A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 133
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
欲界繫大種與欲界繫大種為幾緣。答因。 增上。因者二因。謂俱有。同類。俱生互相望 為俱有因。前生與後生為同類因。增上者。 謂不礙生。及唯無障。欲界繫大種與欲界 繫所造色。為幾緣。答因。增上。因者五因。謂 生因。依因。立因。持因。養因。增上者如前說。 欲界繫所造色與欲界繫所造色為幾緣。答 因。增上。因者二因。謂同類。異熟。增上者如 前說。欲界繫所造色與欲界繫大種為幾 緣。答因。增上。因者一因。謂異熟。增上者如 前說。 欲界繫大種與色界繫大種為幾緣。答一增 上。增上義如前說。色界繫大種與色界繫大 種為幾緣答因。增上。因者二因。謂俱有。同 類。增上者如前說。色界繫大種與欲界繫大 種為幾緣。答一增上。增上義如前說。 欲界繫大種與色界繫所造色為幾緣。答一 增上。增上義如前說。色界繫所造色與色界 繫所造色為幾緣。答因。增上。因者三因。謂 俱有。同類。異熟。增上者如前說。色界繫所 造色與欲界繫大種。為幾緣。答一增上。增 上義如前說。 欲界繫所造色與色界繫大種為幾緣。答一 增上。增上義如前說。色界繫大種與欲界繫 所造色為幾緣。答一增上。增上義如前說。欲 界繫所造色與色界繫所造色為幾緣。答一 增上。增上義如前說。色界繫所造色與欲界 繫所造色為幾緣。答一增上。增上義如前 說。色界繫大種與色界繫所造色為幾緣。 答因。增上。因者五因。謂生等五。增上者如 前說。色界繫所造色與色界繫大種為幾緣。 答因。增上。因者一因。謂異熟因。增上者如 前說。諸色欲界繫。彼色一切欲界繫大種所 造耶。答應作四句。有色欲界繫。非欲界繫 大種所造。謂欲界繫大種。以諸大種非所 造故。有色欲界繫大種所造。非欲界繫。謂 色不繫欲界繫大種所造。此復云何。謂一切 法智品隨轉色。及依欲界身現前類智品隨 轉色有色欲界繫。欲界繫大種所造。謂色欲 界繫。欲界繫大種所造。此復云何。謂欲界繫 有對所造色。及表所起無表。有色非欲界 繫。非欲界繫大種所造。謂色界繫大種。若色 色界繫。色界繫大種所造。若色不繫。色界繫 大種所造。 諸色色界繫彼色一切色界繫大種所造耶。 答應作四句。有色色界繫。非色界繫大種 所造。謂色界繫大種。所以如前有色色界繫 大種所造。非色界繫。謂色不繫。色界繫大種 所造。此復云何。謂依色界身現前類智品隨 轉色。有色色界繫。色界繫大種所造。謂色 色界繫。色界繫大種所造。此復云何。謂色 界繫有對所造色。及有漏隨心轉無表。有色 非色界繫。非色界繫大種所造。謂欲界繫 大種。若色欲界繫。欲界繫大種所造。若色不 繫。欲界繫大種所造。 諸色過去。彼色一切過去大種所造耶。答 應作四句。有色過去非過去大種所造。謂 過去大種。所以如前。有色過去大種所造。 非過去。謂色未來現在過去大種所造。此復 云何。謂未來現在表所起無表。過去大種所 造。以依過去表故。有色過去過去大種所 造。謂色過去。過去大種所造。此復云何。謂過 去一切有對所造色。隨心轉無表。表所起無 表。有色非過去非過去大種所造。謂未來 現在大種。若色未來現在。現在大種所造。若 色未來。未來大種所造。 諸色未來。彼色一切未來大種所造耶。答諸 色未來大種所造。彼色一切未來。此復云何。 謂未來一切有對所造色。隨心轉無表。若表 所起無表。未來大種所造。以依未來表故。 有色未來非未來大種所造。謂未來大種。若 色未來。過去現在大種所造。此復云何。謂未 來表所起無表。過去現在大種所造。以依過 去現在表故。 諸色現在。彼色一切現在大種所造耶。答應 作四句。有色現在非現在大種所造。謂現 在大種若色現在。過去大種所造。此復云何。 謂現在表所起無表。過去大種所造。所以如 前。問此無表色。亦有現在所依大種。何故 不說耶。答彼是轉依。非造依故。此無表色 有二種依。一是轉依。謂現在大種。由彼力 轉故。二是造依。謂過去大種。由彼力造故。 此中但說造依。不說轉依。是故不說。能造 五因皆過去故。有色現在。大種所造非現在。 謂色未來。現在大種所造。此復云何。謂未來 表所起無表。現在大種所造。所以如前。有 色現在。現在大種所造。謂色現在。現在大種 所造。此復云何。謂現在一切有對所造色。隨 心轉無表。若現在表所起無表。現在大種所 造。以依現在表故。有色非現在。非現在 大種所造。謂過去未來大種。若色過去。未來 過去大種所造。若色未來。未來大種所造 地云何。乃至廣說問何故作此論。答欲令 疑者得決定故。謂此論中多說勝義。或有 生疑。彼作論者唯善勝義。不善世俗。為 令彼疑得決定故。顯地界等與地等別。 故作斯論。 地云何。答顯形色此是世俗想施設地謂諸 世間於顯形色。依共假想施設地名。如世 間說青黃地等。長短地等。地界云何。答堅性 觸。此是勝義能造地體。 水云何。答顯形色此是世俗想施設水。謂諸 世間於顯形色。依共假想施設水名。如世 間說青黃等水。長短等水。云何水界。答濕性 觸。此是勝義能造水體。 火云何。答顯形色此是世俗想施設火。謂諸 世間於顯形色。依共假想施設火名。如世 間說青黃等火。長短等火。又如梵志觀火。 頌云。 赤焰多疾疫黃兵緣飢饉 綵豐青退減白黑主興滅 火界云何。答煖性觸。此是勝義能造火體。風 云何。答即風界。風界云何。答動性觸。問何故 不說世俗風耶。答世間於風無假想故。 有餘師說。世間於風亦起假想少故不說。 如世間說此有塵風。此無塵風。毘濕縛風。 吠嵐婆風。小風大風。塵輪風等。 地水火風幾處所攝。乃至廣說。問何故作此 論。答欲令疑者得決定故。謂聞所說世俗 地等。便謂無體。非處所攝。非識所識。或謂假 實同一處攝。同一識識。為除彼疑顯假地 等亦實有體但假立名。於五處中隨一處 攝。於五識中隨一識識。又顯假實不同處 攝。不同識識。由此等緣故作斯論。 地水火風幾處所攝。幾識所識。答地水火一 處所攝。謂色處眼所見故。二識所識。謂眼識 意識。眼識取自相。意識取自相共相。風一 處所攝。謂觸處身所得故。二識所識謂身識 意識。取自共相如前應知。有說。此亦通 色處攝。及眼識識少故不說。 地水火風界幾處所攝幾識所識。答一處所 攝謂觸處身所得故。二識所識。謂身識意識。 取自共相如前應知。問幾處和合說為能 牽。幾處和合說為所牽。答若有情數於有情 數。則九處能牽。九處所牽。若有情數於非有 情數則九處能牽。四處所牽。若非有情數於 非有情數。則四處能牽。四處所牽。若非有情 數於有情數。則四處能牽。九處所牽。如說 牽持運等亦爾。問幾處和合說為能量。幾處 和合說為所量。答四處能量。四處所量。五根 微妙非量法故。問幾處和合說為能稱。幾處 和合說為所稱。有作是說。四處能稱四處所 稱。有餘師說。四處能稱重是所稱。問幾處和 合說為能燒。幾處和合說為所燒。有作是 說。四處能燒。四處所燒。有餘師說。煖是能燒。 四是所燒。問幾處和合說為能斷。幾處和合 說為所斷。有作是說。四處能斷。四處所斷。 有餘師說。堅性是能斷。四處是所斷。問幾處 和合說為能洗。幾處和合說為所洗。有作 是說。四處能洗。四處所洗。有餘師說。四處能 洗。色處所洗。如說洗已鮮白。或如金色。復 有說者。四處能洗。觸是所洗。如說杯盛澡 屑往某池邊。揩洗其身令去塵垢。或有 說者。四處是能洗。十二處是所洗。由洗浴 故。內十二處皆悉明淨離諸垢濁。 問此四大種幾能為災。答三。除地問何故 地不能為災。答非其田。非其器。乃至廣 說。有說。猛利方能為災。地性遲鈍不能為 災。有說。若能損壞內事。彼於外事亦能為 災。謂斷末摩名壞內事。此唯三大。故地非 災。有說。為壞地故立災。三大於地能燒 浸擊故說為災。地則不爾。有說。若地亦為 災者。應從風輪。乃至第四靜慮皆令堅固。 合為一摶此乃成劫非謂能壞。有說。若地 能為災者。便應壞及第四靜慮。然無諸災 壞及彼者。此中因論生論。何故彼地災不及 之。有說。即由地非災故。有說。彼地若為 災及是則應無最上災頂。謂上三靜慮如 次能為三災之頂。若第四靜慮災所壞者。 便更無處為上災頂。以諸無色無方處故。 有說欲避淨居諸天。由彼更無上生義故。 若彼處所災所及者。則淨居天無有盡壽而 涅槃者。若爾云何知彼壽量。若言亦有盡 壽涅槃。是則彼地災無由起。如說若處乃至 尚餘一蟻卵在災便不壞。有說若處有內 災者便有外災。第四靜慮無內災故外災 不及。謂初靜慮內有如火尋伺故。外有火 災。第二靜慮內有如水喜悅故外有水災。 第三靜慮內有入出息風故外有風災。第四 靜慮更無內災。是故外災皆不能及。 問火災起時火從何出。有作是說。世界成 時有七日輪俱時而起。持雙山後隱伏而住。 然後彼處一日輪昇。遶蘇迷盧而為照耀。 至劫將末火災起時。餘六日輪漸次而出。由 彼勢力世界便壞。有說。世界將欲壞時。即 一日輪分為七日。由彼勢力世界便壞。有 說即一日輪至劫將末。成七倍熱焚燒世 界。有說。七日先藏地下。後漸出現作用如 前。如是說者。諸有情類業增上力。令世界 成。至劫末時。業力盡故。隨於近處有災火 生。乃至梵宮皆被焚燎。 問水災起時水從何出。有作是說。第三靜 慮邊雨熱灰水。由此乃至極光淨天皆被浸 蕩。有說。從下水輪涌出。由彼勢力世界便 壞。如是說者。諸有情類業增上力令世界 成。至劫末時業力盡故。隨於近處有災水 生。由彼因緣世界便壞。 問風災起時風從何出。有作是說。第四靜 慮邊有畔喋婆大風。卒起百俱胝界。妙高 山王金輪圍等皆被傾拔。令互相擊上下翻 騰。如麵摶空中散滅。有餘師說。從下風 輪有猛風起。吹散世界。如是說者諸有 情類業增上力。令世界成。至劫末時業力 盡故。隨於近處有災風生。至遍淨天皆被 散壞。 問三災起時一切外物。為皆轉變順彼災耶。 有作是言。物皆變順。謂此世界火災起時。 一切外物皆悉輕燥。猶如乾草疊絮樺皮。 火纔觸時即燒即盡。若水災起一切外物。皆 將融液如沙糖等。水纔觸時隨即消壞。若 風災起一切外物。皆將離散如沙摶。風 纔觸時即便散壞。若爾諸法應捨自相。如 是說者。三災起時堅濕等物亦無轉變。但 由有情業增上力。令三災起能壞難壞。 如是三災與所壞事。必是同分界地所攝。謂 欲界災能壞欲界。初靜慮災壞初靜慮。乃至 第三靜慮亦爾。問若爾。經說當云何通。如 說大地妙高山等皆悉洞然。風吹絕焰展轉 乃至上燒梵宮。極光淨天有生未久。於劫 成壞不善了知。見已驚恐便作是念。勿彼 火焰燒盡梵宮當復燒此。答當知彼經依 相續說。謂色界火續欲界生。彼燒梵宮。非 欲界火水風相續准此應知。 問此三災起先後云何。答火水風三如次先 後。然非三種隣次而生。謂七火災先次第起。 然後方有一水災生。如是經於七七火劫。 及七水劫。復七火災。從彼無間一風災起。故 風水劫皆次火生。火劫從三以數起故。由 此善釋遍淨天壽六十四劫。如是所說是 大劫量。一一各有八十中劫。成住壞空各二 十故。且初火劫將燒壞時。贍部洲人壽八萬 歲。安隱豐樂人眾甚多。國邑村城雞飛相及。 人多修習十善業道。從此以後捺落迦中有 情命終不復生彼。爾時已度二十住劫。二十 壞劫此為最初。地獄有情從此漸減乃至最 後無一為餘。名為地獄有情界壞。次壞傍 生。次壞餓鬼。一一壞相如地獄說。次贍部 洲諸有情壞。問傍生鬼趣先人壞者。人中所 須乳酪等味。耕馭等事如何得有。有說。由 人業增上力。有非情物似傍生現。出乳等 味作諸事業。問人身今有八萬戶虫。作 任持緣令身相續。彼時既闕身云何存。答 爾時人身法爾得住。如諸菩薩轉輪王身。 雖無諸虫而法爾住。如是說者。諸大海中 是諸傍生本所住處。若彼無有一傍生時。即 名傍生有情界壞。若傍生類人等雜居。人等 壞時彼方隨壞。鬼有情壞類此應知。然贍部 洲人趣將壞。爾時法爾有一有情。無師自思 入初靜慮。從彼定起唱如是言。此初靜慮 甚樂甚靜。展轉宣告遍贍部洲。聞者攝心皆 入初定。從此捨壽上生梵天。贍部洲中有 情漸減。乃至無一有情為餘。名贍部洲。有 情界壞。次壞毘提訶洲。次壞。瞿陀尼洲。一 一壞相如贍部說。北拘盧洲如三惡趣。無 得靜慮生梵世者。然彼壽盡必生欲天。乃 至彼處有情界盡。名北拘盧有情界壞。人趣 壞已四大王眾天。法爾有一得初靜慮。從 彼定起宣告如前。乃至彼處有情界盡。名 彼天中有情界壞。次壞三十三天。次壞夜摩 天。次壞覩史多天。次壞樂變化天。次壞他 化自在天。一一壞相如初天說。欲界有情次 第壞已。時初靜慮有一有情。法爾能入第二 靜慮。從彼定起唱如是言。第二靜慮甚樂 甚靜。如是展轉聲遍梵宮。聞者攝心入第 二定。命終皆往生彼天中。初靜慮天有情漸 減。乃至無一有情為餘。名為梵天有情界 壞。如是欲界及諸梵宮。久遠空虛無有情 類。贍部洲等大地諸山。經歷多時天不降 雨。一切草木皆悉乾燋。更不復生乃至都 盡。久時復有第二日輪出現世間。炎赫倍熱 由此枯涸坑㵎泉池。乃至令其都無津潤。 久時復有第三日輪出現世間。炎赫倍熱。由 此枯竭一切江河。乃至令其都無津潤。久 時復有第四日輪出現世間。炎赫倍熱。由 此枯涸無熱惱池。即四大河所從出者。謂 殑伽信度縛芻私多。乃至令其都無津潤。久 時復有第五日輪出現世間。炎赫倍熱。由此 漸次枯涸大海。乃至令其都無津潤。久時 復有第六日輪出現世間。炎赫倍熱。由此 大地妙高山等。皆悉焦熬發煙熢㶿。久時復 有第七日輪出現世間。炎赫極熱。由此大 地妙高山王等。一時焰發中表烔燃。乃至梵 宮悉皆焚蕩。上從梵世下至風輪。周遍燒 燃無餘灰燼。如酥油等燒燃盡時。無有遺 餘。此亦如是。爾時欲界初靜慮中。皆悉空 虛。都無所有。二十壞劫此時已度。二十空劫 從此為初。問幾劫壞有情。幾劫壞器。有 說。十劫壞有情。十劫壞器。有說。十五劫 壞有情。五劫壞器。如是說者。十九劫壞 有情。一劫壞器。別業難轉。非共業故 如是世界壞經久時。於下空中有微風起。 二十空劫此時已度。二十成劫從此為初。所 起微風漸廣漸厚。時經久遠盤結成輪。厚 十六億踰繕那量。廣則無數。其體堅密。假設 有一大諾健那。以金剛輪奮威懸擊。金剛 有碎風輪無損。次有雲起雨風輪上。滴 如車軸積水成輪。如是水輪於未凝結位。 深十一億二萬踰繕那。有說。廣量與風輪 等有言。狹小分百俱胝。百俱胝輪。其量皆 等。謂徑十二億三千四百半圍量三倍。謂三 十六億一萬三百五十踰繕那。此不傍流。由 有情業力。有餘師說。由風力所摶。次於水 輪。有別風起。摶擊此水上結成金。此即金 輪厚三億二萬。水輪遂減唯深八洛叉。有說。 金輪廣如水量。有師復說。少廣水輪。次有 雲起雨金輪上。滴如車軸經於久時。積 水浩然深過八萬。猛風攢擊寶等變生。復有 異風析令區別謂分寶土成諸山洲。分水 甘醎為內外海。初四妙寶成蘇迷盧。挺出 海中處金輪上。謂四面如次北東南西金銀 吠琉璃頗胝迦寶。隨寶威德色現於空。故 贍部洲空似吠琉璃色。此山出水八萬踰繕 那。水中亦然。端嚴可愛。次以金寶成七金 山。遶蘇迷盧住金輪上。在水中量同蘇迷 盧。出水相望各半半減。次以土等成四大 洲。下據金輪遶金山外。最後以鐵成輪圍 山。在四洲外如牆圍遶。出水半減第七金 山。在水量同蘇迷盧等。諸山廣量皆與出水 量同。七金山間有七內海。八功德水盈滿 其中。七金山外有醎外海。此八大海各深 八萬。前七廣量如所遶山。第八有說。廣三 億二萬二千踰繕那。有說。更增千二百八十 七踰繕那半。蘇迷盧山有四層級。初層傍出 一萬六千。次上三層各半半減。四層相去量 各十千。有說。初層下齊水量。次二去下量各 十千。其第四層去下二萬。四層四面如妙高 山。四寶所成莊嚴殊妙。四層如次。堅手持 鬘。恒憍。四王天眾居止持雙山等七金山上。 亦有四王所部村邑。七山四級日月等天。皆 是四大王眾天攝故。欲天中此天最廣。從第 四層級復有四萬踰繕那。至蘇迷盧頂。是 三十三天住處。山頂四面各二十千。若據周 圍數成八萬。有餘師說。面各八十千。與下 際四邊其量正等。山頂四角各有一峯。其高 廣量各有五百。有藥叉神名金剛手。於中 止住守護諸天。於山頂中有城名善見。面 二千半周萬踰繕那。金城量高踰繕那半。其 地平坦真金所成。俱用百一雜寶嚴飾。地 觸柔軟如妬羅綿。躡時齊膝隨足高下。有 微風起吹去萎華。引新妙華彌散其地。是 天帝釋所都大城。城有千門嚴飾壯麗。門 有五百青衣藥叉。勇健端嚴踰繕那量。各嚴 鎧仗防守城門。於其城中有殊勝殿。種種 妙寶具足莊嚴。蔽餘天宮故號殊勝。面二 百五十。周千踰繕那。其城四隅有四臺觀。 以金銀等四寶所成。種種莊嚴甚可愛樂。 城外四面四苑莊嚴。是彼諸天共遊戲處。一 眾車苑。謂此苑中隨天福力種種車現。二麁 惡苑。天欲戰時隨其所須甲仗等現。三雜 林苑。諸天入中所玩皆同俱生勝喜。四喜林 苑。極妙欲塵殊類皆集歷觀無厭。如是四苑 形皆正方。一一周千踰繕那量。中央各有一 如意池。面各五十踰繕那量。八功德水盈滿 其中。隨欲妙花寶舟好鳥。一一奇麗種種莊 嚴。四苑四邊有四妙地。中間去苑各二十 踰繕那。地一一邊量皆二百。是諸天眾勝遊 戲所。諸天於彼捔勝歡娛。城外東北有圓 生樹。是三十三天受欲樂處。盤根深廣五踰 繕那。聳幹上昇枝條傍布。高廣量等百踰繕 那。舒葉開花妙香芬馥。順風熏滿百踰繕 那。若逆風時猶遍五十。城外西南角有大善 法堂。三十三天常於半月八日十四日十五 日。集此堂中詳辨人天。及制伏阿素洛 等。如法不如法事如是等類餘處廣說。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 133 605 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 133 LUẬN VỀ DUYÊN (Phần 3) Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu- Đồng loại, cùng sinh và hướng về nhau là nhân Câu hữu, sinh trước và sinh sau là nhân Đồng loại. Tăng thượng nghĩa là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại. Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Sinh khởi, nhân Nương tựa, nhân Tồn tại, nhân Duy trì và nhân Nuôi dưỡng. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nha ân là hai nhân, đó là nhân Đồng loại- Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là hai nhân, đó là nhân Câu hữu- Đồng loại. Tăng thượng, nói như trước. 606 BỘ TỲ ĐÀM 5 Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Dục cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhâ n là ba nhân, đó là nhân Câu hữu- Đồng loại và Dị thục thục. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Dục làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng, nghĩa về Tăng thượng nói như trước. Hỏi: Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc cùng với sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Sinh khởi… Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Sắc sở tạo hệ thuộc cõi Sắc cùng với Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhâ n là một nhân, đó là nhân Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Các sắc hệ thuộc cõi Dục thì tất cả sắc ấy là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có sắc hệ thuộc cõi Dục mà không phải là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Dục, bởi vì các Đại chủng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 133 607 www.daitangkinh.org không phải là sở tạo. 2. Có sắc là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục mà không phải là hệ thuộc cõi Dục, đó là sắc không hệ thuộc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục. Điều này lại là thế nào? Đó là tất cả sắc tùy chuyển thuộc phẩm Pháp trí, và sắc tùy chuyển thuộc phẩm Loại trí dựa vào thân cõi Dục hiện rõ trước mắt. 3. Có sắc hệ thuộc cõi Dục cũng là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là sắc hệ thuộc cõi Dục, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục. Điều này lại là thế nào? Đó là sắc sở tạo Hữu đối hệ thuộc cõi Dục, và do Biểu mà khởi lên Vô biểu. 4. Có sắc không phải là hệ thuộc cõi Dục cũng không phải là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục, đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc; hoặc là sắc hệ thuộc cõi Sắc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc; hoặc là sắc không hệ thuộc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc. Hỏi: Các sắc hệ thuộc cõi Sắc thì tất cả sắc ấy là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có sắc hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Sắc, nguyên cớ như trước. 2. Có sắc là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc mà không phải là hệ thuộc cõi Sắc, đó là sắc không hệ thuộc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc. Điều này lại là thế nào? Đó là sắc tùy chuyển thuộc phẩm Loại trí dựa vào thân cõi Sắc hiện rõ trước mắt. 3. Có sắc hệ thuộc cõi Sắc cũng là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là sắc hệ thuộc cõi Sắc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc. Điều này lại là thế nào? Đó là sắc sở tạo Hữu đối hệ thuộc cõi Sắc, và Vô biểu tùy tâm chuyển hữu lậu. 4. Có sắc không phải là hệ thuộc cõi Sắc cũng không phải là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Sắc, đó là Đại chủng hệ thuộc cõi Dục; hoặc là sắc hệ thuộc cõi Dục, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục; hoặc là sắc không hệ thuộc, Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục. Hỏi: Các sắc quá khứ thì tất cả sắc ấy là Đại chủng sở tạo quá khứ chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biêt: 1. Có sắc quá khứ mà không phải là Đại chủng sở tạo quá khứ, đó là Đại chủng quá khứ, nguyên cớ như trước. 2. Có sắc là Đại chủng sở tạo quá khứ mà không phải là quá khứ, đó là sắc vị lai-hiện tại, Đại chủng sở tạo quá khứ. Điều này lại là thế 608 BỘ TỲ ĐÀM 5 nào? Đó là Biểu đã khởi lên Vô biểu vị lai-hiện tại, Đại chủng sở tạo quá khứ, bởi vì dựa vào Biểu của quá khứ. 3. Có sắc quá khứ cũng là Đại c hủng sở tạo quá khứ, đó là sắc quá khứ, Đại chủng sở tạo quá khứ. Điều na øy lại là thế nào? Đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối quá khứ, Vô biểu tùy tâm chuyển, do Biểu mà khởi lên Vô biểu. 4. Có sắc không phải là quá khứ cũng không phải là Đại chủng sở tạo quá khứ, đó là Đại chủng vị lai-hiện tại; hoặc là sắc vị lai-hiện tại, Đại chủng sở tạo hiện tại; hoặc là sắc vị lai, Đại chủng sở tạo vị lai. Hỏi: Các sắc vị lai thì tất cả sắc ấy là Đại c hủng sở tạo vị lai chăng? Đáp: Các sắc là Đại chủng sở tạo vị lai thì tất cả sắc ấy là vị lai. Điều này lại là thế nào? Đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối thuộc vị lai, Vô biểu tùy tâm chuyển; hoặc là do Biểu mà khởi lên Vô biểu, Đại chủng sở tạo thuộc vị lai, bởi vì dựa vào Biểu của vị lai. Có sắc vị lai mà không phải là Đại chủng sở tạo vị lai, đó là Đại chủng thuộc vị lai; hoặc là sắc vị lai, Đại chủng sở tạo quá khứ-hiện tại. Điều này lại là thế nào? Đó là do Biểu mà khởi lên Vô biểu thuộc vị lai, Đại chủng sở tạo thuộc quá khứ-hiện tại, bởi vì dựa vào Biểu thuộc quá khứ-hiện tại. Hỏi: Các sắc hiện tại thì tất cả sắc ấy là Đại chủng sở tạo hiện tại chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có sắc hiện tại mà không phải là Đại chủng sở tạo hiện tại, đó là Đại chủng hiện tại; hoa ëc là sắc hiện tại, Đại chủng sở tạo quá khứ. Điều này lại là thế nào? Đó là do Biểu mà khởi lên Vô biểu hiện tại, Đại chủng sở tạo thuộc quá khứ, nguyên cớ như trước. Hỏi: Sắc Vô biểu này cũng có Đại chủng sở y thuộc hiện tại, vì sao không nói? Đáp: Bởi vì sắc ấy là dựa vào Chuyển chứ không phải là dựa vào Tạo. Sắc Vô biểu này có hai loại dựa vào: Một là dựa vào Chuyển(chuyển y), đó là Đại chủng hiện tại, nhờ vào lực ấy mà chuyển; Hai là dựa vào Tạo(tạo y), đó là Đại chủng quá khứ, nhờ vào lực ấy mà tạo. Trong này chỉ nói đến dựa vào Tạo, không nói đến dựa vào Chuyển, vì vậy cho nên không nói đến Năng tạo, bởi vì năm nhân đều là quá khứ. 2. Có sắc là Đại chủng sở tạo hiện tại mà không phải là hiện tại, đó là sắc vị lai, Đại chủng sở tạo hiện tại. Điều này lại là thế nào? Đó là do Biểu mà khởi lên Vô biểu thuộc vị lai, Đại chủng sở tạo thuộc hiện tại, nguyên cớ như trước. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 133 609 www.daitangkinh.org 3. Có sắc là hiện tại cũng là Đại chủng sở tạo hiện tại, đó là sắc hiện tại, Đại chủng sở tạo hiện tại. Điều này lại là thế nào? Đó là tất cả sắc sở tạo Hữu đối hiệ n tại, Vô biểu tùy tâm chuyển; hoặc là do Biểu mà khởi lên Vô biểu thuộc hiện tại , Đại chủng sở tạo hiện tại, bởi vì dựa vào Biểu thuộc hiên tại. 4. Có sắc không phải là hiện tại cũng không phải là Đại chủng sở tạo hiện tại, đó là Đại chủng thuộc quá khứ-vị lai; hoặc là sắc quá khứ, Đại chủng sở tạo thuộc quá khứ-vị lai; hoặc là sắc vị lai, Đại chủng sở tạo thuộc vị lai. Địa là thế nào? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi ngờ có được quyết định, nghĩa là trong luận này phần nhiều nói về Thắng nghĩa. Hoặc là có người sinh ra nghi ngờ: Người soa ïn luận ấy chỉ khéo về Thắng nghĩa, chứ không khéo về Thế tục. Vì làm cho mối nghi ấy được quyết định, hiển bày Địa giới… cùng với Địa… khác nhau, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Địa là thế nào? Đáp: Hiển bày hình sắc, đây là Địa thi thiết theo tưởng thuộc Thế tục, nghĩa là thế gian đối với những hình sắc hiển bày, dựa vào sự giả tưởng như nhau mà thi thiết tên gọi là Địa. Như thế gian nói: Địa xanh- vàng…, Địa dài-ngắn… Hỏi: Địa giới là thế nào? Đáp: Tiếp xúc tánh cứng, đây là Thể của Địa tự nhiên tạo ra (năng tạo) thuộc về Thắng nghĩa. Hỏi: Thủy là thế nào? Đáp: Hiển bày hình sắc, đây là Thủy thi thiết theo tưởng thuộc Thế tục, nghĩa là thế gian đối với những hình sắc hiển bày, dựa vào sự giả tưởng như nhau mà thi thiết tên gọi là Thủy. Như thế gian nói: Thủy xanh-vàng…, Thủy dài-ngắn… Hỏi: Thủy giới là thế nào? Đáp: Tiếp xúc tánh ướt, đây là Thể của Thủy tự nhiên tạo ra thuộc về Thắng nghĩa. Hỏi: Hỏa là thế nào? Đáp: Hiển bày hình sắc, đây là H ỏa thi thiết theo tưởng thuộc Thế tục, nghĩa là thế gian đối với những hình sắc hiển bày, dựa vào sự giả tưởng như nhau mà thi thiết tên gọi của Hỏa. Như thế gian nói: Hỏa xanh-vàng…, Hỏa dài-ngắn… 610 BỘ TỲ ĐÀM 5 Hỏi: Hỏa giới là thế nào? Đáp: Tiếp xúc tánh nóng, đây là Thể của Hỏa tự nhiên tạo ra thuộc về Thắng nghĩa. Hỏi: Phong là thế nào? Đáp: Tức là Phong giới. Hỏi: Phong giới là thế nào? Đáp: Tiếp xúc tánh động. Hỏi: Vì sao không nói đến Phong thuộc Thế tục? Đáp: Bởi vì thế gian đối với Phong không có sự giả tưởng. Có Sư khác nói: Thế gian đối với Phong cũng khởi lên giả tưởng, nhưng vì ít cho nên không nói. Như thế gian nói: Gió này có bụi, gió này không có bụi, gió Tỳ-thấp-phược, gió Phệ-lam-bà, gió nhỏ-gió lớn, gió cuốn bụi xoáy tròn… Địa-thủy-hỏa-phong do mấy Xứ thâu nhiếp? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi ngờ có được quyết định, nghĩa là nghe về Địa… mà thế tục đã nói, liền cho rằng không có Thể, không phải là do Xứ thâu nhiếp, không phải là do Thức nhận biết; hoặc là cho rằng giả-thật cùng một Xứ thâu nhiếp, cùng một Thức nhận biết. Vì loại bỏ nghi ngờ ấy để hiển bày về Địa… giả tưởng cũng là Thể có thật, chỉ giả lập về tên gọi, ở trong năm Xứ tùy theo một Xứ thâu nhiếp, ở trong năm Thức tùy theo một Thức nhận biết. Lại hiển bày về giả- thật không cùng chung Xứ thâu nhiếp, không cùng chung Thức nhận biết. Bởi vì những nhân duyên này, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Địa-thủy-hỏa-phong do mấy Xứ thâu nhiếp, do mấy Thức nhận biết? Đáp: Địa-thủy-hỏa do một Xứ thâu nhiếp, đó là Sắc xứ, bởi vì do mắt mà thấy; do hai Thức nhận biết, đó là Nhãn thức và Ý thức, Nhãn thức giữ lấy tự tướng, Ý thức giữ lấy tự tướng và cọng tướng. Phong do một Xứ thâu nhiếp, đó là Xúc xứ, bởi vì do thân mà có được; do hai Thức nhận biết, đó là Thân thức va ø Ý thức, giữ lấy tự tướng và cọng tướng như trước nên biết. Có người nói: Phong này cũng gồm chung Sắc xứ thâu nhiếp, và Nhãn thức nhận biết, nhưng vì ít cho nên không nói đến. Hỏi: Địa-thủy-hỏa-phong giới do mấy Xứ thâu nhiếp, do mấy Thức nhận biết? Đáp: Do một Xứ thâu nhiếp, đó là Xúc xứ, bởi vì do thân mà có SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 133 611 www.daitangkinh.org được; do hai Thức nhận biết, đó là Thân thức và Ý thức, giữ lấy tự tướng và cọng tướng như trước nên biết. Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là t ự nhiên dẫn dắt (năng khiên), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động đẫn dắt (sở khiên)? Đáp: Nếu số hữu tình đối với s ố hữu tình, thì chín Xứ tự nhiên dẫn dắt, chín Xứ thụ động dẫn dắt. Nếu số hữu tình đối với số phi hữu tình, thì chín Xứ tự nhiên dẫn dắt, bốn Xứ thụ động dẫn dắt. Nếu số phi hữu tình đối với số phi hữu tình, thì bốn Xứ tự nhiên dẫn dắt, bốn Xứ thụ động dẫn dắt. Nếu số phi hữu tình đối với số hữu tình, thì bốn Xứ tự nhiên dẫn dắt, chín Xứ thụ động dẫn dắt. Như nói về dẫn dắt, duy trì và vận chuyển… cũng như vậy. Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên hạn lượng (năng lượng), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động hạn lượng (sở lượng)? Đáp: Bốn Xứ là tự nhiên hạn lượng, bốn Xứ là thụ động hạn lượng, bởi vì năm căn vi diệu không phải là pháp hạn lượng. Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên cân xứng (năng xưng), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động cân xứng (sở xưng)? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Bốn Xứ là tự nhiên cân xứng, bốn Xứ là thụ động cân xứng. Có Sư khác nói: Bốn Xứ là tự nhiên cân xứng, nặng là thụ động cân xứng. Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên đốt cháy (năng thiêu), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động đốt cháy? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Bốn Xứ là tự nhiên đốt cháy, bốn Xứ là thụ động đốt cháy. Có Sư khác nói: Nóng là tự nhiên đốt cháy, bốn Xứ là thụ động đốt cháy. Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên đoạn dứt (năng đoạn), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động đoạn dứt? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Bốn Xứ là tự nhiên đoạn dứt, bốn Xứ là thụ động đoạn dứt. Có Sư khác nói: Tánh cứng là tự nhiên đoạn dứt, bốn Xứ là thụ động đoạn dứt. Hỏi: Mấy Xứ hòa hợp nói là tự nhiên rửa sạch (năng tẩy), mấy Xứ hòa hợp nói là thụ động rửa sạch (sở tẩy)? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Bốn Xứ là tự nhiên rửa sạch, bốn Xứ là thụ động rửa sạch. Có Sư khác nói: Bốn Xứ là tự nhiên rửa sạch, Sắc xứ là thụ động rửa sạch, như nói rửa sạch rồi tươi sáng, hoặc là như sắc vàng sáng ngời. Lại có người nói: Bốn Xứ là tự nhiên rửa sạch, Xúc xứ là thụ động 612 BỘ TỲ ĐÀM 5 rửa sạch, như nói cái ly đựng bột tro để tắm gội đem đến bên hồ ấy, chùi rửa thân thể khiến cho không còn dơ bẩn. Hoặc có người nói: Bốn Xứ là tự nhiên rửa sạch, mười hai Xứ là thụ động rửa sạch, bởi vì gột rửa cho nên mười hai Xứ bên trong thảy đều trong sáng sạch sẽ lìa hết những xấu xa dơ bẩn. Hỏi: Bốn Đại chủng này mấy loại có thể làm tai họa? Đáp: Ba loại, trừ ra Địa. Hỏi: Vì sao Địa không có thể làm tai họa? Đáp: Bởi vì không phải là thửa ruộng của tai họa, không phải là đồ chứa của tai họa, cho đến nói rộng ra. Có người nói: Nhanh nhạy sắc bén mới có thể làm tai họa, tánh của địa chậm chạp cùn đùi không có thể làm tai họa. Có người nói: Nếu có thể tổn hoại đến sự việc bên trong, thì Đại ấy đối với sự việc bên ngoài cũng có thể làm tai họa, nghĩa là đoạn Mạt-ma gọi là phá hỏng sự việc bên trong, lúc này chỉ có ba Đại, cho nên Địa không phải là tai họa. Có người nói: Vì phá hỏng Địa cho nên thiết lập tai họa, ba Đại đối với Địa có thể đốt cháy-xâm lấn-đánh động cho nên nói làm tai họa, Địa thì không như vậy. Có người nói: Nếu Địa cũng làm tai họa, thì phải từ Phong luân cho đến Tĩnh lự thứ nhất đều làm cho kiên cố, hợp lại làm một khối, lúc này mới thành kiếp chứ không phải nói là có thể phá hỏng. Có người nói: Nếu Địa có thể làm tai họa, thì phải phá hoại đến Tĩnh lự thứ tư, nhưng không có các tai họa phá hỏng đến nơi ấy. Hỏi: Trong này dựa vào luận mà phát sinh luận, vì sao tai họa của Địa ấy không đến được? Đáp: Có người nói: Tức là bởi vì Địa không phải là tai họa. Có người nói: Địa ấy nếu là ta i họa đến được, va äy thì sẽ không có đỉnh cao nhất của tai họa, nghĩa là ba Tĩnh lự trên như thứ tự có thể làm đỉnh của ba tai họa. Nếu Tĩnh lự thứ tư do tai họa mà phá hỏng, thì lại không có nơi nào làm đỉnh cao của tai họa, bởi vì các Vô sắc không có nơi chốn. Có người nói: Muốn tránh các cõi trời Tịnh Cư, bởi vì ở cõi đó lại không có nghĩa sinh lên phía trên. N ếu cõi ấy do tai họa đã đến được, thì trời Tịnh Cư không có ai hết thọ mạng mà Niết-bàn. Nếu như vậy thì làm sao biết thọ lượng của cõi ấy? Nếu nói cũng có người hết thọ mạng mà Niết-bàn, vậy thì tai họa của Địa ấy không biết từ đau mà khởi lên? Như nói: Nếu nơi nào thậm chí chỉ còn sót lại một loài kiến tồn tại thì SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 133 613 www.daitangkinh.org tai họa sẽ không hủy hoại. Có người nói: Nếu nơi nào có tai họa bên trong thì nơi ấy có tai họa bên ngoài, Tĩnh lự thứ tư không có tai họa bên trong cho nên tai họa bên ngoài không lan đến, nghĩa là bên trong Tĩnh lự thứ nhất có tầm-tứ như lửa, cho nên bên ngoài có tai họa của lửa; bên trong Tĩnh lự thứ hai có vui sướng như nước, cho nên bên ngoài có tai họa của nước; bên trong Tĩnh lự thứ ba có gió của hơi thở ra vào, cho nên bên ngoài có tai họa của gió; Tĩnh lự thứ tư lại không có tai họa bên trong, cho nên tai họa bên ngoài đều không có thể đến được. Hỏi:Lúc tai họa của lửa khởi lên thì lửa từ đâu phát ra? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Lúc thế giới thành lập có bảy vầng mặt trời cùng lúc mà khởi lên, duy trì ở phía sau hai núi ẩn kín mà trú, sau đó ở nơi ấy một vầng mặt trời lên cao, vòng quanh Tô-mê-lô để mà chiếu rọi ánh sáng, đến lúc kiếp sắp hết thì tai họa của lửa khởi lên, sáu vầng mặt trời còn lại dần dần ma ø xuất hiện, bởi vì thế lực ấy cho nên thế giới đã bị hủy hoại. Có người nói: Lúc thế giới sắp sửa hủy hoại, ngay một vầng mặt trời phân ra làm thành bảy mặt trời, bởi vì thế lực ấy cho nên thế giới đã bị hủy hoại. Có người nói: Ngay một vầng mặt trời đến lúc kiếp sắp tận cùng, trở thành sức nóng gấp bảy lần đốt cháy cả thế giới. Có người nói: Bảy vầng mặt trời trước đó ẩn kín dưới lòng đất, sau đó dần dần xuất hiện với tác dụng như trước. Nói như vậy thì lực tăng thượng do nghiệp của các loài hữu tình khiến cho thế giới thành lập, đến lúc cuối cùng của kiếp bởi vì lực của nghiệp không còn, tùy theo nơi tiếp cận có tai họa của lửa sinh ra, cho đến cung trời cõi Phạm đều bị đốt cháy. Hỏi: Lúc tai họa của nước khởi lên thì nước từ đâu phát ra? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Phía Tĩnh lự thứ ba mưa xuống nước tro nóng, từ đây cho đến cõi trời Cực Quang Tịnh đều bị nhấn chìm trong nước. Có người nói: Từ dưới tầng Thủy luân vọt lên, bởi vì thế lực ấy cho nên thế giới đã bị hủy hoại. Nói như vậy thì bởi vì lực tăng thượng do nghiệp của các loài hữu tình khiến cho thế giới thành lập, đến lúc cuối cùng của kiếp bởi vì lực của nghiệp không còn, tùy theo nơi tiếp cận có tai họa của nước sinh ra. Bởi vì nhân duyên ấy cho nên thế giới đã bị hủy hoại. Hỏi: Lúc tai họa của gió khởi lên thì gió từ đâu phát ra? 614 BỘ TỲ ĐÀM 5 Đáp: Có người đưa ra cách nói na øy: Phía Tĩnh lự thứ tư có luồng gió lớn là Bạn-điệp-bà bất ngờ nổi lên, trăm câu-chi cõi ở tầng Kim luân vây quanh núi chúa Diệu Cao… đều bị nhổ bật, khiến cho va chạm lẫn nhau quay cuồng lẫn lộn trên dưới, như nắm bột rang rải ra giữa hư không. Có Sư khác nói: Từ dưới tầng Ph ong luân có gió mạnh nổi lên, thổi đến làm phân tán thế giới. Nói như vậy thì bởi vì lực tăng thượng do nghiệp của các loài hữu tình khiến cho thế giới thành lập, đến lúc cuối cùng của kiếp bởi vì nghiệp lực không còn, tùy theo nơi tiếp ca än có tai họa của gió sinh ra, cho đến cõi trời Biến Tịnh đều bị phân tán hủy hoại. Hỏi: Lúc ba tai họa khởi lên thì tất cả mọi vật bên ngoài đều bị chuyển biến thuận theo tai họa ấy chăng? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Mọi vật đều biến chuyển thuận theo, nghĩa là lúc thế giới này khởi lên tai họa của lửa, tất cả mọi vật bên ngoài thảy đều khô va ø nhẹ, giống như cỏ khô-bông tơ-phấn hoa; lúc lửa vừa mới tiếp xúc hễ ch áy thì không còn. Nếu tai họa của nước khởi lên thì tất cả mọi vật bên ngoài, đều bị tan thành nước như viên kẹo…; lúc nước vừa mới tiếp xúc thì liền tiêu tan hủy hoại. Nếu tai họa của gió khởi lên thì tất cả mọi vật bên ngoài, đều bị phân tán rời ra như nắm cát bột; lúc gió vừa mới tiếp xúc thì liền phân tán hủy hoại. Nếu như vậy thì các pháp sẽ rời bỏ tự tướng. Nói như vậy thì lúc ba tai họa khởi lên, các vật cứng-ướt… cũng không có gì chuyển biến, nhưng bởi vì lực tăng thượng do nghiệp của hữu tình, khiến cho ba tai họa khởi lên có thể hủy hoại tất cả mọi vật khó hủy hoại. Như vậy, ba tai họa cùng với những sự hủy hoại, chắc chắn là do Đồng phần của cõi và địa thâu nhiếp. N ghĩa là tai họa của cõi Dục có thể hủy hoại cõi Dục, tai họa của Tĩnh lự thứ nhất hủy hoại Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Tĩnh lự thứ ba cũng như vậy. Hỏi: Nếu như vậy thì trong kinh nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Mặt đất- núi Diệu Cao… thảy đều xuyên thủng, gió thổi hết lửa lần lượt chuyển vòng cho đến cháy thấu trên cung cõi Phạm. Cõi trời Cực Quang Tịnh có hữu tình sinh sống c hưa bao lâu, không có thể biết rõ ràng đối với sự thành lập và hủy hoại của kiếp, thấy rồi kinh sợ liền dấy lên ý niệm này: Đừng để cho ngọn lửa ấy đốt cháy hết cung cõi Phạm. Nên trở lại đốt cháy cõi này.” Đáp: Nên biết kinh ấy dựa vào sự nối tiếp nhau mà nói, nghĩa SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 133 615 www.daitangkinh.org là lửa cõi Sắc nối tiếp cõi Dục sinh ra, ngọn l ửa ấy đốt cháy cung cõi Phạm, chứ không phải là lửa của cõi Dục. Nước và gió nối tiếp nhau dựa theo đây nên biết. Hỏi: Ba tai họa này khởi lên trước sau thế nào? Đáp: Ba tai họa của lửa-nước -gió trước sau như thứ tự, nhưng không phải là ba loại tiếp theo nhau mà sinh khởi, nghĩa là bảy tai họa của lửa theo thứ tự khởi lên trước , sau đó mới có một tai họa của nước sinh khởi. Như vậy trải qua bốn mươi ch ín kiếp thuộc lửa, và bảy kiếp thuộc nước; lại bảy tai họa của lửa, từ đó không gián đoạn mới có một tai họa của gió sinh khởi, bởi vì kiếp thuộc gió và nước đều sinh khởi tiếp sau lửa, cho nên kiếp thuộc lửa ba mà liên tục sinh khởi. Vì vậy dễ dàng giải thích về sáu mươi bốn kiếp thọ của cõi trời Biến Tịnh. Như vậy đã nói là số lượng của Đại kiếp, mỗi một Đại kiếp đều có tám mươi Trung kiếp, bởi vì thành-trú-hoại-không đều là hai mươi kiếp. Vả lại, lúc bắt đầu kiếp thuộc lửa sắp đốt cháy hủy hoa ïi, tuổi thọ của người ở châu Thiệm Bộ là tám vạn tuổi, an ổn vui sướng đầy đủ, loài người rất đông, thôn xóm thành ấp yên bình, gà bay-thú chạy bên nhau, con người phần nhiều tu tập mười nghiệp đạo thiện. Từ đây về sau hữu tình trong Nại-lạc-ca mạng chung không sinh trở lại nơi ấy, lúc bấy giờ đã vượt qua hai mươi kiếp Trú. Hai mươi kiếp Hoại bắt đầu từ đây, hữu tình địa ngục từ đây dần dần giảm bớt cho đến cuối cùng không có một hữu tình nào sót lại, gọi là cõi của hữu tình địa ngục hủy hoại. Tiếp theo là hủy hoại bàng sinh, tiếp theo là hủy hoại ngạ quỷ, mỗi một tướng hủy hoại nói như địa ngục. Tiếp theo la ø hủy hoại các hữu tình ở châu Thiệm bộ. Hỏi: Bàng sinh và ngạ quỷ hủy hoạ i trước loài người, trong loài người cần đến những vị như sữa đặc…, những sự việc như kéo cày… làm sao có thể có được? Đáp: Có người nói: Do lực tăng thượng thuộc nghiệp của loài người, có vật phi tình tựa như ba øng sinh hiện ra, sản sinh những vị như sữa… làm các sự nghiệp. Hỏi: Thân người đang có tám vạn loài trùng làm duyên duy trì khiến thân nối tiếp nhau, lúc ấy đã thiếu mất thì thân làm sao tồn tại? Đáp: Lúc bấy giờ thân con người thuận theo pháp như vậy có thể tồn tại; như thân của các Bồ- tát và Chuyển Luân vương, tuy không có các loài trùng mà pháp tồn tại như vậy. Nói như vậy thì trong các biển rộng là nơi cư trú chủ yếu của các loài bàng sinh, nếu đến lúc ở đó không còn có một bàng sinh nào, thì 616 BỘ TỲ ĐÀM 5 gọi là cõi của hữu tình bàng sinh h ủy hoại. Nếu loài bàng sinh và loài người… ở xen lẫn, lúc loài người… hủy hoại thì bàng sinh mới hủy hoại theo. Hữu tình loài quỷ hủy hoại tương tự như vậy nên biết. Nhưng loài người ở châu Thiệm Bộ sắp hủy hoại, lúc bấy giờ pháp vốn như vậy có một hữu tình, không có thầy mà tự mình suy nghĩ tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, từ Định ấy đứng dậy nói ra lời như vậy: Tĩnh lự thứ nhất này rất vui thích-rất yên lặng. Lần lượt chuyển vòng nói rộng ra khắp châu Thiệm Bộ, người nghe thâu nhiếp tâm tư đều tiến vào Định thứ nhất, từ đây xả bỏ tuổi thọ sinh lên cõi trời Phạm, hữu tình trong châu Thiệm Bộ dần dần giảm bớt, cho đến cuối cùng không có một hữu tình nào sót lại, gọi là cõi của hữu tình châu Thiệm Bộ hủy hoại. Tiếp theo là hủy hoại châu Tỳ-đề-ha, tiếp theo là hủy hoại châu Cù-đà-ni, mỗi một tướng hủy hoại nói như châu Thiệm Bộ. Châu Bắc Câu-lô như ba nẽo ác, không có người đạt được Tĩnh lự sinh đến cõi Phạm Thế, nhưng tuổi thọ ở đó hết rồi chắc chắn sinh đến trời cõi Dục, cho đến lúc cõi của hữu tình nơi ấy không còn, gọi là cõi c ủa hữu tình Bắc Câu-lô hủy hoại. Loài người hủy hoại rồi, các cõi trời Tứ Đại Vương vào lúc bấy giờ pháp vốn như vậy có một hữu tình đạt được Tĩnh lự thứ nhất, từ Định ấy đứng dậy nói ra lời như trước; cho đến lúc cõi của hữu tình nơi ấy không còn, gọi là cõi của hữu tình trong loài trời ấy hủy hoại. Tiếp theo là hủy hoại cõi trời Tam Thập Tam, tiếp theo hủy hoại cõi trời Dạ Ma, tiếp theo hủy hoại cõi trời Đổ-sử-đa, tiếp theo hủy hoại cõi trời Lạc Biến Hóa, tiếp theo hủy hoại cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Mỗi một tướng hủy hoại nói như cõi trời thứ nhất. Hữu tình cõi Dục lần lượt hủy hoại r ồi, lúc ấy ở Tĩnh lự thứ nhất có một hữu tình, pháp vốn như vậy có t hể tiến vào Tĩnh lự thứ hai, từ Định ấy đứng dậy nói ra lời như vậy: Tĩnh lự thứ hai rất vui thích-rất yên lặng. Như vậy âm thanh lần lượ t chuyển vòng nói rộng ra khắp cung cõi Phạm, người nghe thâu nhiếp tâm tư tiến vào Tĩnh lự thứ hai, mạng chung đều sinh đến trong cõi trời ấy, hữu tình ở cõi trời Tĩnh lự thứ nhất dần dần giảm bớt, cho đến cuối cùng không có một hữu tình nào sót lại, gọi là cõi của hữu tình cõi trời Phạm hủy hoại. Như vậy cõi Dục và các cung cõi Phạm, trống rỗng lâu dài, không có loài hữu tình, mặt đất và các núi ở châu Thiệm Bộ trải qua thời gian dài trời không tuôn mưa, tất cả các loại cỏ cây thảy đều khô cháy, lại không sinh ra nữa, thậm chí hoàn toàn không còn. Trải qua thời gian dài lại có va àng mặt trời thứ hai xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy ao hồ khe suối khô cạn, thậm SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 133 617 www.daitangkinh.org chí khiến cho nơi ấy hoàn toàn không có hơi nước thấm ướt. Trải qua thời gian dài lại có vầng mặt trời thứ ba xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy tất cả sông ngòi khô cạn, thậm chí khiến cho nơi ấy hoàn toàn không có hơi nước thấm ướt. Trải qua thời gian lâu dài lại c ó vầng mặt trời thứ tư xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy hồ Vô Nhiệt Não khô cạn. Hồ này chính là nơi phát xua át của bốn dòng sông lớn, đó là sông Căng-già, Tín-độ, Phược-sô và Tư-đa, thậm chí khiến cho bốn dòng sông ấy hoàn toàn không có hơi nước thấm ướt. Trải qua thời gian dài lại có vầng mặt trời thứ năm xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy biển rộng dần dần khô cạn, thậm chí khiến cho biển rộng hoàn toàn không có hơi nước thấm ướt. Trải qua thời gian dài lại có vầng mặt trời thứ sáu xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy mặt đất-núi Diệu Cao… thảy đều khô cháy phát ra khói lửa mù mịt. Trải qua thời gian lâu dài lại có vầng mặt trời thứ bảy xuất hiện giữa thế gian, hơi nóng tăng lên gấp bội, vì vậy mặt đất-núi chúa Diệu Cao…, cùng lúc phát ra lửa đốt cháy trong ngoài, cho đến cung cõi Phạm thảy đều cháy rụi. Trên từ cõi Phạm Thế-dưới đến tầng Phong luân, khắp nơi đều bị đốt cháy không còn gì ngoài tro bụi. Như bơ sữa… lúc đốt cháy tận cùng, không có gì sót lại; ở đây cũng như vậy, lúc bấy giờ trong cõi Dục-Tĩnh lự thứ nhất thảy đều trống rỗng, hoàn toàn không có gì. Hai mươi kiếp Hoại lúc này đa õ vượt qua, hai mươi kiếp Không bắt đầu từ đây. Hỏi: Mấy kiếp hủy hoại hữu tình, mấy kiếp hủy hoại xứ sở? Đáp: Có người nói: Mười kiếp hủy hoại hữu tình, mười kiếp hủy hoại xứ sở. Có người nói: Mười lăm kiếp hủy hoại hữu tình, năm kiếp hủy hoại xử sở. Nói như vậy thì mười chín kiếp hủy hoại hữu tình, một kiếp hủy hoại xứ sở, bởi vì nghiệp khác nhau khó chuyển chứ không phải là nghiệp giống nhau. Như vậy thế giới hủy hoại trải qua thời gian dài, ở giữa hư không phía dưới có gió nhẹ khởi lên, hai mươi kiếp Không lúc này đã vượt qua, hai mươi kiếp Thành bắt đầu từ đây. Gió nhẹ đã khởi lên dần dần rộng ra-dần dần dày lên, trải qua thời gi an dài cuộn lại và kết thành vòng tròn, dày đến số lượng là mười sáu Du-thiện-na, rộng thì vô số lượng, Thể của nó cứng chặt, giả sử có một Đại Nặc-kiện-na(đại lực thần), dùng vòng Kim cang ra sức đánh vào, vòng Kim cang có lúc bể nát mà 618 BỘ TỲ ĐÀM 5 tầng Phong luân không tổn hại gì. Tiếp theo có vầng mây nổi lên trút mưa trên tầng Phong luân, giọt mưa lớn như trục xe, tích nước làm thành vòng tròn. Như vậy tầng Thủy luân ở giai đoạn chưa ngưng tụ, sâu mười một ức hai vạn Du-thiện-na. Có người nói: Số lượng về bề rộng cùng với tầng Phong luân bằng nhau. Có người nói: Nhỏ hẹp phân thành một trăm Câu-chi. Một trăm vòng Câu-chi, số lượng ấy đều bằng nhau, nghĩa là kéo thẳng mười hai ức ba ngàn bốn trăm năm mươi; số lượng vòng quanh bằng gấp ba lần, nghĩa là ba mươi sáu ức một vạn ba trăm năm mươi Du-thiện-na. Nước này không chảy sát bên cạnh, bởi vì nghiệp lực của hữu tình. Có Sư khác nói: Do lực của gió đã gom lại, tiếp theo ở tầng Thủy luân, có gió khác khởi lên, gom lại đánh vào trên mặt nước này kết thành vàng, chính tầng Kim luân này dày ba ức hai vạn, tầng Thủy luân liền giảm bớt, chỉ sâu tám Lạc-ca. Có người nói: Tầng Kim luân rộng như số lượng của nước. Có Sư lại nói: Bề rộng ít hơn tầng Thủy luân. Tiếp theo có vầng mây nổi lên trút mưa trên tầng Kim luân, giọt mưa lớn như trục xe, trải qua thời gian lâu dài, tích nước ra át nhiều sâu quá tám vạn, gió mạnh gom lại đánh vào làm thay đổi sinh ra các vật báu. Lại có luồng gió khác tách ra làm cho khác biệt, nghĩa là pha ân chia đất quý báu làm thành các núi-các châu, phân nước ngọt- mặn làm phạm vi trong-ngoài biển. Đầu tiên dùng bốn thứ báu vi diệu tạo thành núi Tô-mê-lô, nhô lên cao vút giữa biển ở trên tầng Kim luân, nghĩa là bốn mặt như thứ tự Bắc-Đông-Nam-Tây là vàng, bạc, phệ lưu ly, pha-chi-ca quý báu, tùy theo uy đức của vật báu mà sắc màu hiện rõ giữa bầu tr ời, vì vậy bầu trời của châu Thiệm Bộ tựa như màu sắc của phệ lưu ly. Núi này nhô lên khỏi mặt nước tám vạn Du-thiện-na, phần chìm trong nước cũng như vậy, đoan nghiêm đáng yêu. Tiếp đến dùng va ät báu là vàng tạo thành bảy núi vàng, vây quanh núi Tô-mê-lô ở trên tầng Kim luân, phần chìm vào trong nước số lượng giống như núi Tô-mê-lô, phần nhô lên khỏi mặt nước hướng về nhau đều giảm một nửa. Tiếp đến dùng đất-đá… tạo thành bốn châu lớn, phía dưới dựa va øo tầng Kim luân vây quanh bên ngoài núi vàng. Cuối cùng dùng sắt thép tạo thành núi vây tròn xung quanh, ở phía ngoài bốn châu như bức tường vây quanh, nhô lên khỏi mặt nước giảm bớt một nửa so với núi vàng thứ bảy, phần ở trong nước có số lượng giống như núi Tô-mê-lô… Số lượng bề rộng của các núi đều giống như số lượng nhô lên khỏi mặt nước. Giữa bảy núi vàng có SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 133 619 www.daitangkinh.org bảy biển ở bên trong, trong đó chứa đầy nước tám công đức; phía ngoài bảy núi vàng có biển nước mặn, tám biển lớn này đều sâu tám vạn Du- thiện-na, số lượng bề rộng của bảy biển trước như núi bao quanh. Biển thứ tám, có người nói: Rộng ba ức hai vạn hai ngàn Du- thiện-na. Có người nói: Lại tăng thêm một ngàn hai trăm tám mươi bảy Du- thiện-na rưỡi. Núi Tô-mê-lô có bốn tầng xếp lên nhau, tầng thứ nhất nhô ngang một vạn sáu ngàn, tiếp đến ba ta àng trên đều giảm một nửa, bốn tầng cách nhau với số lượng đều là mười ngàn. Có người nói: Phần dưới của ta àng thứ nhất bằng số lượng của phần chìm trong nước, hai tầng tiếp theo cách tầng dưới với số lượng đều là mười ngàn, tầng thứ tư cách ta àng dưới là hai vạn. Bốn mặt của bốn tầng giống như núi Diệu Cao, do bốn thứ báu mà tạo thành trang nghiêm thù thắng vi diệu. Bốn tầng như sau: Kiên Thủ, Trì Man, Hằng Kiều, Tứ Vương Thiên Chúng cư trú duy trì hai núi…, trên bảy núi vàng cũng có thôn ấp thuộc quyền cai quản của Tứ Vương, các trời như Nhật- Nguyệt… ở bốn bậc của bảy núi, đều là thuộc về cõi trời Tứ Đại Vương Chúng, cõi trời này rộng nhất trong trời cõi Dục. Từ tầng thứ tư lại có bốn vạn Du-thiện-na, đến đỉnh núi Tô-mê-lô, là trú xứ của cõi trời Tam Thập Tam, đỉnh núi này bốn mặt đều là hai mươi ngàn; nếu dựa vào chu vi thì số lượng thành tám vạn. Có Sư khác nói: Mỗi mặt đều là tám mươi ngàn, cùng với bốn phía của phần dưới thì số lượng ấy bằng nhau. Bốn góc của đỉnh núi đều có một ngọn núi, số lượng cao rộng ấy đều có năm trăm, có thần Dược Xoa tên gọi Kim Cang Thủ, cư trú trong đó bảo vệ các trời. Ở giữa đỉnh núi có thành tên gọi Thiện Kiến, mỗi mặt là hai ngàn rưỡi, chu vi là một vạn Du-thiện-na, thành bằng vàng cao với số lượng là một Du-thiện-na rưỡi, đất ở đó bằng phẳng do vàng ròng tạo thành, đều dùng một trăm lẻ một vật báu xen lẫn để trang nghiêm, mặt đất chạm vào mềm mại như tơ lụa Đố La, lúc đặt chân va øo lún xuống ngang đầu gối tùy theo chân cao thấp, có gió nhẹ khởi lên thổi đi những hoa héo, khiến cho hoa tươi đẹp rải khắp mặt đất ấy, là th ành lớn làm nơi đóng đô của Thiên Đế Thích. Thành có một ngàn cửa trang hoàng rất tráng lệ, cửa thành có năm trăm Dược Xoa áo xanh, mạnh khỏe đoan nghiêm với số lượng Du- thiện-na, đều mặc giáp phục-cầm binh khí canh giữ cửa thành. Ở trong thành ấy có điện Thù Thắng, trang nghiêm đầy đủ các loại vật báu vi diệu, che mờ cung trời khác cho nên gọi là Thù Thắng, mỗi mặt là hai 620 BỘ TỲ ĐÀM 5 trăm năm mươi, chu vi là một ngàn Du-thiện-na. Bốn góc của thành ấy có bốn đài cao, dùng bốn thứ ba ùu như vàng bạc… mà tạo thành, đủ loại trang nghiêm thật đáng yêu thích. Bốn phía bên ngoài thành trang nghiêm bốn khu vườn, là nơi cùng nhau dạo chơi vui thú của chư Thiên cõi ấy: 1. Khu vườn Chúng Xa, đó là trong khu vườn này tùy theo phước lực của chư Thiên mà các loại xe hiện ra. 2. Khu vườn Thô Ác, lúc chư Thiên sắp đánh trận tùy theo những sự cần thiết mà các loại giáp phục binh khí hiện ra. 3. Khu vườn Tạp Lâm, chư Thiên đi vào trong đó ngắm nhìn đều giống như nhau, cùng sinh ra niềm vui thù thắng. 4. Khu vườn Hỷ Lâm, trần cảnh dục lạc khác loại rất vi diệu đều tập trung trải qua ngắm nhìn không hề thỏa mãn. Như vậy hình dạng của bốn khu vườn đều vuông vức, mỗi một khu vườn có chu vi với số lượng một ngàn Du-thiện-na, chính giữa đều có một hồ Như Ý, mỗi phía đều có số lượng năm mươi Du-thiện-na, trong hồ ấy chứa đầy nước tám công đức, tùy theo ý muốn hoa đẹp- thuyền báu-chim xinh, tất cả đều đẹp đẽ kỳ lạ, đủ loại trang nghiêm. Bốn phía của bốn khu vườn có bốn khu đất tuyệt diệu, phần giữa cách khu vườn đều là hai mươi Du- thiện-na, đất mỗi một phía có số lượng đều hai trăm, là nơi dạo chơi vui thú tốt đẹp của các Thiên chúng, chư Thiên ở nơi ấy so tài hơn kém và chơi đùa vui vẻ. Bên ngoài thành ở phía Đông Bắc có cây Viên Sinh, là nơi hưởng thụ dục lạc của trời Tam Thập Tam, gốc rễ sâu rộng năm Du-thiện-na, cao vút lên phía trên, cành nhánh phân bố cao rộng với số lượng bằng một trăm Du-thiện-na, lá trải ra-hoa nở rộ-tỏa hương tuyệt vời ngạt ngào thơm phức, thuận theo làn gió xông khắp một trăm Du- thiện-na, nếu lúc ngược gió thì vẫn tỏa hương khắp năm mươi Du-thiện- na. Bên ngoài thành ở góc Tây Nam có tòa nhà Đại Thiện Pháp, trời Tam Thập Tam thường vào ngày mồng tám-ngày mười bốn-ngày mười lăm mỗi nửa tháng, tập hợp trong tòa nhà này để luận bàn tường tận về trời- người, và chế phục A-tố-lạc … Sự việc đúng như pháp hay không đúng như pháp, những loại như vậy nơi khác nói nhiều.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt