VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 127Quyển 129 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 128

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

大種所造處。幾有見。幾無見。問何故不問

幾有色幾無色。答彼作論者意欲爾故。隨彼
意欲而造論。但不違法性便不應責有
說。所造無無色故。不得問言幾有色。幾無
色問亦無無為。後不應問幾有為幾無為。
答亦不應問。而後問者當知彼是有餘之
說。有說。欲以種種文種種說。莊嚴於義令
易解故。復次欲以二門二階二略二明二
炬二影二光互相顯示。如無所造是無色
故不問。如是無所造是無為故亦不應問。
如無所造是無為而得問。如是雖無所
造是無色亦應問。如是二門互相影示。令
知前後問答理通。有餘師言。此中分別所
造諸色幾有見等。既舉所造諸色為章。寧
復可問幾有色等。以諸色言即顯有色。色
體皆有變礙義故。有彼色義故名有色。非
如有衣及有子等。
大種所造處幾有見。答一謂色處。問何故色
處名為有見。答眼根名見有見用故。所見
色處有能見眼故名有見。如有主等或復
見者。是能顯示色處相麁。可相顯示在此
在彼相狀差別。所顯示色有能顯示故名
有見。如有名等。或復見者是諸影像。唯有
色處可有影像故名有見。餘則不爾。幾無
見。答八二少分。八者謂眼耳鼻舌身聲香味
處。二少分者。謂觸處法處。雖諸觸處皆無見
攝。而非一切是所造色。若所造色亦無見者。
是此所問餘非所問故說少分。法處亦爾。
大種所造處幾有對。答九一少分。九者謂五
內處及外四處。一少分者謂觸處。雖諸觸處

皆有對攝。而非一切是所造色。若所造色亦
有對者。是此所問餘非所問故說少分。幾
無對。答一少分謂法處。雖諸法處皆無對攝。
而非一切是所造色。若所造色亦無對者。是
此所問餘非所問故說少分。然有對有三
種一障礙有對。謂十色處。二境界有對謂五
色根及心心所。三所緣有對。謂心心所。此中
說障礙有對非餘。
大種所造處幾有漏。答九二少分。九者如前
說。二少分者。謂觸處法處。雖諸觸處皆有漏
攝。而非一切是所造色。若所造色亦有漏者。
是此所問餘非所問故說少分。非諸法處。
皆有漏攝。亦非一切是所造色。若所造色亦
有漏者。是此所問餘非所問故說少分。幾
無漏。答一少分謂法處。非諸法處皆無漏
攝。亦非一切是所造色。若所造色亦無漏者。
是此所問餘非所問故說少分。
大種所造處幾有為。答九二少分。九者如前
說。二少分者。謂觸處法處。雖諸觸處皆有為
攝。而非一切是所造色。若所造色亦有為者。
是此所問餘非所問故說少分。非諸法處
皆有為攝。亦非一切是所造色。若所造色亦
有為者。是此所問餘非所問故說少分。幾
無為。答無。彼皆有為故。
大種所造處幾過去。答十一少分。謂除意處。
雖諸眼處皆所造攝。而非一切皆在過去。
有在未來現在世故。若是所造亦過去者。
是此所問餘非所問故說少分。耳鼻舌身色
聲香味處亦爾。非諸觸處皆所造攝。亦非一

切皆在過去。若是所造亦過去者。是此所問
餘非所問故說少分。法處亦爾。如說過去。
未來現在說亦如是。有數等故。
大種所造處幾善。答三少分。謂色聲法處雖
諸色處皆所造攝。而非一切皆是善性。若是
所造亦善性者。是此所問餘非所問故說少
分。聲處亦爾。非諸法處皆所造攝。亦非一
切皆是善性。若是所造亦善性者。是此所問
餘非所問故說少分。幾不善。答三少分如
前說。幾無記。答七三少分。七者謂五內處及
香味處。三少分者。謂色聲觸處。雖諸色處皆
所造攝。而非一切皆是無記。若是所造亦無
記者。是此所問餘非所問故說少分。聲處
亦爾。雖諸觸處皆無記攝。而非一切皆是
所造。若是無記亦所造者。是此所問餘非所
問故說少分。
大種所造處幾欲界繫。答二九少分。二者謂
香味處。九少分者。謂五內處。及色聲觸法處。
雖諸眼處皆所造攝。而非一切皆欲界繫。若
是所造亦欲界繫者。是此所問餘非所問故
說少分。耳鼻舌身色聲處亦爾。非諸觸處皆
所造攝。亦非一切皆欲界繫。若是所造亦欲
界繫者。是此所問餘非所問故說少分。法
處亦爾。幾色界繫。答九少分如前說。幾無色
界繫。答無。彼無色故。
大種所造處幾學。答一少分。謂法處。非諸法
處皆學所攝。亦非一切皆是所造。若是所造
亦學攝者。是此所問餘非所問故說少分。
幾無學。答一少分如前說。幾非學非無學。答

九二少分。九者謂內五處。及外四處。二少分
者。謂觸處法處。雖諸觸處皆非學非無學攝。
而非一切皆是所造。若是非學非無學亦所
造者。是此所問餘非所問故說少分。非諸
法處皆非學非無學攝。亦非一切皆是所造。
若是非學非無學。亦所造者。是此所問餘非
所問故說少分。
大種所造處幾見所斷。答無。必無諸色見所
斷故。幾修所斷。答九二少分。九者如前說。
二少分者。謂觸處法處。雖諸觸處皆修所斷
攝。而非一切皆是所造。若修所斷亦所造者。
是此所問餘非所問故說少分。非諸法處
皆修所斷攝。亦非一切皆是所造。若修所斷
亦所造者。是此所問餘非所問故說少分。
幾不斷。答一少分。謂法處。非諸法處皆不斷
攝。亦非一切皆是所造。若是所造亦不斷者。
是此所問餘非所問故說少分。
若成就大種彼所造色耶。答諸成就大種。
彼成就所造色。有成就所造色非大種。謂
諸聖者生無色界。誰成就大種及所造色。謂
欲色界一切有情。此則總說。若別說者。或有
有情。成多大種及多造色。或有有情。成少
大種及少造色。成多大種及多造色者。如
大海中有諸有情所得身形。或百二百三百
四百五六七百踰繕那量。如曷邏呼阿素洛
王所得身形其量廣大。如色究竟所得身
形。一萬六千踰繕那量。成少大種及少造色
者。猶如蚊蠛水中虫等。乃至極細非人眼
境。問何故聖者生無色界。唯成就造色非

大種耶。答彼界無色。又不成就他界大種。
以有漏法越地捨故。造色不爾通無漏故
異地成就。無有聖者不成就無漏戒。是故
聖生彼界唯成就造色。於中學成就學隨
轉色。無學成就無學隨轉色。
若不成就大種。彼所造色耶。答諸不成就
所造色。彼不成就大種。有不成就大種非
所造色。謂諸聖者生無色界。誰不成就所
造色及大種。謂生無色界一切異生。彼界無
有一切色故。又不成就下界色故有漏諸
色生上失故。無漏諸色彼未得故。問順前句
中何所不攝。而復須立順後句耶。答順前
句中唯攝欲色界一切有情。及攝無色界一
切聖者。未攝無色界一切異生。為欲攝彼
故復立順後句。
若成就大種彼善色耶。答應作四句。有成
就大種非善色。謂處卵㲉。若諸異生住胎
藏中。若生欲界住不律儀。及非律儀非不
律儀。無善身語表。設有而失。彼處卵㲉。住
胎異生前生所有表無表色。由失所依眾同
分故一切已捨。今於此位未能起表。又
無入定理故。不成就一切善色。問何故此
位未能起表。答以所依身極羸弱故。要身
強盛能起表業。又此位心極微劣故。心麁勝
者能發表業。又此位心內門轉故。心外門轉
能起表業。又此位中胎卵迫迮尚不能動。
況能起表。然有時胎動轉者。此由風力非
心所為。表業必由心力所起。問何緣此位無
入定理耶。答此位身心俱羸劣故。又無入定

加行緣故。得忍異生命終捨忍。如前業蘊
已廣決擇。四生廣說亦如業蘊。若生欲界
住不律儀及非律儀非不律儀無善身語表
者。謂睡眠醉悶。及捨加行不求起表。設
有而失者。謂由三緣故失。一意樂息。二
捨加行。三限勢過。此亦如業蘊廣說。有
成就善色非大種。謂諸聖者生無色界。是
聖者故成就善色生無色故。不成就大種。
彼諸聖者通學無學。學成學善色。無學成
無學善色。有成就大種亦善色。謂諸聖者
住胎藏中。若生欲界住律儀。若住不律儀。
及非律儀非不律儀。現有善身語表。或先有
不失。若生色界住胎聖者。定成有漏無漏
無表道力強故。若生欲界住律儀者。謂隨
所應住三律儀。住不律儀及非律儀非不律
儀。現有善身語表者。謂不睡眠。不醉。不
悶。不捨加行。求起表業。或先有不失者。謂
三緣故如前說。若生色界者彼定成就靜
慮律儀故。有善色有非成就大種及善色。
謂諸異生生無色界。生無色故不成大種。
有漏善色越界捨故。無漏善色彼未得故
若成就大種彼不善色耶。答諸成就不善
色。彼定成就大種。有成就大種。非不善色。
謂處卵㲉及住胎藏。若生欲界住律儀。及
非律儀非不律儀。無不善身語表。設有而失。
若生色界。謂若成就不善色者定在欲界。
無在欲界不成大種必有身故。由此得
為順後句。答釋餘文句准上應知。
若成就大種彼有覆無記色耶。答諸成就有

覆無記色彼定成就大種。有成就大種非
有覆無記色。謂生欲界若生色界。現無有
覆無記身語表。謂若成就有覆無記色者定
在色界。無有在色界不成大種必有身
故。由此得為順後句。答無有生欲界起
有覆無記表。善染表業依自他身故。
若成就大種彼無覆無記色耶。答如是。設
成就無覆無記色。彼大種耶。答如是。以成
就大種者必成就身根等故。若成就身根
等者必成就大種故。生欲色界一切有情。
皆成就大種及無覆無記色故。生無色界
二俱無故。若成就大種彼善不善色耶。答有
成就大種非善不善色。謂處卵㲉。若諸異生
住胎藏中。若生欲界住非律儀非不律儀。
無善不善身語表。設有而失。有成就大種亦
善色非不善色。謂諸聖者住胎藏中。若生
欲界住律儀。無不善身語表。設有而失。若
住非律儀非不律儀。現有善身語表。或先有
不失。無不善身語表。設有而失。若生色界
有成就大種。亦不善色非善色。謂生欲界
住不律儀。無善身語表。設有而失。若住非
律儀非不律儀。現有不善身語表。或先有
不失。無善身語表。設有而失。有成就大種亦
善不善色。謂生欲界住律儀。現有不善身
語表或先有不失。若住不律儀。現有善身
語表。或先有不失。若住非律儀非不律儀。現
有善不善身語表。或先有不失。設成就善不
善色彼大種耶。答如是。謂成就善不善色
者必在欲界。在欲界者定成就大種故。若

成就大種彼善有覆無記色耶。答有成就大
種非善有覆無記色。謂處卵㲉。若諸異生
住胎藏中。若生欲界住不律儀及非律儀
非不律儀。無善身語表。設有而失。有成就
大種亦善色非有覆無記色。謂諸聖者住胎
藏中。若生欲界住律儀。若住不律儀及非
律儀非不律儀。現有善身語表。或先有不失。
若生色界現無有覆無記身語表。有成就大
種亦善有覆無記色。謂生色界現有有覆無
記身語表。設成就善有覆無記色彼大種耶。
答如是。謂成就善有覆無記色者必在色
界。在色界者定成就大種故。
若成就大種彼善無覆無記色耶。答有成就
大種亦無覆無記色非善色。謂處卵㲉。若諸
異生住胎藏中。若生欲界住不律儀。及非
律儀非不律儀。無善身語表。設有而失。有
成就大種亦善無覆無記色。謂諸聖者住胎
藏中。若生欲界住律儀。若住不律儀。及非
律儀非不律儀。現有善身語表。或先有不失。
若生色界。設成就善無覆無記色。彼大種
耶。答如是。謂成就善無覆無記色者。必在
欲色界。在欲色界者。定成就大種故。
若成就大種彼不善有覆無記色耶。答無。謂
成就不善色者必在欲界。成就有覆無記
色者必在色界。無一有情俱生二界故。
若成就大種彼不善無覆無記色耶。答有
成就大種。亦無覆無記色。非不善色。謂處
卵㲉。及住胎中。若生欲界住律儀。及非
律儀非不律儀。無不善身語表。設有而失。若

生色界有成就大種。亦不善無覆無記色。
謂生欲界住不律儀。若住律儀。及非律儀
非不律儀。現有不善身語表。或先有不失
設成就不善無覆無記色彼大種耶。答如是。
謂成就不善無覆無記色者。必在欲界。在
欲界者定成就大種故。若成就大種彼有
覆無記無覆無記色耶。答有成就大種。亦無
覆無記色。非有覆無記色。謂生欲界。若生
色界。現無有覆無記身語表。有成就大種。
亦有覆無記無覆無記色。謂生色界現有
有覆無記身語表。設成就有覆無記無覆無
記色彼大種耶。答如是。謂成就此二無記色
者。必在色界。在色界者定成就大種故
若成就大種彼善不善有覆無記色耶。答
無。謂成就善不善色者必在欲界。成就善
有覆無記色者。必在色界。無一有情俱生
二界故。
若成就大種。彼善不善無覆無記色耶。答有
成就大種。亦無覆無記色。非善不善色。謂
處卵㲉。若諸異生住胎藏中。若生欲界住
非律儀非不律儀。無善不善身語表。設有而
失。有成就大種亦善無覆無記色。非不善
色。謂諸聖者住胎藏中。若生欲界住律儀。
無不善身語表。設有而失。若住非律儀非不
律儀。現有善身語表。或先有不失。無不善
身語表。設有而失。若生色界有成就大種。
亦不善無覆無記色非善色。謂生欲界住
不律儀。無善身語表。設有而失。若住非律
儀非不律儀。現有不善身語表。或先有不

失。無善身語表。設有而失。有成就大種亦
善不善無覆無記色。謂生欲界住律儀。現
有不善身語表。或先有不失。若住不律儀。
現有善身語表。或先有不失。若住非律儀
非不律儀。現有善不善身語表。或先有不失。
設成就善不善無覆無記色。彼大種耶。答如
是。謂成就此三色者。必在欲界。在欲界
者定成就大種故。
若成就大種彼善有覆無記無覆無記色耶。
答有成就大種亦無覆無記色。非善有覆
無記色。謂處卵㲉。若諸異生住胎藏中。若
生欲界住不律儀。及非律儀非不律儀。無
善身語表。設有而失。有成就大種亦善無
覆無記色。非有覆無記色。謂諸聖者住胎藏
中。若生欲界住律儀。若住不律儀及非律
儀非不律儀。現有善身語表。或先有不失。
若生色界現無有覆無記身語表。有成就
大種亦善有覆無記無覆無記色。謂生色界
現有有覆無記身語表。設成就善有覆無記
無覆無記色。彼大種耶。答如是。謂成就此
三色者。必在色界。在色界者定成就大
種故。
若成就大種。彼不善有覆無記無覆無記色
耶。答無。謂成就不善無覆無記色者。必在
欲界。成就有覆無記無覆無記色者。必在
色界。無一有情俱生二界故。
若成就大種。彼善不善有覆無記無覆無記
色耶。答無。謂成就善不善無覆無記色者。
必在欲界。成就善有覆無記無覆無記色

者。必在色界。無一有情俱生二界故
若成就善色彼不善色耶。答應作四句。有
成就善色非不善色。謂諸聖者住胎藏中。
若生欲界住律儀。無不善身語表設有而
失。若住非律儀非不律儀。現有善身語表。
或先有不失。無不善身語表。設有而失。若
生色界若諸聖者。生無色界。有成就不善
色非善色。謂生欲界住不律儀。無善身語
表。設有而失。若住非律儀非不律儀。現有
不善身語表。或先有不失。無善身語表。設
有而失。有成就善色亦不善色。謂生欲界
住律儀。現有不善身語表。或先有不失。若
住不律儀。現有善身語表。或先有不失。若
住非律儀非不律儀。現有善不善身語表。或
先有不失。有非成就善色。及不善色。謂處
卵㲉。若諸異生住胎藏中。若生欲界住非
律儀非不律儀。無善不善身語表。設有而
失。若諸異生生無色界。
若成就善色。彼有覆無記色耶。答諸成就有
覆無記色。彼定成就善色。或成就善色。非
有覆無記色。謂諸聖者住胎藏中。若生欲
界住律儀。若住不律儀及非律儀非不律
儀。現有善身語表。或先有不失。若生色界
現無有覆無記身語表。若諸聖者生無色界。
若成就善色彼無覆無記色耶。答應作四
句。有成就善色。非無覆無記色。謂諸聖者
生無色界。有成就無覆無記色非善色。謂
處卵㲉。若諸異生住胎藏中。若生欲界住
不律儀及非律儀非不律儀。無善身語表。設

有而失。有成就善色。亦無覆無記色。謂諸
聖者住胎藏中。若生欲界住律儀。若住不
律儀及非律儀非不律儀。現有善身語表。或
先有不失。若生色界有非成就善色。及無
覆無記色。謂諸異生生無色界。
若成就善色。彼不善有覆無記色耶。答無。謂
成就不善色者。必在欲界。成就有覆無記
色者。必在色界。無一有情俱生二界故
若成就善色。彼不善無覆無記色耶。答有
成就善色。非不善無覆無記色。謂諸聖者
生無色界。有成就善色亦無覆無記色。非
不善色。謂諸聖者住胎藏中。若生欲界住
律儀。無不善身語表。設有而失。若住非律
儀非不律儀。現有善身語表。或先有不失。
無不善身語表。設有而失。若生色界。有成
就善色亦不善無覆無記色。謂生欲界住
律儀。現有不善身語表。或先有不失。若住
不律儀。現有善身語表。或先有不失。若住
非律儀非不律儀。現有善不善身語表。或先
有不失。設成就不善無覆無記色彼善色
耶。答或成就。或不成就。云何成就。即如上
說。云何不成就。謂生欲界住不律儀。無善
身語表。設有而失。若住非律儀非不律儀。現
有不善身語表。或先有不失。無善身語表。
設有而失。
若成就善色彼有覆無記無覆無記色耶。答
有成就善色。非有覆無記無覆無記色。謂
諸聖者生無色界。有成就善色亦無覆無
記色。非有覆無記色。謂諸聖者住胎藏中。

若生欲界住律儀。若住不律儀及非律儀
非不律儀。現有善身語表。或先有不失。若
生色界現無有覆無記身語表。有成就善
色亦有覆無記無覆無記色。謂生色界現
有有覆無記身語表。設成就有覆無記無覆
無記色。彼善色耶。答如是。謂成就有覆無
記無覆無記色者。必在色界。在色界者定
成就善色故。若成就善色。彼不善有覆無
記無覆無記色耶。答無。謂成就不善無覆無
記色者。必在欲界。成就有覆無記無覆無
記色者。必在色界。無一有情俱生二界故
若成就不善色。彼有覆無記色耶。答無。謂
成就不善色者。必在欲界。成就有覆無記
色者。必在色界。無一有情俱生二界故
若成就不善色。彼無覆無記色耶。答諸成就
不善色。彼定成就無覆無記色。有成就無
覆無記色。非不善色。謂處卵㲉。及住胎
中。若生欲界住律儀及非律儀非不律儀。
無不善身語表。設有而失。若生色界
若成就不善色。彼有覆無記無覆無記色耶。
答無。如上說。
若成就有覆無記色。彼無覆無記色耶。答諸
成就有覆無記色。彼定成就無覆無記色。
有成就無覆無記色。非有覆無記色。謂生
欲界。若生色界。現無有覆無記身語表。如
上所說總略義者。謂四大種生欲色界必定
成就。生無色界定不成就。無覆無記色亦
爾。善色生色界定成就。生欲無色界。或成
就或不成就。不善色生色無色界定不成就。

生欲界或成就或不成就。有覆無記色。生
欲無色界定不成就。生色界或成就或不
成就。

Việt dịch

QUYỂN 128

LUẬN VỀ ĐẠI TẠO (Phần 2)


thấy?
Ư do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại có thấy, mấy loại không

Hỏi: Vì sao không hỏi mấy loại có sắc, mấy loại không có sắc?
Đáp: Đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, tùy theo ý muốn
ấy mà soạn luận, nhưng không trá i với pháp tánh thì không cần phải
vặn hỏi.
Có người nói: Bởi vì sở tạo không có Vô sắc, cho nên không cần
phải hỏi là mấy loại có sắc, mấy loại không có sắc?
Hỏi: Cũng không có Vô vi, sau kh ông cần phải hỏi là mấy loại
hữu vi, mấy loại vô vi chăng: Cũng không cần phải hỏi, mà sau hỏi thì
nên biết đó là có cách nói khác.
Có người nói: Muốn dùng các loại văn từ-các loại giải thích để
hiển bày rõ ràng nghĩa lý khiến cho dễ hiểu. Lại nữa, muốn dùng hai
môn loại-hai tầng bậc-hai phương thức-hai cách hiểu-hai ngọn đuốc-hai
hình ảnh-hai ánh sáng hiển bày rõ ràng lẫn nhau. Như không có sở tạo
nào là Vô sắc, cho nên không hỏi; như vậy không có sở tạo nào là Vô
vi, cho nên cũng không cần phải hỏi. Như không có sở tạo nào là Vô vi
mà có thể hỏi; như vậy tuy không có sở tạo nào là Vô sắc, mà cũng cần
phải hỏi. Như vậy, hai môn loại phỏng theo nêu rõ lẫn nhau, khiến cho
nhận biết hỏi-đáp trước sau thông suốt hợp lý.
Có Sư khác nói: Trong này phân biệt về các sắc sở tạo có mấy
loại là có thấy.., đã nêu ra các sắc sở tạo làm chương mục, thì lẽ nào
lại có thể hỏi là có mấy loại có sắc.. hay sao? Bởi vì nói các sắc tức là
hiển bày có sắc, Thể của sắc đều có nghĩa biến đổi ngăn ngại, có nghĩa
của sắc ấy cho nên gọi là có sắc, không phải là giống như có ác và có
con…
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 128 523  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Xứ do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại là có thấy?
Đáp: Một loại, đó là Sắc xứ.
Hỏi: Vì sao Sắc xứ gọi là có thấy?
Đáp: Nhãn căn gọi là thấy, bởi vì có tác dụng của thấy; Sắc xứ
đã thấy, có nhãn tự động trông thấy, cho nên gọi là có thấy, như có chủ
và khách… Hoặc là cái thấy, là t ự động hiển bày rõ ràng tướng thô của
sắc xứ, có thể hiển bày rõ ràng lẫn nhau về tướng trạng sai biệt ở nơi
này-ở nơi kia, sắc thụ động hiển bày rõ ràng là có tự động hiển bày rõ
ràng, cho nên gọi là có thấy, như có t ên gọi… Hoặc là cái thấy, là các
hình ảnh-cảnh tượng, chỉ có Sắc xứ la ø có thể có hình ảnh-cảnh tượng,
cho nên gọi là có thấy, còn lại thì không như vậy.
Hỏi: Mấy loại là không thấy:
Đáp: Tám loại và phần ít của hai loại. Tám loại, đó là nhãn-nhĩ-
tỷ-thiệt-thân-thanh-hương-vị-xúc xứ. Pha àn ít của hai loại, đó là Xúc
xứ-Pháp xứ. Tuy các Xúc xứ đều thuộc về không thấy, mà không phải
tất cả đều là sắc sở tạo. Nếu sa éc sở tạo cũng không thấy, thì ở đây đã
hỏi chứ không phải là nơi khác đã hỏi , cho nên nói là phần ít. Pháp xứ
cũng như vậy.
Hỏi: Xứ do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại là có đối?
Đáp: Chín loại và phần ít của một  loại. Chín loại, đó là năm xứ
bên trong và bốn Xứ bên ngoài. Phần ít của một loại, đó là Xúc xứ. Tuy
các Xúc xứ đều thuộc về có đối, mà không phải tất cả đều là sắc sở tạo.
Nếu sắc sở tạo cũng có đối, thì ở đây đã hỏi chứ không phải là nơi khác
đã hỏi, cho nên nói là phần ít.
Hỏi: Mấy loại là không đối?
Đáp: Phần ít của một loại, đó là Pháp xứ. Tuy các Pháp xứ đều
thuộc về không đối, mà không phải tất cả đều là sắc sở tạo. Nếu sắc sở
tạo cũng không đối, thì ở đây đã hỏi chứ không phải là nơi khác đã hỏi,
cho nên nói là phần ít. Nhưng có đối lại có ba loại:
1. Chướng ngại có đối, đó là mười Sắc xứ.
2. Cảnh giới có đối, đó là năm Sắc căn và tâm-tâm sở.
3. Sở duyên có đối, đó là tâm-tâm sở.
Trong này nói đến chướng ngại có đối chứ không phải là loại
khác.

Hỏi: Xứ do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại là hữu lậu?
Đáp: Chín loại và phần ít của ha i loại. Chín loại, như trước nói.
Phần ít của hai loại, đó là Xúc xứ và Pháp xứ. Tuy các Xúc xứ đều
thuộc về hữu lậu, mà không phải tất cả đều là sắc sở tạo. Nếu sắc sở
524 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
tạo cũng là hữu lậu, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi khác đã
hỏi, cho nên nói là phần ít. Không phải là các Pháp xứ đều thuộc về hữu
lậu, cũng không phải tất cả đều là sắc  sở tạo. Nếu sắc sở tạo cũng là
hữu lậu, thì nơi này đã hỏi chứ không pha ûi là nơi khác đã hỏi, cho nên
nói là phần ít.
Hỏi: Mấy loại là vô lậu?
Đáp: Phần ít của một loại, đó là Pháp xứ. Không phải là các Pháp
xứ đều thuộc về vô lậu, cũng không phải ta át cả đều là sắc sở tạo. Nếu
sắc sở tạo cũng là vô lậu, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi khác
đã hỏi, cho nên nói là phần ít.
Hỏi: Xứ so Đại chủng đã tạo ra, mấy loại là hữu vi?
Đáp: Chín loại và phần ít của ha i loại. Chín loại, như trước nói.
Phần ít của hai loại, đó là Xúc  xứ và Pháp xứ. Tuy các Xúc xứ đều
thuộc về hữu vi, mà không phải tất cả đều là sắc sở tạo. Nếu sắc sở tạo
cũng là hữu vi, thì nơi này đã hõi chứ không phải là nơi khác đã hỏi,
cho nên nói là phần ít. Không phải là các Pháp xứ đều thuộc về hữu vi,
cũng không phải tất cả đều là sắc s ở tạo. Nếu sắc sở tạo cũng là hữu
vi, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi khác đã hỏi, cho nên nói là
phần ít.
Hỏi: mấy loại là vô vi?
Đáp: Không có, bởi vì Xứ ấy đều là hữu vi.
Hỏi: Xứ do Đại chũng đã tạo ra, mấy loại là quá khứ?
Đáp: Phần ít của mười một loại, đó là trừ ra Ý xứ. Tuy các Nhãn
xứ đều thuộc về sở tạo, mà không phải ta át cả đều là ở quá khứ, bởi vì
có loại ở đời vị lại-hiện tại. Nếu la ø sở tạo cũng là quá khứ, thì nơi này
đã hỏi chứ không phải là nơi khác đã hỏi, cho nên nói là phần ít. Nhĩ-tỷ-
thiệt-thân-sắc-thanh-hương-vị xứ cũng như vậy. Không phải là các Xúc
xứ đều thuộc về sở tạo, cũng không phải tất cả đều là ở quá khứ. Nếu là
sở tạo cũng là quá khứ, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi khác đã
hỏi, cho nên nói là phần ít. Pháp xứ cũng như vậy. Như nói về quá khứ,
vị lai-hiện tại nói cũng như vậy, bởi vì có số lượng như nhau.
Hỏi: Xứ do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại là thiện?
Đáp: Phần ít của ba loại, đó là Sắc-thanh-pháp xứ. Tuy các Sắc xứ
đều thuộc về sở tạo, mà không phải tất cả đều là tánh thiện. Nếu là sở
tạo cũng là tánh thiện, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi khác đã
hỏi, cho nên nói là phần ít. Thanh xứ cũng như vậy. Không phải là các
Pháp xứ đều thuộc về sở tạo, cũng không phải tất cả đều là tánh thiện.
nếu là sở tạo cũng là tánh thiện, thì nơi này đã hỏi chứ không phải   là
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 128 525  
www.daitangkinh.org  
nơi khác đã hỏi, cho nên nói là phần ít.
Hỏi: Mấy loại là bất thiện?
Đáp: Phần ít của ba loại, như trước nói.
Hỏi: Mấy loại là vô ký? Đáp: bảy loại và phần ít của ba loại. Bảy
loại, đó là năm Xứ bên trong và Hương-Vị xứ. Phần ít của ba loại, đó là
Sắc-Thanh-Xúc xứ. Tuy các Sắc xứ đều thuộc về sở tạo, mà không phải
tất cả đều là vô ký. Nếu là sở tạo cũng là vô ký, thì nơi này đã hỏi chứ
không phải là nơi khác đã hỏi, c ho nên nói là phần ít. Thanh xứ cũng
như vậy. Tuy các Xúc xứ đều thuộc về vô ký, mà không phải tất cả đều
là sở tạo. Nếu là vô ký cũng là sở tạo, thì nơi này đã hỏi chứ không phải
là nơi khác đã hỏi, cho nên nói là phần ít.
Hỏi: Xứ do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại hệ thuộc cõi Dục? Đáp:
Hai loại và phần ít của chín loại. Hai loại, đó là Hương xứ và Vị xứ.
Phần ít của chín loại, đó là năm xứ bên trong và Sắc-Thanh-Xúc-Pháp
xứ. Tuy các Nhãn xứ đều thuộc về sở tạo, mà không phải tất cả đều là
hệ thuộc cõi Dục. Nếu là sở tạo cũng là hệ thuộc cõi Dục, thì nơi này
đả hỏi chứ không phải là nơi khác đã hỏi, cho nên nói là phần ít. Nhĩ-
tỷ-thiệt-thân-sắc-thanh xứ cũng như vậy. Không phải là các Xúc xứ đều
thuộc về sở tạo, cũng không phải là ta át cả đều hệ thuộc cõi Dục. Nếu
là sở tạo cũng là hệ thuộc cõi Dục, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là
nơi khác đã hỏi, cho nên nói là phần ít. Pháp xứ cũng như vậy.
Hỏi: Mấy loại hệ thuộc cõi Sắc?
Đáp: Phần ít của chín loại, như trước nói.
Hỏi: Mấy loại hệ thuộc cõi Vô sắc?
Đáp: Không có, bởi vì cõi ấy không có sắc.
Hỏi: Xứ do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại là Học?
Đáp: Phần ít của một loại, đó là Pháp xứ. Không phải là các Pháp
xứ đều do Học thâu nhiếp, cũng không phải tất cả đều là sở tạo. Nếu là
sở tạo cũng là Học thâu nhiếp, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi
khác đã hỏi, cho nên nói là phần ít.
Hỏi: Mấy loại là Vô học?
Đáp: Phần ít của một loại, như trước nói.
Hỏi: Mấy loại là Phi học phi vô học?
Đáp: Chín loại và phần ít của ha i loại. Chín loại, đó là năm Xứ
bên trong và bốn xứ bên ngoài. Phần ít của hai loại, đó là Xúc xứ-Pháp
xứ. Tuy các xúc xứ đều do Phi học phi vô học thâu nhiếp, mà không
phải tất cả đều là sở tạo. Nếu là Phi học phi vô học cũng là sở tạo, thì
nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi khác đã hỏi, cho nên noi là  phần
526 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
ít. Không phải là các Pháp xứ đều do Phi học phi vô học thâu nhiếp,
cũng không phải tất cả đều là sở tạ o. Nếu là Phi học phi vô học cũng
là sở tạo, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi khác đã hỏi, cho nên
nói là phần ít.
Hỏi: Xứ do Đại chủng đã tạo ra, mấy loại là kiến mà đoạn?
Đáp: Không có, bởi vì chắc chắ n không có các sắc do kiến mà
đoạn.
Hỏi: Mấy loại do tu mà đoạn?
Đáp: Chín loại và phần ít của ha i loại. Chín loại, như trước nói.
Phần ít của hai loại, đó là Xúc  xứ và Pháp xứ. Tuy các Xúc xứ đều do
tu mà đoạn thâu nhiếp, nhưng không phải tất cả đều là sở tạo. Nếu do
tu mà đoạn cũng là ở tạo, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi khác
đã hỏi, cho nên nói là phần ít. Không phải là các Pháp xứ đều do tu mà
đoạn thâu nhiếp, cũng không phải tất cả đều là sở tạo. Nếu do tu mà
đoạn cũng là sở tạo, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi khác đã
hỏi, cho nên nói là phần ít.
Hỏi: Mấy loại là không đoạn?
Đáp: Phần ít của một loại, đó là Pháp xứ. Không phải là các Pháp
xứ đều thuộc về không đoạn, cũng không phải tất cả đều là sở tạo. Nếu
là sở tạo cũng không đoạn, thì nơi này đã hỏi chứ không phải là nơi
khác đã hỏi, cho nên nói là phần ít.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc sở tạo chăng?
Đáp: Thành tựu các Đại chủng thì lúc ấy thành tựu sắc sở tạo. Có
lúc thành tựu sắc sở tạo mà không phải là Đại chủng, đó là các Thánh
giả sinh đến cõi Vô sắc. Ai thành tựu Đại chủng và sắc sở tạo? Đó là
các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc. Ai thành tựu Đại chủng và sắc sở
tạo? Đó là tất cả hữu tình cõi D ục-Sắc. Đây là nói tổng quát. Nếu nói
riêng biệt, thì hoặc là có hữu tình thành tựu nhiều Đại chủng và nhiều
tạo sắc, hoặc là có hữu tình thành tựu ít Đại chủng và ít tạo sắc.
Thành tựu nhiều Đại chủng và nhiề u tạo sắc, như trong biển lớn
có các hữu tình đã mang lấy thân hình, hoặc là một trăm-hai trăm-ba
trăm-bốn trăm-năm-sáu-bảy trăm Du-thiện-na (Do tuần); như hạt-la-hô
vua loài A-tố-lạc đã mang lấy th ân hình với mức lượng rộng lớn; như
trời Sắc Cứu cánh đã mang lấy thân hình với  mức lượng một vạn sáu
ngàn Du-thiện-na.
Thành tựu ít Đại chủng và ít tạo sắc, giống như ruồi muỗi và các
loài sâu bọ trong nước…., cho đến các loài côn trùng rất nhỏ không phải
là nơi mà mắt loài người thấy được.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 128 527  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Vì sao Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc, chỉ thành tựu tạo sắc
chứ không phải là Đại chủng?
Đáp: Bởi vì cõi ấy không có sa éc. Vả lại, không thành tựu Đại
chủng của cõi khác, bởi vì pháp hữu lậu vượt qua địa thì đã xả bỏ; tạo
sắc thì không như vậy, bởi vì gồm chung vô lậu cho nên ở địa khác cũng
thành tựu, không có Thánh giả nào không thành tựu giới vô lậu, vì vậy
Thánh giả sinh đến cõi ấy chỉ tha ønh tựu tạo sắc. Trong đó, Học thành
tựu sắc tùy chuyển của Học, Vô học  thành tựu sắc tùy chuyển của Vô
học.
Hỏi: Nếu không thành tựu Đại chủng thì đó là sắc sở tạo chăng?
Đáp: Không thành tựu các sắc sở tạo, lúc ấy không thành tựu Đại
chủng. Có lúc không thành tựu Đại chủng mà không phải là sắc sở tạo,
đó là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc. Ai không thành tựu sắc sở tạo
và Đại chủng? Đó là tất cả dị sinh  sinh đến cõi Vô sắc , bởi vì cõi ấy
không có tất cả các sắc. Vả lại, không thành tựu sắc của cõi dưới, bởi vì
các sắc hữu lậu sinh lên cõi trên đã mất, các sắc vô lậu thì lúc ấy chưa
có được.
Hỏi: Thuận theo trong câu trước  không thâu nhiếp những gì, mà
lại thuận theo thiếp lập thuận với câu sau như vậy?
Đáp: Thuận theo trong câu trước chỉ thâu nhiếp tất cả hữu tình cõi
Dục-Sắc, và thâu nhiếp tất cả Tha ùnh giả cõi Vô sắc , chưa thâu nhiếp
tất cả dị sinh cõi Vô sắc, vì muốn thâu nhiếp loại ấy cho nên lại thiết
lập thuận với câu sau.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc thiện chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt.
1. Có lúc thành tựu Đại chủng mà không phải là sắc thiện, đó
là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng; nếu sinh ở
cõi Dục trú vào không luật nghi, và phi  luật nghi-phi bất luật nghi, thì
không có Biểu của thân-ngữ thiện; giả sử có mà mất, bởi vì dị sinh ở
trong vỏ trứng-trú trong th ai tạng, đời trước vốn có Biểu-Vô biểu sắc,
do mất Chúng đồng phần sở y cho nên tất cả đã xã bỏ, nay ở phần vị
này chưa có thể khởi lên Biểu. Vả lại, không có lý nhập Định, cho nên
không thành tựu tất cả sắc thiện.
Hỏi: Vì sao phần vị này chưa có thể khởi lên Biểu?
Đáp: Bởi vì thân sở y rất yếu ớt, phải là thân manh mẽ thì mới
có thể khởi lên Biểu nghiệp. Vả lại, phần vị này tâm rất yếu kém, tâm
mạnh hơn thì có thể phát ra Biểu nghi ệp. Lại nữa, phần vị này tâm
chuyển theo phần bên trong, tâm chuyển theo phần bên ngoài mới   có
528 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
thể khởi lên Biểu nghiệp. Lại nữa, trong phần vị này thai và trứng ép
sát chật hẹp, hãy còn không thể nhúc nhích được, huống là có thể khởi
lên Biểu? Nhưng có lúc thai chuyển động, lúc này do sức mạnh của gió
chứ không phải là do tâm đã làm ra, Biểu nghiệp cần phải do sức mạnh
của tâm mà khởi lên.
Hỏi: Vì sao phần vị này không có lý nhập Định?
Đáp: Bởi vì phần vị này thân tâm đều yếu kém. Vả lại, bởi vì
không có duyên gia hạnh của nhập Định, cho nên dị sinh đạt được Nhẫn
lúc mạng chung sẽ xả bỏ Nhẫn, như chương nghiệp uẩn trước đã mở
rộng về quyết định chọn lựa. Bốn loại Sinh nói rộng ra cũng như chương
nghiệp uẩn.
Nếu sinh ở cõi Dục trú vào không lu ật nghi, và phi luật nghi-phi
bất luật nghi, thì không có Biểu của thân-ngữ thiện, nghĩa là ngủ nghĩ-
say sưa-lo buồn và rời bỏ gia hạnh, không mong cầu khởi lên Biểu. Giả
sử có mà mất, nghĩa là do ba duyên cho nên mất:
- Ý thích dừng lại.
- Rời bỏ gia hạnh.
- Giới hạn thế lực vượt qua. Phần này cũng nói rộng ra như chương
Nghiệp uẩn.
2. Có lúc thành tựu sắc thi ện mà không phải là Đại chủng, đó là
các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc. Là Thánh giả cho nên thành tựu
sắc thiện, sinh đến cõi Vô sắc cho nên không thành tựu Đại chủng. Các
Thánh giả ấy gồm chung Học và Vô học, Học thì thành tựu sắc thiện
của Học, Vô học thì thành tựu sắc thiện của Vô học.
3. Có lúc thành tựu Đại chủng mà cũng là sắc thiện đó là các
Thánh giả trú trong thai tạng. Nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi, hoặc
là trú vào không luật nghi và phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại
có Biểu của thân-ngữ thiện; hoặc là trước có không mất. Nếu sinh ở cõi
Sắc thì Thánh giả trú trong thai tạng, chắc chắn thành tựu Vô biểu hữu
lậu và vô lậu, bởi vì đạo lực mạnh mẽ.
Nếu sinh ở cõi Dục trú vào luậ t nghi, nghĩa là tùy theo sự thích
hợp mà trú vào ba loại luật nghi, trú vào không luật nghi và phi luật
nghi-phi bất luật nghi, hiện tại c ó Biểu của thân-ngữ thiện, nghĩa là
không ngủ nghỉ-không say sưa-không lo buồn-không rời bỏ gia đình,
cầøu mong khởi lên Biểu nghiệp. Hoặc là trước có không mất, nghĩa là
bởi vì ba duyên, như trước nói. Nếu sinh ở cõi Sắc thì lúc ấy chắc chắn
thành tựu luật nghi Tĩnh lự, cho nên có sắc thiện.
4. Có lúc không phải là thành tựu Đại chủng và sắc thiện, đó   là
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 128 529  
www.daitangkinh.org  
các dị sinh sinh đến cõi Vô sắc, sinh đến cõi Vô sắc cho nên không
thành tựu Đại chủng, bởi vì sắc thiện hữu lậu vượt qua cõi thì đã xả bỏ,
mà sắc thiện vô lậu lúc ấy chưa có được.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc bất thiện chăng?
Đáp: Thành tựu các sắc bất thi ện thì lúc ấy chắc chắn thành tựu
Đại chủng. Có lúc thành tựu Đại chủng mà không phải là sắc bất thiện,
đó là ở trong vỏ trừng mà trú trong thai  tạng. Nếu sinh ở cõi Dục trú
vào luật nghi, và phi luật nghi- phi bất luật nghi, thì không vô Biểu của
thân-ngữ bất thiện; giả sử có mà mất, nếu sinh vào cõi Sắc. Nghĩa là
nếu thành tựu sắc bất thiện thì chắ c chắn ở cõi Dục, không có trường
hợp nào ở cõ Dục mà không thành tựu Đại chủng, cho nên nhất định
phải có thân. Vì vậy có thể làm thuận theo câu sau, trả lời giải thích câu
văn còn lại dựa theo trên, nên biết.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc hữu phú  vô ký
chăng?
Đáp: Thành tựu các sắc hữu phú vô ký thì lúc ấy chắc chắn thành
tựu Đại chủng. Có lúc thành tựu Đại chủng mà không phải là sắc hữu
phú vô ký, đó là sinh ở cõi Dục. Nếu si nh ở cõi Sắc thì hiện tại không
có Biểu của thân-ngữ hữu phú vô ký, nghĩa là nếu thành tựu sắc hữu
phú vô ký thì chắc chắn ở cõi Sắc, không có trường hợp nào ở cõi Sắc
mà không thành tựu Đại chủng, bởi vì nhất định phải có thân. Vì vậy có
thể làm thuận theo câu sau, trả lời là không có trường hợp nào sinh ở
cõi Dục mà khởi lên Biểu hữu phú vô ký, bởi vì Biểu nghiệp của thiện-
nhiễm dựa vào thân của địa mình.
Hỏi: Nếu thanh tịnh Đại chủng thì đó là sắc vô phú vô ký chăng?
Đáp: Đúng như vậy.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc vô phú vô ký thì đó là Đại chủng
chăng?
Đáp: Đúng như vậy. Bởi vì tha ønh tựu Đại chủng thì chắc chắn
thành tựu Thân căn. Nếu thành tựu Th ân căn… thì chắc chắn thành tựu
Đại chủng. Tất cả hữu tình sinh ở cõi Dục-Sắc đề thành tựu Đại chủng
và sắc vô phú vô ký, sinh ở cõi Vô sắc thì cả hai loại đều không có.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc thiện- bất thiện
chăng?
Đáp: Có lúc thành tựu Đại chủng mà không phải là sắc thiện-bất
thiện, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng, nếu
sinh ở cõi Dục trú vào phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì không có Biểu
của thân-ngữ thiện và bất thiện; giả sử có mà mất.
530 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc thiện chứ không phải là
sắc bất thiện, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục
trú vào luật nghi thì không có Biểu của thân-ngữ bất thiện, giả sử có mà
mất; nếu trú vào phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại có Biểu của
thân-ngữ thiện, hoặc là trước có không mất; không có Biểu của thân-
ngữ bất thiện, giả sử có mà mất, nếu sinh vào cõi Sắc.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc bất thiện chứ không phải
là sắc thiện, đó là sinh ở cõi Dục trú vào không luật nghi, không có Biểu
của thân-ngữ thiện, giả sử có mà mất. Nếu trú vào phi luật nghi-phi bất
luật nghi, thì hiện tại có Biểu của th ân-ngữ bất thiện, hoặc là trước có
không mất; không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử có mà mất.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc thiện-bất thiện, đó là sinh
ở cõi Dục trú vào luật nghi, hiện tại  có Biểu của thân-ngữ bất thiện,
hoặc là trước có không mất. Nếu trú vào không luật nghi, thì hiện tại có
Biểu của thân-ngữ thiện, hoặc là trước có không mất. Nếu trú vào phi
luật nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại có Biểu của thân-ngữ thiện và
bất thiện, hoặc là trước có không mất.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc thi ện-bất thiện thì đó là Đại chủng
chăng?
Đáp: Đúng như vậy. Nghĩa là thành tựu sắc thiện-bất thiện thì
chắc chắn là ở cõi Dục, bởi vì ở cõi Dục thì nhất định thành tựu Đại
chủng.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc thiện-hữu phú vô ký
chăng?
Đáp: Có lúc thành tựu Đại chủng mà không phải là sắc thiện-hữu
phú vô ký, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng.
Nếu sinh ở cõi Dục trú vào không luật nghi và phi luật nghi-phi bất luật
nghi, thì không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử có mà mất.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc thiện mà không phải là
sắc hữu phú vô ký, đó là các Thánh gi ả trú trong thai tạng. Nếu sinh ở
cõi Dục trú vào luật nghi, nếu trú vào không luật nghi và phi luật nghi-
phi bất luật nghi, hiện tại có Biểu của thân-ngữ thiện, hoặc là trước có
không mất. Nếu sinh ở cõi Sắc thì hiện tại không có Biểu của thân-ngữ
hữu phú vô ký.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc thiện-hữu phú vô ký, đó là
sinh ở cõi Sắc hiện tại có Biểu của thân-ngữ hữu phú vô ký.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc thiện-hữu phú vô ký thì đó là Đại chủng
chăng?
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 128 531  
www.daitangkinh.org  
Đáp: Đúng như vậy. Nghĩa là thành tựu sắc thiện-hữu phú vô ký
thì chắc chắn là ở cõi Sắc, bởi vì ở cõi Sắc thì nhất định thành tựu Đại
chủng.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng th ì đó là sắc thiện-vô phú vô ký
chăng?
Đáp: Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc vô phú vô ký mà
không phải là sắc thiện, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú
trong thai tạng. Nếu sinh ở cõi Dục trú vào không luật nghi, và phi luật
nghi-phi bất luật nghi, thì không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử có
mà mất.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc thiện-vô phú vô ký, đó là
các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi.
Nếu trú vào không luật nghi và phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì hiện
tại có Biểu của thân-ngữ thiện;  hoặc là trước có không mất, nếu sinh
vào cõi Sắc.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc thiện-vô phú vô ký thì đó là Đại chủng
chăng?
Đáp: Đúng như vậy. Nghĩa là thành tựu sắc thiện-vô phú vô ký
thì chắc chắn là ở cõi Dục-Sắc, bởi vì ở cõi Dục-Sắc cho nên nhất định
thành tựu Đại chủng.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc bất thiện-hữu phú vô
ký chăng?
Đáp: Không có. Nghĩa là thành tựu sắc bất thiện thì chắc chắn ở
cõi Dục, thành tựu sắc hữu phú vô ký th ì chắc chắn ở cõi Sắc, vì vậy
không có một hữu tình mà cùng sinh ở hai cõi.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc bất thiện-vô phú vô
ký chăng?
Đáp: Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc vô phú vô ký mà
không phải là sắc bất thiện, đó là ở trong vỏ trứng và trú trong thai tạng,
nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi và phi luật nghi-phi bất luật nghi,
thì không có Biểu của thân-ngữ bất thiện; hoặc là có mà mất, nếu sinh
vào cõi Sắc.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc bất thiện-vô phú vô ký, đó
là sinh ở cõi Dục trú vào không luật nghi. Nếu trú vào luật nghi và phi
luật nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại có Biểu của thân-ngữ bất thiện,
hoặc là trước có không mất.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc ba át thiện-vô phú vô ký thì đó là Đại
chủng chăng?
532 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Đáp: Đúng như vậy. Nghĩa là thành tựu sắc bất thiện-vô phú vô
ký thì chắc chắn ở cõi Dục, bởi vì ở cõi Dục cho nên nhất định thành
tựu Đại chủng.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc hữu phú vô ký-vô phú
vô ký chăng?
Đáp: Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc vô phú vô ký mà
không phải là sắc hữu phú vô ký, đó là sinh ở cõi Dục. Nếu sinh ở cõi
Sắc, thì hiện tại không có Biểu của thân-ngữ hữu phú vô ký.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc hữu phú vô ký-vô phú vô
ký, đó là sinh ở cõi Sắc hiện tại có Biểu của thân-ngữ hữu phú vô ký.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc hữu phú vô ký-vô phú vô ký thì đó là
Đại chủng chăng?
Đáp: Đúng như vậy. Nghĩa là thành tựu hai sắc vô ký này thì chắc
chắn là ở cõi Sắc, bởi vì ở cõi  Sắc cho nên nhất định thành tựu Đại
chủng.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc thiện-bất thiện-hữu
phú vô ký chăng?
Đáp: Không có. Nghĩa là thành tựu  sắc thiện-bất thiện thì chắc
chắn là ở cõi Dục, thành tựu sắc thiện-hữu phú vô ký thì chắc chắn là ở
cõi Sắc, vì vậy không có một hữu tình mà cùng sinh ở hai cõi.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc thiện-bất thiện-vô phú
vô ký chăng?
Đáp: Có lúc thành tựu Đại c hủng cũng là sắc vô phú vô ký, mà
không phải là sắc thiện- bất thi ện, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các
dị sinh trú trong thai tạng. Nếu sinh ở cõi Dục trú vào phi luật nghi-phi
bất luật nghi, thì không có Biểu của thân-ngữ thiện-bất thiện, giả sử có
mà mất.
Có lúc thành tựu Đại chủng chũng là sắc thiện-vô phú vô ký mà
không phải là sắc bất thiện, đó là cá c Thánh giả trú trong thai tạng,
nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật n ghi, thì không có Biểu của thân-ngữ
bất thiện, giả sử có mà mất. Nếu trú vào phi luật nghi-phi bất luật nghi,
thì hiện tại có Biểu của thân- ngữ thiện, hoặc là trước có không mất;
không có Biểu của thân-ngữ bất thiện, giả sử có mà mất, nếu sinh vào
cõi Sắc.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc bất thiện-vô phú vô ký mà
không phải là sắc thiện, đó là sinh ở cõi Dục trú vào không luật nghi,
không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử có mà mất. Nếu trú vào phi
luật nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại có Biểu của thân-ngữ bất thiện,
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 128 533  
www.daitangkinh.org  
hoặc là trước có không mất; không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử
có mà mất.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc thiện-bất thiện-vô phú vô
ký, đó là sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi, hiện tại có Biểu của thân-ngữ
bất thiện, hoặc là trước có không mất. Nếu trú vào không luật nghi, thì
hiện tại có Biểu của thân-ngử thiện, hoặc là trước có không mất. Nếu
trú vào phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại có Biểu của thân-ngữ
thiện và bất thiện, hoặc là trước có không mất.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc thiện-bất thiện-vô phú vô ký thì đó là
Đại chủng chăng?
Đáp: Đúng như vậy. Nghĩa là thành t ựu ba sắc này thì chắc chắn
là ở cõi Dục, bởi vì ở cõi Dục cho nên nhất định thành tựu Đại chủng.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc thiện-hữu phú vô ký-
vô phú vô ký chăng?
Đáp: Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc vô phú vô ký mà
không phải là sắc thiện-hữu phú vô ký, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là
các dị sinh trú trong thai tang. Nếu si nh ở cõi Dục trú vào không luật
nghi, và phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì không có Biểu của thân-ngữ
thiện, giả sử có mà mất.
Có lúc thành tựu Đại chủng c ũng là sắc thiện-vô phú vô ký mà
không phải là sắc hữu phú vô ký, đó là các Thánh giả trú trong thai
tạng, nếu sinh ở cõi Dục thì trú va øo luật nghi. Nếu trú vào không luật
nghi và phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại có Biểu của thân-ngữ
thiện, hoặc là trước có không mất. Nếu sinh ở cõi sắc, thì hiện tại không
có Biểu của thân-ngữ hữu phú vô ký.
Có lúc thành tựu Đại chủng cũng là sắc thiện-hữu phú vô ký-vô
phú vô ký, đó là sinh ở cõi Sắc, hiện tại có Biểu của thân-ngữ hữu phú
vô ký.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc thiện-hữu phú vô ký-vô phú vô ký thì
đó là Đại chủng chăng?
Đáp: Đúng như vậy. Nghĩa là thành t ựu ba sắc này thì chắc chắn
là ở cõi Sắc, bởi vì ở cõi Sắc cho nên nhất định thành tựu Đại chủng.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đó là sắc bất thiện-hữu phú vô
ký-vô phú vô ký chăng?
Đáp: Không các tỳ kheo đem việc này bạch Phật, Phật nói: Nghĩa
là thành tựu sắc bất thiện-vô phú vô ký thì chắc chắn là ở cõi Dục, thành
tựu sắc hữu phú vô ký-vô phú vô ký thì ch ắc chắn là ở cỏi Sắc, vì vậy
không có một hữu tình mà cùng sinh ở hai cõi.
534 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng thì đ ó là Sắc thiện-bất thiện-hữu
phú vô ký-vô phú vô ký chăng?
Đáp: Không có, nghĩa là thành tựu sắc thiện-bất thiện-vô phú vô
ký thì chắc chắn là ở cõi Dục, thành tựu sắc thiện-hữu phú vô ký-vô
phú, vô ký thì chắc chắn là ở cõi Sắc, vì vậy không có một hữu tình mà
cùng sinh ở hai cõi.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc thiện thì đó là sắc bất thiện chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt.
1. Có lúc thành tựu sắc thiện mà không phải là sắc bất thiện, đó là
các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục vào luật nghi, thì
không có Biểu của thân-ngữ bất thiện, giả sử có mà mất. Nếu trú vào
phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại có Biểu của thân-ngữ thiện,
hoặc là trước có không mất; không có Biểu của thân-ngữ bất thiện, giả
sử có mà mất, nếu sinh vào cõi Sắc; hoặc là các Thánh giả sinh đến cõi
Vô sắc.
2. Có lúc thành tựu sắc bất thi ện mà không phải là sắc thiện, đó
là sinh ở cõi Dục trú vào không luật nghi, không có Biểu của thân-ngữ
thiện, giả sử có mà mất. Nếu trú vào phi luật nghi, phi bất luật nghi, thì
hiện tại có Biểu của thân-ngữ bất thiện, hoặc  là trước có không mất;
không có Biểu của thân-ngữ thện, giả sử có mà mất.
3. Có lúc thành tựu sắc thiện cũng là sắc bất thiện, đó là sinh ở cõi
Dục trú vào luật nghi, hiện tại có Biểu của thân-ngữ bất thiện, hoặc là
trước có không mất. Nếu trú vào không lu ật nghi, thì hiện tại có Biểu
của thân-ngữ thiện, hoặc là trước  có không mất. Nếu trú vào phi luật
nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại có Biểu của thân-ngữ thiện và bất
thiện, hoặc là trước có không mất.
4. Có lúc không phải là thành tựu sắc  thiện và sắc bất thiện, đó
là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dĩ  sinh trú trong thai tạng, nếu sinh ở
cõi Dục trú vào phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì không có Biểu của
thân-ngữ thiện và bất thiện, giả sử có mà mất. Hoặc là các dĩ sinh sinh
đến cõi Vô sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc thiện thì đó là sắc hữu phú vô ký chăng?
Đáp: Thành tựu các sắc hữu phú vô ký thì lúc ấy nhất định thành
tựu sắc thiện. Có lúc thành tựu sắc thiện mà không phải là sắc hữu phú
vô ký, đó là các Thánh giả trú trong th ai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú
vào luật nghi. Nếu trú vào không luật nghi và phi luật nghi-phi bất luật
nghi, thì hiện tại có Biểu của thân-ngữ thi ện, hoặc là trước có không
mất. Nếu sinh vào cõi Sắc thì hiện tại không có Biểu của thân-ngữ hữu
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 128 535  
www.daitangkinh.org  
phú vô ký. Hoặc là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc thiện thì đó là sắc vô phú vô ký chăng?
Đáp: nên làm thành bốn câu phân biệt.
1. Có lúc thành tựu sắc thiện mà không phải là sắc vô phú vô ký,
đó là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc.
2. Có lúc thành tựu sắc vô phú vô ký mà không phải là sắc thiện,
đó là ở trong vỏ trứng, hoặc  là các dị sinh trú trong thai tạng, nếu sinh
ở cõi Dục trú vào không luật nghi và phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì
không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử có mà mất.
3. Có lúc thành tựu sắc thiện cũng là sắc vô phú vô ký, đó là các
Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi. Nếu
trú vào không luật nghi và phi luật nghi- phi bất luật nghi, thì hiện tại
có Biểu của thân-ngữ thiện; hoặc  là trước có không mất, nếu sinh vào
cõi Sắc.
4. Có lúc không phải là thành tựu sắc thiện và sắc vô phú vô ký,
đó là các dị sinh sinh đến cõi Vô sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc thiện thì đó là sắc bất thiện-hữu phú vô
ký chăng?
Đáp: Không có. Nghĩa là thành tựu sắc bất thiện thì chắc chắn ở
cõi Dục, thành tựu sắc hữu phú vô ký th ì chắc chắn ở cõi Sắc, vì vậy
không có một hữu tình mà cùng sinh ở hai cõi.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc thiện thì đó là sắc bất thiện-vô phú vô ký
chăng?
Đáp: Có lúc thành tựu sắc thiện mà không phải là sắc bất thiện-vô
phú vô ký, đó là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc.
Có lúc thành tựu sắc thi ện cũng là sắc vô phú vô ký mà không
phải là sắc bất thiện, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng. Nếu sinh ở
cõi Dục trú vào luật nghi thì không có Biểu của thân- ngữ bất thiện, giả
sử có mà mất. Nếu trú vào phi luậ t nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại
có Biểu của thân-ngữ thiện, hoặc là trước có không mất; không có Biểu
của thân-ngữ bất thiện, giả sử có mà mất, nếu sinh ở cõi sắc.
Có lúc thành tựu sắc thiện cũng là sắc bất thiện-vô phú vô ký, đó
là sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi , hiện tại có Biểu của thân-ngữ bất
thiện, hoặc là trước có không mất. Nếu trú vào không luật nghi, thì hiện
tại có Biểu của thân-ngữ thiện, hoặc là trước có không mất. Nếu trú vào
phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì hi ện tại có Biểu của thân-ngữ thiện
và bất thiện, hoặc là trước có không mất.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc bất thiện-vô phú, vô ký thì đó là sắc
536 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
thiện chăng?
Đáp: Hoặc là thành tựu, hoặc  là không thành tựu. Thế nào là
thành tựu? Tức là như trên đã nói. Thế nào là không thành tựu? Tức là
như trên đã nói. Thế nào là không thành t ựu? Đó là sinh ở cõi Dục trú
vào không luật nghi, không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử có mà
mất; nếu trú vào phi luật nghi-phi bất luật nghi, hiện tại có Biểu của
thân-ngữ bất thiện, hoặc là tr ước có không mất, không có Biểu của
thân-ngữ thiện, giả sử có mà mất.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc thiện thì đó là sắc hữu phú vô ký-vô phú
vô ký chăng?
Đáp: Có lúc thành tựu sắc thiện mà không phải là sắc hữu phú vô
ký-vô phú vô ký đó là các Thánh giả sinh đến cõi vô sắc.
Có lúc thành tựu sắc thi ện cũng là sắc vô phú vô ký mà không
phải là sắc hữu phú vô ký, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu
sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi. Nếu trú vào không luật nghi và phi luật
nghi-phi bất luật nghi, thì hiện tại có Biểu của thân-ngữ thiện, hoặc là
trước có không mất. Nếu sinh ở cõi Sắc thì hiện tại không có Biểu của
thân-ngữ hữu phú vô ký.
Có lúc thành tựu sắc thiện cũng là sắc hữu phú vô ký-vô phú vô
ký, đó là sinh ở cõi Sắc hiện tại có Biểu của thân-ngữ hữu phú vô ký.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc hữu phú vô ký-vô phú vô ký thì đó là
sắc thiện chăng?
Đáp: Đúng như vậy. Nghĩa là thành tựu sắc hữu phú vô ký-vô phú
vô ký thì chắc chắn ở cõi Sắc, bởi vì ở cõi Sắc cho nên nhất định thành
tựu sắc thiện.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc thiện thì đó là sắc bất thiện-hữu phú vô
ký-vô phú vô ký chăng?
Đáp: Không có. Nghĩa là thành tựu sắc bất thiện-vô phú vô ký thì
chắc chắn ở cõi Dục, thành tựu sắc hữu phú vô ký-vô phú vô ký thì chắc
chắn ở cõi sắc vì vậy không có một hữu tình mà cùng sinh ở hai cõi.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc bất thiện thì đó là sắc hữu phú vô ký
chăng?
Đáp: Không có. Nghĩa là thành tựu sắc bất thiện thì chắc chắn ở
cõi Dục, thành tựu sắc hữu phú vô ký ch ì chắc chắn ở cõi  Sắc, vì vậy
không có một hữu tình mà cùng sinh ở hai cõi.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc bất thiện thì đó là sắc hữu phú vô ký
chăng?
Đáp: không có. Nghĩa là thành tựu sắc bất thiện thì chắc chắn   ở
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 128 537  
www.daitangkinh.org  
cõi Dục, thành tựu sắc hữu phú vô ký thì chắc chắn ở cõi Sắc, vì vậy
không có một hữu tình mà cùng sinh ở hai cõi.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc bất th iện thì đó là sắc vô phú vô ký
chăng?
Đáp: Thánh tựu các sắc bất thi ện, thì lúc ấy nhất định thành tựu
sắc vô phú vô ký.
Có lúc thành tựu sắc vô phú vô ký mà không phải là sắc bất thiện,
đó là ở trong vỏ trứng và trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào
luật nghi và phi luật nghi-phi bất luật nghi, thì không có Biểu của thân-
ngữ bất thiện; giả sử có mà mất, nếu sinh vào cõi sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc bất th iện thì đó là Sắc hữu phú vô ký-vô
phú vô ký chăng?
Đáp: Không có. Như tên đã nói.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc hữu phú vô ký thì đó là sắc vô phú vô ký
chăng?
Đáp: thành tựu các sắc hữu phú vô ký thì lúc ấy nhất định thành
tựu sắc vô phú vô ký.
Có lúc thành tựu sắc vô phú vô ký mà không phải là sắc hữu phú
vô ký, đó là sinh ở cõi D ục, hoặc là sinh ở cõi  Sắc, hiện tại không có
Biểu của thân-ngữ hữu phú vô ký. Như đã nói ở trên.
Nghĩa tóm lược tổng quát, đó là bốn Đại chủng nếu sinh ở cõi
Dục-Sắc thì chắc chắn thành tựu, sinh ở cõi Vô sắc thì chắc chắn không
thành tựu. Sắc vô phú vô ký cũng như vậy. Sắc thiện, sinh ở cõi Sắc thì
chắc chắn thành tựu, sinh ở cõi Dục-Vô sắc thì hoặc là thành tựu, hoặc
là không thành tựu. Sắc bất thiện, sinh ở cõi Sắc-Vô sắc thì chắc chắn
không thành tựu, sinh ở cõi Dục th ì hoặc là thành tựu, hoặc là không
thành tựu. Sắc hữu phú vô ký, sinh ở cõi  Dục-Vô sắc thì chắc chắn
không thành tựu, sinh ở cõi Sắc thì hoặc là thành tựu, hoặc là không
thành tựu.


„
538 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt