A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 138
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
因相應法。與因相應法。為幾緣。答因。等無 間。所緣。增上。因者。五因。謂相應。俱有。同類。 遍行。異熟。等無間者。謂因相應法等無間。因 相應法現在前。所緣者。謂因相應法。與因相 應法。為所緣。增上者。謂不礙生。及唯無障。 因相應法。與因不相應法為幾緣。答因等 無間增上。因者四因。謂俱有。同類。遍行。異 熟。等無間者。謂因相應法等無間。因不相應 法現在前。即無想等至。滅盡等至。是心心所 等無間法故。增上者如前說。非所緣者。因不 相應法無所緣故。因不相應法。與因不相應 法。為幾緣。答因。增上。因者四因。謂俱有同 類。遍行。異熟。增上者如前說。因不相應法。 與因相應法。為幾緣。答因。所緣。增上。因者。 四因。謂俱有。同類。遍行。異熟。所緣者。謂因 不相應法。與因相應法。為所緣。增上者如 前說。非等無間者。因不相應法非等無間緣 故。 有所緣法。與有所緣法。為幾緣。答因等無 間所緣增上。因者五因。謂相應。俱有。同類。 遍行。異熟。等無間者。謂有所緣法等無間。有 所緣法現在前。所緣者。謂有所緣法。與有所 緣法。為所緣。增上者如前說。有所緣法。與 無所緣法。為幾緣。答因等無間增上。因者四 因。謂俱有。同類。遍行。異熟。等無間者。謂有 所緣法等無間。無所緣法現在前。即無想等 至。滅盡等至。是心心所等無間法故。增上者 如前說。非所緣者。無所緣法無所緣故。無所 緣法。與無所緣法。為幾緣。答因。增上。因者 四因。謂俱有。同類。遍行。異熟。增上者如前 說。無所緣法。與有所緣法。為幾緣。答因所 緣增上。因者四因。謂俱有。同類。遍行。異熟。 所緣者。謂無所緣。與有所緣法。為所緣。增 上者如前說。非等無間者。無所緣法非等無 間緣故有色法。與有色法。為幾緣。答因增 上。因者三因。謂俱有。同類。異熟。增上者如 前說。有色法。與無色法。為幾緣。答因所緣 增上。因者三因。謂俱有。同類。異熟。所緣者。 謂有色法。與無色法。為所緣。增上者如前 說。非等無間者。以有色法非等無間緣故。 無色法。與無色法。為幾緣。答因等無間所緣 增上。因者五因。謂相應等五。等無間者。謂無 色法等無間。無色法現在前。所緣者。謂無色 法。與無色法為所緣。增上者如前說。無色 法。與有色法。為幾緣。答因。增上。因者四因。 謂俱有同類。遍行。異熟。增上者如前說。有 見無見有對無對說亦如是。差別者。有見法。 與有見法。為二因。謂同類。異熟。餘皆如前 說。有漏法。與有漏法。為幾緣。答因等無間 所緣增上。因者五因。謂相應等五。等無間者。 謂有漏法等無間。有漏法現在前。所緣者。謂 有漏法。與有漏法。為所緣。增上者如前說。 有漏法與無漏法。為幾緣。答等無間所緣增 上。等無間者。謂有漏法等無間。無漏法現在 前。所緣者。謂有漏法。與無漏法為所緣。即 苦集忍智品心心所法。增上者如前說。非因 者。以因如種子。非有漏法。與無漏法為種 子故。無漏法。與無漏法為幾緣。答因等無 間所緣增上。因者三因。謂相應。俱有。同類。 等無間者。謂無漏法等無間。無漏法現在前。 所緣者。謂無漏法。與無漏法。為所緣。即滅 道忍智品心心所法。增上者如前說。無漏法。 與有漏法。為幾緣。答等無間。所緣。增上。等 無間者謂無漏法等無間。有漏法現在前。所 緣者。謂無漏法。與有漏法。為所緣。增上者 如前說。非因者。以因如種子。非無漏法。與 有漏法為種子故。有為法。與有為法。為 幾緣。答因等無間所緣增上。因者五因。謂相 應等五。等無間者。謂有為法等無間。有為法 現在前。所緣者。謂有為法。與有為法。為所 緣。增上者如前說。有為法。與無為法。為 幾緣。答無。無為法。與無為法。為幾緣。答 無。無為法。與有為法。為幾緣。答所緣。增 上。所緣者。謂無為法。與有為法。為所緣。 增上者如前說。問何故有為法。有因有緣。 無為法。無因無緣耶。答諸有為法性羸劣 故。藉諸因緣。無為法強盛不藉因緣。如劣 者依他。強者不依。此亦如是。有說。諸有為 法有作用故假諸因緣。無為法無作用故 不假因緣。如刈者須鎌。掘者須鍤。無所 作者則無所須。此亦如是。有說諸有為法 行世取果作用。了境故須因緣。無為法無如 是事故不須因緣。如遠行者則須資糧。不 行不須。此亦如是。有說。有為如王亦如 眷屬故有因緣無為如王不如眷屬故無 因緣。如王王眷屬。富貴者富貴者眷屬。帝釋 帝釋眷屬。當知亦爾。 問諸有為法有時不生誰作留難。為有為法。 無為法耶。答諸有為法為作留難。非無為 法。以無為法恒與有為作能作因。及增上 緣。於生不生俱無障故。如泉池側師子口 等。水不流時自有餘緣非此為障。問諸無 為法。與有為法作增上緣及所緣緣。於能 緣不能緣作增上緣。有勝劣不。答增上緣 義等無差別。若緣不緣皆無障故。所緣緣義 則有差別。於能緣者作所緣緣。於不能緣。 則便不作諸纏所纏續地獄有。乃至廣說。所 說有聲義有多種。如結蘊廣說。此中說續 眾同分。有情數五蘊名有。然相續有五。一 中有相續。二生有相續。三分位相續。四法相 續。五剎那相續。中有相續者。謂死有蘊滅。中 有蘊起。中有續死有名中有相續。生有相 續者。謂中有蘊滅生有蘊起。生有續中有名 生有相續。分位相續者。謂羯邏藍位蘊滅頞 部曇位蘊起。乃至中年位蘊滅老年位蘊起。 皆以後位續前位名分位相續。法相續者。 謂善法等無間。染或無記法現在前。染法等 無間。善或無記法現在前。無記法等無間。善 或染法現在前。皆以後法續前法名法相 續。剎那相續者。初剎那蘊等無間。第二剎那 蘊現在前。後剎那續前剎那名剎那相續。 此五皆入二相續中。謂法相續剎那相續。皆 不離法及剎那故。界分別者。欲界具五。色 界有四除分位。無色界有三又除中有。趣 分別者。地獄有四除分位。餘趣具五。生分 別者。一切具五。於此五相續中。依二相續 而作論。謂中有生有。 諸纏所纏續地獄有。最初所得諸根大種。彼 諸根大種。與彼心心所法為幾緣。答一增 上。即彼心心所法。與彼諸根大種為幾緣 答一增上。諸纏所纏續傍生有鬼有人有天 有。最初所得諸根大種。彼諸根大種。與彼心 心所法為幾緣。答一增上。即彼心心所法。 與彼諸根大種為幾緣。答一增上。問若彼 心心所法。不緣彼諸根大種而結生者。可 說彼諸根大種。與彼心心所法。但一增上。 若彼心心所法。緣彼諸根大種。而緣生者。 彼諸根大種。與彼心心所法便為二緣。謂 所緣增上。何故定答但一增上。答亦應說 二而不說者當知此義有餘。有說此中說 決定者。謂增上緣則定。所緣緣不定。是以不 說。有說此中說互有者。謂根大種與心心 所展轉為增上緣。是以則說非心心所與 根大種為所緣緣。是故不說。有說此中說 相資者。謂彼根大與心心所更互相資增 上義勝。所緣不爾。隨緣何法皆得起故。是 以不說。 生欲界入有漏初靜慮。乃至非想非非想 處。長養諸根增益大種。彼諸根大種與彼 心心所法為幾緣。答一增上。即彼心心所 法與彼諸根大種為幾緣。答一增上。問彼 心心所法。若緣餘法而入定者可如所說。 若即緣彼諸根大種而入定者則有二緣。何 故乃說但一增上。答應說而不說者當知 此義有餘。有說。此中說決定者。所緣不定 是故不說。有說。此中說互有者。所緣不爾 是故不說。有說。此中說相資者。謂心心所 與彼根大更互相資增上義勝。所緣不爾隨 緣何法。皆得生起是故不說。問入諸靜慮 長益根大與入無色差別云何。答靜慮長 益多而非妙。如縛喝國食無色長益妙而 非多。如中印度食。 生欲界入無漏初靜慮。乃至無所有處。長 養諸根增益大種。彼諸根大種與彼心心所 法為幾緣。答一增上。即彼心心所法與彼 諸根大種為幾緣。答一增上。此中不說所 緣緣義。及靜慮無色長益差別。如前應知。 問入有漏靜慮。無色長益根大。與入無漏 差別云何。答有漏長益多而非妙。無漏長益 妙而非多二喻如前。 生色界入有漏初靜慮。乃至非想非非想 處。長養諸根。增益大種。彼諸根大種與彼 心心所法為幾緣。答一增上。即彼心心所 法與彼諸根大種為幾緣。答一增上。生色 界入無漏初靜慮。乃至無所有處。長養諸 根。增益大種。彼諸根大種與彼心心所法 為幾緣。答一增上。即彼心心所法與彼諸 根大種為幾緣。答一增上。此中不說所緣。 及靜慮無色。有漏無漏長益差別皆如前說 有執受是何義。答此增語所顯墮自體法。無 執受是何義。答此增語所顯非墮自體法。然 多處說有執受言。謂此中說有執受是何義。 謂墮自體法契經復說。 有執受苦蘊便引生眾苦 謂生苦老苦病苦及死苦 有經復說。無聞異生長夜修治有執受我餘 經復說。況於此身暫停住中有執受。品類 足說。九處少分名有執受。識身論說。有執受 蘊是慈所緣。問如是諸說義有何異。答此中 說內身所攝五蘊名有執受。初契經說續眾 同分。有情數五蘊名有執受。次契經說無始 時來身見事五蘊。名有執受。後契經說。內身 所攝色蘊。名有執受。品類足說一剎那。九處 少分名有執受。識身論說一剎那。五蘊少分 名有執受。有說品類足。識身論說一剎那 有情數。九處少分名有執受。有說。二論說 一剎那有根所攝。九處少分名有執受。有說。 二論說一剎那異熟所攝。九處少分名有執 受。是名差別。問慈何故但緣色。答初修時 緣色。成時緣五蘊。西方師說。有執受有四 種。一身有執受。二相續有執受。三眾同分有 執受。四世俗施設有執受。身有執受者。謂初 經所說有執受。苦蘊相續有執受者。如說我 有根身相續執受。眾同分有執受者。如說我 有根身眾同分執受。世俗施設有執受者。如 說我執受如是重擔。如是事業。此中說內 身五蘊名有執受。此所不攝法是無執受 問如前所說。有執受無執受其相云何。答 有說。若與血肉筋骨相雜住者名有執受。 與此相違名無執受。有說。於彼斫刺破裂 時。生苦痛捨擔名有執受。與此相違名無 執受。尊者妙音作如是說。若法已生未滅有 情數。是有對非所聞名有執受。已生者簡未 來。未滅者遮過去。有情數者遮非有情數。 是有對者遮意處法處。非所聞者遮聲處。 與此相違名無執受。尊者左取作如是言。 若法有方分。有情數繫屬身。是有對可牽可 斥名有執受。有方分者遮過去未來。有情 數者。遮非有情數。繫屬身者。遮身所出。謂 髮毛等。是有對者。遮意處法處。可牽可斥 者。遮聲處。與此相違名無執受。 問十二處中。幾有執受。幾無執受。答若生欲 界九處少分。是有執受。三處全。九處少分。是 無執受。三處謂聲處意處法處。若生色界七 處少分。是有執受。三處全。七處少分。是無執 受。三處如前說。 問於此身中。三十六種諸不淨物。幾有執受。 幾無執受。答髮毛爪齒根有執受。餘無執受。 皮膽腦血生有執受。朽無執受。骨肉筋脈心 肺脾腎肝腸胃膜脂髓腦胲生熟二藏皆有執 受。膏膿淡飲洟唾淚汗屎尿塵垢皆無執 受順取是何義。答此增語所顯。有漏法非順 取是何義。答此增語所顯無漏法。問何故有 漏法名順取。答有說。此法從取生。能生取 故名順取。有說。此法從取轉。能轉取故名 順取。有說。此法取所引能引取故名順取。 有說。此法取所長養。能長養取故名順取。 有說。此法取所增廣。增廣於取故名順取。 此增廣言顯滋蔓義。有說。此法繫屬於取。 故名順取。如屬王者名為順王。由內無 我。若有問言。汝屬於誰。答言屬取。有說。諸 取於此法中。將生已生。將執已執。將住已 住。故名順取。有說。諸取於此法中。將長養 已長養故名順取。有說。諸取於此法中。將 增廣已增廣。故名順取。有說。諸取於此堅 著。如濕膩物塵垢隨著。故名順取。有說。諸 取於此樂住。如魚蝦蟇樂處水中。故名順 取有說。此法為取舍宅安立足處。故名順 取。謂依此法。一切愛慢見疑瞋癡。諸纏垢等 皆生長故。諸有漏法由同分取。得順取名 非異分取。謂欲界法由欲界取。色界法由 色界取。無色界法由無色界取。初靜慮地法。 由初靜慮地取。乃至非想非非想地法。由非 想非非想地取。以有漏法界地無雜故。若 依相續則有雜義。謂由自身取他身法得 順取名。由他身取自身法得順取名。若不 爾外法應非順取。外無取故。 順結是何義。答此增語所顯。有漏法非順結 是何義。答此增語所顯無漏法。廣釋順結非 順結義如前順取。非順取說。 見處是何義。答此增語所顯。有漏法非見處。 是何義。答此增語所顯無漏法。然見處聲說 有多處謂此中說。見處是何謂有漏法俱。迦 捺陀契經復說。諸所有見諸所有見處。諸所 有見纏。諸所有見等起。諸所有見損害。世尊 一切悉知悉見。此中見者謂五見。見處者謂 見所緣。見纏者謂見現行。見等起者謂見因。 見損害者謂見滅。世尊一切悉知悉見者謂 見對治。有作是說。見見處見纏謂苦諦。見 等起謂集諦。見損害謂滅諦。世尊一切悉知 悉見謂道諦。阿羅揭陀喻經。復說有六見處。 謂諸所有色。若過去若未來若現在廣說。乃 至苾芻。應以正慧觀彼一切非我我所。勿 起我慢。諸所有受。乃至廣說。諸所有想。乃 至廣說。諸有見聞覺知若得若求。意隨尋伺。 乃至廣說。諸有此見。有我有有情有世間。 常恒凝住無變易法正如是住。乃至廣說。諸 有此見。我應不有。我應非有。我當不有。我 當非有。苾芻應以正慧觀彼一切非我我 所。勿起我慢。苾芻應於如是見處取處等。 隨觀察無我我所。若能如是則於世間無 所執受。乃至廣說。此中諸所有色受想者。 即色受想蘊。諸有此見有我有情。乃至廣 說。諸有此見我應不有。乃至廣說者。謂行 蘊諸有見聞覺知等。謂識蘊。問見聞覺知其 義已具。若得若求意隨尋伺。更何所顯。答 前廣今略。前別今總。前開今合。前漸今頓。是 謂所顯防諸漏經復作是說。於六見處不 正思惟。則於內身隨起一執。諦故住故我 有我諦故。住故我無我。我見我。我見無我 無我見我。或此有我。有有情。有命者。有 生者。有養者。有補特伽羅。有意生。有摩納 婆。或無曾當現。於彼彼處已作未作諸善 惡業受異熟果。問如是四處說見處聲有 何差別。答有說。此中所說見處顯一切有漏 法。初經所說見處。總顯五見。第二經所說見 處。顯見及離見法。第三經所說見處。顯有 身見邊執見。有說。此及初二經所說見處。總 顯五取蘊。第三經所說見處。但顯行蘊少 分。有說。此及初二經。通顯相應不相應法。 第三經。唯顯相應法。如相應不相應。有所 依無所依。有行相無行相。有所緣無所緣。有 警覺無警覺亦爾。有說此及初二經。通顯有 色無色法。第三經。唯顯無色法。如有色無 色。有見無見。有對無對亦爾。有說。此及初二 經通顯染不染法。第三經。唯顯染法。如染 不染。有罪無罪。有覆無覆。黑白。纏非纏。亦 爾。有說。此及初二經。通顯見修所斷法。第 三經。唯顯見所斷法。如見所斷。修所斷。無 事有事。忍對治。智對治亦爾。有說。此及初二 經。通顯善不善無記法。第三經。唯顯無記 法。有說。此及初二經。通顯有異熟無異熟 法。第三經。唯顯無異熟法。 問諸有漏法。由何見故說名見處。答有說。 由有身見邊執見故說為見處。此二但緣 自地境故。有說。由四見故謂除邪見。由此 四種有漏緣故。如是說者。由五見故得見 處名。問若爾滅道應名見處邪見境故。答 見處有二。一所緣處。二隨眠處。具此二義 乃名見處。滅道雖是邪見所緣處。非隨眠 處故不名見處。有說。見處有二。一所緣處。 二相應處。具此二義。立見處名。滅道雖是 見所緣處。非相應處。由此不得名為見處 若法是內彼法內處攝耶。乃至廣說。問何故 作此論。答彼作論者意欲爾故。隨彼意欲 而作論。但不違法相便不應責。有作是 說。為止他宗顯己義故。謂有異宗說內 外法皆非實有。今遮彼意。明內外法皆是 實有故作斯論。然內外法差別有三。一相 續內外。謂在自身名為內。在他身及非有 情數名為外。二處內外。謂心心所所依名 內。所緣名外。三情非情內外。謂有情數法 名內。非有情數法名外。此中但依相續。為 論。 若法是內。彼法內處攝耶。答應作四句。有 法是內。非內處攝。如說於內受內法住。修 法觀。彼法是內者在自身故。非內處攝者。 非心心所所依故。應知此中亦攝自身色 等五境。有法內處攝非是內。如說於外身 外心住。修心觀。彼法內處攝者。是心心所 所依故。非內者非在自身故。應知此中亦 攝他身眼耳鼻舌。有法是內。亦內處攝。如 說於內身內心住。修心觀彼法是內者。在 自身故。亦內處攝者。心心所所依故。應知此 中亦攝自身眼耳鼻舌。有法非是內非內 處攝。如說於外受外法住。修法觀彼法非 內者。非在自身故。非內處攝者。非心心 所所依故。應知此中亦攝他身等色等五境 若法是外彼法外處攝耶。答應作四句。有 法是外非外處攝。如說於外身外心住。修 心觀彼法是外者。在他身故。非外處攝者。 非唯心心所所緣故。應知此中亦攝他身 眼耳鼻舌。有法外處攝非外。如說於內受 內法住。修法觀。彼法外處攝者。唯心心所 所緣故。非外者。非在他身。及非有情數故。 應知此中亦攝自身色等五境。有法是外 亦外處攝。如說於外受外法住。修法觀。彼 法是外者。在他身及非有情數故。亦外處 攝者。唯心心所所緣故。應知此中亦攝他身 等色等五境。有法非外非外處攝。如說於 內身內心住。修心觀。彼法非外者。非在 他身。及非有情數故。非外處攝者。非唯心 心所所緣故。應知此中亦攝自身眼耳鼻 舌。
Việt dịch
QUYỂN 138 LUẬN VỀ CHẤP THỌ (Phần 2) Hỏi: Pháp tương ưng với nhân cùng Pháp tương ưng với nhân, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Tương ưng, Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Đẳng vô gián, đó là pháp tương ưng với nhân đẳng vô gián, pháp tương ưng với nhân hiện rõ ở trước mắt . Sở duyên, đó là pháp tương ưng với nhân làm sở duyên cho pháp tương ưng với nhân. Tăng thượng, đó là không ngăn cản đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại. Hỏi: Pháp tương ưng với nha ân cùng Pháp không tương ưng với nhân, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Đẳng vô gián, đó là pháp tương ưng với nhân đẳng vô gián, pháp không tương ưng với nhân hiện rõ ở trước mắt, tức là Đẳng chí Vô tưởng, Đẳng chí Diệt tận, là pháp của tâm-tâm sở đẳng vô gián. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là sở duyên, bởi vì pháp không tương ưng với nhân không có sở duyên. Hỏi: Pháp không tương ưng với nhân cùng Pháp không tương ưng với nhân, làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Pháp không tương ưng với nhân cùng Pháp tương ưng với nhân, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Sở duyên, đó là pháp không tương ưng với nhân làm sở duyên cho pháp tương ưng với nhân. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là Đẳng vô gián, bởi vì pháp không SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 138 691 www.daitangkinh.org tương ưng với nhân không phải là Đẳng vô gián duyên. Hỏi: Pháp có sở duyên cùng với Pháp có sở duyên, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là nhân Tương ưng, Câu hữu, Đ ồng loại, Biến hành, Dị thục. Đẳng vô gián, đó là pháp có sở duyên đẳng vô gián, pháp có sở duyên hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp có sở duyên làm sở duyên cho pháp có sở duyên. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Pháp có sở duyên cùng với Pháp không có sở duyên, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Đẳng vô gián, đó là pháp có sở duyên đẳng vô gián, pháp không có sở duyên hiện rõ ở trước mắt, tức là Đẳng chí Vô tưởng, Đẳng chí Diệt tận, là pháp tâm- tâm sở đẳng vô gián. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là sở duyên, bởi vì không có sở duyên của pháp không có sở duyên. Hỏi: Pháp không có sở duyên cùng với Pháp không có sở duyên, làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Pháp không có sở duyên cùng với Pháp có sở duyên, làm mấy nhân? Đáp: Nhân, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Sở duyên, đó là pháp không có sở duyên làm sở duyên cho pháp có sở duyên. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là đẳng vô gián, bởi vì pháp không có sở duyên không phải là đẳng vô gián. Hỏi: Pháp có sắc cùng với Pháp có sắc, làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Pháp có sắc cùng với Pháp không có sắc, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Dị thục. Sở duyên, đó là pháp có sắc làm sở duyên cho pháp không có sắc. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là đẳng vô gián, bởi vì pháp có sắc không phải là đẳng vô gián duyên. Hỏi: Pháp không có sắc cùng với Pháp không có sắc, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm 692 BỘ TỲ ĐÀM 5 nhân, đó là năm nhân như Tương ưng… Đẳng vô gián, đó là pháp không có sắc đẳng vô gián, pháp không có sắc hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp không có sắc làm sở duyên cho pháp không có sắc. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Pháp không có sắc cùng với Pháp có sắc, làm mấy duyên? Đáp: Nhân và Tăng thượng. Nhân là bốn nhân, đó là nhân Câu hữu, Đồng loại, Biến hành, Dị thục. Tăng thượng, nói như trước. Pháp có thấy-không có thấy, c ó đối-không có đối, nói cũng như vậy. Sai biệt là Pháp có thấy cùng với Pháp có thấy, làm hai nhân, đó là nhân Đồng loại- Dị thục; còn lại đều nói như trước. Hỏi: Pháp hữu lậu cùng với Pháp hữu lậu, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Tương ư ng… Đẳng vô gián, đó là pháp hữu lậu đẳng vô gián, pháp hữu lậu hiện r õ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp hữu lậu làm sở duyên cho pháp hữu lậu. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Pháp hữu lậu cùng với Pháp vô lậu, làm mấy duyên? Đáp: Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Đẳng vô gián, đó là pháp hữu lậu đẳng vô gián, pháp vô lậu hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp hữu lậu làm sở duyên cho pha ùp vô lậu, tức là tâm-tâm sở pháp thuộc phẩm Nhẫn trí của Khổ-Tập. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là nhân, bởi vì nhân giống như chủng tử, không phải là pháp hữu lậu làm chủng tử cho pháp vô lậu. Hỏi: Pháp vô lậu cùng với Pháp vô lậu, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là ba nhân, đó là nhân Tương ưng, Câu hữu, Đ ồng loại. Đẳng vô gián, đó là pháp vô lậu đẳng vô gián, pháp vô lậu hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp vô lậu làm sở duyên cho pháp vô lậu, tức là tâm-tâm sở pháp thuộc phẩm Nhẫn trí của Diệt- Đạo. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Pháp vô lậu cùng với Pháp hữu lậu, làm mấy duyên? Đáp: Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Đẳng vô gián, đó là pháp vô lậu đẳng vô gián, pháp hữu lậu hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp vô lậu làm sở duyên cho pháp hữu lậu. Tăng thượng, nói như trước. Không phải là nhân, bởi vì nhân giống như chủng tử, không phải là pháp vô lậu làm chủng tử cho pháp hữu lậu. Hỏi: Pháp hữu vi cùng với Pháp hữu vi, làm mấy duyên? Đáp: Nhân, Đẳng vô gián, Sở duyên, Tăng thượng. Nhân là năm nhân, đó là năm nhân như Tương ưng… Đẳng vô gián, đó là pháp hữu SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 138 693 www.daitangkinh.org vi đẳng vô gián, pháp hữu vi hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là pháp hữu vi làm sở duyên cho pháp hữu vi. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Pháp hữu vi cùng với Pháp vô vi, làm mấy duyên? Đáp: Không có. Hỏi: Pháp vô vi cùng với Pháp vô vi, làm mấy duyên? Đáp: Không có. Hỏi: Pháp vô vi cùng với Pháp hữu vi, làm mấy duyên? Đáp: Sở duyên và Tăng thượng. S ở duyên, đó là pháp vô vi làm sở duyên cho pháp hữu vi. Tăng thượng, nói như trước. Hỏi: Vì sao Pháp hữu vi có nhân-có duyên, Pháp vô vi không có nhân-không có duyên? Đáp: Bởi vì tánh của các pháp hữu vi yếu kém, cho nên dựa vào các nhân duyên; pháp vô vi mạnh mẽ không dựa vào nhân duyên. Như người kém cỏi dựa vào người khác, người mạnh khỏe thì không dựa vào ai cả; ở đây cũng như vậy. Có người nói: Các pháp hữu vi có tác dụng cho nên dựa vào các nhân duyên, pháp vô vi không có tác dụng cho nên không dựa vào nhân duyên. Như người cắt cỏ thì cần đến cái liềm, người đào đất thì cần đến cái thuổng, người không làm gì thì không cần đến gì cả; ở đây cũng như vậy. Có người nói: Các pháp hữu vi hiện hành giữa thế gian với tác dụng chọn lấy quả (thủ quả), hiểu rõ về cảnh cho nên cần đến nhân duyên, pháp vô vi không có sự vi ệc như vậy cho nên không cần đến nhân duyên. Như người đi xa thì cần đến lương thực, không đi thì không cần đến; ở đây cũng như vậy. Có người nói: Hữu vi như Vua cũng như quyến thuộc cho nên có nhân duyên, vô vi như Vua mà không như quyến thuộc cho nên không có nhân duyên. Như Vua và quyến thuộc của Vua, người giàu sang và quyến thuộc của người giàu sang, Đ ế Thích và quyến thuộc của Đế Thích, nên biết cũng như vậy. Hỏi: Các pháp hữu vi có lúc không sinh khởi thì pháp nào làm trở ngại, là pháp hữu vi hay là pháp vô vi? Đáp: Các pháp hữu vi làm cho trở ngại, không phải là pháp vô vi, bởi vì pháp vô vi luôn luôn làm nhân Năng tác và duyên Tăng thượng cho pháp hữu vi, đối với sinh khởi hay không sinh khởi đều không có chướng ngại, như miệng sư tử… ở bên suối hồ, lúc nước không chảy thì tự nhiên có duyên khác chứ không phải là miệng của những loài này làm chướng ngại. 694 BỘ TỲ ĐÀM 5 Hỏi: Các pháp vô vi cùng với pháp hữu vi làm Tăng thượng duyên và Sở duyên duyên, đối với duyên tự động-duyên không tự động làm Tăng thượng duyên, có mạnh-yếu hay không? Đáp: Nghĩa về Tăng thượng duyên như nhau chứ không có gì sai biệt, bởi vì nếu duyên hay không duyên đều không có gì chướng ngại; nghĩa về Sở duyên duyên thì có sai biệt, đối với duyên tự động thì làm Sở duyên duyên, đối với duyên không tự động thì sẽ không làm. Các triền-sở triền nối tiếp Hữu (nẽo, loài) địa ngục. Cho đến nói rộng ra. Đã nói đến thanh Hữu thì nghĩa có nhiều loại, như trong chương Kiết Uẩn nói rộng ra. Trong này nói đến Chúng đồng phần nối tiếp, năm Uẩn thuộc số hữu tình gọi là Hữu. Nhưng nối tiếp nhau có năm loại: 1. Trung hữu nối tiếp nhau. 2. Sinh hữu nối tiếp nhau. 3. Phần vị nối tiếp nhau. 4. Pháp nối tiếp nhau. 5. Sát na nối tiếp nhau. Trung hữu nối tiếp nhau, nghĩa là Ua ån của Tử hữu diệt đi, Uẩn của Trung hữu khởi lên, Trung hữu nối tiếp Tử hữu gọi là Trung hữu nối tiếp nhau. Sinh hữu nối tiếp nhau, nghĩa là Uẩn của Trung hữu diệt đi, Uẩn của Sinh hữu khởi lên, Sinh hữu nối tiếp Trung hữu gọi là Sinh hữu nối tiếp nhau. Phần vị nối tiếp nhau, nghĩa là Uẩn của phần vị Yết-la-lam diệt đi, Uẩn của phần vị Át-bộ-đàm kh ởi lên, cho đến Uẩn của phần vị Trung niên diệt đi, Uẩn của phần vị Lão niên khởi lên, đều lấy phần vị sau nối tiếp phần vị trước gọi là Phần vị nối tiếp nhau. Pháp nối tiếp nhau, nghĩa là pháp thiện đẳng vô gián, pháp nhiễm ô hoặc là pháp vô ký hiện rõ ở trước mắt; pháp nhiễm ô đẳng vô gián, pháp thiện hoặc là pháp vô ký hiện rõ ở trước mắt; pháp vô ký đẳng vô gián, pháp thiện hoặc là pháp nhiễm ô hiện rõ ở trước mắt, đều lấy pháp sau nối tiếp pháp trước gọi là Pháp nối tiếp nhau. Sát-na nối tiếp nhau, nghĩa là Uẩn của sát-na thứ nhất đẳng vô gián, Uẩn của sát-na thứ hai hiện rõ ở trước mắt, sát-na sau nối tiếp sát- na trước gọi là Sát-na nối tiếp nhau. Năm loại này đều đưa vào trong hai sự nối tiếp nhau, đó là Pháp nối tiếp nhau và Sát-na nối tiếp nhau, bởi vì đều không tách rời Pháp SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 138 695 www.daitangkinh.org và Sát-na. Cõi (giới) phân biệt, cõi Dục có đủ năm loại, cõi Sắc có bốn loại trừ ra Phần vị, cõi Vô sắc có ba loại lại trừ ra Trung hữu. Nẽo (thú) phân biệt, địa ngục có bốn loại trừ ra Phần vị, nẽo còn lại có đủ năm loại. Sinh phân biệt, tất cả đều có đủ năm loại. Ở trong năm loại nối tiếp nhau này, dựa vào hai loại nối tiếp nhau mà soạn luận, đó là Trung hữu và Sinh hữu. Hỏi: Các triền-sở triền nối tiếp loài địa ngục, lúc đầu đã có được Đại chủng của các căn, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cu øng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Các triền-sở triền nối tiếp loài bàng sinh, loài quỷ, loài người, loài trời, lúc đầu đã có được Đại chủng của các căn, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cu øng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Nếu tâm-tâm sở pháp ấy, không duyên với Đại chủng của các căn ấy mà đầu thai (kiết sinh), thì có thể nói Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, chỉ là một Tăng thượng; nếu tâm-tâm sở pháp ấy, duyên với Đại chủng của cá c căn ấy mà đầu thai, thì Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm- tâm sở pháp ấy sẽ làm hai duyên, đó là Sở duyên và Tăng thượng. Vì sao nhất định trả lời chỉ là một Tăng thượng? Đáp: Cũng cần phải nói là hai mà không nói đến thì nên biết nghĩa này có khác. Có người nói: Trong này nói về quyết định, nghĩa là Tăng thượng duyên thì nhất định, Sở duyên duyên thì không nhất định, vì vậy không nói đến. Có người nói: Trong này nói về cùng có, nghĩa là Đại chủng của căn cùng với tâm-tâm sở lần lượt làm Tăng thượng duyên, vì vậy đã nói không phải là tâm-tâm sở cùng với Đại chủng của căn làm Sở duyên duyên, cho nên không nói đến. 696 BỘ TỲ ĐÀM 5 Có người nói: Trong này nói về giúp đỡ lẫn nhau, nghĩa là Đại chủng của căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp lại giúp đỡ lẫn nhau, mạnh hơn về nghĩa của Tăng thượng; Sở duyên thì không như vậy, bởi vì hễ duyên với pháp nào thì cũng có thể sinh khởi, vì vậy không nói đến. Hỏi: Sinh ở cõi Dục tiến vào Tĩ nh lự thứ nhất thuộc hữu lậu, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cu øng với Đại chủng của các căn, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Tâm-tâm sở pháp ấy, nếu duyên với pháp khác mà tiến vào Định thì có thể như đã nói; nếu duyên với chính Đại chủng của các căn ấy mà tiến vào Định thì có hai duyên, tại sao lại nói chỉ là một Tăng thượng? Đáp: Cần phải nói mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Trong này nói về quyết định, Sở duyên thì không nhất định, vì vậy không nói đến. Có người nói: Trong này nói về cùng có, Sở duyên thì không như vậy, cho nên không nói đến. Có người nói: Trong này nói về giúp đỡ lẫn nhau, nghĩa là tâm- tâm sở cùng với Đại chủng của căn ấy, lại giúp đỡ lẫn nhau, mạnh hơn về nghĩa của Tăng thượng; Sở duyên thì không như vậy, hễ duyên với pháp nào thì cũng có thể sinh khởi, vì vậy không nói đến. Hỏi: Tiến vào các Tĩnh lự nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, cùng với tiến vào Vô sắc, sai biệt thế nào? Đáp: Tĩnh lự nuôi lớn-tăng thêm, nhiều mà không phải là diệu, như thức ăn của nước Phược-hát; V ô sắc nuôi lớn-tăng thêm, diệu mà không phải là nhiều, như thức ăn của vùng Trung Ấn Độ. Hỏi: Sinh ở cõi Dục tiến vào Tĩ nh lự thứ nhất thuộc vô lậu, cho đến Vô sở hữu xứ, nuôi lớn các căn- tăng thêm Đại chủng, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cu øng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 138 697 www.daitangkinh.org Trong này không nói đến nghĩa của Sở duyên duyên, và sự sai biệt về nuôi lớn-tăng thêm của Tĩnh lự-Vô sắc, như trước nên biết. Hỏi: Tiến vào Tĩnh lự-Vô sắc thuộc hữu lậu nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, cùng với tiến vào vô lậu, sai biệt thế nào? Đáp: Hữu lậu nuôi lớn-tăng t hêm, nhiều mà không phải là diệu; vô lậu nuôi lớn-tăng thêm, diệu mà không phải là nhiều. Hai thí dụ như trước. Hỏi: Sinh ở cõi Sắc tiến vào Tĩ nh lự thứ nhất thuộc hữu lậu, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cu øng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Sinh ở cõi Sắc tiến vào Tĩnh lự thứ nhất thuộc vô lậu, cho đến Vô sở hữu xứ, nuôi lớn các căn-tăng thêm Đại chủng, Đại chủng của các căn ấy cùng với tâm-tâm sở pháp ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Hỏi: Ngay tâm-tâm sở pháp ấy cu øng với Đại chủng của các căn ấy, làm mấy duyên? Đáp: Một Tăng thượng. Trong này không nói đến Sở duyên, và sự sai biệt về nuôi lớn- tăng thêm của Tĩnh lự-Vô sắc thuộc hữu lậu-vô lậu đều nói như trước. Hỏi: Có chấp thọ là nghĩa gì? Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp rơi vào tự Thể. Hỏi: Không có chấp thọ là nghĩa gì? Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp không phải là rơi vào tự Thể. Nhưng nhiều nơi nói về có chấp thọ, nghĩa là trong này nói có chấp thọ là nghĩa gì? Đó là pháp rơi vào tự Thể. Trong kinh lại nói: “Đối với uẩn khổ có chấp thọ, thì dẫn dắt sinh ra các khổ, Đó là sinh khổ và lão khổ, cùng với bệnh khổ và tử khổ.” Có kinh lại nói: “Không hề nghe dị si nh suốt đời tu sửa về Ngã có chấp thọ.” Kinh khác lại nói: “Huống gì ở tr ong thân này tạm thời dừng lại mà có chấp thọ?” Luận Phẩm Loại Túc nói: “Phần ít của chín Xứ gọi là có chấp 698 BỘ TỲ ĐÀM 5 thọ.” Luận Thức Thân nói: “Uẩn có chấp thọ là sở duyên của Từ.” Hỏi: Nghĩa của các cách nói như vậy có gì khác nhau? Đáp: Trong này nói năm Uẩn do thân bên trong thâu nhiếp, gọi là có chấp thọ. Kinh thứ nhất nói năm Uẩn thuộc về số hữu tình nối tiếp Chúng đồng phần, gọi là có chấp thọ. Kinh thứ hai nói năm Uẩn quan hệ với Thân kiến từ vô thỉ đến nay, gọi là có chấp thọ. Kinh thứ ba nói Sắc uẩn do thân bên trong thâu nhiếp, gọi là có chấp thọ. Luận Phẩm Loại Túc nói phần ít của chín Xứ tr ong một sát-na, gọi là có chấp thọ. Luận Thức Thân nói phần ít của na êm Uẩn trong một sát-na, gọi là có chấp thọ. Có người nói: Luận Phẩm Loại Túc và luận Thức Thân nói phần ít của chín Xứ thuộc về số hữu tình trong một sát-na, gọi là có chấp thọ. Có người nói: Hai luận nói phần ít của chín Xứ do có căn thâu nhiếp trong một sát-na, gọi là có chấp thọ. Có người nói: Hai luận nói phần ít của chín Xứ do dị thục thâu nhiếp trong một sát-na, gọi là có chấp thọ. Đó gọi là sự sai biệt giữa các cách nói. Hỏi: Vì sao Từ chỉ duyên với Sắc? Đáp: Lúc bắt đầu tu thì duyên với Sắc, lúc thành tựu thì duyên với năm Uẩn. Sư phương Tây nói: “Có chấp thọ có bốn loại: 1. Thân có chấp thọ. 2. Nối tiếp nhau có chấp thọ. 3. Chúng đồng phần có chấp thọ. 4. Thế tục thi thiết có chấp thọ. Thân có chấp thọ, đó là kinh thứ nhất đã nói: Đối với uẩn khổ có chấp thọ. Nối tiếp nhau có chấp t họ, như nói Ngã có thân căn nối tiếp nhau chấp thọ. Chúng đồng phần có chấp thọ, như nói Ngã có thân căn Chúng đồng phần chấp thọ. Thế tục thi thiết có chấp thọ, như nói Ngã chấp thọ gánh nặng như vậy, sự nghiệp như vậy.” Trong này nói năm Uẩn bên trong tha ân gọi là có chấp thọ, pháp này vốn không thâu nhiếp thì không có chấp thọ. Hỏi: Như trước đã nói, có chấ p thọ và không có chấp thọ, tướng ấy thế nào? Đáp: Có người nói: Nếu cùng với máu thịt gân xương trú xen lẫn với nhau, thì gọi là có chấp thọ; cùng với điều này trái ngược nhau thì gọi là không có chấp thọ. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 138 699 www.daitangkinh.org Có người nói: Vào lúc thân thể ấy bị cắt đứt rách toác, sinh ra đau đớn rời bỏ gánh nặng, gọi là có chấp thọ; cùng với điều này trái ngược nhau thì gọi là không có chấp thọ. Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Nếu pháp đã sinh- chưa diệt, thuộc về số hữu tình, thì có đối đãi chứ không phải là do nghe mà gọi là có chấp thọ. Đã sinh là gi ản lược vị lai. Chưa diệt là ngăn chặn quá khứ. Thuộc về số hữu tình, la ø ngăn chặn số phi hữu tình. Thì có đối đãi, là ngăn chặn Ý xứ-Pháp xứ. Không phải là do nghe, là ngăn chặn Thanh xứ. Cùng với điều này trái ngược nhau thì gọi là không có chấp thọ.” Tôn giả Tả Thủ đưa ra cách nói như vậy: “Nếu pháp có phạm vi phương hướng, thuộc về số hữu tình-thân hệ thuộc, thì có đối đãi có thể dẫn dắt-có thể rời bỏ, gọi là có chấp thọ. Có phạm vi phương hướng, là ngăn chặn quá khứ-vị lai. Thuộc về số hữu tình, là ngăn chặn số phi hữu tình. Thân hệ thuộc, là ngăn chặn thân đã thoát ra, đó là tóc-lông… Thì có đối đãi, là ngăn chặn Ý xứ -Pháp xứ. có thể dẫn dắt-có thể rời bỏ, là ngăn chặn Thanh xứ. Cùng với điều này trái ngược nhau thì gọi là không có chấp thọ.” Hỏi: Trong mười hai Xứ, mấy Xứ có chấp thọ, mấy Xứ không có chấp thọ? Đáp: Nếu sinh ở cõi Dục thì phần ít của chín Xứ là có chấp thọ; toàn phần của ba Xứ và phần ít của chín Xứ là không có chấp thọ. Ba Xứ, đó là Thanh xứ-Ý xứ-Pháp xứ. Nếu sinh ở cõi Sắc thì phần ít của bảy Xứ là có chấp thọ; toàn phần c ủa ba Xứ và phần ít của bảy Xứ là không có chấp thọ. Ba Xứ, nói như trước. Hỏi: Ba mươi sáu loại các vật bất tịnh ở trong thân này, mấy loại có chấp thọ, mấy loại không có chấp thọ? Đáp: Lông-tóc-răng-móng, căn là có chấp thọ, còn lại là không có chấp thọ. Da-mật-não-máu, sinh là có chấp thọ, mục nát thì không có chấp thọ. Xương-thịt-gân-mạch-tim-phổi -lách-thận-gan-ruột-dạ dày- mô mỡ-tủy não-sinh tạng-thục tạng, đều có chấp thọ; máu mủ-đàm dãi- nước mắt-nước mũi-nước miếng-mồ hôi-nước tiểu-bụi bẩn, đều không có chấp thọ. Hỏi: Thuận theo Thủ là nghĩa gì? Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp hữu lậu. Hỏi: Không thuận theo Thủ là nghĩa gì? Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp vô lậu. Hỏi: Vì sao pháp hữu lậu gọi là thuận theo Thủ? 700 BỘ TỲ ĐÀM 5 Đáp: Có người nói: Pháp này từ Thủ mà sinh ra, có thể sinh ra Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Có người nói: Pháp này từ T hủ mà chuyển, có thể xoay chuyển Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Có người nói: Pháp này do Thủ mà dẫn dắt, có thể dẫn dắt Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Có người nói: Pháp này do Thủ mà nuôi lớn, có thể nuôi lớn Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Có người nói: Pháp này do Thủ mà tăng rộng, tăng rộng đối với Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Ở đây nói tăng rộng là hiển bày về nghĩa mọc lan ra. Có người nói: Pháp này hệ thuộc đối với Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Như thuộc về Vua thì gọi là thuận theo Vua. Bởi vì bên trong không có Ngã, nếu có ai hỏi rằng ông thuộc về ai, thì trả lời rằng thuộc về Thủ. Có người nói: Các Thủ ở trong pháp này, sắp sinh-đã sinh, sắp giữ-đã giữ, sắp trú-đã trú, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Có người nói: Các Thủ ở trong ph áp này, sắp nuôi lớn-đã nuôi lớn, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Có người nói: Các Thủ ở trong pháp này, sắp tăng rộng-đã tăng rộng, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Có người nói: Các Thủ bám chặc vào pháp này, như vật thấm ướt dầu mỡ thì bụi bẩn cứ bám vào, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Có người nói: Các Thủ thích tr ú vào pháp này, như cá tôm ếch nhái thích ở trong nước, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Có người nói: Pháp này là nhà cửa-nơi dừng chân yên ổn của Thủ, cho nên gọi là thuận theo Thủ. Nghĩa là dựa vào pháp này, cho nên tất cả Ái-Mạn-Kiến-Nghi- Sân-Si, các triền cấu… đều sinh trưởng. Các pháp hữu lậu do cùng phần Thủ mà có được tên gọi thuận theo T hủ, chứ không phải là khác phần Thủ. Nghĩa là pháp của cõi Dục do Thủ của cõi Dục, pháp của cõi Sắc do Thủ của cõi Sắc, pháp của cõi Vô sắc do Thủ của cõi Vô sắc, pháp của địa Tĩnh lự thứ nhất do Thủ của địa Tĩnh lự thứ nhất, cho đến pháp của địa Phi tưởng phi phi tưởng do Thủ của địa Phi tưởng phi phi tưởng, bởi vì pháp hữu lậu thì cõi-địa không có xen tạp. Nếu dựa vào sự nối tiếp nhau thì có nghĩa của xen tạp, nghĩ a là do thân mình giữ lấy(thủ) pháp của thân khác mà có được te ân gọi thuận theo Thủ, do thân khác giữ lấy pháp của thân mình mà co ù được tên gọi thuận theo Thủ; nếu SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 138 701 www.daitangkinh.org không như vậy thì pháp bên ngoài lẽ ra không phải là thuận theo Thủ, bởi vì bên ngoài không có Thủ. Hỏi: Thuận theo Kiết là nghĩa gì? Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp hữu lậu. Hỏi: Không thuận theo Kiết là nghĩa gì? Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp vô lậu. Giải thích rộng về nghĩa thuận theo Kiết-không thuận theo Kiết, như trước nói về thuận theo Thủ-không thuận theo Thủ. Hỏi: Kiến xứ là nghĩa gì? Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp hữu lậu. Hỏi: Không phải Kiến xứ là nghĩa gì? Đáp: Do tăng ngữ này mà hiển bày về pháp vô lậu. Nhưng có nhiều nơi nói đến thanh Kiến xứ, nghĩa là trong này nói: “Kiến xứ là gì? Đó là đi cùng pháp hữu lậu.” Trong kinh Ca Nại Đà lại nói: “Các kiến vốn có, các kiến xứ vốn có, các kiến triền vốn có, các kiến đẳng khởi vốn có, các kiến tổn hại vốn có, Đức Thế Tôn biết rõ-thấy rõ tất cả.” Trong này, Kiến là năm Kiến, Ki ến xứ là sở duyên của Kiến, Kiến triền là Kiến hiện hành, Kiến đẳng khởi là nhân của Kiến, Kiến tổn hại là Kiến diệt, Đức Thế Tôn biết rõ-thấy rõ tất cả là đối trị của Kiến. Có người đưa ra cách nói này: Kiến-Kiến xứ-Kiến triền là Khổ đế, Kiến đẳng khởi là Tập đế, Kiến tổn ha ïi là Diệt đế, Đức Thế Tôn biết rõ-thấy rõ tất cả là Đạo đế. Kinh A La Yết Đà Dụ lại nói: “Có sáu kiến xứ, đó là các Sắc vốn có, hoặc quá khứ-hoặc vị lai-hoặc hiện tại, nói rộng cho đến Tỳ kheo nên dùng Chánh tuệ để quán xét tất cả Sắc ấy không pha ûi là ngã-ngã sở, đừng khởi lên ngã mạn. Các T họ vốn có, cho đến nói rộng ra. Các Tưởng vốn có, cho đến nói rộng ra. Những người có thấy-nghe-hiểu- biết, nếu đạt được-nếu mong cầu, th ì ý tùy theo tầm-tứ, cho đến nói rộng ra. Những người có kiến này, có ngã-có hữu tình-có thế gian, luôn luôn an trú không có biến đổi, pháp đích thực an trú như vậy, cho đến nói rộng ra. Những người có kiến này, ngã thuận theo không có, ngã thuận theo không phải là có, ngã sẽ không có, ngã sẽ không phải là có. Tỳ kheo nên dùng Chánh tuệ để quán xét tất cả không phải là ngã-ngã sở, đừng khởi lên ngã mạn. Tỳ kheo nên đối với Kiến xứ-Thủ xứ… như vậy, tùy theo quán sát không có ngã-ngã sở. Nếu có thể như vậy thì đối với thế gian không hề có chấp thọ, cho đến nói rộng ra.” 702 BỘ TỲ ĐÀM 5 Trong này, các Sắc-Thọ-Tưởng vốn có, tức là Sắc-Thọ-Tưởng uẩn. Những người có Kiến này, có Ngã -có Hữu tình, cho đến nói rộng ra; những người có Kiến này, Ngã thuận theo không có, cho đến nói rộng ra, đó là Hành uẩn. Những n gười có thấy-nghe-hiểu-biết…, đó là Thức uẩn. Hỏi: Thấy-nghe-hiểu-biết nghĩa ấy đã đầy đủ, nếu đạt được-nếu mong cầu, thì ý tùy theo tầm tứ, lại hiển bày điều gì? Đáp: Trước mở rộng-nay tóm lược, trước riêng biệt-nay tổng quát, trước tách ra-nay hợp lại, trước từ từ-nay mau lẹ, đó gọi là đã hiển bày về pháp phòng ngừa các lậu. Kinh lại đưa ra cách nói này: “Đối với sáu Ki ến xứ không Chánh tư duy, thì đối với thân bên trong thuận theo khởi lên một chấp, vì Đế-vì Trú cho nên có ngã, vì Đế-vì Trú cho nên ngã không có ngã, ngã thấy ngã, ngã thấy không có ngã, không có ngã thấy ngã. Hoặc là lúc này có ngã, có hữu tình, có mạng sống, có si nh ra, có nuôi dưỡng, có Bổ-đặc- già-la, có ý sinh khởi, có Ma-na ïp-bà. Hoặc là không hề cho rằng hiện có, ở khắp mọi nơi đã làm-chưa làm các nghiệp thiện ác nhận lấy quả dị thục.” Hỏi: Bốn nơi như vậy nói về thanh Kiến xứ có gì sai biệt? Đáp: Có người nói: Trong này đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày về tất cả các pháp hữu lậu. Kinh thứ nhất đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày tổng quát về năm Kiến. Kinh thứ ha i đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày về Kiến và pháp lìa Kiến. Kinh thứ ba đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày về Hữu thân kiến-Biên chấp kiến. Có người nói: Trong này và hai kinh đầu đã nói đến Kiến xứ, là hiển bày tổng quát về năm Thủ uẩn. Kinh thứ ba đã nói đến Kiến xứ, là chỉ hiển bày về phần ít của Hành uẩn. Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp tương ưng-không tương ưng. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp tương ưng. Như tương ưng-không tương ưng, có sở y-không có sở y, có hành tướng-không có hành tướng, có sở duyên-không có sở duyên, có cảnh giác-không có cảnh giác, cũng như vậy. Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp có sắc-không có sắc. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp không có sắc. Như có sắc-không có sắc, có thấy-không có thấy, có đối-không có đối, cũng như vậy. Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp nhiễm-không nhiễm. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp nhiễm. Như SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 138 703 www.daitangkinh.org nhiễm-không nhiễm, có tội-không có tội, có che phủ-không có che phủ, thiện-bất thiện, triền-không phải triền, cũng như vậy. Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp do kiến-tu mà đoạn. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp do kiến mà đoạn. Như do kiến mà đoạn-do tu mà đoạn, không có quan hệ-có quan hệ, Nhẫn đối trị-Trí đối trị, cũng như vậy. Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp thiện-bất thiện-vô ký. Kinh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp vô ký. Có người nói: Trong này và hai kinh đầu, hiển bày chung về Pháp có dị thục-không có dị thục. Ki nh thứ ba chỉ hiển bày về Pháp không có dị thục. Hỏi: Các pháp hữu lậu, do Kiến nào mà nói là Kiến xứ? Đáp: Có người nói: Do Hữu thân kiến-Biên chấp kiến cho nên nói là Kiến xứ, bởi vì hai loại này chỉ duyên với cảnh của địa mình. Có người nói: Do bốn Kiến, đó là trong năm Kiến trừ ra Tà kiến, bởi vì bốn loại này duyên với hữu lậu. Nói như vậy thì do năm Kiến cho nên mang lấy tên gọi Kiến xứ. Hỏi: Nếu như vậy thì Diệt-Đạo nên gọi là Kiến xứ, bởi vì cảnh của Tà kiến? Đáp: Kiến xứ có hai loại: 1. Xứ thuộc Sở duyên. 2. Xứ thuộc Tùy miên. Có đủ hai nghĩa này mới gọi là Kiến xứ, Diệt-Đạo tuy là Xứ thuộc sở duyên của tà kiến, nhưng không phải là Xứ thuộc tùy miên, cho nên không gọi là Kiến xứ. Có người nói: Kiến xứ có hai loại: 1. Xứ thuộc Sở duyên. 2. Xứ thuộc Tương ưng. Có đủ hai loại này thì thiết lập tên gọi Kiến xứ, Diệt-Đạo tuy là Xứ thuộc sở duyên của Kiến, nhưng không phải là Xứ thuộc tương ưng, vì vậy không mang lấy tên gọi Kiến xứ. Nếu pháp là bên trong thì pháp ấ y do Xứ bên trong thâu nhiếp chăng? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, tùy theo ý muốn ấy mà soạn luận, nhưng không trái với pháp tướng thì không cần phải vặn hỏi. Có người đưa ra cách nói này: Vì ngăn chặn tông chỉ của người 704 BỘ TỲ ĐÀM 5 khác để hiển bày về nghĩa của mình, nghĩa là có tông phái khác nói là pháp trong- ngoài đều không phải là có thật. Nay ngăn chặn ý đó, trình bày về pháp trong-ngoài đều là có thật, cho nên soạn ra phần luận này. Nhưng mà pháp trong-ngoài có ba loại sai biệt: 1. Nối tiếp nhau trong ngoài, nghĩa là thuộc về thân của mình thì gọi là bên trong, thuộc về thân khác và số phi hữu tình thì gọi là bên ngoài. 2. Xứ trong ngoài, nghĩa là sở y của tâm-tâm sở gọi là bên trong, sở duyên gọi là bên ngoài. 3. Tình phi tình trong ngoài, nghĩa là pháp thuộc số hữu tình gọi là bên trong, pháp thuộc số phi hữu tình gọi là bên ngoài. Trong này chỉ dựa vào sự nối tiếp nhau mà soạn luận. Hỏi: Nếu pháp là bên trong thì ph áp ấy do Xứ bên trong thâu nhiếp chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có pháp là bên trong mà không ph ải là do Xứ bên trong thâu nhiếp, như nói trú vào Thọ bên trong-Pháp bên trong, tuần tự quán xét về pháp. Pháp ấy là bên trong, bởi vì thuộc về thân của mình; không phải là do Xứ bên trong thâu nhiếp, bởi vì không phải là sở y của tâm- tâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp năm cảnh như Sắc… của thân mình. 2. Có pháp do Xứ bên trong thâu nhiếp mà không phải là bên trong, như nói trú vào Thân bên ngoài-Tâm bên ngoài, tuần tự quán xét về tâm. Pháp ấy do Xứ bên trong thâu nhiếp, bởi vì là sở y của tâm- tâm sở; không phải là bên trong, bởi vì không phải là thuộc về thân của mình. Nên biết trong này cũng thâu nhi ếp mắt-tai-mũi-lưỡi của thân khác. 3. Có pháp là bên trong cũng do Xứ bên trong thâu nhiếp, như nói trú vào Thân bên trong-Tâm bên trong, tuần tự quán xét về tâm. Pháp ấy là bên trong, bởi vì thuộc về thâ n của mình; cũng do Xứ bên trong thâu nhiếp, bởi vì là sở y của tâm-tâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp mắt-tai-mũi-lưỡi của thân mình. 4. Có pháp không phải là bên trong cũng không phải là do Xứ bên trong thâu nhiếp, như nói trú vào Thọ bên ngoài-Pháp bên ngoài, tuần tự quán xét về pháp. Pháp ấy không phải là bên trong, bởi vì không phải là thuộc về thân của mình; không phải là do Xứ bên trong thâu nhiếp, bởi vì không phải là sở y của tâm-tâm sở. Nên biết trong này SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 138 705 www.daitangkinh.org cũng thâu nhiếp năm cảnh như Sắc… của thân khác. Hỏi: Nếu pháp là bên ngoài th ì pháp ấy do Xứ bên ngoài thâu nhiếp chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có pháp là bên ngoài mà không ph ải là do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, như nói trú vào Thân bên ngoài-Tâm bên ngoài, tuần tự quán xét về tâm. Pháp ấy là bên ngoài, bởi vì thuộc về thân khác; không phải là do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, bởi vì không phải là chỉ có sở duyên của tâm-tâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp mắt-tai-mũi-lưỡi của thân khác. 2. Có pháp do Xứ bên ngoài thâu nhiếp mà không phải là bên ngoài, như nói trú vào Thọ bên trong-Pháp bên trong, tuần tự quán xét về pháp. Pháp ấy do Xứ bên ngoài tha âu nhiếp, bởi vì chỉ có sở duyên của tâm-tâm sở; không phải là bên ngoài, bởi vì không phải là thuộc về thân khác, và không phải là thuộc số hữu tình. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp năm cảnh như Sắc…của thân mình. 3. Có pháp là bên ngoài cũng do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, như nói trú vào Thọ bên ngoài-Pháp bên ngoài, tuần tự quán xét về pháp. Pháp ấy là bên ngoài, bởi vì thuộc về th ân khác và không phải là thuộc số hữu tình; cũng do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, bởi vì chỉ là sở duyên của tâm-tâm sở. Nên biết trong này cu õng thâu nhiếp năm cảnh như Sắc… của thân khác. 4. Có pháp không phải là bên ngoài cũng không phải là do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, như nói trú vào Thân bên trong-Tâm bên trong, tuần tự quán xét về tâm. Pháp ấy không phải là bên ngoài, bởi vì không phải là thuộc về thân khác, và không phải là thuộc số hữu tình; không phải là do Xứ bên ngoài thâu nhiếp, bởi vì không phải là chỉ có sở duyên của tâm-tâm sở. Nên biết trong này cũng thâu nhiếp mắt-tai-mũi-lưỡi của thân mình. 706 BỘ TỲ ĐÀM 5 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt