VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 134Quyển 136 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 135

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

生欲界作色界化。乃至廣說。問何故作此
論。答欲止他義顯己義故。如譬喻者作
如是說。諸所化物皆非實有。若實有者云何
名化。大德亦言。化非實有。是修所現。如屍
起作鬼呪所為。為止如是所說意趣顯諸
化事皆是實有。由此等緣故作斯論。

生欲界作色界化發色界語。彼身語色何
大種所造。答色界繫。生色界作欲界化。發
欲界語。彼身語色何大種所造。答欲界繫。以
有漏所造色皆同分界地大種所造故。然所
化身差別有八。謂生欲界作欲界化有二
種。一似自身。二似他身。作色界化亦有此
二。及生色界作色界化有二種。一似自
身。二似他身。作欲界化亦有此二。是謂八。
此中但依二種作論。謂生欲界作色界化。
及生色界作欲界化似他身者。問何故此
中但依二身作論。答彼作論者意欲爾故。
隨彼意欲而造論。但令不違法相。不應
責其所以。有說。唯此二身微細難見難
了。是故偏說。有說。唯此二身最難現前。藉
多加行方能起故。有說。此於世間難可信
受。謂誰能作他界他身。有說。此二最為希
有。謂能化作異界異身。是故偏說。諸變化心
總有二種。一欲界繫二色界繫。或為五。謂
欲界四靜慮繫。或為十二。則十二種能化
者心。謂得初靜慮果者。乃至得第四靜慮
果者。各有三種。何等為三。一異生。二有學。
三無學。復有說三。一外法異生。二內法異
生。三聖者。復有說三。謂三位得。一離染時
得。謂離下染得靜慮時二得果時得。謂得
無學果時。三練根時得。謂轉根作見至不
動時。或分十四。謂欲界繫有四。則四靜慮
果。初靜慮繫亦有四。如欲界說。第二靜慮
繫有三。則上三靜慮果。第三靜慮繫有二。
則上二靜慮果。第四靜慮繫有一。則第四

靜慮果。以下地心羸劣故。不能於上地
化。或分十五。謂五地繫諸變化心。各有上
中下品。有說。得五地變化心者各有三類。
謂異生等如前說。或復分為四十二種。謂前
十四各有上中下品。有說。得十四種變化
心者各有三類。謂異生等如前說。
諸作欲界化。彼身還似欲界有情。諸作色
界化。彼身還似色界有情。問所作化身幾處
所攝。答若生欲界作欲界化。自身他身皆
四處攝。謂色香味觸。作色界化。自身他身皆
二處攝。謂色觸。若生色界作色界化。自身
他身皆二處攝。作欲界化。自身他身皆四處
攝。如前說。有說。若作他身則四處攝。若
作自身唯二處攝。勿彼成就香味處故。如
是說者。雖化香味無成就失。如人衣服嚴
具花香。雖復在身而不成就。
問若生欲界作欲界化初靜慮果。作色界
化初靜慮果。如是二種誰劣誰勝。答此二運
轉等無差別。然色界者界勝故勝。問若生欲
界作欲界化第二靜慮果。作色界化初靜慮
果。如是二種誰劣誰勝。答欲界者運轉勝。以
彼從欲界。乃至第二靜慮能往還故。色界者
界勝以色界法勝欲界故。問若生欲界作
欲界化初靜慮果。作色界化第二靜慮果。
如是二種誰劣誰勝。答色界者二事勝。一界
勝。二運轉勝。如說。生欲界作欲色界化。初
第二靜慮果。相對辨勝劣。如是生欲界
作欲色界化。初第三靜慮果。初第四靜慮果。
第二第三靜慮果。第二第四靜慮果。第三第

四靜慮果。相對辨勝劣。准前問答如理應
思。如生欲界。如是生初靜慮。生第二靜
慮。生第三靜慮。隨其所應當思廣說
問如生初靜慮者。有能發起身語表心故。
令所化身作往來等種種作用。上諸靜慮無
如是心。化主生彼所化。云何有往來等用。
答如生初靜慮。以發起表心。令化身轉作
往來等用。如是生上諸靜慮。亦以初靜慮
發起表心。令所化身起往來等用。如眼識
等。有餘師說。諸所化。身無往來等種種作
用。但默然住由化主力。令彼似有往來等
事。如帝網戲非有現有。問化事起時。為必
有依託方得現耶。為復不爾。有說。化事
必有依託。謂必依於木石塊等。化主方能
作所化事。有餘師說。若初起通者所起化
事要有所假。若通慧滿者。無所依假能起
化事。問為一心一化。為一心多化。若一心
一化。經頌所說當云何通。如說。
一化主語時諸所化皆語
一化主若默諸化皆默然
若一心多化。施設論說復云何通。如說。神境
智證通云何加行。以何方便起神境智證
通。答彼初業者習世俗定令極自在。極自
在已起令現前。由現前故於神境通便能
引發。從彼乃能隨起一化。起一化事尚爾
許心。況復多耶有作是說。一心一化。問所
引經頌當云何通。答先以多心祈多化語。
後以一心令語俱發。前多心是轉。後一心
隨轉。有餘師說。一心多化。問彼施設論當

云何通。答若初起通者一心一化。若通慧滿
者一心多化。問於一心中所起化事。為必同
類亦異類耶。有說。必同類化。謂作象時不
作馬等。有說。亦異類化。謂初起通者。一心
但能作一類物。若通慧滿者。一心能作象等
四軍。
問已知修所成化事。為亦有生得化耶。有
說無。以生得勢用劣故。但能轉變令似異
本。有說。亦有。然唯能作自身非餘。問若
爾云何通經所說。如契經說。有三魔女各
各化作多百女身。所謂童女產未產女。中女
老女。其數各百。又自化身種種嚴飾。為惑
媚故詣菩薩所。謂菩薩曰。可起沙門。我等
今來願相適事。菩薩不受。尋令彼身作衰
老形羞慚而退。答即依魔女異熟身上。化
作前說多百女身。如拘執毛不離拘執。如
是說者。生所得心自身他身俱能化作。云何
知然。曾聞尊者鄔波毱多。端身靜慮魔為嬈
弄。便以花鬘冠尊者頂。尊者出定驚怪念
言。此誰所作尋則知此是魔所為。為調彼
故則以神力化作三屍。繫魔王頸。所謂死
蛇死狗死人。於是魔王極懷慚恥。種種方便
欲去不能。所繫三屍纏遶其頸。轉急轉臭
魔既無聊倍增惶恐。為脫屍故。便陷入地
更出騰空。又沒大海水中。復入蘇迷盧腹
盡力擺突終不能去。魔既困弊自度力窮。
漸歷六天求欲免脫既不能得。往梵宮
邊請大梵言。唯願哀愍。解我頸上仙人所
辱。梵王告曰。吾不能去。可還歸依本繫汝

者。魔聞此已下贍部洲。五體歸誠禮尊者
足。白言。大德。唯願慈悲。赦我前愆去尊所
報。爾時尊者鄔波毱多徐告魔言。吾知時
矣。魔重稽首謝過求哀。請示何時為除所
辱。尊者告曰。汝能從今乃至如來聖教未滅
更不惱亂諸苾芻不。魔曰。唯然。當如教
勅。請更誨示。唯尊所為。尊者復言。向為佛
法然有私願。今欲請為。魔曰。唯命。尊者告
曰。佛涅槃後經于百歲我身乃生。如來法
身吾今已見。所未見者。謂佛生身。仁今頗
能為我現不。魔曰。此事甚易我能為之。願
尊見時勿便致敬。令我獲罪。尊者曰爾。則
時為魔解去三屍。魔王歡喜謝尊者已。便
入林中即自化身作如來像。三十二相八
十種好。威光赫奕過千日輪。復更化作諸苾
芻眾。右舍利子左大目連。尊者阿難持鉢隨
後。又與阿若多憍陳那等千二百五十人俱。
如半月形從林而出。時尊者鄔波毱多見已
歡喜得未曾有。以淳淨意如斷根樹。莫能
自持。不覺投身禮魔雙足。魔王悚懼尋滅
化身。由此故知生所得慧。亦能化作自身他
身。
問則彼尊者鄔波毱多。於化事中所得自
在過俱胝倍勝彼魔王。尊者何緣不自化
作。而苦求請魔王作耶。答於修所成尊者
自在。於生得化不及魔王。欲試魔王生得
化力。是故請彼化作佛身。有說。修所得化
尊者自得不生希有。生所得化尊者不得
生希有心。欲寄魔王觀生得化。是故求彼

令作佛身。有說。尊者深心敬佛。若自化作
恐敬心不勝。是以令魔作之。有說。尊者少
欲若自化作。恐天人等謂已是佛極加敬
養。般涅槃後諸天世人供養悲哀同佛滅度。
是以但請魔作。問修得生得二種變化云何
差別。答所化無別。但修得者淨速圓妙。非生
所得。有說。生得心化唯依自界身。修得心
化通依自他界身。
問有留化事不若有者。佛何故般涅槃時不
留化身。令於滅後住持說法饒益有情。若
無者。何故尊者大迦葉波已般涅槃留身久
住。曾聞尊者大迦葉波。入王舍城最後乞食。
食已未久登雞足山。山有三峯如仰雞足。
尊者入中結跏趺坐。作誠言曰。願我此身
并納鉢杖久住不壞。乃至經於五十七俱胝
六十百千歲。慈氏如來應正等覺。出現世時
施作佛事。發此願已尋般涅槃。時彼三峯
便合成一。掩蔽尊者儼然而住。及慈氏佛
出現世時。將無量人天至此山上。告諸
眾曰。汝等欲見釋迦牟尼佛杜多功德弟子
眾中第一大弟子迦葉波不。舉眾咸曰。我等
欲見。慈氏如來則以右手撫雞足山頂。應
時峯坼還為三分。時迦葉波將納鉢杖。從
中而出上昇虛空。無量天人覩斯神變。歎
未曾有其心調柔。慈氏世尊如應說法皆得
見諦。若無留化如此之事云何有耶。有說。
有留化事。問若爾世尊何故不留化身至
涅槃後住持說法。答所應作者已究竟故。
謂佛所應度皆已度訖。所未度者聖弟子度

之。有說。無留化事。問若爾迦葉波事云何
得有。答諸信敬天神所任持故。有說。迦
葉波爾時未般涅槃。慈氏佛時方取滅度。此
不應理。寧可說無不說彼默然多時虛住。
如是說者。有留化事。是故大迦葉波已入涅
槃。問經說。一時作雙示導。謂身下出火身
上出水。身下出水身上出火。此為一心為
二心作。若一心作。云何一心有相違二果。若
二心作。云何一時有二心俱起。有說。一心
所作。問云何一心有相違二果。答先以二
心別祈水火。後住一心令其俱發。前二心
是轉。後一心隨轉。有說。二心所作。問云何
一時有二心俱起。答由勝定力水火二心速
疾迴轉。似俱時發。如物㩌子。左手放光右
手隨言分僧臥具。若時發表無容放光。若
時放光無容發表。由勝定力光表二心速
疾迴轉。似俱時發。水火二心應知亦爾
施設論說。佛於一時化作化佛。身真金色
相好莊嚴。世尊語時化身亦語。化身語時世
尊亦語。弟子一時作化弟子。剃除鬚髮著
僧伽胝。弟子語時所化便默。所化語時弟子
便默。所以者何。佛於心定俱得自在。入出
速疾不捨所緣。發自語已便發化語。發化
語已復發自語。以極速故似俱時發。弟子
心定非極自在。入出遲緩數捨所緣。發自
語已發於化語。化語起時自語已滅。發化
語。已復發自語。自語起時化語已滅。非極
速故覺知前後。問諸大聲聞亦能如是。世
尊於此有何不共。答佛以一心能發二語。

謂自及化。自語已化則語。化語已自則語。
極迅速故非俱謂俱。聲聞一心亦發二語。
謂自及化。自語滅已化乃語。化語滅已自乃
語。非極迅速故非俱覺非俱。又佛世尊於
諸智境皆得自在。非諸聲聞。故佛此中亦
有不共。
彼復翻說佛於一時化作化佛。身真金色相
好莊嚴。世尊語時所化便默。所化語時世尊
便默。弟子一時作化弟子。剃除鬚髮著僧
伽胝。弟子語時所化亦語。所化語時弟子亦
語。問諸大聲聞亦能如是。世尊於此有何
不共。答佛於心定俱得自在。入出速疾不
捨所緣。能以一心發於二語。謂自及化。於
中欲令語者便語。不令語者便默。聲聞心
定非極自在。入出遲緩數捨所緣。雖能一
心發於二語。謂自及化。然於其中欲令一
語第二亦語。欲令一默第二亦默。不能令
其一默一語。又佛世尊於諸智境皆得自
在非諸聲聞。故佛此中亦有不共。
契經中說。佛告阿難。我之神力能以意所成
身倏爾至於梵世。阿難白佛。何其劣哉。此
事聲聞亦能。世尊何足自歎。謂所化作名
意所成身。聲聞亦能以此至於梵世。佛若
爾者有何不共。世尊頗能離神通力。以麁
大種父母生身。於倏忽間至梵世不。世尊
告曰。此我亦能。阿難復言。此事實難。願說
譬喻令我信解。佛言。諦聽。如世間鐵。或餅
或團置炎鑪中。漸輕漸軟漸調漸淨。隨意
所為。如是如來身隨心轉。繫心於身作輕

軟等想。身隨心力成輕軟等事。由能繫心
相續勢力。令所繫身運轉隨意。此中有說。
佛盡智時得欲界無覆無記。未曾得心心所
法。由此勢力不入靜慮不起神通。纔發
心時則能舉身至色究竟。何況梵世。有作
是說。世尊爾時起緣風心令身轉舉。有餘
師說。起緣空心能令佛身所往無礙。有言。
佛意則說此身名意所成。由隨意力成輕
軟等運轉事故。離定通力能運此身。至梵
世故與聲聞別。有言。佛說意所成身則所
化身不假定通能至梵世。與聲聞別。有
言。佛說由意勢通令所化身速至梵世。此
捷疾力二乘等無。故佛依此自顯殊勝。
問頗有變化心一剎那頃斷而不得。得而不
斷俱不俱耶。答有。謂離欲染最後無間道
時。於變化心有此四句。斷而不得者。謂欲
界繫上三靜慮果。得而不斷者。謂初靜慮繫
初靜慮果。亦斷亦得者。謂欲界繫初靜慮果。
不斷不得者。謂初靜慮繫上三靜慮果。第二
靜慮繫上三靜慮果。第三靜慮繫上二靜慮
果。第四靜慮繫第四靜慮果。如離欲界染
最後無間道作四句。如是離初靜慮染最
後無間道。乃至離第三靜慮染最後無間道。
隨其所應各有四句。
化當言有大種無大種耶。答當言有大
種。無有現色離大種故。化當言有所造
色。無所造色耶。答當言有所造色。化有
二種。一修得。二生得。修得化若欲界繫四處
攝。若色界繫二處攝。生得化若欲界繫九處

攝。若色界繫七處攝。由如是法成化身故。
化當言有心。無心耶。答當言無心。然化有
二種。一修得此無心。二生得此有心。此中說
修得化非心依故。又有二種。一作他身此
無心。二作自身此有心。此中說他身化非
心依故。若變化他有情身者。如自身說。化
當言誰心所轉耶。答當言化主。由化主
心令有表故。然修得化由化主心轉。若生
得化由自心轉。此中說修得化。又作他身
由化主心轉。若作自身由自心轉。此中
說他身化。
問諸化皆滅耶。答修得化滅。生得化有滅不
滅。謂天龍藥叉等自身化時。有異色等起。此
於後時異色等滅。而自身在。又作他身者
滅。作自身者有滅不滅。若變化他有情身
者如自身說。問諸化所食誰腹中消。答此若
化主所須。所宜食者即化主腹中消。若非
化主所須所宜食者。如草木等聚置一處。
若化他有情令飲食者。隨化主意有消不
消。
問化身由何出煙焰等。答由化主力。謂諸
化主欲於是處起煙起焰。起煙焰峯。起
煙焰舍。則於是處煙焰等起。問由何化身
有燒者有不燒者。復以何故有燒身不燒
衣。燒衣不燒身。俱不俱耶。答由化主力。
謂諸化者隨意所欲。或燒不燒。
如契經說。尊者達臘婆末羅子。以神通力
上昇虛空火界焚身無餘灰燼。問彼尊者火
焚身時。為涅槃前。為涅槃後答諸說有留

化者。彼說涅槃後火起焚身。謂彼獲得心定
自在將取滅度。神力昇空於虛空中。化作
床座及種種薪。便以願力入火界定。纔發
火已則般涅槃。由此焚身令無灰燼。諸說
無留化者。彼說命未盡火起焚身。謂彼獲
得心定自在。將欲滅度神力昇空入火等
持。令身漸死隨無根處火起焚之。乃至最
後唯有心命依處。如極細毛端許。乃入涅
槃火亦隨滅。餘毛端量所不燒者由細難
知。謂無灰燼。
中有。當言有大種無大種耶。乃至廣說。
問何故次化明中有。答是作論者意欲爾故。
乃至廣說。有說。化與中有俱是微細難可
了知。有餘師說。此二俱是意所成身。有說。
此二多諸誹謗。謂譬喻者說。化非實。分別
論者撥無中有。前明化是實有。今明中有
非無。以是故次化明中有。
中有當言有大種無大種耶。答當言有
大種無有現色離大種故。中有當言有
所造色。無所造色耶。答當言有所造色。欲
界九處攝。色界七處攝。由如是法成彼身
故。中有當言有心無心耶。答當言有心。中
有當言誰心所轉耶。答當言自心。由自心
力起表業故。中有義如結蘊廣說。
世名何法。答此增語所顯行。問何故作此論
答為止他宗顯自宗故。謂譬喻者。分別論
師。執世與行其體各別。行體無常。世體是
常。諸無常行。行常世時如諸器中果等轉
易。又如人等歷入諸舍。為遮彼執顯三世

體則是諸行。行無常故世亦無常。由是等
緣故作斯論。三世義亦如結蘊廣說。
劫名何法。答此增語所顯半月月時年。問何
故作此論。答為釋經故。如契經說。有一苾
芻來詣佛所。頂禮雙足却住一面。白世
尊言。佛恒說劫。此為何量。佛言。苾芻。劫量
長遠非百千等歲數可知。苾芻復言。有譬
喻不。世尊言有。今為汝說。如近城邑有全
段石山。縱廣高量各踰繕那。迦尸細縷百年
一拂。山已磨滅此劫未終。苾芻當知。汝等
長夜經此劫數無量百千。在於地獄傍生鬼
趣。及人天中。受諸劇苦生死輪轉未有盡
期。何得安然不求解脫。彼經則是此論所
依經。雖說劫未分別劫體是何今欲分別
故作斯論。問何故但說半月月時年為劫。
不說剎那臘縛牟呼栗多晝夜以為劫耶。
答應說而不說者。當知此義有餘。有說。此
中舉麁攝細。謂剎那等細。半月月等麁。若
說麁當知已說細。由積細時為麁時故。
有說。此中舉近攝遠。謂劫近為半月等所
成。半月等復為剎那等成故。說近時亦已
說遠。
劫體是何。有說。是色處。云何知然。如施設
論說。劫初時人身光恒照。以貪味故光滅闇
生。於是東方有日輪起。光明輝朗同於昔
照。見已喜曰。天光來來。以天光來故名為
晝。須臾未幾日輪西沒。闇起如先。見已歎
言。天光沒沒。以天光沒故名為夜。由此
證知劫體是色。劫體皆積晝夜成故。如是

說者。晝夜等位無不皆是五蘊生滅。以此
成劫劫體亦然。然劫既通三界時分。故用五
蘊四蘊為性。
已說自性。所以今當說。何故名劫。劫是何
義。答分別時分故名為劫。謂分別。剎那臘縛
牟呼。栗多時分以成晝夜。分別晝夜時分以
成半月。月時年分別半月等時分以成於劫。
以劫是分別時分中極故得總名。聲論者
言。分別位故說名為劫。所以者何。劫是分別
有為行中究竟位故。
劫有三種。一中間劫。二成壞劫。三大劫。中
間劫復有三種。一減劫。二增劫。三增減劫。
減者從人壽無量。歲減至十歲。增者從人
壽十歲增至八萬歲。增減者從人壽十歲
增至八萬歲。復從八萬歲減至十歲。此中
一減一增十八增減。有二十中間劫經二十
中劫世間成。二十中劫成已住。此合名成劫。
經二十中劫世間壞。二十中劫壞已空。此合
名壞劫。總八十中劫合名大劫。成已住中二
十中劫初一唯減。後一唯增。中間十八亦增
亦減。問此三誰最久。有說。減劫最久。增劫
為中。增減最促。謂身有光時所經時久非
身光滅。乃至于今食地味時所經時久非
地味滅。乃至于今食地餅時所經時久非
地餅盡。乃至于今食林藤時所經時久非
從彼盡。乃至于今食自然稻時。所經時久
非從彼盡。乃至于今。故此減劫時最為久。
如是說者。初減後增中間十八。此二十劫其
量皆等。唯於減時佛出于世。於唯增時

輪王出世。於增減時獨覺出世。
問施設論說。人中四洲由日月輪以辨晝
夜。欲天晝夜云何得知。答因相故知。謂彼
天上若時鉢特摩花合。殟鉢羅花開。眾鳥希
鳴。涼風疾起。少欣遊戲。多樂睡眠。當知爾
時說名為夜。若時殟鉢羅花合。鉢特摩花開。
眾鳥和鳴。微風徐起。多欣遊戲。少欲睡眠。當
知爾時說名為晝。

Việt dịch

SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 135 637  
www.daitangkinh.org  


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

QUYỂN 135

LUẬN VỀ CỤ KIẾN (Phần 2)

Sinh ở cõi Dục làm hóa hiện ở cõi Sắc. Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn nghĩ a của người khác để hiển bày
về nghĩa của mình. Như phái Thí Dụ đưa ra cách nói như vậy: Các vật
đã hóa hiện đều không phải là thật có. Nếu như thật có thì tại sao gọi là
hóa hiện?
Đại đức cũng nói: Hóa hiện không phải  là thật có, là do tu mà
hiện rõ ra, như chú thuật làm cho xác chết đứng dậy thành quỷ.
Vì ngăn chặn những ý thú đã nói như vậy, để hiển bày các sự việc
hóa hiện đều là thật có, bởi vì những duyên này cho nên soạn ra phần
luận này.
Hỏi: Sinh ở cõi Dục làm hóa hiện ở cõi Sắc, phát ra lời nói của cõi
Sắc, sắc của thân- ngữ ấy do Đại chủng nào đã tạo ra?
Đáp: Hệ thuộc cõi Sắc.
Hỏi: Sinh ở cõi Sắc làm hóa hiện ở cõi Dục, phát ra lời nói của cõi
Dục, sắc của thân- ngữ ấy do Đại chủng nào đã tạo ra?
Đáp: Hệ thuộc cõi Dục. Bởi vì sắc sở tạo hữu lậu đều là Đại chủng
sở tạo thuộc đồng phần cõi-địa. Nhưng thân đã hóa hiện có tám loại sai
biệt, đó là sinh ở cõi Dục làm hóa hiện ở cõi Dục, có hai loại:
1. Tựa như thân của mình.
2. Tựa như thân người khác.
Làm hóa hiện ở cõi Sắc cũng có ha i loại này, và sinh ở cõi Sắc
làm hóa hiện ở cõi Sắc, có hai loại:
1. Tựa như thân của mình.
2. Tựa như thân người khác.
Làm hóa hiện ở cõi Dục cũng có hai loại này, đó gọi là tám loại.
638 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Trong này chỉ dựa vào hai loại mà soạn luận, đó là sinh ở cõi Dục làm
hóa hiện ở cõi Sắc, và sinh ở cõi Sắc làm hóa hiện ở cõi Dục, là tựa như
thân người khác.
Hỏi: Vì sao trong này chỉ dựa vào hai thân mà soạn luận?
Đáp: Bởi vì ý của người soạn luận muốn như vậy, tùy theo ý muốn
ấy mà soạn luận, nhưng làm cho không trái với pháp tướng, cho nên
không cần phải vặn hỏi về nguyên cớ của điều ấy.
Có người nói: Chỉ có hai thân này vi tế khó thấy-khó hiểu, cho
nên chỉ nói đến hai thân ấy.
Có người nói: Chỉ có hai thân này rất khó hiện rõ trước mắt, bởi vì
nhờ vào nhiều gia hạnh mới có thể dấy khởi.
Có người nói: Đây là điều khó có thể tin nhận đối với thế gian,
nghĩa là ai có năng lực làm ra thân khác ở cõi khác?
Có người nói: Hai thân này thật la ø hiếm có, nghĩa là có năng lực
hóa hiện làm ra thân khác thuộc về cõi khác, vì vậy chỉ nói đến hai thân
ấy.
Các tâm biến hóa, tổng quát có hai loại:
1. Hệ thuộc cõi Dục.
2. Hệ thuộc cõi Sắc.
Hoặc là năm loại, đó là hệ thuộc cõi Dục và bốn Tĩnh lự.
Hoặc là mười hai loại, tức là tâm của mười hai loại người có năng
lực biến hóa, đó là người đạt được qua û của Tĩnh lự thứ nhất, cho đến
người đạt được quả của Tĩnh lự thứ t ư, tất cả đều có ba loại. Những gì
là ba loại? Đó là:
1. Dị sinh.
2. Hữu học.
3. Vô học.
Lại có người nói ba loại:
1. Dị sinh ngoại pháp.
2. Dị sinh nội pháp.
3. Thánh giả.
Lại có người nói ba loại, đó là ba phần vị đạt được:
1. Đạt được lúc lìa nhiễm, nghĩa là lúc lìa nhiễm của địa dưới đạt
được Tĩnh lự.
2. Đạt được lúc đạt được quả, nghĩa là lúc đạt được quả Vô học.
3. Đạt được lúc luyện căn, nghĩa là lúc chuyển căn làm Kiến chí-
Bất động.
Hoặc là phân thành mười bốn loại, đó là hệ thuộc cõi Dục có bốn
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 135 639  
www.daitangkinh.org  
loại, tức là quả thuộc bốn Tĩnh l ự; hệ thuộc Tĩnh lự thứ nhất cũng có
bốn loại, nói như cõi Dục; hệ thuộc Tĩ nh lự thứ hai có ba loại, tức là
quả thuộc ba Tĩnh lự trên; hệ thuộc Tĩnh lự thứ ba có hai loại, tức là quả
thuộc hai Tĩnh lự trên; hệ thuộc Tĩnh lự thứ tư có một loại, tức là quả
thuộc Tĩnh lự thứ tư. Bởi vì tâm của địa dưới yếu kém, cho nên không
có năng lực hóa hiện ở địa trên.
Hoặc là phân thành mười lăm loạ i, đó là các tâm biến hóa hệ
thuộc năm địa, tất cả đều có phẩm Thượng-Trung-Hạ.
Có người nói: Người đạt được tâm biến hóa thuộc năm địa đều có
ba loại, đó là dị sinh…, như trước nói.
Hoặc lại phân thành bốn mươi hai loại, đó là mười bốn loại trước
đây đều có phẩm Thượng-Trung-Hạ.
Có người nói: Người đạt được mười bốn loại tâm biến hóa tất cả
có ba loại, đó là dị sinh…, như trước nói.
Những người làm hóa hiện ở cõi D ục, thân ấy vẫn tựa như hữu
tình cõi Dục; những người làm hóa hiện ở cõi Sắc, thân ấy vẫn tựa như
hữu tình cõi Sắc.
Hỏi: Thân đã làm hóa hiện do mấy Xứ thâu nhiếp?
Đáp: Nếu sinh ở cõi Dục làm hóa  hiện ở cõi Dục, thì thân mình
và thân khác đều do bốn Xứ thâu nhiếp, đó là sắc-hương-vị-xúc xứ;
làm hóa hiện ở cõi Sắc, thì thân mình và thân khác đều do hai Xứ thâu
nhiếp, đó là sắc-xúc xứ. Nếu sinh ở cõi Sắc làm hóa hiện ở cõi Sắc, thì
thân mình và thân khác đều do hai X ứ thâu nhiếp; làm hóa hiện ở cõi
Dục, thì thân mình và thân khác  đều do bốn Xứ thâu nhiếp, như trước
nói.
Có người nói: Nếu làm thân kha ùc thì do bốn Xứ thâu nhiếp, nếu
làm thân mình thì chỉ do hai Xứ thâu nhiếp, bởi vì thân ấy không thành
tựu hương - vị xứ.
Nói như vậy thì tuy hóa hiện hương- vị mà không có lỗi của thành
tựu; như người áo quần nghiêm trang đầy đủ hoa hương, tuy là ở trên
thân mà không thành tựu.
Hỏi: Nếu sinh ở cõi Dục làm hóa  hiện ở cõi Dục-quả thuộc Tĩnh
lự thứ nhất, làm hóa hiện ở cõi Sắc- quả thuộc Tĩnh lự thứ nhất, hai loại
như vậy ai kém- ai hơn?
Đáp: Hai loại này vận chuyển như nhau không có gì sai biệt, nhưng
cõi Sắc thì bởi vì cõi hơn hẳn cho nên hơn hẳn.
Hỏi: Nếu sinh ở cõi Dục làm hóa  hiện ở cõi Dục-quả thuộc Tĩnh
lự thứ hai, làm hóa hiện ở cõi Sắc-quả thuộc Tĩnh lự thứ nhất, hai  loại
640 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
như vậy ai kém-ai hơn?
Đáp: Cõi Dục thì vận chuyển hơn hẳn, bởi vì người ấy từ cõi Dục
cho đến Tĩnh lự thứ hai có năng lực qua lại; cõi Sắc thì cõi hơn hẳn, bởi
vì pháp của cõi Sắc hơn hẳn cõi Dục.
Hỏi: Nếu sinh ở cõi Dục làm hóa hiện ở cõi Dục-quả thuộc Tĩnh
lự thứ nhất, làm hóa hiện ở cõi Sắc- quả thuộc Tĩnh lự thứ hai, hai loại
như vậy ai kém-ai hơn?
Đáp: Cõi Sắc thì hai sự việc hơn hẳn:
1. Cõi hơn hẳn.
2. Vận chuyển hơn hẳn.
Như nói: Sinh ở cõi Dục làm hóa hiện ở cõi Dục-Sắc, quả thuộc
Tĩnh lự thứ nhất-thứ hai, trái ngược nhau để biện giải về hơn kém. Như
vậy, sinh ở cõi Dục làm hóa hiện ở cõi Dục-Sắc, quả thuộc Tĩnh lự thứ
nhất-thứ ba, quả thuộc Tĩnh lự thứ nhất-thứ tư, quả thuộc Tĩnh lự thứ
hai-thứ ba, quả thuộc Tĩnh lự thứ ha i-thứ tư, quả thuộc Tĩnh lự thứ ba-
thứ tư, trái ngược nhau để biện giải về hơn-kém, dựa theo trước hỏi-đáp
như lý nên suy nghĩ!
Như sinh ở cõi Dục, như vậy sinh ở  Tĩnh lự thứ nhất, sinh ở Tĩnh
lự thứ hai, sinh ở Tĩnh lự thứ ba, tùy theo sự thích hợp nên suy nghĩ nói
rộng ra.
Hỏi: Như người sinh ở Tĩnh lự thứ nhất, bởi vì có năng lực phát
khởi tâm Biểu của thân-ngữ, khiến cho thân đã hóa hiện làm ra các loại
tác dụng qua lại…, các Tĩnh lự trên không có tâm như vậy, chủ hóa hiện
sinh ra khách hóa hiện(sở hóa) ấy, vì sao có tác dụng qua lại…?
Đáp: Như sinh ở Tĩnh lự thứ nhất, bởi vì phát khởi tâm Biểu, khiến
cho thân hóa hiện chuyển đổi làm ra tác dụng qua lại…. Như vậy, sinh ở
các Tĩnh lự trên, cũng bởi vì Tĩnh lự thứ nhất phát khởi tâm Biểu, khiến
cho thân đã hóa hiện dấy khởi tác dụng qua lại…, như Nhãn thức…
Có Sư khác nói: Các thân đã hóa hiện không có các loại tác dụng
qua lại…, chỉ an trú im lặng, do lực của chủ hóa hiện, khiến cho thân ấy
tựa như có sự việc qua lại…, như vui đùa lưới giăng của Đế Thích chứ
không phải là có hiện hữu.
Hỏi: Lúc sự việc hóa hiện dấy khởi, là cần phải có nương tựa mới
được hiện bày, hay là không phải như vậy?
Đáp: Có người nói: Sự việc hóa hiện cần phải có nương tựa, nghĩa
là cần phải dựa vào khúc gỗ-hòn đá…, chủ hóa hiện mới có thể làm ra
sự việc đã hóa hiện.
Có Sư khác nói: Nếu lần đầu dấy khởi thần thông thì sự việc hóa
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 135 641  
www.daitangkinh.org  
hiện đã dấy khởi cần phải có nơi nhờ cậy, nếu đầy đủ thần thông trí tuệ
thì không nhờ cậy gì mà có năng lực khởi lên sự việc hóa hiện.
Hỏi: Là một tâm-một hóa hiện, ha y là một tâm-nhiều hóa hiện?
Nếu một tâm-một hóa hiện, thì tụng trong kinh đã nói nên hiểu thế nào?
Như nói:
“Lúc một chủ hóa hiện nói ra, thì các khách hóa hiện đều nói,
Nếu một chủ hóa hiện im lặng, các khách hóa hiện  đều im
lặng.”
Nếu một tâm-nhiều hóa hiện, thì luận Thi Thiết nói lại hiểu thế
nào? Như nói: “Thần cảnh trí chứng thông gia hạnh thế nào, dùng
phương tiện nào khởi lên Thần cảnh trí chứng thông?
Đáp: Lúc ấy bắt đầu sự nghiệp luyện tập Định thế tục khiến cho
hết sức tự tại, hết sức tự tại đã khởi lên khiến cho hiện rõ trước mắt, bởi
vì hiện rõ trước mắt cho nên đối v ới Thần cảnh thông sẽ có năng lực
dẫn dắt phát ra, từ đó mới có thể tùy theo khởi lên một hóa hiện.”
Hỏi: Khởi lên một sự việc hóa hiện thì tâm hãy còn như vậy,
huống là nhiều hay sao?
Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Một tâm-một hóa hiện.
Hỏi: Đã dẫn tụng trong kinh nên hiểu thế nào?
Đáp: Trước dùng nhiều tâm thỉnh cầu lời nói của nhiều hóa hiện,
sau dùng một tâm khiến cho lời nói cùng phát ra. Trước nhiều tâm là
Chuyển, sau một tâm là Tùy chuyển.
Có Sư khác nói: Một tâm-nhiều hóa hiện.
Hỏi: Luận Thi Thiết ấy nên hiểu thế nào?
Đáp: Nếu lần đầu dấy khởi thần thông thì một tâm-một hóa hiện,
nếu đầy đủ thần thông trí tuệ thì một tâm-nhiều hóa hiện.
Hỏi: Ở trong một tâm đã dấy khởi sự việc hóa hiện, là cần phải
cùng loại-hay là cũng khác loại?
Đáp: Có người nói: Cần phải cùng loại hóa hiện, nghĩa là lúc làm
voi thì không làm ngựa…
Có người nói: Cũng hóa hiện khác loại, nghĩa là lần đầu dấy khởi
thần thông, thì một tâm chỉ có thể làm ra một loại vật; nếu đầy đủ thần
thông trí tuệ, thì một tâm có thể làm ra bốn loại quân như voi…
Hỏi: Đã biết sự việc hóa hiện do tu mà thành, là cũng có hóa hiện
do sinh ra mà được chăng?
Đáp: Có người nói: Không có, bởi vì tâm sinh ra mà đạt được chỉ
là thế dụng yếu kém, nhưng có thể chuyển biến khiến cho tựa như khác
với ban đầu.
642 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Có người nói: Cũng có, nhưng chỉ c ó thể làm ra thân mình chứ
không phải là thân khác.
Hỏi: Nếu như vậy thì trong kinh đã nói nên hiểu thế nào? Như
trong kinh nói: “Có ba ma nữ, mỗi một  ma nữ hóa làm rất nhiều thân
nữ, đó là người nữ trẻ trung, người nữ sinh đẻ, người nữ chưa sinh đẻ,
người nữ đứng tuổi, người nữ già nua, số lượng ấy rất nhiều. Lại tự hóa
thân trang điểm đủ loại, bởi vì la øm mê hoặc quyến rũ cho nên đi đến
nơi Bồ-tát, nói với Bồ-tát rằng: Sa-môn có thể đứng dậy, nay chúng tôi
đến đây nguyện cùng nhau hầu hạ như ý. Bồ-tát không nhận lời, lập tức
khiến cho thân ấy trở thành hình dạng già yếu, xấu hổ mà rút lui.”
Đáp: Tức là dựa vào dị thục trên thân của ma nữ, hóa làm rất
nhiều thân nữ nói ở trước, như cố chấp mảy may không lìa bỏ cố chấp.
Nói như vậy thì tâm do sinh ra mà đạt được, thân mình-thân khác
đều có thể hóa ra, vì sao biết như vậy?
Bởi vì từng nghe: “Tôn giả Ô-b a-cúc-đa đoan thân Tĩnh lự, ma
làm quấy nhiễu đã lấy vòng hoa đội trên đỉnh đầu Tôn giả. Tôn giả
xuất Định ngạc nhiên nghĩ rằng: Việc  này do ai đã làm? Tìm hiểu thì
biết việc này là do ma đã làm. Vì điều phục ma kia, cho nên dùng thần
lực hóa ra ba xác chết, buộc vào cổ của ma vương, đó là rắn chết-chó
chết-người chết. Thế là ma vương sinh lòng hết sức xấu hổ, tìm đủ mọi
cách muốn trừ bỏ nhưng không thể được, ma ø ba xác chết buộc quanh
cổ ma, càng lúc càng hôi thối, ma đã buồn ch án càng thêm hoảng sợ.
Bởi vì cởi bỏ xác chết cho nên liền chui vào lòng đất, lại chui ra vọt lên
trời cao, còn lặn vào trong nước biển rộng, tiếp tục chui vào bụng núi
Tô-mê-lô, dùng hết sức cởi bỏ nhưng cuối cùng không thể cởi bỏ được.
Ma đã khốn đốn không còn sức để tự vượt qua, dần dần đi qua sáu cõi
trời cầu mong thoát nạn, đã không thể nào thoát được, sau đó đi đến bên
cung cõi Phạm cầu xin Đại Phạm rằng: Chỉ mong xót thương, cởi bỏ vật
nhục nhã mà người Tiên đã buộc trên cổ tôi! Phạm Vương bảo rằng: Ta
không thể nào trừ bỏ được, hãy trở về quy y với người đã buộc vào cổ
ông. Ma nghe lời này rồi trở về châu Thiệm Bộ, rạp người quy y thành
thật lễ lạy dưới chân Tôn giả, thưa rằng: Thưa Đại đức! Chỉ mong từ bi
tha cho lỗi lầm trước đây của tôi, tr ừ bỏ vật mà Tôn giả đáp lại! Lúc
bấy giờ Tôn giả Ô-ba-cúc-đa chậm rãi bảo với ma rằng: Ta biết lúc rồi.
Ma lại rập đầu lạy nhận lỗi cầu xin thương xót, xin nói rõ lúc nào là trừ
bỏ vật nhục nhã.
Tôn giả bảo rằng: Ông có thể từ hôm nay cho đến lúc Thánh
giáo của Như Lai chưa diệt, không làm não loạn các Tỳ kheo nữa  hay
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 135 643  
www.daitangkinh.org  
không? Ma thưa rằng: Dạ  đúng như vậy, sẽ như l ời dạy, xin dạy rõ
thêm, chỉ làm theo lời Tôn giả. Tôn giả lại nói: Xưa nay vì Phật pháp
nhưng mà có tâm nguyện riêng, nay muốn ông làm. Ma thưa rằng: Dạ
xin chỉ dạy. Tôn giả nói cho biết rằng: Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn,
trải qua trăm năm thân ta mới sinh ra, Pháp thân của Như Lai nay ta đã
thấy, điều chưa được thấy đó là Sinh thân của Đức Phật, nay Nhân giả
có thể có năng lực vì ta mà hiện bày hay không? Ma thưa rằng: Việc
này rất dễ, tôi có thể làm được, mong lúc Tôn giả trông thấy đừng vội
vàng cung kính, khiến cho tôi mang tội . Tôn giả nói rằng: Sẽ như vậy.
Lập tức cởi bỏ ba xác chết cho ma. Ma vương hoan hỷ cảm ơn Tôn giả
rồi, liền đi vào trong rừng tự mình hóa thân làm hình tướng Như Lai đầy
đủ ba mươi hai tướng tốt-tám mươi vẻ đẹp, uy quang sáng ngời chói lòa
hơn hẳn ngàn vầng mặt trời; lại còn hóa làm các chúng Tỳ kheo, bên
phải là Xá-lợi-tử, bên trái là Đạ i Mục-kiền-liên, Tôn giả A-nan ôm
bình bát đi theo sau; và cùng với  một ngàn hai trăm năm mươi người
như A-nhã-đa Kiều-trần-na… tụ hội , như cảnh tượng mỗi nửa tháng, từ
trong rừng mà đi ra. Lúc ấy Tôn giả Ô-ba-cúc-đa trông thấy rồi hoan hỷ
có được điều chưa từng có, bởi vì ý thanh tịnh thuần nhất, như thân cây
đứt lìa, không thể nào tự kiềm chế, ba át giác cúi rạp người lạy dưới hai
chân của ma. Ma vương run sợ, hóa thân lập tức diệt đi.”
Vì vậy cho nên biết tuệ do sinh ra  mà đạt được, cũng có thể hóa
làm thân mình và thân khác.
Hỏi: Lúc ấy Tôn giả Ô-ba-cúc-đa, ở trong sự biến hóa đã đạt được
tự tại hơn hẳn ma vương kia gấp Ca âu-chi lần, vì sao Tôn giả không tự
mình hóa ra, mà nhọc công mong cầu ma vương thực hiện?
Đáp: Đối với sự do tu mà thành thì Tôn giả tự tại, đối với sự biến
hóa do sinh ra mà đạt được thì không bằng ma vương, muốn thử xem
năng lực biến hóa do sinh ra mà đa ït được của ma vương thế nào, cho
nên mong cầu ma vương hóa làm thân Phật.
Có người nói: Sự biến hóa do tu mà đạt được thì Tôn giả tự mình
đạt được không sinh tâm hiếm có, sự biến hóa do sinh ra mà đạt được
thì Tôn giả không đạt được cho nên sinh tâm hiếm có, muốn nhờ vào ma
vương nhìn thấy sự biến hóa do sinh ra mà đạt được, vì vậy mong cầu
ma vương khiến hóa làm thân Phật.
Có người nói: Trong tâm tôn giả hết sức tôn kính Đức Phật, nếu tự
mình hóa hiện thì sợ rằng tâm tôn kính không mạnh hơn, vì vậy khiến
ma vương hóa hiện.
Có người nói: Tôn giả ít ham muốn, nếu tự mình hóa hiện thì   sợ
644 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
hàng trời-người cho rằng đã là Phật mà thể hiện sự cúng dường cao
nhất, sau khi nhập Niết-bàn chư Thiên và người thế gian cúng dường
đau buồn giống như Đức Phật diệt độ, vì vậy chỉ mong cầu ma vương
hóa hiện.
Hỏi: Hai loại biến hóa do tu mà đạt được- do sinh ra mà đạt được,
sai biệt thế nào?
Đáp: Sự biến hóa không có gì khác nhau, nhưng do tu mà đạt được
thì thanh tịnh-nhanh chóng-trọn vẹn-vi diệu, không phải là do sinh ra
mà đạt được.
Có người nói: Tâm biến hóa do sinh ra mà đạt được chỉ dựa vào
thân của cõi mình, tâm biến hóa do tu mà đạt được cùng dựa vào thân
của cõi mình và cõi khác.
Hỏi: Sự việc biến hóa có lưu lại hay không? Nếu có thì vì sao lúc
Đức Phật nhập Niết-bàn không lưu lại Hóa thân, để trú trì- thuyết pháp
làm lợi ích thêm cho hữu tình vào sau khi diệt độ? Nếu không có thì vì
sao Tôn giả Đại Ca-diếp-ba đã nhập Ni ết-bàn mà lưu lại thân tồn tại
lâu dài? Từng nghe: “Tôn giả Đại Ca-diếp-ba, đi vào thành Vương Xá
khất thực lần cuối cùng, ăn xong chưa  bao lâu thì leo l ên núi Kê Túc,
núi có ba đỉnh giống như chân gà ngước  lên trời, Tôn giả đi vào chính
giữa ngồi kiết già, phát ra lời nói thành thật: Nguyện cho thân này của
tôi cùng với y bát-tích trượng tồn ta ïi lâu dài không hủy hoại, cho đến
trải qua năm mươi bảy Câu-chi sáu  mươi trăm ngàn năm, lúc bậc Như
Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Từ Thị xuất  hiện giữa thế gian thực hiện
Phật sự. Phát lời nguyện này rồi th ì nhập Niết-bàn, lúc ấy ba đỉnh núi
kia liền hợp lại tha ønh một mà che kín, Tôn giả nghiễm nhiên an trú
trong đó. Đến lúc Đức Phật Từ Thị xuất hiện giữa thế gian, dẫn theo vô
lượng người-trời đi đến trên núi này, nói  với các Đại chúng rằng: Các
người muốn trông thấy Đại đệ tử Ca-diếp-ba, công đức đầu-đà bậc nhất
trong chúng đệ tử của Đức Phật Th ích-ca Mâu-ni hay không? Cả Đại
chúng đều thưa rằng: Chúng con mong muốn trông thấy. Đức Như Lai
Từ Thị liền dùng tay phải vỗ vào đỉnh núi Kê Túc, ngay lập tức đỉnh
núi nứt ra trở lại làm thành ba phần. Lúc ấy Ca-diếp-ba mang y bát-tích
trượng, từ bên trong mà đi ra vút lên cao giữa hư không. Vô lượng trời-
người nhìn thấy sự thần biến ấy, ca ngợi là điều chưa từng có, tâm tư của
họ điều hòa thuần thục, Đức Thế T ôn Từ Thị như ý thuận theo thuyết
pháp đều được thấy rõ chân lý.” Nếu không có lưu lại Hóa thân thì sự
việc như vậy làm sao có được?
Đáp: Có người nói: Sự việc biến hóa có lưu lại.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 135 645  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao Đức Thế Tôn không lưu lại Hóa thân
đến trú trì thuyết pháp sau khi Niết-bàn?
Đáp: Bởi vì những việc cần làm th ì đã hoàn thành, Đức Phật nói
là những người cần hóa độ đều đã hóa độ rồi, những người chưa hóa độ
thì đệ tử bậc Thánh sẽ hóa độ.
Có người nói: Sự việc biến hóa không có lưu lại.
Hỏi: Nếu như vậy thì sự việc của Ca-diếp-ba làm sao có được?
Đáp: Bởi vì các Thiên thần tin tưởng cung kính mà an trú duy trì.
Có người nói: Ca-diếp-ba vào lúc bấy giờ chưa nhập Niết-bàn, lúc
Đức Phật Từ Thị xuất hiện thì mới chọn lấy diệt độ.
Cách nói này không hợp lý, thà rằng nói không có chứ không nói
là vị ấy im lặng an trú trống rỗng trải qua thời gian dài.
Nói như vậy thì sự việc biến hóa có lưu lại, vì vậy Đại Ca-diếp-ba
đã nhập Niết-bàn.
Hỏi: Trong kinh nói: “Trong một lúc làm ra hai sự việc dẫn dắt,
đó là phần thân dưới phát lửa-phần thân trên tuôn nước, phần thân dưới
tuôn nước-phần thân trên phát lửa.” Đây là một tâm hay là hai tâm làm
ra? Nếu một tâm làm ra, thì tại sao một tâm lại có hai quả ngược nhau?
Nếu hai tâm làm ra, thì ta ïi sao trong một lúc lại  có hai tâm cùng dấy
khởi?
Đáp: Có người nói: Do một tâm làm ra.
Hỏi: Tại sao một tâm lại có hai quả ngược nhau?
Đáp: Trước dùng hai tâm riêng biệt thỉnh cầu nước-lửa, sau trú
vào một tâm khiến cho nước- lửa cùng phát ra, trước hai tâm là Chuyển,
sau một tâm là Tùy chuyển.
Có người nói: Do hai tâm làm ra.
Hỏi:Tại sao trong một lúc lại có hai tâm cùng dấy khởi?
Đáp: Do Định lực thù thắng cho nên hai tâm nước-lửa xoay chuyển
nhanh chóng, tựa như phát ra cùng lúc. Như Vật-phí-tử, tay trái phát ánh
sáng-tay phải theo lời nói phân ch ia đồ nằm cho Tăng chúng, nếu lúc
phát ra biểu hiện thì không có thể phát ánh sáng, nếu lúc phát ánh sáng
thì không có thể phát ra biểu hiện,  do Định lực thù thắng cho nên hai
tâm ánh sáng-biểu hiện xoay chuyển nhanh chóng, tựa như phát ra cùng
lúc. Hai tâm nước-lửa nên biết cũng như vậy.
Trong luận Thi Thiết nói: “Đức Phật vào một lúc  hóa hiện làm
Hóa Phật, thân màu vàng ròng tướng tốt trang nghiêm, lúc Đức Thế
Tôn nói thì Hóa thân cũng nói, lúc Hóa thân nói thì Đức Thế Tôn cũng
nói. Đệ tử trong một lúc hóa hiện làm Hóa đệ tử, cạo bỏ râu tóc-khoác
646 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
mặc Tăng phục, lúc đệ tử nói thì Hóa đệ tử im lặng, lúc Hóa đệ tử nói
thì đệ tử im lặng.”
Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Đức Phật đối với Tâm-Định đều được
tự tại, vào-ra nhanh chóng không rời bỏ sở duyên, phát ra lời nói của
mình rồi liền phát ra lời nói của Hóa thân, phát ra lời nói của Hóa thân
rồi lại phát ra lời nói của mì nh, bởi vì rất nhanh cho nên tựa như phát
ra cùng lúc. Đệ tử thì Tâm-Định không phải là rất tự tại, vào-ra kéo dài
chậm chạp, nhiều lúc rời bỏ sở duyên, phát ra lời nói của mình rồi phát
ra lời nói của Hóa đệ tử, lúc lời nói của Hóa đệ tử khởi lên thì lời nói
của mình đã diệt, phát ra lời nói của Hóa đệ tử rồi lại phát ra lời nói của
mình, lúc lời nói của mình khởi lên th ì lời nói của Hóa đệ tử đã diệt,
không phải là rất nhanh cho nên cảm giác nhận biết có trước sau.”
Hỏi: Các Đại Thanh văn cũng có năng lực như vậy, Đức Thế Tôn
đối với điều này có gì không giống nhau?
Đáp: Đức Phật dùng một tâm có thể phát ra ha i lời nói, đó là tự
mình và Hóa thân, tự mình nói rồi Hóa thân liền nói, Hóa thân nói rồi tự
mình liền nói, bởi vì vô cùng nhanh chóng cho nên không phải là cùng
lúc mà nói cùng lúc. Thanh văn một  tâm cũng phát ra hai lời nói, đó
là tự mình và Hóa thân, lời nói của mình diệt rồi Hóa thân mới nói, lời
nói của Hóa thân diệt rồi tự mình mới nói, không phải là vô cùng nhanh
chóng cho nên không phải là cùng lúc mà cảm giác không phải là cùng
lúc. Vả lại, Phật Thế Tôn đối với cá c cảnh của trí đều được tự tại, chứ
không phải là các Thanh văn, cho nên Đức Phật ở trong sự việc này
cũng có điều không giống nhau.
Luận ấy còn nói đảo lại: “Đức Phật vào một lúc hóa hiện làm Hóa
Phật, thân màu vàng ròng tướng tốt trang nghiêm, lúc Đức Thế Tôn nói
thì Hóa thân im lặng, lúc Hóa thân nói thì Đức Thế Tôn im lặng. Đệ tử
trong một lúc hóa hiện làm Hóa đệ tử, cạo bỏ râu tóc-khoác mặc Tăng
phục, lúc đệ tử nói thì H óa đệ tử cũng nói, lúc H óa đệ tử nói thì đệ tử
cũng nói.”
Hỏi: Các Đại Thanh văn cũng có năng lực như vậy, Đức Thế Tôn
đối với điều này có gì không giống nhau?
Đáp: Đức Phật đối với Tâm-Đị nh đều được tự tại, vào-ra nhanh
chóng không rời bỏ sở duyên, có thể dùng một  tâm phát ra hai lời nói,
đó là tự mình và Hóa thân, ở trong đó muốn khiến cho nói thì liền nói,
không khiến cho nói thì liền im lặng. Thanh văn thì Tâm-Định không
phải là rất tự tại, vào-ra kéo dài chậm chạp, nhiều lúc rời bỏ sở duyên,
tuy có thể một tâm phát ra hai lời nói, đó là tự mình và Hóa thân, nhưng
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 135 647  
www.daitangkinh.org  
ở trong đó muốn khiến cho một bên nói thì bên thứ hai cũng nói, muốn
khiến cho một bên im lặng thì bên thứ hai cũng im lặng, không có thể
khiến cho cùng im lặng-cùng nói được. Vả lại, Phật Thế Tôn đối với các
cảnh của trí đều được tự tại, chứ không phải là các Thanh văn, cho nên
Đức Phật ở trong sự việc này cũng có điều không giống nhau.
Trong kinh nói: “Đức Phật bảo với A- nan: Thần lực của Ta có
năng lực dùng ý mà thành thân, trong phút chốc đi đến cõi Phạm Thế.
A-nan thưa với Đức Phật: Sao kém qua ù vậy! Sự việc này Thanh văn
cũng có thể, Đức Thế Tôn sao đủ để tự khen mình, nói là đã hóa hiện
làm ra gọi là do ý mà thành th ân, Thanh văn cũng có thể dùng điều
này đi đến cõi Phạm Thế, Đức Phật nếu như vậy thì có gì không giống
nhau? Đức Thế Tôn có thể có năng lực rời bỏ lực thần thông, dùng thân
do cha mẹ sinh ra với Đại chủng thô nặng, chỉ trong phút chốc đi đến
cõi Phạm Thế hay không? Đức Thế Tôn bảo rằng: Điều này Ta cũng có
năng lực. A-nan lại nói: Việc này thật là khó, cầu mong nói thí dụ khiến
cho con tin hiểu. Đức Phật nói: Hãy lắng nghe kỹ càng! Như sắt thép ở
thế gian, hoặc là tấm dày-hoặc là viên tròn đặt ở trong lò lửa nóng, nhẹ
dần-mềm dần-điều chế dần- làm sạch dần, tùy theo ý mà làm. Như vậy
thân Như Lai tùy tâm chuyển đổi, buộc tâm vào thân dấy lên các tưởng
nhẹ-mềm…, thân tùy theo lực của tâm trở thành những sự nhẹ-mềm…
nhờ vào thế lực nối tiếp nhau có thể buộc tâm, khiến cho tùy ý vận
chuyển thân đã hệ thuộc.”
Trong này, có người nói: Lúc Tận tr í của Đức Phật hiện khởi thì
đạt được vô phú vô ký của cõi Du ïc, chưa từng đạt được tâm-tâm sở
pháp, do thế lực này không tiến vào Tĩnh lự, không hiện khởi thần
thông, lúc tâm vừa mới phát khởi thì có thể đưa thân lên đến cõi trời Sắc
Cứu Cánh, huống gì cõi Phạm Thế?
Có người đưa ra cách nói này: Đức Thế Tôn vào lúc bấy giờ khởi
tâm duyên vào gió khiến cho thân nhẹ nhàng.
Có Sư khác nói: Khởi tâm duyên vào hư không có thể khiến cho
thân Phật đi đến không có gì ngăn ngại.
Có người nói: Ý Đức Phật là nói thân này gọi là do ý mà thành, do
lực tùy ý mà thành tựu những sự vận chuyển nhẹ-mềm…, rời bỏ lực của
định- thần thông mà có thể vận chuyển thân này đi đến cõi Phạm Thế,
cho nên cùng với Thanh văn khác nhau.
Có người nói: Đức Phật nói do ý mà thành thân, tức là những Hóa
thân không nhờ vào định- thần thông mà có thể đi đến cõi Phạm Thế,
cùng với Thanh văn khác nhau.
648 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Có người nói: Đức Phật nói do thế lực thần thông của ý khiến cho
những Hóa thân nhanh chóng đi đến cõi  Phạm Thế, lực nhanh chóng
này hàng Nhị thừa đều không có, cho nên Đức Phật dựa vào điều này
tự hiển bày về pháp thù thắng của Phật.
Hỏi: Có thể có tâm biến hóa trong một sát-na đoạn mà không đạt
được, đạt được mà không đoạn, cù ng đoạn cùng đạt được, không đoạn
không đạt được chăng?
Đáp: Có, đó là lúc lìa nhiễm cõi Dục cuối  cùng là đạo vô gián.
Đối với tâm biến hóa có bốn câu này: Đoạn mà không đạt được, đó là
quả của ba Tĩnh lự trên hệ thuộc  cõi Dục. Đạt được mà không đoạn,
đó là quả của Tĩnh lự thứ nhất hệ thuộc Tĩnh lự thứ nhất. Cũng đoạn
cũng đạt được, đó là quả của Tĩnh lự thứ nhất hệ thuộc cõi Dục. Không
đoạn không đạt được, đó là quả của ba Tĩnh lự trên hệ thuộc Tĩnh lự
thứ nhất.
Quả của ba Tĩnh lự trên hệ thuộc Tĩnh lự thứ hai, quả của hai Tĩnh
lự trên hệ thuộc Tĩnh lự thứ ba, quả của Tĩnh lự thứ tư hệ thuộc Tĩnh lự
thứ tư, như lìa nhiễm cõi Dục cuối c ùng là đạo vô gia ùn làm thành bốn
câu. Như vậy lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất cuối cùng là đạo vô gián,
cho đến lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba cuối cùng là đạo vô gián, tuy theo
sự thích hợp đều có bốn câu.
Hỏi: Hóa thân nên nói là c ó Đại chủng hay là không có Đại
chủng?
Đáp: Nên nói là có Đại chủng, bởi vì không có sắc nào hiện khởi
mà tách lìa Đại chủng.
Hỏi: Hóa thân nên nói là có sắc sở tạo ha y là không có sắc sở
tạo?

Đáp: Nên nói là có sắc sở tạo. Hóa thân có hai loại:
1. Do tu đạt được.
2. Do sinh đạt được.
Hóa thân do tu đạt được, nếu hệ thuộc cõi Dục thì do bốn Xứ thâu
nhiếp, nếu hệ thuộc cõi Sắc thì do hai Xứ thâu nhiếp. Hóa thân do sinh
đạt được, nếu hệ thuộc cõi Dục thì do chín Xứ thâu nhiếp, nếu hệ thuộc
cõi Sắc thì do bảy Xứ thâu nhiếp. Bởi vì pháp như vậy mà thành Hóa
thân.
Hỏi: Hóa thân nên nói là có tâm hay là không có tâm?
Đáp: Nên nói là không có tâm. Nhưng Hóa thân có hai loại:
1. Do tu đạt được, loại này không có tâm.
2. Do sinh đạt được, loại này có tâm.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 135 649  
www.daitangkinh.org  
Trong này nói Hóa thân do tu đạt  được, bởi vì không phải là tâm
dựa vào.
Lại có hai loại:
1. Làm thân khác, loại này không có tâm.
2. Làm thân mình, loại này có tâm.  Trong này nói Hóa làm thân
khác, bởi vì không phải là tâm dựa  vào. Nếu biến hóa thân hữu tình
khác, thì nói như thân mình.
Hỏi: Hóa thân nên nói là do tâm ai mà chuyển?
Đáp: Nên nói là Hóa chủ, bởi vì  tâm của Hóa chủ làm cho có
biểu hiện. Nhưng Hóa thân do tu đạt được nhờ vào tâm của Hóa chủ mà
chuyển, nếu Hóa thân do sinh đạt được thì nhờ vào ta âm của mình mà
chuyển. Trong này nói Hóa thân do tu đạt được.
Vả lại, làm thân khác thì do tâm của Hóa chủ mà chuyển, nếu
làm thân mình thì do tâm của mình mà chuyển. Trong này nói Hóa làm
thân khác.
Hỏi: Các Hóa thân đều diệt chăng?
Đáp: Hóa thân do tu đạt được thì diệt, Hóa thân do sinh đạt được
có diệt và không diệt, đó là lúc trời rồng Dược-xoa… hóa làm thân mình,
có sắc khác cùng khởi lên, từ đây về sau thì sắc khác cùng diệt, mà thân
mình tồn tại.
Vả lại, làm thân khác thì diệt, làm thân mình thì có diệt và không
diệt. Nếu biến hóa thân hữu tình khác, thì nói như thân mình.
Hỏi: Các Hóa thân đã ăn thì tiêu hóa trong bụng ai?
Đáp: Thức ăn này nếu do nhu cầu thích hợp của Hóa chủ mà ăn,
thì tiêu hóa trong bụng của Hóa chủ. Nếu không phải là do nhu cầu
thích hợp của Hóa chủ mà ăn, thì như cỏ cây… t ụ lại đặt vào một nơi.
Nếu hóa làm thân hữu tình khác khiến cho ăn uống, thì tùy theo ý của
Hóa chủ mà có tiêu hóa và không tiêu hóa.
Hỏi: Hóa thân do đâu mà phát ra khói-lửa…?
Đáp: Do lực của Hóa chủ, nghĩ a là các Hóa chủ muốn ở nơi này
sinh ra khói-sinh ra lửa, sinh ra đỉnh núi khói lửa, sinh ra ngôi nhà khói
lửa, thì ở nơi này khói-lửa cùng khởi lên.
Hỏi: Vì sao Hóa thân có loại cháy, có loại không cháy? Lại vì sao
có loại cháy thân-không cháy áo, cháy áo- không cháy thân, cũng cháy
thân-cũng cháy áo, không cháy thân- không cháy áo?
Đáp: Do lực của Hóa chủ, nghĩa là các Hóa thân tùy theo ý mong
muốn, hoặc là cháy hay là không cháy.
Như trong kinh nói: “Tôn giả Đạt-lạp-bà-mạt-la-tử, dùng lực thần
650 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
thông vút lên giữa hư không, tiến vào cảnh giới của lửa đốt cháy thân
không còn tro bụi.”
Hỏi: Lúc Tôn giả ấy dùng lửa đốt thân, là trước khi Niết-bàn, hay
là sau khi Niết-bàn?
Đáp: Những người nói Hóa thân có lưu lại, thì họ nói sau khi Niết-
bàn lửa phát khởi đốt cháy thân, nghĩa là vị ấy đạt được tâm Định tự tại
mong được diệt độ, dùng thần lực bay lên bầu trời ở giữa hư không, hóa
làm giường ghế và các loại củi đốt, liền dùng nguyện lực tiến vào Định
trong cảnh giới của lửa, vừa phát lửa xong thì nhập Niết-bàn, vì vậy đốt
cháy thân khiến cho không có tro bụi.
Những người nói Hóa thân không có lưu lại, thì họ nói mạng chưa
hết mà lửa phát khởi đốt cháy thân, nghĩa là vị ấy đạt được tâm Định
tự tại, sắp sửa diệt độ dùng thần lư ïc bay lên bầu trời tiến vào Đẳng trì
thuộc lửa, làm cho thân chết từ từ, tùy theo nơi nào không có căn thì lửa
phát ra đốt cháy nơi đó, cho đến cuối cùng chỉ có tâm là nơi nương tựa
của mạng, như đầu mảy lông rất nhỏ mới nhập Niết-bàn thì lửa cũng tắt
theo. Lượng đầu mảy lông còn lại vốn không cháy, bởi vì vi tế khó biết,
cho nên nói là không có tro bụi.
Trung hữu nên nói là có Đại chủng hay là không có Đại   chủng?
Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao tiếp sau Hóa thân lại trình bày về Trung hữu?
Đáp: Là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói   rộng
ra.
Có người nói: Hóa thân và Trung hữu đều là vi tế khó có thể biết
rõ ràng.
Có Sư khác nói: Hai loại này đều là do ý mà thành thân.
Có người nói: Hai loại này có nhiều người phỉ báng, đó là phái Thí
Dụ nói: Hóa thân không phải là thật. Luận giả Phân Biệt bác bỏ không
có Trung hữu. Trước đây trình bày về Hóa thân là thật có, nay trình bày
về Trung hữu không phải là không có, vì vậy cho nên tiếp sau Hóa thân
thì trình bày về Trung hữu.
Hỏi: Trung hữu nên nói là có Đại chủng hay là không có Đại
chủng?
Đáp: Nên nói là có Đại chủng, bởi vì không có sắc nào hiện khởi
mà tách lìa Đại chủng.
Hỏi: Trung hữu nên nói là có sắc sở tạo hay là không có sắc sở
tạo?
Đáp: Nên nói là có sắc sở tạo, cõi Dục do chín Xứ thâu nhiếp, cõi
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 135 651  
www.daitangkinh.org  
Sắc do bảy Xứ thâu nhiếp, do pháp như vậy mà thành tựu thân ấy.
Hỏi: Trung hữu nên nói là có tâm hay là không có tâm?
Đáp: Nên nói là có tâm.
Hỏi: Trung hữu nên nói là do tâm ai mà chuyển?
Đáp: Nên nói là do tâm mình, bởi vì lực của tâm mình dấy khởi
Biểu nghiệp. Nghĩa về Trung hữu như trong chương Kiết Uẩn nói rộng
ra.
Hỏi: Thế(đời) là nói về pháp nào?
Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về Hành.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Vì ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày tông chỉ
của mình. Đó là phái Thí Dụ, Luận giả Phân Biệt, chấp Thể của Thế và
Hành khác nhau, Thể của Hành là vô thường, Thể của Thế là thường,
các Hành vô thường, Hành thường ở Thế thì như di chuyển những trái
quả… trong các đồ đựng, lại như những người nhiều lần đi vào các ngôi
nhà. Vì ngăn chặn ý chấp ấy để hiển bày Thể của ba đời chính là các
Hành, bởi vì Hành vô thường cho nên Thế cũng vô thường. Bởi vì những
duyên này cho nên soạn ra phần lua än này. Nghĩa về ba đời cũng như
trong chương Kiết Uẩn nói rộng ra.
Hỏi: Kiếp là nói về pháp nào?
Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về nửa tháng-một tháng-một
mùa-một năm.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì giải thích về nghĩa trong kinh. Như trong kinh nói:
“Có một Tỳ kheo đi đến nơi Đức Phật,  đảnh lễ dưới hai chân Đức Phật
rồi lùi về đứng một phía, thưa với Đ ức Thế Tôn rằng: Đức Phật luôn
luôn nói đến kiếp, kiếp này là số lượng thế nào? Đức Phật nói: Này Tỳ
kheo! Lượng của kiếp lâu dài không pha ûi là những số trăm năm-ngàn
năm… mà có thể biết được. Tỳ kheo lại thưa: Có thí dụ hay không? Đức
Thế Tôn nói: Có, nay Ta sẽ nói cho ông biết, như gần bên thành ấp có
ngọn núi toàn là đá, lượng dài-rộng- cao đều một Du-thiện-na, dùng tơ
mịn Ca-thi cứ một trăm năm lướt qua một lần, núi đã mất đi mà kiếp
này chưa hết. Tỳ kheo nên biết! Các ông suốt đời trải qua vô lượng trăm
ngàn kiếp số này, ở trong nẽo địa ngục-bàng sinh-ngạ quỷ và trong loài
người-trời, nhận chịu những khổ đau ác liệt, xoay vòng trong sinh tử
không có hạn kỳ chấm dứt, sao có thể an nhiên không mong cầu giải
thoát?”
Kinh ấy chính là nơi nương tựa của luận này, kinh tuy nói về kiếp
652 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
nhưng chưa phân biệt về Thể của ki ếp là gì, nay muốn phân biệt cho
nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Vì sao chỉ nói nửa tháng- một tháng-một mùa-một năm làm
kiếp, mà không nói Sát-na, Lạp-phược , Mâu-hô-lật-đa, ngày đêm để
làm kiếp?
Đáp: Phải nói mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có
khác.
Có người nói: Trong này nêu ra thô thâu nhiếp tế, nghĩa là    Sát-
na… là tế, nửa tháng-một tháng… là thô, nếu nói đến thô thì nên biết là
đã nói về tế, bởi vì tích nhiều thời gian tế làm thành thời gian thô.
Có người nói: Trong này nêu ra gần thâu nhiếp xa, nghĩa là kiếp
gần là do nửa tháng… mà thành, nửa tháng… lại là do Sát-na… mà thành,
cho nên nói đến thời gian gần thì cũng đã nói đến thời gian xa.
Hỏi: Thể của kiếp là gì?
Đáp: Có người nói: Là Sắc xứ. Vì sao biết như vậy? Bởi vì như
luận Thi Thiết nói: “Lúc kiếp bắt đầu thì thân con người có ánh sáng
luôn luôn soi chiếu, vì tham mùi vị cho nên ánh sáng mất đi, bóng tối
sinh ra. Thế là ở phía Đông có vầng mặt trời mọc lên, ánh sáng soi
chiếu rõ ràng, giống như trước đây so i chiếu, trông thấy rồi vui mừng
nói: Ánh sáng của trời đã đến! Bởi vì ánh sáng của trời đã đến cho nên
gọi là ngày. Trong chốc lát thì vầng mặt trời lặn xuống phía Tây, bóng
tối sinh ra như trước, trông thấy rồi than thở rằng: ánh sáng của trời đã
mất! Bởi vì ánh sáng của trời đã mất cho nên gọi là đêm.” Vì vậy chứng
minh biết Thể của kiếp là sắc, bởi vì Thể của kiếp đều tích nhiều ngày
đêm mà thành.
Nói như vậy thì phần vị ngày đêm…, tất cả đều là năm uẩn sinh
diệt, lấy năm uẩn này làm thành kiếp, Thể của kiếp cũng như vậy.
Nhưng kiếp đã gồm chung thời gian của ba cõi, cho nên dùng năm uẩn-
bốn uẩn làm tánh.
Đã nói về tự tánh, nay sẽ nói đến nguyên cớ.
Hỏi: Vì sao gọi là kiếp, kiếp là nghĩa gì?
Đáp: Phân biệt về mức độ thời gian(thời phần) cho nên gọi là kiếp,
nghĩa là phân biệt mức độ thời gian Sát-na, Lạp-phược, Mâu-hô-lật-đa
để thành ngày đêm; phân biệt mức độ thời gian ngày đêm để thành nửa
tháng-tháng-mùa-năm; phân biệt mức độ thời gian nửa tháng… để thành
kiếp. Bởi vì kiếp là cuối cùng trong sự phân biệt về mức độ thời gian,
cho nên mang lấy tên gọi chung.
Phái Thanh Luận nói: Phân biệt  về phần vị cho nên nói tên gọi
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 135 653  
www.daitangkinh.org  
là kiếp. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì kiếp là phần vị cuối cùng trong sự
phân biệt về Hành hữu vi.
Kiếp có ba loại:
1. Kiếp trung gian.
2. Kiếp thành hoại.
3. Đại kiếp.
Kiếp trung gian lại có ba loại:
1. Kiếp giảm.
2. Kiếp tăng.
3. Kiếp tăng giảm.
Giảm là từ lúc con người sống thọ vô lượng tuổi, giảm đến lúc còn
lại mười tuổi. Tăng là từ lúc con người sống thọ mười tuổi, tăng lên đến
tám vạn tuổi. Tăng-giảm là từ l úc con người sống thọ mười tuổi tăng
lên đến tám vạn tuổi, lại từ tám vạn tuổi giảm xuống còn lại mười tuổi.
Trong này, một giảm-một tăng-mười ta ùm tăng giảm, có hai mươi kiếp
trung gian. Trải qua hai mươi Trung kiếp thế gian thành lập, hai mươi
Trung kiếp Thành rồi Trú, ở đây hợp la ïi gọi là kiếp Thành. Trải qua
hai mươi Trung kiếp thế gian hủy hoại, hai mươi Trung kiếp Hoại rồi
Không, ở đây hợp lại gọi là kiếp Hoại. Tổng cọng tám mươi Trung kiếp,
hợp lại gọi là Đại kiếp. Hai mươi Trung kiếp trong Thành rồi Trú, một
kiếp đầu chỉ có giảm, một kiếp sau chỉ có tăng, mười tám kiếp trung
gian cũng tăng cũng giảm.
Hỏi: Ba kiếp này thì kiếp nào lâu nhất?
Đáp: Có người nói: Kiếp giảm là lâu nhất, kiếp tăng là trung bình,
kiếp tăng-giảm ngắn nhất. Nghĩa là l úc thân có ánh sáng mà trải qua
thời gian lâu dài, không phải là ánh sáng của thân mất đi, cho đến bây
giờ; lúc ăn vị của đất mà trải qua thời gian lâu dài, không phải là vị của
đất mất đi, cho đến bây giờ; lúc ăn bánh của đất mà trải qua thời gian
lâu dài, không phải là bánh của đất không còn, cho đến bây giờ; lúc ăn
dây leo trong rừng mà trải qua thời gian lâu dài, không phải là từ đó
không còn, cho đến bây giờ; lúc ăn thóc  lúa tự nhiên ma ø trải qua thời
gian lâu dài, không phải là từ đó không còn, cho đến bây giờ. Vì vậy
thời gian của kiếp giảm này là lâu nhất.
Nói như vậy thì kiếp đầu giảm, kiếp sau tăng, mười tám kiếp trung
gian, mức lượng của hai mươi kiếp này đều bằng nhau.  Vào lúc chỉ
có giảm thì Phật xuất hiện giữa thế gian, vào lúc chỉ có tăng thì Luân
Vương xuất hiện giữa thế gian, vào l úc tăng-giảm thì Độc Giác xuất
hiện giữa thế gian.
654 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Hỏi: Luận Thi Thiết nói: “Loài người trong bốn châu dựa vào mặt
trời-mặt trăng để phân rõ ngày và đêm.” Trời cõi Dục thì ngày và đêm
làm sao biết được?
Đáp: Nhờ vào tướng cho nên biết, nghĩa là trên cõi trời ấy nếu
vào lúc hoa Bát-đặc-ma khép lại, hoa Ôn-bát-la nở ra, các loài chim ít
hót, gió mát nhanh chóng khởi lên, ít thích dạo chơi, phần nhiều ưa ngủ
nghỉ, nên biết lúc bấy giờ nói tên gọi là đêm. Nếu vào lúc hoa Ôn-bát-
la khép lại, hoa Bát-đặc-ma nở ra, các loài chim cùng hót vang, gió nhẹ
từ từ khởi lên, phần nhiều thích dạo chơi, ít muốn ngủ nghỉ, nên biết lúc
bấy giờ nói tên gọi là ngày.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt