A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 134
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
已說成立風水金輪諸海山洲地居器已。次 辨成立空居諸天大梵天等所居宮地。然 彼宮殿。有說。依空。有說。空中密雲彌布如 地。為彼宮殿所依。外器世間。至色究竟。上 無色故不可施設。問從夜摩天至色究竟。 所依雲地其量如何。有說。從夜摩至他化 自在雲地。皆等妙高頂量色界雲地下狹上 廣。謂初二三四靜慮地。如次等彼四洲。小 千中千大千。諸世界量。有餘師說。夜摩天宮 雲地倍於妙高山頂。乃至他化自在天宮雲 地。望前展轉相倍。初二三定如次。等於小 千中千大千界量。第四靜慮其量無邊。由此 若依第四靜慮。起有身見極難除斷。以 執無邊地為我故。問第四靜慮地。若無邊災 所不及寧非常住。答剎那無常故無此失。 有說。第四靜慮地中。宮殿所依俱無常定。 謂彼宮池隨彼諸天生時死時俱起沒故。 此說非理。所以者何。應無有情共器業故。 由此如前所說者好。諸器世間既成立已。 最初有一極光淨天。由壽業福隨一盡故。 從彼歿已生大梵宮。後諸有情亦從彼歿有 生梵輔。有生梵眾。有生他化自在天宮。 漸漸下生。乃至人趣北洲為始。次瞿陀尼。次 毘提訶。後生贍部。次生鬼趣。次生傍生。後 生地獄。由法爾力。若處後空彼必先住。若 處先空彼必後住。若大地獄一有情生。爾時 已度二十成劫。二十住劫此為最初。問幾劫 器世間成。幾劫有情漸住。有說。十劫器世 間成。十劫有情漸住。有說。五劫器世間成。 十五劫有情漸住。如是說者。一劫器世間成。 十九劫有情漸住。 問齊幾世界俱壞俱成。有說。齊百俱胝四 大洲界。有說。無數世界俱壞俱成。云何知 然。經為量故。如契經說。佛告苾芻我眼清 淨過於人眼。見東方等無數世界。或有正 壞。或壞已空。或有正成。或成已住。如天大 雨。滴如車軸。無間無缺此亦如是。問何故 一切世界不俱壞俱成。答以諸有情業不等 故。謂有情類。於此處所共業增長世界便 成。共業若盡世界便壞。又有情類。於彼處 所淨業若增此界便壞淨業若減此界便成。 問若諸有情。於劫將壞餘半劫。在破和合 僧。墮無間獄有中夭不。若有中夭。彼業云 何感一劫壽。若不中夭。彼於劫壞寧不 稽留。如契經言。若處乃至一蟻卵在災便不 壞。況彼在耶。有作是說。彼無中夭。若爾。 彼於劫壞寧不稽留。劫欲壞時業增上力。 飄置餘界大地獄中。譬如王都有嘉喜事。 先移極罪置邊獄中。後於王都方降恩赦。 有餘師說。劫欲壞時法爾有情其心調善。於 餘重罪尚能不為。況有破壞和合僧者。復 有說者劫欲壞時。若造破僧無間業者。命 終便墮他界獄中。法爾不生將壞處故。如 說。火劫世間壞時有情上生。災起時分水劫 風劫廣說亦然。但水風災壞相有異。謂水能 浸爛。風能飄擊。所壞勢力遠近不同。復如 火劫。世間成時先後時分水風亦爾。 如彼大劫有大三災。如是中劫小三災現。 一刀兵。二疾疫。三飢饉。初刀兵劫將欲起 時。贍部洲人極壽十歲。為非法貪染污相續。 不平等愛映蔽其心。邪法縈纏瞋毒增上。相 見便起猛利害心。如今獵師見野禽獸隨 手所執皆成刀杖。各逞凶狂互相殘害。 七日七夜死亡略盡。贍部洲內纔餘萬人。 各起慈心漸增壽量。爾時名為度刀兵劫 次疾疫劫將欲起時。贍部洲人極壽十歲。由 具如前諸過失故。非人吐毒疾疫流行。遇 輒命終難可救療。都不聞有醫藥之名。時 經七月七日七夜。疾疫流行死亡略盡。贍部 洲內纔餘萬人。各起慈心漸增壽量。爾時 名為度疾疫劫。後飢饉劫將欲起時。贍部 洲人極壽十歲。亦具如前諸過失故。天龍 忿責不降甘雨。由是世間久遭飢饉。由飢 饉故便有聚集。白骨運籌三種言異。由二 因故名有聚集。一人聚集謂彼時人。由極 飢羸聚集而死。二種聚集。謂彼時人為益 後人。輟其所食置於小篋。擬為種子故飢 饉時名有聚集言。有白骨亦由二因。一彼 時人身形枯燥。命終未久白骨便現。二彼時 人飢饉所逼。聚集白骨煎汁飲之。有運籌 言。亦二因故。一由糧少傳籌食之。謂一家 中從長至幼隨籌至日得少麁食。二謂以 籌挑故場蘊得少穀粒多用水煎。分共飲 之以濟餘命。如是飢饉經七年七月七日 七夜。飢饉所逼死亡略盡。贍部洲內纔餘 萬人。各起慈心漸增壽量。爾時名為度飢 饉劫。此三災橫雖復難除。然有聖言說彼 對治。謂若有能一日一夜持不殺戒。於未 來生決定不逢刀兵災起。若能以一訶梨 怛鷄。起殷淨心奉施僧眾於當來世決定 不逢疾疫災起。若有能以一摶之食起殷 淨心奉施僧眾。於當來世決定不逢飢饉 災起。問如是三災餘洲有不。答無根本災。 而有相似。謂瞋增盛身力羸劣數加飢渴。此 說二洲。北拘盧洲亦無相似。以無罪業而 生彼故。又彼無有瞋增盛故。 3 具見納息1 大種蘊第五中具見納息第三之一 已具見諦。世尊弟子未離欲染所成就。色界 繫身語業色。何大種所造。如是等章。及解 章義既領會已。當廣分別。問何故作此論。 答欲令疑者得決定故。謂契經說。佛告苾 芻。若此身中離生喜樂。滋潤遍滋。潤適悅遍 適悅。於此身中無有少分。離生喜樂而 不遍滿。此契經中說根本地。勿謂唯此根 本地中有能離法非近分地。斷此疑故。顯 近分中亦有相似能離善法。有餘師說。欲 止分別論者。說預流一來亦得根本靜慮。 彼何故作是說。依契經故。如說。慧闕無靜 慮。靜慮闕無慧。是二具足者去涅槃不遠。 預流一來。無不有慧故。彼亦有根本靜慮。 為遮彼執顯初二果未得靜慮。問若爾彼 所引頌當云何通。尊者世友作如是說。彼 說正思擇名靜慮。若不爾者外道亦得根 本靜慮。豈便許彼亦有慧耶。分別論者作 是說言。許彼有慧復有何過。彼說不然。所 以者何。具是二者便於涅槃已為不遠。非 諸外道去涅槃近。以彼無有解脫法故。有 說。為止譬喻者意。彼說諸近分地唯有善 法。今明近分具有三種。謂善染無記。若近 分地唯有善者。世尊弟子未離欲貪。依未 至定起世俗道。彼隨轉律儀何地大種造。譬 喻尊者作如是言。是初靜慮大種所造。豈不 汝等說。預流一來未得靜慮。彼作是說。我 遮善靜慮非染無記。彼說非理。未離欲貪。 尚不能起初善靜慮。況能起彼無覆無記。 是故為止他宗及顯正理故作斯論。 問已說已具見諦。何故復言世尊弟子。答已 具見諦者。欲差別隨信隨法行故。世尊弟 子者。欲差別諸異生故。此是誰耶。答此是 預流。及一來果非餘。以說未離欲染故。問 隨信法行何故不名已具見諦。有作是說。 已見四諦及已害邪見者。名已具見諦。隨 信隨法行。非已見四諦。今正見故。非已害 邪見。今正害故。由此不名已具見諦。有餘 師說。若相續中。已除一切見倒惡行惡趣煩 惱。方得名為已具見諦。隨信隨法行。今正 能除不名已除猶成就故。由此不名已具 見諦。如良田中無有一切塵雹災橫。名具足 田致諸稼穡。復有說者。若相續中已除四 疑生四決定。爾時名已具見。隨信隨法行。 今除四疑。生四決定。不名已具。有說。若 身中已除四闇。已起四明。已除四無智。已 起四智。名已具見。隨信隨法行則不如是。 不名已具。有說。已伏四諦洲渚。已除其中 煩惱怨敵。乃名已具。隨信隨法行。今伏今除 不名已具。問何故異生不名世尊弟子。答 若唯順佛語不受餘教。名世尊弟子。異生 或順佛語。或順邪言故。不名世尊弟子。有 說。諸有正聞非邪聞所伏。乃名世尊弟子。 異生不爾。有說若成就四種證淨。名世尊 弟子。異生無四證淨故不名世尊弟子。有 說。若唯稱佛以為大師。名世尊弟子。異生 或稱外道邪魔以為師故。不名世尊弟子。 有說。若唯歸敬三寶以為福田。名世尊弟 子。諸異生類。或以邪神諸外道等以為福 田。不名世尊弟子。有說。若信唯佛是一切 智。唯佛所說法能渡生死。唯苾芻僧是梵 行者。名世尊弟子。諸異生類與此相違。是 故不名世尊弟子。有說。於佛聖教其心堅 牢。如天帝幢。名世尊弟子。諸異生類於佛 教中心不堅牢。猶如疊絮隨風上下轉 動無恒。故不名為世尊弟子。 已具見諦世尊弟子。未離欲染所成就。色界 繫身語業色。何大種所造。答色界繫。此依種 類總相而說。若別說者。應言未至地大種所 造。此則遮說預流一來亦得靜慮者。意說。 未離欲染故。無有未離欲染而能得靜慮 者。又亦遮說未至地中無無記者。意說。色 界大種造故。無有未得靜慮地而能起彼大 種者。問何故此中但問隨世俗道身語業 非無漏耶。答彼造論者意欲爾故。隨彼意 欲而作斯論。但令不違法相不應責其 所以。有說。應具足問而不問者。當知此義 有餘有說。無漏身語業決定不離。隨世俗 道身語業。若問世俗。當知已問無漏。有說。 無漏律儀以世俗戒為加行。為門。為依。 為安足處。若問彼加行則已問彼。有說。 無漏戒依世俗戒得故。問世俗則問無漏。 有說。隨世俗道身語律儀。必與能造同其 種類。今但問同類隨地差別。無漏異類是 以不問。有說。此隨世俗道色有異諍論。謂 有說。是未至地大種所造。有說。是初靜慮 大種所造。是以問之。無漏定是欲界大種所 造。是以不問。由此等緣。唯問世俗身語業。 不問無漏。生欲界入有漏四靜慮。身語業 色。何大種所造。答色界繫。此依種類總相 而說。若別說者。隨初靜慮世俗道色。即初 靜慮繫大種所造。乃至隨第四靜慮世俗道 色。即第四靜慮繫大種所造。 生欲界入無漏四靜慮身語業色。何大種 所造。答欲界繫。依欲界身現在前故。問何 故有漏所依大種。必與所造同一地繫。無漏 所依隨何身起。即彼繫耶。答有漏律儀有 縛有繫故。為同地大種所造。無漏律儀離 縛離繫。然依身起故。隨何地身中現前。即 彼大種所造。有說。有漏律儀墮界墮地故。 自界地大種所造。無漏律儀雖墮於地而不 墮界。然依身起故。隨所依大種所造有 說。有漏律儀為同類大種所造故地必同 無漏律儀為異類大種所造故。隨身別。以 必依身現在前故。 生色界入有漏四靜慮身語業色何大種所 造。答色界繫。此依種類總相而說。若別說 者。隨初靜慮世俗道色。即初靜慮繫大種所 造。乃至隨第四靜慮世俗道色。即第四靜慮 繫大種所造。 生色界入無漏四靜慮。身語業色何大種所 造。答色界繫此亦依總相說。若別說者。若 生初靜慮入無漏四靜慮。彼身語業皆初靜 慮大種所造。若生第二靜慮。入無漏三靜 慮。彼身語業皆第二靜慮大種所造。若生第 三靜慮。入無漏二靜慮。彼身語業皆第三靜 慮大種所造。若生第四靜慮。入無漏第四靜 慮。彼身語業第四靜慮大種所造。此中應知 生下地上地定現前。生上地下地定不現 前。問何故爾耶。答下地定劣。上地定勝。於 勝生欣尚故起。於劣生厭背故不起。有 說。下趣於上。上不趣下。如臣朝王。王不 朝臣。有說。生下地者於上地法。更有所 作故起現前。生上地者。於下地法更無 所作。是故不起。如阿羅漢不起三界斷對 治道。以無用故。有說。加行善法由功用 起。生上地者下地法無用。非於無用法更 起功力令現在前。非如無記。 問大種隨地有五類別幾無間滅幾無間現 前。答生欲界者。若欲界心無間有漏初靜慮 現在前。彼一類大種滅。謂欲界二類大種無 間現前謂欲界初靜慮。若有漏初靜慮無間。 有漏初靜慮現在前。彼二類大種滅。二類大 種無間現前。謂欲界初靜慮。若有漏初靜慮 無間。無漏初靜慮現在前。彼二類大種滅。謂 欲界初靜慮一類大種無間現前。謂欲界若 無漏初靜慮無間無漏初靜慮現在前彼一 類大種滅。一類大種無間現前。謂欲界若無 漏初靜慮無間。有漏初靜慮現在前。彼一類 大種滅。謂欲界二類大種無間現前。謂欲界 初靜慮。若有漏初靜慮無間。欲界心現在前。 彼二類大種滅。謂欲界初靜慮。一類大種無 間現前。謂欲界。若欲界善心無間。無漏初 靜慮現在前。若無漏初靜慮無間。欲界善 心現在前。俱一類大種滅。一類大種無間現 前謂欲界如入出初靜慮。乃至入出第四靜 慮。隨其所應皆應廣說。如生欲界乃至 生第四靜慮。隨其所應亦應廣說。 問若生欲界。色界大種現在前時。何處現前。 有說。眉間。有說。鼻端。有說。心邊。有說。臍 邊。有說。足指。有作是說。隨先加行安心處 所是處現前。有餘師說。欲界大種麁。色界 大種細。細入麁隙。如油入沙。然根本靜慮 現在前時。色界大種遍身內起。若近分定現 在前時。色界大種唯心邊起。有說。近分定現 在前時。色界大種亦遍身起。然長養身不 如根本。如有二人俱詣池浴。一在池側 掬水浴身。一入池中沒身而洗。二人用水 雖俱遍身。然長養身入池者勝。問欲界身 中先有間隙。色界大種來入中耶。答不爾。 未來欲界身自有二種。一唯欲界大種。二色 界大種雜。若時遇入色界定緣彼唯欲界者 便滅。色界雜者便生。故不可言先有間隙 後來住中。 世尊弟子。生無色界所成就無漏身語業 色。何大種所造。答或欲界繫。或色界繫。 問此中何故復作斯論。答欲令疑者得決 定故。謂無色界無有諸色。或有生疑。世 尊弟子生無色界。所成就無漏色非大種 所造。為除此疑故說。或欲界繫。或色界 繫大種所造。問彼所成就色。定欲色界大種 所造。何故言或。答應決定說。而言或者。 欲顯界無雜亂。無漏對治有雜亂。由界無 雜亂故。欲界大種所造異。色界大種所造異。 無有一色二界大種所造。是故說或。此即 總說。然無漏色隨起依地。能造大種有五類 別。謂欲界四靜慮繫大種所造。世尊弟子生 無色界。若阿羅漢唯成就未來五地大種。所 造無漏色。非現在不起故。非過去已捨故。 若不還者亦成就未來五地大種。所造無漏 色非現在不起故。過去不定。依五地身起 有多少。或全無故。由此應說。或有學者生 無色界成就未來五地依戒。過去全無。謂先 依欲界四靜慮身。於第三果及第四向。諸無 漏道未起未滅。從彼命終生無色界。或有 學者生無色界。成就未來五過去一。謂先欲 界四靜慮時隨依一身。於第三果或第四向。 諸無漏道已起已滅。從彼命終生無色界。或 有學者生無色界。成就未來五。過去二。謂 先欲界四靜慮時。隨依二身於第三果或第 四向。諸無漏道已起已滅。從彼命終生無色 界。或有學者生無色界。成就未來五。過去 三。謂先欲界四靜慮時。隨依三身於第三 果或第四向。諸無漏道已起已滅。從彼命 終生無色界。或有學者生無色界。成就未 來五。過去四。謂先欲界四靜慮時隨依四身 於第三果。或第四向。諸無漏道已起已滅。從 彼命終生無色界。或有學者生無色界。成 就未來五。過去五。謂具依欲界四靜慮身。 於第三果或第四向。諸無漏道已起已滅。 從彼命終生無色界。有作是說。無有學 者生無色界不成就過去色。以彼先在欲 色界時。於第三果或第四向。必已起滅方命 終故。是故本論說言。若諸學者。生無色界 成就過去未來所造色。若於彼得阿羅漢果 成就未來所造色。非過去所造色。若謂不 爾本論應說。學者生無色界。有不成就過 去所造色。尊者僧伽伐蘇說曰。或有學者生 無色界。都不成就過去未來五地身中無漏 業色。謂先依欲界四靜慮身。於第三果及第 四向。諸無漏道未起未滅。從彼命終生無 色界。或有學者。生無色界成就過去未來 各一。謂先欲界四靜慮時。隨依一身於第 三果或第四向。諸無漏道已起已滅。從彼命 終生無色界。如是成二成三成四成五。准 前廣說如理應思。若生彼界得阿羅漢果 別得未來五地依戒。此說非理。無得果時 唯得無為非有為故。又與本論所說相違。 如說。聖者生無色界。成就未來所造色。非 過去大種。若如彼意本論應說。聖者生無 色界有不成就未來所造色。故前所說於 理為善。 無色界歿生欲界。最初所得諸根大種。何大 種為因。乃至廣說。問何故復作斯論。答欲 令疑者得決定故。謂無色界都無諸色。或 有生如是疑。欲色界歿生無色界。彼色或 經八萬六萬四萬二萬劫斷。從彼命終生欲 色界。最初所得諸根大種無因而生。為除彼 疑。顯彼諸色非無因生故作斯論。無色界 歿生欲界。最初所得諸根大種何大種為因。 答欲界繫。此依種類總相而說。若別說者。 應作是說。無色界沒來生欲界。最初所得 諸根大種。若生地獄還以地獄大種為因。 乃至若生天趣。還以天趣大種為因。若眼 根及彼大種還以眼根所依大種為因。餘 根及境類此應知。眼中左眼及彼大種還 以左眼所依大種為因。左中異熟還以異 熟為因。長養還以長養為因。如左右亦 爾。餘根及境廣說亦爾。然續生心俱起大種 展轉為俱有因。於眼等為生等因。無始生 死久滅大種。與今大種為同類因。問何故 此中不問。眼等與初所得根大為因。有說。 此是要略之言。故不問耳。有餘師說。大種 通與根大為因。是以問之。眼等不與大 種為因。是以不問。有說。大種久滅及今並 有因義。眼等但有久滅為因。是故不說。 無色界歿生色界。最初所得諸根大種何。大 種為因。答色界繫。此亦依種類總說。若別 說者應作是說。無色界歿來生色界。最初 所得諸根大種。若生初靜慮。還以初靜慮大 種為因。乃至若生第四靜慮。還以第四靜 慮大種為因。若眼根及彼大種。還以眼根 所依大種為因。眼中左右異熟長養廣說如 前。餘根及境廣說亦爾。然續生心俱起大種 展轉為俱有因。如是等廣說如前。 色界歿生欲界。最初所得諸根大種何大種 為因。答欲界繫。此亦總說。若差別說如前。 應知餘義亦如前廣說。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 134 621 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 134 LUẬN VỀ DUYÊN (Phần 4) Đã nói về sự thành lập tầng Phong luân-Thủy luân-Kim luân và các biển- các núi- các châu làm xứ sở của Địa cư rồi, tiếp đến nói về sự thành lập Không cư làm nơi chốn cung điện cư trú của chư Thiên như cõi trời Đại Phạm… Nhưng cung điện ấy, có người nói: Dựa vào hư không. Có người nói: Mây dày trải khắp giữa hư không, giống như mặt đất, làm nơi nương tựa của cung điện ấy, bởi vì ngoài khí thế gian, đến Sắc Cứu Cánh, thì phía trên là Vô sắc cho nên không có thể thi thiết được. Hỏi: Từ cõi trời Dạ Ma đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, nơi nương tựa dùng mây làm đất thì số lượng ấy như thế nào? Đáp: Có người nói: Từ cõi trời Dạ Ma đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại dùng mây làm đất, đều giống như số lượng trên đỉnh núi Diệu Cao; cõi Sắc dùng mây làm đất thì phần dưới hẹp-phần trên rộng, nghĩa là Địa của Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai-thứ ba-thứ tư, như thứ tự bằng số lượng các thế giới trong Tiểu thiên-Trung thiên-Đại thiên ở bốn châu ấy. Có Sư khác nói: Cung điện của cõi trời Dạ Ma dùng mây làm đất, gấp bội so với đỉnh núi Diệu Cao; c ho đến cung điện của cõi trời Tha Hóa Tự Tại dùng mây làm đất, so với trước lần lượt chuyển tiếp gấp bội lẫn nhau. Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai-thứ ba như thứ tự, bằng số lượng thế giới ở Tiểu thiên-Trung thiên-Đại thiên; Tĩnh lự thứ tư thì số lượng ấy là vô biên. Vì vậy, nếu dựa vào Tĩnh lự thứ tư, khởi lên Hữu thân kiến thì rất khó đoạn trừ, bởi vì chấp vào Địa vô biên làm Ngã. Hỏi: Địa của Tĩnh lự thứ tư, nếu như vô biên thì tai họa vốn không đến được, lẽ nào không phải là thường trú hay sao? Đáp: Bởi vì sát-na vô thường cho nên không có lỗi này. Có người nói: Trong Địa của Tĩnh lự thứ tư, cung điện đã nương tựa đều nhất định là vô thường. Nghĩa là bởi vì cung điện của địa ấy 622 BỘ TỲ ĐÀM 5 tùy theo lúc sinh-lúc chết của chư Thiên của cõi ấy cho nên cùng khởi lên- mất đi. Cách nói này không hợp lý. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì theo lý thì không có hữu tình nào cùng chung xứ sở của nghiệp(khí- nghiệp), vì vậy như trước đã nói là hợp lý. Các khí thế gian đã thành lập rồi, ban đầu có một hữu tình ở cõi trời Cực Quang Tịnh, bởi vì t họ mạng- nghiệp-phước tùy theo đã hết, cho nên từ cõi ấy chết rồi sinh đến cung trời Đại Phạm, về sau các hữu tình cũng từ cõi ấy chết đi có người sinh đến cõi Phạm Phụ, có người sinh đến cõi Phạm Chúng, có người sinh đến cung trời Tha Hóa Tự Tại, dần dần sinh xuống phía dưới, cho đến loà i người ở Bắc châu làm đầu tiên, tiếp đến Cù-đà-ni, tiếp đến Tỳ- đề-ha, sau sinh ở Thiệm Bộ, tiếp đến sinh ở loài quỷ, tiếp đến sinh ở lo ài bàng sinh, sau sinh vào địa ngục. Bởi vì lực của pháp vốn như vậy, cho nên nếu xứ sở sau là Không thì nơi ấy nhất định Trú trước, nếu xứ sở trước là Không thì nơi ấy nhất định Trú sau. Nếu Đại địa ngục có một hữu tình sinh đến, thì lúc bấy giờ đã vượt qua hai mươi kiếp Thành, hai mươi kiếp Trú bắt đầu từ đây. Hỏi: Mấy kiếp khí thế gian Th ành, mấy kiếp hữu tình dần dần Trú? Đáp: Có người nói: Mười kiếp khí thế gian Thành, mười kiếp hữu tình dần dần Trú. Có người nói: Năm kiếp khí thế gian Thành, mười lăm kiếp hữu tình dần dần Trú. Nói như vậy thì một kiếp khí thế gian Thành, mười chín kiếp hữu tình dần dần Trú. Hỏi: Giới hạn mấy thế giới cùng lúc Hoại-cùng lúc Thành? Đáp: Có người nói: Giới hạn tro ng một trăm Câu-chi thế giới thuộc bốn Đại châu. Có người nói: Vô số thế giới cùng lúc Hoại-cùng lúc Thành. Vì sao biết như vậy? Bởi vì lấy kinh làm lượng. Như trong kinh nói: “Đức Phật bảo với Tỳ kheo: Mắt của Ta thanh tịnh hơn hẳn mắt loài người, thấy vô số thế giới ở phương Đông…, hoặc có thế giới đang Hoại, hoặc có thế giới đã Không, hoặc có thế giới đang Thành, hoặc có thế giới đã Trú, như trời tuôn mưa lớn, giọt mưa giống như trục xe, không có gián đoạn-không có thiếu sót.” Ở đây cũng như vậy. Hỏi: Vì sao tất cả các thế giới không cùng lúc Hoại-cùng lúc Thành? Đáp: Bởi vì nghiệp của cá c hữu tình không như nhau. Nghĩa là loài hữu tình ở xứ sở này tăng tr ưởng về cọng nghiệp thì thế giới sẽ SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 134 623 www.daitangkinh.org Thành, nếu cọng nghiệp không còn thì thế giới sẽ Hoại. Vả lại, loài hữu tình ở xứ sở ấy nếu nghiệp thanh tịnh tăng lên thì thế giới này sẽ Hoại, nếu nghiệp thanh tịnh giảm bớt thì thế giới này sẽ Thành. Hỏi: Nếu các hữu tình vào lúc kiếp sắp Hoại còn lại nửa kiếp, bởi vì phá hoại sự hòa hợp của Ta êng, thì rơi vào địa ngục vô gián có chết yểu hay không? Nếu có chết yểu thì nơi ấy làm sao cảm đến thọ mạng một kiếp? Nếu không chết yểu thì nơi ấy vào lúc kiếp Hoại lẽ nào không dừng lại? Như trong kinh nói: “Nếu nơi nào thậm chí có một trứng kiến tồn tại thì tai họa sẽ không hủy hoại.” Huống là nơi ấy còn tồn tại hay sao? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Nơi ấy không có chết yểu. Hỏi: Nếu như vậy thì nơi ấy vào lúc kiếp Hoại lẽ nào không dừng lại hay sao? Đáp: Lúc kiếp sắp Hoại, do lực tăng thượng của nghiệp, di chuyển đưa vào trong Đại địa ngục ở cõi khác , ví như ở kinh đô có sự việc vui mừng tốt đẹp, trước phải di chuyển người có tội rất nặng đưa vào trong ngục giam ở nơi hẻo lánh, sau đó ở chốn kinh đô mới ban lệnh ân xá. Có Sư khác nói: Lúc kiếp sắp Hoại, bởi vì pháp vốn như vậy cho nên tâm niệm của hữu tình điều hòa thuần thiện, đối với những tội nặng khác hãy còn tự nhiên không làm, huống gì có người phá hoại sự hòa hợp của Tăng hay sao? Lại có người nói: Lúc kiếp sắp hủy hoại, nếu người tạo ra nghiệp vô gián phá Tăng, thì mạng chung sẽ rơi vào trong địa ngục ở cõi khác, bởi vì pháp vốn như vậy cho nên không sinh vào nơi sắp hủy hoại. Như nói: Lúc kiếp lửa hủy hoại thế gian thì hữu tình sinh lên phía trên. Thời gian tai họa khởi lên kiếp nước-kiếp gió nói rộng ra cũng vậy. Nhưng tai họa của nước và gió có tướng hủy hoại khác nhau, nghĩa là nước có thể ngâm làm cho nát rữa, gió có thể đưa đẩy đánh vào nhau, thế lực hủy hoại xa gần không giống nhau. Lại như kiếp lửa, lúc thế gian thành lập theo thời gian trước sau, nước-gió cũng như vậy. Như Đại kiếp ấy có ba tai họa lớn, như vậy Trung kiếp xuất hiện ba tai họa nhỏ: 1. Đao binh. 2. Dịch bệnh. 3. Đói kém. Đầu tiên lúc kiếp đao binh sắp sửa khởi lên, người ở châu Thiệm Bộ có tuổi thọ cao nhất là mười t uổi, bởi vì pháp sai trái-tham lam- nhiễm ô nối tiếp nhau, yêu thương không bình đẳng che lấp tâm ý, tà 624 BỘ TỲ ĐÀM 5 pháp trói buộc-sân giận hiểm độc ta êng lên, gặp nhau thì khởi tâm làm hại vô cùng mạnh mẽ. N hư bây giờ thợ săn trông thấy chim thú giữa đồng vắng, hễ tay đã cầm thứ gì thì đều trở thành dao gậy, tất cả đều trở thành hung bạo mặc sức giết hại lẫn nhau, trong bảy ngày-bảy đêm người chết gần hết. Trong châu Thiệm Bộ chỉ còn lại một vạn người, tất cả đều khởi tâm Từ dần dần tăng thêm thọ lượng, lúc bấy giờ gọi là vượt qua kiếp đao binh. Tiếp đến lúc kiếp dịch bệnh sắp sửa khởi lên, người ở châu Thiệm Bộ có tuổi thọ cao nhất là mười tuổi, bởi vì có đủ những lỗi lầm như trước, loài Phi nhân phun chất độc làm cho dịch bệnh lan truyền khắp nơi, gặp phải thì mạng chung chứ khó có thể cứu chữa được, cũng không nghe có tên gọi của thuốc thang chữa trị, lúc ấy trải qua bảy tháng-bảy ngày-bảy đêm, dịch bệnh lan truyền khắp nơi người chết gần hết. Trong châu Thiệm Bộ chỉ còn lại một va ïn người, tất cả đều khởi tâm Từ dần dần tăng thêm thọ lượng, lúc bấy giờ gọi là vượt qua kiếp dịch bệnh. Cuối cùng lúc kiếp đói kém sắp sửa khởi lên, người ở châu Thiệm Bộ có tuổi thọ cao nhất là mười tuổi, cũng có đủ những lỗi lầm như trước, trời-rồng giận dữ trách mắng không rưới xuống làn mưa ngọt ngào, vì vậy thế gian gặp phải nạn đói kém kéo dài. Bởi vì đói kém cho nên đã có tụ tập-bạch cốt-vận trù, nói theo ba loại khác nhau. Bởi vì hai nhân cho nên gọi là có tụ tập: 1. Con người tụ tập, nghĩa là con người lúc ấy do rất đói kém yếu ớt cho nên tụ tập mà chết. 2. Hạt giống tụ tập, nghĩa là con người lúc ấy vì thêm nhiều con cháu, ngưng sự ăn uống của mình, bỏ vào trong hòm nhỏ muốn làm hạt giống, cho nên lúc đói kém gọi là có tụ tập. Có xương trắng (bạch cốt) cũng bởi vì hai nhân: 1. Con người lúc ấy thân hình khô đét, mạng chung chưa bao lâu mà xương trắng đã hiện rõ. 2. Con người lúc ấy do đói kém bức ngặt, gom góp xương trắng nấu nước để mà uống. Có vận dụng tính toán (vận trù) cũng bởi vì hai nhân: 1. Do lương thực ít ỏi mà tr uyền nhau tính toán chuyện ăn uống, nghĩa là trong một gia đình từ lớn đến nhỏ thuận theo sự tính toán đến ngày có được một ít thức ăn thô thiển. 2. Nghĩa là bởi vì tính toán để xoay xở cho nên ở nơi cất giấu có được một ít gạo mè, dùng nhiều nước mà nấu, phân chia cùng nhau uống để cứu giúp mạng sống còn lại. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 134 625 www.daitangkinh.org Đói kém như vậy trải qua bảy năm-bảy tháng-bảy ngày-bảy đêm, do đói kém bức ngặt cho nên người chết gần hết. Trong châu Thiệm Bộ chỉ còn lại một vạn người, tất cả đều khởi tâm Từ dần dần tăng thêm thọ lượng, lúc bấy giờ gọi là vượt qua kiếp đói kém. Ba tai họa bất ngờ này tuy là khó trừ, nhưng có lời của bậc Thánh nói để đối trị điều đó, nghĩa là nếu có người có thể một ngày một đêm giữ giới không giết hại, thì ở đời vị lai quyết định không gặp phải tai họa đao binh dấy khởi; nếu có người có thể dùng một quả Ha-lê-đát-kê, khởi tâm thanh tịnh ân cần dâng cu ùng cho Tăng chúng, thì ở đời vị lai quyết định không gặp phải tai họa dịch bệnh dấy khởi; nếu có người có thể dùng một nắm thức ăn, khởi tâm thanh tịnh ân cần dâng cúng cho Tăng chúng, thì ở đời vị lai quyết định không gặp phải tai họa đói kém dấy khởi. Hỏi: Ba tai họa như vậy ở châu khác có hay không? Đáp: Không có tai họa căn bản, mà có tương tự, nghĩa là sân giận tăng mạnh-thân lực yếu kém-nhiều lần cọng thêm đói khát. Đây là nói đến hai châu. Châu Bắc câu-lô cũng không có tương tự, bởi vì không có tội nghiệp mới sinh đến châu ấy, và bởi vì châu ấy không có sân giận tăng mạnh. ----------------------------- 626 BỘ TỲ ĐÀM 5 CHƯƠNG V: ĐẠI CHỦNG UẨN (Tiếp Theo) Phẩm Thứ Ba: LUẬN VỀ CỤ KIẾN LUẬN VỀ CỤ KIẾN (Phần 1) Đã có đủ Kiến đế, đệ tử của Đức Thế Tôn chưa lìa nhiễm cõi Dục mà thành tựu sắc của nghiệp tha ân-ngữ hệ thuộc cõi Sắc, do Đại chủng nào đã tạo ra? Các chương như vậy và giải thích về nghĩa từng chương đã lĩnh hội rồi, nay sẽ phân biệt rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi có được quyết định. Nghĩa là trong kinh nói: “Đức Phật bảo v ới Tỳ kheo: Nếu trong thân này Ly sinh hỷ lạc, tưới nhuần-khắp nơi tưới nhuần, vui sướng dễ chịu- khắp nơi vui sướng dễ chịu, thì ở trong thân này không có phần ít Ly sinh hỷ lạc mà không đầy đủ khắp nơi.” Trong kinh này nói đến địa Căn bản, chớ cho rằng chỉ trong địa Căn bản này có pháp có thể lìa bỏ, chứ không phải là địa Cận phần. Bởi vì đoạn dứt mối nghi này, cho nên hiển bày trong Cận phần cũng có pháp thiện có thể lìa bỏ tương tự. Có Sư khác nói: Muốn ngăn chặn Luận giả Phân Biệt, nói Dự lưu- Nhất lai cũng đạt được Tĩnh lự Căn bản. Vì sao vị ấy đưa ra cách nói này? Bởi vì dựa vào trong kinh, nh ư nói: “Tuệ thiếu thì không có Tĩnh lự, Tĩnh lự thiếu thì không có Tuệ, người có đầy đủ hai loại này, thì cách cõi Niết-bàn không xa.” Dự lưu-Nhất lai, bởi vì đều có Tuệ cho nên họ cũng có Tĩnh lự Căn bản. Vì ngăn ch ặn ý chấp ấy để hiển bày hai quả đầu chưa đạt được Tĩnh lự. Hỏi: Nếu như vậy thì bài tụng mà vị ấy đã dẫn ra nên hiểu thế nào? Đáp: Tôn giả Thế Hữu đưa ra cách nói như vậy: “Tụng ấy nói tư duy chọn lựa đúng đắn gọi là Tĩnh lự, nếu không như vậy thì ngoại đạo cũng đạt được Tĩnh lự Căn bản, lẽ nào vẫn chấp nhận là họ cũng có Tuệ hay sao? Luận giả Phân Biệt đưa ra cách nói này: Chấp nhận họ có Tuệ lại có gì sai? Cách nói ấy không đúng. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì đầy đủ hai loại này thì đối với Niết-bàn đã là không xa, chứ không phải là các ngoại đạo cách Niết-bàn gần, bởi vì họ không có pháp giải thoát.” Có người nói: Vì ngăn chặn ý của phái Thí Dụ, họ nói các địa Cận phần chỉ có pháp thiện. Nay nói rõ Cận phần có đủ ba loại, đó là thiện- SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 134 627 www.daitangkinh.org nhiễm ô và vô ký. Nếu địa Cận phần chỉ có pháp thiện, thì đệ tử của Đức Thế Tôn chưa lìa tham cõi Dục, dựa vào Vị chí Định khởi lên đạo thế tục, luật nghi tùy chuyển ấy do Đại chủng của địa nào tạo ra? Tôn giả Thí Dụ đưa ra cách nói như va äy: Là do Đại chủng của Tĩnh lự thứ nhất đã tạo ra. Lẽ nào không phải các ông nói: Dự lưu-Nhất lai chưa đạt được Tĩnh lự hay sao? Vị ấy đưa ra cách nói này: Tôi ngăn chặn pháp thiện của Tĩnh lự không phải là nhi ễm ô và vô ký. Cách nói ấy phi lý, bởi vì chưa lìa tham cõi Dục, hãy còn không có thể dấy khởi pháp thiện của Tĩnh lự thứ nhất, huống gì c ó thể dấy khởi pháp vô phú vô ký của địa ấy? Vì vậy để ngăn chặn tông chỉ của người khác và hiển bày về chánh lý, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Đã nói là đã có đủ Kiến đế, vì sao lại nói đến đệ tử của Đức Thế Tôn? Đáp: Đã có đủ Kiến đế, là bởi vì muốn phân biệt về Tùy tín-Tùy pháp hành; đệ tử của Đức Thế Tôn, là bởi vì muốn phân biệt về các dị sinh. Hỏi: Đây là ai vậy? Đáp: Đây là quả Dự lưu và quả Nhất lai chứ không phải là gì khác, bởi vì nói là chưa lìa nhiễm cõi Dục. Hỏi: Tùy tín-Tùy pháp hành vì sao không gọi là đã có đủ Kiến đế? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Đã thấy rõ bốn Đế và đã làm hại tà kiến, thì gọi là đã có đủ Kiến đế. Tùy tín-Tùy pháp hành, không phải là đã thấy rõ bốn Đế, bởi vì nay đang thấy rõ; không phải là đã làm hại tà kiến, bởi vì nay đang làm hại. Vì vậy không gọi là đã có đủ Kiến đế. Có Sư khác nói: Nếu trong sự nối tiếp nhau, đã loại trừ tất cả cách nhìn trái ngược- hành ác- nẽo ác- phiền não, thì mới được gọi là đã có đủ Kiến đế. Tùy tín-Tùy pháp hành, nay đang có thể loại trừ chứ không gọi là đã loại trừ, bởi vì vẫn còn thành tựu. Vì vậy không gọi là đã có đủ Kiến đế. Như trong thửa ruộng tốt không có tất cả các loại cỏ dại-mưa đá và tai họa bất ngờ, gọi là thửa ruộng đầy đủ cho các việc đồng áng. Lại có người nói: Nếu trong sự nối tiếp nhau đã loại bỏ bốn nghi, sinh ra bốn quyết định, thì lúc bấy giờ gọi là đã có đủ Kiến đế. Tùy tín- Tùy pháp hành, đang loại bỏ bốn nghi, sinh ra bốn quyết định, cho nên không gọi là đã có đủ. Có người nói: Nếu trong thân đã loại bỏ bốn tối tăm, đã phát khởi bốn sáng suốt; đã loại bỏ bốn vô trí, đã phát khởi bốn trí, thì gọi là đã có 628 BỘ TỲ ĐÀM 5 đủ Kiến đế. Tùy tín-Tùy pháp hành thì không như vậy, cho nên không gọi là đã có đủ. Có người nói: Đã thuần phục châu-đảo của bốn Đế, đã loại bỏ giặc thù phiền não ở trong đó, mới gọi là đã có đủ. Tùy tín-Tùy pháp hành, đang thuần phục- đang loại bỏ, cho nên không gọi là đã có đủ. Hỏi: Vì sao dị sinh không gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn? Đáp: Nếu chỉ thuận theo lời da ïy của Đức Phật chứ không tiếp nhận lời dạy nào khác, thì gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Dị sinh có lúc thuận theo lời dạy của Đức Phật, c ó lúc thuận theo lời nói tà vạy, cho nên không gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Có người nói: Các hữu tình do nghe đúng đắn mà điều phục chứ không phải là do nghe tà vạy, mới gọi la ø đệ tử của Đức Thế Tôn. Dị sinh thì không như vậy. Có người nói: Nếu thành tựu bốn loại Chứng tịnh, thì gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Dị sinh không có bốn loại Chứng tịnh, cho nên không gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Có người nói: Nếu chỉ tôn xưng Đức Phật để làm bậc Đại Sư, thì gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Dị sinh có lúc tôn xưng ngoại đạo tà ma để làm thầy, cho nên không gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Có người nói: Nếu chỉ quy y c ung kính Tam Bảo để làm ruộng phước, thì gọi là đệ tử c ủa Đức Thế Tôn. Các loạ i dị sinh, hoặc là lấy tà thần- các ngoại đạo… để làm ruộng phước, cho nên không gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Có người nói: Nếu tin chỉ có Đức Phật là bậc Nhất thiết trí, chỉ có pháp do Đức Phật đã nói mới có na êng lực vượt qua sinh tử, chỉ có Tỳ kheo Tăng là người phạm hạnh, thì gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Các loại dị sinh trái ngược với điều này, vì vậy không gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Có người nói: Đối với Thánh giáo của Đức Phật, tâm ý vững bền như cột cao của Đế Thích, thì gọi là đệ tử của Đức T hế Tôn. Các loại dị sinh ở trong giáo pháp của Đức Phật, tâm không vững bền giống như bông tơ theo gió lên xuống, chuyển động không ngừng, cho nên không gọi là đệ tử của Đức Thế Tôn. Hỏi: Đã có đủ Kiến đế, đệ tử của Đức Thế Tôn chưa lìa nhiễm cõi Dục mà thành tựu sắc của nghiệp thân- ngữ hệ thuộc cõi Sắc, do Đại chủng nào đã tạo ra? Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc. Đây là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Nếu nói riêng biệt, thì nên nói là do Đại chủng của địa Vị SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 134 629 www.daitangkinh.org chí mà tạo ra. Đây là ngăn chặn no ùi về Dự lưu-Nhất lai cũng đạt được Tĩnh lự. Ý nói: Bởi vì chưa lìa nhiễm cõi Dục, cho nên không có người nào chưa lìa nhiễm cõi Dục mà có thể đạt được Tĩnh lự. Lại cũng ngăn chặn nói đến trong địa Vị chí không có vô ký. Ý nói: Bởi vì Đại chủng của cõi Sắc tạo ra, cho nên không có người nào chưa đạt được địa Tĩnh lự mà có thể khởi lên Đại chủng của địa ấy. Hỏi: Vì sao trong này chỉ hỏi về nghiệp thân- ngữ tùy theo đạo thế tục chứ không phải là vô lậu? Đáp: Đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, tùy theo ý muốn ấy mà soạn ra phần luận này, nhưng làm cho không trái với pháp tướng, vì vậy không cần phải vặn hỏi về nguyên cớ điều ấy. Có người nói: Phải hỏi đầy đủ mà không hỏi, thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Nghiệp thân-ngữ vô lậu quyết định không tách rời, nghiệp thân-ngữ tùy theo đạo thế tục. Nếu hỏi về thế tục thì nên biết là đã hỏi đến vô lậu. Có người nói: Luật nghi vô lậu lấy giới thế tục làm gia hạnh, làm môn loại, làm nương tựa, làm nơi dừng chân yên ổn. Nếu hỏi về gia hạnh ấy thì đã hỏi đến điều ấy. Có người nói: Giới vô lậu dựa vào gi ới thế tục mà đạt được, cho nên hỏi về thế tục thì hỏi đến vô lậu. Có người nói: Luật nghi thân- ngữ tùy theo đạo thế tục, chắc chắn cùng chung chủng loại với tự động tạo(năng tạo), nay chỉ hỏi đến cùng loại tùy theo địa sai biệt, vô lậu khác loại vì vậy không hỏi. Có người nói: Sắc này tùy theo đạo thế tục có sự tranh luận khác nhau. Nghĩa là có người nói: Là do Đại chủng của địa Vị chí mà tạo ra; có người nói: Là do Đại chủng của Tĩnh l ự thứ nhất mà tạo ra. Vì vậy mà hỏi đến. Vô lậu nhất định là do Đại chủng của cõi Dục mà tạo ra, vì vậy không hỏi đến. Bởi vì những duyên này, cho nên chỉ hỏi về nghiệp thân-ngữ thế tục, chứ không hỏi đến vô lậu. Hỏi: Sinh ở cõi Dục tiến vào bốn Tĩnh lự hữu lậu, sắc của nghiệp thân-ngữ do Đại chủng nào đã tạo ra? Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc. Đây là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Nếu nói riêng biệt thì sắc thuộc đạo thế tục tùy theo Tĩnh lự thứ nhất tức là Đại chủng sở tạo hệ thuộc Tĩnh lự thứ nhất, cho đến sắc thuộc đạo thế tục tùy theo Tĩnh lự thứ tư tức là Đại chủng sở tạo hệ thuộc Tĩnh lự thứ tư. Hỏi: Sinh ở cõi Dục tiến vào bốn Tĩnh lự vô lậu, sắc của nghiệp 630 BỘ TỲ ĐÀM 5 thân-ngữ do Đại chủng nào đã tạo ra? Đáp: Hệ thuộc cõi Dục. Bởi vì dựa vào thân cõi Dục hiện rõ ở trước mắt. Hỏi: Vì sao Đại chủng sở y hữu la äu cần phải hệ thuộc cùng một địa với thụ động tạo (sở tạo), sở y vô lậu tùy theo thân nào khởi lên thì hệ thuộc ở thân ấy? Đáp: Bởi vì luật nghi hữu lậu có ràng buộc-có hệ thuộc, là Đại chủng sở tạo cùng chung địa; luật nghi vô lậu lìa ràng buộc-lìa hệ thuộc, nhưng dựa vào thân khởi lên, cho nên t ùy theo trong thân của địa nào hiện rõ trước mắt, thì Đại chủng sở tạo thuộc về thân ấy. Có người nói: Luật nghi hữu lậu rơ i vào cõi-rơi vào địa, cho nên Đại chủng sở tạo thuộc về cõi-địa của mình; luật nghi vô lậu tuy rơi vào địa mà không rơi vào cõi, nhưng dựa vào thân khởi lên, cho nên tùy theo Đại chủng sở tạo của sở y. Có người nói: Luật nghi hữu lậu là Đại chủng sở tạo cùng loại, cho nên địa cần phải giống nhau; luật nghi vô lậu là Đại chủng sở tạo khác loại, cho nên tùy theo thân riêng biệt, bởi vì cần phải dựa vào thân hiện rõ ở trước mắt. Hỏi: Sinh ở cõi Sắc tiến vào bốn Tĩnh lự hữu lậu, sắc của nghiệp thân-ngữ do Đại chủng nào đã tạo ra? Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc. Đây là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Nếu nói riêng biệt thì sắc thuộc đạo thế tục tùy theo Tĩnh lự thứ nhất, tức là Đại chủng sở tạo hệ thuộc Tĩnh lự thứ nhất, cho đến sắc thuộc đạo thế tục tùy theo Tĩnh lự thứ tư, tức là Đại chủng sở tạo hệ thuộc Tĩnh lự thứ tư. Hỏi: Sinh ở cõi Sắc tiến vào bốn Tĩnh lự vô lậu, sắc của nghiệp thân-ngữ do Đại chủng nào đã tạo ra? Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc. Đây cũng dựa vào tướng chung mà nói. Nếu nói riêng biệt thì nếu sinh ở Tĩnh lự thứ nhất tiến vào bốn Tĩnh lự vô lậu, thì nghiệp thân-ngữ ấy đều là Đại chủng sở tạo thuộc Tĩnh lự thứ nhất; nếu sinh ở Tĩnh lự thứ hai tiến vào ba Tĩnh lự vô lậu, thì nghiệp thân- ngữ ấy đều là Đại chủng sở tạo thuộc Tĩnh lự thứ hai; nếu sinh ở Tĩnh lự thứ ba tiến vào hai Tĩnh lư ï vô lậu, thì nghiệp thân-ngữ ấy đều là Đại chủng sở tạo thuộc Tĩnh lự thứ ba; nếu sinh ở Tĩnh lự thứ tư tiến vào vô lậu của Tĩnh lự thứ tư, thì nghiệp thân-ngữ ấy là Đại chủng sở tạo thuộc Tĩnh lự thứ tư. Trong này, nên biết rằng sinh ở địa dưới thì Định của địa trên hiện rõ trước mắt, sinh ở địa trên thì Định của địa dưới không hiện rõ trước SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 134 631 www.daitangkinh.org mắt. Hỏi: Vì sao như vậy? Đáp: Bởi vì Định của địa dưới yếu kém, Định của địa trên mạnh hơn, đối với mạnh hơn sinh ra yêu thích cho nên dấy khởi, đối với yếu kém sinh ra chán bỏ cho nên không dấy khởi. Có người nói: Dưới hướng lên trên, trên không hướng xuống dưới, như bề tôi hướng về vua, vua không hướng về bề tôi. Có người nói: Sinh ở địa dưới thì đối với pháp của địa trên, lại có những việc làm cho nên dấy khởi hiện rõ trước mắt; sinh ở địa trên đối với pháp của địa dưới lại không có việc làm nào, vì vậy không dấy khởi. Như A-la-hán không dấy khởi đạo đối trị để đoạn ba cõi, bởi vì không có tác dụng. Có người nói: Pháp thiện gi a hạnh do công dụng mà dấy khởi, sinh ở địa trên thì pháp của địa dưới không có tác dụng, đối với pháp không có tác dụng lại khởi lên công lực khiến cho hiện rõ ở trước mắt, chứ không phải là như vô ký. Hỏi: Đại chủng tùy theo địa có năm loại riêng biệt, mấy loại không ngừng diệt, mấy loại không ngừng hiện rõ trước mắt? Đáp: Sinh ở cõi Dục, nếu tâm cõi Dục không gián đoạn, Tĩnh lự thứ nhất hữu lậu hiện rõ ở trước mắt, thì lúc ấy Đại chủng của một loại diệt đi, đó là cõi Dục; Đại chủng của hai loại không ngừng hiện rõ trước mắt, đó là cõi Dục và Tĩnh lự t hứ nhất. Nếu Tĩnh lự thứ nhất hữu lậu không gián đoạn, Tĩnh lự thứ nhất hữu lậu hiện rõ ở trước mắt, thì lúc ấy Đại chủng của hai loại diệt đi, đại chủng của hai loại không ngừng hiện rõ trước mắt, đó là cõi Dục va ø Tĩnh lự thứ nhất . Nếu Tĩnh lự thứ nhất hữu lậu không gián đoạn, Tĩnh lự thứ nhất vô lậu hiện rõ ở trước mắt, thì lúc ấy Đại chủng của hai loại diệt đi, đó là cõi Dục và Tĩnh lự thứ nhất; Đại chủng của một loại không ngừng hiện rõ trước mắt, đó là cõi Dục. Nếu Tĩnh lự thứ nhất vô lậu không gián đoạn, Tĩnh lự thứ nhất vô lậu hiện rõ ở trước mắt, thì lúc ấy Đại chủng của một loại diệt đi, Đại chủng của một loại không ngừng hiện rõ trước mắt, đó là cõi Dục. Nếu Tĩnh lự thứ nhất vô lậu không gián đoạn, Tĩnh lự thứ nhất hữu lậu hiện rõ ở trước mắt, thì lúc ấy Đại chủng của một loại diệt đi, đó là cõi Dục; Đại chủng của hai loại không ngừng hiện r õ trước mắt, đó là cõi Dục và Tĩnh lự thứ nhất. Nếu Tĩnh lự thứ nhất hữu lậu không gián đoạn, tâm cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, thì lúc ấy Đại chủng của hai loại diệt đi, đó là cõi Dục và Tĩnh lự thứ nhất; Đại chủng của một loại không ngừng hiện rõ trước mắt, đó là cõi Dục. Nếu tâm thiện của cõi Dục không gián 632 BỘ TỲ ĐÀM 5 đoạn, Tĩnh lự thứ nhất vô lậu hiện rõ ở trước mắt; nếu Tĩnh lự thứ nhất vô lậu không gián đoạn, tâm thiện của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, thì đều là Đại chủng của một loại diệt đi, Đại chủng của một loại không ngừng hiện rõ trước mắt, đó là cõi Dục. Như tiến vào-thoát ra ở Tĩnh lự thứ nhất, cho đến tiến vào-thoát ra ở Tĩnh lự thứ tư, tùy theo sự thích hợp đều cần phải nói rộng ra. Như sinh ở cõi Dục, cho đến sinh ở Tĩnh lự thứ tư, tùy theo sự thích hợp cũng cần phải nói rộng ra. Hỏi: Nếu sinh ở cõi Dục , lúc Đại chủng của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, thì hiện rõ trước mắt ở nơi nào? Đáp: Có người nói: Giữa chặng ma øy. Có người nói: Ở chót mũi. Có người nói: Ở bên ngực. Có người nói: Ở bên rốn. Có người nói: Ở ngón chân. Có người đưa ra cách nói này: Tu øy theo xứ sở an tâm thuộc gia hạnh trước đó ở nơi nào, thì hiện rõ trước mắt ở nơi ấy. Có Sư khác nói: Đại chủng của cõi Dục là thô, Đại chủng của cõi Sắc là tế, tế hợp lại- thô hở ra, như dầu thấm vào cát. Nhưng lúc Tĩnh lự Căn bản hiện rõ ở trước mắt, thì Đạ i chủng của cõi Sắc khởi lên trong toàn thân; nếu lúc Cận phần Tĩnh lự hiện rõ ở trước mắt, thì Đại chủng của cõi Sắc chỉ khởi lên ở bên ngực. Có người nói: Lúc Cận phần Tĩnh lự hiện rõ ở trước mắt, thì Đại chủng của cõi Sắc cũng khởi lên ở toàn thân, nhưng nuôi lớn thân không giống như Căn bản. Như có hai người cùng đi đến hồ nước tắm rửa, một người ở bên cạnh hồ múc nước rửa ráy thân thể, một người bước vào trong hồ ngâm toàn thân mà tắm gội. Hai người dùng nước tuy cùng tắm ướt toàn thân, nhưng thân nuôi lớn bước vào trong hồ thì hơn hẳn. Hỏi: Trong thân cõi Dục trước đó có khe hở, Đại chủng của cõi Sắc khởi lên có tiến vào trong hay không? Đáp: Không phải như vậy. Thân cõi Dục ở vị lai tự nhiên có hai loại: 1. Chỉ có Đại chủng của cõi Dục. 2. Xen lẫn Đại chủng của cõi Sắc. Nếu lúc gặp được duyên tiến vào Định của cõi Sắc, thì lúc ấy chỉ có Đại chủng của cõi Dục sẽ diệt đi, xen lẫn Đại chủng của cõi Sắc sẽ sinh ra, cho nên không có thể nói là trước đó có khe hở-sau đó khởi lên trú bên trong. Hỏi: Đệ tử của Đức Thế Tôn, sinh ở cõi Vô sắc mà thành tựu sắc của nghiệp thân-ngữ vô lậu, do Đại chủng nào đã tạo ra? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 134 633 www.daitangkinh.org Đáp: Hoặc là hệ thuộc cõi Dục, hoặc là hệ thuộc cõi Sắc. Hỏi: Trong này vì sao lại soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi có được quyết định. Nghĩa là cõi Vô sắc không có các sắc, c ó người sinh ra nghi ngờ: Đệ tử của Đức Thế Tôn sinh ở cõi Vô sắc, sa éc vô lậu đã thành tựu không phải là Đại chủng sở tạo. Bởi vì trừ bỏ mối nghi này cho nên nói: Đại chủng sở tạo hoặc là hệ thuộc cõi Dục, hoặc là hệ thuộc cõi Sắc. Hỏi: Sắc đã thành tựu ấy, chắc chắn là Đại chủng sở tạo thuộc cõi Dục-Sắc, vì sao nói hoặc là? Đáp: Nên nói quyết định nhưng mà nói hoặc là, bởi vì muốn hiển bày về cõi không có tạp loạn, vô lậu đối trị thì có tạp loạn. Bởi vì cõi không có tạp loạn, cho nên Đại chủng s ở tạo thuộc cõi Dục là khác, Đại chủng sở tạo thuộc cõi Sắc là khác, không hề có một sắc mà cùng Đại chủng sở tạo thuộc hai cõi, vì t hế cho nên nói hoặc là. Đây tức là nói chung. Nhưng sắc vô lậu tùy theo dấy khởi dựa vào địa, tự động tạo ra(năng tạo) Đại chủng có năm loại riêng biệt, đó là Đại chủng sở tạo hệ thuộc cõi Dục và bốn Tĩnh lự. Đệ tử của Đức Thế Tôn sinh ở cõi Vô sắc, nếu là A-la-hán thì chỉ thành tựu Đại chủng của năm địa thuộc vị lai, sắc vô lậu sở tạo không phải là hiện tại bởi vì không dấy khởi, không phải là quá khứ bởi vì đã rời bỏ. Nếu là Bất hoàn thì cũng thành tựu Đại chủng của năm địa thuộc vị lai, sắc vô lậu sở tạo không pha ûi là hiện tại bởi vì không dấy khởi, quá khứ thì không nhất định, bởi vì dựa vào thân của năm địa dấy khởi có nhiều ít, hoặc là hoàn toàn không có, vì vậy cần phải nói. Hoặc có người Học sinh đến cõi Vô sắc, thành tựu năm địa thuộc vị lai dựa vào Giới, quá khứ hoàn toàn không có, nghĩa là trước đó dựa vào thân của cõi Dục và bốn Tĩnh lự, đối với Quả thứ ba và Hướng thứ tư, các đạo vô lậu chưa khởi lên-c hưa diệt đi, từ đó mạng chung sinh đến cõi Vô sắc. Hoặc có người Học sinh đến cõi V ô sắc, thành tựu vị lai có năm, quá khứ có một, nghĩa là lúc trước ở cõi Dục và bốn Tĩnh lự, tùy theo dựa vào một thân, đối với Quả thứ ba hoặc là Hướng thứ tư, các đạo vô lậu đã khởi lên- đã diệt đi, từ đó mạng chung sinh đến cõi Vô sắc. Hoặc có người Học sinh đến cõi V ô sắc, thành tựu vị lai có năm, quá khứ có hai, nghĩa là lúc trước ở cõi Dục và bốn Tĩnh lự, tùy theo dựa vào hai thân, đối với Quả thứ ba ho ặc là Hướng thứ tư, các đạo vô lậu đã khởi lên-đã diệt đi, từ đó mạng chung sinh đến cõi Vô sắc. Hoặc có người Học sinh đến cõi Vô sắc, thành tựu vị lai có năm, 634 BỘ TỲ ĐÀM 5 quá khứ có ba, nghĩa là lúc trước ở cõi Dục và bốn Tĩnh lự, tùy theo dựa vào ba thân, đối với Quả thứ ba hoặc là Hướng thứ tư, các đạo vô lậu đã khởi lên-đã diệt đi, từ đó mạng chung sinh đến cõi Vô sắc. Hoặc có người Học sinh đến cõi V ô sắc, thành tựu vị lai có năm, quá khứ có bốn, nghĩa là lúc trước ở c õi Dục và bốn Tĩnh lự, tùy theo dựa vào bốn thân, đối với Quả thứ ba hoặc là Hướng thứ tư, các đạo vô lậu đã khởi lên-đã diệt đi, từ đó mạng chung sinh đến cõi Vô sắc. Hoặc có người Học sinh đến cõi V ô sắc, thành tựu vị lai có năm, quá khứ có năm, nghĩa là vốn có dựa vào thân của cõi Dục và bốn Tĩnh lự, đối với Quả thứ ba hoặc là Hướng thứ tư, các đạo vô lậu đã khởi lên- đã diệt đi, từ đó mạng chung sinh đến cõi Vô sắc.s Có người đưa ra cách nói này: Không có người Học nào sinh đến cõi Vô sắc mà không thành tựu sắc quá khứ, bởi vì người ấy lúc trước ở cõi Dục-Sắc, đối với Quả thứ ba hoặc là Hướng thứ tư, nhất định đã khởi lên- đã diệt đi mới mạng chung. Vì thế cho nên bản luận nói rằng: Nếu những người Học sinh đến cõi Vô sắc thì thành tựu sắc sở tạo thuộc quá khứ- vị lai, nếu vào lúc ấy đạt được quả A-la-hán thì thành tựu sắc sở tạo thuộc vị lai, chứ không phải là sắc sở tạo thuộc quá khứ. Nếu nói rằng không phải như vậy thì bản luận nên nói: Người Học sinh đến cõi Vô sắc, có lúc không thành tựu sắc sở tạo thuộc quá khứ. Tôn giả Tăng-già-phạt-tô nói rằng: “Hoặc có người Học sinh đến cõi Vô sắc, cũng không thành tựu sắc của nghiệp vô lậu trong thân năm địa ở quá khứ- vị lai, nghĩa là trước đó dựa vào thân của cõi Dục và bốn Tĩnh lự, đối với Quả thứ ba và H ướng thứ tư, các đạo vô lậu chưa khởi lên-chưa diệt đi, từ đó mạng chung sinh đến cõi Vô sắc. Hoặc có người Học sinh đến cõi Vô sắc, thành tựu quá khứ và vị lai đều có một, nghĩa là lúc trước ở cõi Dục và bốn Tĩnh lự, tùy theo dựa vào một thân, đối với Quả thứ ba hoặc là Hướng thứ tư, các đạo vô lậu đã khởi lên- đã diệt đi, từ đó mạng chung sinh đến cõi Vô sắc. Như vậy thành tựu hai-thành tựu ba-thành tựu bốn-thành tựu năm, dựa theo trước nói rộng ra như lý nên suy nghĩ. Nếu sinh đến cõi ấy đạt được quả A-la-hán thì chỉ đạt được năm địa thuộc vị lai dựa vào Giới.” Cách nói này phi lý, bởi vì không có lúc nào đạt được quả mà chỉ đạt được vô vi chứ không phải là hữu vi. Lại cùng với bản luận đã nói trái ngược nhau, như nói: Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc, thành tựu sắc sở tạo vị lai, chứ không phải là đại chủng quá khứ. Nếu như ý đó thì bản luận nên nói: Thánh giả sinh đến cõi Vô sắc, có lúc không thành tựu sắc sở tạo vị lai. Vì vậy cách nói trước đối với lý là thích hợp. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 134 635 www.daitangkinh.org Ở cõi Vô sắc chết đi sinh vào cõi Dục, Đại chủng của các căn đã đạt được lúc đầu, do Đại chủng nào làm nhân? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi có được quyết định. Nghĩa là cõi Vô sắc hoàn toàn không có cá c sắc. Hoặc là có người sinh nghi ngờ như vậy: Ở cõi Dục- Sắc chết đi sinh đến cõi Vô sắc, sắc ấy hoặc là trải qua tám vạn- sáu vạn- bốn vạn-hai vạn kiếp mới đoạn hết, từ đó mạng chung sinh vào cõi Dục-Sắc, Đại chủng của các căn đã đạt được lúc đầu không có nhân mà sinh ra. Vì loại bỏ mối nghi ấy, hiển bày các sắc ấy không phải là không có nhân sinh ra, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Ở cõi Vô sắc chết đi sinh vào cõi Dục, Đại chủng của các căn đã đạt được lúc đầu, do đại chủng nào làm nhân? Đáp: Hệ thuộc cõi Dục. Đây là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Nếu nói riêng biệt thì nên đưa ra cách nói này: Ở cõi Vô sắc chết đi sinh vào cõi Dục, Đại chủng của cá c căn đã đạt được lúc đầu, nếu sinh ở địa ngục thì vẫn lấy Đại chủng của địa ngục làm nhân, cho đến nếu sinh ở loài trời thì vẫn lấy Đại chủng của loài trời làm nhân. Nếu Nhãn căn và Đại chủng ấy thì vẫn lấy Đại chủng sở y của Nhãn căn làm nhân. Căn và cảnh còn lại tương tự như vậy nên biết. Trong mắt thì mắt bên trái và Đại chủng ấy vẫn lấy Đại chủng sở y của mắt bên trái làm nhân. Trong bên trái thì dị thục vẫn lấy dị thục làm nhân, nuôi lớn vẫn lấy nuôi lớn làm nhân. Như bên trái, bên phải cũng như vậy. Căn và cảnh còn lại nói rộng ra cũng như vậy. Nhưng nối tiếp sinh tâm cùng dấy khởi, Đại c hủng lần lượt chuyển đổi làm nhân Câu hữu, đối với mắt… làm năm nhân như Sinh khởi…, Đại chủng đã diệt từ vô thỉ sinh tử cùng với Đại chủng bây giờ làm nhân Đồng loại. Hỏi: Vì sao trong này không hỏi về mắt làm nhân cho Đại chủng của căn đã đạt được lúc đầu? Đáp: Có người nói: Đây là nói tóm tắt nội dung chủ yếu, cho nên không hỏi đến mà thôi. Có Sư khác nói: Đại chủng cùng làm nhân cho Đại chủng của các căn, vì vậy hỏi đến nó; mắt…không làm nhân cho Đại chủng, vì vậy không hỏi đến. Có người nói: Đại chủng diệt đã lâu và Đại chủng bây giờ đều có nghĩa của nhân, mắt… chỉ có diệ t đã lâu làm nhân, vì vậy không nói đến. Hỏi: Ở cõi Vô sắc chết đi sinh vào cõi Sắc, Đại chủng của các căn 636 BỘ TỲ ĐÀM 5 đã đạt được lúc đầu, do Đại chủng nào làm nhân? Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc. Đây c ũng là dựa vào tướng chung của chủng loại mà nói. Nếu nói riêng biệt thì nên đưa ra cách nói này: Ở cõi Vô sắc chết đi sinh vào cõi Sắc, Đại chủng của các căn đã đạt được lúc đầu, nếu sinh ở Tĩnh lự thứ nhất thì vẫn lấy Đại chủng của Tĩnh lự thứ nhất làm nhân, cho đến nếu sinh ở Tĩnh lự thứ tư thì vẫn lấy Đại chủng của Tĩnh lự thứ tư làm nhân. Nếu Nhãn căn và Đại chủng ấy thì vẫn lấy Đại chủng sở y của Nhãn căn làm nhân. Trong mắt bên trái-bên phải- dị thục-nuôi lớn, nói rộng ra như trước. Căn và cảnh còn lại, nói rộng ra cũng như vậy. Nhưng nối tiếp sinh ta âm cùng dấy khởi, Đại chủng lần lượt chuyển đổi làm nhân Câu hữu, như vậy đều nói rộng ra như trước. Hỏi: Ở cõi Sắc chết đi sinh vào cõi Dục, Đại chủng của các căn đã đạt được lúc đầu, do Đại chủng nào làm nhân? Đáp: Hệ thuộc cõi Dục. Đây cũng là nói chung. Nếu nói riêng biệt thì như trước nên biết, nghĩa còn lại cũng như trước nói rộng ra.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt