A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 131
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
如契經說。鄔揭羅長者白佛言。世尊。我於 一時自手執杓施僧飲食時。有天神空中 語我。長者當知。此阿羅漢果。此阿羅漢向 此不還果。此不還向。此一來果。此一來向。此 預流果。此預流向。此持此犯。我於爾時雖 聞彼語。自省無有不平等心。於僧眾中等 心而施。問彼天神者為是誰耶。復何因緣來 語長者。答有作是說。是魔眾天欲為長 者善品留難。有說。是鬼以虛誑言惑亂長 者。有餘師說。彼是長者常所祭天故來空中。 示導長者福田差別。有餘復言。彼是長者過 去親屬生在天中。以誠實言汲引長者。問 若是長者過去親屬於預流向云何能知。見 道迅速非其境故。答預流向有二種。一者 世俗。二者勝義。得順決擇分名為世俗。已 入見道名為勝義。住世俗向是彼天境。若 勝義向舍利子等。尚不盡知況彼天等。彼天 所示但是世俗。能受長者所施食故。亦有 餘經說勝義向。如世尊告婆拕梨言。若 有苾芻是俱解脫。我設告彼汝來以身於 此濘渠為我作彴。婆拕梨聽於意云何。彼 聞我命為拒逆不。將登躡時為退避不 正踐蹈時為轉側不。婆拕梨曰不也。世尊復 告婆拕梨。置俱解脫。若有苾芻是慧解脫。 我設告彼乃至廣說。復置慧解脫說於身 證。復置身證說於見至。復置見至說信勝 解置信勝解說隨法行。置隨法行說隨信 行。佛問彼答一一如前。有說。此經亦說世 俗預流果向。以見道中不能聽受佛語義 故。評曰此中說勝義向於理為善。以說 隨信隨法行故。問住見道時無能聽受。佛 說義者無異心故。如何世尊以言告彼。答 世尊依彼志樂而說。無如是事為分別故。 假在見道有異分心。能受如來此言義者。 必捨見道作所勅事。佛意呵責婆拕梨言。 住見道中尚從我命。況汝遠離一切功德。 而於我所生違逆心。是故此中說勝義向 問長者何故雖聞天語。猶於僧中平等心 施。有說。僧眾皆是長者一揵椎聲所召集故。 彼作是念。此皆是我一揵椎聲之所召集。無 宜於此不等心施。有說。僧眾受此飲食皆 除飢渴無差別故。彼作是念。我施飲食 為除飢渴。如阿羅漢受我施已飢渴得除。 具縛異生受我飲食亦復如是。無宜於此 不等心施。有說。長者施僧飲食本意但欲 饒益他故。彼作是念。我施飲食為饒益 他不欲自利。如阿羅漢受我飲食所得饒 益。毀戒亦然。是故我今應等心施有說。長 者避愛恚故彼作是念。若施不等僧或於 我起愛恚心。由此當招不如意果。我即 於彼便作怨讎。何得名為真淨施主。有說。 長者隨佛教故彼作是念。如來常說若有於 一補特伽羅偏心敬養有五過失。若有一失 尚不應為何況於五。有說。長者不望報故。 彼作是念。施果異熟唯欲界受。我若命終當 生色界。施果於我便為無益。設當有益尚 不希求況復無益。故我但應平等心施。有 說。長者敬出家故彼作是念。我離欲染得 不還果。猶於居家眷屬珍財不能棄捨。諸 出家者雖有具縛。而於居家眷屬財產能 棄能捨能不積集。受佛禁戒盡壽修行。純 一圓滿清淨梵行。設有失念毀犯戒者。深 生慚恥常希清淨。若在居家不能如是。 故我於此應等心施。有說。長者重儀相。故 彼作是念。諸出家人剃髮染衣。儀相同佛持 戒破戒。俱令世間瞻覩生福。為作福田故 我於中應等心施。有說。長者荷佛恩故彼 作是念。我依佛法獲得忍智。金剛杵劍摧 破二十身見山峯。斷截無邊惡趣根本。作有 邊際定趣涅槃。於四諦中慧眼清淨。盡下 分結出欲淤泥。故我不應於佛弟子。心不 平等而行惠施。有說。長者顯自所得覺慧堅 牢不可轉故。彼作是念。我慧堅牢豈隨天 言輕有轉變。故於僧眾施心平等。顯己如 是故來白佛。 如契經中佛告慶喜。施食有二果無差別。 一者菩薩受彼食已。證得無上正等菩提。 二者如來受彼食已。入於無餘大涅槃界。 問初受食者有貪瞋癡。後受食者貪瞋癡 盡。何緣施果無差別耶。答由思及田有偏 勝故。佛依偏勝說果無差。謂初難陀難陀 跋羅姊妹二人。聞說菩薩受十六轉甘味乳 糜。必當得成無上等覺。歡喜踊躍發殊 勝思。持上乳糜奉施菩薩。菩薩食已即於 是夜。降伏魔軍成等正覺。女聞倍喜更起 勝思。彼所施田雖非殊勝。由思勝故能招 勝果。准陀於佛將涅槃時。見佛身形少如 衰變。又聞不久必入涅槃。戀慕不堪其心 擾亂。殊勝思願不能現前。然由勝田能招 勝果。佛依此故說無差別。有作是說。欲 遮准陀變悔心故。如彼經說。佛告阿難。若 彼准陀工巧之子。或他所引或自尋思。於施 食中而生變悔。於難得事便為不得。難得 事者所謂諸佛將涅槃時最後供養。彼若生 變悔者。汝便應以六處而勸喻之。謂施食 因緣能招長壽。色力樂譽富貴臣僚。我從世 尊親聞是事。施食有二果無差別。一者菩 薩受彼食已。證得無上正等菩提。二者如 來受彼食已。入於無餘大涅槃界。復應告 彼准陀。當知於施食中。若生變悔汝於如 是難得事中便為不得。如失菩薩將成佛。 時奉施乳糜。所生勝福慎莫變悔。由此故 言二果無別。有說。二時俱能資益離染身 故。謂食於消化時能作食事。佛於後夜成 正覺時。彼食消化如成正覺。涅槃亦爾。故 說二施果無差別。有說。初受食已證得佛 法。後受食已受用佛法。得修習修說亦如 是。有說。初受食已便入一切靜慮解脫等 持等至。後受食已亦入一切靜慮解脫等持 等至。有說。初受食已渡煩惱河。後受食已 渡生死河。有說。初受食已涸煩惱海。後受 食已涸生死海。如是拔煩惱樹。拔生死樹。 破煩惱山。破生死山。越煩惱依。越生死依。 說亦如是。有說。初受食已棄捨集諦。後受 食已棄捨苦諦。有說。初受食已證入道諦。 後受食已證入滅諦。有說。初受食已捨集 入道。後受食已捨苦入滅。有說。初受食已 超越諸漏。後受食已超順漏法。有說。初受 食已超四暴流。後受食已超順流法。如流 順流說超差別如是。扼順扼取。順取身繫 順身繫。諸蓋順諸蓋說超亦爾。有說。初受 食已摧破二魔。謂煩惱魔。自在天魔。後受 食已亦破二魔謂蘊魔死魔。有說。初受食 已入有餘大涅槃界。後受食已入無餘大涅 槃界。佛依如是種種因緣。說二種施果無。 差別。 2 緣納息1 大種蘊第五中緣納息第二之一 大種與大種為幾緣。如是等章。及解章義。 既領會已。當廣分別。問何故作此論。答欲 止譬喻者所說故。彼說緣性非實有法。問 彼何故作是說。答依契經故。如契經說。無 明緣行。行相有異無明一相。如何一相無明 為緣生異相行。而緣是實。尊者亦說。緣是 諸師假立名號。體非實有。亦為遮止如是 所說顯示諸緣體是實有。若諸緣性非實 有者。則一切法皆非實有。以因緣攝一切 有為法。等無間緣攝過去現在。除阿羅漢最 後心聚。餘心心所法。所緣緣增上緣攝一切 法故。又若緣性非實有者。應不施設諸 法甚深。謂不依因緣觀察則諸法性麁淺 易知。若以因緣而觀察者。則甚深義過四 大海。唯佛能知非餘所測。又若緣性非實 有者。應不施設有三菩提。謂以上智觀因 緣故得佛菩提。以中智觀得獨覺菩提。以 下智觀得聲聞菩提。又因緣性非實有者。 應不施設有三品慧。謂下品慧應常下品。 中應恒中。上應恒上。無實緣力令增減故。 若爾便無師徒教習。又師徒性應無改轉。 尊者妙音亦作是說。若緣非實師不應令 弟子覺慧轉。下作中。轉中作上。無修習緣 令增長故。師徒教誨應不得成。師應常 師弟子亦爾。由如是等所說理故。知緣自 性決定實有。問若緣實有當云何通譬喻 論師所引經義。答無明雖一作用有多。多用 為緣生異相行。以有為法隨託眾緣。有無 量門作用別故。譬如一士而有五能。而不 相違彼亦如是。有說。為顯諸有為法自性 羸劣。不能自起必藉他緣。無實作用無 有自在故作斯論。此中自性謂法自體。或 云此顯所生諸法自性羸劣。以羸劣故有 藉四緣。或三或二方得生起。尚無有法藉 一緣生況無所藉。如羸病者。必假若四若 三若二。所倚任緣而得起轉。尚無假一況 全不假。或云此顯能生因緣自性羸劣。以 羸劣故或四或三或二相資方能生法。如羸 劣者。或四或三或二相假能辦一事。如契經 說。色是無常色之因緣亦無常性。無常所起 色云何常。由諸有為性羸劣故不能自起。 謂彼無力可能自生。由不自生故藉他起。 要假緣力方得生故。由藉他緣故無作 用。謂法無欲作是念言。我應作誰誰令我 作。無作用故則無自在。謂我勿起我勿滅 中。諸有為法不自在故。有說。為遣諸緣起 愚故作斯論。緣起愚者。謂彼聞說無明緣 行。乃至生緣老死。便謂唯此是緣起法今欲 決定顯示從緣所生。內外諸法皆是緣起。 由此等緣故作斯論。 大種與大種為幾緣。答。因。增上。因者二因。 謂俱有。同類。俱生互相望為俱有因。前生 與後生為同類因。增上者謂不礙生。及唯 無障。此依種類總相而說。然四大種有十 一種。謂眼處所依。乃至法處所依。眼處所依 與眼處所依為因。增上與餘所依但一增 上。乃至法處所依與法處所依為因。增上 與餘所依但一增上。眼處所依大種復有二 種。謂左與右左與左所依為因。增上與右 所依但一增上。右與右所依為因。增上與 左所依但一增。上左眼所依大種復有二種。 謂所長養及異熟生。長養與長養為因。增 上與異熟生但一增上。異熟與異熟為因。 增上與所長養但一增上。異熟大種復有二 種。謂善業異熟及不善業異熟。善業異熟與 善業異熟為因。增上與不善業異熟但一 增上。不善業說亦爾。善業異熟大種復有二 種。謂天及人。天與天為因。增上與人但一 增上。人說亦爾。天大種復有二種。謂欲界及 色界。欲界與欲界為因。增上與色界但一 增上。色界說亦爾。色界大種復有四種。謂 初靜慮乃至第四靜慮。初靜慮與初靜慮為 因。增上與餘靜慮但一增上。乃至第四靜慮 說亦爾。不善業異熟大種復有三種。謂地獄 傍生餓鬼。地獄與地獄為因。增上與餘二 但一增上。傍生餓鬼說亦爾。如說異熟。長 養亦爾。如說左右亦爾。如說眼處所依大 種。乃至法處所依大種亦爾。此中異者。謂五 外處有自他身。情非情等差別應思。問同趣 同地處所差別。展轉相望為有因不。答有 說。無因。此不應理。應有大種是剎那故。 謂五淨居所有大種。無始生死曾未起故。諸 所造色十一種等准前大種廣說應知。大種 與所造色為幾緣。答因。增上。因者五因。謂 生因。依因。立因。持因。養因。增上者謂不礙 生。及唯無障。有說。大種與所造觸為同類 因。此不應理。大種所造觸非同類故。所造 色與所造色為幾緣。答因。增上。因者三因。 謂俱有。同類。異熟。增上者謂不礙生。及唯無 障。此總相說。差別說者准前大種如理應 思。所造色與大種為幾緣。答因。增上。因者 一因。謂異熟因。增上者。謂不礙生。及唯無 障。有說。造觸與諸大種為同類因。此不應 理。造觸大種非同類故。 大種與心心所法為幾緣。答所緣。增上。所 緣者。謂與身識彼相應法。及與意識彼相應 法為所緣。身識及相應法。取自相。意識及 相應法。取自相共相。增上者如前說。心心 所法與心心所法為幾緣。答因。等無間。所 緣。增上。因者五因。謂相應。俱有。同類。遍行。 異熟。等無間者。謂心心所法等無間。心心所 法現在前。所緣者。謂心心所法。與心心所 法為所緣。增上者如前說。心心所法與大 種為幾緣。答因。增上。因者。一因。謂異熟因。 增上者如前說。大種與眼處為幾緣。答因。 增上。因者五因。謂生等五。增上者如前說。 眼處與眼處為幾緣。答因增上。因者一因。 謂同類因。增上者如前說。眼處與大種為 幾緣。答一增上。增上義如前說。如眼處。耳 鼻舌身香味處亦爾。大種與色處為幾緣。 答因。增上。因者五因。謂生等五。增上者如 前說。色處與色處為幾緣。答因。增上。因者 二因。謂同類。異熟。增上者如前說。色處與 大種為幾緣。答因。增上。因者一因。謂異熟 因。增上者如前說。如色處。聲觸處亦爾。總 說雖然而義有異。謂大種與聲處為因。增 上。因者。五因。謂生等五。增上者如前說。聲 處與聲處為因。增上。因者一因。謂同類因。 增上者如前說。聲處與大種為因。增上。因 者一因。謂異熟因。增上者如前說。大種與 觸處為因。增上。因者七因。謂生等五。及俱 有。同類增上者如前說。觸處與觸處為因。 增上。因者七因。謂生等五。及俱有。同類。增 上者如前說。觸處與大種為因。增上。因者 二因。謂俱有。同類。增上者如前說。大種與 意處為幾緣。答所緣。增上。所緣者謂與身 識意識為所緣。身識取自相。意識取自相 共相。身識取時若一若多廣如前說。意處與 意處為幾緣。答因。等無間。所緣。增上。因者 三因。謂同類。遍行。異熟。等無間者。謂意處 等無間。意處現在前。所緣者。謂意處與意 處為所緣。增上者如前說。此依種類總相 而說。然意處有六種。謂眼識。乃至意識。此 中眼識與眼識為因。等無間。增上。非所緣。 因者二因。謂同類。異熟。等無間者謂眼識等 無間。眼識現在前。增上者如前說。非所緣 者以眼識唯緣色。眼識非色故。如眼識與 眼識。眼識與耳鼻舌身識亦爾。眼識與意 識為因等無間。所緣。增上。因者。二因。謂同 類。異熟等無間者。謂眼識等無間。意識現在 前。所緣者。謂眼識與意識為所緣。增上者 如前說。如眼識對六識。耳鼻舌身識對六 亦爾意識與意識為因。等無間。所緣。增上。 因者三因。謂同類。遍行。異熟。等無間者。謂 意識等無間。意識現在前。所緣者。謂意識與 意識為所緣。增上者如前說。意識與眼識 為因。等無間增上。非所緣。因者三因。即同 類。遍行。異熟。等無間者。謂意識等無間眼 識現在前增上者如前說。非所緣者。以眼 識唯緣色。意識非色故。如意識對眼識。意 識對餘識亦爾。問眼等五識展轉無間現在 前不。答諸瑜伽師說。眼等五識展轉無間不 現在前。皆從意識無間生故。阿毘達磨諸論 師言。眼等五識展轉皆得無間而起。若不爾 者違根蘊說。如彼說。苦根與苦根為因。等 無間。增上。非所緣。意處與大種為幾緣。答 因。增上。因者一因。謂異熟因。增上者如前 說。大種與法處為幾緣。答因。所緣。增上。因 者七因。謂生等五。及俱有。同類。所緣者。謂 與身識相應法。及意識相應法。為所緣。增 上者如前說。法處與法處為幾緣。答因。等 無間。所緣。增上。因者五因。即相應等五。等 無間者。謂法處等無間。法處現在前。所緣者。 謂法處與法處為所緣。增上者如前說。法 處與大種為幾緣。答因。增上。因者三因。謂 俱有。同類。異熟。增上者如前說。 大種與眼根為幾緣。答因。增上。因者五因。 謂生等五。增上者如前說。眼根與大種為 幾緣。答一增上。增上義如前說。如眼根。耳 鼻舌身男女根亦爾。大種與命根為幾緣。 答一增上。增上義如前說。命根與大種為 幾緣。答一增上。增上義如前說。大種與意 根為幾緣。答所緣。增上。所緣增上義皆如 前說。意根與大種為幾緣。答因增上。因者 一因。謂異熟因。增上者如前說。如意根。樂 苦喜憂捨信精進念定慧根亦爾。大種與未 知當知根為幾緣。答所緣。增上。所緣者。謂 諸大種與苦忍苦智。集忍集智。及相應根 為所緣。增上者如前說。未知當知根與大 種為幾緣。答一增上。增上義如前說。如未 知當知根。已知根具知根亦爾。問大種對處 問答有三。何故對根問答唯二。答彼造論者 意欲爾故。謂所造論隨彼意欲而造論。但 令不違法相。不應責其所以。有說。此是 有餘之說。有說。此中現種種文種種說。莊嚴 於義令易解故。有說。此中現二門二略乃 至廣說。有說。諸根即處所攝。若說處當知 已說根。是以不問。有說。此中廣略漸次。謂 初四問次三後二。由前廣說後可准知。為 去繁文漸略而說。問色法於色法有同類 因耶。答西方諸師。譬喻尊者說。色於色無 同類因。對法諸師說。色於色有同類因。如 前雜蘊同類因中已廣分別。 何故四大種一生一住一滅而不相應。心心 所法一生一住一滅說名相應。答如四大種 或減或增。心心所法則不如是。此中生者。 謂生所生。住者謂住所住。及異所異。滅者謂 滅所滅。問諸有為法各有生住滅。何故乃言 一生一住一滅。答有因緣故說各有生住 滅。謂各別有諸相相故非一相。有因緣故 說一生一住一滅。謂皆不離一剎那時等。 於一時生住滅故。問四大種體有增減不。 設爾何失二俱有過。若有增減寧不相離。 所以者何。若堅物中地極微多。水火風少。地 微隨與水等量雜餘則相離。乃至動物說亦 如是。若無增減水石等物。不應得成堅 軟等異。答應言大種體有增減。問若爾云 何名不相離。答雖有增減而不相離。以展 轉相資同作所作故。如堅物中雖地微多 水火風少。然離水等地微不能作所作事。 乃至動物說亦如是。如多村邑共營一事。 雖有人數多少不同。而互相須不可相離。 問心心所體亦有增減。如何乃言則不如是。 謂心所法於三界。三性。有漏。無漏。諸心聚 中有多有少。答由事等故不名增減。若一 心中有二想一受等可名增減。然一心中一 想一受等故異大種。有說。大種體無增減。問 石等云何堅軟等異。答大種勢力有增微故。 如堅物中四大極微。體數雖等而其勢力地 極微增。乃至動物說亦如是。如一兩鹽和 一兩置於舌上。鹽生識猛生識微。此亦 如是。水酢均和生舌識喻。針鋒鳥翮生身 識喻。廣說亦爾。問心心所法亦用有增微。 如指鬘利根。蛇奴根鈍。如何言不如是 耶。答如四大種勢力麁顯。增微易了是以說 之。心心所法則不如是。由此大種不說相 應。又心心所法皆有所緣。四大種無所緣。 非無所緣法可說相應。所以者何。心心所 法。有所依。有行相。有發悟故。必有所緣。 有所緣故恒相應不相離。四大種與此相 違。故無所緣無所緣故。雖不相離而不 相應。不相離有二種。一大種不相離共造 一色故。二心心所法不相離共緣一境故。 五蘊雖復同在一身。無此二事非不相離。 是故大種不說相應。 問云何得知此四大種恒不相離。答自相作 業一切聚中皆可得故。謂堅聚中地界自相 現可得故有義極成。於此聚中若無水界。 金銀錫等應不可銷。又水若無彼應分散。 若無火界石等相擊火不應生。又火若無 無能成熟彼應腐敗。若無風界應無動 搖。又若無風應無增長。於濕聚中水界自 相現可得故有義極成。於此聚中若無地 界至嚴寒位應不成氷。又地若無船等 應沒。若無火界應無煖時。又火若無彼應 腐敗。若無風界應不動搖。又風若無應無 增長。於煖聚中火界自相現可得故有義極 成。於此聚中若無地界燈燭等焰應不可 迴。又地若無不應持物。若無水界應不 生流。又水若無焰不應聚。若無風界應 不動搖。又若無風應無增長。於動聚中 風界自相現可得故有義極成。於此聚中 若無地界觸牆等障應不折迴。又地若無 應不持物。若無水界應無冷風。又水若 無彼應分散。若無火界應無煖風。又火若 無彼應腐敗。問此四大種其相各異展轉相 違。云何一時不相離起。尊者世友作如是 說言。異相相違因緣各別。非諸相異皆必相 違。諸不相違而相異者。容俱時起互不相 離。如四大種及香味觸青黃色等。諸有異 相而互相違。必無一時不相離起。如薪與 火。雹與稼穡。邏呼月輪。藥病明闇。
Việt dịch
QUYỂN 131 LUẬN VỀ ĐẠI TẠO (Phần 5) Như trong kinh nói: “Trưởng giả Ô-yết-la thưa với Đức Phật rằng: Thưa Đức Thế Tôn! Con vào một lúc nọ tự tay cầm thìa, lúc cúng dường đồ ăn thức uống cho Tăng, có thiên thần ở giữa hư không nói con rằng: Đây là quả A-la-hán, đây là Hướng a-la-hán, đây là quả Bất hoàn, đây là Hướng Bất hoàn, đây là quả Nhất lai, đây là Hướng Nhất lai, đây là quả Dự lưu, đây là Hướng Dự lưu, đây là trì-đây là phạm. Con vào lúc bấy giờ tuy nghe lời nói ấy, nhưng tự biết mình không có tâm không bình đẳng, ở trong Tăng chúng dùng tâm bình đẳng mà cúng dường.” Hỏi: Thiên thần ấy là ai? La ïi vì nhân duyên gì mà đến nói cho Trưởng giả biết? Đáp: Có người đưa ra cách nói như vậy: Là các ma ở cõi trời Dục, vì làm trở ngại đến phẩm thiện của Trưởng giả. Có người nói: Là quỷ dùng lời dối gạt làm c ho Trưởng giả mê hoặc rối loạn. Có Sư khác nói: Đó là các Thiên thần mà Trưởng giả thường cúng tế, đến giữa hư không chỉ dẫn rõ ràng cho Trưởng giả về sụ sai biệt của các ruộng phước. Có người khác lai nói : Đó là thân thuộc quá khứ của Trưởng giả sinh ở trong cõi trời, dùng lời nói thành thật để nhắc nhở dẫn dắt trưởng giả. Hỏi: Nếu là thân thuộc quá khứ của Trưởng giả thì đối với Hướng Dự lưu làm sao có thể biết được , bởi vì Kiến đạo nhanh chóng không phải là cảnh giới của họ? Đáp: Hướng Dự lưu có hai loại: 1. Thế tục. 2.Thắng nghĩa. Đạt được phần Thuận quyết trạch gọi là thế tục, đã tiến vào Kiến đạo thì gọi là thắng nghĩa. Trú vào Hướng thế tục là cảnh giới của các Thiên thần ấy. Nếu là Hướng thắng nghĩa thì Xá-lợi-tử… hãy còn không SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 131 571 www.daitangkinh.org biết hết, huống gì là các Thiên thầ n ấy, cho nên các Thiên thần ấy đã nêu ra chỉ là thế tục, bởi vì có thể thọ nhận đồ ăn thức uống mà Trưởng giả đã cúng dường. Cũng có kinh khác nói về Hướng thắng nghĩa. Như Đức Thế Tôn bảo với Bà-đà-lê rằng: “Nếu có Tỳ kheo là Câu giải thoát, giả sử Ta bảo với người ấy rằng: Ông hãy dù ng thân bắc cầu cho Ta ở nơi kênh mương lầy lội này! Này Bà-đà-lê, theo ý ông thế nào? Người ấy nghe Ta sai khiến thì có chống đối làm tr ái hay không? Lúc sắp bước chân lên thì có tránh né rút lui hay không? Lúc đang giẫm chân lên thì có nghiêng người chuyển động hay không? Bà- đà-lê thưa rằng: Không như vậy. Đức Thế Tôn lại bảo với Ba ø-đà-lê: Lược qua người Câu giải thoát, nếu có Tỳ kheo là Tuệ giải thoa ùt, giả sử Ta bảo với người ấy… cho đến nói rộng ra. Lại lược qua người Tuệ giải thoát, nói đến người Thân chứng; lại lược qua người Thân chứng, nói đến người Kiến chí; lại lược qua người Kiến chí, nói đến người Tín thắng giải; lược qua người Tín thắng giải, nói đến người Tùy pháp hành; lược qua người Tùy pháp hành, nói đến người Tùy tín hành…” Đức Phật hỏi-người ấy trả lời tất cả đều như trước. Có người nói: Kinh này cũng nói đến Hướng-quả Dự lưu thế tục, bởi vì trong Kiến đạo không có thể nghe nhận ngữ nghĩa của Phật. Lời bình: Trong này nói đến Hướng thắng nghĩa đối với lý là thích hợp, bởi vì nói đến Tùy tín-Tùy pháp hành. Hỏi: Lúc trú trong Kiến đạo không có thể nghe nhận, bởi vì ngữ nghĩa của Phật không có tâm khác, la øm sao Đức Thế Tôn dùng lời để nói về điều ấy? Đáp: Đức Thế Tôn dựa vào ý th ích của người ấy mà nói, bởi vì không có sự việc như vậy để phân biệt. Giả sử ở trong Kiến đạo có tâm phân biệt khác nhau, có thể tiếp nhận ngữ nghĩa này của Như Lai, thì chắc chắn rời bỏ Kiến đạo để làm theo s ự việc đã sai bảo. Ý của Đức Phật trách mắng Bà-đà-lê rằng: Trú trong Kiến đạo hãy còn thuận theo lời Ta sai bảo, huống gì ông lìa xa tất cả công đức, mà ở nơi Ta sinh tâm chống đối làm trái? Vì vậy trong này nói đến Hướng thắng nghĩa. Hỏi:Vì sao Trưởng giả tuy nghe l ời Thiên thần nói, nhưng vẫn ở trong Tăng chúng dùng tâm bình đẳng mà cúng dường? Đáp: Có người nói: Tăng chúng đều là do một tiếng kiền chùy báo hiệu của Trưởng giả mà tập trung đến. Người ấy dấy lên ý nghĩ này: Tăng chúng này đều là do một tiếng kiền chùy báo hiệu của mình mà tập trung đến, không nên đối với Tăng chúng mà dùng tâm cúng dường không bình đẳng. 572 BỘ TỲ ĐÀM 5 Có người nói: Bởi vì Tăng chúng thọ nhận đồ ăn thức uống này đều trừ được đói khát không có gì sai biệt. Người ấy dấy lên ý nghĩ này: Mình cúng dường đồ ăn thức uống để trừ hết đói khát, như A-la-hán thọ nhận mình cúng dường rồi đói khát được trừ hết, dị sinh có đủ ràng buộc thọ nhận đồ ăn thức uống của mình cũng lại như vậy, không nên ở đây mà cúng dường với tâm không bình đẳng. Có người nói: Trưởng giả cúng dường đồ ăn thức cho Tăng với ý nghĩ chủ yếu là muốn làm lợi ích cho người khác. Người ấy dấy lên ý nghĩ này: Mình cúng dường đồ ăn thức uống vì làm lợi ích cho người khác chứ không mong làm lợi cho mình, như A-la-hán thọ nhận đồ ăn thức uống của mình mà được lợi ích, người phá giới cũng như vậy, vì vậy cho nên nay mình phải cúng dường với tâm bình đẳng Có người nói: Bởi vì Trưởng giả tránh sự yêu ghét. Người ấy dấy lên ý nghĩ này: Nếu cúng dường không bình đẳng đối với Tăng, hoặc là mình khởi tâm yêu ghét, vì vậy se õ dẫn đến quả không như ý, mình đã đối với họ tạo nên thù oán, sao có thể gọi là thí chủ cúng dường thanh tịnh thật sự? Có người nói: Bởi vì Trưởng giả thuận theo lời Đức Phật dạy, cho nên lúc ấy dấy lên ý nghĩ này: Nh ư Lai thường nói nếu có ai đối với một Bổ-đặc-già-la, tâm không bình đẳng mà cung cấp nuôi dưỡng thì có năm điều lỗi lầm. Nếu có một sai sót thì hãy còn không nên làm, huống gì là đối với năm? Có người nói: Bởi vì Trưởng gi ả không mong cầu quả báo, cho nên lúc ấy dấy lên ý nghĩ này: Dị thục của quả cúng dường chỉ nhận lấy ở cõi Dục, nếu mình mạng chung sẽ sinh đến cõi Sắc, thì quả cúng dường đối với mình sẽ trở thành vô ích, giả sử là có ích thì hãy còn không mong cầu, huống gì là không có ích. Vì vậy mình chỉ nên dùng tâm bình đẳng mà cúng dường. Có người nói: Bởi vì Trưởng giả cung kính đối với xuất gia, cho nên dấy lên ý nghĩ này: Mình lìa nhiễm cõi Dục đạt được quả Bất hoàn, vẫn không có thể rời bỏ đối với ti ền của châu báu-quyến thuộc ở nhà, những người xuất gia tuy có đủ mọi ràng buộc, mà đối với gia đình quyến thuộc-tài sản châu báu có thể rời bỏ không có sự tích tập, thọ giới cấm của Phật suốt đời tu hành, pha ïm hạnh thanh tịnh viên mãn thuần nhất, giả sử có ý niệm sai lạc vi phạm làm hỏng giới cấm, sinh lòng hổ thẹn sâu sắc thường mong được thanh tịnh, nếu ở gia đình thì không thể nào như vậy. Vì vậy mình nên đối với Tăng chúng này dùng tâm bình đẳng mà cúng dường. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 131 573 www.daitangkinh.org Có người nói: Bởi vì Trưởng giả coi trọng hình tướng lễ nghi, cho nên dấy lên ý nghĩ này: Những người xua át gia cạo bỏ râu tóc-mặc áo vải nhuộm, hình tướng oai nghi giống như Phật, trì giới hay phá giới đều làm cho thế gian ngước nhìn tôn trọng mà sinh phước thiện, bởi vì làm ruộng phước cho nên mình đối với Tăng chúng phải dùng tâm bình đẳng mà cúng dường. Có người nói: Bởi vì Trưởng giả mang nặng ân của Phật, cho nên dấy lên ý nghĩ này: Mình nhờ vào Phật pháp mà đạt được Nhẫn trí, kiếm và chày Kim cang đa äp tan núi cao của ha i mươi Thân kiến, chặt đứt gốc rễ của vô biên nẽo ác, làm cho có giới hạn nhất định hướng đến Niết-bàn, ở trong bốn Đế có tuệ nhãn thanh tịnh, không còn kiết thuộc phần dưới, ra khỏi bùn lầy của dục vọng. Vì vậy mình không nên đối với đệ tử của Phật mà dùng tâm không bình đẳng để cúng dường. Có người nói: Bởi vì Trưởng giả hiển bày giác tuệ kiên cố của mình đã đạt được không thể nào chuyển đổi, cho nên dấy lên ý nghĩ này: Tuệ của mình kiên cố lẽ nào thuận theo lời của Thiên thần mà tùy tiện có sự chuyển biến hay sao? Vì vậy đối với Tăng chúng dùng tâm bình đẳng mà cúng dường. Hiển bày về mình như vậy, cho nên đến thưa với Đức Phật. Như trong kinh nói: “Đức Phật bảo với Khánh Hỷ: Cúng dường ăn uống có hai quả không có gì sai biệt: 1. Bồ-tát nhận thức ăn ấy rồi, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. 2. Như Lai nhận thức ăn ấy rồi, ti ến vào cảnh giới Đại Niết-bàn Vô dư.” Hỏi: Bắt đầu nhận thức ăn thì co ù tham sân si, sau khi nhận thức ăn thì tham sân si không còn, vì sao quả cúng dường không có có gì sai biệt? Đáp: Do suy nghĩ và do ruộng có sự thù thắng riêng biệt, Đức Phật dựa vào sự thù thắng riêng biệt mà nói là không sai khác. Nghĩa là lúc ban đầu hai chị em Nan-đà và Nan-đà-bạt-la, nghe nói Bồ-tát thọ nhận cháo sữa đầy đủ mười sáu vị ngọt ngào, chắc chắn sẽ được thành tựu Vô thượng Đẳng giác, vui mừng nhảy lên sung sướng phát khởi suy nghĩ thù thắng, mang cháo sữa như trên dâng lên Bồ-tát. Bồ-tát ăn rồi ngay trong đêm này, làm cho quân ma phải ha øng phục, thành bậc Đẳng Chánh Giác. Hai chị em nghe tin vui mừng gấp bội lại khởi lên suy nghĩ thù thắng. Ruộng đã cúng dường ấy tuy không phải là thù thắng, nhưng nhờ vào suy nghĩ thù thắng cho nên có thể dẫn đến quả thù thắng. Thuần- 574 BỘ TỲ ĐÀM 5 đà vào lúc Đức Phật sắp Niết-bàn, thấy thân hình của Đức Phật dường như có phần suy yếu đổi thay, la ïi nghe không lâu nữa nhất định nhập Niết-bàn, ngưỡng mộ lưu luyến không chịu đựng nổi, làm cho tâm mình buồn phiền rối bời, suy nghĩ và ý nguyện thù thắng không thể nào hiện rõ trước mắt, nhưng nhờ vào ruộng thù thắng mà có thể dẫn đến quả thù thắng. Đức Phật dựa vào đây cho nên nói là không có gì sai biệt. Có người đưa ra cách nói như vậy : Bởi vì muốn ngăn chặn tâm của Thuần-đà thay đổi hối tiếc. N hư trong kinh ấy nói: “Đức Phật bảo với A-nan: Nếu Thuần-đà kia là người khéo léo, hoặc là do người khác dẫn dắt, hoặc là tự mình suy nghĩ tìm hiểu, ở trong sự cúng dường thức ăn mà sinh lòng thay đổi hối tiếc, thì đối với sự việc khó có được sẽ trở thành không đạt được. Sự việc khó có được ấy, đó gọi là sự cúng dường cuối cùng lúc chư Phật sắp Niết-b àn. Nếu người ấy sinh tâm thay đổi hối tiếc, thì ông nên dùng sáu xứ mà khuyến khích, nói cho biết là nhân duyên cúng dường thức ăn có thể dẫn đến sống lâu, sắc tướng-sức ma- ïnh-vui vẻ-danh tiếng-giàu sang-quan quyền, tôi đi theo Đức Thế Tôn tự mình nghe sự việc này, cúng dường thức ăn có hai quả không có gì sai biệt: 1. Bồ-tát thọ nhận thức ăn ấy rồi, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. 2. Như Lai thọ nhận thức ăn ấy rồi , tiến vào cảnh giới Đại Niết- bàn vô dư. Lại cần phải nói cho Thuần-đà kia biết: Nên biết ở trong sự cúng dường thức ăn, nếu sinh tâm thay đổi hối tiếc thì ông ở trong sự việc khó có được như vậy sẽ trở thành không đạt được. Như mất đi dịp dâng cúng cháo sữa mà sinh ra phước thiện thù thắng lúc Bồ-tát sắp thành Phật, cẩn thận đừng thay đổi hối tiếc !” Vì vậy cho nên nói là hai quả không có gi sai khác. Có người nói: Hai lúc đều có thể giúp đỡ thêm cho thân lìa nhiễm, nghĩa là thức ăn vào lúc tiêu hóa thì có thể làm sự việc của ăn. Đức Phật vào lúc cuối đêm thành tựu Chánh giác, thức ăn ấy tiêu hóa giống như thành tựu Chánh giác; Niết-bàn cu õng như vậy. Vì thế cho nên nói hai quả của sự cúng dường không có sai biệt. Có người nói: Ban đầu thọ nhận thức ăn rồi chứng được Phật pháp, sau khi thọ nhận thức ăn rồi thọ dụng Phật pháp. Được tu và tập tu, nói cũng như vậy. Có người nói: Ban đầu thọ nhận thức ăn rồi liền tiến vào tất cả Tĩnh lự-Giải thóat-Đẳng trì-Đẳng chí, sau khi thọ nhận thức ăn rồi cũng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 131 575 www.daitangkinh.org tiến vào tất cả Tĩnh lự-Giải thoát-Đẳng trì-Đẳng chí. Có người nói:Ban đầu thọ nhận th ức ăn rồi vượt qua dòng sông phiền não, sau khi thọ nhận thức ăn rồi vượt qua dòng sông sinh tử. Có người nói: Ban đầu thọ nhận t hức ăn rồi làm khô cạn biển phiền não, sau khi thọ nhận thức ăn rồi làm khô cạn biển sinh tử. Như vậy, nhổ bật cây phiền não-nhổ bật cây sinh tử, phá tan núi phiền não- phá tan núi sinh tử, vượt qua nơi nương tựa của phiền não-vượt qua nơi nương tựa của sinh tử, nói cũng như vậy. Có người nói: Ban đầu thọ nhận thức ăn rồi rời bỏ Tập đế, sau khi thọ nhận thức ăn rồi rời bỏ Khổ đế. Có người nói: Ban đầu thọ nhận thức ăn rồi chứng nhập Đạo đế, sau khi thọ nhận thức ăn rồi chứng nhập Diệt đế. Có người nói: Ban đầu thọ nhận thức ăn rồi rời bỏ Tập tiến vào Đạo, sau khi thọ nhận thức ăn rồi rời bỏ Khổ tiến vào Diệt. Có người nói: Ban đầu thọ nhận thức ăn rồi vượt lên trên các Lậu, sau khi thọ nhận thức ăn rồi vượt lên trên pháp thuận theo Lậu. Có người nói: Ban đầu thọ nhận thức ăn rồi vượt qua bốn Bộc lưu, sau khi thọ nhận thức ăn rồi vượt qua pháp thuận theo Bộc lưu. Như Bộc lưu-thuận theo Bộc lưu, nói đến vượt qua sai bi ệt như vậy; Ách-thuận theo Ách, Thủ- thuận theo Thủ, Thân hệ - thuận theo Thân hệ, các Cái- thuận theo các Cái, nói đến vượt qua cũng như vậy. Có người nói: Ban đầu thọ nhận thức ăn rồi phá tan hai ma, đó là ma phiền não và ma trời tự tại; sau khi thọ nhận thức ăn rồi cũng phá tan hai ma, đó là ma uẩn và ma chết. Có người nói: Ban đầu thọ nhận thức ăn rồi tiến vào cảnh giới Đại Niết-bàn Hữu dư, sau khi thọ nhận thức ăn rồi tiến vào cảnh giới Đại Niết-bàn Vô dư. Đức Phật dựa vào các loại nhân duyên như vậy, nói đến quả của hai loại cúng dường không có gì sai biệt. ------------------------------------- 576 BỘ TỲ ĐÀM 5 CHƯƠNG V: ĐẠI CHỦNG UẨN (Tiếp Theo) Phẩm Thứ Hai: LUẬN VỀ DUYÊN LUẬN VỀ DUYÊN (Phần 1) Đại chủng làm mấy duyên cho Đại chủng? Các chương như vậy và giải thích về nghĩa của từng chương đã lĩnh hội rồi, tiếp đến nên phân biệt rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì cần phải ngăn chặn cách nói của phái Thí Dụ, phái ấy nói tánh của duyên không phải là pháp có thật. Hỏi: Vì sao họ đưa ra cách nói này? Đáp: Bởi vì dựa vào kinh. Như trong kinh nói: “Vô minh duyên Hành.” Tướng của Hành có khác nhau, Vô minh chỉ có một tướng, làm sao một tướng của Vô minh làm duyên sinh ra tướng khác nhau của Hành, mà duyên là thật? Tôn giả cũng nói: “Duyên là tên gọi mà các Sư tạm thời thiết lập, Thể không phải là có thật.” Cũng vì ngăn chặn những cách nói như vậy để hiển bày rõ ràng thể của các duyên là có thật. Nếu tánh của các duyên không phải là có thật, thì tất cả các pháp đều không phải là có thật, bởi vì Nhân duyên thâu nhiếp tất cả các pháp hữu vi; Đẳng vô gián duyên thâu nhiếp quá khứ-hiện tại, trừ ra tụ tâm cuối cùng của A-la- hán, còn lại tâm-tâm sở pháp; Sở duyên duyên và Tăng thượng duyên thâu nhiếp tất cả các pháp. Vả lại, nếu tánh của duyên không phải là có thật, thì lẽ ra không thi thiết các pháp rất sâu xa, nghĩa là không dựa vào nhân duyên quán sát bởi vì tánh của các pháp thô thiển dễ biết. Nếu dùng nhân duyên mà quán sát, thì nghĩa rất sâu xa vượt quá bốn biển lớn, chỉ riêng Đức Phật mới có năng lực biết được chứ không phải là ai khác mà biết được. Lại nữa, nếu tánh của duyên không phải là có thật, thì lẽ ra không thi thiết có ba loại Bồ-đề, đó là dùng trí bậc Thượng quán xét nhân duyên cho nên đạt được B ồ-đề của Phật, dùng trí bậc Trung quán xét đạt được Bồ-đề của Độc giác, dùng trí bậc Hạ quán xét đạt được Bồ-đề của Thanh văn. La ïi nữa, tánh của nhân duyên không phải là thật có, thì lẽ ra không thi thiết có ba phẩm Tuệ, đó là Tuệ phẩm Hạ sẽ luôn luôn là phẩm Hạ, phẩm Trung sẽ luôn luôn là phẩm Trung, phẩm Thượng sẽ luôn luôn là phẩm Thượng, bởi vì không có lực của duyên thật sự làm cho tăng giảm. Nếu như vậy thì không có thầy trò- SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 131 577 www.daitangkinh.org dạy dỗ-luyện tập, và tánh của thầy trò lẽ ra không có thay đổi gì cả. Tôn giả Diệu Âm cũng đưa ra cách nói này: “Nếu duyên không phải là thật thì lẽ ra thầy không nên làm cho giác tuệ của học trò chuyển từ bậc Hạ thành bậc Trung, chuyển từ bậc Trung thành bậc Thượng. Bởi vì không có duyên tu tập làm cho tăng trưởng, cho nên thầy trò-dạy dỗ sẽ không được thành lập, thầy sễ l uôn luôn là thầy-học trò cũng như vậy.” Bởi vì những lý lẽ đã nói như vậy, cho nên biết tự tánh của duyên quyết định là có thật. Hỏi: Nếu duyên là có thật thì nghĩ a của kinh mà phái Thí Dụ đã dẫn ra nên thông hiểu thế nào? Đáp: Vô minh tuy là một mà tác dụng có nhiều, phần nhiều dùng làm duyên sinh ra tướng khác nhau của hành. Bởi vì pháp hữu vi tùy theo các duyên nương nhờ, cho nên có vô lượng môn với tác dụng khác nhau, ví như một người mà có năm khả năng nhưng không trái ngược nhau, điều ấy cũng như vậy. Có người nói: Bởi vì hiển bày tự tánh của các pháp hữu vi yếu kém, không có thể tự mình dấy khởi mà chắc chắn phải nhờ vào duyên khác, không có tác dụng thật sự-không có tự tại, cho nên soạn ra phần luận này. Trong này, tự tánh nghĩa là tự Thể của pháp. Hoặc là nói ở đây hiển bày về tự tánh yếu kém của cá c pháp đã sinh ra, bởi vì yếu kém cho nên có lúc nhờ vào bốn duyên, hoặc là ba-hoặc là hai mới được sinh khởi. Hãy còn không có pháp nào nhờ vào một duyên mà sinh khởi, huống gì là không có nơi nào nhờ cậy? Như người bệnh hoạn yếu đuối, nhất định phải nhờ vào hoặc là bốn-hoặc là ba-hoặc là hai duyên đã nương nhờ mà được sinh khởi chuyển đổi, hãy còn không có nhờ vào một duyên, huống gì là hoàn toàn không nương nhờ? Hoặc là nói ở đây hiển bày về tự tánh yếu kém của Nhân duyên tự nhiên sinh ra(năng sinh), bởi vì yếu kém cho nên hoặc là bốn-hoặc là ba-hoặc là hai giúp đỡ nhau mới có thể sinh ra pháp. Như người yếu đuối, hoặc là bốn-hoặc là ba-hoặc là hai dựa vào nhau mới có thể làm được một công việc. Như trong kinh nói: “Sắc là vô thường, nhân duyên của sắc cũng là tánh vô thường. Do vô thường mà khởi lên thì sắc làm sao thường? Bởi vì tánh của các pháp hữu vi yếu kém cho nên không có thể tự nhiên dấy khởi, nghĩa là pháp ấy không có sức mạnh để có thể tự mình sinh khởi. Bởi vì không tự mình sinh khởi cho nên nhờ vào nơi khác mà sinh khởi, cần phải nhờ vào sức mạnh của duyên mới được 578 BỘ TỲ ĐÀM 5 sinh khởi. Bởi vì nhờ vào duyên khác cho nên không có tác dụng, nghĩa là pháp không có mong muốn dấy lên ý nghĩ này: Mình phải làm vì ai, ai khiến mình phải làm? Bởi vì không có tác dụng cho nên sẽ không có tự tại, nghĩa là trong các pháp hữu vi không tự tại mình đừng khởi lên- mình đừng diệt đi.” Có người nói: Vì loại bỏ những ngu dốt về d uyên khởi, cho nên soạn ra phần luận này. Ngu dốt về duyên khởi, nghĩa là lúc ấy nghe nói Vô minh duyên Hành, cho đến Sinh duyên Lão tử, liền cho rằng chỉ riêng pháp này là pháp duyên khởi. Nay cần phải quyết định hiển bày rõ ràng từ duyên mà sinh ra, cá c pháp trong-ngoài đều là duyên khởi. Vì những duyên này cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Đại chủng cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu-Đồng loại. Cùng sinh và hướng về với nhau là nhân Câu hữu, sinh trước và sinh sau là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ ri êng không có chướng ngại. Đây là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Nhưng bốn Đại chủng có mười một loại, đó là sở y của Nhãn xứ cho đến sở y của Pháp xứ. Sở y của Nhãn xứ cùng với sở y của Nhãn xứ làm Nhân-Tăng thượng, cùng với sở y khác chỉ là một Tăng thượng, cho đến Sở y của Pháp xứ cùng với s ở y của Pháp xứ làm Nhân-Tăng thượng, cùng với sở y khác chỉ là một Tăng thượng. Đại chủng sở y của Nhãn xứ lại có hai loại, đó là trái và phải. Sở y của bên trái cùng với bên trái la øm Nhân-Tăng thượng, cùng với sở y của bên phải chỉ là một Tăng thượn g. Sở y của bên phải cùng với bên phải làm Nhân-Tăng thượng, cùng với sở y của bên trái chỉ là một Tăng thượng. Đại chủng sở y của Nhãn bên trái lại có hai loại, đó là do nuôi lớn và dị thục sinh. Nuôi lớn cùng với nuôi lớn làm Nhân-Tăng thượng, cùng với dị thục sinh chỉ là một Tăng thượng. Dị thục cùng với dị thục làm Nhân-Tăng thượng, cùng với nuôi lớn chỉ là một Tăng thượng. Đại chủng dị thục lại có hai loại, đó là dị thục của nghiệp thiện và dị thục của nghiệp bất thiện. Dị thục của nghiệp thiện cùng với dị thục của nghiệp thiện làm Nhân-Tăng t hượng, cùng với dị thục của nghiệp bất thiện chỉ là một Tăng thượng. Nghiệp bất thiện nói cũng như vậy. Đại chủng dị thục của nghiệp thiện la ïi có hai loại, đó là trời và người. Trời và trời làm Nhân-Ta êng thượng, cùng với người chỉ là một Tăng thượng. Loài người nói cũng như va äy. Đại chủng của trời lại có SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 131 579 www.daitangkinh.org hai loại, đó là cõi Dục-Sắc. Cõi Dục cùng với cõi Dục làm Nhân-Tăng thượng, cùng với cõi Sắc chỉ là một Tăng thượng. Cõi Sắc nói cũng như vậy. Đại chủng của cõi Sắc lại có bốn loại, đó là Tĩnh lự thứ nhất cho đến Tĩnh lự thứ tư. Tĩnh lự thứ nhất cùng với Tĩnh lự thứ nhất làm Nhân- Tăng thượng, cùng với Tĩnh lự khác chỉ là một Tăng thượng; cho đến Tĩnh lự thứ tư nói cũng như vậy. Đại chủng dị thục của nghiệp bất thi ện lại có ba loại, đó là địa ngục-bàng sinh và ngạ quỷ. Địa ngục cùng với địa ngục làm Nhân-Tăng thượng, cùng với hai nẽo khác chỉ là Tăng thượng. Bàng sinh và ngạ quỷ nói cũng như vậy. Như nói về dị thục, nuôi lớn cũng như vậy. Như nói về bên trái, bên phải cũng như vậy. Như nói về Đại chủng sở y của Nhãn xứ, cho đến Đại chủng sở y của Pháp xứ cũng như vậy. Trong này khác nhau, đó là năm xứ bên ngoài có thân mình và thân khác; tình và phi tình… sai biệt nên suy nghĩ! Hỏi: Cùng nẽo-cùng địa mà xứ sở sai biệt, lần lượt chuyển đổi hướng về nhau là có nhân hay không? Đáp: Có người nói: Không có nhân. Điều này không hợp lý, bởi vì có Đại chủng là sát-na, đó là Ngũ tịnh cư vốn có Đại chủng, từ vô thỉ sinh tử chưa hề dấy khởi. Mười một loại như các sắc sở tạo… dựa theo Đa ïi chủng trước đây nói rộng ra nên biết. Hỏi: Đại chủng cùng với sắc sở tạo là mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Sinh khởi-nhân Nương tựa-nhân Tồn tại- nhân Duy trì và nhân Nuôi dưỡng. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại. Có người nói: Đại chủng cùng với Xúc sở tạo làm nhân Đồng loại. Điều này không hợp lý, bởi vì Đại chủng và Xúc sở tạo không phải là đồng loại. Hỏi: Sắc sở tạo cùng với sắc sở tạo làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là Câu hữu- Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại. Đây là nói theo tướng chung, nói sai biệt thì dựa theo Đại chủng trước đây như lý nên suy nghĩ! 580 BỘ TỲ ĐÀM 5 Hỏi: Sắc sở tạo cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn nga ïi đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại. Có người nói: Tạo xúc cùng với các Đại chủng làm nhân Đồng loại. Điều này không hợp lý, bởi vì Tạo xúc và Đại chủng không phải là đồng loại. Hỏi: Đại chủng cùng với tâm-tâm sở pháp làm mấy duyên? Đáp: Sở duyên và Tăng thượng. Sở duyên, nghĩa là làm sở duyên cho pháp tương ưng với Thức thân kia, và làm sở duyên cho pháp tương ưng với Ý thức kia. Thân thức và pháp tương ưng, chọn lấy tự tướng; Ý thức và pháp tương ưng, chọn la áy tự tướng-cọng tướng. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Tâm-tâm sở pháp cùng với tâm-tâm sở pháp làm mấy duyên? Đáp: Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là Tương ưng-Câu hữu-Đồng loại-Biến hành và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là tâm- tâm sở pháp đẳng vô gián, tâm-tâm sở pháp hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, nghĩa là tâm-tâm sở pháp cùng với tâm-tâm sở pháp làm sở duyên. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Tâm-tâm sở pháp cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Đại chủng cùng với Nhãn xứ làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Nhãn xứ cùng với Nhãn xứ làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nha ân là một nhân, đó là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Nhãn xứ cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Như Nhãn xứ, nhĩ-tỷ-thiệt-thân-hương-vị xứ cũng như vậy. Hỏi: Đại chủng cùng với Sắc xứ làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Sắc xứ cùng với Sắc xứ làm mấy duyên? Đáp? Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 131 581 www.daitangkinh.org Hỏi: Sắc xứ cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục.Tăng thượng, nói như trước. Như Sắc xứ, thanh-xúc xứ cũng như vậy. Nói chung thì tuy là như vậy ma ø nghĩa có khác, đó là Đại chủng cùng với Thanh xứ làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước. Thanh xứ cùng với Thanh xứ làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng loại; Tăng thượng, nói như trước. Thanh xứ cùng với Đại chủng làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục; Tăng thượng, nói như trước. Đại chủng cùng với Xúc xứ làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là bảy nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi…, và Câu hữu-Đồng loại; Tăng thượng, nói như trước. Xúc xứ cùng với Xúc xứ làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là bảy nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi…,và Câu hữu- Đồng loại; Tăng thượng, nói như trước. Xúc xứ cùng với Đại chủng làm Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là Câu hữu và Đồng loại; Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Đại chủng cùng với Ý xứ làm mấy duyên? Đáp: Sở duyên và Tăng thượng. Sở duyên, đó là làm sở duyên cho Thân thức và Ý thức, Thân thức chọn lấy tự tướng, Ý thức chọn lấy tự tướng-cọng tướng, Thân thức chọn lấy thì hoặc là một-hoặc là nhiều, nói rộng ra như trước. Hỏi: Ý xứ cùng với Ý xứ làm mấy duyên? Đáp: Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là Đồng loại-Biến hành và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là Ý xứ đẳng vô gián, Ý xứ hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là Ý xứ làm sở duyên cho Ý xứ. Tăng thượng, nói như trước. Đây là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Nhưng Ý xứ có sáu loại, đó là Nhãn thức cho đến Ý thức. Trong này, Nhãn thức cùng với Nhãn thức làm Nhân-Đẳng vô gián-Tăng thượng, không phải là Sở duyên. Nhân là hai nhân, đó là Đồng lo ại và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là Nhãn thức đẳng vô gián, Nhãn thức hiện rõ ở trước mắt. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là S ở duyên, bởi vì Nhãn thức chỉ duyên với sắc, Nhãn thức không phải la ø sắc. Như Nhãn thức cùng với Nhãn thức, Nhãn thức cùng với nhĩ-tỷ-thiệt-thân thức cũng như vậy. Nhãn thức cùng với Ý thức làm Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó la ø Đồng loại và Dị thục. Đẳng vô 582 BỘ TỲ ĐÀM 5 gián, nghĩa là Nhãn thức đẳng vô gián, Ý thức hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, nghĩa là Nhãn thức làm sở duyên cho Ý thức. Tăng thượng, nói như trước. Như Nhãn thức đối với sáu thức, nhĩ-tỷ-thiệt-thân thức đối với sáu thức cũng như vậy. Ý thức cùng với Ý thức la øm Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó la ø Đồng loại-Biến hành và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là Ý thức đẳng vô gián, Ý thức hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, nghĩa là Ý thức làm sở duyên cho Ý thức. Tăng thượng, nói như trước. Ý thức cùng với Nhãn thức làm Nhân-Đẳng vô gián-Tăng thượng, không phải là Sở duyên. Nhân là ba nhân, đó là Đồng loại-Biến hành và Dị thục. Đẳng vô gián, nghĩa là Ý thức đẳng vô gián, Nhãn thức hiện rõ ở trước mắt. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là Sở duyên, bởi vì Nhãn thức chỉ duyên với sắc, Ý thức không phải là sắc. Như Ý thức đối với Nhãn thức, Ý thức đối với thức khác cũng như vậy. Hỏi: Năm thức như nhãn…lần lượt chuyển đổi không gián đoạn hiện rõ ở trước mắt hay không? Đáp: Các sư Du-già nói: Năm thức như nhãn… lần lượt chuyển đổi không gián đoạn không hiện rõ ở trước mắt, bởi vì đều từ ý thức không gián đoạn mà sinh ra. Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nó i: Năm thức như nhãn… lần lượt chuyển đổi đều nhất định không gia ùn đoạn mà khởi lên. Nếu không như vậy thì trái với chương Căn Uẩn nói, như chương ấy nói: “Khổ căn cùng với Khổ căn làm Nhân-Đẳng vô gián-Tăng thượng, không phải là Sở duyên.” Hỏi: Ý xứ cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục; Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Đại chủng cùng với Pháp xứ làm mấy duyên? Đáp: Nhân-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là bảy nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi…, và Câu hữu- Đồng loại. Sở duyên, đó là làm sở duyên cho pháp tương ưng với Thân thức và pháp tương ưng với Ý thức. Tăng thượng, nói như trước. Pháp xứ cùng với Pháp xứ làm mấy duyên? Đáp: Nhân-Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, tức là năm nhân như Tương ưng. Đẳng vô gián, nghĩa là Pháp xứ đẳng vô gián, Pháp xứ hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, nghĩa là Pháp xứ làm sở duyên cho Pháp xứ. Tăng thượng, nói như trước. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 131 583 www.daitangkinh.org Pháp xứ cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là Câu hữu- Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Đại chủng cùng với Nhãn căn làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Nhãn căn cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Như nhãn căn, nhĩ-tỷ-thiệt-thân-nam-nữ căn cũng như vậy. Hỏi: Đại chủng cùng với Mạng căn làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Mạng căn cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Đại chủng cùng với Ý căn làm mấy duyên? Đáp: Sở duyên và Tăng thượng, nghĩa về Sở duyên và Tăng thượng đều nói như trước. Hỏi: Ý căn cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục; Tăng thượng, nói như trước. Như Ý căn, lạc-khổ-hỷ-ưu-xả-tín-tinh tiến-niệm-định-tuệ căn cũng như vậy. Hỏi: Đại chủng cùng với Vị tri đương tri căn làm mấy duyên? Đáp: Sở duyên và Tăng thượng. Sở duyên, nghĩa là các Đại chủng làm sở duyên cho Khổ nhẫn-Khổ trí, Tập nhẫn-Tập trí, và căn tương ưng. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Vị tri đương tri căn cùng với Đại chủng làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Như Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn cũng như vậy. Hỏi: Đại chủng đối với Xứ hỏi-đáp có ba, vì sao đối với Căn hỏi- đáp chỉ có hai? Đáp: Bởi vì ý của người soa ïn luận muốn như vậy, nghĩa là luận đã soạn ra tùy theo ý muốn của người ấy mà soạn luận, nhưng làm cho không trái với pháp tướng, vì vậy không cần phải vặn hỏi về điều ấy. Có người nói: Đây là cách nói c ó khác. Có người nói: Trong này thể hiện nhiều loại văn từ-nhiều loại giải thích, nêu bày rõ ràng về nghĩa khiến cho dễ hiểu. Có người nói: Trong này thể hiện hai môn loại-hai phương thức cho đến nói rộng ra. Có người nói: Các Căn tức là do Xứ thâu nhiếp, nếu nói đến Xứ thì nên biết là đã nói đến Căn, vì vậy không hỏi đến. Có người nói: Trong này mở rộng và tóm lược dần dần, 584 BỘ TỲ ĐÀM 5 nghĩa là bắt đầu hỏi là bốn-tiếp theo là ba-sau cùng là hai, bởi vì trước nói mở rộng-sau có thể dựa theo biết được, vì bỏ bớt văn phức tạp dần dần tóm lược mà nói. Hỏi: Sắc pháp đối với Sắc pháp có nhân Đồng loại hay không? Đáp: Các Sư phương Tây- Tôn giả Thí Dụ nói: “Sắc đối với Sắc không có nhân Đồng loại.” Các Sư phái Đối Pháp nói: “Sắc đối với Sắc có nhân Đồng loại.” Như trong phần nhân Đồng loại ở chương Tạp Uẩn trước đây đã phân biệt nhiều. Hỏi: Vì sao bốn Đại chủng cùng sinh-cùng trú-cùng diệt mà không tương ưng, tâm-tâm sở pháp cùng sinh-cùng trú-cùng diệt mà lại nói là tương ưng? Đáp: Như bốn Đại chủng có lúc giảm-có lúc tăng, tâm-tâm sở pháp thì không như vậy. Trong này, si nh nghĩa là năng sinh-sở sinh, trú nghĩa là năng trú-sở trú và năng dị-sở dị, diệt nghĩa là năng diệt-sở diệt. Hỏi: Các pháp hữu vi đều có sinh-tr ú-diệt, vì sao lại nói là cùng sinh- cùng trú- cùng diệt? Đáp: Có nhân duyên cho nên nói đều có sinh-trú-diệt, nghĩa là có các tướng khác nhau, nhiều tướng cho nên không phải là một tướng. Có nhân duyên cho nên nói cùng sinh- cùng trú-cùng diệt, nghĩa là tất cả đều không lìa khỏi thời gian một sát-na…, bởi vì sinh-trú-diệt ở trong một lúc. Hỏi: Thể của bốn Đại chủng có tăng giảm hay không? Giả sử như vậy thì có gì sai? Cả hai đều có sa i lầm. Nếu có tăng giảm thì lẽ nào không tách rời nhau? Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu trong vật cứng mà cực vi của địa nhiều thì thủy-hỏa-phong sẽ ít, cực vi của địa tùy theo lượng xen tạp của thủy…, loại khác thì tách rời nhau; cho đến vật động nói cũng như vậy. Nếu không có tăng giảm thì các vật như nước-đá…, lẽ ra không có thể trở thành khác nhau như cứng-mềm…? Đáp: Nên nói là Thể của Đại chủng có tăng giảm. Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao nói là không tách rời nhau? Đáp: Tuy có tăng giảm mà không ta ùch rời nhau, bởi vì lần lượt chuyển đổi giúp đỡ nhau cùng làm những việc làm. Như trong vật cứng tuy cực vi của địa nhiều mà thủy-hỏa-phong ít, nhưng tách rời thủy… thì địa yếu ớt không có thể làm được những việc làm; cho đến vật động nói cũng như vậy. Như nhiều thôn xóm cùng nhau lo liệu một sự việc, tuy có số người nhiều ít không giống nhau, mà cần phải hỗ trợ lẫn nhau chứ không có thể tách rời nhau. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 131 585 www.daitangkinh.org Hỏi: Thể của tâm-tâm sở cũng có tăng giảm, tại sao lại nói thì không như vậy? Nghĩa là tâm sở pháp có nhiều-có ít ở trong các tụ tâm của ba cõi- ba tánh- hữu lậu- vô lậu. Đáp: Bởi vì sự việc bằng nha u cho nên không gọi là tăng giảm, nếu trong một tâm có hai Tưởng-một Thọ… thì có thể gọi là tăng giảm, nhưng trong một tâm thì một Tưởng-một Thọ bằng nhau cho nên khác với Đại chủng. Có người nói: Thể của Đại chủng không có tăng giảm. Hỏi: Đá-gỗ…vì sao cứng-mềm… khác nhau? Đáp: Bởi vì thế lực của Đại chủng có tăng thêm cực vi, như cực vi của bốn Đại trong vật cứng, số lượng của Thể tuy bằng nhau mà thế lực ấy tăng thêm cực vi của địa; c ho đến vật động nói cũng như vậy. Như một lạng muối hòa với một lạng bột đặt ở trên lưỡi, muối sinh ra thức mạnh hơn-bột sinh ra thức yếu hơn nhi ều; ở đây cũng như vậy. Thí dụ về nước-giấm cùng hòa vào nhau sinh ra Thiệt thức, thí dụ về kim nhọn- lông chim sinh ra Thân thức, nói rộng ra cũng như vậy. Hỏi: Tâm-tâm sở pháp cũng có tăng thêm cực vi, như Chỉ Man là lợi căn, Xà Nô là độn căn, tại sao nói là không như vậy? Đáp: Như bốn Đại chủng có thế lực thô thiển rõ ràng, cực vi tăng lên dễ dàng biết rõ, vì vậy nói đến điều ấy; tâm-tâm sở pháp thì không như vậy. Vì vậy, Đại chủng không nói đến tương ưng. Vả lại, tâm-tâm sở pháp đều có sở duyên, bốn Đại chủng không có sở duyên, không phải là pháp không có sở duyên mà có thể nói đến tương ưng. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tâm-tâm sở pháp có sở y, có hành tướng, có phát ngộ, cho nên chắc ch ắn có sở duyên, có sở duyên cho nên luôn luôn tương ưng không tách rời nhau; bốn Đại chủng trái ngược với điều này, cho nên không có sở duyên, bởi vì không có sở duyên cho nên tuy không tách rời nhau mà không tương ưng. Không tách rời nhau có hai loại: 1. Đại chủng không tách rời nhau cùng tạo ra một sắc. 2. Tâm-tâm sở pháp không tác h rời nhau cùng duyên vào một cảnh. Năm uẩn tuy là cùng thuộc về một thân, mà không có hai sự việc này chứ không phải là không tách rời nhau, vì vậy Đại chủng không nói đến tương ưng. Hỏi: Vì sao biết được bốn Đạ i chủng này luôn luôn không tách rời nhau? Đáp: Bởi vì tự tướng tác nghiệp trong tất cả các tụ đều có thể đạt 586 BỘ TỲ ĐÀM 5 được. Nghĩa là trong tụ cứng thì tự tướng của địa giới hiện bày rõ ràng có thể đạt được, cho nên có nghĩa th ành tựu cao nhất. Ở trong tụ này nếu không có thủy giới, thì vàng-bạc -sắt thép…sẽ không có thể tiêu mất, và nếu nước không có thì Đại chủng ấy sẽ phân tán. Nếu không có hỏa giới thì đá sỏi…đánh vào nhau không sinh ra lửa, và nếu lửa không có thì không có thể thành thục, Đại chủng ấy sẽ thối rữa hư hoại. Nếu không có phong giới thì sẽ không có chuyển động, và nếu không có gió thì Đại chủng ấy sẽ không có sự tăng trưởng. Ở trong tụ ướt thì tự tướng của thủy giới hiện bày rõ ràng có thể đạt được, cho nên có nghĩa thành tựu cao nhất. Ở trong tụ này nếu không có địa giới thì đến phần vị giá rét sẽ không thành băng lạnh, và nếu đất không có thì thuyền bè… sẽ chìm mất. Nếu không có hỏa giới thì sẽ không có thời tiết nóng ấm, và nếu lửa không có thì Đại chủng ấy sẽ thối rữa hư hoại. Nếu không có phong giới thì sẽ không có chuyển động, và nếu gió không có thì sẽ không có sự tăng trưởng. Ở trong tụ nóng thì tự tướng của hỏa giới hiện bày rõ ràng có thể đạt được, cho nên có nghĩa thà nh tựu cao nhất. Ở trong tụ này nếu không có địa giới thì đèn nến… sẽ không t hể nào cháy lại được, và nếu đất không có thì sẽ không duy trì được mọi vật. Nếu không có thủy giới thì sẽ không sinh ra dòng chảy, và nếu không có lửa thì ngọn lửa sẽ không tụ lại được. Nếu không có phong giới thì sẽ không chuyển động, và nếu không có gió thì sẽ không có sự tăng trưởng. Ở trong tụ động thì tự tướng của phong giới hiện bày rõ ràng có thể đạt được, cho nên có nghĩa thành tựu cao nhất. Ở trong tụ này nếu không có địa giới thì chạm vào tường vách… ngăn ngại sẽ không quay trở lại, và nếu đất không có thì sẽ không duy trì được mọi vật. Nếu không có thủy giới thì sẽ không có gió lạnh, và nếu nước không có thì Đại chủng ấy sẽ phân tán. Nếu không có hỏa giới thì sẽ không có gió nóng, và nếu lửa không có thì Đại chủng ấy sẽ thối rữa hư hoại. Hỏi: Tướng của bốn Đại chủng na øy khác nhau, lần lượt chuyển đổi trái ngược nhau, tại sao cùng lúc không rời nhau mà khởi lên? Đáp: Tôn giả Thế Hữu đưa ra cách nói như vậy:“Tướng khác nhau-trái ngược nhau-nhân duyên khác nhau, không phải là các tướng khác nhau đều nhất định trái ngược nhau. Các pháp không trái ngược nhau mà tướng khác nhau, có thể cùng lúc dấy khởi không tách rời lẫn nhau, như bốn Đại chủng và hương-vị-xúc-xanh-vàng… Các pháp có tướng khác nhau mà trái ngược lẫn nhau, chắc chắn không cùng lúc dấy SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 131 587 www.daitangkinh.org khởi mà không tách rời nhau, như củi và lửa, mưa đá và lúa mạ, thuốc và bệnh, sáng và tối.” 588 BỘ TỲ ĐÀM 5 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt