A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 136
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
心起住滅分名何法。答此增語所顯。剎那 臘縛牟呼栗多。問此應半月等前說。所以者 何。由剎那等積成晝夜。晝夜積成半月月 等半月月等積成劫故。何故前說麁後說細 耶。答彼作論者意欲爾故。乃至廣說。有作 是說。阿毘達磨應以相求不以先後。但不 違法相隨說無失。有餘師說。此作論中先 說麁後說細令諸學者漸次入故。此中起 分。謂生住分。謂老。滅分。謂無常。有為法有 三分齊。謂時色名。時之極少。謂一剎那。色 之極少。謂一極微。名之極少。謂依一字。積 此以為漸多分齊名分齊。如雜蘊說。 問彼剎那量云何可知。有作是言。施設論 說。如中年女緝績毳時。抖擻細毛不長不 短。齊此說為怛剎那量。彼不欲說毳縷短 長。但說毳毛從指間出。隨所出量是怛剎 那。問前問剎那。何緣乃引施設論。說怛剎 那量。答此中舉麁以顯於細。以細難知不 可顯故。謂百二十剎那成一怛剎那。六十 怛剎那成一臘縛。此有七千二百剎那。三十 臘縛成一牟呼栗多。此有二百一十六千剎 那。三十牟呼栗多成一晝夜。此有少二十不 滿六十五百千剎那。此五蘊身一晝一夜。經 於爾所生滅無常。有說。此麁非剎那量。如 我義者。如壯士彈指頃經六十四剎那。有 說。不然。如我義者。如二壯夫掣斷眾多 迦尸細縷。隨爾所縷斷經爾所剎那。有說。 不然。如我義者。如二壯夫執挽眾多迦尸 細縷。有一壯士以至那國百練剛刀捷疾 而斷。隨爾所縷斷經爾所剎那。有說。猶麁 非剎那量。實剎那量。世尊不說。云何知然。 如契經說。有一苾芻來詣佛所。頂禮雙足 却住一面。白世尊言。壽行云何。速疾生滅。 佛言。我能宣說汝不能知。苾芻言。頗有譬 喻能顯示不。佛言。有今為汝說。譬如四善 射夫各執弓箭。相背攢立欲射四方。有一 捷夫來語之曰。汝等今可一時放箭。我能 遍接俱令不墮。於意云何。此捷疾不。苾芻 白佛。甚疾。世尊。佛言。彼人捷疾不及地行 藥叉。地行捷疾不及空行藥叉。空行捷疾不 及四大王眾天。彼天捷疾不及日月輪。二 輪捷疾不及堅行天子。此是導引日月輪 車者。此等諸天展轉捷疾壽行生滅捷疾於 彼。剎那流轉無有暫停。由此故知世尊不 說實剎那量。問何故世尊不為他說實剎 那量。答無有有情堪能知故。問豈舍利子 亦不知耶。答彼雖能知而於彼無用是故 不說。佛不空說法故。 一歲有十二月。晝夜增減略為二時。由減 及增各六月故。然晝與夜增減相違。雖各 二時而無四位。晝夜增減各一臘縛。月則各 一牟呼栗多。三十牟呼栗多成一晝夜。於中 晝夜多少四類不同。增位極長不過十八。 減位極短唯有十二。晝夜停位各有十五。 謂羯栗底迦月白半第八日。晝夜各十五牟 呼栗多。從此以後晝減夜增各一臘縛。至末 伽始羅月白半第八日。夜有十六牟呼栗多。 晝十四至報沙月白半第八日。夜有十七晝 十三。至磨伽月白半第八日。夜有十八晝 十二。從此以後夜減晝增各一臘縛。至頗 勒窶那月白半第八日。夜有十七晝十三。 至制怛羅月白半第八日。夜有十六晝十 四。至吠舍佉月白半第八日。晝夜各十五。從 此以後夜減晝增各一臘縛。至誓瑟搋月白 半第八日。夜有十四晝十六。至阿沙茶月 白半第八日。夜有十三晝十七。至室羅筏 拏月白半第八日。夜有十二晝十八。從此 以後晝減夜增各一臘縛。至婆達羅鉢陀月 白半第八日。夜有十三晝十七。至阿濕縛 庾闍月白半第八日。夜有十四晝十六。如 是復至羯栗底迦月白半第八日。晝夜停等。 是名略說時之分齊。 問彼極微量復云何知。答應知極微是最細 色不可斷截破壞貫穿不可取捨乘履摶 掣。非長非短。非方非圓。非正不正。非 高非下。無有細分不可分析。不可覩見。 不可聽聞。不可嗅甞。不可摩觸故說極 微。是最細色。此七極微成一微塵。是眼眼識 所取色中最微細者。此唯三種眼見。一天眼。 二轉輪王眼。三住後有菩薩眼。七微塵成一 銅塵。有說。此七成一水塵。七銅塵成一水 塵。有說。此七成一銅塵。七水塵成一兔毫 塵。有說。七銅塵成一兔毫塵。七兔毫塵成 一羊毛塵。七羊毛塵成一牛毛塵。七牛毛塵 成一向遊塵。七向遊塵成一蟣。七蟣成一 虱。七虱成一穬麥。七穬麥成指一節。二十 四指節成一肘。四肘為一弓。去村五百弓。 名阿練若處。從此已去名邊遠處。則五百 弓成摩揭陀國一俱盧舍。成北方半俱盧舍。 所以者何。摩揭陀國其地平正去村雖近而 不聞聲。北方高下遠猶聲及。是故北方俱盧 舍大。八俱盧舍成一踰繕那。贍部洲人身長 三肘半。或有過者。毘提訶人身長八肘。瞿陀 尼人身長十六肘。俱盧洲人身長三十二肘。 四大王眾天身長俱盧舍四分之一。三十三 天身長半俱盧舍。天帝釋身長一俱盧舍。夜 摩天身長。俱盧舍四分之三。覩史多天身長 俱盧舍。樂變化天身長俱盧舍。及俱盧舍 四分之一。他化自在天身長俱盧舍半。梵眾 天身長半踰繕那。梵輔天身長一踰繕那。大 梵天身長一踰繕那半。少光天身長二踰繕 那。無量光天身長四踰繕那。極光淨天身長 八踰繕那。少淨天身長十六踰繕那。無量淨 天身長三十二踰繕那。遍淨天身長六十四 踰繕那。無雲天身長百二十五踰繕那。福生 天身長二百五十踰繕那。廣果天身長五百 踰繕那。無想天身亦爾。無煩天身長千踰繕 那。無熱天身長二千踰繕那。善現天身長四 千踰繕那。善見天身長八千踰繕那。阿迦膩 瑟搋天身長十六千踰繕那。如是名為色之 分齊。頗有法四緣生耶。乃至廣說。問何故 作此論。答為止說緣無實者意顯諸緣性 皆是實有故作斯論。從緣生法有三種。一 色。二心心所法。三心不相應行。色復有三。 謂善染污無覆無記。心心所法心不相應行 亦爾。此中善色。及異熟所不攝。無覆無記 色生時一緣一少分。於此有作用。一緣者增 上。一少分者因緣。則同類因。則此滅時一緣 一少分。於此有作用。一緣者增上。一少分 者因緣。則俱有因。染污色生時。一緣一少分。 於此有作用。一緣者增上。一少分者因緣。 則同類因遍行因。則此滅時一緣一少分。於 此有作用。一緣者增上。一少分者因緣。則 俱有因。異熟色生時一緣一少分。於此有作 用。一緣者增上。一少分者因緣。則同類因異 熟因。則此滅時一緣一少分。於此有作用。 一緣者增上一少分者因緣。則俱有因。善心 心所法及異熟所不攝。無覆無記心心所法 生時。二緣一少分。於此有作用。二緣者增 上等無間。一少分者。因緣。則同類因。則此滅 時二緣一少分。於此有作用。二緣者增上所 緣。一少分者因緣。則俱有因相應因。染污心 心所法生時。二緣一少分。於此有作用。二 緣者。增上等無間。一少分者。因緣。則同類因 遍行因。則此滅時二緣一少分。於此有作 用。二緣者增上所緣。一少分者。因緣則俱有 因相應因。異熟心心所法生時。二緣一少分。 於此有作用。二緣者。增上等無間。一少分 者。因緣則同類因異熟因。則此滅時二緣一 少分。於此有作用。二緣者。增上所緣。一少 分者因緣。則俱有因相應因。善心不相應行 中無想等至。滅盡等至生時。二緣一少分。於 此有作用。二緣者。增上等無間。一少分者 因緣。則同類因。則此滅時一緣一少分。於此 有作用。一緣者增上。一少分者因緣。則俱有 因。餘善及異熟所不攝。無覆無記心不相應 行生時。一緣一少分。於此有作用。一緣者 增上。一少分者因緣。則同類因。則此滅時一 緣一少分。於此有作用。一緣者增上。一少 分者因緣。則俱有因。染污心不相應行生時。 一緣一少分。於此有作用。一緣者增上。一少 分者因緣。則同類因遍行因。則此滅時一緣 一少分。於此有作用。一緣者增上。一少分 者因緣則俱有因。異熟心不相應行生時。一 緣一少分。於此有作用。一緣者增上。一少 分者因緣。則同類因異熟因。則此滅時一緣 一少分。於此有作用。一緣者增上。一少分 者因緣。則俱有因。是謂此處略毘婆沙 頗有法四緣生耶。答有。謂一切心心所法。 問此法生時但由二緣半。於此有作用。云 何乃說四緣生耶。答生位滅位合說四緣。 起未已滅總名生故。問生時滅時各二緣 半。若合說者應有五緣。何故說四。答依種 類說不過四故。謂一緣唯於生時作用。 一緣唯於滅時作用。二緣通於二時作用 故合說四。頗有法三緣生耶。答有。謂無想 等至滅盡等至。問此法生時但由二緣半。於 此有作用。云何乃說三緣生耶。答生位滅 位合說三緣。起未已滅總名生故。問此於 生時有二緣半。滅時有一緣半。若合說者 應有四緣。何故說三。答依種類說不過 三故。謂一緣唯於生時作用。二緣通於二 時作用故合說三。頗有法二緣生耶。答有。 謂除無想滅盡等至。諸餘心不相應行。及一 切色。問此法生時但由一緣半。於此有作 用。云何乃說二緣生耶。答生位滅位合說 二緣。起未已滅總名生故。問此於生時有 一緣半。滅時有一緣半。應有三緣。何故說 二。答依種類說不過二故。謂二緣俱於生 時滅時有作用故。頗有法一緣生耶。答無。 所以者何。諸有為法性羸劣故。不自依故。 依止他故。無作用故。不自在故。彼有為 法最極少者。謂一剎那。一極微。法生位滅 位除其自體。餘一切法為增上緣。於滅位 中生等為彼俱有因故。說為因緣。由此定 無一緣生者。 此中因緣攝一切有為法。等無間緣攝過去 現在。除阿羅漢最後心聚。餘心心所法。所緣 緣增上緣。攝一切法。又因緣攝五蘊。等無 間緣。攝無色四蘊少分。所緣緣增上緣。攝 五蘊及非蘊。又因緣攝三世。等無間緣攝二 世少分。所緣緣增上緣。攝三世及非世。問如 是四緣誰勝誰劣。有說。因緣勝餘劣。以因 增長有生滅故。有說。等無間緣勝餘劣。以 能開闢聖道門故。有說。所緣緣勝餘劣。諸 心心所所依仗故。有說。增上緣勝餘劣。諸 法生滅皆不障故。如是說者。皆勝皆劣功能 差別故。問諦與忍智為所緣緣。於與三乘 誰為親勝答無偏親勝如豆聚等。但由忍 智上中下故。施設所緣有三差別。如三力 士射堅洛叉。摩訶諾健那中而不破。鉢羅塞 建提。破而不度。那羅延箭。破已直度更穿 餘物。非彼洛叉有堅軟異。但由射者勢力 不同。故說洛叉亦有差別。 問何緣闕故便般涅槃。有說。因緣流轉生死 由因緣力。因緣斷故生死則斷。有說。等無 間緣。以阿羅漢後心不續便涅槃故。有說。 所緣緣。以諸爾焰不起此後心心所法便 涅槃故。有說。增上緣。以阿羅漢最後心後 無不障礙便斷絕故。如是說者。四緣闕故 而般涅槃。以涅槃時四緣攝法。於彼相續 皆無作用。便般涅槃。 云何因相應法。乃至廣說。問何故作此論。答 欲止愚於相應法者執相應法體非實有。 顯相應法體是實有。故作斯論。於此義中 有作是說。此中但依一因作論。謂相應因。 由此中說相應言故。依彼意趣釋此文 者。云何因相應法。答一切心心所法。此是相 應因自體法。與相應因自體法相應故名因 相應。云何因不相應法。答色無為心不相應 行。問色等既非相應因。自體如何乃說因 不相應。答色等雖非相應因自體。而與相 應因自體不相應故說為因不相應。斯有 何失。云何因相應因不相應法。答則心心所 法少分因相應。少分因不相應。少分因相應 者。謂自於他。少分因不相應者。謂自於自。 云何非因相應。非因不相應法。答則心心 所法少分非因相應。少分非因不相應。少分 非因相應者。謂自於自。少分非因不相應 者。謂自於他。有說。此中依二因作論謂 相應因俱有因。由此二因恒與彼法不相 離故。有說。此中依三因作論。謂相應因 俱有因同類因。由此三因通三性故。有說。 此中依四因作論。除同類因遍行因。由此 四因通三世故。有說。此中依五因作論。 除能作因。以通無為非親勝故。有說。此 中依六因作論。由此所說因言總故。然相 應法或有具作六因自體。或有但作五因 自體。或有但作四因自體。何等具作六因 自體。謂不善遍行心心所法。何等但作五因 自體。謂不善非遍行心心所法。若有覆無記 遍行心心所法。若善有漏心心所法。何等但 作四因自體。謂有覆無記非遍行心心所法。 若無覆無記心心所法。若無漏心心所法。依 彼意趣釋此文者。云何因相應法。答一切 心心所法。謂六因自體法。與六因自體法相 應。五因自體法。與五因自體法相應。四因 自體法。與四因自體法相應故。名因相應。 後三問答准前應知。 云何緣有緣法。乃至廣說。問何故作此論。 答欲止愚於所緣緣性執所緣緣非實有 法者意顯所緣緣體是實有故作斯論。云 何緣有緣法。答若意識并相應法。緣心心所 法。由有所緣法。為此所緣故。說此為緣有 緣法。如明眼者見明眼人。彼明眼人復有 所見。緣有緣法應知亦爾。云何緣無緣法。答 五識身并相應法。若意識并相應法。緣色無 為心不相應行。由無所緣法為此所緣故。 說此為緣無緣法。如明眼者見生盲人。彼 生盲人更無所見。緣無緣法應知亦爾。云何 緣有緣緣無緣法。答若意識并相應法。緣心 心所法。及色無為心不相應行。由有所緣無 所緣法。為此所緣故。說此為緣有緣緣無 緣法。如明眼者見明眼人及生盲人。彼明眼 人復有所見。彼生盲人更無所見。緣有緣緣 無緣法應知亦爾。有餘。謂此第三句義。則 合初二更無異體。此不應理。與本論相 違故。如本論說。緣有緣法是有為。緣隨眠隨 增。緣無緣法是一切隨眠隨增。緣有緣緣無 緣法是有為緣隨眠隨增。非緣有緣非緣無 緣法。是有漏緣隨眠隨增。然有意識并相應 法。一剎那頃總緣有緣及無緣法。是故如前 所說者好。云何非緣有緣非緣無緣法。答 色無為心不相應行。由此法不緣有所緣無 所緣法故說此為非緣有緣非緣無緣法。 如生盲人都無所見。此亦如是。 如世尊說。內無色想觀外色。乃至廣說。問何 故作此論。答為欲分別契經義故。如契經 說。內無色想觀外色。雖作是說而不分別。 云何內無色想觀外色。乃至廣說。今欲分別。 故作斯論。云何內無色想觀外色耶。答謂有 苾芻起如是勝解。今我此身將死。已死將 上輿。已上輿將往塚間。已往塚間將置 地。已置地將為種種蟲食。已為種種蟲食。 彼於最後不見內身。唯見外蟲。是名內 無色想觀外色。謂彼由先多勝解。力不見 身相。但見違逆損害內身外諸蟲相。復有 苾芻起如是勝解。今我此身將死。已死將 上輿。已上輿將往塚間。已往塚間將置 薪𧂐。已置薪𧂐將為火焚。已為火焚彼 於最後不見內身。唯見外火。是名內無 色想觀外色。謂彼由先多勝解力。不見身 相。但見違逆損害內身外諸火相。復有苾 芻起如是勝解。今我此身。甚為虛偽。如雪 或雪摶。如沙糖或沙糖摶。如生熟酥或生 熟酥摶。將為火炙。已為火炙將融銷。已 融銷。彼於最後不見內身唯見外火。是 名內無色想觀外色。謂彼由先多勝解力。不 見身相。但見違逆損害內身外諸火相。此 中如雪或雪摶者。謂北方諸瑜伽師。如沙糖 或沙糖摶者。謂南方諸瑜伽師。如生熟酥 或生熟酥摶者。謂一切處諸瑜伽師。問若 時作內無色想則時觀外色耶。為爾時但 觀外色。不作內無色想耶。設爾何過。若時 作內無色想。則時觀外色者。云何一覺不 作二解差別解耶。如是一覺便成多體。若 爾時但觀外色。不作內無色想者。此文所 說內無色想觀外色復云何通答應說。爾時 但觀外色。不作內無色想。問若爾此文所 說內無色想觀外色當云何通。答依瑜伽師 意樂而說。謂觀行者有如是意樂。我當內 無色想觀外色隨彼而說。然於爾時唯觀 外色。有說。依彼先時分別行相故作是說。 謂瑜伽師先起如是分別行相。我當如是 如是作內無色想觀外色觀。及修觀時唯觀 外色。有說。此文依修加行成滿時說。謂內 無色想者。說此善根加行時。觀外色者。說此 善根成滿時。非於一時有二種解。有說。此 文依義至說。謂若內無色想義至觀外色。若 觀外色義至內無色想。非於一覺有二種解。 有說。內無色想者。說所依觀外色者。說所 緣。非於所緣俱起二解。有餘師說。若時作 內無色想。則時亦觀外色。問若爾云何一覺 不作二解差別解耶。答雖作二解而不相 違故無有失。此不應理。有無二相互相 違故。是故如前所說者好。 如世尊說。有除色想。乃至廣說。問何故復 作此論。答彼作論者意欲爾故。乃至廣說。有 說。為欲分別契經義故。謂契經中說除色 想。而不廣辯。今欲辯之故作斯論。云何除 色想耶。答謂有苾芻起如是勝解。今我此 身將死。已死將上輿。已上輿將往塚間。 已往塚間將置地。已置地將為種種蟲 食。已為種種蟲食。此種種蟲將散。已散。彼 於最後不見自身。亦不見蟲。是名除色 想。謂彼由先多勝解力不見身相。亦復不 見違害內身外諸蟲相。復有苾芻起如 是勝解。今我此身將死。已死將上輿。已上 輿將往塚間。已往塚間將置薪𧂐。已置 薪𧂐將為火焚。已為火焚此焚屍火將滅。 已滅。彼於最後不見自身。亦不見火。是 名除色想。謂彼由先多勝解力不見身相。 亦復不見違害內身外諸火相。復有苾芻 起如是勝解。今我此身甚為虛偽。如雪或 雪摶。如沙糖或沙糖摶。如生熟酥或生熟 酥摶。將為火炙。已為火炙將融銷。已融 銷。此能銷火將滅。已滅。彼於最後不見自 身。亦不見火。是名除色想。謂彼由先多勝 解力不見身相。亦復不見違害內身外諸 火相。如雪摶等三種譬喻。隨方差別如前 應知。 問彼瑜伽師何處曾見如是諸相。而今觀耶。 答由彼曾與同梵行者作瞻病人。曾見苾 芻大種乖適。斷諸飲食呻吟苦痛。雖加醫 藥轉復增劇。乃至漸困暴汗交流。喘息奔急 須臾命盡。為縛床輿安置其屍。同學悲酸 送至葬所。若所至處薪難得者。便置坑中 悒然捨去。後日重往見彼屍骸。已為狐狼鵄 梟鵰鷲烏鵲餓狗之所噉食。須臾遠觀骨肉 都盡。倐忽四散其處寂然。若處柴薪易可得 者。便積薪木安置其屍。以火焚之俄頃 皆盡。須臾火滅寂無所有。彼瑜伽師善取如 是種種相已。疾還所住洗足敷座。結跏趺 坐調直身心。令無熱惱遠離諸蓋。有所 堪能憶念先時。所取諸相以勝解力想見 己身。次第有前所見眾相。若不曾作瞻養 病人。彼於一時見雪摶等漸次為火之所 銷融。乃至後時都無所見。取是相已。以勝 解力想見己身。次第有前所見眾相。由此 緣故諸瑜伽師。於其自身起斯勝解。問如 是觀察分位不同。於諸觀門何等所攝。答 是除色想及此加行。并此加行。加行所攝。謂 不見身不見蟲火此最後位除色想攝。若 不見身而見蟲火。是除色想加行所攝。若 猶見身亦見蟲火。是此加行。加行所攝。有 作是說。是除色想及第二初解脫所攝。謂 不見身不見蟲火。是除色想。若不見身 而見蟲火。是第二解脫。若猶見身亦見蟲 火。是初解脫。有餘師說。顯三善根。謂不見 身不見蟲火。此顯上品。若不見身而見 蟲火。此顯中品。若猶見身亦見蟲火。此顯 下品。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 136 655 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 136 LUẬN VỀ CỤ KIẾN (Phần 3) Hỏi: Tâm thuộc phần Khởi-Trú-Diệt là nói về pháp nào? Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển ba øy về Sát-na, Lạp-phược, Mâu- hô-lật-đa. Hỏi: Điều này thuận theo trước nói về nửa tháng… Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Sát-na… tích lại thành ngày đêm, ngày đêm tích lại thành nửa tháng-một tháng…, nửa tháng-một tháng… tích lại thành kiếp. Vì sao trước nói về thô, sau nói đến tế? Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói rộng ra. Có người đưa ra cách nói này: A-tỳ-đạt-ma nên dùng tướng để mong cầu chứ không dùng trước-sau, nhưng không trái với pháp tướng, tùy theo cách nói không có gì sai. Có Sư khác nói: Trong phần lua än này trước nói về thô-sau nói đến tế, bởi vì khiến cho những người học dần dần tiến vào. Trong này, phần Khởi gọi là Sinh, phần Trú gọi là Lão, phần Diệt gọi là Vô thường. Pháp hữu vi có ba phạm vi như nhau (phần tề), đó là Thời-Sắc-Danh. Thời ít nhất, đó là một Sát-na. Sắc ít nhất, đó là một Cực-vi. Danh ít nhất, đó là dựa vào một chữ. Tích tụ như vậy để làm cho phạm vi như nhau nhiều dần lên. Phạm vi như nhau, như chương Tạp Uẩn đã nói. Hỏi: Mức lượng Sát-na ấy làm sao có thể biết? Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Luận Thi Thiết nói: “Như lúc người nữ đứng tuổi dệt tơ lụa, giũ lông mịn không dài-không ngắn, như vậy nói là mức lượng Đát-sát-na. Người ấy không cần phải nói sợi tơ ngắn hay dài, chỉ nói lông tơ từ trong ngón tay đưa ra, tùy theo mức lượng đã đưa ra là Đát-sát-na.” Hỏi: Trước hỏi về Sát-na, vì sao lại dẫn luận Thi Thiết nói đến 656 BỘ TỲ ĐÀM 5 mức lượng Đát-sát-na? Đáp: Trong này nêu ra thô để hiển ba øy cho tế, bởi vì tế khó biết cho nên không có thể hiển bày. Nghĩa là một trăm hai mươi Sát-na thành một Đát-sát-na, sáu mươi Đát -sát-na thành một Lạp-phược, đơn vị này có bảy ngàn hai trăm Sát -na. Ba mươi Lạp-phược thành một Mâu-hô-lật-đa, đơn vị này có hai trăm mười sáu ngàn Sát-na. Ba mươi Mâu-hô-lật-đa thành một ngày đêm, đơn vị này có thiếu đi hai mươi, không tròn số sáu mươi lăm trăm ngàn Sát-na. Thân năm uẩn này trong một ngày một đêm, trải qua vô thường sinh diệt với số lượng như vậy. Có người nói: Đây là thô chứ không phải là mức lượng Sát-na, như nghĩa của tôi thì như khoảng thời gian bật ngón tay của tráng sĩ trải qua sáu mươi bốn Sát-na. Có người nói: Không phải như vậy, như nghĩa của tôi thì như hai người khỏe mạnh kéo đứt rất nhiều sợi tơ mịn Ca-thi, tùy theo bao nhiêu sợi tơ mịn đứt lìa thì trải qua bấy nhiêu Sát-na. Có người nói: Không phải như vậy, như nghĩa của tôi thì như hai người khỏe mạnh nắm giữ rất nhiều sợi tơ mịn Ca-thi, có một tráng sĩ dùng trăm lưỡi dao luyện cứng của nước Chí-na nhanh chóng mà cắt đứt, tùy theo bao nhiêu sợi tơ mịn đứt lìa thì trải qua bấy nhiêu Sát-na. Có người nói: Vẫn còn thô chứ không phải là mức lượng Sát-na, mức lượng Sát-na thật sự thì Đức Thế Tôn không nói đến, vì sao biết như vậy? Bởi vì như trong kinh nói: “Có một Tỳ kheo đi đến nơi Đức Phật, đảnh lễ dưới hai chân Đức Phậ t rồi lùi về đứng ở một phía, thưa với Đức Thế Tôn rằng: Hành của Thọ (thọ mạng) sinh diệt nhanh chóng như thế nào? Đức Phật nói: Ta có thể nói ra điều ấy, nhưng ông không có thể biết được. Tỳ kheo thưa rằng: Có thể có thí dụ để có thể biểu hiện rõ ràng hay không? Đức Phật nói: Có, nay Ta sẽ nói cho ông biết, ví như bốn người có sở trường về ba én cung, tất cả đều cầm cung tên, xoay lưng đứng tựa vào nhau sắp bắn về bốn phía, có một người nhanh chóng đi đến nói rằng: Bây giờ các ông có thể cùng một lúc phóng tên, tôi có thể đón lấy tất cả, khiến cho tất cả không rơi xuống đất, ý ông nghĩ thế nào, điều này nhanh chóng hay không? Tỳ kheo thưa với Đức Phật: Rất nhanh, thưa Đức Thế T ôn! Đức Phật nói: Người ấy nhanh chóng không bằng Dược-xoa đi trên mặt đất, Dược-xoa đi trên mặt đất nhanh chóng không bằng Dược-xoa đi giữa hư không, Dược-xoa đi giữa hư không nhanh chóng không bằng trời Tứ Đại Vương Chúng, trời ấy nhanh chóng không bằng mặt trời-mặt trăng, mặt trời-mặt trăng nhanh chóng không bằng Thiên tử Kiên Hành, đa ây là vị trời hướng dẫn chỉ SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 136 657 www.daitangkinh.org đường cho chuyên xe mặt trời-mặt tr ăng. Chư Thiên như vậy lần lượt xoay chuyển nhanh chóng, Hành của Thọ sinh diệt nhanh chóng hơn thế, lưu chuyển trong từng Sát-na không có tạm dừng.” Vì vậy cho nên biết Đức Thế Tôn không nói đến mức lượng Sát- na thật sự. Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn không nói cho người khác biết về mức lượng Sát-na thật sự? Đáp: Bởi vì không có hữu tình nào có thể biết được điều ấy. Hỏi: Lẽ nào Xá-lợi-tử cũng không biết hay sao? Đáp: Vị ấy tuy có thể biết được nhưng mà không có tác dụng đối với vị ấy, cho nên không nói đến, bởi vì Đức Phật không bao giờ thuyết pháp trống không. Một năm có mười hai tháng, ngày đêm tăng giảm tóm lược làm thành hai Thời, bởi vì giảm và tăng đều có sáu tháng. Nhưng ngày và đêm tăng giảm trái ngược nhau, tuy đều là hai Thời mà không có bốn phần vị. Ngày đêm tăng giảm đều có một Lạp-phược, tháng thì đều có một Mâu-hô-lật-đa. Ba mươi Ma âu-hô-lật-đa thành một ngày đêm, ở trong ngày đêm nhiều ít có bốn loại không giống nhau, phần vị tăng lên dài nhất không quá mười tám, phần vị giảm xuống ngắn nhất chỉ có mười hai, phần vị ngày đêm dừng lại đều có mười lăm. Nghĩa là ngày thứ tám thuộc nửa sáng(bạch bán) của tháng Yết-lật-để-ca (tháng 1), ngày đêm đều có mười lăm Mâu-hô-lật -đa, từ đây về sau ngày giảm- đêm tăng đều một Lạp-phược. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Mạt-già-thỉ-la (tháng 2), đêm có mười sáu Mâu-hô-lật-đa, ngày có mười bốn. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Báo-sa (tháng 3), đêm có mười bảy, ngày có mười ba. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Ma-già (tháng 4), đêm có mười tám, ngày có mười hai, từ đây về sau đêm giảm-ngày ta êng đều một Lạp-phược. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Pha- lặc-lũ-na (tháng 5), đêm có mười bảy, ngày có mười ba. Đ ến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Chế-đát-la (tháng 6), đêm có mười sáu, ngày có mười bốn. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Phệ-xá-khư (tháng7), ngày-đêm đều có mười lăm, từ đây về sau đêm giảm-ngày tăng đều một Lạp-phược. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Thệ-sắt-trĩ (tháng 8), đêm có mười bốn, ngày có mười sáu. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng A-sa-đồ (tháng 9), đêm có mười ba, ngày có mười bảy. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Thất-la-phiệt-noa (tháng 10), đêm có mười hai, ngày có mười tám, từ đây về sau ngày giảm-đêm tăng đều 658 BỘ TỲ ĐÀM 5 một Lạp-phược. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Bà-đạt- la-bát-đà (tháng 11), đêm có mười ba, ngày có mười bảy. Đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng A-thấp-phược-dữu-xà (tháng 12), đêm có mười bốn, ngày có mười sáu. Như vậy lại đến ngày thứ tám thuộc nửa sáng của tháng Yết-lật-để-ca (tháng 1), ngày - đêm dừng lại bằng nhau, đây gọi là nói tóm lược về phạm vi như nhau của Thời. Hỏi: Mức lượng Cực-vi ấy lại làm sao biết được? Đáp: Nên biết Cực-vi là sắc nhỏ nhất, không có thể cắt đứt-phá hoại-xuyên qua, không có thể lấy bỏ- đi lại-nắm kéo, không phải là dài-không phải là ngắn, không phải là vuông-không phải là tròn, không phải là thẳng-không phải là c ong, không phải là cao-không phải là thấp, không có phần nhỏ, không có thể phân tích, không có thể nhìn thấy, không có thể nghe thấy, không có thể ngửi nếm, không có thể sờ mó, cho nên nói Cực-vi là sắc nhỏ nha át. Bảy Cực-vi này thành một Vi trần, là sắc vi tế nhất trong sắc do Nhãn-Nhãn thức đã giữ lấy, sắc này chỉ có ba loại mắt nhìn thấy: 1. Mắt của chư Thiên. 2. Mắt của Chuyển Luân Vương. 3. Mắt của Bồ-tát trú trong thân cuối cùng. Bảy Vi trần thành một Đồng trần. Có người nói: Bảy Vi trần thành một Thủy trần, bảy Đồng trần thành một Thủy trần. Có người nói: Bảy Vi trần thành một Đồng trần, bảy Thủy trần thành một Thố hào (lông thỏ) trần. Có người nói: Bảy Đồng trần th ành một Thố hào trần, bảy Thố hào trần thành một Dương mao (l ông dê) trần, bảy Dương mao trần thành một Ngưu mao (lông trâu) tra àn, bảy Ngưu mao trần thành một Hướng du trần, bảy Hướng du trần th ành một Kỉ (trứng rận), bảy Kỉ thành một Sắt (con rận), bảy Sắt thành một Quảng mạch (hạt lúa), bảy Quảng mạch thành một đốt ngón tay, hai mươi bốn đốt ngón tay thành một khuỷu tay, bốn khuỷu tay là một Cung (5 thước), cách thôn năm trăm Cung gọi là chốn A-luyện-nha õ, từ đây trở đi gọi là nơi Biên viễn (xa xôi hẻo lánh), tức là năm trăm Cung thành một Câu-lô-xá của nước Ma-kiệt-đà, thành nửa Câu-lô-xá của phương Bắc. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nước Ma-kiệt-đà đất đai bằng phẳng, cách thôn tuy gần mà không nghe tiếng; phương Bắc cao thấp tuy xa mà vẫn còn nghe tiếng vang đến, vì vậy Câu-lô-xá của ph ương Bắc lớn hơn. Tám Câu-lô-xá thành một Du-thiện-na. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 136 659 www.daitangkinh.org Người châu Thiệm Bộ thân cao ba khuỷu tay rưỡi, hoặc là có người cao hơn. Người châu Tỳ-đề-ha thân cao tám khuỷu tay. Người châu Cù-đà-ni thân cao mười sáu khuỷu tay. Người châu Câu-lô thân cao ba mươi hai khuỷu tay. Trời T ứ Đại Vương Chúng thân cao một phần tư Câu-lô-xá. Trời Tam Thập Tam thân cao nửa Câu-lô-xá. Thiên Đế Thích thân cao một Câu-lô-xá. Trời Dạ Ma thân cao ba phần tư Câu-lô-xá. Trời Đổ-sử-đa thân cao một Câu-lô-xá. Trời Lạc Biến Hóa thân cao một Câu-lô-xá, và một pha àn tư Câu-lô-xá. Trời Tha Hóa Tự Tại thân cao nửa Câu-lô-xá. Trời Phạm Chúng thân cao nửa Du-thiện- na. Trời Phạm Phụ thân cao một Du-thiện-na. Trời Đại Phạm thân cao một Du-thiện-na rưỡi. Trời Thiểu Quang thân cao hai Du-thiện-na. Trời Vô Lượng Quang thân cao bốn Du-thiện-na. Trời Cực Quang Tịnh thân cao tám Du-thiện-na. Trời Thiểu Tị nh thân cao mười sáu Du-thiện-na. Trời Vô Lượng Tịnh thân cao ba mươi hai Du-thiện-na. Trời Biến Tịnh thân cao sáu mươi bốn Du-thiện-na. Trời Vô Vân thân cao một trăm hai mươi lăm Du-thiện-na. Trời Phước Si nh thân cao hai trăm năm mươi Du-thiện-na. Trời Quảng Quả thân cao năm trăm Du-thiện-na. Trời Vô Tưởng thân cao cũng như vậy. Trời Vô Phiền thân cao một ngàn Du-thiện-na. Trời Vô Nhiệt thân cao hai ngàn Du-thiện-na. Trời Thiện Hiện thân cao bốn ngàn Du-thiện-na. Trời Thiện Kiến thân cao tám ngàn Du-thiện-na. Trời A-ca-nhị-sắt-trĩ thân cao mười sáu ngàn Du- thiện-na. Như vậy gọi là phạm vi như nhau của Sắc. Có thể có pháp do bốn duyên si nh ra chăng? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Vì ngăn chặn cách nói là duyên không có thật, ý hiển bày về tánh của các duyên đều là có thật, cho nên soạn ra phần luận này. Pháp từ duyên sinh ra có ba loại: 1. Sắc. 2. Tâm tâm sở pháp. 3. Tâm bất tương ưng hành. Sắc lại có ba loại, đó là thiện- nhiễm ô và vô phú vô ký. Tâm-tâm sở pháp, tâm bất tương ưng hành cũng như vậy. Trong này, sắc thiện và dị thục vốn không thâu nhiếp. Lúc sắc vô phú vô ký sinh ra, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với sắc này, một duyên là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Đồng loạ i. Lúc sắc này diệt đi, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với sắc này, một duyên 660 BỘ TỲ ĐÀM 5 là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Câu hữu. Lúc sắc nhiễm ô sinh ra, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với sắc này, một duyê n là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Đồng loại-nhân Biến hành. Lúc sắc này diệt đi, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với sắc này, một duyên là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Câu hữu. Lúc sắc dị thục sinh ra, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với sắc này, một duyên là Tăng thượng, pha àn ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Đồng loại-nhân Dị thục. Lúc sắc này diệt đi, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với sắc này, một duyên là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Câu hữu. Tâm-tâm sở pháp thiện và dị thục vốn không thâu nhiếp. Lúc tâm-tâm sở pháp vô phú vô k ý sinh ra, hai duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, hai duyên là Tăng thượng và Đẳng vô gián, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Đồng loại. Lúc pháp này diệt đi, hai duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, ha i duyên là Tăng thượng và Sở duyên, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Câu hữu-nhân Tương ưng. Lúc tâm-tâm sở pháp nhiễm ô si nh ra, hai duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, hai duyên là Tăng thượng và Đẳng vô gián, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Đồng loại- nhân Biến hành. Lúc pháp này diệt đi, hai duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, hai duyên là Tăng thượng và Sở duyên, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Câu hữu- nhân Tương ưng. Lúc tâm-tâm sở pháp dị thục sinh ra, hai duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, hai duyên là Tăng thượng và Đẳng vô gián, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Đồng loại-nhân Dị thục. Lúc pháp này diệt đi, hai duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, hai duyên là Tăng thượng và Sở duyên, phần ít của một duyên là Nha ân duyên, tức là nhân Câu hữu- nhân Tương ưng. Lúc Đẳng chí Vô tưởng-Đẳng chí Diệt tận trong tâm thiện bất tương ưng hành sinh ra, hai duyên và phần ít của một duyên có tác dụng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 136 661 www.daitangkinh.org đối với pháp này, hai duyên là Ta êng thượng và Đẳng vô gián, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức la ø nhân Đồng loại. Lúc pháp này diệt đi, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, một duyên là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Câu hữu. Thiện và dị thục còn lại vốn không thâu nhiếp. Lúc tâm vô phú vô ký bất tương ưn g hành sinh ra, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, một duyên là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nha ân duyên, tức là nhân Đồng loại. Lúc pháp này diệt đi, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, một duyên là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Câu hữu. Lúc tâm nhiễm ô bất tương ưng hành sinh ra, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, một duyên là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nha ân duyên, tức là nhân Đồng loại- nhân Biến hành. Lúc pháp này diệt đi, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, một duyên là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Câu hữu. Lúc tâm dị thục bất tương ưng hành sinh ra, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, một duyên là tăng Thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Đồng loại- nhân Dị thục. Lúc pháp này diệt đi, một duyên và phần ít của một duyên có tác dụng đối với pháp này, một duyên là Tăng thượng, phần ít của một duyên là Nhân duyên, tức là nhân Câu hữu. Đây gọi là Tỳ-bà-sa tóm lược ở nơi này. Hỏi: Có thể có pháp do bốn duyên sinh ra chăng? Đáp: Có, đó là tất cả tâm-tâm sở pháp. Hỏi: Lúc pháp này sinh ra, chỉ do hai duyên rưỡi có tác dụng đối với pháp này, vì sao lại nói là do bốn duyên sinh ra? Đáp: Phần vị sinh-phần vị diệ t hợp lại nói là bốn duyên, bởi vì khởi lên chưa hẳn đã diệt đi, cho nên gọi chung là sinh. Hỏi: Lúc sinh-lúc diệt đều có hai duyên rưỡi, nếu hợp lại mà nói thì phải có năm duyên, vì sao nói là bốn? Đáp: Bởi vì dựa vào chủng loại mà nói không vượt quá bốn, nghĩa là một duyên chỉ có tác dụng đối với lúc sinh ra, một duyên chỉ có tác dụng đối với lúc diệt đi, hai duyên cùng có tác dụng đối với hai lúc, cho nên hợp lại nói là bốn. Hỏi: Có thể có pháp do ba duyên sinh ra chăng? 662 BỘ TỲ ĐÀM 5 Đáp: Có, đó là Đẳng chí Vô tưởng và Đẳng chí Diệt tận. Hỏi: Lúc pháp này sinh ra, chỉ do hai duyên rưỡi có tác dụng đối với pháp này, vì sao lại nói là do ba duyên sinh ra? Đáp: Phần vị sinh-phần vị diệt hợp lại nói là ba duyên, bởi vì khởi lên chưa hẳn đã diệt đi, cho nên gọi chung là sinh. Hỏi: Pháp này vào lúc sinh có hai duyên rưỡi, lúc diệt có một duyên rưỡi, nếu hợp lại mà nói thì phải có bốn duyên, vì sao nói là ba? Đáp: Bởi vì dựa vào chủng loại mà nói không vượt quá ba, nghĩa là một duyên chỉ có tác dụng đối với lúc sinh ra, hai duyên cùng có tác dụng đối với hai lúc, cho nên hợp lại nói là ba. Hỏi: Có thể có pháp do hai duyên sinh ra chăng? Đáp: Có, đó là trừ ra Đẳng chí Vô tưởng-Diệt tận, còn lại các tâm bất tương ưng hành và tất cả các sắc. Hỏi: Lúc pháp này sinh ra, chỉ do một duyên rưỡi có tác dụng đối với pháp này, vì sao lại nói là do hai duyên sinh ra? Đáp: Phần vị sinh- phần vị diệt hợp lại nói là hai duyên, bởi vì khởi lên chưa hẳn đã diệt đi, cho nên gọi chung là sinh. Hỏi: Pháp này vào lúc sinh có một duyên rưỡi, lúc diệt có một duyên rưỡi, phải có ba duyên, vì sao nói là hai? Đáp: Bởi vì dựa vào chủng loại mà nói không vượt quá hai, nghĩa là hai duyên cùng có tác dụng đối với lúc sinh- lúc diệt. Hỏi: Có thể có pháp do một duyên sinh ra chăng? Đáp: Không có. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì các pháp hữu vi là tánh yếu kém, không tự dựa vào mình, phải dựa vào nơi khác, không có tác dụng, không tự tại. Pháp hữu vi a áy là pháp vô cùng ít ỏi, đó là một Sát-na, một Cực-vi. Phần vị sinh- pha àn vị diệt của ph áp trừ ra tự Thể của nó, còn lại tất cả các pháp làm duyên Tăng thượng, ở trong phần vị diệt thì sinh… là nhân Câu hữu c ủa nó, cho nên nói là Nhân duyên. Vì vậy, chắc chắn không có pháp nào do một duyên sinh ra. Trong này, Nhân duyên thâu nhiếp tất cả các pháp hữu vi; Đẳng vô gián duyên thâu nhiếp quá khứ- hiện ta ïi, trừ ra tụ tâm cuối cùng của A-la-hán, còn lại tâm-ta âm sở pháp; Sở duyên duyên-Tăng thượng duyên thâu nhiếp tất cả các pháp. Lại nữa, Nhân duyên thâu nhiếp năm uẩn, Đẳng vô gián duyên thâu nhiếp pha àn ít của bốn uẩn Vô sắc, Sở duyên duyên-Tăng thượng duyên thâu nhiếp năm uẩn và không phải uẩn. Lại nữa, Nhân duyên thâu nhiếp ba đời, Đẳng vô gián duyên thâu nhiếp phần ít của hai đời, Sở duyên duyên-Tăng thượng duyên thâu nhiếp ba đời và không phải đời. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 136 663 www.daitangkinh.org Hỏi: Bốn duyên như vậy thì duyên nào mạnh-duyên nào kém? Đáp: Có người nói: Nhân duyên là mạnh, duyên còn lại là kém, bởi vì Nhân tăng trưởng mà có sinh diệt. Có người nói: Đẳng vô gián duyên là mạnh, duyên còn lại là kém, bởi vì có năng lực mở toang cánh cửa của Thánh đạo. Có người nói: Sở duyên duyên là mạnh, duyên còn lại là kém, bởi vì làm nơi nương tựa cho các tâm-tâm sở. Có người nói: Tăng thượng duyên là mạnh, duyên còn lại là kém, bởi vì các pháp sinh diệt đều không ngăn cản. Nói như vậy thì đều là mạnh- đều là kém, bởi vì có công năng sai biệt. Hỏi: Đế cùng với Nhẫn trí làm Sở duyên duyên, đối với ba Thừa thì pháp nào là tự mình hơn hẳn? Đáp: Không có pháp nào tự mình hơn hẳn riêng biệt, như những nhúm đậu không khác, nhưng bởi vì Nhẫn trí có Thượng-Trung-Hạ, cho nên thi thiết Sở duyên có ba loại sai biệt. Như ba lực sĩ bắn vào tấm bia cứng, Ma-ha-nặc-kiện-na bắn trúng mà không phá vỡ, mũi tên của Bát- la-tắc-kiến-đề phá vỡ mà không vượt qua, mũi tên của Na-la-diên phá vỡ rồi cứ thế vượt qua còn xuyên thủng vật khác. Không phải là tấm bia ấy có cứng mềm khác nhau, nhưng bởi vì thế lực của người bắn không như nhau, cho nên nói tấm bia cũng có sai biệt. Hỏi: Vì thiếu duyên nào cho nên liền nhập Niết-bàn? Đáp: Có người nói: Nhân duyên, bởi vì lưu chuyển do lực của Nhân duyên, Nhân duyên đoạn cho nên sinh tử liền đoạn. Có người nói: Đẳng vô gián duyên, bởi vì tâm sau cùng của A-la- hán không nối tiếp, cho nên sẽ Niết-bàn. Có người nói: Sở duyên duyên, bởi vì các Trí cảnh (nhĩ diệm) không khởi lên tâm-tâm sở pháp sau cùng này, cho nên sẽ Niết-bàn. Có người nói: Tăng thượng duyên, bởi vì tâm cuối cùng của A-la- hán về sau không có gì không chướng ngại, cho nên sẽ đoạn tuyệt. Nói như vậy thì bởi vì thiếu hụt bốn duyên mà nhập Niết-bàn. Bởi vì lúc Niết-bàn thì bốn duyên thuộc về pháp, đối với sự nối tiếp nhau ấy cũng không có tác dụng, cho nên liền nhập Niết-bàn. Thế nào là pháp tương ưng với nhân? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn người ngu muội đối với pháp tương ưng, chấp Thể của pháp tương ưng không phải là có thật, để hiển bày về Thể của pháp tương ưng là có thật, cho nên soạn ra phần luận này. 664 BỘ TỲ ĐÀM 5 Ở trong nghĩa này có người đưa ra cách nói này: Trong này chỉ dựa vào một nhân mà soạn luận, đó là nhân Tương ưng. Bởi vì trong này nói đến tương ưng, cho nên dựa vào ý nghĩa ấy để giải thích văn này. Hỏi: Thế nào là pháp tương ưng với nhân? Đáp: Tất cả tâm- tâm sở pháp. Đây là pháp thuộc tự Thể của nhân Tương ưng, tương ưng với pháp thuộc t ự Thể của nhân Tương ưng, cho nên gọi là nhân Tương ưng. Hỏi: Thế nào là pháp không tương ưng với nhân? Đáp: Đó là sắc-vô vi-tâm bất tương ưng hành. Hỏi: Sắc… đã không phải là tự Thể của nhân Tương ưng, làm sao lại nói là không tương ưng với nhân? Đáp: Sắc… tuy không phải là tự Thể của nhân Tương ưng, mà không tương ưng với tự Thể của nhân Tương ưng, cho nên nói là không tương ưng với nhân, điều ấy có gì sai? Hỏi: Thế nào là pháp t ương ưng với nhân-không tương ưng với nhân? Đáp: Tức là tâm- tâm sở pha ùp, phần ít tương ưng với nhân, phần ít không tương ưng với nhân. Phần ít tương ưng với nhân, đó là tự mình đối với nơi khác. Phần ít không tươ ng ưng với nhân, đó là tự mình đối với tự mình. Hỏi: Thế nào là pháp không pha ûi là tương ưng với nhân-không phải là không tương ưng với nhân? Đáp: Tức là tâm- tâm sở pháp, phần ít không phải là tương ưng với nhân, phần ít không phải là không t ương ưng với nhân. Phần ít không phải là tương ưng với nhân, đó là tự mình đối với tự mình. Phần ít không phải là không tương ưng với nhân, đó là tự mình đối với nơi khác. Có người nói: Trong này dựa vào hai nhân mà soạn luận, đó là nhân Tương ưng-nhân Câu hữu, bởi vì hai nhân này luôn luôn cùng với pháp ấy không tách lìa nhau. Có người nói: Trong này dựa vào ba nhân mà soạn luận, đó là nhân Tương ưng-nhân Câu hữu và nhân Đồng loại, bởi vì ba nhân này gồm chung ba tánh. Có người nói: Trong này dựa vào bốn nhân mà soạn luận, đó là trừ ra nhân Đồng loại và nhân Bi ến hành, bởi vì bốn nhân này gồm chung ba đời. Có người nói: Trong này dựa vào na êm nhân mà soạn luận, trừ ra nhân Năng tác, bởi vì gồm chung vô vi chứ không phải là tự mình hơn hẳn. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 136 665 www.daitangkinh.org Có người nói: Trong này dựa vào sa ùu nhân mà soạn luận, bởi vì nhân đã nói ở đây là nói chung. Nhưng pháp tương ưng, hoặc có lúc cùng làm tự Thể của sáu nhân, hoặc có lúc chỉ làm tự Thể của na êm nhân, hoặc có lúc chỉ làm tự Thể của bốn nhân. Những pháp nào cùng làm tự Thể của sáu nhân? Đó là tâm-tâm sở pháp biến hành bất thi ện. Những pháp nào chỉ làm tự Thể của năm nhân? Đó là tâm- tâm s ở pháp phi biến hành bất thiện, hoặc là tâm- tâm sở pháp biến hành hữu phú vô ký, hoặc là tâm-tâm sở pháp hữu lậu thiện. Những pháp nào chỉ làm tự Thể của bốn nhân? Đó là tâm- tâm sở pháp phi biến hành hữu phú vô ký, hoặc là tâm-tâm sở pháp vô phú vô ký, hoặc là tâm- tâm sở pháp vô lậu. Dựa vào ý nghĩa ấy để giải thích văn này. Hỏi: Thế nào là pháp tương ưng với nhân? Đáp: Tất cả tâm-tâm sở pháp, đó là pháp thuộc tự Thể của sáu nhân, tương ưng với pháp thuộc tự Thể của sáu nhân; pháp thuộc tự Thể của năm nhân, tương ưng với pháp thuộc tự Thể của năm nhân; pháp thuộc tự Thể của bốn nhân, tương ưng với pháp thuộc tự Thể của bốn nhân; cho nên gọi là tương ưng với nhân. Ba loại sau hỏi- đáp dựa theo trước nên biết. Thế nào là duyên với pháp có duyên? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn người ngu muội đối với tánh của Sở duyên duyên, chấp Sở duyên duyên không phải là pháp có thật, ý hiển bày về Thể của Sở duyên duyên là có thật, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Thế nào là duyên với pháp có duyên? Đáp: Nếu Ý thức cùng pháp tương ưng, duyên với tâm-tâm sở pháp. Bởi vì pháp có sở duyên làm sở duyên cho pháp này, cho nên nói pháp này là duyên với pháp có duyên. Như người mắt sáng nhìn thấy người mắt sáng, người mắt sáng ấy lại có những điều nhìn thấy; duyên với pháp có duyên, nên biết cũng như vậy. Hỏi: Thế nào là duyên với pháp không có duyên? Đáp: Năm Thức thân cùng pháp tương ưng, nếu Ý thức và pháp tương ưng, duyên với sắc-vô vi-tâm ba át tương ưng hành. Bởi vì pháp không có sở duyên làm sở duyên cho pha ùp này, cho nên nói pháp này là duyên với pháp không có duyên. Như người mắt sáng nhìn thấy người mù lòa, người mù lòa ấy lại không có điều gì nhìn thấy; duyên với pháp không có duyên, nên biết cũng như vậy. 666 BỘ TỲ ĐÀM 5 Hỏi: Thế nào là duyên với pháp có duyên-duyên với pháp không có duyên? Đáp: Nếu Ý thức cùng pha ùp tương ưng, duyên với tâm-tâm sở pháp và sắc-vô vi-tâm bất tương ưng hành. Bởi vì pháp có sở duyên- pháp không có sở duyên làm sở duyên cho pháp này, cho nên nói pháp này là duyên với pháp có duyên-duyên với pháp không có duyên. Như người mắt sáng nhìn thấy người mắt sáng và người mù lòa, người mắt sáng ấy lại có những điều nhìn thấy, người mù lòa ấy lại không có điều gì nhìn thấy; duyên với pháp có duyên-duyên với pháp không có duyên, nên biết cũng như vậy. Có người nói: Nghĩa của câu thứ ba này, tức la ø kết hợp hai câu trước, lại không có Thể khác nhau. Cách nói này không hợp lý, bởi vì trái ngược nhau với bản luận. Như bản luận nói: Duyên với pháp có duyên là Tùy miên tùy tăng duyên với hữu vi, duyên với pháp không c ó duyên là tất cả Tùy miên tùy tăng, duyên với pháp có duyên- duyên với pháp không có duyên là Tùy miên tùy tăng duyên với hữu vi, không phải duyên với pháp có duyên-không phải duyên với pháp không có duyên là Tùy miên tùy tăng duyên với hữu lậu. Nhưng có Ý thức cùng pháp tương ưng, trong một Sát-na duyên chung với pháp có duyên và pháp không có duyên, vì vậy như trước đã nói là hợp lý. Hỏi: Thế nào là không phải duyên với pháp có duyên-không phải duyên với pháp không có duyên? Đáp: Sắc-vô vi-tâm bất t ương ưng hành. Bởi vì pháp này không duyên với pháp có sở duyên-pháp không có sở duyên, cho nên nói pháp này là không phải duyên với pháp có duyên-không phải duyên với pháp không có duyên. Như người mù lòa hoàn toàn không nhìn thấy gì, ở đây cũng như vậy. Như Đức Thế Tôn nói: “Tưởng bê n trong không có sắc, quán xét sắc bên ngoài.” Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Vì muốn phân biệt về nghĩa trong kinh. Như trong kinh nói: “Tưởng bên trong không có sắc, quán xét sắc bên ngoài.” Trong kinh tuy nói ra điều này mà không phân biệt thế nào là Tưởng bên trong không có sắc-quán xét sắc bên ngoài, cho đến nói rộng ra. Nay cần phải phân biệt, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Thế nào là Tưởng bên trong không có sắc, quán xét sắc bên ngoài? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 136 667 www.daitangkinh.org Đáp: Nghĩa là có Tỳ kheo dấy khởi Thắng giải như vậy: Nay thân này của mình sắp chết, đã chết sắp đưa lên xe, đã đưa lên xe sắp chuyển đến bãi tha ma, đã đem đến bãi tha ma sắp đặt xuống đất, đã đặt xuống đất sắp bị các loài giòi bọ ăn thịt, đã bị các loài giòi bọ ăn thịt. Người ấy đến cuối cùng không thấy thân bên trong, chỉ thấy giòi bọ bên ngoài, đó gọi là Tưởng bên trong không có sắc, quán xét sắc bên ngoài. Nghĩa là người ấy nhờ vào lực của nhiều Thắng giải trước đây, không thấy tướng của thân, chỉ thấy tướng của các loài giòi bọ bên ngoài rúc rỉa làm tổn hại thân bên trong. Lại có Tỳ kheo dấy khởi Thắng giải như vậy: Nay thân này của mình sắp chết, đã chết sắp đưa lên xe, đã đưa lên xe sắp chuyển đến bãi tha ma, đã chuyển đến bãi tha ma sa ép đặt vào giàn củi, đã đặt vào giàn củi sắp bị lửa đốt cháy, đã bị lửa đốt cháy. Người ấy đến cuối cùng không thấy thân bên trong, chỉ thấy lửa bên ngoài, đó gọi là Tưởng bên trong không có sắc, quán xét sắc bên ngoài. Nghĩa là người ấy nhờ vào lực của nhiều Thắng giải trước đây, không thấy tướng của thân, chỉ thấy các tướng của ngọn lửa bên ngoài hừng hực làm tổn hại thân bên trong. Lại có Tỳ kheo dấy khởi Thắng giải như vậy: Nay thân này của mình thật là giả tạo, như băng tuyết-hoặc là đụn băng tuyết, như đường bột-hoặc là nhúm đường bột, như bơ chưa chín-hoặc là cục bơ chưa chín, sắp bị lửa đun nóng, đã bị lửa đun nóng sắp tan chảy, đã tan chảy. Người ấy đến cuối cùng không thấy thân bên trong, chỉ thấy lửa bên ngoài, đó gọi là Tưởng bên trong không có sắc, quán xét sắc bên ngoài. Nghĩa là người ấy nhờ vào lực của nhiều Thắng giải trước đây, không thấy tướng của thân, chỉ thấy các tướng của ngọn lửa bên ngoài đun nóng làm tổn hại thân bên trong. Trong này, như băng tuyết-hoặc la ø đụn băng tuyết, đó là các sư Du-già ở phương Bắc; như đường bột-hoặc là nhúm đường bột, đó là các sư Du-già ở phương Nam; như bơ chưa chín-hoặc là cục bơ chưa chín, đó là các sư Du-già ở tất cả các nơi. Hỏi: Nếu lúc dấy lên Tưởng bên trong không có sắc thì lúc ấy quán xét sắc bên ngoài chăng? Hay là lúc bấy giờ chỉ quán xét sắc bên ngoài, không dấy lên Tưởng bên trong không có sắc? Giả sử như vậy thì có gì sai? Nếu như lúc dấy lên Tưởng bên trong không có sắc, ngay lúc ấy quán xét sắc bên ngoài, thì vì sao một Giác không dấy lên mà hiểu theo hai cách hiểu sai biệt? Như vậy một Giác sẽ thành ra nhiều Thể. Nếu như lúc bấy giờ chỉ quán xét sắc bên ngoài, không dấy lên Tưởng 668 BỘ TỲ ĐÀM 5 bên trong không có sắc, thì văn này đã nói Tưởng bên trong không có sắc-quán xét sắc bên ngoài, lại hiểu thế nào? Đáp: Nên nói là lúc bấy gi ờ chỉ quán xét sắc bên ngoài, không dấy lên Tưởng bên trong không có sắc. Hỏi: Nếu như vậy thì văn này đã nói Tưởng bên trong không có sắc-quán xét sắc bên ngoài nên hiểu thế nào? Đáp: Dựa vào ý thích của sư Du-già mà nói, nghĩa là người quán hành có ý thích như vậy: Mình nên Tưởng bên trong không có sắc-quán xét sắc bên ngoài. Tùy theo ý ấy mà nói. Nhưng vào lúc bấy giờ chỉ quán xét sắc bên ngoài. Có người nói: Dựa vào hành tướng phân biệt ở thời gian trước của người ấy cho nên đưa ra cách nói này, nghĩa là sư Du-già trước đó khởi lên hành tướng phân biệt như vậy: Mình nên như vậy và như vậy dấy lên Tưởng bên trong không có sắc-quán xét sắc bên ngoài, và lúc tu quán chỉ quán về sắc bên ngoài. Có người nói: Văn này dựa vào lúc tu gia hạnh thành tựu đầy đủ mà nói, đó là Tưởng bên trong không có sắc, là nói về lúc gia hạnh của căn thiện này; quán xét sắc bên ngoài , là nói về lúc thành tựu đầy đủ căn thiện này, chứ không phải là ở trong một lúc có hai cách hiểu. Có người nói: Văn này dựa vào nghĩa cuối cùng(nghĩa chí) mà nói, đó là nếu nghĩa cuối cùng là Tưởng bên trong không có sắc thì quán xét sắc bên ngoài, nếu nghĩa cuối c ùng là quán xét sắc bên ngoài thì Tưởng bên trong không có sắc, chứ không phải là đối với một Giác có hai cách hiểu. Có người nói: Tưởng bên trong không có sắc, là nói về sở y; quán xét sắc bên ngoài, là nói về sở duy ên, không phải là đối với sở duyên cùng khởi lên hai cách hiểu. Có Sư khác nói: Nếu lúc da áy lên Tưởng bên trong không có sắc, thì ngay lúc ấy cũng quán xét sắc bên ngoài. Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao một Giác không dấy lên mà hiểu theo hai cách hiểu sai biệt? Đáp: Tuy dấy lên hai cách hiểu mà không trái ngược nhau, cho nên không có gì sai. Cách nói này không hợp lý, bởi vì hai tướng Có-Không hoàn toàn trái ngược lẫn nhau, vì vậy cho nên như trước đã nói là hợp lý. Như Đức Thế Tôn nói: “Có Tưởng trừ bỏ sắc…” Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 136 669 www.daitangkinh.org ra. Đáp: Đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói rộng Có người nói: Vì muốn phân biệt về nghĩa trong kinh, nghĩa là trong kinh nói Tưởng trừ bỏ sắc(trừ sa éc tưởng), mà không giải thích rộng ra, nay cần phải giải thích về điều ấy, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Thế nào là Tưởng trừ bỏ sắc? Đáp: Nghĩa là có Tỳ kheo dấy khởi Thắng giải như vậy: Nay thân này của mình sắp chết, đã chết sắp đưa lên xe, đã đưa lên xe sắp chuyển đến bãi tha ma, đã chuyển đến bãi tha ma sắp đặt xuống đất, đã đặt xuống đất sắp bị các loài giòi bọ ăn th ịt, đã bị các loài giòi bọ ăn thịt, các loài giòi bọ này sắp phân tán, đã phân tán. Người ấy đến cuối cùng không thấy thân của mình, cũng không thấy giòi bọ, đó gọi là Tưởng trừ bỏ sắc. Nghĩa là người ấy nhờ vào lực của nhiều Thắng giải trước đây, không thấy tướng của thân, lại cũng không thấy tướng của các loài giòi bọ bên ngoài rúc rỉa làm hại thân bên trong. Lại có Tỳ kheo dấy khởi Thắng giải như vậy: Nay thân này của mình sắp chết, đã chết sắp đưa lên xe, đã đưa lên xe sắp chuyển đến bãi tha ma, đã chuyển đến bãi tha ma sắp đưa lên giàn củi, đã đưa lên giàn củi sắp bị lửa đốt cháy, đã bị lửa đốt cháy, lửa đốt cháy thi thể này sắp tắt, đã tắt. Người ấy đến cuối cùng không thấy thân của mình, cũng không thấy lửa, đó gọi là Tưởng trừ bỏ sắc. Nghĩa là người ấy nhờ vào lực của nhiều Thắng giải trước đây, không thấy tướng của thân, lại cũng không thấy các tướng của lửa bên ngoài hừng hực làm hại thân bên trong. Lại có Tỳ kheo dấy khởi Thắng giải như vậy: Nay thân này của mình thật là giả tạo, như băng tuyết-hoặc là đụn băng tuyết, như đường bột-hoặc là như nhúm đường bột, như bơ chưa chín-hoặc là như cục bơ chưa chín, sắp bị lửa đun nóng, đã bị lửa đun nóng sắp tan chảy, đã tan chảy, lửa có thể đun nóng tan chảy này sắp tắt, đã tắt. Người ấy đến cuối cùng không thấy thân của mình, cũng không thấy lửa, đó gọi là Tưởng trừ bỏ sắc. Nghĩa là người ấy nhờ vào lực của nhiều Thắng giải trước đây, không thấy tướng của th ân, lại cũng không thấy các tướng của lửa bên ngoài hừng hực làm hại thân bên trong. Ba loại thí dụ như đụn băng tuyết…, tùy theo phương hướng sai biệt như trước nên biết. Hỏi: Sư Du-già ấy từng thấy các tướng như vậy ở nơi nào mà nay quán xét? Đáp: Bởi vì người ấy đã từng làm người chăm sóc bệnh cho người 670 BỘ TỲ ĐÀM 5 cùng Phạm hạnh, từng thấy Đại chủng của Tỳ kheo biến đổi, từ bỏ các loại ăn uống, rên rỉ đau đớn, tuy có t huốc thang chữa trị mà lại càng thêm nặng, thậm chí dần dần khốn đốn, mồ hôi tuôn chảy dầm dề, hơi thở hổn hển gấp gáp, trong chốc lát mạng sống kết thúc, tẩm liệm thi hài đưa lên xe tang, bạn bè đồng học đau xót tiễn đưa đến nơi mai táng. Nếu nơi đưa đến khó có được củi đốt, thì đặt vào trong hố sâu buồn bã tiễn biệt mà quay về. Hôm sau lại đến nhì n thấy thi hài ấy, đã bị chồn sói- diều quạ-chó đói ăn thịt, trong chốc lát từ xa nhìn thấy xương thịt đều không còn, tất cả chim thú bỗng nhiên tản đi mọi nơi, chỗ ấy vắng vẻ hoang vu. Nếu nơi củi đốt dễ dàng có được, thì chất củi gỗ để an trí thi hài ấy, dùng lửa đốt cháy trong giây lát đều cháy sạch, một lúc sau lửa tắt, lặng lẽ không còn gì nữa. Sư Du-già ấy cố gắng giữ lấy các loại tướng trạng như vậy rồi, nhanh chóng trở về nơi cư trú rửa tay chân-trải chỗ ngồi, ngồi kiết già điều tâm giữ thân ngay thẳng, khiến cho không còn đau buồn, lìa xa các phiền não ngăn che, do có năng lực có thể nhớ lại các tướng trạng đã giữ lấy lúc trước, dùng lực của Thắng giải quán tưởng thấy thân của mình, theo thứ tự có các tướng đã nhìn thấy trước đây. Nếu không từng làm người chăm sóc nuôi nấng người bệnh, thì người ấy vào một lúc nhìn thấy đụn băng tuyết… dần dần bị lửa làm cho tan chảy, cho đến lúc cuối cùng hoàn toàn không còn thấy gì nữa, giữ lấy tướng này rồi dùng lực của Tha éng giải quán tưởng thấy thân của mình, theo thứ tự có các tướng đã nhìn thấy trước đây. Nhờ vào duyên này cho nên các sư Du-già đối với th ân của mình khởi lên Thắng giải ấy. Hỏi: Phần vị quán sát như vậy không giống nhau, đối với các pháp quán thì do những pháp quán nào thâu nhiếp? Đáp: Là Tưởng trừ bỏ sắc và gia hạnh này, cùng với gia hạnh này do gia hạnh thâu nhiếp, nghĩa là không thấy thân của mình-không thấy giòi bọ và lửa cháy, phần vị sa u cùng này do Tưởng trừ bỏ sắc thâu nhiếp. Nếu không thấy thân của mình mà thấy giòi bọ và lửa cháy, thì Tưởng trừ bỏ sắc do gia hạnh thâu nhiếp. Nếu hãy còn thấy thân của mình và cũng thấy giòi bọ-lửa cháy, thì gia hạnh này do gia hạnh thâu nhiếp. Có người đưa ra cách nói này: Là do Tưởng trừ bỏ sắc và Giải thoát thứ nhất- thứ hai thâu nhi ếp, nghĩa là không thấy thân của mình và không thấy giòi bọ-lửa cháy, là Tưởng trừ bỏ sắc; nếu không thấy thân của mình mà thấy giòi bọ-lửa cháy, là Giải thoát thứ hai; nếu hãy SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 136 671 www.daitangkinh.org còn thấy thân của mình và cũng thấy giòi bọ- lửa cháy, là Giải thoát thứ nhất. Có Sư khác nói: Hiển bày về ba căn thiện, nghĩa là không thấy thân của mình và không thấy giòi bọ-lửa cháy, đây là hiển bày về phẩm Thượng; nếu không thấy thân của mình ma ø thấy giòi bọ-lửa cháy, đây là hiển bày về phẩm Trung; nếu hãy c òn thấy thân của mình và cũng thấy giòi bọ-lửa cháy, đây là hiển bày về phẩm Hạ. 672 BỘ TỲ ĐÀM 5 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt