VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 129Quyển 131 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 130

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

問如是四食。幾牽當有令現在前。幾持今
有令相續住。有作是說。一牽當有令現

在前。謂意思食。三持今有令相續住。謂餘
三食。或有說者。二牽當有。謂意思識。二持
今有謂餘二食。有餘師說。三牽當有。謂觸
思識。一持今有。所謂段食。如是說者。四食盡
牽當有令現在前。盡持今有令相續住。
問諸食於有。幾未生令生幾生已長養。有
作是說。諸食於有。一未生令生。謂意思食。
三生已長養。謂餘三食。復有說者。二未生令
生。謂意思識。二生已長養。謂餘二食。有餘
師說。三未生令生。謂觸思識。一生已長養。
所謂段食。如是說者四食於有。皆未生令
生生已長養。問何食於何法食事偏增。答
段食養色根大種勝故。於色根大種食事
偏增。觸食養心心所勝故。於心心所食事
偏增。思食養後有勝故。於諸後有食事偏
增。識食養名色勝故。於諸名色食事偏增
問如說牽有義是食義等。此言為是因義。是
緣義耶。設爾何失。二俱有過若是因義者。外
香味觸於內諸處五因皆無。云何為食。若
是緣義者除內自性。餘法皆是此增上緣。何
故但說四種為食。有說。是因義。問若爾外
香味觸於內諸處五因皆無。云何為食。答
外香味觸為覺發因。令內香等得成食事。
內香味觸於內諸處。有因義故說之為食。
謂眼唯以觸處為食。耳鼻舌身色聲亦爾。
香用香處觸處為食。味以味處觸處為食。
觸處唯以觸處為食。心心所法三食為食。
此中因義如理應思。有說。是緣義。問若爾
除內自性。餘法皆是此增上緣。何故但說四

種為食。答於內諸處增上緣法。有親有疎。
有近有遠。有合不合。有在此生。有在餘
生。諸親近合。在此生者。說之為食。疎遠不
合在餘生者不說為食。故食唯四。此四皆
於內十二處能為食事。然有增微如前所
說。
問何故色處不立為食。有作是說。無食相
故。有說。色處取時麁重若於取時細輕者
名食。要微細輕滋養身故。有說。色處不至
而取。食唯至取。非身不合成食事故。有說。
色處至變壞位食事方成。謂水所浸爛。火
所熟變。風所動搖。然後方成食。所作事非
色未變。得名為食。故色非食香等不爾。
有餘師言。若色是食。眼見色時應除飢渴。
若然施主所費則為唐捐。有餘復言。若色是
食。諸出家者眼見色時應犯遠離非時食
法。或有說者。若色是食則色界天應受段
食取諸色故。當知後三所說乖理。香觸亦
有如斯過故。應知前四所說者好。問若色
非食經云何通。如世尊言。長者汝所施食。
色香味具甚為妙好。答色雖非食。為欲發
起施主思故佛作是說。謂佛讚美所施食
時。施主便發殊勝思願。快哉如來讚受我食。
我當必獲殊勝福利。問若讚色具色非食
者。亦讚香等俱應非食。彼既是食此亦應
然。答佛於此中不欲簡別是食非食。但
欲發起施主思願說此契經。若此讚說即
是食者觸非所讚便應非食。
問段食是何義。答分段而食故名段食。問若

爾所飲吮等非段食耶。答從多分說是故
無過。復有說者。飲吮等時亦作分段。有餘
師言。從初而說。謂劫初時人受用地味。皆
作分段而吞噉之因名段食。
問佛說段食。有麁有細云何應知麁細差
別。答集異門說。段食麁細互相觀待而可了
知。謂水族中小為大食。傳相觀待麁細得
成。如底民耆羅耆羅所食是麁。底民耆羅
所食為細。底民耆羅所食是麁。底民所食為
細。底民所食是麁。大魚龜鼈及末羯羅失
獸摩羅等所食為細。大魚鼈等所食是麁。餘
水行虫所食為細。諸陸族中象馬駝等所食
是麁。羊鹿猪等所食為細。羊鹿猪等所食是
麁。兔猫狸等所食為細。兔猫狸等所食是麁。
餘陸行虫所食為細。空行族中諸妙翅鳥所
食是麁。鵝雁孔雀鸚鵡舍利命命鳥等所食
為細。鵝雁孔雀等所食是麁。餘空行類所食
為細。有作是說。若諸有情以草木等而為
食者所食是麁。以餅飯等而為食者所食
是細。有餘師說。以餅飯等而為食者所食
是麁。以酥油等而為食者所食是細。有餘
復說。面門吞噉諸食是麁。臍毛孔入諸食
為細。謂胎藏中諸有情類食從臍入。唯諸菩
薩食從一切毛孔而入。有作是言。若食噉
已有等流者此食是麁。無等流者此食為
細。如蘇陀味香為食等。
問觸思識食有麁細不。若有者何故契經唯
說段食有麁細。若無者何故段食有麁細
非餘耶。答觸思識食亦有麁細。界地相待

故。謂欲界是麁色界為細。色界是麁。無色
界為細。初靜慮是麁。第二靜慮為細。乃至
無所有處是麁。非想非非想處為細。問若爾
何故契經不說。答應說而不說者當知此
義有餘。有說。契經舉初顯後。已說段食有
麁細當知餘食亦有麁細有說。段食由四
因緣。有多少故麁細可知。餘食不爾。一追
求故。二積集故。三受用故。四等流故。追求故
者。謂諸有情追求段食。有多有少。所求多
者是麁所求少者為細。積集故者。謂諸有
情積集段食有多有少所集多者是麁所
集少者是細。受用故者。謂諸有情受用段食
有多有少。所受多者是麁所受少者是細。
等流故者。謂諸有情段食等流有多有少。等
流多者所食是麁等流少者所食是細。有說。
段食觀待諸處可說麁細餘食不爾。謂香
味觸觀待色聲可說為細。觀待意法可說
為麁觸思識三意法處攝。此於諸處唯細
非麁無異觀待不說麁細。
問於何界有幾食。答欲界具四段食偏增。
色界有三。觸食偏增。無色亦三。下三無色思
食偏增。非想非非想處識食偏增。有說。非想
非非想處亦思食增。一思能感八十千劫壽
量果故。問於何趣有幾食。答地獄具四。識
食偏增。問地獄之中有何段食。答飲鎔銅
汁。吞熱鐵丸。以為段食。問夫為食者有所
滋益。此物入身燒脣舌㗁咽喉胸腹。從下
出已焰赫轉增舉身燋然。云何名食。答雖為
燒惱而有食相。初入身時暫除飢渴故。傍

生具四。隨一偏增。種類處所有差別故。鬼
趣具四。思食偏增。曾聞一時尊者滿願為乞
食故。將入布色羯邏伐底城。於城門前忽
然見一老餓鬼女。問言汝今何為住此鬼女
反問尊見我耶。尊答如是。鬼女便曰。我夫
入城希此城中有長者等癰腫潰爛。當因
擠搦收取膿血還共食之。為是我今於此
住待。復問汝夫入來久近。鬼女答曰。飢渴所
迷不憶我夫入城久近。然唯記此城邊大
河。七移城南七移城北。于今未還。尊者愍
傷悒然捨去。如是鬼女飢渴多時。希望所持
身相續住。故知鬼趣思食偏增。人及欲天皆
具四食。然彼種類段食偏增。色無色天如界
中說。
問於何生有幾食。答卵生具四。觸食偏增。
有說思食增。云何知然。如集異門說。海中
有獸時出海濱。於沙潬中產生諸卵。以沙
埋覆還入海中。彼在卵㲉。憶念母故身不
爛壞。謂憶念母先孚煖時所有觸故。若忘
其母身便爛壞。有餘師說。若母憶念卵中
子者卵則不壞。母若忘之彼卵便壞。此不
應理。所以者何。勿以他食能持自命。是
故前說於理為善。胎生具四。段食偏增。濕
生具四。觸食偏增。化生具四。隨一偏增。種
類處所有差別故。
所說食聲有二差別。一世俗。二勝義。世俗者
如世間言。有殘食瓶無殘食瓶。又如世間
說城邑食。所謂此食出吉祥城此食出呾
叉翅羅城。此食出奢羯羅城。此食出寂靜

宮。如是等又如讚者說諸食名。謂剌雉多
食。牟地多食。佛所讚食。四方食等。又如經
說。順食逆食。言順食者。如世尊言。苾芻當
知一切有食。謂天暴雨其滴洪澍諸山。谿
谷最先盈滿。谿谷滿已小溝㵎滿。小溝㵎滿
已。大溝㵎滿。大溝㵎滿已。小江河滿。小江河
滿已。大江河滿。大江河滿已。大海盈滿。言
逆食者。如世尊言。苾芻當知一切有食。大
海有食。謂大江河。大江河有食。謂小江河
小江河有食。謂大溝㵎。大溝㵎有食。謂小
溝㵎。小溝㵎有食。所謂谿谷。谿谷有食。謂
天暴雨。勝義食者。謂此四食真實資益諸有
情故。
問諸段皆食耶。答應作四句。有段非食。謂
以段為緣。不能長益諸根大種。有食非
段謂。以觸思識為緣。而能長益諸根大種。
有段亦食。謂以段為緣。而能長益諸根大
種。有非段非食。謂以觸思識為緣。不能
長益諸根大種。如段食有四句。如是識思
觸食各有四句。皆應廣說。如是差別成十
六句。問不能長益諸根大種便非食耶。答
如是。所以者何。前說長益是食相故。問今
現見有食已痛逼。乃至或令捨於身擔。云
何長益是食相耶。答雖所飲食有損有益。
但今說食謂益非損。益有二時。一初食時。
二消化時。或有消化時損。初食時益。如食
美毒此亦名食或有初食時損。消化時益。
如服苦藥此亦名食。由此二種隨於一
時作食事故。皆得名食。故說長益名為

食相。有說彼類食已初雖不安。後變吐時
還能為益。故先所說食自相成。經說苾芻如
是四食。能令部多有情安住。及能攝益求
有有情。問此經所說部多求有二種有情云
何差別。答住本有名部多。住中有名求
有。於六處門求當有故。有說聖名部多。
異生名求有。彼類多求當來有故。有說。無
學名部多。學名求有。彼容希求當來有故。
問部多有情亦可攝益。求有有情亦可安住。
如何但說能令部多有情安住。及能攝益求
有有情。答此契經文俱應作二種說。而不
說者當知此義有餘。有說。此中欲以種種
文種種說莊嚴於義令易解故。有說。此中
欲現二門二略。乃至廣說。有說。本有安住
最經多時。聖與無學求暫安住。於此義顯
說安住言。餘不如是不說安住。
經說苾芻如是四食。是眾病本。是癰瘡本。是
毒箭本。是老死因。是老死緣。問食亦能為安
樂根本。如世尊說。道依資糧涅槃依道。由
道樂故得樂涅槃。道之資糧食為上首。何
故說是病等本耶。答為止有情段食欲故。
彼由貪食起諸惡行招感劇苦。是故世尊
作如是說。設諸段食唯現樂因。智者尚應
不生耽嗜。以起惡業招當苦故。況為現
身眾病本等。是故智者不應染著。佛為此
故說是契經。
經說苾芻應觀段食如曠野子肉。應觀觸
食如新剝皮牛。應觀思食如火坑炎炭。應
觀識食如三百利鉾。問云何苾芻應觀段

食如曠野子肉。答譬如夫妻唯有一子。面
貌端正憐愛情深。值國飢荒欲詣他土。行
至曠野遂絕糇糧。前路尚遙不食數日。皆
困將死。其夫竊念。路遠糧絕命在須臾。我等
三人理不俱濟。豈得相守俱喪。此中今若一
人充食。則死一存二猶勝俱亡。若以我供
慮妻志渜悲恨自絕不能出難。若以妻
供恐兒失母亦不存活。便為兩失。然所愛
子我等所生。夫妻若存子容可得。宜捨子
命度茲曠野。作是念已悲不自勝。妻便怪
之前問其故。夫乃具以所念告之。妻聞哽
咽悶絕擗地。良久乃穌號哭呼天稱冤酷
毒夫乃徐喻久而許之。於是夫妻抱子嗚唼。
失聲悲叫何期苦哉。涕咽多時乃盡子命。破
析為脯充路資糧。每欲食時夫妻相哭。稱
言子子雨淚而食。食已嗟惋自責自咎。然彼
夫妻自初籌議。乃至食已隨路行時。曾無歡
情唯念愛子。如是行者住空閑處。終不
放逸正思惟妻。生一可愛妙善法子。心常
念之初無捨離。厭生死境趣涅槃方。於長
時修資緣匱乏。為持聖道所依苦身。捨所
專修入城乞食。與不放逸正思惟俱。自捨
空閑乃至食已。曾無染著歡樂之心。唯念
所捨專修之法。苾芻如是於段食中。應觀
如前曠野子肉。若於段食已斷遍知者。於
五欲愛亦斷遍知。同一制伏一對治故。若五
欲愛已斷遍知。則無一結未斷遍知。能繫
縛彼還生欲界。此依離欲愛得不還果。順
下分結盡密意而說。問云何苾芻應觀觸食

如新剝皮牛。答假如其牛有過於主。欲令
苦故生剝去皮。其牛爾時以無皮故。隨所
住止若地若空。所有諸虫競來唼食。為去
虫故揩觸蕃籬草木壁等轉增苦痛。彼牛
爾時寧有少樂。觸與未觸皆受大苦。如是
諸有寧有少樂。生與未生無不皆苦。苾芻
如是應觀觸食。猶如所說新剝皮牛。若
於觸食已斷遍知者。便於三受亦斷遍知。
諸受以觸為緣生故。如經言觸緣受。若
於三受已斷遍知。則所作已辦故應思擇
求斷觸食。此依越有頂得阿羅漢果。一切
結盡密意而說。
云何苾芻應觀思食如火坑焰炭。答如近
城邑有大火坑。無焰無煙焰炭盈滿。有不
愚稚非騃智人見已念言。此大火坑焰炭盈
滿。我若墮者必死無疑。作是念已便起思
願。求欲遠之即便捨去。諸有癡幼頑無智人
見已念言。此坑之中紅赫可愛。便即投趣受
苦命終。如彼智者見大火坑怖而遠避。如
是諸聖於後有思深生厭捨。如無智者投
大火坑受苦喪命。如是異生起後有思。受
無邊苦失於慧命。苾芻如是應觀思食。如
上所說焰炭火坑。若於思食已斷遍知者。
便於三愛亦斷遍知。以彼三愛是起因故。
如契經說。業為因故生。愛為因故起。若於
三愛已斷遍知。則所作已辦故應思擇求斷
思食。此亦依越有頂得阿羅漢果一切結
盡密意而說。
問云何苾芻應觀識食如三百利鉾。答假

如有人於日初分被百鉾𥎞。日中分時亦
百鉾𥎞。於日後分亦百鉾𥎞。如是日日受
三百鉾。乃至盡壽。其人爾時舉體皆瘡。無
少完全如芥子許。如是行者於日日中。恒
為三百異境所引。如利鉾心於所專修。而
為侵害乃至盡壽。令所修習多諸瘡疣。苾
芻如是應觀識食。如上所說三百利鉾。若
於識食已斷遍知者。則於名色亦斷遍知。
以識是彼名色緣故。如契經說識緣名色。
若於名色已斷遍知。則所作已辦故應思擇
求斷識食。此依越有頂得阿羅漢果一切
結盡密意而說。
問餘食亦如三百鉾不。若亦如三百鉾者。
何故但說觀識食耶。若不如三百鉾者。何
故唯識食如三百鉾非餘食耶。答餘食亦
應如三百鉾。如以此觀識食。亦應以此
觀餘三食。而契經但說觀識食者。當知此
是有餘之說。有說。此經示最後邊。顯前所
說諸食亦爾。有餘師言。心性剛強最難調
伏。佛為呵責以三百鉾而為譬喻。餘食自
以餘門說喻。有說此經隨顯勝說。是故無
過。前三喻中理有通者皆以此釋。如契經
說。此吠羅摩婆羅門。以如是諸妙飲食。布
施摩訶娑羅婆羅門眾。有以飲食布施贍
部林中異生。此獲施福果大於彼。問此契
經中為說何等。名為贍部林中異生。有作
是說。贍部洲中諸有腹者皆此所說。有說。諸
有外仙已離欲染是此所說。有言此是近佛
菩薩。理不應然。諸有布施近佛菩薩所獲

施福。勝施俱胝阿羅漢眾。如是說者。此說
已得順決擇分善根異生。其德勝彼婆羅門
故。此經復言。若以飲食布施贍部林中異
生。有以飲食施一預流。此獲施福果大於
彼。由此已斷諸惡見故。三結盡故。離見所
斷惡趣因故。作有邊際故。得預流果故。此
經復言。若以飲食施百預流。有以飲食
施一一來。此獲施福果大於彼。離修所斷
惡趣因故。薄貪嗔癡故。得一來果故。此經
復言。若以飲食施百一來。有以飲食施
一不還。此獲施福果大於彼。由此已斷順
下分結故。越欲界生故。得不還果故。此經
復言。若以飲食施百不還。有以飲食施
一阿羅漢。此獲施福果大於彼。由此已斷
一切結故。越有頂生故。得阿羅漢果故。此
經復言。若以飲食施百阿羅漢。有以飲食
施一獨覺。此獲施福果大於彼。自能覺故。
此經復言。若以飲食施百獨覺。有以飲食
施一如來。此獲施福果大於彼。自能遍覺
故。亦能覺他故。此經復言。若以飲食奉施
如來。有造僧伽藍施四方僧眾。此獲施福
果大於彼。以僧伽藍無障礙故。問施佛功
德勝於施僧。此中施福皆先舉劣後舉其
勝。何故此中先佛後僧。答即以是故先佛後
僧。所以者何。若聲聞僧便不攝佛。若四方
僧則亦攝佛。是福田僧苾芻僧故。若唯施佛
但佛應受。僧眾不受故福為劣。若施僧眾。
僧眾與佛俱應納受故福為勝。無障礙故。
獲福無限故。雖所舉先佛後僧。而猶得名

先劣後勝。
問所得果勝亦由勝思。何故世尊唯讚田勝。
答世尊所化有二差別。一信慧具足。二有信
無慧。於信慧具佛不讚田。彼自能知田非
田故。於信無慧佛則讚田。彼不能知田
非田故。然彼施果。或有欲令思勝故勝。或
有欲令田勝故勝。而實果勝俱由二種。由
此得成四句差別。謂有由田不由思勝。
或有由思不由田勝。或有俱由二種故
勝。或由二種俱劣故劣。問佛施舍利子。舍
利子施佛。此二施福何者為多。答諸有欲
令果由思勝者。彼說佛施福多。以佛施
思於現前位。舍利子等尚不能知。何況能
及。諸有欲令果由田勝者。彼說舍利子施
福多。以佛福田三界中最勝故。
問預流果向為可施不。若可施者。前經何故
不說。若不可施餘經所說復云何通。如說。
四向與四果是真福田僧
具戒慧等持施者獲大果
有說可施。謂衣服等非諸飲食。問若可施
者。前經何故不說。答前所引經說施飲食。
非衣服等是故不說。有說。此向亦可施食。
但有攝取而無受用。謂毘呵羅中有入見
道者。餘人為受所施食分。或將食時有入
見道。施主以食置其膝上。或復安置曼荼
羅中。問前所引經何故不說。答彼經唯說能
受用者。此據攝取故不相違。有餘師言。此
向不可施是故前經不說。問若爾者所引經
頌當云何通。答彼頌欲顯補特伽羅由道

差別成福田義。謂顯成就無漏道者施獲
大果名真福田。不說爾時能受他施。前問
可施不可施者。意問能受不能受故。

Việt dịch

QUYỂN 130

LUẬN VỀ ĐẠI TẠO (Phần 4)

Hỏi: Bốn Thực như vậy, mấy loại dẫn dắt quả tương lai làm cho
hiện rõ ở trước mắt, mấy loại duy trì quả hiện tại làm cho nối tiếp nhau
tồn tại?
Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Một loại dẫn dắt quả tương lai
làm cho hiện rõ ở trước mắt, đó là Ý tư thực; ba loại duy trì quả hiện tại
làm cho nối tiếp nhau tồn tại, đó là ba loại Thực còn lại.
Hoặc có người nói: Hai loại dẫn da ét quả tương lai, đó là Ý tư và
Thức; hai loại duy trì quả hiện tại, đó là hai loại Thực còn lại.
Có Sư khác nói: Ba loại dẫn dắt  quả tương lai, đó là Xúc-Tư và
Thức; một loại duy trì quả hiện tại, đó gọi là Đoàn thực.
Nói như vậy thì bốn loại Thực đều dẫn dắt quả tương lai làm cho
hiện rõ ở trước mắt, đều duy trì quả hiện tại làm cho nối tiếp nhau tồn
tại.
Hỏi: Các loại Thực đối với qua û, mấy loại chưa sinh khiến cho
sinh, mấy loại sinh rồi nuôi lớn?
Đáp: Có người đưa ra cách nói này:  Các loại Thực đối với quả,
một loại chưa sinh khiến cho sinh, đó là Ý tư thực; ba loại sinh rồi nuôi
lớn, đó là ba loại Thực còn lại.
Lại có người nói: Hai loại chưa sinh khiến cho sinh, đó là Ý tư và
Thức; hai loại sinh rồi nuôi lớn, đó là hai loại Thực còn lại.
Có Sư khác nói: Ba loại chưa sinh khiến cho sinh, đó là Xúc-Tư và
Thức; một loại sinh rồi nuôi lớn, đó gọi là Đoàn thực.
Nói như vậy là bốn loại Thực đối với quả, đều là chưa sinh khiến
cho sinh, sinh rồi nuôi lớn.
Hỏi: Loại Thực nào đối với pháp nào chỉ tăng về sự của Thực?
Đáp: Đoàn thực nuôi giữ Đại chủng của Sắc căn mạnh hơn,   cho
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 130 555  
www.daitangkinh.org  
nên chỉ tăng về sự Thực đối với Đại chủng của Sắc căn. Xúc thực nuôi
giữ tâm-tâm sở mạnh hơn, cho nên chỉ tăng về sự Thực đối với tâm-tâm
sở. Tư thực nuôi giữ thân tâm đời sau mạnh hơn, cho nên chỉ tăng về sự
Thực đối với các thân tâm đời sau. Thức thực nuôi giữ Danh sắc mạnh
hơn, cho nên chỉ tăng về sự Thực đối với các Danh sắc.
Hỏi: Như nói nghĩa về dẫn đến quả là nghĩa của Thực…, đây là nói
đến nghĩa của nhân, hay là nghĩa của duyên? Giả sử như vậy thì có gìø
sai? Cả hai đều có sai lầm. Nếu la ø nghĩa của nhân, thì Hương-Vị-Xúc
bên ngoài đối với các Xứ bên trong, năm nhân đều không có, thế nào
là Thực? Nếu là nghĩa của duyên thì trừ ra tự tánh bên trong, pháp còn
lại đều là duyên tăng thượng của pháp này, vì sao chỉ nói bốn loại là
Thực?
Đáp: Có người nói: Là nghĩa của nhân.
Hỏi: Nếu như vậy thì Hương-Vị-Xúc  bên ngoài đối với các Xứ
bên trong, năm nhân đều không có, sao nói là Thực?
Đáp: Hương-Vị-Xúc bên ngoài la øm nhân phát giác, khiến cho
Hương… bên trong được trở thành sự việc của Thực. Hương-Vị-Xúc bên
trong đối với các Xứ bên trong, có nghĩa của nhân cho nên nói là Thực,
nghĩa là nhãn chỉ dùng Xúc xứ làm T hực, nhĩ-tỷ-thiệt-thân-sắc-thanh
cũng như vậy; hương dùng Hương xứ-Xúc xứ làm Thực, vị dùng vị xứ-
Xúc xứ làm Thực, Xúc xứ chỉ dùng Xuc xứ làm Thực, tâm-tâm sở pháp
dùng ba loại Thực làm thực (thức ăn). Trong này, nghĩa của nhân đúng
như lý nên suy nghĩ! Có người nói: là nghĩa của duyên.
Hỏi: Nếu như vậy thì trừ ra tự tánh bên trong, pháp còn lại đều là
duyên tăng thượng của pháp này, vì sao chỉ nói bốn loại là Thực?
Đáp: Đối với các xứ bên trong pháp làm duyên tăng thượng có
đậm-có nhạt, có gần-có xa, có hợp-không hợp, có ở đời này-có ở đời
khác. Các pháp đậm-gần-hợp ở đời na øy thì nói đó là Thực, nhạt-xa-
không hợp-ở đời khác thì không nói là Thực, cho nên Thực chỉ có bốn
loại.
Bốn loại này đều có thể làm sự thực đối với mười  hai xứ bên
trong, nhưng có tăng tên vi tế như trước đã nói.
Hỏi: Vì sao Sắc xứ không thiết lập làm Thực?
Đáp: Có người đưa ra cách nói na øy: Bởi vì không có tướng của
Thực.
Có người nói: Sắc xứ chọn lấy lúc thô thiển nặng nề, nếu vào
lúc chọn lấy mà vi tế nhẹ nhàng thì gọi là Thực, bởi vì cần phải vi tế
chuyển sang nuôi dưỡng cho thân. Có người nói: Sắc xứ không đến mà
556 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
chọn lấy, Thực chỉ đến chọn lấy, bởi vì không phải là thân không hợp
mà thành sự Thực.
Có người nói: Sắc xứ đến giai đoa ïn biến hoại thì sự Thực mới
thành, nghĩa là do nước mà thấm nhừ, do lửa mà chín muồi, do gió mà
lay động, sau đó mới thành thức ăn. S ự việc đã làm không phải là sắc
chưa biến đổi mà có thể gọi là thức ăn, cho nên sắc không phải là thức
ăn; hương-vị… thì không như vậy.
Có Sư khác nói: Nếu sắc là thức ăn, thì lúc mắt trông thấy sắc lẽ
ra phải trừ hết đói khát, nếu như vậy th ì sự hao tốn của thí chủ sẽ trở
thành trống rỗng.
Có người khác lại nói: Nếu sắc  là thức ăn, thì những người xuất
gia vào lúc mắt trông thấy sắc sẽ phạm đến pháp lìa xa ăn không đúng
bữa.
Hoặc có người nói: Nếu sắc là thức ăn thì chư Thiên cõi Sắc phải
tiếp nhận Đoàn thực, bởi vì giữ lấy các sắc.
Nên biết rằng ba cách nói sau la ø trái với lý, bởi vì Hương-Xúc
cũng có lỗi như vậy. Cần phải biết rằng bốn cách nói trước là hợp lý.
Hỏi: Nếu sắc không phải là hức ăn thì Kinh nói làm sao thông
hiểu? Như Đức Thế Tôn nói: “Na øy Trưởng giả! Thức ăn mà ông đã
cúng dường, sắc-hương-vị đầy đủ thật là ngon lành tuyệt với”.
Đáp: Sắc tuy không phải là thức ăn, nhưng vì muốn phát khởi suy
nghĩ của thí chủ, cho nên Đức Phật đưa ra cách nói như thế. Nghĩa là lúc
Đức Phật khen ngợi thức ăn đã cúng dường, thì thí chủ liền phát khởi
suy nghĩ mong muốn thù thắng: S ung sướng thay! Đức Như Lai khen
ngợi thọ nhận thức ăn của mình cúng dường, mình sẽ nhất định có được
phước thiện-lợi ích thù thắng.
Hỏi: Nếu khen ngợi sắc đầy đủ mà sắc không phải là thức ăn, thì
cũng khen ngợi hương-vị… lẽ ra đều không pha ûi là thức ăn, pháp kia đã
là thức ăn thì pháp này cũng phải như vậy?
Đáp: Đức Phật từ trong này không muốn lựa chọn sai khác giữa
thức ăn hay không phải là thức ăn, chỉ muốn phát khởi suy nghĩ mong
muốn của thí chủ, cho nên nói Kinh này. Nếu nói lời khen ngợi này tức
là thức ăn, thì Xúc không phải là đã khen ngợi, lẽ ra không phải là thức
ăn.
Hỏi: Đoàn thực à nghĩa gì?
Đáp: Phân thành từng đoạn mà ăn, cho nên gọi là Đoàn thực.
Hỏi: Nếu như vậy thì sự uống-hú t… không phải là Đoàn thực
chăng?
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 130 557  
www.daitangkinh.org  
Đáp: Thuận theo phần nhiều mà nói, cho nên không có lỗi. Lại có
người nói: Lúc uống-hút… cũng làm th ành phần đoạn. Có Sư khác nói:
Thuận theo ban đầu mà nói, nghĩa là l úc bắt đầu của kiếp, con người
thọ dụng chất liệu của đất, tất cả đều làm ra phần đoạn mà nuốt ăn, vì
vậy gọi là Đoàn thực.
Hỏi: Đức Phật nói về Đoàn thực có thô-có tế, sự sai biệt của thô-
tế nên biết thế nào?
Đáp: Trong luận Tập Dị Môn nói: “Sự thô-tế của Đoàn thực quán
xét đối đãi lẫn nhau mà có thể biết  rõ ràng. Nghĩa là trong loài sống
dưới nước thì loài nhỏ làm thức ăn của loài lớn, quán xét đối đãi nhau thì
thô-tế có thể rõ ràng. Như thức ăn của loài Để-dân-kỳ-la là thô, thức ăn
của loài Để-dân-kỳ-la là tế; thức ăn của loài Để-dân-kỳ-la là thô, thức
ăn của loài Để-dân là tế; thức ăn của loài Để-dân là thô, thức ăn của
loài cá lớn-rùa-ba ba và mạt-yết-la, Thất-thú-ma-la là tế; thức ăn của
loài cá lớn-rùa-ba ba…là thô, thức ăn của loài côn trùng sống trong nước
là tế. Trong cá loài sống trên mặt đất thì thức ăn của loài voi-ngựa… là
thô, thức ăn của loài hươu-dê… là tế;  thức ăn của loài hươu-dê… là thô,
thức ăn của loài thỏ-mèo… là tế; t hức ăn của loài thỏ-mèo là thô, thức
ăn của loài côn trùng sống trên mặt đất là tế. Trong các loài sống giữa
bầu trời thì thức ăn của các loài ch im Đại bàng là thô, thức ăn của các
loài chim Khổng tước-Anh vũ... là tế; thức ăn của các loài chim Khổng
tước- Anh vũ… là thô, thức ăn của các loài nhỏ bé khác sống giữa bầu
trời là tế”.
Có người đưa ra cách nói này: Nếu các loài hữu tình dùng có-cây…
mà làm thức ăn thì vật đã ăn la ø thô, dùng bánh-cơm.. mà làm thức ăn
thì vật đã ăn là tế.
Có Sư khác nói: Dùng bánh-cơm… mà làm thức ăn thì vật đã ăn là
thô, dùng bơ sữa… mà làm thức a ên thì vật đã ăn là tế.
Có người khác lại nói: Các thức  ăn nhai nuốt bằng miệng là thô,
các thức ăn đưa vào từ rốn-lỗ chân lông là tế. Nghĩa là các loài hữu tình
ở trong thai tạng, hấp thụ thức ăn từ rốn đưa vào; chỉ riêng các vị Bồ-tát
hấp thụ thức ăn từ tất cả các lỗ chân lông đưa vào.
Có người đưa ra cách nói này: N ếu thức ăn nhai nuốt rồi mà có
Đẳng lưu thì thức ăn này là thô, kh ông có Đẳng lưu thì thức ăn này là
tế, như dùng hương-vị Tô-đà làm thức ăn…
Hỏi: Xúc-Tư-Thức thực có thô- tế hay không? Nếu có thì tại sao
trong kinh chỉ nói Đoàn thực có thô-tế? Nếu không có thì tại sao Đoàn
thực có thô-tế chứ không phải là loại khác?
558 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Đáp: Xúc-Tư-Thức thực cũng có thô-tế, bởi vì cõi-địa đối đãi lẫn
nhau. Nghĩa là cõi Dục là thô, cõi Sắc là tế; cõi Sắc là thô, cõi Vô sắc
là tế. Tĩnh lự thứ nhất là thô, Tĩnh lự thứ hai là tế…, cho đến Vô sở hữu
xứ là thô, Phi tưởng phi phi tưởng xứ là tế.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao trong kinh không nói?
Đáp: Phải nói mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có
khác.
Có người nói: Trong kinh nêu ra đầu-hiển bày sau, đã nói đến
Đoàn thực có thô-tế, thì nên biết là loại Thực khác cũng có thô-tế.
Có người nói: Đoàn thực do bốn, bởi vì có nhiều-ít cho nên thô-tế
có thể biết rõ, loại Thực khác thì không như vậy:
1. Bởi vì theo đuổi.
2. Bởi vì tích tụ.
3. Bởi vì thọ dụng.
4. Bởi vì đẳng lưu.
Bởi vì theo đuổi, nghĩa là các hữu tình theo đuổi Đoàn thực, có
nhiều-có ít, sự mong cầu nhiều là thô, sự mong cầu ít là tế.
Bởi vì tích tụ, nghĩa là các hữu tình tích tụ Đoàn thực, có nhiều có
ít, sự tích tụ nhiều là thô, sự tích tụ ít là tế.
Bởi vì thọ dụng, nghĩa là các hữu  tình thọ dụng Đoàn thực, có
nhiều-có ít, sự thọ dụng nhiều là thô, sự thọ dụng ít là tế.
Bởi vì đẳng lưu, nghĩa là cá hữu tình do đẳng lưu của Đoàn thực,
có nhiều-có ít, đẳng lưu nhiều thì vật đã ăn là thô, đẳng lưu ít thì vật đã
ăn là tế.
Có người nói: Đoàn thực quán xét đối đãi các xứ có thể nói là thô-
tế, loại Thực khác thì không như vậy. Nghĩa là Hương-Vị-Xúc quán xét
đối với Sắc-Thanh có thể nói là tế, quán xét đối với Ý-Pháp có thể nói
là thô; ba loại Xúc-Tư-Thức thực  thuộc về Ý-Pháp xứ, những loại này
đối với các Xứ chỉ có tế chứ không phải là thô, không có quán xét đối
đãi khác nhau, cho nên không nói đến thô-tế.
Hỏi: Ở cõi nào-có mấy loại Thực?
Đáp: Cõi Dục có đủ bốn loại, chỉ tăng về Đoàn thực, cõi Sắc có ba
loại, chỉ tăng về Xúc thực. Vô sắc c ũng có ba loại, ba Vô sắc dưới chỉ
tăng về Tư thực, Phi tưởng phi phi tưởng xứ chỉ tăng về Thức thực.
Có người nói: Phi tưởng phi phi  tưởng xứ cũng tăng về Tư thực,
bởi vì một Tư có thể cảm đến quả của thọ lượng tám mươi ngàn kiếp.
Hỏi: Ở nẽo nào có mấy loại Thực?
Đáp: Địa ngục có đủ bốn loại, chỉ tăng về Thức thực.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 130 559  
www.daitangkinh.org  


thực.
Hỏi: trong địa ngục có Đoàn thực gì?
Đáp: Uống nước đồng sôi, nuốt viên sắc nóng, để làm Đoàn

Hỏi: Nói là thức ăn thì có sự l ợi ích phát sinh, vật này đưa vào
thân đốt cháy môi lưỡi-cổ họng-ngực  bụng, từ dưới ra ngoài rồi ngọn
lửa cháy bùng càng mạnh làm cho toa øn thân cháy khô, tại sao lại gọi
là thức ăn?
Đáp: Tuy là đốt cháy đau đớn mà có tướng của thức ăn, lúc mới
đưa vào thân thể thì tạm thời trừ hết đói khát.
Bàng sinh có đủ bốn loại, chỉ tăng lên tùy theo một loại, bởi vì
chủng loại và xứ sở có sứ khác biệt. nẽo quỹ có đủ bốn loại, chỉ tăng
về Tư thực.
Từng nghe vào một lúc nọ, Tôn giả mãn Nguyện bởi vì khất thực,
cho nên phải đi vào thành Bố-sắc- yết-la-phạt-để, ở trước cổng thành
bỗng nhiên gặp một nữ ngạ quỷ già, hỏi rằng: Bà đứng đây làm gì? Nữ
ngạ quỷ này hỏi lại: Tôn giả trông thấy tôi chăng? Tôn giả trả lời: Đúng
như vậy. Nữ ngạ quỷ liền nói: Chồng tôi đi vào thành hy vọng trong
thành này có những trưởng giả bị ung nhọt sưng tấy thối rữa, sẽ nhân lúc
họ nặn bỏ mà thu lấy máu mủ đem về cùng ăn, vì vậy nay tôi đứng đợi
ở đây. Lại hỏi: Chồng bà đi vào thành đã bao lâu? Nữ ngạ quỷ trả lời
rằng: Do đói khát mà mê muội, không nhớ chồng tôi đi vào thành bao
lâu, nhưng chỉ nhớ sông lớn bên thành này, bảy lần di chuyển về phía
nam thành-bảy lần di chuyển về phía Bắc thành, đến nay chưa trở về.
Tôn giả thương xót buồn bã mà đi.
Như vậy, nữ ngạ quỷ đói khát trả i qua thời gian dài, do hy vọng
mà duy trì thân nối tiếp nhau tồn tại, cho nên biết nẽo quỷ chỉ chỉ tăng
về Tư thực.
Loài người và trời cõi Dục đều có đủ bốn loại, nhưng chủng loại
ấy chỉ tăng về Đoàn thực. Trời cõi Sắc-Vô sắc như trong câu hỏi về cõi
đã nói.
Hỏi: Ở sinh loại nào-có mấy loại Thực?
Đáp: Noãn sinh có đủ bốn loại, chỉ tăng về Xúc thực.
Có người nói: Tăng về Tư thực. Vì sao biết như vậy? Bởi vì như
luận tập Dị Môn nói: “Trong biển có loài thú, lúc ra khỏi biển lên bờ, ở
giữa bãi cát đẻ ra những chiếc trứng, dùng cát che kín rồi lại vào trong
biển. Loài ấy ở trong vỏ trứng nhớ đến mẹ cho nên thân không hư nát,
nghĩa là nhớ đến mẹ bởi vì lúc trước  làm cho ấm áp mà có xúc. Nếu
quên mẹ mình thì thân sẽ hư nát”.
560 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Có Sư khác nói: Nếu mẹ nhớ đến con ở trong trứng thì trứng không
hư hoại, nếu mẹ quên thì trứng ấy sẽ hư hoại.
Cách nói này không hợp lý. Nguyên cớ thế nào? Bởi lẽ đừng cho
rằng n khác ăn mà có thể duy trì mạng sống của mình, vì vậy cách nói
trước là hợp lý.
Thai sinh có đủ bốn loại, chỉ tăng về Đoàn thực. Thấp sinh có đủ
bốn loại, chỉ tăng về Xúc thực. Hóa sinh có đủ bốn loại, chỉ tăng lên tùy
theo một loại, bở vì chủng loại và Xứ sở có sự sai biệt.
Đã nói về thanh thực có hai loại sai biệt:
1. Thế tục.
2. Thắng nghĩa.
Thế tục la như thế gian nói: Bình có thức ăn của thành ấp. Đó gọi
là thức ăn này sản xuất ở thành Cát Tường, thức ăn này sản xuất ở thành
Đát-xoa-sí-la, thức ăn này sản xuất ở thành Xa-yết-la, thức ăn này sản
xuất ở cung Tịch Tĩnh… Lại như người khen ngợi nói đến các tên gọi
của thức ăn, đó là thức La-trĩ-đa, thức ăn Mâu-địa-đa, thức ăn mà Đức
Phật đã khen ngợi, thức ăn kha ép bốn phương… Lại như kinh nói: “Ăn
thuận-ăn nghịch”. Nói là ăn thuận, như Đức Thế Tôn nói: “Tỳ kheo nên
biết tất cả đều có ăn, đó là trời bất ngờ tuôn mưa, lượng mưa lớn ấy trút
xuống các núi, khe núi tràn đầy trước tiên; khe núi đầy rồi thì khe lạch
nhỏ đầy; khe lạch nhỏ đầy rồi thì khe lạch lớn đầy; khe lạch lớn đầy
rồi thì sông ngòi nhỏ đầy; sông ngòi nhỏ đầy rồi thì sông ngòi lớn đầy;
sông ngòi lớn đầy rồi thì biển rộng tràn đầy”. Nói là ăn nghịch, như Đức
Thế Tôn nói: “Tỳ kheo nên biết tất cả đều có ăn, biển rộng có ăn, đó là
sông ngòi lớn; sông ngòi lớn có ăn, đó là sông ngòi nhỏ; sông ngòi nhỏ
có ăn, đó là sông ngòi nhỏ; sông ngòi nhỏ có ăn, đó là khe lạnh lớn; khe
lạch lớn có ăn, đó là khe lạch nhỏ;  khe lạch nhỏ có ăn, đó là khe núi;
khe núi có ăn, đó là trời bất ngờ tuôn mưa”.
Thắng nghĩa về Thực, nghĩa là bốn loại Thực này thật sự cung cấp
thêm cho các hữu tình.
Hỏi: Các Đoàn đều là Thực chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đoàn mà không phải la ø Thực, đó là dùng Đoàn làm
duyên, không có thể lớn thêm các căn và Đại chủng.
2. Có lúc Thực mà không phải là Đoàn, đó là dùng Xúc-Tư-Thức
làm duyên, mà có thể lớn thêm các căn và Đại chủng.
4. Có lúc không phải là Đoàn cũng không phải là Thực, đó là
dùng Xúc-Tư-Thức làm duyên, không có thể lớn thêm các căn và  Đại
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 130 561  
www.daitangkinh.org  
chủng.
Như Đoàn thực có bốn câu phân biệt, Thức-Tư-Xúc thực đếu có
bốn câu phân biệt, đều cần phải nói rộng ra. Như vậy sai biệt làm thành
mười sáu câu.
Hỏi: Không có thể lớn thêm các căn và Đại chủng thì không phải
là Thực chăng?
Đáp: Đúng. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì trước đây nói lớn thêm là
tướng của Thực.
Hỏi: Nay hiện thấy có trường hợp ăn rồi đau đớn bức bách, thậm
chí có lúc khiến cho rời bỏ gánh nặng của thân, thì thế nào là lớn thêm
là tướng của Thực?
Đáp: Tuy sự ăn uống có hại-có lợi, nhưng nay nói đến ăn, đó là lợi
chứ không phải là hại. Lợi ích có hai lúc:
1. Lúc mới ăn.
2. Lúc tiêu hóa. hoặc có lúc tiêu hóa thì có hại, lúc mới ăn thì có
lợi, như ăn trái độc ngon lành thì loại này cũng gọi là a ên. Hoặc có lúc
mới ăn thì có hai, lúc tiêu hóa th ì có lợi, như uống thuốc đắng thì loại
này cũng gọi à ăn. Bởi vì hai loại này thuận theo một lúc làm thành sự
việc của ăn cho nên đều được gọi là ăn. Vì thế nói rằng lớn thêm gọi là
tướng của Thực.
Có người nói: Loại ấy ăn rồi, ban đầu tuy không yên lành, nhưng
về sau biến đổi nôn ra thì lại có thể làm lợi ích, cho nên trước đã nói về
tự tướng của Thực thành tựu lẫn nhau.
Kinh nói: “Này Tỳ kheo! Như vậy bốn loại Thực có thể khiến cho
hữu tình thuộc Bộ Đa (hữu tình đã sinh ra) được an trú, và có thể thâu
nhiếp thêm nhiều hữu tình Cầu Hữu (Hữu tình cầu thân đời sau)”.
Hỏi: Kinh này đã nói hai loại hữu tình là Bộ Đa và Cầu Hữu, sai
biệt thế nào?
Đáp: Trú trong Bổn Hữu gọi là Bộ Đa, trú trong trung Hữu gọi là
Cầu Hữu, bởi vì đối với cửa ngõ sáu xứ mong cầu quả tương lai.
Có người nói: Thánh gọi là Bộ Đa, dị sinh gọi là Cầu Hữu, bởi vì
loại ấy phần nhiều mong cầu quả tương lai.
Có người nói: Vô học gọi là Bộ Đa, Học gọi à Cầu Hữu, bởi vì loại
ấy mong cầu nào quả tương lai.
Hỏi: Hữu tình Bộ Đa cũng có thể thâu nhiếp thêm nhiều, hữu tình
Cầu Hữu cũng có thể được an trú, tại  sao chỉ nói là có thể khiến cho
hữu tình Bộ Đa được an trú, và có thể thâu nhiếp thêm nhiều hữu tình
cầu Hữu?
562 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Đáp: Văn trong Kinh này đều nên đưa ra nói theo hai loại, mà
không nói đến thì phải biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Trong này muốn dùng các loại văn từ-các loại giải
thích để hiển bày rõ ràng nghĩa lý khiến cho dễ hiểu.
Có người nói: Trong này muốn hiển bày hai môn loại-hai phương
thức…, cho đến nói rộng ra.
Có người nói: Bổn Hữu an trú trải qua thời gian lâu dài nhất,
Thánh và Vô học cầu mong an trú tr ong thời gian ngắn, hiển bày về
nghĩa này mà nói an trú, còn lại thì không như vậy, cho nên không nói
an trú.
Kinh nói: “Này Tỳ kheo! Bốn loại Thực như vậy, là gốc của bệnh
tật, là gốc của ung nhọt lở loét, là gốc của mũi tên tẩm độc, là nhân của
lão tử, là duyên của lão tử”.
Hỏi: Thực cũng có thể làm cội r ễ của an lạc, như Đức Thế Tôn
nói: “Đạo dựa vào tư lương, Niết-bàn dựa vào đạo. Bởi vì vui với đạo
cho nên có được niềm vui của Niết-bàn. Tư lương của đạo lấy Thực làm
hàng đầu”. tại sao nói là gốc của bệnh tật?
Đáp: Bởi vì ngăn chặn sự ham muốn Đoàn thực của hữu tình, họ vì
ham ăn mà khởi lên các hành ác chiêu cảm khổ đau khốc liệt, cho nên
Đức Thế Tôn đưa ra cách nói như vậy. Giả sử các loại Đoàn thực chỉ là
nhân của niềm vui hiện tại, người trí vẫn thuận theo sinh tâm ham thích,
để khởi lên nghiệp ác dẫn đến nỗi khổ trong tương lai, huống gì là gốc
của bệnh tật… trong thân hiện tại? Vì thế cho nên người trí không thuận
lòng nhiễm trước. Đức Phật vì điều này cho nên nói kinh này.
Kinh nói: “Tỳ kheo nên quán xét Đoàn thực giống như thịt con
mình giữa đồn hoang trống trải, nên quán xét Xúc thực giống như tấm
da trâu mới lột, nên quán xét Tư  thực giống như than nóng trong hầm
lửa, nên quán xét Thức thực giống như ba trăm mũi kiếm sắc”.
Hỏi: Vì sao Tỳ kheo nên quán xét Đoàn thực giống như thịt con
mình giữa đồng hoang trống trải?
Đáp: Ví như đôi vợ chồng chỉ c ó một đứa con, mặt mày đoan
chánh rất mực thương yêu. Gặp lúc  đất nước mất mùa đói kém, muốn
đến nơi khác sinh sống, đi đến chốn đồng hoang trống trải thì hết lương
thực, con đường phía trước hãy còn xa lắc mà không ăn đã nhiều ngày,
ả nhà đều khốn đốn sắp chết đến nơi. Người chồng nghĩ thầm: Đường
còn xa, lương thực hết, mạng sống đang mong manh, ba người chúng ta
nếu không cùng cứu giáo, thì lẽ nào nhất định giữ nhau cùng chết, nay
ở giữa chốn này nếu một người chịu chết để làm cái ăn, thì chết một mà
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 130 563  
www.daitangkinh.org  
còn hai, vẫn hơn cùngnhau chết hết! Nếu lấy mình cung cấp thì lo rằng
ý chí của vợ yếu đuối mà đau xót tự mình đoạn tuyệt, không thể nào
vượt qua hoạn nạn. Nếu lấy vợ để cung cấp thì sợ rằng con trẻ mất mẹ
cũng không sống nổi, vậy là mất hai người. Nhưng đứa con yêu quý do
chúng ta đã sinh ra, vợ chồng nếu còn sống thì con có thể có được, nên
bỏ mạng sống của đứa con để vượt qua chốn đồng hoang trống trải này!
Nghĩ như vậy rồi đau xót không sao kể xiết. Người vợ liền cảm thấy
quái lạ, bèn đến trước mặt hỏi rõ nguyên cớ điều ấy. Người chồng mới
đem suy nghĩ của mình nói cho người vợ biết. Người vợ nghe mà nghẹn
ngào ngất đi, ngã quỵ xuống đất rất lâu mới tỉnh lại, gào khóc kêu trời
gọi đất, oan trái hết sức hiểm độc. Người chồng bèn từ từ giải thích, lâu
dần mới chấp nhận. Thế là vợ chồng ôm con nghẹn ngào nức nở khóc
không thành tiếng, đau xót kêu gào thảm thiết, sao khổ sở nghiệt ngã
quá chừng! Nuốt nước mắt một lúc lâu, sau đó kết thúc mạng sống của
con, cắt ra làm thịt mang theo đi đường. Cứ mỗi lần sắp ăn thì vợ chồng
cùng khóc, gọi mãi con ơi! Tuông nước mắt đầm đìa àm ăn, ăn rồi than
thở tự trách lỗi mình. Nhưng đôi vợ chồng ấy từ lúc ban đầu trù tính bàn
bạc, cho đến lúc ăn rồi mang theo đi đường, lòng dạ không hề vui vẻ mà
chỉ nghĩ đến đứa con yêu thương.
Như vậy, hành giả ơ nơi trống trải vắng lặng, hoàn toàn không
phóng túng với cô vợ là Chánh tư duy, sinh ra một đứa con là pháp thiện
vi diệu đáng yêu, tâm luôn luôn nghĩ  đến không bao giờ rời bỏ, chán
ngán cảnh sinh tử-hướng đến nơi Niết-bàn, trải qua thời gian dài tu tập,
duyên cung cấp thiếu hụt, vì duy trì Thánh đạo mà dựa vào thân khổ
đau, bỏ sự chuyên tu đi vào thôn làng khất thực; Chánh tư duy đi cùng
với không phóng túng, từ lúc rời chốn trống trãi vắng lặng cho đến lúc
ăn xong, tâm không hề đắm nhiễm vui sướng, chỉ nghĩ đến pháp chuyên
tu đã rời bỏ.
Tỳ kheo như vậy ở trong Đoàn thực, nên quán xét giống như thịt
con mình giữa đồng hoang trống trải, nói như trước. Nếu đối với Đoàn
thực đã đoạn-đã biết khắp, thì đối với năm dục ái cũng đoạn-cũng biết
khắp, bởi vì cùng một pháp chế phục-một pháp đối trị. Nếu năm dục ái
đã đoạn-đã biết khắp, thì không có mật  kiết nào chưa đoạn-chưa biết
khắp, có thể ràng buộc người ấy trở lại  sinh vào cõi Dục. Đây là dựa
vào ý bí mật lìa dục ái, đạt được quả Bất hoàn, không còn kiết thuận
phần dưới mà nói.
Hỏi: Vì sao Tỳ kheo nên quán xét Xúc thực giống như tấm da trâu
mới lột?
564 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Đáp: Giả sử như con trâu ấy có lỗi đối với chủ, muốn làm cho đau
khổ mà đang sống lại bị lột đi lớp da . Con trâu ấy lúc bấy giờ bởi vì
không có lớp da, cho nên hễ đứng bất cứ nơi nào, hoặc là mặt đất-hoặc
là trên cao, đều bị tất cả các loà i côn trùng tranh nhau đến rúc rỉa ăn
thịt. Vì trừ bỏ côn trùng cho nên cọ thân chà vào hàng rào-cỏ cây-tường
vách…, làm cho càng thêm đau đớn. Con tr âu ấy lúc bấy giờ lẽ nào có
chút ít vui thích hay sao? Xúc ch ạm và chưa xúc chạm, đều nhận chịu
đau đớn hết sức.
Như vậy, các cõi lẽ nào có chút ít vui thích hay sao? Sinh và chưa
sinh, không có cõi nào không đau khổ. Tỳ kheo như vậy nên quán xét
xúc thực giống như tấm da trâu mới lột đã nói. Nếu đối với Xúc thực đã
đoạn-đã biết khắp, thì đối với ba Thọ cũng đoạn-cũng biết khắp, bởi vì
các Thọ lấy Xúc làm duyên mà sinh ra, như Kinh nói: Xúc duyên Thọ.
Nếu đối với ba Thọ đã đoạn-đã biết khắp, thì những việc làm đã xong,
cho nên thuận theo suy nghĩ chọn lựa cầu mong đoạn hết Xúc thực. Đây
là dựa vào ý bí mật vượt qua cõi Hữu Đảnh, đạt được quả A-la-hán, tất
cả các kiết không còn mà nói.
Hỏi: Vì sao Tỳ kheo nên quán xét Tư thực giống như than nóng
trong hầm lửa?
Đáp: Như gần thôn làng có hầm lửa lớn, không có ngọn lửa-không
có khói cuộn, chỉ chứa đầy than nóng. Có người không ngu dốt, trẻ con
mà không phải là ngốc nghếch thấy rồi  nghĩ rằng: Hầm lửa lớn này
chứa đầy than nóng, nếu mình rơ vào thì chắc chắn là chết không nghi
ngờ gì. Dấy lên ý nghĩ này rồi liền  phát khởi suy nghĩ mong cầu, cần
phải rời xa nơi đó, lập tức bỏ đi xa. Có những người ngu si-non nớt-gàn
bướng-không có trí thấy rồi nghĩ rằng: Trong hầm này rực rỡ đáng yêu.
Liền nhảy vào nhận lấy khổ đau mà mất mạng.
Như người có hiểu biết ấy thấy hầm  lửa lớn, sợ hãi mà tránh xa;
như vậy các Thánh đối với thân đời sau, suy nghĩ sinh tâm sâu sắc mà
chán ngán rời bỏ. Như người không có trí nhảy vào hầm lửa lớn, nhận
lấy khổ đau mà mất mạng; như vậy dị sinh khởi lên Tư của thân đời sau,
nhận chịu đau khổ vô cùng mà mất đi Tuệ mạng.
Tỳ kheo như vậy nên quán xét Tư thực giống như than nóng trong
hầm lửa đã nói ở trên. Nếu đối với Tư thực đã đoạn-đã biết khắp, thì
đối với ba Ái cũng đoạn-cũng biết kha ép, bởi vì ba Ái kia là nhân phát
khởi. Như trong Kinh nói: “Nghiệp là nhân cho nên sinh ra, ái là nhân
cho nên phát khởi”. Nếu đối với ba Ái  đã đoạn-đã biết khắp, thì những
việc làm đã xong, cho nên thuận theo suy nghĩ chọn lựa cầu mong đoạn
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 130 565  
www.daitangkinh.org  
hết Tư thực. Đây là cũng dựa vào ý bí mật vượt qua cõi Hữu Đảnh, đạt
được quả A-la-hán, tất cả các kiết không còn mà nói.
Hỏi: Vì sao Tỳ kheo nên quán xét  Thức thực giống như ba trăm
mũi kiếm sắc?
Đáp: Nếu như có người vào buổi sáng bị một trăm mũi kiếm đâm
vào, buổi trưa cũng bị một trăm mũi kiếm đâm vào. Như vậy hằng ngày
bị ba trăm mũi kiếm đâm vào, cho đến suốt đời; người ấ y lúc bấy giờ
toàn thân đều bị lở loét, không có chút nào lành lặn dù chỉ bằng hạt
cải.
Như vậy, hành giả ở trong từng ngày tâm luôn luôn bị ba trăm
cảnh khác nhau đã dẫn dắt như mũi  kiếm nhọn, mà làm cho xâm hại
đối với sự chuyên tu, cho đến suốt đời, khiến sự tu tập có nhiều khiếm
khuyết.
Tỳ kheo như vậy nên quán xét Thứ c thực giống như ba trăm mũi
kiếm sắc đã nói ở trên. Nếu đối với Thức thực đã đoạn-đã biết khắp, thì
đối với Danh sắc cũng đoạn-cũng bi ết khắp, bởi vì Thức là duyên của
Danh sắc ấy, như Kinh nói: Thức  duyên Danh sắc. Nếu đối với Danh
sắc đã đoạn-đã biết khắp, th ì những việc làm đã xong, cho nên thuận
theo suy nghĩ chọn lựa cầu mong đoạn hết Thức thực. Đây là dựa vào
ý bí mật vượt qua cõi Hữu Đãnh, đạt được quả A-la-hán, tất cả các kiết
không còn mà nói.
Hỏi: Các loại Thực khác cũng giống như ba trăm mũi kiếm chăng?
Nếu cũng giống như ba trăm mũi kiếm, thì tại sao chỉ nói về quán xét
Thức thực?
Đáp: Nếu không giống như ba trăm mũi kiếm, thì tại sao chỉ riêng
Thức thực giống như ba trăm mũi kiếm; như dùng cách này quán xét
Thức thực, cũng phải dùng cách này quán xét ba loại Thực khác, mà
trong Kinh chỉ nói về quán xét Thức thực, thì nên biết là ở đây có cách
nói khác.
Có người nói: Kinh này nêu rõ ph ần cuối cùng, để hiển bày các
loại Thực đã nói trước đây cũng như vậy.
Có Sư khác nói: Tâm tánh cang cường khó điều phục nhất, cho
nên Đức Phật vì chỉ trích điều đó, dùng ba trăm mũi kiếm mà làm thí
dụ, các loại Thực khác thì tự nhiên dùng cách khác để nói rõ ràng hơn.
Có người nói: Kinh này tùy theo sự hiển bày thù thắng mà nói,
vì vậy không có lỗi. Lý trong ba thí dụ trước có người thông hiểu, đều
dùng cách này mà giải thích.
Như trong Kinh nói: “Bà-la-môn Phệ-la-ma này, dùng các thức ăn
566 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
uống ngon lành như vậy, bố thí cho chúng Bà-la-môn Ma-ha-ra-ha; có
người dùng thức ăn uống, bố thí cho dị sinh trong rừng Thiện-bộ. Người
này được quả của phước bố thí lớn hơn so với người kia”.
Hỏi: Trong Kinh này là nói đến những loại nào gọi là dị sinh trong
rừng Thiện-bộ?
Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Các loài có bụng ở trong châu
Thiệm-bộ, thì ở kinh này đều nói đến.
Có người nói: Các hữu tình là ngoại Tiên đã lìa nhiễm cõi Dục thì
ở đây nói đến.
Có người nói: Đây là Bồ-tát gần phật pháp.
Lý không thích hợp như vậy, bởi vì hữu tình bố thí cho Bồ-tát gần
thành Phật, đã cảm được phước bố thí hơn hẳn phước bố thí cho Câu-chi
chúng A-la-hán.
Nói như vậy thì Kinh này nói đến dị sinh đã đạt được căn thiện
thuận phần quyết trạch, bởi vì đức của họ hơn hẳn Bà-la-môn kia.
Kinh này lại nói: “Nếu dùng thức ăn uống bố thí cho dị sinh trong
rừng Thiện-bộ, có người dùng thức ăn uống bố thí cho một vị Dự lưu.
Người này được quả của phước bố thí lớn hơn so với người kia. Bởi vì
vị này đã đoạn các ác kiến, ba ki ết không còn, lìa nhân của nẽo ác do
kiến mà đoạn, làm thành giới hạn của  quả báo, cho nên đạt được quả
DựÏ lưu”.
Kinh này lại nói: “Nếu dùng thức ăn uống bố thí cho một trăm vị
Dự lưu, có người dùng thức ăn uống bố th í cho một vị Nhất lai. Người
này được quả của phước bố thí lớn hơn so với người kia. Bởi vì lìa nhân
của nẽo ác do tu mà đoạn, ít tham sân si, cho nên đạt được quả Nhất
lai”.
Kinh này lại nói: “Nếu dùng thức ăn uống bố thí cho một trăm vị
Nhất lai, có người dùng thức ăn uống bố thí cho một vị Bất hoàn. Người
này được quả của phước bố thí lớn hơn so với người kia. Bởi vì vị này
đã đoạn kiết thuận phần dưới, vượt qua đời sống của cõi Dục, cho nên
đạt được quã Bất hoàn”.
Kinh này lại nói: “Nếu dùng thức ăn uống bố thí cho một trăm vị
bất hoàn, có người dùng thứ ăn uống bố thí cho một vị A-la-hán. Người
này được quả của phước bố thí lớn hơn so với người kia. Bởi vì vị này
đã đoạn tất cả các kiết, vượt qua đời sống của cõi Hữu Đảnh, cho nên
đạt được quả A-la-hán”.
Kinh này lại nói: “Nếu dùng thức ăn uống bố thí cho một trăm vị
A-la-hán, có người dùng thức ăn uống bố thí cho một vị Độc giác. Người
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 130 567  
www.daitangkinh.org  
này được quả của phước bố thí lớn hơn so với người kia. Bởi vì vị này tự
mình có năng lực giác ngộ”.
Kinh này lại nói: Nếu dùng thức ăn uống bố thí cho một trăm vị
Độc giác, có người dùng thức ăn uống cúng dường một Đức Như Lai.
Người này được quả của phước cúng dường lớn hơn so với người kia.
Bởi vì Đức Như Lai tự mình có nă ng lực giác ngộ tất cả, cũng có năng
lực giác ngộ cho người khác”.
Kinh này lại nói: “Nếu dùng t hức ăn uống cúng dường Đức Như
Lai, có người làm nên ngôi chùa cúng dường tăng chúng bốn phương.
Người này được quả của phước cúng dường tăng chúng bốn phương.
Người này được quả của phước cúng dường lớn hơn so với người kia.
Bởi vì ngôi chùa không có chướng ngại gì”.
Hỏi: Công đức cúng dường Đức Phật hơn hẳn so với cúng dường
Tăng, trong này phước bố thí đều là tr ước nêu ra thua kém-sau nêu ra
hơn hẳn, tại sao trong này lại nói trước là Phật-sau là Tăng?
Đáp: Chính vì điều này cho nên trước là Phật-sau là Tăng. Nguyên
cớ thế nào? Bởi vì nếu Thánh va ên Tăng thì không thuộc về Phật, nếu
tăng bốn phương thì cũng thuộc về Phật, bởi vì đều là phước điền Tăng-
Tỳ kheo Tăng. Nếu có cúng dường Phật thì chỉ riêng Phật ứng thọ, Tăng
chúng không thọ, cho nên phước la ø yếu kém. Nếu cúng dường Tăng
chúng, thì Tăng chúng và Phật cùng ứng thọ, cho nên phước là hơn hẳn,
bởi vì không có chướng ngại gi, cho nên được phước không giới hạn.
Tuy đã nêu ra trước là Phật-sau là Tăng, mà vẫn có thể gọ là trước kém-
sau hơn hẳn.
Hỏi: Đã đạt được quả thù thắng cũng do Tư thù thắng, tại sao Đức
Thế Tôn chỉ khen ngợi về ruộng phước?
Đáp: Đức Thế Tôn đã giáo hóa có hai loại sai biệt:
1. Tín và Tuệ đầy đủ.
2. Có Tín mà không có Tuệ.
Đối với Tín và Tuệ đầy đủ thì Phật không khen ngợi về ruộng
phước, bởi vì họ tự mình có thể biết rõ là ruộng phước hay không phải
là ruộng phước. Đối với Tín mà kh ông có Tuệ thì Phật khen ngợi về
ruộng phước, bởi vì họ không có thể bi ết rõ là ruộng phước hay không
phải là ruộng phước.
Nhưng quả bố thí ấy, hoặc là có người muốn là Tư thù thắng cho
nên thù thắng, hoặc là có người muốn làm ruộng phước thù thắng cho
nên thù thắng, mà thật ra thì quả t hù thắng cùng nhờ vào hai loại. Vì
vậy có thể làm thành bốn câu sai biệt:
568 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
1. Có lúc do ruộng phước mà không do Tư thù thắng.
2. Có lúc do Tư mà không do ruộng phước thù thắng.
3. Có lúc cùng do hai loại cho nên thù thắng.
4. Có lúc do hai loại cùng yếu kém cho nên yếu kém.
Hỏi: Phật cúng dường Xá-lợi-tử, Xá-lợi-tử cúng dường Phật,
phước của hai sự cúng dường này thì phước nào là nhiều?
Đáp: Có những người muốn làm cho quả nhờ vào Tư thù thắng,
họ nói phước cúng dường của Phật là nhiều, bởi vì Phật tư duy về cúng
dường ở phần vị hiện rõ trước mắt , Xá-lợi-tử… hãy còn không co thể
biết được, huống hồ có thể sánh ba èng hay sao? Có những người muốn
làm cho quả nhờ vào ruộng phước thù thắng, họ nói phước cúng dường
của Xá-lợi-tử là nhiều, bởi vì ruộn g phước của Phật là thù thắng nhất
trong ba cõi.
Hỏi: Quả Dự lưu-Hướng là có thể bố thí hay không? Nếu có thể bố
thí, thì Kinh trước vì sao không nói: Nếu không có thể bố thí, thì Kinh
khác đã nói lại làm sao thông hiểu? Như nói:
“Bốn tướng và bốn quả Sa-môn, đều là phước điền Tăng chân
thật,

Đầy đủ Giới-Tuệ và Đẳng trì, đều là phước điền Tăng chân thật,
Đầy đủ Giới-Tuệ và Đẳng trì, người bố thí được quả to lớn”.
Đáp: Có người nói: Có thể bố thí, đó là y phục… chứ không   phải
là các thức ăn uống.
Hỏi: Nếu có thể bố thí, thì kinh trước vì sao không nói?
Đáp: Trước đã dẫn kinh nói về bố thí thức ăn uống, không phải là
y phục…, vì vậy không nói đến.
Có người nói: Hướng này cũng có thể bố thí thức ăn, nhưng có
thâu nhiếp tiếp nhận mà không có t họ dụng. Nghĩa là trong Tỳ-ha-la
(trú xứ) có người tiến vào kiến đa ïo, người khác vì họ mà nhận phần
thức ăn đã bố thí; hoặc là lúc sắc ăn có người tiến vào kiến đạo, thí chủ
đem thức ăn đạt trên đầu gối của người  ấy, hoặc là đưa vào đặt trong
Mạn-đồ-la.
Hỏi: Trước đã dẫn kinh vì sao không nói?
Đáp: Kinh ấy chỉ nói đến người có thể thọ dụng, ở đây căn cứ vào
sự thâu nhiếp tiếp nhận, cho nên không trái nhau.
Có Sư khác nói: Hoặc này không có thể bố thí, vì vậy kinh trước
không nói.
Hỏi: Nếu như vậy thì đã dẫn tụng trong kinh nên thông hiểu   thế
nào?
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 130 569  
www.daitangkinh.org  
Đáp: Tụng ấy muốn hiển bày về Bổ- đặc-già-la do đạo sai biệt
mà thành nghĩa của ruộng phước. Nghĩa là hiển bày về người thành tựu
đạo vô lậu thì bố thí có được quả to  lớn, gọi là ruộng phước chân thật,
chứ không nói là lúc bấy giờ có thể thọ nhận sự bố thí của người khác.
Trước hỏ có thể bố thí hay không có thể bố thí, vốn là ý hỏi có thể thọ
nhận hay không có thể thọ nhận?


„
570 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt