A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 129
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
諸四大種依何定滅。乃至廣說。問何故作 此論。答欲顯諸佛出現世間有大功德故。 如施設論說。贍部洲邊繞大海際。有轉輪 王路廣一踰繕那。諸轉輪王若不出世水所 覆沒無能遊履。若出世時海水周減一踰繕 那。此路乃現平飾清淨底布金砂。栴檀香水 自然灑潤。輪王每欲巡此洲時。導從四軍 而遊此路。如是諸佛未出世時。無有能 依諸根本地斷煩惱者。若佛十力大法輪 王出世間時。根本地現平等清淨。布覺分 砂灑戒定水。佛與無數那庾多眷屬。依之 趣入無畏涅槃宮。問此中云何顯佛出世有 大功德。答佛不出世此問尚無況有能答。 如佛昔在室羅筏城住誓多林。時有苾芻 名曰馬勝。是阿羅漢。獨於靜室作是思惟。 諸四大種何處永滅。為欲知故入勝等持。 即以定心於誓多林沒。欻然出在四大王 眾天。從定而起問彼天眾。諸四大種何處永 滅。天眾答曰。我等不知是四大種何處永滅。 然我所事四大天王。智慧威德並皆殊勝。彼 或能了可往問之。尊者即時詣四王所。作如 上問皆曰不知。復共仰推三十三天眾。三 十三天眾復。推帝釋。帝釋仰推夜摩天眾。夜 摩天眾推蘇夜摩天子。蘇夜摩天子推覩史 多天眾。覩史多天眾推珊覩史多天子。珊覩 史多天子。推樂變化天眾。樂變化天眾推妙 變化天子。妙變化天子推他化自在天眾。他 化自在天眾推妙自在天子。妙自在天子推 梵天眾。如是尊者遍問欲天竟。不能知 大種滅處。欲往梵世入勝等持。復以定心 自在宮沒。梵眾天出。從定而起作如上問。 梵眾咸曰。我等不知有大梵王。是梵大梵 作者化者。為一切父自在生育。具大威德 無與等者。無有不見不了不識。彼定能知 仁應往問。尊者即問大梵所在。梵眾答曰。 我亦不知大梵天王定所在處。仁欲見者隨 處諦求。即有光明於中而現。尊者馬勝遂 發誠心。願大梵王於此眾現。應時大梵即 放光明。便自化身為童子像。首分五頂形 貌端嚴。在梵眾中隨光而現。尊者前進問 曰。大仙諸四大種何處永滅。梵王不達作矯 亂言。苾芻當知我是大梵。是自在者作者。化 者。生者養者為一切父。此是諂誑所發語業。 尊者告曰。我不問仁梵非梵等。但問大種 何處永滅。爾時大梵知此苾芻非矯亂言 卒能酬遣。便執兩手引出眾外。此是諂誑 所發身業。出眾外已謝尊者言。我實不知 大種滅處。然諸梵眾咸謂我是自在作者無 不知見。若我眾中云不知者。是諸梵眾便 見輕蔑。尊者自失近捨如來。遠勞見問致 無所獲。今可速還詣佛請問。如佛所說 應正受持。馬勝既聞梵王推佛。歡喜辭退 復入等持。即以定心於梵世沒。欻然還出 誓多林中。從定而起整理衣服。往世尊前 恭敬作禮。問四大種何處永滅。爾時世尊為 說不見邊際鳥喻云。汝亦然乃至梵宮遍請 所問。不得邊際還至此中。猶如彼鳥不得 邊際。然汝所問不合問儀。隨此而答亦乖 答理。汝欲問者。當如是問。 四大與短長細麁淨不淨 於何處永棄名色滅無餘 此問隨順應如是答。 識不見無邊周遍廣大性 更無餘廣大能映奪此者 四大與短長細麁淨不淨 於是處永棄名色滅無餘 有說。此中佛說聖道。世尊於此說識聲故。 有說。此中佛說涅槃。以說無邊識不見故。 若無佛出世說正法者則雖梵王亦多愚 惑。若佛出世宣說正法則八歲勤策亦能解 了。設有來問長老知耶。諸四大種何處永 滅。彼若誦持大種蘊者。即言依四定或依 未至滅。世若無佛此等便無故。佛出世有 大功德。 諸四大種及所造色依何定滅。答依四定 或依未至滅定。或名道或名行迹。或名對 治。或名作意。義無差別。滅或名斷。或名離 染。或名為盡。或名離繫。義亦無別。昔於此 部有二論師。一名時毘羅。二名瞿沙伐摩。 尊者時毘羅作如是說。此中但說永斷無餘 斷。無隨縛斷。無少分斷。無影像斷。說聖者 斷非異生斷。說聖道作用。非世俗道作用。 所以者何。依七依經以立斯論。彼經但說 根本地故。無有異生。或諸聖者依根本地 起世俗道能離染故。尊者瞿沙伐摩作如 是說。此中但說永斷無餘斷。無隨縛斷。無少 分斷。無影像斷。此說應理。餘則不然。所以 者何。此中通說諸聖者斷。及異生斷。聖道作 用。及世俗道作用故。問依七依經以立此 論。彼經唯說諸根本地。無有異生。或諸聖 者依根本地起世俗道。能離諸染云何說 通。答由此故言阿毘達磨是諸經鏡燈焰 光明。諸契經中未宣說者此中宣說。未示 現者此中示現。經說有餘。此中無餘。經說 有異意。此中無異意。阿毘達磨中言多盡 理。由此經論二說善通。 大種造色依四定滅者。謂依四靜慮依未 至滅者。謂依初靜慮近分。及靜慮中間空無 邊處近分。此中靜慮無色近分。靜慮中間皆 名未至。並未能入勝根本地。而能現前斷 煩惱故。問契經唯說根本名。依何故此中 說依未至。有作是說。此中應言依四定或 未至滅。不應言依未至。而言依者有何 意耶。此文再說根本地故。依四定者說四 依定。依未至者謂舉諸依。顯諸未至。非即 說此未至為依。如說入城未入城耶。雖 再說城言無別城事。彼亦如是。有餘師說。 此中依言總說諸定。非但根本。皆能與道 作所依故。然七依定就勝而說大種造色 五地所繫。謂欲界四靜慮。是故離第四靜慮 染時。乃究竟斷。然離彼染或依初靜慮近 分。或依四靜慮。或依靜慮中間。或依空無 邊處近分。若依空無邊處近分。離彼染時 通。聖者及異生。唯世俗道非聖道。若依餘 地離彼染時。唯聖者非異生。唯聖道非 世俗道。此中說究竟所滅大種造色。謂第四 靜慮所繫故。言依四定或依未至滅。若欲 界所繫大種造色。但應言依未至滅。依初 靜慮近分滅故。初靜慮所繫大種造色。應言 依初定或依未至滅。依初靜慮靜慮中間。 及前二靜慮近分滅故。第二靜慮所繫大種 造色。應言依二定。或依未至滅。依前二靜 慮靜慮中間。初及第三靜慮近分滅故。第三 靜慮所繫大種造色。應言依三定或依未 至滅。依前三靜慮靜慮中間。初及第四靜慮 近分滅故。應知此中諸依前三靜慮。及靜 慮中間滅者。唯聖者非異生。唯聖道非世 俗道。諸依初靜慮近分滅者。通聖者及異 生。通聖道及世俗道。諸依餘三靜慮近分 滅者。通聖者及異生。唯世俗道非聖道。上 七近分無聖道故。 尋伺有對觸依何定滅。答依初定。或依未 至滅。依初定滅者。謂依初靜慮。依未至 滅者。謂依前二靜慮近分。及靜慮中間。尋伺 有對觸二地所繫。謂欲界初靜慮。是故離初 靜慮染時。乃究竟斷。然離彼染或依初靜 慮。或依靜慮中間。或依前二靜慮近分。若 依第二靜慮近分。離彼染時通聖者及異 生。唯世俗道非聖道。若依餘地離彼染時。 唯聖者非異生。唯聖道非世俗道。此中說 究竟所滅。尋伺有對觸。謂初靜慮所繫故。言 依初定或依未至滅。若欲界所繫尋伺有 對觸。但應言依未至滅。依初靜慮近分滅 故。此通聖者及異生。通聖道及世俗道 樂根依何定滅。答依三定或依未至滅。 依三定滅者。謂依前三靜慮。依未至滅者。 謂依初靜慮近分。及靜慮中間。第四靜慮近 分。樂根三地所繫。謂欲界初靜慮第三靜慮。 是故離第三靜慮染時。乃究竟斷。然離彼 染或依前三靜慮。或依靜慮中間。或依初 及第四靜慮近分。若依第四靜慮近分。離彼 染時。通聖者及異生。唯世俗道非聖道。若 依餘地離彼染時。唯聖者非異生。唯聖道 非世俗道。此中說究竟所滅樂根。謂第三靜 慮所繫故。言依三定。或依未至滅。若欲界 所繫樂根。但應言依未至滅。依初靜慮近 分滅故。初靜慮所繫樂根。應言依初定。或 依未至滅。依初靜慮靜慮中間。及前二靜 慮近分滅故。此中諸依初靜慮。及靜慮中 間滅者。唯聖者非異生。唯聖道非世俗道。 諸依初靜慮近分滅者。通聖者及異生。通 聖道及世俗道。依第二靜慮近分滅者。通 聖者及異生。唯世俗道非聖道。 喜根依何定滅。答依二定或依未至滅。依 二定滅者。謂依前二靜慮。依未至滅者。謂 依初靜慮近分。及靜慮中間。第三靜慮近分。 喜根三地所繫。謂欲界前二靜慮。是故離第 二靜慮染時。乃究竟斷。然離彼染。或依前 二靜慮。或依靜慮中間。或依初及第三靜慮 近分。若依第三靜慮近分。離彼染時。通聖 者及異生。唯世俗道非聖道。若依餘地離 彼染時。唯聖者非異生。唯聖道非世俗道 此中說究竟所滅喜根。謂第二靜慮所繫故。 言依二定。或依未至滅。若欲界所繫喜根。 但應言依未至滅。依初靜慮近分滅故。初 靜慮所繫喜根。應言依初定。或依未至滅。 依初靜慮靜慮中間。及前二靜慮近分滅故。 此中諸依初靜慮。靜慮中間滅者。唯聖者 非異生。唯聖道非世俗道。依初靜慮近分 滅者。通聖者及異生。通聖道及世俗道。依 第二靜慮近分滅者。通聖者及異生。唯世俗 道非聖道。苦根憂根段食依何定滅。答依 未至滅。謂初靜慮近分以苦根等唯欲界繫。 是故離彼染時。即究竟斷。然離彼染時。唯 依初靜慮近分。此通聖者及異生。通聖道 及世俗道。 捨根觸思識食。依何定滅。答依七定。或依 未至滅。依七定滅者。謂依四靜慮。及前三 無色。依未至滅者。謂依初靜慮近分。及靜 慮中間。此捨根等九地所繫。謂從欲界乃至 非想非非想處。是故離非想非非想處染時。 乃究竟斷。然離彼染。或依初靜慮近分。或 依靜慮中間。或依四靜慮。或依前三無色。 此唯聖者非異生。唯聖道非世俗道。此中 說究竟所滅捨根三食。謂非想非非想處所 繫故。言依七定。或依未至滅。若欲界所繫 捨根三食。但應言依未至滅。依初靜慮近 分滅故。初靜慮所繫捨根三食。應言依初 定。或依未至滅。依初靜慮靜慮中間。及前 二靜慮近分滅故。第二靜慮所繫捨根三食。 應言依二定。或依未至滅。依前二靜慮靜 慮中間。初及第三靜慮近分滅故。第三靜慮 所繫捨根三食。應言依三定。或依未至滅。 依前三靜慮靜慮中間。初及第四靜慮近分 滅故。第四靜慮所繫捨根三食。應言依四 定。或依未至滅。依四靜慮靜慮中間。初靜 慮近分。空無邊處近分滅故。空無邊處捨根 三食。應言依五定。或依未至滅。依四靜 慮。空無邊處。靜慮中間。初靜慮近分。識無邊 處近分滅故。識無邊處捨根三食。應言依 六定。或依未至滅。依四靜慮。前二無色靜 慮中間。初靜慮近分。無所有處近分滅故。無 所有處捨根三食。應言依七定。或依未至 滅。依四靜慮。前三無色。靜慮中間。初靜慮 近分。非想非非想處近分滅故。此中諸依七 定。靜慮中間滅者。唯聖者非異生。唯聖道 非世俗道。諸依初靜慮近分滅者。通聖者 及異生。通聖道及世俗道。諸依上七地近分 滅者。通聖者及異生唯世俗道非聖道 諸四大種及所造色。已斷已遍知當言住何 果。答阿羅漢果。或無所住。住阿羅漢果者。 謂彼補特伽羅大種造色。已斷遍知住無學 果。或無所住者。謂彼補特伽羅大種造色。已 斷遍知猶未住果。即諸異生已離色界染。 及先離彼染。入正性離生。住見道中十五 心頃。若漸次者離第四靜慮染。最後解脫道 離空無邊處染。諸加行道九無間道九解脫 道。乃至離無所有處染應知亦爾。離非想 非非想處染。諸加行道九無間道八解脫道。 住此諸位補特伽羅大種造色。已斷遍知。於 四沙門果而猶未住。問先離色界染入正 性離生道類智時。大種造色已斷遍知。此補 特伽羅住不還果。此中何故不說。答應說 而不說者當知此義有餘。有說。此中依漸 次說。謂說具縛入正性離生者。非超越者 是故不說。尋伺有對觸已斷已遍知。當言 住何果。答阿羅漢果。或無所住。住阿羅漢 果者。謂彼補特伽羅尋伺有對觸已斷遍知。 住無學果。或無所住者。謂彼補特伽羅尋 伺有對觸已斷遍知。猶未住果。即諸異生已 離初靜慮染。或先離彼染。入正性離生住 見道中十五心頃。若漸次者。離初靜慮染最 後解脫道。離第二靜慮染。諸加行道九無間 道九解脫道。乃至離無所有處染。應知亦 爾。離非想非非想處染。諸加行道九無間道 八解脫道。住此諸位補特伽羅尋伺有對觸 已斷遍知。於四沙門果而猶未住。問先離 初靜慮染。入正性離生道類智時。尋伺有對 觸已斷遍知。此補特伽羅住不還果。此中何 故不說。答應說而不說者當知此義有餘。 有說。此中依漸次說。廣說如前。樂根已斷 已遍知當言住何果。答住阿羅漢果。或 無所住。住阿羅漢果者。謂彼補特伽羅樂 根已斷遍知。住無學果。或無所住者。謂彼補 特伽羅樂根已斷遍知。猶未住果。即諸異生 已離第三靜慮染。或先離彼染。入正性離 生。住見道中十五心頃。若漸次者。離第三 靜慮染。最後解脫道離第四靜慮染。諸加行 道九無間道九解脫道。乃至離無所有處染。 應知亦爾。離非想非非想處染。諸加行道九 無間道八解脫道。住此諸位補特伽羅。樂根 已斷遍知。於四沙門果。而猶未住。問先離 第三靜慮染。入正性離生道類智時。爾時樂 根已斷遍知。此補特伽羅住不還果。此中何 故不說。答應說而不說者當知此義有餘。 有說。此中依漸次說廣說如前。 喜根已斷已遍知。當言住何果。答阿羅漢 果。或無所住。住阿羅漢果者。謂彼補特伽 羅喜根已斷遍知。住無學果。無所住者。謂 彼補特伽羅。喜根已斷遍知。猶未住果。即 諸異生已離第二靜慮染。或先離彼染。入 正性離生。住見道中十五心頃。若漸次者。離 第二靜慮染。最後解脫道。離第三靜慮染。諸 加行道九無間道九解脫道。乃至離無所有 處染。應知亦爾。離非想非非想處染。諸加 行道九無間道八解脫道。住此諸位補特伽 羅喜根已斷遍知。於四沙門果而猶未住。問 先離第二靜慮染。入正性離生道類智時。 爾時喜根已斷遍知。此補特伽羅住不還果。 此中何故不說。答應說而不說者當知此 義有餘。有說。此中依漸次說。廣說如前 苦根憂根段食。已斷已遍知。當言住何果。 答不還果。或阿羅漢果。或無所住。住不還 果者。謂彼補特伽羅苦根等三已斷遍知。住 學第三果。住阿羅漢果者。謂彼補特伽羅苦 根等三已斷遍知。住無學果。無所住者。謂 彼補特伽羅苦根等三已斷遍知。猶未住果。 即諸異生已離欲界染。或先離彼染。入正 性離生。住見道中十五心頃。住此諸位補 特伽羅。苦根等三已斷遍知。於四沙門果而 猶未住。此中不說漸次諸位名無所住。以 離欲界染最後無間道生。爾時苦根等三究 竟斷盡。最後解脫道時。此補特伽羅必住不 還果故。 捨根觸思識食已斷已遍知。當言住何果。 答阿羅漢果。此中不說。或無所住。所以者 何。離非想非非想處染。最後無間道生爾時 捨根三食究竟斷盡。最後解脫道時。此補特 伽羅必住阿羅漢果。故餘師於此作別意 釋。謂此意問四大種等已斷已遍知。當言何 果攝。由此不說四大種等已斷遍知。住不 還果先離色染。後入正性離生道類智時 雖得不還果。而彼離繫非不還果攝。以不 還果但攝見所斷。及欲界修所斷斷。為斷 果故。評曰初說為善。所以者何。此中但問 補特伽羅四大種等已斷遍知。得住何果不 問果攝故。 契經中說食有四種。一段食。二觸食。三意思 食。四識食。云何段食。謂由麁細分段為緣。 長養諸根。增益大種。云何觸意思識食。謂 有漏觸意思識為緣。長養諸根。增益大種。 此中長養諸根者。顯長養諸法。增益大種 者。顯異熟諸法。問諸根亦可增益有異熟 故。大種亦可長養有長養故。何故此中唯 作是說。答諸根大種俱應作二種說。而不 說者當知此義有餘。復次欲以種種文種 種說。莊嚴於義令易解故。復次欲現二門 二階二略二明二炬二影二光。互相顯示如 根說。長養大種亦應爾。如大種說增益根 亦應爾。由二門等互相影故。則所說理通 文要義顯。 問如所說長養增益。為於長益法長益。為 於不長益法長益耶。若於長益法長益者。 彼長益法復何長益。若於不長益法長益者。 不長益法云何長益。答非於長益法長益。 亦非於不長益法長益。然長益不長益法先 住未來。若遇長益緣。則不長益法滅。長益 法生。若遇不長益緣則長益法滅。不長益 法生。雖無轉作而義俱立。 問頗有有漏觸思識為緣。長養諸根。增益 大種。而非食耶。答有。謂異界觸思識能長 養增益諸根大種。問頗有同界觸思識為緣。 長養諸根。增益大種。而非食耶。答有。謂異 地觸思識能長養增益諸根大種。問頗有同 地觸思識為緣。長養諸根。增益大種。而非 食耶。答有。謂無漏觸思識。能長養增益諸 根大種。問何故無漏不立食耶。答諸無漏法 無食相故。又法現前增益諸有。攝受諸有。 住持諸有。可說為食。無漏諸法。損減違害 破壞諸有故不說食。又法現前連續諸有。 連續老死能令生死輪轉無窮。可說為食。 無漏諸法斷息諸有。斷息老死。能令生死 不復輪轉故不說食。又法現前隨順苦集。 隨順老死。能令生死諸有。世間流轉不息 可說為食。無漏諸法隨順苦集滅。隨順老 死滅能令生死諸有世間不復流轉故不 說食。又法現前是身見事。是顛倒事。是貪 愛事。是隨眠事。是貪瞋癡安立足處。有垢 有毒。有穢有濁。有刺有怨。諸有所攝。墮 苦集諦。可說為食。無漏諸法非身見事。非 顛倒事。非貪愛事。非隨眠事。非貪瞋癡安 立足處。無垢無毒。無穢無濁。無刺無怨。非 諸有所攝。不墮苦集諦故不說食。又無漏 法不能究竟長養諸有。雖暫長養非究竟 故不說為食。尊者妙音亦作是說。非無漏 法長養諸有。雖暫長養而非究竟。終違有 故不說為食。夫說為食終能長養。 問食體是何。答是十六事。於中十三事是段 食體。即十一觸及香味處。觸思識三是餘食 體。蘊界處攝者。是十一界五處三蘊少分所 攝。十一界者。謂七心界。及香味觸法界。五處 者。謂香味觸處。意處。法處。三蘊者。謂色行 識蘊。是謂四食自體。我物性相。 已說自體。所以今當說。何故名食。食是何 義。答牽有義是食義。續有義。持有義。生有 義。養有義。增有義。是食義。此四於有能牽。 乃至能增故名為食。問若牽有。乃至增有 是食義者。諸有漏法皆應名食。何故但說 四耶。脇尊者言。唯佛世尊究竟了達諸法性 相。亦知勢用非餘能知。若法有食相作用 可立食者。即便立之。無者不立。尊者世友 作如是言。此是世尊有餘之說。略說影說 有觀待說。佛觀化宜而說法故。尊者妙音 說曰。佛知此四牽有續有持有生有養有增 有體相勢用。強盛隣近故立為食。餘法不 爾故不說食。有餘師言。如是四法極能長 養諸界趣生老死世間。令其流轉故立為 食。餘則不爾。或有說者。食有二相。一牽 引當有令現在前。二任持今有令相續住。 有餘師說。食有三種。一者業食。二者生食。 三者長養食。業食謂思。生食謂識。長養食者。 謂段與觸。
Việt dịch
QUYỂN 129 LUẬN VỀ ĐẠI TẠO (Phần 3) Đối với bốn Đại chủng, dựa vào Định nào mà diệt? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn hiển bày chư Phậ t xuất hiện giữa thế gian có công đức to lớn. Như luận Thi Thiết nói: “Bờ biển lớn vây quanh bên châu Thiện- bộ, có đường đi của Chuyển Luân Vương, rộng một Du-thiên-na. nếu các vị Chuyển Luân Vương không xuất thế, thì nước biển ngập sâu che mất con đường, không có ai có thể đi lại được. Nếu lúc chuyển Luân Vương xuất thế, thì nước biển xung quanh hạ xuống một Du-thiện-na, con đường này mới hiện ra, bằng phẳng và thanh tịnh, nền lát đá bằng vàng, nước hương Chiên-đàn tự nhiên rưới thấm. Cứ mỗi lần Luân Vương muốn tuần sát châu này, thì dẫn theo bốn loại quân binh mà đi trên con đường này. Như vậy, lúc chứ Phật chưa xuất thế, không có ai có năng lực dựa vào các Địa căn bản để đoạn phiền não. Nếu đến lúc Đại pháp Luân Vương-mười Lực của Đức Phật xuất hiện giữa thế gian, thì Địa căn bản hiện rõ ra, bình đẳng và thành tựu, lát bằng đá Giác phần, rưới bằng nước Giới-Định, Đức Phật cùng với vô số Na-dữu-đa quyến thuộc, dựa vào đó để hướng đến đi vào cung điện Niết-bàn Vô úy”. Hỏi: Trong này thế nào là hiển bày Đức Phật xuất thế có công đức to lớn? Đáp: Đức Phật không xuất thế, câu hỏi này còn không có, huống hồ có ai có thể trả lời được hay sao? “Như xưa kia Đức Phật an trú trong rừng Thệ-đa thuộc thành Thất- la-phiệt, lúc ấy có Tỳ kheo tên gọi là Mã Thắng, là vị A-la-hán, một mình ở trong tịnh thất, dấy lên tư duy này; Đối với bốn Đại chủng, vĩnh SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 129 539 www.daitangkinh.org viễn diệt nơi nào? Bởi vì muốn biết cho nên tiến vào Đẳng trì thù thắng, liền dùng tâm Định ở tại rừng Thệ-đa ẩn đi, chốc lát xuất hiện ở cõi trời Tứ Đại Vương chúng, từ trong Định mà đứng lên hỏi Thiên chúng nơi ấy rằng: Đối với bốn Đại chủng, vĩnh viễn diệt nơi nào? Thiên chúng đáp rằng: Chúng tôi không biết la ø bốn Đại chủng này vĩnh viễn diệt nơi nào, nhưng chúng tôi đã hầu Tứ Đại Thiên Vương, trí tuệ và uy đức thảy đều thù thắng, chắc là các vị ấy có năng lực biết rõ, có thể đem đến hỏi các vị ấy! Tôn giả lập tức đi đến chỗ Tứ Đại Thiên Vương, đưa ra câu hỏi như trên. Tất cả đều nói không biết, lại cùng nhau ngước lên chỉ đến Thiên chúng cõi Tam Thập Tam. Thiên chúng cõi Tam Thập Tam lại chỉ đến Đế Thích. Đế Th ích ngước lên chỉ đến Thiên chúng cõi Dạ-ma. Thiên chúng cõi Dạ-ma chỉ đến Thiên tử Tô-dạ-ma. Thiên tử Tô-dạ-ma chỉ đến Thiên chúng cõi Đổ-sử-đa. Thiên chúng cõi Đổ- sử-đa chỉ đến Thiên tử San-đổ-sử- đa. Thiên tử San-đổ-sử-đa chỉ đến Thiên chúng cõi Lạc Biến Hóa. thiên chúng cõi Lạc Biến Hóa chỉ đến Thiên tử Diệu Biến Hóa.Thiên tử Diệu Biến Hóa chỉ đến Thiên chúng cõi Tha Hóa Tự Tại. Thiên chúng cõi Tha Hóa Tự Tại chỉ đến Thiên tử Diệu Tự Tại. Thiên tử Diệu Tự tại chỉ đến Thiên chúng cõi Phạm. Như vậy, Tôn giả đi hỏi khắp sáu cõi trời Dục rồi, nhưng không có thể biết nơi diệt của Đại chủng. Muốn đi đến cõi Phạm Thế liền tiến vào Đẳng trì thù thắng, lại dùng tâm Định ở tại cung trời Tự Tại ẩn đi, xuất hiện ở cõi trời Phạm Chúng, từ trong Định mà đứng lên đưa ra câu hỏi như trên. Thiên chúng cõi Phạm đều nói: Chúng tôi không biết, có Đại Phạm Vương là Đại Phạm của cõi Ph ạm, là bậc tạo tác-biến hóa, làm cha của tất cả, tự tại sinh ra và nuôi dạy, có đủ uy đức to lớn không có ai sánh bằng, không có điều gì không thấy-không hiểu-không biết, vị ấy chắc chắn có thể biết được, Nhân giả nên đi đến hỏi xem! Tôn giả liền hỏi Đại Phạm ở đâu, Thiên chúng cõi Phạm đáp rằng: Bọn tôi cũng không biết Đại Phạm Thiên Vương chắc chắn ở nơi nào, Nhân giả muốn gặp thì tùy theo nơi chốn cầu tìm kỹ càng, sẽ có ánh sáng phát ra mà hiện rõ ràng trong đó. Tôn giả Mã Thắng liền phát tâm chân thành, nguyện cầu Đại Phạm Vương hiện ra nơi chúng này. Ngay lập tức Đại Phạm liền phát ra ánh sáng, lại t ự mình hóa thân làm hình dạng Đồng tử, phần đầu có năm chỏm, hình dung-tướng mạo đoan nghiêm, ở giữa Thiên chúng cõi Phạm tùy theo ánh sáng mà hiện bày. Tôn giả tiến lên phía trước hỏi rằng: Thưa Đại Ti ên! Đối với bốn Đại chủng vĩnh viễn diệt nơi nào? Phạm vương không hiểu mà cố tình vờ vĩnh nói lung tung: Tỳ kheo nên biết! Ta là Đại Phạm, là người tự tại, người tạo tác-người 540 BỘ TỲ ĐÀM 5 biến hóa, người sinh ra-người nuôi nấng, làm cha của tất cả. Đây là do nịnh bợ, lừa dối mà phát ra ngữ nghiệp. Tôn giả nói cho biết rằng: Tôi không hỏi Nhân giả là Phạm hay không phải phạm…, chỉ hỏi Đại chủng vĩnh viễn diệt nơi nào? Lúc bấy giờ Đại Phạm biết Tỳ kheo này không phải là vờ vĩnh nói lung tung mà có thể trả lời ngay được, liền nắm hai tay dẫn đi ra ngoài Thiên chúng. Đây là do nịnh bợ-lừa dối mà phát ra thân nghiệp. Ra ngoài Thiên chúng rồi, xi n lỗi Tôn giả rằng: Tôi thật sự không biết nơi diệt của Đại chủng, nhưng các Phạm chúng đều cho rằng tôi là người tạo tác tự tại, không có điều gì không thấy biết, nếu ở giữa mọi người mà nói không biết, thì các Phạm chúng sẽ nhìn tôi với ánh mắt khinh miệt, Tôn giả tự mình sai lầm, rời bỏ Như Lai là nơi gần gũi, nhọc công đi xa tìm gặp để hỏi, khiến cho không đạt được điều gì, nay có thể nhanh chóng quay về đến nơi Đức Phật để thưa hỏi, như lời Đức Phật đã nói mà thuận theo thọ trì chính xác! Mã Thắng đã nghe Pha ïm Vương chỉ đến Đức Phật, hoan hỷ cáo lui lại đến tiến vào Đẳng trì, liền dùng tâm Định từ cõi Phạm Thế ẩn đi, chốc lát trở lại hiện ra trong rừng Thệ-đa, từ trong Định mà đứng lên sửa sang y phục, đi đến phía trước Đức Thế Tôn cung kính làm lễ, thưa hỏi về bốn Đại chủng vĩnh viễn diệt nơi nào? Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn nói cho nghe về loài chim không trông thấy bến bờ, rằng: Ông cũng như vậy, mới đi đến cung trời cõi Phạm, tìm hỏi khắp nơi mà không thấy được bến bờ, lại trở về trong này, giống như con chim kia không thấy được bến bờ. Nhưng ông đã hỏi không hợp với nghi thức thưa hỏi, vì vậy mà trả lời cũng trái với lý lẽ trả lời, Ông có muốn hỏi thì nên hỏi như vậy: Bốn Đại cùng với sự ngắn-dài, vi tế-thô thiển-tịnh-bất tịnh. Vĩnh viễn loại bỏ ở nơi nào, gọi là sắc diệt không còn sót? Tùy thuận câu hỏi này nên trả lời như vậy: Thức không thấy được-không giới hạn, tánh rộng lớn trùm khắp nơi. Lại không có gì rộng lớn hơn, có thể làm mất đi tánh này. Bốn Đại cùng với sự ngắn-dài, vi tế-thô thiển-tịnh-bất tịnh, Vĩnh viễn loại bỏ ở nơi này, gọi là sắc diệt không còn sót”. Có người nói: Trong này Đức Phật nói đến Thánh đạo, bởi vì Đức Thế Tôn đối với Thánh đạo mà nói theo thanh Thức. Có người nói: Trong này Đức Phật nói đến Niết-bàn, bởi vì nói đến Thức không thấy được-không giới hạn. Nếu không có Đức Phật xuất thế thuyết giảng Chánh pháp, thì tuy là Phạm Vương mà cũng còn SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 129 541 www.daitangkinh.org nhiều ngu si-mê mờ, nếu Đức Phật xuất thế tuyên thuyết về Chánh pháp, thì Sa di tám tuổi cũng có thể hiểu rõ ràng. Giả sử có người đến hỏi rằng: Trưởng lão biết hay chă ng, đối với bốn Đại chủng vĩnh viễn diệt nơi nào? Nếu người ấy tụng tr ì về phần Đại chủng uẩn, thì nói là dựa vào bốn Định, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt. Nếu thế gian không có Phật thì những điều này sẽ không có, cho nên Đức Phật xuất thế có công đức to lớn. Hỏi: Đối với bốn Đại chủng và sắc sở tạo, dựa vào Định nào mà diệt? Đáp: Dựa vào bốn Định, hoặc là dựa vào vị trí mà diệt. Định có lúc gọi là Đạo, có lúc gọi là Hành tích, có lúc gọi là Đối trị, có lúc gọi là Tác ý, nghĩa không có gì sai biệt. diệt có lúc gọi là Đoạn, có lúc gọi là Ly nhiễm, có lúc gọi là Tận, c ó lúc gọi là Ly hệ, nghĩa cũng không có gì sai biệt. Xưa ở Bộ này có hai Luận Sư: 1. Tên gọi Thời-tỳ-la. 2. Tên gọi Cù-sa-phạt-ma. Tôn giả Thời-tỳ-la đưa ra các h nói như vậy: “trong này chỉ nói vĩnh viễn đoạn là đoạn không sót lại gì, đoạn không có tùy theo ràng buộc, đoạn không có phần ít, đoạn không có hình ảnh-cảnh tượng. Nói Thánh giả đoạn chứ không phải là dị sinh đoạn, nói đến tác dụng của Thánh đạo chứ không phải là tác dụng của đạo thế tục. Nguyên cớ thế nào? bởi vì dựa vào kinh Thất Y để lập ra luận này, kinh ấy chỉ nói đến Địa căn bản, cho nên không có dị sinh; hoặc là các Thánh giả dựa vào Địa căn bản khởi lên đạo thế tục, cho nên có thể lìa nhiễm”. Tôn giả Cù-sa-phạt-ma đưa ra cách nói như vậy: “Trong này chỉ nói vĩnh viễn đoạn là đoạn không sót lại gì, đoạn không có tùy theo ràng buộc, đoạn không có phần ít, đoạn không có hình ảnh-cảnh tượng. Đây là nói thuận theo lý, còn lại thì không như vậy. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì trong này nói chung về các Thánh giả đoạn và dị sinh đoạn, tác dụng của Thánh đạo và tác dụng của đạo thế tục”. Hỏi: Dựa vào Kinh Thất Y để lập ra luận này, kinh ấy chỉ nói đến các Địa căn bản, cho nên không có dị si nh; hoặc là các Thánh giả dựa vào Địa căn bản khởi lên đạo thế tục, cho nên có thể lìa các nhiễm. Nói như thế làm sao thông suốt? Đáp: Vì vậy cho nên nói A-t ỳ-đạt-ma là ánh sáng-ngọn lửa-cây đèn-chiếc gương của các kinh, điều gì trong các Kinh chưa giải thích rộng ra thì trong này giải thoát rộng ra, chưa nêu ra rõ ràng thì trong này 542 BỘ TỲ ĐÀM 5 nêu ra rõ ràng. Kinh nói có cách khác, trong này không có cách gì khác; Kinh nói có ý khác, trong này không có ý gì khác. Trong A-tỳ-đạt-ma nói phần nhiều là hết ý, vì vậy kinh và luận dễ dàng thông suốt cả hai cách nói. Đại chủng-tạo sắc dựa vào bốn Đị nh mà diệt, đó là dựa vào bốn Tĩnh lự; dựa vào vị chí mà diệt, đó là dựa vào ận phần Tĩnh lự thứ nhất, Tĩnh lự trung gian và Cận phần không vô biên xứ. Trong này, Cận phần Tĩnh lự-Vô sắc Tĩnh lự trung gian đều gọi là Vị chí, bởi vì đều chưa có thể tiến vào Địa căn bản thù thắng, mà có thể đoạn phiền não hiện rõ trước mắt. Hỏi: Trong Kinh chỉ nói Căn bản gọi là dựa vào, tại sao trong này nói là dựa vào Vị chí? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Trong này nên nói là dựa vào bốn Định-hoặc là Vị chí mà diệt, không nên nói là dựa vào Vị chí, nhưng nói dựa vào là có ý gì vậy? B ởi vì văn này nói tiếp về Địa căn bản, dựa vào bốn Định là nói bốn pha ùp dựa vào Định; dựa vào vị chí, nghĩa là nêu ra các pháp dựa vào, hiển bày về các Vị chí, không phải là nói Vị chí này làm nơi dựa vào. Như nói đi vào thành hay chưa đi vào thành? Tuy nói tiếp về chữ Thành mà không có sự việc của Thành nào khác, điều ấy cũng như vậy. Có Sư khác nói: Trong này nói dựa vào là nói chung về các Định, không phải là chỉ riêng Ca ên bản, bởi vì đều có thể làm sở y cho đạo. Nhưng bảy pháp dựa vào Định là ngay nơi thù thắng mà nói. Đại chủng- tạo sắc đã ràng buộc năm Địa, đó là cõi Dục và bốn Tĩnh lự, vì vậy lúc lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, mới là đoạn đến cuối cùng. Nhưng lìa nhiễm ấy có lúc dựa vào Cận phần Tĩ nh lự thứ nhất, có lúc dựa vào bốn Tĩnh lự, có lúc dựa vào Tĩnh lự trung gian, có lúc dựa vào cận phần không vô biên xứ. Nếu dựa vào Cận phần không vô biên xứ, thì lúc lìa nhiễm ấy gồm chung Thánh giả và dị sinh, chỉ riêng đạo thế tục chứ không phải là Thánh đạo. Nếu dựa vào Địa khác thì lúc lìa nhiễm ấy, chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dị sinh, chỉ riêng Thánh đạo chứ không phải là đạo thế tục. Trong này nói cuối cùng đã diệt Đại chủng-tạo sắc, đó là sự ràng buộc của Tĩnh lự thứ tư, cho nên nói là dựa vào bốn Định, hoặc là dựa vào vị chí mà diệt. Nếu Đại chủng-tạo sắc đã ràng buộc cõi Dục, thì chỉ nên nói là dựa vào vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất mà diệt. Đại chủng-tạo sắc đã ràng buộc Tĩnh lự thứ nhất, nên nói là dựa vào Định thứ nhất, hoặc là dựa vào vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 129 543 www.daitangkinh.org Tĩnh lự thứ nhất-Tĩnh lự trung gian va ø Cận phần của hai Tĩnh lự trước mà diệt. Đại chủng tạo sắc đã ràng buộc Tĩnh lự thứ hai, nên nói là dựa vào hai Định, hoặc là dựa vào Vị ch í mà diệt, bởi vì dựa vào hai Tĩnh lự -Tĩnh lự trung gian và Cận phần của Tĩnh lự thứ nhất-thứ ba mà diệt. Đại chủng-tạo sắc đã ràng buộc Tĩnh lự thứ ba, nên nói là dựa vào ba Định, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt , bởi vì dựa vào ba Tĩnh lự trước- Tĩnh lư trung gian và cận phần của Tĩnh lử thứ nhất-thứ tư mà diệt. Nên biết trong này các pháp dựa vào ba Tĩnh lự trước và Tĩnh lự trung gian mà diệt, chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dị sinh, chỉ riêng Thánh đạo chứ không phải là đạo thế tục. Các pháp dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất mà diệt, gồm chung Thánh giả và dị sinh, gồm chung Thánh đạo và đạo thế tục. Ca ùc pháp dựa vào cận phần của ba Tĩnh lự còn lại, gồm chung Thánh giả và dị sinh, chỉ riêng đạo thế tục chứ không phải là Thánh đạo, bởi vì bảy Cận phần của địa trên không có Thánh đạo. Hỏi: tầm-Tứ-Hữu đối-Xúc dựa vào Định nào mà diệt? Đáp: Dựa vào Định thứ nhất, hoặc là dựa vào vị chí mà diệt. Dựa vào Định thứ nhất mà diệt, đó là dựa vào Tĩnh lự thứ nhất. Dựa vào Vị chí mà diệt, đó là dựa vào cận phần của hai Tĩnh lự trước mà Tĩnh lự trung gian. Tầm-Tứ-Hữu đối-Xúc đã ràng buộc hai Địa, đó là cõi Dục và Tĩnh lự thứ nhất, vì vậy lúc lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất, mới là đoạn đến cuối cùng. Nhưng lìa nhiễm ấy có lúc dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, có lúc dựa vào Tĩnh lự trung gian, có lúc dựa vào cận phần của hai Tĩnh lự trước. Nếu dựa vào cận phần Tĩnh lự thứ hai, thì lúc lìa nhiễm ấy gồm chung Thánh giả và dị sinh, chỉ ri êng đạo thế tục chứ không phải là Thánh đạo. Nếu dựa vào Địa khác thì lúc lìa nhiễm ấy, chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dĩ sinh, chỉ riêng Thánh đạo chứ không phải là đạo thế tục. Trong này nói cuối cùng đã diệt tầm-Tứ-Hữu đối-Xúc, đó là sự ràng buộc của Tĩnh lự thứ nhất, cho nên nói là dựa vào Định thứ nhất, hoặc là dựa vào vị chí mà diệt. Nếu tầm-Tứ-Hữu đối-Xúc đã ràng buộc cõi Dục, thì chỉ nên nói là dựa vào vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất mà diệt. Ở đây gồm chung Thánh giả và dị sinh, gồm chung Thánh đạo và đạo thế tục. Hỏi: Lạc căn dựa vào Định mà diệt? Đáp: Dựa vào ba Định, hoặc là dự a vào vị chí mà diệt. Dựa vào ba Định mà diệt, đó là dựa vào ba Tĩnh lự trước. Dựa vào vị chí mà diệt, 544 BỘ TỲ ĐÀM 5 đó là dựa vào Cận phần Tĩnh lự t hứ nhất-Tĩnh lự trung gian và Cận phần Tĩnh lự thứ tư. Lạc căn đã ràng buộc ba Địa, đó là cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất và Tĩnh lự thứ ba, vì vậy lú lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, mới là đoạn đến cuối cùng. Nhưng lìa nhiễm ấy có lúc dựa vào ba Tĩnh lự trước, có lúc dựa vào Tĩnh lự trung gian, có lúc dựa vào cận phần của Tĩnh lự thứ nhất và thứ tư. Nếu dựa vào cận phần Tĩnh lự thứ tư thì lúc lìa nhiễm ấy, gồm chung Thánh giả và dị sinh, chỉ riêng đạo thế tục chứ không phải là Thánh đạo. Nếu dựa vào Địa khác thì lúc lìa nhiễm ấy, chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dị sinh, chỉ riêng Thánh đạo chứ không phải là đạo thế tục. Trong này nói cuối cùng đã diệt la ïc căn, đó là sự ràng buộc của Tĩnh lự thứ ba, cho nên nói là dựa vào ba Định, hoặc là dựa vào vị chí mà diệt. Nếu lạc căn đã ràng buộc cõi Dục, thì chỉ nên nói là dựa vào vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất mà diệt. Lạc căn đã ràng buộc Tĩnh lự thứ nhất, nên nói là dựa va øo Định thứ nhất, hoặc là dựa vào vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào Tĩnh lự thứ nhất-Tĩnh lự trung gian và cận phần của hai Tĩnh lự trước mà diệt. Trong này, các pháp dựa vào Tĩnh l ự thứ nhất và Tĩnh lự trong gian mà diệt, chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dị sinh, chỉ riêng Thánh đạo chứ không phải là đạo thế tục. Các pháp dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất mà diệt, gồm chun g Thánh giả và dị sinh, gồm chung Thánh đạo và đạo thế tục. Dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ hai mà diệt, gồm chung Thánh giả và dị sinh, chỉ riêng đạo thế tục chứ không phải là Thánh đạo. Hỏi: Hỷ căn dựa vào Định nào mà diệt? Đáp: Dựa vào hai Định, hoặc là Vị chí mà diệt. Dựa vào hai định mà diệt, đó là dựa vào hai Tĩnh lự tr ước. Dựa vào vị trí mà diệt, đó là dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất-Tĩnh lự trong gian và Cận phần Tĩnh lự thứ ba. Hỷ căn đã ràng buộc ba Địa, đó là cõi Dục và hai Tĩnh lự trước, vì vậy lúc lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai, mới là đoạn đến cuối cùng. Nhưng lìa nhiễm ấy có lúc dựa vào hai Tĩnh lự trước, có lúc dựa vào Tĩnh lự trung gian, có lúc dựa vào Cận phần của Tĩnh lự thứ nhất và thứ ba. Nếu dựa vào cận phần Tĩnh lự thứ ba thì lúc lìa nhiễm ấy, gồm chung Thánh giả và dị sinh, chỉ riêng đạo thế tục chứ không phải là Thánh Đạo. Nếu dựa vào Địa khác thì lúc lìa nhiễ m ấy, chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dị sinh, chỉ riêng Thánh đạo chứ không phải là đạo thế tục. Trong này nói cuối cùng đã diệt Hỷ căn, đó là sự ràng buộc của SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 129 545 www.daitangkinh.org Tĩnh lự thứ hai, cho nên nói là dựa vào hai Định, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt. Nếu Hỷ căn đã ràng buộc cõi Dục, thì chỉ nên nói là dựa vào Vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất mà diệt. Hỷ căn đã ràng buộc Tĩnh lự thứ nhất, nên nói là dựa ca øo Định thứ nhất, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào Tĩnh lự thứ nhất-Tĩnh lự trung gian và Cận phần của hai Tĩnh lự trước mà diệt. Trong này, các pháp dựa vào Tĩnh l ự thứ nhất-Tĩnh lự trung gian mà diệt, chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dị sinh, chỉ riêng Thánh đạo chứ không phải la đạo thế tục. Dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất mà diệt, gồm chung Thánh giả và dị sinh, gồm chung Thánh đạo và đạo thế tục. Dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ hai mà diệt, gồm chung Thánh giả và dị sinh, chỉ riêng đạo thế tục chứ không phải là Thánh đạo. Hỏi: Khổ căn-ưu căn-Đoàn thực dựa vào Định nào mà diệt? Đáp: Dựa vào vị chí mà diệt, đó là Cận phần Tĩnh lự thứ nhất, bởi vì khổ căn... chỉ ràng buộc cõi Dục , vì vậy lúc lìa nhiễm ấy, thì đoạn đến cuối cùng. Nhưng lúc lìa nhiễm ấy, chỉ dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất. Loại này gồm chung Thánh giả va ø dị sinh, gồm chung Thánh đạo và đạo thế tục. Hỏi: Xả căn-xúc-tự-thức thực dựa vào Định nào mà diệt? Đáp: Dựa vào bảy Định, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt. Dựa vào bảy Định mà diệt, đó là dựa vào bốn Tĩ nh lự và ba Vô sắc trước. Dựa vào Vị chí mà diệt, đó là dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất và Tĩnh lự trong gian. Xả căn… này đã ràng buộc chín Địa, đó là từ cõi Dục cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vì vậy lúc lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, mới là đoạn đến cuối cùng. Nhưng lìa nhiễm ấy có lúc dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất, có lúc dựa vào Tĩnh lự trung gian, có lúc dựa vào bốn Tĩnh l ự, có lúc dựa vào ba vô sắc trước. Loại này chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dị sinh, chỉ riêng Thánh đạo chứ không phải là đạo thế tục. Trong này nói cuối cùng đã diệt xa û căn và ba cách ăn, đó là sự ràng buộc của Phi tưởng phi phi t ưởng xứ, cho nên nói là dựa vào bảy Định, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt. Nếu xả căn và ba cách ăn đã ràng buộc cõi Dục, thì nên nói là dựa vào Vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất mà diệt. Xả căn và ba cách ăn đã ràng buộc Tĩnh lự thứ nhất, nên nói là dựa vào Định thứ nhất, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào Tĩnh lự thứ nhất-Tĩnh lự trung gian và Cận phần của hai Tĩnh lự trước mà diệt. Xả căn và ba cách ăn đã ràng buộc Tĩnh 546 BỘ TỲ ĐÀM 5 lự thứ hai, nên nói là dựa vào hai Định, hoặc là dựa vào vị chí Định mà diệt, bởi vì dựa vào hai Tĩnh lự tr ước-Tĩnh lự trung gian và cận phần của Tĩnh lự thứ nhất-thứ ba mà diệt. Xả căn và ba cách ăn đã ràng buộc Tĩnh lự thứ ba, nên nói la ø dựa vào ba Định, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào ba Tĩnh lự trước-Tĩnh lự trung gian và cận phần của Tĩnh lự thứ nhất-thứ tư mà diệt. Xả căn và ba cách ăn đã ràng buộc Tĩnh lự thứ tư, nên nói là dựa vào bốn Định, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào bốn Tĩnh lự- Tĩnh lự trung gian, Cận phần Tĩnh lự thứ nhất-Cận phần không vô biên xứ mà diệt. Xả căn và ba cách ăn của không vô biên xứ, nên nói là dựa vào năm Định, hoặc là dựa vào vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào bốn Tĩ nh lự, không vô biên xứ, Tĩnh lự trong gian, Cận phần Tĩnh lự thứ nhất, Cận phần Thức vô biên xứ mà diệt. Xả căn và ba cách ăn của Thức vô biên xứ, nên nói là dựa vào sáu Định, hoặc là dựa vào Vị chí mà diệt, bởi vì dựa vào bốn Tĩnh lự, hai Vô sắc trước, Tĩnh lự trung gian, cận phần Tĩ nh lự thứ nhất, Cận phần Vô sở hữu xứ mà diệt. Xả căn và ba cách ăn của Vô sở hữu xứ, nên nói là dựa vào bảy Định, hoặc là dựa vào vị ch í mà diệt, bởi vì dựa vào bốn Tĩnh lự, ba Vô sắc trước, Tĩnh lự trung gian, Cận phần Tĩnh lự thứ nhất, cận phần Phi tưởng phi phi tưởng xứ mà diệt. Trong này, các pháp dựa vào bảy Đị nh và Tĩnh lự trung gian mà diệt, chỉ riêng Thánh giả chứ không phải là dị sinh, chỉ riêng Thánh đạo chứ không phải là đạo thế tục. Các pháp dựa vào Cận phần Tĩnh lự thứ nhất mà diệt, gồm chung Thánh gi ả và dị sinh, gồm chung Thánh đạo và đạo thế tục. Các pháp dựa vào Cận phần của bảy Địa trên mà diệt, gồm chung Thánh giả và dị sinh, ch ỉ riêng đạo thế tục chứ không phải là Thánh đạo. Hỏi: Đối với bốn Đại chủng và sắc sở tạo, đã đoạn-đã biết khắp, nên nói là trú ở quả nào? Đáp: Quả A-la-hán, hoặc là không trú quả nào. trú vào quả A-la- hán, nghĩa là Bổ-đặc-la ấy đã đoạn-đã biết khắp Đại chủng-tạo sắc, trú vào quả vô học. Hoặc là không trú quả nào, nghĩa là Bổ-đặc-già-la ấy đã đoạn-đã biết khắp Đại chủng-tạo sắc, mà còn chưa trú vào quả, tức là các dị sinh đã lìa nhiễm cõi sa éc, và trước khi lìa nhiễm ấy tiến vào Chánh tánh ly sinh, trú trong kiến đạo qua mười lăm tâm. Nếu từ từ lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, thì đạo giải thoát là cuối cùng; lìa nhiễm của không vô biên xứ, là các đạo gia hạnh-ch ín đạo vô gián-chín đạo giải thoát; cho đến lìa nhiễm của vô sở hữu xứ, nên biết cũng như vậy. Lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là các đạo gia hạnh-chín đạo vô SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 129 547 www.daitangkinh.org gián-tám đạo giải thoát. Trú trong cá c phần vị này, Bổ-đặc-già-la đã đoạn-đã biết khắp về Đại chủng-tạo sắc, mà vẫn chưa trú vào bốn quả Sa-môn. Hỏi: Trước khi lìa nhiễm cõi Sắc tiến vào Chánh tánh ly sinh, lúc Đạo loại trí hiện khởi đã đoạn-đã biết khắp về Đại chủng-tạo sắc, Bổ- đặc-già-la này trú vào quả bất hoàn, trong này vì sao không nói? Đáp: Nên nói mà không nói đến thì phải biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Trong này dựa vào từ từ từng bước mà nói, đó là nói đến người có đủ ràng buộc tiến vào Chánh tánh ly sinh, chứ không phải là người siêu việt, vì thế cho nên không nói. Hỏi: Tầm-Tứ-Hữu đối-Xúc đã đoạn-đã biết khắp, nên nói là trú ở quả nào? Đáp: Quả A-la-hán, hoặc là không trú quả nào. Trú vào quả A-la- hán, nghĩa là Bổ-đặc-già-la ấy đã đoạn-đã biết khắp về Tầm-Tứ-Hữu đối-Xúc, trú vào quả Vô học. Hoặc là không trú quả nào, nghĩa là Bổ -đặc-già-la ấy đã đoạn-đã biết khắp về Tầm-Tứ-Hữu đối-xúc, mà vẫn chưa trú vào quả, tức là các dị si nh đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất; hoặc là trước khi lìa nhiễm ấy, tiến vào Chánh tánh ly sinh, trú trong kiến đạo khoảng mười lăm tâm. Nếu từ từ từng bước, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất thì cuối cùng là đạo giải thoát; lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai là các đạo gia hạnh-chín đạo vô gián-chín đạo giải thoát; cho đến lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, nên biết cũng như vậy. Lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là các đa ïo gia hạnh-chín đạo vô gián-tám đạo giải thoát. Trú trong các phần vị này, Bổ-đặc-già-la đã đoạn-đã biết khắp về Tầm-Tứ-Hữu đối-Xúc, mà vẫn chưa trú vào bốn quả Sa môn. Hỏi: Trước khi lìa nhiễm của Tĩ nh lự thứ nhất, tiến vào Chánh tánh ly sinh, lúc Đạo loại trí hiện khởi đã đoạn-đã biết khắp về Tầm- Tứ-Hữu đối-Xúc, Bổ-Đặc-Già-la này trú vào qua û Bất hoàn, trong này vì sao không nói? Đáp: Nên nói mà không nói đến thì phải biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Trong này dựa vào từ từ từng bước mà nói. Nói rộng ra như trước. Hỏi: Lạc căn đã đoạn-đã biết khắp, nên nói là trú ở quả nào? đáp: trú vào quả A-la-hán, hoặc là không trú quả nào. trú vào quả A- la-hán, nghĩa là Bổ-đặc-già-la ấy đã đoạn-đã biết khắp về Lạc căn, trú 548 BỘ TỲ ĐÀM 5 vào quả Vô học. Hoặc là không trú quả nào, nghĩa là Bổ-đặc-già-la ấy đã đoạn-đã biết khắp về Lạc căn, mà vẫn chưa trú vào quả, tức là các dị sinh đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba; hoặc là trước khi lìa nhiễm ấy, tiến vào Chánh tánh ly sinh, trú trong Kiến đạo khoảng mười lăm tâm. Nếu từ từ từng bước, lìa nhiễm của Tĩ nh lự thứ ba thì cuối cùng là đạo giải thoát; lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư là các đạo gia hạnh-chín đạo vô gián-chín đạo giải thoát; cho đến lìa nhiễm của vô sở hữu xứ, nên biết cũng như vậy. Lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là các đạo gia hạnh-chín đạo vô gián-tám đạo giải thoát. Trú trong các phần vị này, Bổ-đặc-già-la đã đoạn-đã biết khắp về Lạc că n, mà vẫn chưa trú vào bốn quả Sa-môn. Hỏi: Trước khi lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, tiến vào Chánh tánh ly sinh, lúc Đạo loại trí hiện khởi, lúc bấy giờ đã đoạn-đã biết khắp về lạc căn, Bổ-đặc-gia ø-la này trú vào quả Ba át hoàn, trong này vì sao không nói? Đáp: nên nói mà không nói đến thì phải biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Trong này dựa vào từ từ từng bước mà nói. Nói rộng ra như trước. Hỏi: Hỷ căn đã đoạn-đã biết khắp, nên nói là trú ở quả nào? Đáp: Quả A-la-hán, hoặc la ø không trú quả nào. trú vào quả A- la-hán, nghĩa là Bổ-đặc-già-la ấy đã đoạn-đã biết khắp về Hỷ căn, mà vẫn chưa trú vào quả, tức là các dị sinh đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai; hoặc là trước khi lìa nhiễm ấy, tiến vào Chánh tánh ly sinh, trú trong Kiến đạo khoảng mười lăm tâm. Nếu từ từ từng bước, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai thì cuối cùng là đạo giải thoát; lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, là các đạo gia hạnh-chín đạo vô gián-chín đạo giải thoát; cho đến lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, nên biết cũng như vậy. Lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là các đạo gia hạnh-chín đạo vô gián-tám đạo giải thoát. Trú trong các phần vị na øy, Bổ-đặc-già-la đã đoạn-đã biết khắp về Hỷ căn, mà vẫn chưa trú vào bốn quả Sa-môn. Hỏi: Trước khi lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai, tiến vào Chánh tánh ly sinh, lúc Đạo loại trí hiện khởi, lúc bấy giờ đã đoạn-đã biết khắp về Hỷ căn, Bổ-đặc-già-la này trú vào quả bất hoàn, trong này vì sao không nói? khác. Đáp: Nên nói mà không nói đến thì phải biết là nghĩa này có Có người nói: Trong này dựa vào từ từ từng bước mà nói. Nói rộng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 129 549 www.daitangkinh.org ra như trước. Hỏi: Khổ căn-Ưu căn-Đoàn thực đã đoạn-đã biết khắp, nên nói là trú ở quả nào? Đáp: Quả bất hoàn, hoặc là qua û A-la-hán, hoặc là không trú quả nào. trú vào quả bất hoàn, nghĩa là B ổ-đặc-già-la ấy đã đoạn-đã biết khắp về ba loại như Khổ căn…, rú vào quả thứ ba thuộc về Học. Trú vào quả A-la-hán, nghĩa là Bổ-đặc-g ià-la ấy đã đoạn-đã biết khắp về ba loại như Khổâ căn…, trú vào quả Vô học. Không trú quả nào, nghĩa là Bổ-đặc-già-la ấy đã đoạn-đã biết khắp về ba loại như khổ căn…, mà vẫn chưa trú vào quả, tức là các dị sinh đã lìa nhiễm của cõi Dục; hoặc là trước khi lìa nhiễm ấy, tiến vào Chánh tán h ly sinh, trú trong Kiến đạo khoảng mười lăm tâm. Trú trong các phần vị này, Bổ-đặc-già-la đã đoạn-đã biết khắp về ba loại như Khổ căn… mà vẫn chưa trú vào bốn quả Sa-môn. Trong này không nói đến từ từ từn g bước, các tỳ kheo đem việc này bạch Phật, Phật nói: phần vị gọi là không trú quả nào, bởi vì lìa nhiễm của cõi Dục thì cuối cùng là đạo vô gián sinh khởi; lúc bấy giờ ba loại như Khổ căn… hoàn toàn đoạn hết, l úc cuối cùng là đạo giải thoát, cho nên Bổ-đặc-già-la này chắc chắn trú vào quả bất hoàn. Hỏi: Xả căn-Xúc-Tư-Thức thực đã đoạn-đã biết khắp, nên nói là trú ở quả nào? Đáp: Quả A-la-hán. Trong này không nói đến hoặc là không trú quả nào. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, cuối cùng là đạo vô gián sinh khởi, lúc bấy giờ Xả căn và ba cách ăn hoàn toàn đoạ n hết, lúc cuối cùng là đạo giải thoát, cho nên Bổ-đặc-già-la này chắc chắn trú vào quả A-la-hán. Có Sư khác đối với điều này đưa ra giải thích theo ý khác, nghĩa là điều này ý hỏi về bốn Đại chủng… đã đoạn-đã biết khắp, nên nói là thuộc về quả nào? Vì vậy không nói đến bốn Đại chủng… đã đoạn-đã biết khắp, trú vào quả Bất hoàn, trước lìa nhiễm của cõi Sắc, sau tiến vào Chánh tánh ly sinh, lúc đạo loại trí hiện khởi tuy đạt được quả Bất hoàn, mà lìa ràng buộc ấy không phải là thuộc về quả Bất hoàn, bởi vì quả bất hoàn chỉ thuộc về kiến mà đoạn, và đoạn do tu mà đoạn của cõi Dục, là quả của đoạn. Lời bình: Cách nói trước là hợp l ý. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì trong này chỉ hỏi về Bổ-đặc-già-la đã đoạn-đã biết khắp đối với bốn Đại chủng…, có thể trú vào quả na øo, chứ không hỏi là thuộc về quả nào? 550 BỘ TỲ ĐÀM 5 Trong Kinh nói: “Thực có bốn loại: 1. Đoàn thực. 2. Xúc thực. 3. Ý tư thực. 4. Thức thực”. Thế nào là Đoàn thực? Đó la ø do phần đoạn thô-tế làm duyên, nuôi lớn các căn, tăng thêm Đại c hủng. Thế nào là Xúc-Ý tư-Thức thực? Đó là Xúc-Ý tư-Thức hữu ậu làm duyên, nuôi lớn các căn, tăng thêm Đại chủng. Trong này, nuôi lớn các căn là hi ển bày về nuôi lớn các pháp, tăng thêm Đại chủng là hiển bày về dị thục của các pháp. Hỏi: Các căn cũng có thể tăng t hêm bởi vì có dị thục, Đại chủng cũng có thể nuôi lớn bởi vì có nuôi lớn, tại sao trong này chỉ đưa ra cách nói này? Đáp: Các căn-Đại chủng đều cần phải đưa ra hai cách nói, mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác. Lại nữa, muốn dùng các loại văn từ-các loại giải th ích để hiển bày rõ ràng nghĩa lý khiến cho dể hiểu. Lại nữa, muốn dùng hai môn loại-hai tầng bậc-hai phương thức-hai cách hiểu-hai ngọn đuốc-hai hình ảnh, hai ánh sáng để hiển bày rõ ràng lẫn nhau. Như Căn nói là nuôi lớn, Đại chủng cũng thuộc theo như; như Đại chủng nói là ta êng thêm, Căn cũng thuận theo như vậy. Bởi vì hai môn loại… mô phỏng lẫn nhau, cho nên lý đã nói thông suốt- nghĩa chủ yếu của văn hiển bày. Hỏi: Như nuôi lớn và tăng thêm đã nói, là lớn thêm đối với pháp lớn thêm, hay là lớn thêm đối cới pháp không lớn thêm? Nếu lớn thêm đối với pháp lớn thêm, thì pháp lớn thêm ấy lại lớn thêm gì? Nếu lớn thêm đối với pháp không lớn thêm, thì pháp không lớn thêm làm sao lớn thêm? Đáp: Không phải là lớn thêm đối với pháp lớn thêm, cũng không phải là lớn thêm đối với pháp khôn g lớn thêm. Nhưng pháp lớn thêm- không lớn thêm trước phải trú vào vị lai, nếu gặp duyên lớn thêm thì pháp không lớn thêm sẽ diệt, pháp l ớn thêm sẽ sinh ; nếu gặp duyên không lớn thêm thì pháp lớn thêm sẽ diệt, pháp không lớn thêm sẽ sinh, tuy không có chuyển đổi-tạo tác mà nghĩa cùng tồn tại. Hỏi: Có thể có Xúc-Tư-Thức hữu lậu làm duyên, nuôi lớn các căn, tăng thêm Đại chủng, mà không phải là Thực (ăn-thức ăn) chăng? Đáp: Có, đó là Xúc-Tư-Thức của cõi khác có thể nuôi lớn-tăng thêm các căn và Đại chủng. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 129 551 www.daitangkinh.org Hỏi: Có thể có Xúc-Tư-Thức cùng cõi làm duyên, nuôi lớn các căn, tăng thêm Đại chủng, mà không phải là Thực chăng? Đáp: Có, đó là Xúc-Tư-Thức của địa khác có thể nuôi lớn-tăng thêm các căn và Đại chủng. Hỏi: Có thể có Xúc-Tư-Thức cùng địa làm duyên, nuôi lớn các căn, tăng thêm Đại chủng, mà không phải là Thực chăng? Đáp: Có, đó là Xúc-Tư-Thức vô lậu có thể nuôi lớn-tăng thêm các căn và Đại chủng. Hỏi: Vì sao vô lậu không thiết lập làm Thực? Đáp: Bởi vì các pháp vô lậu không có tướng của Thực. Lại nữa, pháp hiện rõ trước mắt tăng thêm các quả (Hữu), thâu nhiếp tiếp nhận các quả, quản lý giữ gìn các quả, c ó thể nói là Thực; các pháp vô lậu làm cho các quả sút giảm-tổn hại và bị phá hoại, cho nên không nói là Thực. Lại nữa, pháp hiện rõ trước mắt két hợp nôi tiếp các quả, kéo dài thêm lão tử, có thể làm cho sinh tử luân chuyển không cùng tận, có thể nói là Thực; các pháp vô lậu đo ạn dứt các quả, đoạn dứt lão tử, có thể làm cho sinh tử không còn luân chuyển, cho nên không nói là Thực. Lại nữa, pháp hiện rõ trước mắt t ùy thuận khổ-tập, tùy thuận lão tử, có thể làm cho các quả của si nh tử lưu chuyển trong thế gian không ngừng, có thể nói là Thực; các pháp vô lậu tùy thuận Khổ-tập không còn, tùy thuận lão tử không còn, có t hể làm cho các quả của sinh tử không còn lưu chuyển giữa thế gian, cho nên không nói là Thực. Lại nữa, pháp hiện rõ trước mắt là sự c ủa Thân kiến, là sự của điên đảo, là sự của tham ái, là sự của tùy miên, là nơi dừng chân vững vàng của tham-sân-si, có vết bẩn-có chất độc, có xấu xa-có hỗn loạn, có gai góc- có oán thù, do các quả thâu nhiếp, t huộc về Khổ-tập đế, có thể nói là Thực; các pháp vô lậu không phải s ự của Thân kiến, không phải sự của điên đảo, không phải sự của tham ái, không phải sự của tùy miên, không phải nơi dừng chân vững vàng của tham-sân-si, không có bẩn thỉu-không có chất độc, không có xấu xa-không có hỗn loạn, không có gai góc-không có oán thù, không phải là do các quả thâu nhiếp, không thuộc về khổ-tập đế, cho nên không nói là Thực. Vả lại, pháp vô lậu không có thể nuôi lớn các quả đến c uối cùng, tuy tạm thời nuôi lớn nhưng không phải là đến cuối cùng, cho nên không nói là Thực. Tôn giả Diệu Âm cũng đưa ra cách nói này: “Không phải là pháp vô lậu nuôi lớn các quả, tuy tạm thời nuôi lớn mà không phải là đến cuối cùng, hoàn toàn trái ngược v ới quả, cho nên không nói là Thực. Nói là Thực thì hoàn toàn có năng lực nuôi lớn”. 552 BỘ TỲ ĐÀM 5 Hỏi: Thể của Thực là gì? Đáp: là mười sáu sự việc, trong đó mười ba sự là Thể của Đoàn thực, tức là mười một Xúc và Hương-Vị xứ; ba loại Xúc-Tư-Thức là Thể của Thực còn lại, do Uẩn-Giới-Xứ thâu nhiếp, là thâu nhiếp phần ít của mười một Giới-năm xứ-ba uẩn. Mười một Giới, đó là bảy Tâm giới và Hương-Vị-Xúc-Pháp giới; năm Xứ, đó là Hương-Vị-Xúc xứ, Ý xứ-Pháp xứ; ba Uẩn, đó là Sắc-Hành-Thức uẩn. Đó gọi là tánh tướng-ngã vật-tự Thể của bốn Thực. Đã nói về tự Thể, nay sẽ nói đến nguyên cớ. Hỏi: Vì sao gọi là Thực, Thực là nghĩa gì? Đáp: nghĩa về dẫn đến quả là nghĩa của Thực; nghĩa về nối tiếp quả, nghĩa về duy trì quả, nghĩa về phát sinh quả, nghĩa về nuôi giữ quả, nghĩa về tăng thêm quả, là nghĩa của T hực. Bốn loại này đối với quả luôn dẫn dắt, cho đến luôn luôn tăng thêm, cho nên gọi là Thực. Hỏi: Nếu dẫn dắt quả… cho đến tăng thêm quả, là nghĩa của Thực, thì các pháp hữu lậu đều phải gọi là Thực, vì sao chỉ nói bốn loại? Đáp: Hiếp Tôn giả nói: “Chỉ riêng Phật Thế Tôn hoàn toàn hiểu rõ ràng về tánh tướng của các pháp, cũng biết rõ về thế dụng, không phải là người khác có thể biết được . Nếu pháp có tác dụng-tướng của Thực, có thể thiết lập làm Thực thì sẽ thiết lập; không có thì không thiết lập”. Tôn giả Thế Hữu đưa ra nói như vậy: “Đây là Đức Thế Tôn nói có cách khác, nói tóm lượt-nói phỏng theo, nói có quán xét chờ đợi, bởi vì Đức Phật quán cơ duyên giáo hóa thích hợp mà thuyết pháp”. Tôn giả Diệu Âm nói rằng: “Đức Phật biết rõ về thể dụng-Thể tướng của bốn loại này dẫn dắt quả-nối tiếp quả-duy trì quả-phát sinh quả-nuôi giữ quả-tăng thêm quả, mạnh mẽ và gần gũi cho nên thiết lập làm thực; pháp khác thì không như vậy, cho nên không nói là Thực”. Có Sư khác nói: Bốn pháp như vậy rất có năng l ực nuôi lớn các Giới hướng đến sinh lão tử của thế gian làm cho lưu chuyển không ngừng, cho nên thiết lập làm Thực; pháp khác thì không như vậy. Hoặc có người nói: Thực có hai tướng: 1. Dẫn dắt quả tương lai làm cho hiện rõ ở trước mắt. 2. Duy trì quả hiện tại làm cho nối tiếp nhau tồn tại. Có Sư khác nói: Thực có ba loại: 1. Thực thuộc về nghiệp. 2. Thực thuộc về sinh. 3. Thực thuộc về nuôi lớn. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 129 553 www.daitangkinh.org Thực thuộc về nghiệp gọi là Tư, thực thuộc về sinh gọi là Thức, thực thuộc về nuôi lớn gọi là Đoàn và Xúc. 554 BỘ TỲ ĐÀM 5 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt