VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 131Quyển 133 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 132

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

問若堅不堅物轉相作者。諸法云何不捨自
相。云何相作。如水性軟至冬凝結。斧斫猶
難金等性堅。若置炎鑪便銷如水。如是等
豈非諸法捨自相耶。答非諸堅物轉作不
堅。亦非不堅轉成堅物。然堅不堅法住未
來世。若遇堅緣。則不堅法滅堅法續生。遇不
堅緣則堅法滅不堅續生。餘亦如是。故無
諸法捨自相過。
問大種等聚中有間隙不。設爾何失。二俱有
過。若有間隙寧不相離。間隙若無何不成
一。答有說。此有間隙空界於中相雜住
故。問若爾。云何名不相離。答空界於中能
自隱匿。令於諸物見不相離。如叢中女自
蔽其身。有說。此無間隙展轉相逼無間住
故。問若爾。云何不成一耶。答雖無間隙而
不成一。如蘊處界三世等中。間隙雖無而
不成一。彼亦如是。又大種等自體作用。各
各異故不可成一。
問諸極微互相觸不。設爾何失。二俱有過。若
相觸者寧不成一。或成有分。若不相觸擊
時應散或應無聲。答應作是說。極微互不
相觸。若觸則應或遍或分。遍觸則有成一體

過。分觸則有成有分失。然諸極微更無細
分。問聚色相擊寧不散耶。答風界攝持故令
不散。問豈不風界能飄散耶。答有能飄散。
如壞劫時。有能攝持。如成劫時。問若不觸
者。即相擊時云何發聲。答即由此因故使
聲發。若相觸者。如何發聲。謂諸極微體相觸
者。手等相和體應相糅。中無間隙如何發
聲。尊者世友作如是說。若諸極微互相觸
者。彼應得住至後剎那。大德說言。實不相
觸。但於合集無間生中。隨世俗諦假名相
觸。問諸是觸物。為是觸為因故生。為非觸
為因故生。諸非觸物。為非觸為因故生。為
是觸為因故生。答有時是觸為因生於非
觸。謂和合物正離散時。有時非觸為因生於
是觸。謂離散物正和合時。有時是觸為因生
於是觸。謂和合物復和合時。有時非觸為因
生於非觸。謂向遊塵同類相續。
問極微當言可見不可見耶。答尊者妙音
作如是說。極微當言可見。慧眼境故。阿毘
達磨諸論師言。極微當言不可見非肉天眼
所能見故。此中不依慧眼作問。以於諸
法無差別故。頗有過去大種造過去色耶。
乃至廣說。問何故作此論。答欲止他義顯
己義故。謂有餘部撥無去來說現在世是
無為法。欲止彼意顯有去來。亦明現在
是有為法。廣如前說。復有外道。依世現喻
執有為法後為前因。彼作是言。現見泉水
前為後逼令其涌流。如是諸法由未來法
逼令現在。復由現法逼令過去。故有為法

後為前因。今欲止彼外道所說。顯有為法
前能生後非後前因。不爾便違內外緣起。
謂世父母應從子生。眼色應從眼識而起。
應無明等從行等生。種等應從芽等而起。
先受苦樂報後造善惡業。先得菩提然後
修行。既未作而得應已作而失。若爾便無得
解脫理。又欲遮說大種造色必同世者。顯
有異世。由此因緣故作斯論。諸有對所造
色。及隨心轉無表色。隨在何世即彼世大
種造。謂過去造過去現在造現在。未來造
未來。若表所起諸無表色。復有三類造時不
等。謂初剎那如有對等。各為同世大種所
造。第二剎那若在過現。俱為過去大種所
造。若在未來通為現未大種所造。後諸剎
那過現如前。若在未來通為三世大種所
造。所以者何。諸有依表發起律儀及不律儀
非二無表。初剎那頃表無表色。與此及餘能
造大種現在俱滅。滅至第二剎那以後表
及大種俱在過去。諸無表色有在過去。有
在未來。有在現在。是謂此處略毘婆沙
頗有過去大種造過去色耶。答有。謂過去一
切有對所造色。隨心轉無表。表所起無表。
唯為過去大種所造。頗有過去大種造未
來色耶。答有。謂有未來表所起無表。唯為
過去大種所造。頗有過去大種造現在色
耶。答有。謂有現在表所起無表。唯為過去
大種所造。頗有未來大種造未來色耶。答
有。謂未來一切有對所造色。隨心轉無表。及
有未來表所起無表。唯為未來大種所造。頗

有未來大種造過去現在色耶。答無。謂無
果先因後理故。頗有現在大種造現在色
耶。答有。謂現在一切有對所造色。隨心轉無
表。及有現在表所起無表。唯為現在大種所
造。頗有現在大種造過去色耶。答無。謂無
果先因後理故。頗有現在大種造未來色
耶。答有。謂有未來表所起無表。唯為現在
大種所造。諸隨心轉無表。是等流。無執受有
情數攝。彼能造大種是長養。無執受有情數
攝。諸表所起無表。是等流。無執受有情數攝。
彼能造大種是等流。有執受有情數攝。諸隨
心轉無表。有二種。一靜慮律儀所攝。二無漏
律儀所攝。此各有七。謂離害生命。乃至離
雜穢語。靜慮律儀所攝七種。共一四大種所
造。無漏律儀七種亦爾。諸表所起無表有三
種。一律儀所攝。二不律儀所攝。三非律儀
非不律儀所攝。律儀所攝復有七種。謂離害
生命。乃至離雜穢語。如是七種各一四大種
所造。離害生命復有二種。謂表無表。此二
各一四大種所造。有餘師說。此表無表共一
四大種所造。故彼問言頗有一四大種造二
處色耶。答有。謂色處法處。及聲處法處。尊者
妙音亦作是說。阿毘達磨諸論師言。彼說非
理。不可一四大種造麁細二果。是故如前
所說者好。如離害生命。表與無表各一四
大種所造。如是乃至離雜穢語亦爾。不律
儀所攝亦有七種。謂害生命乃至雜穢語。非
二所攝有二七種。謂害生命離害生命。乃
至雜穢語離雜穢語。此諸七種各一四大種

所造。如是諸七各復有二。謂表無表。此亦
各一四大種造。餘師說等如前應知。若成
就過去大種。彼過去所造色耶。乃至廣說。問
何故作此論。答欲止撥無去來二世。及說
成就不成就體非實有者。意顯去來世。及成
就等是實有法。故作此論。若成就過去大
種。彼過去所造色耶。答無成就過去大種。
有成就過去所造色。謂諸聖者住胎藏中。若
生欲界住律儀。若住不律儀。若住非律儀
非不律儀。先有身語表不失。若生色界。若
諸學者生無色界。問亦有學者。生無色界
不成就過去所造色。謂彼先在欲色界時。
未起未滅諸無漏道。命終生無色界。都不
成就過去所造色。如何乃說。若諸學者。生
無色界成就過去所造色耶。答依成就者
作如是說。謂有學者先欲色界。已起已滅
諸無漏道。彼成就過去所造色故。有說。彼
在欲色界時。必已起滅諸無漏道。如勝進
道必起現前。無有住果而命終故。
若成就過去大種。彼未來大種耶。答無成就
過去未來大種。問何故無成就過去未來大
種耶。答由彼大種但有爾所成就勢力剎
那現前則有成就。已滅未現無成就者。謂諸
大種與成就得必同一世。今時彼得不現在
前故不成就。有說。大種習氣不堅。故無成
就去來世者。以是羸劣無記性故。謂善惡
等習氣堅牢。故有成就去來世者。劣無記
法則不如是。如暫執持極香花物。雖加洗
拭習氣猶隨。非如執持餘木石等。手纔放

捨此氣便無。有說。若成就去來世大種者。
則一趣成就五趣大種。如是一身即五趣身。
是則趣壞所依亦壞。欲令無如是過。是故
大種不成就去來。問如生一趣。成就五趣
諸業煩惱。而非趣壞。此亦應然。答以異熟
果故說諸趣差別。不以業煩惱故。然諸大
種或有是異熟果者。則有趣壞及所依壞過
失。故彼非難。
若成就過去大種。彼未來所造色耶。答無成
就過去大種。有成就未來所造色。謂諸聖者
住胎藏中。若生欲界得色界善心。若生色
界。若諸聖者生無色界。以彼定成就未來
所造色故若成就過去大種。彼現在大種耶。
答無成就過去大種。有成就現在大種。謂
生欲色界。無有生欲色界不成就大種
故。若成就過去大種。彼現在所造色耶。答
無成就過去大種。有成就現在所造色。謂生
欲色界。無有生欲色界不成就所造色故
若成就過去所造色。彼未來大種耶。答無成
就未來大種。有成就過去所造色。謂諸聖者
住胎藏中。若生欲界住律儀。若住不律儀。
若住非律儀非不律儀。先有身語表不失。若
生色界若諸學者。生無色界。若成就過去
所造色。彼未來所造色耶。答應作四句。有
成就過去所造色。非未來所造色。謂生欲
界住律儀。不得色界善心。若住不律儀。若
住非律儀非不律儀。先有身語表不失。有
成就未來所造色。非過去所造色。謂阿羅漢
生無色界。有成就過去所造色。亦未來所

造色。謂諸聖者住胎藏中。若生欲界得色
界善心。若生色界。若諸學者生無色界。有
非成就過去所造色。亦非未來所造色。謂
處卵㲉。若諸異生住胎藏中。若生欲界。住
非律儀非不律儀。先無身語表。設有而失。若
諸異生生無色界。
若成就過去所造色。彼現在大種耶。答應作
四句。有成就過去所造色。非現在大種。謂
諸學者生無色界。有成就現在大種。非過
去所造色。謂處卵㲉。若諸異生住胎藏中。若
生欲界住非律儀非不律儀。先無身語表。
設有而失。有成就過去所造色。亦現在大
種。謂諸聖者住胎藏中。若生欲界住律儀。
若住不律儀。若住非律儀非不律儀。先有身
語表不失。若生色界有非成就過去所造
色。亦非現在大種。謂阿羅漢若諸異生生無
色界。若成就過去所造色。彼現在所造色耶。
答應作四句。有成就過去所造色。非現在
所造色。謂諸學者生無色界。有成就現在
所造色。非過去所造色。謂處卵㲉。若諸異
生住胎藏中。若生欲界住非律儀非不律
儀。先無身語表。設有而失。有成就過去所
造色。亦現在所造色。謂諸聖者住胎藏中。若
生欲界住律儀。若住不律儀。若住非律儀
非不律儀。先有身語表不失。若生色界有
非成就過去所造色。亦非現在所造色。謂阿
羅漢。若諸異生。生無色界。過去已捨故。現
在無色身故。
若成就未來大種。彼未來所造色耶。答無成

就未來大種。有成就未來所造色。謂諸聖者
住胎藏中。若生欲界得色界善心。若生色
界若諸聖者生無色界。若成就未來大種。
彼現在大種耶。答無成就未來大種。有成就
現在大種。謂生欲色界。無有生欲色界不
成就大種故。若成就未來大種。彼現在所
造色耶。答無成就未來大種。有成就現在所
造色。謂生欲色界。無有生欲色界不成就
現在所造色故。若成就未來所造色。彼現在
大種耶。答應作四句有成就未來所造色
非現在大種。謂諸聖者生無色界。有成就
現在大種。非未來所造色。謂處卵㲉。若諸
異生住胎藏中。若生欲界不得色界善心。
有成就未來所造色。亦現在大種。謂諸聖者
住胎藏中。若生欲界得色界善心。若生色
界有非成就未來所造色。亦非現在大種。
謂諸異生生無色界。若成就未來所造色。彼
現在所造色耶。答應作四句。有成就未來
所造色。非現在所造色。謂諸聖者生無色
界。有成就現在所造色。非未來所造色。謂
處卵㲉。若諸異生住胎藏中。若生欲界不
得色界善心。有成就未來所造色。亦現在
所造色。謂諸聖者住胎藏中。若生欲界得
色界善心。若生色界。有非成就未來所造
色。亦非現在所造色。謂諸異生生無色界
若成就現在大種。彼現在所造色耶。答如是。
設成就現在所造色。彼現在大種耶。答如是。
以非現在大種無果故。亦非現在所造色
無因故。

過去大種與過去大種為幾緣。答因。增上。
因者二因。謂俱有。同類。俱生互相望為俱有
因。前生與後生為同類因。增上者。謂不礙
生。及唯無障。過去大種與過去所造色為
幾緣。答因。增上。因者五因。謂生因。依因。立
因。持因。養因。增上者。如前說。過去所造色
與過去所造色為幾緣。答因。增上。因者三
因。謂俱有同類。異熟。增上者如前說。過去
所造色與過去大種為幾緣。答因。增上。因
者一因。謂異熟因。增上者如前說。
過去大種與未來大種為幾緣。答因。增上。
因者一因。謂同類因。增上者如前說。未來大
種與未來大種為幾緣。答因。增上。因者一
因。謂俱有因。增上者如前說。未來大種與
過去大種為幾緣。答一增上。增上義如前
說。過去大種與未來所造色為幾緣。答因。
增上。因者五因。謂生等五。增上者如前說。
未來所造色與未來所造色為幾緣。答因。
增上。因者二因。謂俱有因。異熟因。增上者
如前說。未來所造色與過去大種為幾緣。
答一增上。增上義如前說。
過去大種與現在大種為幾緣。答因。增上。
因者一因。謂同類因。增上者如前說。現在大
種與現在大種為幾緣。答因。增上。因者。有
說。此中依剎那現在為論故唯一因。謂俱
有因。有說。此中通依剎那分位。一生現在
為論故。有二因。謂俱有同類。增上者如前
說。現在大種與過去大種為幾緣。答一增
上。增上義如前說。過去大種與現在所造

色為幾緣。答因。增上。因者五因。生等五。
增上者如前說現在所造色與現在所造色
為幾緣。答因。增上。因者。有說。此中依剎那
現在為論故唯一因。謂俱有因。有說。此中
通依剎那分位。一生現在為論故。有三因。
謂俱有。同類。異熟。增上者如前說。現在所
造色與過去大種為幾緣。答一增上增上
義如前說。
過去所造色與未來大種為幾緣。答因。增
上。因者一因。謂異熟因。增上者如前說未
來大種與過去所造色為幾緣。答一增上。
增上義如前說。過去所造色與未來所造色
為幾緣。答因。增上。因者二因。謂同類。異熟。
增上者如前說。未來所造色與過去所造色
為幾緣。答一增上。增上義如前說。
過去所造色與現在大種為幾緣。答因。增
上。因者一因。謂異熟因。增上者如前說。現
在大種與過去所造色為幾緣。答一增上。
增上義如前說。過去所造色與現在所造色
為幾緣。答因。增上。因者二因。謂同類。異熟。
增上者如前說。現在所造色與過去所造色
為幾緣。答一增上。增上義如前說。
未來大種與未來所造色為幾緣。答因。增
上。因者五因即生等五。增上者如前說。未來
所造色與未來大種為幾緣。答因。增上。因
者一因。謂異熟因。增上者如前說。
未來大種與現在大種為幾緣。答一增上。
增上義如前說。現在大種與未來大種為
幾緣。答因。增上。因者一因。謂同類因。增上

者如前說。未來大種與現在所造色為幾
緣。答一增上增上義如前說。現在所造色與
未來大種為幾緣。答因。增上。因者一因。謂
異熟因。增上者如前說。
未來所造色與現在大種為幾緣。答一增上。
增上義如前說。現在大種與未來所造色
為幾緣。答因。增上。因者五因。謂生等五。增
上者如前說。未來所造色與現在所造色
為幾緣。答一增上。增上義如前說。現在所
造色與未來所造色為幾緣。答因。增上。因
者二因。謂同類。異熟。增上者如前說
現在大種與現在所造色為幾緣。答因。增
上。因者五因。謂生等五。增上者如前說。現
在所造。色與現在大種為幾緣。答因。增上。
因者一因。謂異熟因。增上者如前說。諸說此
中依剎那分位。一生現在。為論者。則符此
答。諸說此中但依剎那現在。為論者。則應
答言。但一增上。便與本論答不相應
若成就欲界繫大種。彼欲界繫所造色耶。答
如是。設成就欲界繫所造色。彼欲界繫大種
耶。答如是。以無成就欲界繫大種而非
果故。亦無成就欲界繫所造色而非因故。
若成就欲界繫大種。彼色界繫大種耶。答應
作四句。有成就欲界繫大種。非色界繫大
種。謂生欲界。色界大種不現在前。有成就
色界繫大種。非欲界繫大種。謂生色界。不
作欲界化。不發欲界語。有成就欲界繫大
種。亦色界繫大種。謂生欲界。色界大種現在
前。若生色界。作欲界化。發欲界語。有非

成就欲界繫大種。亦非色界繫大種。謂生無
色界。若成就欲界繫大種。彼色界繫所造色
耶。答應作四句。有成就欲界繫大種。非色
界繫所造色。謂生欲界。不得色界善心。有
成就色界繫所造色。非欲界繫大種。謂生
色界。不作欲界化。不發欲界語。有成就
欲界繫大種。亦色界繫所造色。謂生欲界。
得色界善心。若生色界作欲界化。發欲界
語。有非成就欲界繫大種。亦非色界繫所
造色。謂生無色界。
若成就欲界繫所造色彼色界繫大種耶。答
應作四句。有成就欲界繫所造色。非色界
繫大種。謂生欲界。色界大種不現在前。有
成就色界繫大種。非欲界繫所造色。謂生
色界不作欲界化。不發欲界語。有成就
欲界繫所造色。亦色界繫大種。謂生欲界。色
界大種現在前。若生色界。作欲界化。發欲
界語。有非成就欲界所造色。亦非色界大
種。謂生無色界。
若成就欲界繫所造色。彼色界繫所造色耶。
答應作四句。有成就欲界繫所造色。非色
界繫所造色。謂生欲界不得色界善心。有
成就色界繫所造色。非欲界繫所造色。謂
生色界不作欲界化。不發欲界語。有成
就欲界繫所造色。亦色界繫所造色。謂生欲
界得色界善心若生色界作欲界化。發欲
界語。有非成就欲界繫所造色。亦非色界
繫所造色。謂生無色界。
若成就色界繫大種。彼色界繫所造色耶。答

諸成就色界繫大種。彼定成就色界繫所造
色。有成就色界繫所造色。非色界繫大種。
謂生欲界。得色界善心。色界大種不現在
前。問生欲界者。住色界何等心。令彼大種
現在前。為一向住善。為三種耶。設爾何失。
俱見其過。若一向住善心者。施設論說當
云何通。如說住此無聞異生由起色貪纏
所纏故。五蘊色有於現法中以取為緣趣
當來有。若住三種心者。善心可爾。有隨轉
色為彼果故。染及無記為有何果令彼現
前。有作是說唯住善心。問施設論說當云
何通。答彼說身中所增長色。問若爾。彼說復
云何通。如說住此無聞異生。由起無色
貪纏所纏故四蘊無色。有於現法中以取
為緣趣當來有。彼身亦有所增長色。何故
不說。有作是說。應說而不說者。當知此
義有餘。有說。起彼界纏時無增長色。是以
不說。復有說者。住三種心。問善心可爾。有
隨轉果故。餘二有何果令彼現前。答彼生
欲界者。起色界善心時。由隨轉色故。令
彼現前。起染污心時。由有彼地空界色。在
此身中相雜住故。令彼現前。起無記心
時。由有彼地化色。令彼現前故住三種心
皆能起彼地大種。

Việt dịch

QUYỂN 132

LUẬN VỀ DUYÊN (Phần 2)

Hỏi: Nếu vật cứng-không cứng làm thay đổi tướng, thì vì sao các
pháp không rời bỏ tự tướng? Vì sao làm thay đổi tướng? Như tánh mềm
của nước đến mùa Đông thì ngưng tụ rắn chắc, rìu chặc hãy còn khó;
tánh cứng của vàng-bạc…, nếu đưa va øo lò nóng thì tan chảy như nước.
Như vậy lẽ nào không phải là các pháp rời bỏ tự tướng hay sao?
Đáp: Không phải là các vật cứng thay đổi làm thành vật không
cứng, cũng không phải là vật không cứng thay đổi làm thành vật cứng,
nhưng pháp cứng- không cứng trú ở đời vị lai, nếu gặp duyên cứng thì
pháp không cứng diệt đi- pháp cứng tiếp tục sinh ra, gặp duyên không
cứng thì pháp cứng diệt đi- pháp không cứng tiếp tục sinh ra, pháp khác
cũng như vậy, cho nên không có lỗi là các pháp rời bỏ tự tướng.
Hỏi: Trong các tụ của Đại chủng có kẽ hở hay không? Giả sử như
vậy thì có gì sai? Cả hai đều có sai lầm. Nếu có kẽ hở thì lẽ nào không
tách rời nhau? Nếu không có kẽ hở thì vì sao không trở thành một?
Đáp: Có người nói: Tụ của Đại chủng này có kẽ hở, bởi vì Không
giới xen lẫn nhau ở trong đó.
Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao nói là không tách rời nhau?
Đáp: Không giới ở trong đó luôn luôn tự giấu kín mình, khiến cho
đối với các vật trông thấy không tách rời nhau, như cô gái tự giấu kín
thân mình trong lùm cây.
Có người nói: Tụ của Đại chủng này không có kẽ hở, bởi vì lần
lượt chuyển đổi áp sát nhau không gián đoạn mà tồn tại.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao không trở thành một?
Đáp: Tuy không có kẽ hở mà không trở thành một, như Uẩn-Xứ-
Giới trong ba đời…, tuy không có kẽ hở mà không trở thành một; các tụ
ấy cũng như vậy. Vả lại, tự Thể-tác dụng của các Đại chủng, tất cả đều
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 132 589  
www.daitangkinh.org  
khác nhau cho nên không thể trở thành một.
Hỏi: Các cực vi có tiếp xúc la ãn nhau hay không? Giả sử như vậy
thì có gì sai? Cả hai đều có sai lầ m. Nếu tiếp xúc lẫn nhau thì lẽ nào
không trở thành một, hoặc là trở thành có phạm vi? Nếu không tiếp xúc
lẫn nhau thì lúc va đập sẽ rời ra, hoặc là sẽ không có tiếng?
Đáp: Nên đưa ra cách nói này: Cực vi không tiếp xúc lẫn nhau.
Nếu tiếp xúc thì lẽ ra hoặc là có khắp nơi-hoặc là có phạm vi, tiếp xúc
khắp nơi thì có lỗi trở thành một Thể, tiếp xúc theo phạm vi thì có lỗi trở
thành có phạm vi. Nhưng các cực vi lại không có phạm vi nhỏ bé.
Hỏi: Tụ sắc va đập nhau lẽ nào không rời ra hay sao?
Đáp: Phong giới thâu nhiếp duy trì vì vậy khiến cho không rời ra.
Hỏi: Lẽ nào không phải là phong giới có thể đưa đẩy phân tán
hay sao?
Đáp: Có lúc có thể đưa đẩy phân tán, như lúc kiếp Hoại; có lúc có
thể thâu nhiếp duy trì, như lúc kiếp Thành.
Hỏi: Nếu không tiếp xúc thì ngay lúc  va vào nhau vì sao phát ra
tiếng?
Đáp: Tức là do nhân này mà khiến cho tiếng phát ra. Nếu tiếp xúc
lẫn nhau thì làm sao phát ra tiếng? Nghĩa là Thể của các cực vi tiếp xúc
lẫn nhau, tay chân… hòa vào nhau, Thể sẽ xen tạp vào nhau, bên trong
không có kẽ hở làm sao phát ra tiếng?
Tôn giả Thế Hữu đưa ra cách nói  như vậy: “Nếu các cực vi tiếp
xúc lẫn nhau, thì lúc ấy sẽ được tồn tại đến sát-na sau cùng.”
Đại đức nói rằng: “Thật ra không tiếp xúc lẫn nhau, chỉ ở trong
sự quy tụ không gián đoạn mà sinh ra, thuận theo thế tục đế tạm gọi là
tiếp xúc lẫn nhau.”
Hỏi: Các vật là tiếp xúc, là sự tiếp xúc này làm nhân mà sinh ra,
hay là không phải tiếp xúc làm nhân mà sinh ra? Các vật không phải là
tiếp xúc, là không phải tiếp xúc làm nhân mà sinh ra, hay là tiếp xúc
làm nhân mà sinh ra?
Đáp: Có lúc là tiếp xúc làm nhân, sinh ra không phải là tiếp xúc,
đó là lúc vật hòa hợp đang ly tán. Có lúc không phải là tiếp xúc làm
nhân, sinh ra là tiếp xúc, đó là lúc vật ly tán đang hòa hợp. Có lúc là
tiếp xúc làm nhân, sinh ra là tiếp xúc, đó là lúc vật hòa hợp tiếp tục hòa
hợp. Có lúc không phải là tiếp xúc làm nhân, sinh ra không phải là tiếp
xúc, đó là hướng đến những pháp đồng loại nối tiếp nhau.
Hỏi: Cực vi nên nói là có thể thấy hay là không có thể thấy?
Đáp: Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Cực vi nên nói
590 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
là có thể thấy, bởi vì là cảnh của tuệ nhãn.”
Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nói: “Cực vi nên nói là không có thể
thấy, bởi vì không phải là nhục nhãn -thiên nhãn mà có thể thấy được.
Trong này không dựa vào tuệ nhãn để la øm câu hỏi, bởi vì đối với các
pháp không có gì sai biệt.”
Có thể có Đại chủng quá khứ tạo ra sắc quá khứ chăng? Cho đến
nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn nghĩ a của người khác để hiển bày
về nghĩa của mình. Nghĩa là có B ộ khác bác bỏ không có quá khứ-vị
lai, nói đời hiện tại là pháp vô vi. Muốn ngăn chặn ý đó để hiển bày là
có quá khứ- vị lai, cũng nói rõ hiện  tại là pháp hữu vi, nói rộng ra như
trước.
Lại có ngoại đạo, dựa vào thí dụ về đời hiện tại, chấp là pháp
hữu vi sau làm nhân cho trước. Người ấy đưa ra cách nói này: Hiện
thấy dòng nước trước bị dòng nước sau thúc ép khiến cho tuôn chảy ào
ạt, như vậy các pháp bởi vì pháp vị lai thúc ép khiến cho tiến vào hiện
tại, lại bởi vì pháp hiện tại thúc ép khiến cho tiến vào quá khứ, cho nên
pháp hữu vi sau làm nhân cho trước.
Nay muốn ngăn chặn cách nói của ngoại đạo kia, hiển bày về
pháp hữu vi trước có thể sinh ra pháp sau chứ không phải là sau làm
nhân cho trước. Không như vậy thì trái với duyên khởi trong-ngoài,
nghĩa là thế hệ cha mẹ sẽ từ con sinh ra, nhãn sắc sẽ từ nhãn thức mà
khởi lên, vô minh… sẽ từ hành… sinh ra, hạt giống… sẽ từ mầm non…
mà dấy khởi, trước nhận lấy quả báo khổ vui rồi sau mới tạo ra nghiệp
thiện ác, trước đạt được Bồ-đề rồi sau đó mới tu hành, chưa làm mà đã
có được thì lẽ ra đã làm mà mất. Nếu như vậy thì không có lý nào được
giải thoát. Lại muốn ngăn chặn cách nói Đại chủng và sắc sở tạo chắc
chắn cùng thời gian, để hiển bày là có thời gian khác nhau. Bởi vì nhân
duyên này, cho nên soạn ra phần luận này.
Các sắc sở tạo Hữu đối và sắc Vô biểu tùy tâm chuyển, hễ ở đời
nào thì Đại chủng tạo ra ở đời ấy, nghĩa là quá khứ tạo ra quá khứ, hiện
tại tạo ra hiện tại, vị lai tạo ra vị lai. Nếu do Biểu mà dấy khởi các sắc
Vô biểu, thì lại có ba loại tạo ra với thời gian không như nhau. Nghĩa là
sát-na thứ nhất như Hữu đối…, đều là Đại chủng sở tạo cùng đời; sát-na
thứ hai nếu ở quá khứ- hiện tại thì đều là Đại chủng sở tạo thuộc quá
khứ, nếu ở vị lai thì cùng là Đại chủng s ở tạo thuộc hiện tại-vị lai; các
sát-na sau là quá khứ-hiện tại như trước. Nếu ở vị lai thì cùng là Đại
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 132 591  
www.daitangkinh.org  
chủng sở tạo thuộc ba đời. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì các hữu tình dựa
vào Biểu phát khởi luật nghi và không luật nghi chứ không phải là hai
loại Vô biểu, Biểu-Vô biểu sắc trong sát-na thứ nhất, cùng với Biểu này
và Đại chủng năng tạo khác hiện ta ïi đều diệt, diệt đến sát-na thứ hai
về sau thì Biểu và Đại chủng đều ở quá khứ. Các sắc Vô biểu có lúc ở
quá khứ, có lúc ở vị lai, có lúc ở hiện tại. Đó gọi là Tỳ-bà-sa tóm lược
tại nơi này.
Hỏi: Có thể có Đại chủng quá khứ tạo ra sắc quá khứ chăng?
Đáp: Có, đó là tất cả sắc sở ta ïo Hữu đối ở quá khứ, Vô biểu tùy
tâm chuyển, do Biểu mà dấy khởi Vô biểu, chỉ là Đại chủng sở tạo ở
quá khứ.
Hỏi: Có thể có Đại chủng quá khứ tạo ra sắc vị lai chăng?
Đáp: Có, đó là có Biểu đã dấy kh ởi Vô biểu thuộc vị lai, chỉ là
Đại chủng sở tạo ở quá khứ.
Hỏi: Có thể có Đại chủng quá khứ tạo ra sắc hiện tại chăng?
Đáp: Có, đó là có Biểu đã dấy khởi Vô biểu thuộc hiện tại, chỉ là
Đại chủng sở tạo ở quá khứ.
Hỏi: Có thể có Đại chủng vị lai tạo ra sắc vị lai chăng?
Đáp: Có, đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối ở vị lai, Vô biểu tùy tâm
chuyển, và có Biểu đã dấy khởi Vô biểu thuộc vị lai, chỉ là Đại chủng
sở tạo ở vị lai.
Hỏi: Có thể có Đại chủng vị la i tạo ra sắc quá khứ-hiện tại
chăng?
Đáp: Không có, đó là bởi vì không có lý quả trước nhân sau.
Hỏi: Có thể có Đại chủng hiện tại tạo ra sắc hiện tại chăng?
Đáp: Có, đó là tất cả sắc sở ta ïo Hữu đối ở hiện tại, Vô biểu tùy
tâm chuyển, và có Biểu đã dấy khởi Vô biểu thuộc hiện tại, chỉ là Đại
chủng sở tạo ở hiện tại.
Hỏi: Có thể có Đại chủng hiện tại tạo ra sắc quá khứ chăng?
Đáp: Không có, đó là bởi vì không có lý quả trước nhân sau.
Hỏi: Có thể có Đại chủng hiện tại tạo ra sắc vị lai chăng?
Đáp: Có, đó là có Biểu đã dấy kh ởi Vô biểu thuộc vị lai, chỉ là
Đại chủng sở tạo ở hiện tại.
Các Vô biểu tùy tâm chuyển là Đẳng lưu, không có chấp thọ thuộc
về số hữu tình; Đại chủng năng tạo kia là Trưởng dưỡng, không có chấp
thọ thuộc về số hữu tình. Các Biểu đa õ dấy khởi Vô biểu là Đẳng lưu,
không có chấp thọ thuộc về số hữu tình; Đại chủng năng tạo kia là Đẳng
lưu, có chấp thọ thuộc về số hữu tình.
592 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Các Vô biểu tùy tâm chuyển, có hai loại:
1. Do luật nghi Tĩnh lự thâu nhiếp.
2. Do luật nghi Vô lậu thâu nhiếp. Hai loại này đều có bảy, đó là
lìa bỏ giết hại sinh mạng, cho đến lìa bỏ lời nói tạp uế. Bảy loại do luật
nghi Tĩnh lự thâu nhiếp, cùng chung bốn Đại chủng sở tạo; bảy loại do
luật nghi Vô lậu thâu nhiếp cũng như vậy.
Các Biểu đã dấy khởi Vô biểu có ba loại:
1. Do luật nghi thâu nhiếp.
2. Do không luật nghi thâu nhiếp.
3. Do phi luật nghi phi bất luật nghi thâu nhiếp.
Do luật nghi thâu nhiếp lại có bảy loại, đó là lìa bỏ giết hại sinh
mạng, cho đến lìa bỏ lời nói tạp u ế. Bảy loại như vậy đều cùng chung
bốn Đại chủng sở tạo. Lìa bỏ giết hại sinh mạng lại có hai loại, đó là
Biểu-Vô biểu; hai loại này đều cùng chung bốn Đại chủng sở tạo.
Có Sư khác nói: Biểu-Vô biểu này cùng chung bốn Đại chủng sở
tạo.
Hỏi: Vì thế vị ấy hỏi rằng có thể có cùng chung bốn Đại chủng tạo
ra sắc của hai xứ chăng?
Đáp: Có, đó là Sắc xứ-Pháp xứ, và Thanh xứ-Pháp xứ.
Tôn giả Diệu Âm cũng đưa ra cách nói này.
Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nói: Vị ấy nói phi lý, không có thể cùng
chung bốn Đại chủng tạo ra hai quả thô- tế, vì vậy như trước đã nói là
hợp lý.
Như lìa bỏ giết hại sinh mạng, Biểu và Vô biểu đều cùng chung
bốn Đại chủng sở tạo. Như vậy cho đến lìa bỏ lời nói tạp uế cũng như
thế.
Do không luật nghi thâu nhiếp cũng có bảy loại, đó là giết hại
sinh mạng cho đến nói lời tạp uế. Do phi luật nghi phi bất luật nghi thâu
nhiếp có hai thứ bảy loại, đó là giết  hại sinh mạng-lìa bỏ giết hại sinh
mạng, cho đến nói lời tạp uế-lìa bỏ nói lời tạp uế. Hai thứ bảy loại này
đều cùng chung bốn Đại chủng sở tạo. Như vậy các thứ bảy loại lại đều
có hai loại, đó là Biểu-Vô biểu, Biểu-Vô biểu này cũng cùng chung bốn
Đại chủng tạo ra. Sư khác nói đều như trước nên biết.
Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là sắc sở tạo quá khứ
chăng? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Muốn ngăn chặn sự bác bỏ không có hai đời quá khứ-vị lai,
và nói Thể thành tựu-không thành tựu không phải là có thật, ý hiển bày
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 132 593  
www.daitangkinh.org  
về đời quá khứ-vị lai, và thành tựu… là pháp có thật, cho nên soạn ra
phần luận này.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là sắc sở tạo quá
khứ chăng?
Đáp: Không có thành tựu Đại chủng quá khứ, có thành tựu sắc sở
tạo quá khứ, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục
trú trong luật nghi. Nếu trú vào không luật nghi, hoặc là trú vào phi luật
nghi phi bất luật nghi, trước có Biểu của thân-ngữ không mất. Nếu sinh
vào cõi Sắc, hoặc là những người Học sinh đến cõi Vô sắc.
Hỏi: Cũng có người Học sinh đến cõi Vô sắc không thành tựu sắc
sở tạo quá khứ, đó là người ấy lúc trước ở cõi Dục-Sắc, chưa khởi-chưa
diệt các đạo vô lậu, mạng chung sinh đến cõi Vô sắc, cũng không thành
tựu sắc sỏ tạo quá khứ, làm sao la ïi nói hoặc là những người Học sinh
đến cõi Vô sắc thành tựu sắc sở tạo quá khứ?
Đáp: Dựa vào người thành tựu đưa  ra cách nói như vậy, nghĩa là
những người Hữu học trước ở cõi Dục-Sắ c, đã khởi-đã diệt các đạo vô
lậu, cho nên họ thành tựu sắc sở tạo quá khứ.
Có người nói: Lúc họ ở cõi Dục-Sắc, nhất định đã khởi-diệt các
đạo vô lậu, như đạo thắng tiến nhất định dấy khởi hiện rõ trước mắt, cho
nên không có trú vào quả mà mạng chung.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng qua ù khứ thì đó là Đại chủng vị lai
chăng?
Đáp: Không có thành tựu Đại chủng quá khứ-vị lai.
Hỏi: Vì sao không có thành tựu Đại chủng quá khứ-vị lai?
Đáp: Bởi vì Đại chủng ấy chỉ c ó thế lực thành tựu như vậy, sát-
na hiện rõ trước mắt thì có thành tựu, đã diệt chưa hiện rõ thì không có
thành tựu. Nghĩa là các Đại chủng cùng với thành tựu đạt được nhất
định phải cùng một đời, lúc này Đại chủng đạt được ấy không hiện rõ ở
trước mắt cho nên không thành tựu.
Có người nói: Tập khí của  Đại chủng không vững bền, cho nên
không thành tựu Đại chủng ở đời quá khứ- vị lai, bởi vì tánh vô ký này
yếu kém, nghĩa là tập khí của thiện ác… vững bền, cho nên có thành tựu
Đại chủng ở đời quá khứ-vị lai; pháp vô ký yếu kém thì không như vậy.
Như nắm giữ đò vật-hương hoa rất thơm trong chốc lát, tuy lau chùi rửa
sạch mà tập khí hãy còn vương vấn, không giống như nắm giữ những
loại gỗ-đá…, tay vừa mới buông bỏ thì tập khí này liền không còn.
Có người nói: Nếu thành tựu Đại chủng của đời quá khứ-vị lai,
thì một nẽo thành tựu Đại chủng của năm nẽo, như vậy một thân đã có
594 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
thân của năm nẽo, vậy thì phá hỏng nẽo mà sở y cũng phá hỏng. Muốn
làm cho không có lỗi lầm như vậy, cho nên Đại chủng không thành tựu
ở quá khứ-vị lai.
Hỏi: Như sinh ở một nẽo, tha ønh tựu các nghiệp-phiền não của
năm nẽo mà không phải là phá hỏng nẽo, ở đây cũng phải như vậy?
Đáp: Bởi vì quả dị thục cho nên nói các nẽo sai biệt, chứ không vì
nghiệp-phiền não. Nhưng các Đại chủng hoặc có lúc là quả dị thục, thì
có lỗi lầm phá hỏng nẽo và phá hỏng sở y, vì vậy điều ấy không phải
là khó.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là sắc sở tạo vị lai
chăng?
Đáp: Không có thành tựu Đại chủng quá khứ, có thành tựu sắc sở
tạo vị lai, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục đạt
được tâm thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc; hoặc là các Thánh
giả sinh đến cõi Vô sắc, bởi vì lúc ấy nhất định thành tựu sắc sở tạo vị
lai.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng quá  khứ thì đó là Đại chủng hiện
tại chăng?
Đáp: Không có thành tựu Đại c hủng quá khứ, có thành tựu Đại
chủng hiện tại, đó là sinh ở cõi Dục-Sắc, bởi vì không hề có sinh ở cõi
Dục-Sắc mà không thành tựu Đại chủng.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng quá khứ thì đó là sắc sở tạo hiện
tại chăng?
Đáp: Không có thành tựu Đại c hủng quá khứ, có thành tựu sắc
sở tạo hiện tại, đó là sinh ở cõi Dục-Sắc, bởi vì không hề có sinh ở cõi
Dục-Sắc mà không thành tựu sắc sở tạo.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo qua ù khứ thì đó là Đại chủng vị lai
chăng?
Đáp: Không có thành tựu Đại chủng vị lai, có thành tựu sắc sở tạo
quá khứ, đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú
vào luật nghi, hoặc là trú vào không lu ật nghi, hoặc là trú vào phi luật
nghi phi bất luật nghi, trước có Bi ểu của thân-ngữ không mất; hoặc là
sinh vào cõi Sắc; hoặc là những người Học sinh đến cõi Vô sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo quá khứ thì đó là sắc sở tạo vị lai
chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ mà không phải là sắc sở tạo
vị lai, đó là sinh ở cõi Dục trú vào luật nghi, không đạt được tâm thiện
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 132 595  
www.daitangkinh.org  
của cõi Sắc; hoa ëc là trú vào không luật nghi, hoặc là trú vào phi luật
nghi phi bất luật nghi, trước có Biểu của thân-ngữ không mất.
2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị  lai mà không phải là sắc sở tạo
quá khứ, đó là A-la-hán sinh đến cõi Vô sắc.
3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng là sắc sở tạo vị lai, đó
là các Thánh giả trú trong thai ta ïng, nếu sinh ở cõi Dục đạt được tâm
thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc; hoặc là những người Học sinh
đến cõi Vô sắc.
4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng không
phải là sắc sở tạo vị lai, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú
trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào phi luật nghi phi bất luật
nghi, trước không có Biểu của thân-ngữ, giả sử có mà mất; hoặc là các
dị sinh sinh đến cõi Vô sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo quá khứ thì đó là Đại chủng hiện
tại chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ mà không phải là Đại
chủng hiện tại, đó là những người Học sinh đến cõi Vô sắc.
2. Có lúc thành tựu Đại chủng hiện tại mà không phải là sắc sở tạo
quá khứ, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng,
nếu sinh ở cõi Dục trú vào phi luậ t nghi phi bất luật nghi, trước không
có Biểu của thân- ngữ, giả sử có mà mất.
3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng là Đại chủng hiện tại,
đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật
nghi, hoặc là trú vào không luật nghi, hoặc là trú vào phi luật nghi phi
bất luật nghi, trước có Biểu của thân-ngữ không mất, nếu sinh vào cõi
Sắc.
4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng không
phải là Đại chủng hiện tại, đó là A-la-hán, hoặc là các dị sinh sinh đến
cõi Vô sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo qua ù khứ thì đó là sắc sở tạo hiện
tại chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ mà không phải là sắc sở tạo
hiện tại, đó là những người Học sinh đến cõi Vô sắc.
2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hiện tại mà không phải là sắc sở tạo
quá khứ, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc la ø các dị sinh trú trong thai tạng,
nếu sinh ở cõi Dục trú vào phi luật nghi phi bất luật nghi, trước  không
596 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
có Biểu của thân- ngữ, giả sử có mà mất.
3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng là sắc sở tạo hiện tại,
đó là các Thánh giả trú trong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục trú vào luật
nghi, hoặc là trú vào không luật nghi, hoặc là trú vào phi luật nghi phi
bất luật nghi, trước có Biểu của thân- ngữ không mất, nếu sinh vào cõi
Sắc.
4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo quá khứ cũng không
phải là sắc sở tạo hiện tại, đó là A-la-hán, hoặc là các dị sinh sinh đến
cõi Vô sắc, bởi vì quá khứ đã rời bỏ, hiện tại không có sắc thân.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng vị lai thì đó là sắc sở tạo vị lai
chăng?
Đáp: Không có thành tựu Đại chủng vị lai, có thành tựu sắc sở tạo
vị lai, đó là các Thánh giả trú tr ong thai tạng, nếu sinh ở cõi Dục đạt
được tâm thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc, hoặc là các Thánh
giả sinh đến cõi Vô sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng vị lai thì đó là Đại chủng hiện tại
chăng?
Đáp: Không có thành tựu Đại chủng vị lai, có thành tựu Đại chủng
hiện tại, đó là sinh ở cõi Dục-Sắc,  bởi vì không hề có sinh ở cõi Dục-
Sắc mà không thành tựu Đại chủng.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng vị lai thì đó là sắc sở tạo hiện tại
chăng?
Đáp: Không có thành tựu Đại chủng vị lai, có thành tựu sắc sở tạo
hiện tại, đó là sinh ở cõi Dục-Sắc,  bởi vì không hề có sinh ở cõi Dục-
Sắc mà không thành tựu sắc sở tạo hiện tại.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo vị lai thì đó là Đại chủng hiện tại
chăng
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị lai mà không phải là Đại chủng
hiện tại, đó là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc.
2. Có lúc thành tựu Đại chủng hiện tại mà không phải là sắc sở tạo
vị lai, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng, nếu
sinh ở cõi Dục không đạt được tâm thiện của cõi Sắc.
3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị lai cũng là Đại chủng hiện tại, đó
là các Thánh giả trú trong thai ta ïng, nếu sinh ở cõi Dục đạt được tâm
thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc.
4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo vị lai cũng không phải
là Đại chủng hiện tại, đó là các dị sinh sinh đến cõi Vô sắc.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 132 597  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo vị lai thì đó là sắc sở tạo hiện tại
chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị  lai mà không phải là sắc sở tạo
hiện tại, đó là các Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc.
2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hiện tại mà không phải là sắc sở tạo
vị lai, đó là ở trong vỏ trứng, hoặc là các dị sinh trú trong thai tạng, nếu
sinh ở cõi Dục không đạt được tâm thiện của cõi Sắc.
3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo vị lai cũng là sắc sở tạo hiện tại, đó
là các Thánh giả trú trong thai ta ïng, nếu sinh ở cõi Dục đạt được tâm
thiện của cõi Sắc, hoặc là sinh ở cõi Sắc.
4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo vị lai cũng không phải
là sắc sở tạo hiện tại, đó là các dị sinh sinh đến cõi Vô sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hiện ta ïi thì đó là sắc sở tạo hiện
tại chăng?
Đáp: Đúng như vây.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc sở tạo hiện tại thì đó là Đại chủng hiện
tại chăng?
Đáp: Đúng như vậy, bỏi vì không phải là Đại chủng hiện tại không
có quả, cũng không phải là sắc sở tạo hiện tại không có nhân.
Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với  Đại chủng quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là Câu hữu-
Đồng loại, cùng sinh và hướng về nhau là nhân Câu hữu, sinh trước
cùng với sinh sau là nhân Đồng loại. Tăng thượng, nghĩa là không ngăn
ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại.
Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với sắc sở tạo quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Sinh
khởi, nhân Nương tựa, nhân Tồn tại, nhân Duy trì và nhân Nuôi dưỡng.
Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với  sắc sở tạo quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là Câu hữu-
Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhâ n là một nhân, đó là nhân Dị
598 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với Đại chủng vị lai làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng
loại. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với Đại chủng vị lai làm mấy duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Câu
hữu. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với sắc sở tạo vị lai làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân
như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với sắc sở tạo vị lai làm mấy duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu
và nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với Đại chủng hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng
loại. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với  Đại chủng hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân thì có người nói: Trong này dựa
vào sát-na hiện tại mà làm lua än, cho nên chỉ có một nhân, đó là nhân
Câu hữu. Có người nói: Trong này cùng dựa vào phần vị và sát-na hiện
tại của một đời mà làm luận, cho nên có hai nhân, đó là nhân Câu hữu
và Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với  Đại chủng quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Đại chủng quá khứ cùng với sa éc sở tạo hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm  nhân
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 132 599  
www.daitangkinh.org  
như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với  sắc sở tạo hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân thì có người nói: Trong này dựa
vào sát-na hiện tại mà làm luận, cho nên chỉ có một nhân, đó là nhân
Câu hữu. Có người nói: Trong này cùng dựa vào phần vị và sát-na hiện
tại của một đời mà làm luận, cho nên có ba nhân, đó là nhân Câu hữu-
Đồng loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với Đại chủng quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng v ới Đại chủng vị lai làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhâ n là một nhân, đó là nhân Dị
thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với sắc sở tạo quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với  sắc sở tạo vị lai làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là Đồng loại và
Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với  sắc sở tạo quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với  Đại chủng hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhâ n là một nhân, đó là nhân Dị
thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với  sắc sở tạo quá khứ làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo quá khứ cùng với  sắc sở tạo hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng
loại- Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với  sắc sở tạo quá khứ làm mấy
duyên?
600 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với sắc sở tạo vị lai làm mấy duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, tức là năm nhân
như Sinh khởi…Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với Đại chủng vị lai làm mấy duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhâ n là một nhân, đó là nhân Dị
thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với  Đại chủng hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng vớ i Đại chủng vị lai làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Đồng
loại. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng vị lai cùng với sa éc sở tạo hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại c ùng với Đại chủng vị lai làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhâ n là một nhân, đó là nhân Dị
thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với Đại chủng hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với sa éc sở tạo vị lai làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân
như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo vị lai cùng với sắc sở tạo hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với  sắc sở tạo vị lai làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Đồng
loại và Dị thục. Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Đại chủng hiện tại cùng với sắc sở tạo hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm  nhân
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 132 601  
www.daitangkinh.org  
như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước.
Hỏi: Sắc sở tạo hiện tại cùng với Đại chủng hiện tại làm mấy
duyên?
Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị
thục. Tăng thượng, nói như trước.
Những cách nói trong này dựa vào phần vị và sát-na hiện tại của
một đời mà làm luận, thì phù hợp với cách trả lời này. Những cách
nói trong này chỉ dựa vào sát-na hiện ta ïi mà làm luận, thì nên trả lời
rằng: Chỉ một Tăng thượng. Sẽ không tương ưng với cách trả lời của
bản luận.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hệ thuộc  cõi Dục thì đó là sắc sở
tạo hệ thuộc cõi Dục chăng?
Đáp: Đúng như vậy.
Hỏi: Giả sử thành tựu sắc sở ta ïo hệ thuộc cõi Dục thì đó là Đại
chủng hệ thuộc cõi Dục chăng?
Đáp: Đúng như vậy, bởi vì không có thành tựu Đại chủng hệ thuộc
cõi Dục mà không phải là quả, cũng không có thành tựu sắc sở tạo hệ
thuộc cõi Dục mà không phải là nhân.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục thì đó là Đại
chủng hệ thuộc cõi Sắc chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục mà không phải
là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục, Đại chủng của cõi
Sắc không hiện rõ ở trước mắt.
2. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là
Đại chủng hệ thuộc cõi Dục, đó là sinh ở cõi Sắc, không làm hóa hiện
ở cõi Dục, không phát ra lời nói của cõi Dục.
3. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cũng là Đại chủng
hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục , Đại chủng của cõi Sắc hiện  rõ
ở trước mắt; hoặc là sinh ở cõi Sắc, làm hóa hiện ở cõi Dục, phát ra lời
nói của cõi Dục.
4. Có lúc không phải là thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục
cũng không phải là Đại chủng hệ thuộc c õi Sắc, đó là sinh đến cõi Vô
sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục thì đó là sắc sở
tạo hệ thuộc cõi Sắc chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục mà không phải là
602 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục, không đạt được tâm
thiện của cõi Sắc.
2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là
Đại chủng hệ thuộc cõi Dục, đó là sinh ở cõi Sắc, không làm hóa hiện
ở cõi Dục, không phát ra lời nói của cõi Dục.
3. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cũng là sắc sở tạo
hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục  đạt được tâm thiện của cõi Sắc,
hoặc là sinh ở cõi Sắc làm hóa hiện ở c õi Dục, phát ra lời nói của cõi
Dục.
4. Có lúc không phải là thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Dục
cũng không phải là sắc sở tạo hệ thuộc  cõi Sắc, đó là sinh đến cõi Vô
sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục thì đó là Đại
chủng hệ thuộc cõi Sắc chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục mà không phải là
Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục, Đại chủng của cõi Sắc
không hiện rõ ở trước mắt.
2. Có lúc thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là
sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là sinh ở cõi Sắc không làm hóa hiện ở
cõi Dục, không phát ra lời nói của cõi Dục.
3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cũng là Đại chủng
hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục , Đại chủng của cõi Sắc hiện  rõ
ở trước mắt; hoặc là sinh ở cõi Sắc làm hóa hiện ở cõi Dục, phát ra lời
nói của cõi Dục.
4. Có lúc không phải là thành tựu sa éc sở tạo hệ thuộc cõi Dục
cũng không phải là Đại chủng hệ thuộc c õi Sắc, đó là sinh đến cõi Vô
sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục thì đó là sắc sở tạo
hệ thuộc cõi Sắc chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục mà không phải là
sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở c õi Dục không đạt được tâm
thiện của cõi Sắc.
2. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là
sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là sinh ở cõi Sắc không làm hóa hiện ở
cõi Dục, không phát ra lời nói của cõi Dục.
3. Có lúc thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cũng là sắc sở tạo
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 132 603  
www.daitangkinh.org  
hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh ở cõi Dục  đạt được tâm thiện của cõi Sắc,
hoặc là sinh ở cõi Sắc làm hóa hiện ở c õi Dục, phát ra lời nói của cõi
Dục.
4. Có lúc không phải là thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cũng
không phải là sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sinh đến cõi Vô sắc.
Hỏi: Nếu thành tựu Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc thì đó là sắc sở tạo
hệ thuộc cõi Sắc chăng?
Đáp: Thành tựu các Đạ i chủng hệ thuộc cõi Sắc  thì lúc ấy nhất
định thành tựu sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc. Có lúc thành tựu sắc sở tạo
hệ thuộc cõi Sắc mà không phải la ø Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, đó là
sinh ở cõi Dục đạt được tâm thiện của  cõi Sắc, Đại chủng của cõi Sắc
không hiện rõ ở trước mắt.
Hỏi: Sinh ở cõi Dục, trú vào những tâm nào của cõi Sắc, làm cho
Đại chủng ấy hiện rõ ở trước mắt, là luôn luôn trú vào tâm thiện, hay
là trú vào ba loại? Giả sử như vậy thì có gì sai? Cả ba đều có sai lầm.
Nếu luôn luôn trú vào tâm thiện, thì lu ận Thi Thiết nói nên hiểu thế
nào? Như nói: “ Bởi vì trú ở cõi này không gián đoạn, cho nên dị sinh
khởi lên triền-sở triền của Sắc tham, quả báo năm uẩn thuộc cõi Sắc ở
trong pháp hiện tại lấy Thủ làm duyên hướng về quả báo ở tương lai.”
Nếu trú vào ba loại tâm thì tâm thiện có thể như vậy, bởi vì có sắc tùy
chuyển làm quả của nó, tâm nhiễm ô và vô ký là có quả gì khiến cho
nó hiện rõ trước mắt? Đáp: Có người  đưa ra cách nói như vậy: Chỉ trú
vào tâm thiện.
Hỏi: Luận Thi Thiết nói nên hiểu thế nào? Đáp: Luận ấy nói đến
những sắc tăng trưởng trong thân.
Hỏi: Nếu như vậy thì luận ấy nói lại hiểu thế nào? Như nói: “Bởi
vì trú ở cõi này không gián đoạn, cho nên dị sinh khởi lên triền- sở triền
của Vô sắc tham, quả báo bốn uẩn thuộc cõi Vô sắc ở trong pháp hiện
tại lấy Thủ làm duyên hướng về quả báo ở tương lai.” Thân ấy cũng có
những sắc tăng trưởng, vì sao không nói? Đáp: Có người đưa ra cách nói
này: Nên nói mà không nói đến thì phải biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Lúc khởi lên triền của cõi ấy không có sắc tăng
trưởng, vì vậy không nói đến. Lại có người nói: Trú vào ba loại tâm.
Hỏi: Tâm thiện có thể như vậy, bởi vì có quả tùy chuyển, hai tâm
còn lại có quả gì khiến cho nó hiện rõ trước mắt? Đáp: Người ấy sinh ở
cõi Dục, lúc khởi lên tâm thiện của  cõi Sắc, bởi vì sắc tùy chuyển cho
nên khiến nó hiện rõ trước mắt; lúc khởi lên tâm nhiễm ô, bởi vì có sắc
thuộc Không giới của địa ấy, trú xen tạp lẫn nhau ở trong thân này, kh-
604 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
iến cho nó hiện rõ trước mắt; lúc khởi lên tâm vô ký, bởi vì có sắc biến
hóa của địa ấy, khiến cho nó hiện rõ tr ước mắt. Vì vậy trú vào ba loại
tâm, đều có thể khởi lên Đại chủng của địa ấy.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt