? Cả hai đều thấy có sai sót. Nếu là nghĩa của nhân, thì bốn Đại chủng này đối với năm nhân đã tạo ra sắc đều không có, làm sao có thể nói là có năng lực tạo ra các sắc? Nếu là nghĩa của duyên, thì các sắc đã tạo ra đều trừ ra tự Thể, còn lại tất cả các pháp không có pháp nào không đều là duyên tăng thượng của sắc này, tại sao chỉ nói là do Đại chủng mà tạo ra? Đáp: Nên đưa ra cách nói này: Tạo là nghĩa của nhân. 512 BỘ TỲ ĐÀM 5 Hỏi: Bốn Đại chủng này đối với năm nhân đã tạo ra sắc đều không có, thì làm sao lại có nghĩa của nhân? Đáp: Tuy năm nhân như Đồng lo ại… đều không có, mà có riêng nghĩa của năm loại nhân khác, đó là nhân sinh khởi-nhân nương tựa- nhân tồn tại-nhân duy trì-nhân nuôi dưỡng, vì vậy có năng lực tạo ra. Có Sư khác nói: tạo là nghĩa của duyên. Hỏi: Các sắc đã tạo ra đều trừ ra tự Thể, còn lại các pháp đều là duyên tăng thượng của Sắc này, tại sao chỉ nói là do Đại chủng mà tạo ra? Đáp: nghĩa về duyên tăng thượng, có đậm-có nhạt, có gần-có xa, có hợp-không hợp, có ở đời này-có ở đời khác. Đối với đậm-gần-hợp ở đời này thì nói tên gọi là nhân, nhạt-xa-không hợp-ở đời khác thì nói tên gọi là duyên. Bởi vì nghĩa này cho nên nói các Đại chủng làm nhân tăng thượng cho sắc đã tạo ra, cũng không trái với lý. Hỏi: Địa-Thủy-Hỏa-Phong là tướng gì-nghiệp gì? Đáp: Cứng là tướng của Địa, duy trì là nghiệp của Địa, ướt là tướng của Thủy, thâu nhiếp là nghi ệp của Thủy; nóng là tướng của Hỏa, chín muồi là nghiệp của Ho ûa; động là tướng của Phong, kéo dài là nghiệp của Phong. Hỏi: Địa là tướng cứng cũng là tướng của sắc, nói rộng ra cho đến Phong là tướng động cũng là tướng của sắc, làm sao một pháp mà lại có hai tướng? Đáp: Có cũng không sai gì, dựa vào lý lẽ này mà ở trong một pháp, có thể thi thiết có nhiều tướng; như một pháp hữu lậu, vẫn có như bệnh-như ung nhọt…, nói rộng ra cho đến một trăm bốn mươi câu về các tướng sai lầm tai họa mà không có gì sai trái, ở đây cũng như vậy. Có Sư khác nói: Tướng có hai loại: 1. Tự tướng. 2. Cọng tướng. Tướng cứng-ướt-nóng-động là tự tướng, tướng của sắc là cọng tướng. Như vậy hai tướng không trái ngược với nhau, đối với một pháp mà thiết lập cũng không có gì sai. Hỏi: Bốn Đại chủng này ở tất cả mọi lúc không rời xa nhau chăng? Đáp: Đúng như vậy. Vì sao biết nh ư vậy? Bởi vì như Kinh Nhập Thai nói: “Đức Phật bảo với Khánh Hỷ: Lúc đầu Yết-la-lam, nếu có Địa giới mà không có Thủy giới, thì sẽ khô rời; làm cho không rời ra là bởi vì Thủy đã thâu nhiếp. Nếu có Thủy giới mà không có Địa giới, SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 127 513 www.daitangkinh.org thì sẽ tuôn chảy; làm cho không chảy ma át là do Địa đã duy trì. Nếu có Địa-Thủy-giới, thì sẽ tuôn chảy; làm cho không chảy mất là do Địa đã duy trì. Nếu có Địa-Thủy giới mà không có Hỏa giới, thì sẽ rữa nát; làm cho không rữa nát là do Hỏa đã hâm chín. Nếu có Địa-Thủy-Hỏa giới mà không có Phong giới, thì sẽ không tăng trưởng; làm cho tăng trưởng là do Phong đã lay động”. Hỏi: Kinh khác đã nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Địa giới nhiễu loạn, hoặc là làm cho đến nỗi phải chết, hoặc là làm cho hữu tình nhận chịu khổ đau tiếp sau cái chết, cho đến Phong giới cũng lại như vậy”. Đáp: Đây là nói về Đại chủng tùy theo lúc một loại tăng lên có thể làm nhiễu loạn, không phải là nói bốn loại có lúc tách rời nhau. Hỏi: Phẩm loại của bốn Đại chủng này có bao nhiêu? Đáp: Phẩm loại có bốn, đó là dị thục sinh-trưởng dưỡng-đẳng lưu- biến hóa. Có Sư khác nói: Phẩm loại có ba, đó là dị thục sinh-trưởng dưỡng- đẳng lưu. Biến hóa ấy là do trưởng dưỡng đã thâu nhiếp. Lại có người nói: Phẩm loại có hai, đó là dị thục sinh và trưởng dưỡng. Đại chủng biến hóa vào trong trưởng dưỡng, đẳng lưu thâu nhiếp vào dị thục-trưởng dưỡng. Lời bình: Ở trong ba cách nói trước thì cách nói thứ hai là hợp lý, bởi vì có bốn Đại chủng không phải là do hai loại thâu nhiếp. Hỏi: Cả bốn Đại chủng là chỉ tạo ra cực vi của một tạo sắc, hay là có thể tạo ra nhiều? Nếu chỉ tạo ra một, thì làm sao không trở thành nhân có bốn-quả có một, nhân nhi ều-quả ít thì lý không thích hợp như vậy? Nếu có thể tạo ra nhiều, thì sắc do cả bốn Đại chủng đã tạo ra sẽ có nhiều cực vi, làm sao lần lượt chuyển đổi không phải là nhân Câu hữu? Phái Đối Pháp nói: “Tạo sắc có đối lần lượt chuyển đổi hướng về nhau không có nhân Câu hữu”. Thừa nhận thì lại trái với nghĩa của tông Đối Pháp? Đáp: Nên đưa ra cách nói này: Cả bốn Đại chủng chỉ có thể tạo ra cực vi của một tạo sắc. Hỏi: Làm sao không trở thành nha ân có bốn-quả có một, nhân nhiều-quả ít thì lý không hích hợp như vậy? Đáp: Quả ít-nhân nhiều, lý cũng kh ông có gì sai. Thế gian hiện thấy có loại như vậy, cho nên nhân có bốn-quả có một đối với lý không trái ngược gì. Có người nói: Tạo ra nhiều. Hỏi: Nếu như vậy thì cả bốn Đại chủng đã tạo ra sắc có nhiều cực 514 BỘ TỲ ĐÀM 5 vi, làm sao lần lượt chuyển đổi không phải là nhân Câu hữu? Đáp: Không phải là một quả cho nên không phải là nhân Câu hữu, bởi vì nhân Câu hữu thì pháp nhất định phải cùng chung một quả, ở đây không thành nhân bởi vì cùng chung do dự. Lời bình: Như cách nói trước là hợp lý. Hỏi: Đại chủng-tạo sắc làm sao mà trú? Là Đại chủng ở dưới-tạo sắc ở trên, là Đại chủng ở trên-tạo sắc ở dưới, là Đại chủng-tạo sắc xen nhau mà trú, Đại chủng ở bên ngoài- tạo sắc ở giữa chăng? Giả sử như vậy thì có gì sai? Tất cả đều có sai lầm. Nếu Đại chủng ở dưới-tạo sắc ở trên, thì các tạo sắc tiếp ca än Đại chủng, có thể dùng Đại chủng làm nhân Năng tạo; trong sắc đã tạo ra có cách xa, làm sao có thể dùng Đại chủng làm nhân? Nếu Đại chủng ở trên-tạo sắc ở dưới, thì lẽ ra rạo sắc làm nhân cho Đại chủng, không phải Đại chủng làm nhân cho tạo sắc? Nếu Đại chủng-tạo sắc xen nhau mà trú, Đại chủng ở bên ngoài-tạo sắc ở giữa, thì lẽ ra lúc cắt đứt phải thấy các lỗ hổng giống như cắt đứt ngó sen? Đáp: Có người nói: Ở dưới làm nhân, bởi vì pháp sở y thuận theo như vậy. Hỏi: Nếu như vậy thì đố với sắc tiếp cận có thể nói là tự động tạo ra, đối với sắc cách xa thì làm sao tạo ra? Đáp: Không nói là Đại chủng vốn có của một cây đều ở phía dưới tạo ra các tạo sắc, chỉ nói là từng phần của một cây đều có Đại chủng ở dưới-tạo sắc ở trên. Có người đưa ra cách nói này: Xen nhau mà trú, Đại chủng ở bên ngoài-tạo sắc ở giữa. Hỏi: Nếu như vậy thì lẽ ra lúc cắt đứt phải thấy các lỗ hổng giống như cắt đứt ngó sen? Đáp: Tuy có lỗ hổng mà không thể trông thấy được, bởi vì các Đại chủng không phải la ø vật có thấy, đã thấy lỗ hổng là tạo sắc. Hỏi: Các sự việc trong-ngoài, tướng ấy đều khác nhau. Sự vệc bên trong sai khác, nghĩa là các chúng sinh hoặc là trăm-hoặc là ngàn cùng tập hợp một nơi, oai nghi-hình tướn g tất cả đều không giống nhau. Sự việc bên ngoài sai khác, nghĩa là tr ái quả-gỗ đá…, hoặc là xanh-vàng- đỏ-trăng, hương-vị… và tướng trạng, tất cả đều không giống nhau, khác nhau như vậy, là do nghiệp khác nhau, là do Đại chủng khác nhau, hay à do tạo sắc khác nhau? Đáp: Do cả ba loại. Dựa va øo nhân Dị thục, cho nên nói là do nghiệp khác nhau; dựa vào nhân sinh khởi-nhân nương tựa-nhân tòn SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 127 515 www.daitangkinh.org tại-nhân duy trì-nhân nuôi dưỡng, c ho nên nói là do Đại chủng khác nhau; dựa vào nhân Đồng loại, cho nên nói là do tạo sắc khác nhau. Hỏi: Sự việc bên ngoài sai biệt là do nghiệp nào khác nhau? Đáp: Nếu các hữu tình thực hành các hàn diệu, thì cảm được sự việc bên ngoài có hình tướng bằng phẳng-thẳng thắn, sắc-hương-vị-xúc thảy đều tuyệt vời. Nếu các hữu tình thực hành các hành ác, thì cảm được sự việc bên ngoài có hình tướng lồi lõm-cong queo, sắc-hương-vị- xúc thảy đều thô kệch xấu xí. Hỏi: Các loại trái quả-gỗ đa ù… có hình tướng khác nhau, xanh vàng-đỏ-trắng với những hình dạng sai kha ùc, hoặc có lúc tương tự, là do uy lực nào? Đáp: Do ba uy lực như mà Đạ i chủng mạnh nhất, nghĩa là các Đại chủng không bằng nhau thì có các loại hình dạng biểu hiện đều sai khác, nếu bằng nhau thì sẽ tương tự. Hỏi: Miệng của các loài hữu tì nh đã phát ra tiếng, nên nói là do Đại chủng nơi nào đã tạo ra? Đáp: Có người nói: Do Đại chủng bên yết hầu đã tạo ra. Có người nói: Do Đại chủng bên tim đã tạo ra. Có người nói: Do Đại chủng bên rốn đã tạo ra. Lời bình: Nói chung là tiếng này do Đại chủng toàn thân đã tạo ra. Nếu nói riêng thì tiếng nói nhỏ nhẹ, nên nói là do Đại chủng bên yết hầu đã tạo ra; những tiếng quát thá o-gầm gào-kêu thét… nên nói là do Đại chủng toàn thân đã tạo ra. Bởi vì hiện thấy những loại này làm cho toàn thân lay động. Hỏi: Có thể có sắc không phải là bốn Đại chủng, cũng không phải là do bốn Đại chủng đã tạo ra chăng? Đáp: Có, đó là một-hai-ba Đại chủng, loại này là sắc mà không phải là bốn Đại chủng, bởi vì chỉ có một-hai-ba; cũng không phải là do bốn Đại chủng đã tạo ra, bởi vì các Đại chủng không phải là nơi tạo ra (Sở tạo). Hỏi: Vì sao Đại chủng không phải là nơi tạo ra? Đáp: Bởi vì tánh năng tạo-sở tạo khác nhau, nhân-quả khác nhau, tánh năng thành-sở thành khác nhau. Như năng thành-sở thành, như vậy năng dẫn-sở dẫn, năng sinh- sở sinh, năng tác-sở tác, năng hòa hợp-sở hòa hợp, năng chuyển-sở chuyển, năng tướng-sở tướng, nên biết rằng cũng như vậy. Có người nói: Đại chủng, nếu như là sở tạo, thì ba tạo ra một, hay là bốn tạo ra một? Nếu như ba tạo ra một, thì Thể và DụÏng thiếu hụt 516 BỘ TỲ ĐÀM 5 làm sao tự động tạo ra (Năng tạo)? Nếu như bốn tạo ra một, thuận theo Địa giới, tạo ra Địa giới…, thì có lỗi của tự tánh quán xét tự tánh. Nhưng mà tất cả các pháp lầy tánh kha ùc làm duyên, có thể có những tạo tác không biết đến tự Thể, vì vậy Đại chủng không gọi là nơi tạo ra. Đối với bốn Đại chủng có mười một loại, đó là Nhãn xứ sở y cho đến Thân xứ sở y, Sắc xứ sở y cho đến Pháp xứ sở y. các sắc đã tạo ra cũng có mười một loại, đó là Nhãn xứ cho đến Thân xứ, Sắc xứ cho đến Pháp xứ. Hỏi: Đại chủng sở y của Nhãn xứ, có thể tạo ra mấy sắc sở tạo, cho đến Đại chủng sở y của Pháp xứ, có thể tạo ra mấy sắc sở tạo? Đáp: Nên đưa ra cách nói này: Đại chủng sở y của Nhãn xứ chỉ tạo ra Nhãn xứ, cho đến Đại chủng s ở y của Pháp xứ chỉ tạo ra Pháp xứ. Có người đưa ra cách nói này: Đại chủng sở y của Nhãn xứ có thể tạo ra ba loại, đó là Nhãn xứ-Thân xứ-Xúc xứ; Đại chủng sở y của Nhĩ- Tỷ-Thiệt xứ cũng như vậy. Đại chủng sở y của Thân xứ có thể tạo ra hai loại, đó là Thân xứ-xúc xứ; Đại chủng sở y của Sắc-Thanh-Hương-Vị- Pháp xứ cũng nhu vậy. Đại chủng sở y của xúc xứ chỉ tạo ra xúc xứ. Lại có người muốn làm cho tất cả Đại chủng đều có thể tạo ra Sắc-Thanh-Xúc, Đại chủng của cõi Dục đều tạo ra Hương-Vị. Họ nói Đại chủng sở y cũa Nhãn xứ có thể tạo ra bảy loại, đó là Nhãn xứ, Thân xứ và Sắc-Thanh-Hương-Vị-Xúc xứ; Đại chủng sở y của Nhĩ-Tỷ-Thiệt xứ cũng như vậy. Đại chủng sở y của Thân xứ có thể tạo ra sáu loại, đó là Thân xứ và Sắc-Thanh-Hương-Vị-Xúc xứ; Đại chủng sở y của Pháp xứ cũng như vậy. Đại chủng sở y của Sa éc xứ có thể tạo ra năm loại, đó là Sắc xứ và Thanh-Hương-Vị-Xúc xứ; Đại chủng sở y của Thanh- Hương-Vị-Xúc xứ cũng như vậy. Có Sư khác nói: Đại chủng sở y của Nhãn xứ có thể tạo ra mười một loại, cho đến Đại chủng sở y của Pháp xứ cũng như vậy. Lời bình: Trong những cách nói này thì cách nói thứ nhất là hợp lý, đó là Đại chủng sở y của Nhãn xứ chỉ tạo ra Nhãn xứ, cho đến Đại chủng sở y của Pháp xứ chỉ tạo ra Pháp xứ. Hỏi: Vì sao Đại chủng khác t ướng có thể tạo ra tạo sắc cùng tướng? Đáp: Bởi vì quán theo nghĩa riêng biệt, cho nên nói cũng không có gì sai. Nghĩa là bởi vì quán theo nghĩa riêng biệt, cho nên nói là Đại chủng khác tướng tạo ra tạo sắc cùng tướng; bởi vì quán theo nghĩa riêng biệt, cho nên nói là Đại chủng cùng tướng tạo ra sắc khác tướng; SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 127 517 www.daitangkinh.org bởi vì quán theo nghĩa riêng biệt, cho nên nói là Đại chủng khác tướng tạo ra tạo sắc khác tướng; bởi vì quán theo nghĩa riêng biệt, cho nên nói là Đại chủng chùng tướng tạo ra sắc cùng tướng. Bởi vì quán theo nghĩa riêng biệt, cho nên nói là Đại chủng khác tướng tạo ra sắc cùng tướng, đó là tướng cứng-ướt-nóng-động của Đại chủng, tạo ra tướng xúc của tạo sắc. Có người nói: Đại chủng này tạo ra tướng thấy của tạo sắc… Bởi vì quán theo nghĩa riêng biệt, cho nên nói là Đại chủng cùng tướng tạo ra sắc khác tướng, đó là tướng Xúc của Đại chủng tạo ra mười một loại tạo sắc. Bởi vì quán theo nghĩa riêng biệt, cho nên nói là Đại chủng khác tướng tạo ra tạo sắc khác tướng, đó là tướng cứng-ướt-nóng-động của Đại chủng tạo ra mười một loại tạo sắc. Bởi vì quán theo nghĩa riêng biệt, cho nên nói là Đại chủng cùng tướng tạo sắc cùng tướng, đó là tướng Xúc của Đại chủng tạo ra tương xức của tạo sắc. Có người nói: Đây là tạo ra tướng thấy của tạo sắc như nhau. Hỏi: Đại chủng và tạo sắc khác nhau thế nào? Đáp: Tôn giả Thế H ữu đưa ra cách nói như vậy: “Nhân là Đại chủng-quả là tạo sắc, năng sinh là Đại chủng-sở sinh là tạo sắc, sở y là Đại chủng-năng y là tạo sắc, năng tướng là Đại chủng-sở tướng là tạ sắc, hòa hợp là Đại chủng-do hòa hợp mà sinh ra là tạo sắc, năng kiến lập là Đại chủng-sở kiến lập là tạo sắc”. Đại đức nói rằng: “Tướng cứng-ướt-nóng-động là Đại chủng, nếu sắc do Đại chủng làm nhân mà không có tướng của Đại chủng thì đều là tạo sắc”. Có Sư khác nói: Đại chủng như Thiên đế-tạo sắc như Thiên chúng, Đại chủng như tự tại-tạo sắc như quyến thuộc, Đại chủng như vua-tạo sắc như bề tôi; Đại chủng như mặt trời mặt trăng-tạo sắc như ánh sáng của mặt trời mặt tr ăng, Đại chủng như thân cây -tạo sắc như cành lá…, Đại chủng như bức tường-tạo sa éc như hình bóng, Đại chủng như ngọn lửa của cây đèn-tạo sắc như ánh sáng của cây đèn, Đại chủng như ngó sen-tạo sắc như đóa hoa, Đại c hủng như chiếc gương-tạo sắc như cảnh tượng. Vì vậy Tôn giả Thời-tỳ-la nói: “Căn phát sinh ra từ Đại chủng, như lửa đèn sinh ra ánh sáng, Như ngó sen sinh ra hoa sen, như gương sinh ra những cảnh tượng”. 518 BỘ TỲ ĐÀM 5 Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nói: “Đại chủng là không thấy-tạo sắc là có thấy và không thấy. Đại chủng la ø có đối, tạo sắc là có đối và không đối. Đại chủng là hữu lậu, tạo sắc là hữu lậu và vô lậu. đại chủng là vô ký, tạo sắc là thiện-bất th iện và vô ký. Đại chủng là hệ thuộc cõi Dục-Sắc, tạo sắc là hệ thuộc cõi Dục-Sắc và không hệ thuộc. Đại chủng là Phi học phi vô học, tạo sắc là Học-Vô học và Phi học phi vô học. Đại chủng là tu đọa, tạo sắc là tu đoạn và không đoạn. Đại chủng là Khổ-tập đế thâu nhiếp, tạo sắc la ø Khổ-Tập-Đạo đế thâu nhiếp. đại chủng là không có dị thục, tạo sắc là có dị thục và không có dị thục. Đại chủng là không nhiễm, tạo sắc là nhiễm và không nhiễm. Đại chủng là không phải nghiệp, tạo sắc lá nghiệp và không phải nghiệp. Các loại sai biệt giữa hai tướng của Đại c hủng và tạo sắc như vậy có vô lượng chủng loại”. Xúc xứ thật sự có mười một loại, đó là bốn Đại chủng và bảy loại tạo ra Xúc. Bảy loại tạo ra X úc, đó là trơn-nhám-nhẹ-nặng-lạnh-đói- khát. Trơn nghĩa là tinh tế mềm mại, nhám nghĩa là thô kệch cứng cỏi, nhẹ nghĩa là không có thể gọi tên, na ëng nghĩa là có thể gọi tên, lạnh nghĩa là lúc này bị bức bách liền khởi lên mong cầu ấm áp, đói nghĩa là lúc này bị bức bách liền khởi lên mong muốn được ăn, khát nghĩa là lúc này bị bức bách liền khởi lên mong muốn được uống. Hỏi: Vì Đại chủng nào tăng mà trơn, cho đến đói-khát? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Không do Đại chủng tăng lên mà trơn… cho đến đói-khát, mà chì do ta ùnh loại sai biệt của Đại chủng, có loại sinh ra quả trơn… cho đến có loại sinh ra quả khát. Có Sư khác nói: Thủy-hỏa tăng lên cho nên trơn, Địa-Phong tăng lên cho nên nhám, Hỏa-Phong tăng lên cho nên nhẹ, Địa-Thủy tăng lên cho nên nặng. Vì vậy luận Thi Thiết đưa ra câu hỏi này: “Vì sao lúc sống thì thân nhẹ nhàng điều hòa tùy thuận, lúc chết thì thân năng nề không điều hòa-không tùy thuận? Đáp: Lúc sống thì Hỏa-phong chưa diệt cho nên thân nhẹ nhàng điều hòa t ùy thuận, sau khi chết thì Hỏa- Phong trong thân đã diệt cho nên nặng nề không điều hòa-không tùy thuận”. Thủy-Phong tăng lên cho nên la ïnh; Phong tăng lên cho nên đói, nghĩa là Phong tăng lên cho nên đa ùnh động thức ăn tiêu hết, làm cho Xúc đói sinh ra liền phát khởi mong muốn được ăn; Hỏa tăng lên cho nên khát, nghĩa là Hỏa tăng lên cho nên làm khô khan bức ép thức uống tiêu hết, làm cho Xúc khát sinh ra liền phát khởi mong muốn được uống. Hỏi: Trong mười một Xúc, duyên nhiều nhất là mấy loại mà phát SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 127 519 www.daitangkinh.org sinh thân thức? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Mỗi một loại duyên riêng biệt mà phát sinh Thân thức, bởi vì tường-dụng của mười một loại tăng lên. Có Sư khác nói: Duyên chung mười một loại cũng sinh ra Thân thức. Hỏi: Lẽ nào không phải là ăm T hức chỉ chọn lấy cảnh của tự tướng hay sao? Đáp: Tự tướng có hai loại: 1. Tự tướng của sự. 2. Tự tướng của xứ. Dựa vào tự tướng của sự mà nói là duyên với mười một loại Xúc sinh ra Thân thức, dựa vào tự tướng c ủa xứ mà nói là năm Thức thân chọn lấy cánh của tự tướng, vì vậy cho nên không có lỗi. Nói như vậy thì duyên với mười một sự cũng sinh ra Thân thức, như duyên với hai mươi loại sự của Sắc xứ cũng sinh ra Nhãn thức, ở đây cũng thuận theo như vậy, bởi vì năm Thức thân củng duyên với chung và riêng, mà không có lỗi do năm Thức chọn lấy cọng tướng, tự tướng của nhiều sự thì một Thức có thể duyên nhưng không rõ ràng. Hỏi: Duyên với Đại chủng sở y của năm Sắc căn có phát sinh Thân thức hay không? Đáp: Có người nói: Không phát sinh. Như năm Sắc căn không có thể Xúc cho nên không phát sinh Thân thức, Đại chủng sở y theo lý cũng phải như vậy. Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao nói là do thân thức mà nhận biết? Đáp: Bởi vì dựa vào pháp tánh mà nói là do Tha ân thức đã nhận biết cảnh của thân thức trong đời vị lai, nhưng không có nghĩa của hiện tại phát sinh Thân thức. Có người nói: Trù ra Đại chủng sở y của Thân căn, còn lại đều có thể phát sinh Thân thức, bởi vì sở y của Thân căn rất gần gũi cho nên không có thể phát sinh Thân thức , nhưng mà cảnh sở duyên của Thân thức khác, cũng có thể gọi là do Thân thức mà nhận biết. Hỏi: Mười một loại Xúc, mất loại thuộc về cõi dục, mất loại thuộc về cõi Sắc? Đáp: hai loại chỉ thuộc về cõi D ục, đó là đói và khát. Chín loại gồm chung cõi Dục-Sắc. Hỏi: Nếu trong cõi Sắc có Xúc về nặng, thì bởi vì nghĩa nào mà luận Thi thiết nói: “Áo của Bắc Câu-lô-châu nặng một lượng, áo của cõi trời Tam Thập Tam nặng mộ t Thù (một phần hai mươi bốn của 520 BỘ TỲ ĐÀM 5 lượng), áo của cõi trời Dạ Ma nặng nửa Thù, áo cu ûa cõi trời Đổ-sử-đa nặng một phần tư trong một Thù, áo của cõi trời Lạc Biến Hóa nặng một phần tám trong một Thù, áo của c õi trời Tha Hóa Tự Tại nặng một phần mười sáu trong một Thù. “Áo của những cõi tời trên đây đều không có thể gọi tên chăng? Đáp: Có người nói: Áo của cõi Sắc tuy không có thể gọi tên mà vật khác thì có thể gọi tên. Có người nói: Một áo của cõi ấy tuy không có thể gọi tên, nhưng nhiều áo tích tập lại thì có thể gọi tên; như tơ nhỏ-lông nhẹ tích tập lại thì sẽ nặng. Hỏi: Nếu trong cõi Sắc có Xúc về lạnh, thì luận Thi thiết ấy vì sao lại nói: “Như loài người, trời cõi Dục vốn có lạnh-nóng”. Có thể biết rõ ràng là cõi trên đều không có chăng? Đáp: Lạnh có hai loại: 1. Có thể làm cho lợi ích. 2. Có thể làm cho tổn hại. Cõi ấy không có cái lạnh có thể làm cho tổn hại, mà có cái lạnh có thể làm cho lợi ích. Vả lại, ngay luận ấy nói: “Tất cả lạnh-nóng, ở cõi trên đều không có”. Lẽ nào bởi vì lời này mà nói là cõi ấy cũng không có Xúc về nóng hay sao? Nếu như vậy thì Đại chủng ở cõi ấy lẽ ra chỉ có ba chứ không phải là thiếu đi công dụng, mà bởi vì năng lực của tạo sắc, cho nên trong cõi Sắc đều có lạnh-nóng. Hỏi: Hai Xúc về đói-khát là vì trưởng dưỡng, là vì đẳng lưu, hay là vì dị thục? Đáp: Sư Tây phương ở nước Kiện-đà-la nói: “Gồm chung Trưởng dưỡng và Đẳng lưu, không phải là Dị thục sinh, bởi vì ăn uống có thể đoạn dứt”. A-tỳ-đạt-ma thì không chấp nhận Dị thục sắc đoạn rồi lại nối tiếp. Có người nói: Đói-khát cũng gồm chung tánh của Dị thục sinh, bởi vì ăn uống tạm thời đoạn dứt chứ không phải là vĩnh viễn đoạn dứt. Đoạn dứt có hai loại, đó là vĩnh viễn đoạn dứt và tạm thời đoạn dứt, vĩnh viễn đoạn dứt không có thể nối tiếp, chứ không phải là tạm thời đoạn dứt. Như trong địa ngục chặt đứt thân thể, sắc do dị thục sinh đoạn rồi tiếp tục sinh ra. Các Luận Sư của nước Ca-thấp-di-la nói: “Lúc no thì Xúc ấy cũng không đoạn, bởi vì đồ ăn thức uống ngăn cách cho nên không có thể nhận biết, đồ ăn thức uống tiêu hết rồi vẫn có thể nhận biết”. Hỏi: Nếu là dị thục, thì đó là quả của nghiệp thiện, hay là quả của SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 127 521 www.daitangkinh.org nghiệp ác? Đáp: Là quả của hai loại, vì thế cho nên người giàu đói-khát là quả của nghiệp thiện, người nghèo đói-khát là quả của nghiệp ác. Hỏi: Đói-khát do Đại chủng nơi nào đã tạo ra? Đáp: Có người nói: Do Đại chủng ở vùng bụng đã tạo ra. Trong kinh Nhập Thai nói: “Ở trong bụng mẹ có lúc ở vùng rốn, loài hữu tình ấy có dị thục của nghiệp, gió nhẹ bắt đầu dấy khởi thì Đại chủng nơi ấy có thể tạo ra đói-khát”. Có Sư khác nói: Đại chủng trong toàn thân có thể tạo ra đói khát, bởi vì lúc ấy toàn thân hỗn loạn khó chịu. 522 BỘ TỲ ĐÀM 5 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt