VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 139Quyển 141 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 140

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

以無間道證預流果。修彼道時四念住。幾
現在修。幾未來修。乃至廣說。問何故作此
論。答欲止他宗顯己義故。謂或有說。無

未來修。勿有未作而已得故。為遮彼執顯
有未來修。彼雖未起已起彼類故。或復有
說二心俱行。以見聞等俱時有故。為遮
彼執顯無二心俱行。剎那迅轉非俱似俱
故。或復有說。四正斷等非一時有用因異
故。為遮彼執顯此同時得有四種體無
別故。或復有說。信等唯無漏。經說異生無
信等根故。為遮彼執明信等通有漏。契經
但說無漏根故。或復有說。根力體異。由彼
勝劣位差別故。為遮彼執顯位雖殊而根
力用一體有故。或復有說。覺支通有漏。說
不淨俱修念覺支故。為遮彼執顯覺支
唯無漏。經說有俱非同時俱故。或復有說。
近分地有喜。經說依喜斷出離憂故。為遮
彼執明近分無喜。經說已斷當斷名斷故。
或復有說。正語業命不俱時有。一剎那中
無二身語故。為遮彼執。顯三戒俱三根
所起。一時可得故。或復有說。預流一來亦
得靜慮。為遮彼執顯俱不得未離欲故。或
復有說。忍即是智。為遮彼執顯忍非智。
以於諦境未審決故。或復有說。異生不斷
惑未見諦故。為遮彼執明異生亦斷惑見
麁等故。或復有說。聖者不以世俗道斷惑。
為遮彼執。顯聖自在隨用何道故。或復有
說。上地亦有正思惟支。為遮彼執顯上
地無彼支以無尋故。或復有執。無色亦有
無漏戒支。為遮彼執。顯彼無戒以無色故。
或復有說。三三摩地義別體同。為遮彼執。
明體亦異行相別故。為止此等種種異宗

顯正所明。故作斯論。
以無間道證預流果。修彼道時四念住幾
現在修。幾未來修。四正斷。四神足。五根。五
力。七覺支。八道支。四靜慮。四無量。四無色。
八解脫。八勝處。十遍處。八智三等持。幾現在
修。幾未來修。答念住現在一。未來四。正斷神
足現在未來四。根力現在未來五。覺支現在
未來六。道支現在未來八。無靜慮。無無量。
無無色。無解脫。無勝處。無遍處。無智等
持。現在未來一。念住現在一。未來四者。此則
遮二心俱行。及無未來修執。若有二心俱
時行者。則應現在修四念住。然四念住必
不俱行。一心相應無四慧故。不可此四一
體建立行相所緣俱有異故。非一相續多心
並起。勿由彼成多有情故。若未來世無修
義者。則所修善無增廣義。起多加行則為
唐捐。設功用多所獲少故。又初成佛時應未
具足一切功德。勿有此等過失故。有未來
修。未來世寬故具修四。現修勢用能引當來
種類法。得令現前故。現在一者。謂雜緣法
念住。見道諦故。正斷神足現在未來四者。此
則遮說正斷神足非俱時有一。正勤體有
四。所作如燈。一時有四作用。一三摩地由
四因生故。從所因立四名稱。未來修者。亦
體一義分故。現在未來各言修四根力。現在
未來五者。此則遮根力體異。及說五種次第
生執。雖根力位異而自體無別。即一信等
有生破二用立根力名互不相違。相資俱
起故。此五種非次第生。覺支現在未來六者。

此則遮說近分有喜。此處未得上根本地。
未離下怖。不生喜故。經說依喜斷出離
憂者。依加行道說。非無間道故不相違。
此依未至無喜故六。道支現在未來八者。此
則止正語業命不俱者意。無貪瞋癡所發無
表。各有七種俱時起故。無靜慮者。此則
止預流一來亦得靜慮者意。此未離欲入
見道故。已離欲者非二向故。無無量者。此
遮無量亦通無漏。及見道中修無量執。此
緣有情故。非無漏見道迅速。又初得故不
能兼修。又復未得根本地故。不修無量。
無無色者。此遮無色有見道執。無色中無
遍緣智故必無見道。又此未得無色定故。
無解脫無勝處無遍處者。此遮前三解
脫等。亦通無漏者執。十六行相所不攝故
不名無漏。又爾時未得根本地故。彼皆
不修無智者。此則遮說忍即是智。忍於諦
境未如實審決故不名智。又於此位自分
修故。不修未來諸智。是故言無等持。現在
未來一者。此則遮說三三摩地義別體同。
以三等持行相異故。體亦有別。一者。謂無
願等持道類忍時。唯修此故。雖八忍皆無間
道。依證果位說道類忍非餘。
以無間道證一來果。修彼道時四念住。乃
至三等持。幾現在修。幾未來修。答若倍離欲
染。入正性離生修彼道時。念住現在一。
未來四。正斷神足。現在未來四。根力現在未
來五。覺支現在未來六。道支現在未來八。無
靜慮。無無量。無無色。無解脫。無勝處。無

遍處。無智等持。現在未來一。若倍離欲染
入正性離生者。此則遮說異生不斷惑。然
異生類能以麁等六種行相。離欲界染乃至
無所有處染。若先已離六品欲染。名倍離
欲。倍後三故。所餘文句皆如前釋。
若從預流果以世俗道證一來果。修彼道
時。念住現在一。未來四。正斷神足現在未來
四。根力現在未來五。覺支現在無。未來六。道
支現在無。未來八。無靜慮。無無量。無無色。
無解脫。無勝處。無遍處智。現在一。未來七。
等持現在無。未來三。以世俗道。證一來果
者。此則遮說聖者不以世俗道斷惑。聖於
二道。俱成就故。隨欲現前。即以彼斷。念住
現在。一者。謂雜緣法念住。有漏離染無間
道。必總緣故。根力現在未來五者。此則遮
說信等唯無漏。說觀信等為集等故。佛觀
三根。方說法故。有漏亦有根力用故。覺支
現在無者。此則遮說覺支通有漏有漏不
能如實覺故。說不淨觀俱修念覺支者。依
展轉因有俱而說。未來六者。聖者起有漏
道時。亦兼修無漏故。道支現在無者。雖道
支通有漏。然覺支後說故亦唯無漏。阿毘達
磨有如此相。無無量等者。未至定中無彼
根本地諸善法故。智現在一者。謂世俗智未
來七者。除他心智。以無間道相違故。又未
得故。此中但依八智作論。除盡無生。以位
局故。等持現在無者。三等持雖通有漏。然
此中說無漏者。以無漏是解脫門故。此文
說第六無間道。以彼能證一來果故。餘如

前說。若從預流果以無漏道證一來果修
彼道時。念住現在一。未來四。正斷神足現在
未來四。根力現在未來五。覺支現在未來六。
道支現在未來八。無靜慮。無無量。無無色。
無解脫。無勝處。無遍處智。現在二。未來七。
等持現在一。未來三。念住現在一者。謂法念
住。或雜不雜以四法智隨起一故。智現在
二者。謂苦智法智二。或乃至道智法智二。等
持現在一者。謂三中隨一。餘如前說。
以無間道證不還果修彼道時。四念住乃
至三等持。幾現在修。幾未來修。答若已離欲
染。依未至定入正性離生修。彼道時。念住
現在一。未來四。正斷神足現在未來四。根力
現在未來五。覺支現在未來六。道支現在未
來八。無靜慮。無無量。無無色。無解脫。無
勝處。無遍處。無智等持。現在未來一。無靜
慮者。見道依下不修上故。餘如前說。
若依初靜慮入正性離生。修彼道時。念住
現在一。未來四。正斷神足現在未來四。根力
現在未來五。覺支現在未來七。道支現在未
來八。靜慮現在未來一。無無量。無無色。無
解脫。無勝處。無遍處。無智等持。現在未來
一。釋此文句准前應知。
若依靜慮中間。入正性離生修彼道時。念
住現在一。未來四。正斷神足現在未來四。根
力現在未來五。覺支現在六。未來七。道支現
在七。未來八靜慮現在無。未來一。無無量。
無無色。無解脫。無勝處。無遍處。無智等
持。現在未來一。覺支現在六者。靜慮中間無

喜根故。依上修下故。未來七。道支現在七
者。此遮上地有尋者執此上心細故無有
尋。餘如前說。若依第二靜慮。入正性離生
修彼道時。念住現在一。未來四。正斷神足
現在未來四。根力現在未來五。覺支現在未
來七。道支現在七。未來八。靜慮現在一。未來
二。無無量。無無色。無解脫。無勝處。無遍
處。無智等持。現在未來一。釋此文句准前
應知。
若依第三靜慮。入正性離生修彼道時。念
住現在一。未來四。正斷神足現在未來四。根
力現在未來五。覺支現在六。未來七。道支現
在七。未來八。靜慮現在一。未來三。無無量。
無無色。無解脫。無勝處。無遍處。無智等
持。現在未來一。釋此如前。
若依第四靜慮入正性離生修彼道時。念
住現在一。未來四。正斷神足現在未來四。根
力現在未來五。覺支現在六。未來七。道支現
在七。未來八。靜慮現在一。未來四。無無量。
無無色。無解脫。無勝處。無遍處。無智等
持。現在未來一。此隨所應如前釋。
若從一來果以世俗道證不還果。修彼道
時念住現在一。未來四。正斷神足現在未來
四。根力現在未來五。覺支現在無。未來六。道
支現在無。未來八。無靜慮。無無量。無無色。
無解脫。無勝處。無遍處智。現在一。未來七。
等持現在無。未來三。釋此文句如前應知。
若從一來果以無漏道證不還果修彼道
時。念住現在一。未來四。正斷神足現在未來

四。根力現在未來五。覺支現在未來六。道支
現在未來八。無靜慮。無無量。無無色。無解
脫。無勝處。無遍處智。現在二。未來七。等持
現在一。未來三。皆如前釋。以無間道證神
境智通。修彼道時。四念住乃至三等持。幾
現在修。幾未來修。答若諸異生。依初靜慮
修彼道時。念住現在一。未來四。正斷神足
現在未來四。根力現在未來五。無覺支。無
道支。靜慮。現在未來一。無量現在無。未來四。
無無色。解脫。現在無。未來二。勝處現在無。
未來四。無遍處智。現在未來一。無等持。此中
念住現在一者。謂身念住。神境智通。但緣色
故。彼無間道亦但緣色。問如金剛喻定緣
有頂四蘊。或三界滅道漏盡通。緣有頂四蘊。
如是則所緣。或異。此中何故神境智通與無
間道。必同緣色。答金剛喻定與最初盡無生
智。俱是觀諦斷煩惱道。但求離染非於所
緣。有所轉作故。所緣或異。神境通等皆是
隨事作意。俱欲於境變現了知故。所緣必
同。無量現在無。未來四者。根本地中有漏功
德由同地故。隨應皆修解脫。現在無。未來
二者。謂初二解脫彼在初二靜慮繫故。勝處
現在無。未來四者。謂初四勝處。亦彼繫故。智
現在未來一。謂世俗智。問何故無他心智。答
無間道中不修彼故。是容暇道之所修故。
餘隨所應如前說。
若諸聖者依初靜慮修彼道時。念住現在
一。未來四。正斷神足現在未來四。根力現在
未來五。覺支現在無。未來七。道支現在無。未

來八。靜慮現在未來一。無量現在無。未來四。
無無色解脫。現在無。未來二。勝處現在無。未
來四。無遍處智。現在一。未來七。等持現在無。
未來三。靜慮現在未來一者。問聖者已離第
三靜慮染得第四靜慮。依初靜慮修神境
通。無間道中應言靜慮未來修四。無漏通
依上下修故何故但說未來一耶。答有說。
應言未來修四而不說者當知有餘。有說。
此中依漸次者說。謂從具縛入正性離生。
乃至得不還果已。依初靜慮修神境通無
間道中。未來修一。不修上者以未得故。有
說。假使離第三靜慮染。依初靜慮修神境
通。亦但修一不修上地故。問豈不依初靜
慮斷上地染。及無學者。修練根時亦修上
地所有功德耶。寧說依下不能修上。答
斷上地惑能修上者。以彼地道所治同故。
法斷彼惑能治必修。無學練根如得彼果。
是故此皆依下修上。諸通不爾故不修上。
如見道中唯修自下。此例非理。見道是初
得種性未自在故。唯自分修。修道是已得種
性。於彼自在寧不兼修。然五通是勝功德。
修加行時必極作意。若諸靜慮已得自在
何理為障而不兼修。由此應知前說者好。
無無色等准此應知。餘如前說。
若諸異生依第二靜慮修彼道時。念住現
在一。未來四。正斷神足現在未來四。根力現
在未來五。無覺支。無道支。靜慮。現在。未來
一無量。現在無。未來四。無無色。解脫。現在
無。未來二。勝處現在無。未來四。無遍處智。

現在未來一。無等持。靜慮。現在未來一者。彼
已得下地。而不修者。有漏功德唯自地修
墮界地故。餘如前說。
若諸聖者。依第二靜慮修彼道時。念住現
在一。未來四。正斷神足現在未來四。根力現
在未來五。覺支現在無。未來七。道支現在無。
未來八。靜慮現在一。未來二。無量現在無。未
來四。無無色。解脫。現在無。未來二。勝處現
在無。未來四。無遍處智。現在一。未來七。等
持現在無。未來三。靜慮未來二者。謂初二靜
慮初唯無漏。餘如前說。
若諸異生依第三靜慮修彼道時。念住現
在一。未來四。正斷神足現在未來四。根力現
在未來五。無覺支。無道支。靜慮。現在未來
一。無量現在無。未來三。無無色。無解脫。無
勝處。無遍處智。現在未來一。無等持。無量
未來三者。除喜無量。無解脫等者。第三靜慮
樂所迷故。無解脫等。厭行功德淨解脫等。雖
作欣行相。由地有災橫故亦不得。有餘
如前說。
若諸聖者。依第三靜慮修彼道時。念住現
在一。未來四。正斷神足現在未來四。根力現
在未來五。覺支現在無。未來七。道支現在無。
未來八。靜慮現在一。未來三。無量現在無。未
來三。無無色。無解脫。無勝處。無遍處智。
現在一。未來七。等持現在無。未來三。廣釋如
前。若諸異生。依第四靜慮修彼道時。念住
現在一。未來四。正斷神足現在未來四。根力
現在未來五。無覺支。無道支。靜慮。現在未來

一。無量現在無。未來三。無無色解脫。現在
無。未來一。勝處現在無。未來四。遍處現在無。
未來八。智現在未來一。無等持。解脫。未來
一者。謂淨解脫身作證具足住。勝處未來四
者。謂後四勝處。遍處。未來八者。謂前八遍
處。由此地中離八災橫故。有此等清淨功
德。餘如前說。若諸聖者。依第四靜慮修彼
道時。念住現在一。未來四。正斷神足現在未
來四。根力現在未來五。覺支現在無未來七。
道支現在無。未來八。靜慮現在一。未來四。無
量現在無。未來三。無無色。解脫。現在無。未
來一。勝處現在無。未來四。遍處現在無。未來
八。智現在一。未來七。等持現在無。未來三。
廣釋如前。
以無間道。證天耳智通。他心智通。宿住隨
念智通。死生智通。修彼道時。四念住乃至
三等持。幾現在修。幾未來修。答如神境智
通。應隨相說。由此五種皆依四靜慮。異生
聖者俱能起故。然修天耳死生智通。無間道
時。現在念住如神境智通說。以俱緣色作
身念住故。修他心智通。無間道時。現在唯
起心念住。修宿住隨念智通無間道時。現
在唯起法念住。餘隨所應皆如前說。
以無間道。證漏盡智通修彼道時。四念住。
乃至三等持。幾現在修。幾未來修。答若依未
至定。證阿羅漢果修彼道時。念住現在一。
未來四。正斷神足現在未來四。根力現在未
來五。覺支現在六。未來七。道支現在未來八。
靜慮現在無。未來四。無無量。無色。現在無。未

來三。解脫現在無。未來三。無勝處。無遍處智。
現在二。未來六。等持現在一。未來三。念住現
在一者。謂法念住。或雜不雜。四類智。二法智。
隨一現前故。靜慮未來四者。斷有頂惑。通
修上下能治道故。無無量等者。爾時不修
有漏法故。有漏不能治有頂故。無色。解
脫。未來三者。謂前三無色。及即彼三解脫通
無漏故。智現在二者。謂滅智法智二。或道智
法智二。或苦智類智二。乃至或道智類智二。
未來六者。除世俗智。及他心智。彼有漏故。
與無間道相違故。等持現在一者。謂空無相
無願隨一現前。金剛喻定與六智相應故。此
中但說斷有頂惑第九無間道。彼能證得漏
盡智通故。餘如前說。
若依初靜慮。證阿羅漢果修彼道時。念住
現在一。未來四。正斷神足現在未來四。根力
現在未來五。覺支現在未來七。道支現在未
來八。靜慮現在一。未來四。無無量。無色。現
在無。未來三。解脫現在無。未來三。無勝處。
無遍處智。現在二。未來六。等持現在一。未來
三。若依靜慮中間。證阿羅漢果修彼道時。
念住現在一。未來四。正斷神足。現在未來四。
根力現在未來五。覺支現在六。未來七。道支
現在七。未來八。靜慮現在無。未來四。無無
量。無色。現在無。未來三。解脫現在無。未來
三。無勝處。無遍處智。現在二。未來六。等持
現在一。未來三。若依第二靜慮。證阿羅漢
果修彼道時。念住現在一。未來四。正斷神
足現在未來四。根力現在未來五。覺支現在

未來七。道支現在七。未來八。靜慮現在一。
未來四。無無量。無色。現在無。未來三。解脫
現在無。未來三。無勝處。無遍處智。現在二。
未來六。等持現在一。未來三。若依第三第四
靜慮。證阿羅漢果修彼道時。念住現在一。
未來四。正斷神足現在未來四。根力現在未
來五。覺支。現在六。未來七。道支現在七。未
來八。靜慮現在一。未來四。無無量。無色。現
在無。未來三。解脫現在無。未來三。無勝處。
無遍處智。現在二。未來六。等持現在一。未來
三。此隨所應如前釋。
若依無色定。證阿羅漢果修彼道時。念住
現在一。未來四。正斷神足現在未來四。根力
現在未來五。覺支現在六。未來七。道支現在
四。未來八靜慮現在無。未來四。無無量。無色。
現在一。未來三。解脫現在一。未來三。無勝處。
無遍處智。現在二。未來六。等持現在一。未來
三。依無色定者。謂依空無邊處。或依識無
邊處。或依無所有處。由此三地皆有無漏
道。能離非想非非想處染故。非想非非想
處。定力昧劣非無漏道所依止故。此中不
說道支。現在四者。此則遮說無色界有無
漏戒。及說上地有正思惟者意。以無所依
四大種故。及上地心漸微細故。問如無無漏
大種。而有無漏戒。如是雖無彼地大種。而
有彼地戒。斯有何失。答無漏戒不墮界地。
隨所依身大種所造。由此雖無無漏大種。
而有所造無漏戒。有漏戒必墮界地。唯為
自地大種所造。彼無大種故戒亦無。問若無

漏戒隨所依身大種所造者生欲色界入
無漏無色定時應起彼定俱無漏戒有所
依身大種故。答雖無漏戒隨所依身大種所
造。然隨何地要有大種造。有漏戒方隨彼
類起。無漏戒無色中無有大種造。有漏戒
故無漏戒於彼亦無。依彼所有發無漏故。
問何故戒體唯色。答遮惡色起故。又是身語
業性故。身語二業色為體故。問何故意業非
戒。答不能親遮惡戒故。問何故惡戒非意
業。答未離欲者。皆成就不善意業。彼豈悉
名犯戒或不律儀耶。是故惡戒非意業。又
善意業若是善戒。則應一切不斷善者悉名
住律儀。彼皆成就善意業故。若許爾者。便
一有情名住律儀。亦名住不律儀者。則應
無有三種差別。如是則與聖教相違故。善
惡戒俱非意業。又世共許防禁身語說名戒
故。意業非戒。應知意業是發戒因。不可戒
因即名為戒。勿令因果有雜亂失。是故無
色道支唯四。未來通修下地無漏故。具有
八無色解脫。現在一者。謂前所依三地隨一。
餘如前釋。

Việt dịch

QUYỂN 140

LUẬN VỀ CHẤP THỌ (Phần 4)

Dùng đạo vô gián chứng quả Dự lưu, lúc tu đạo ấy thì bốn Niệm
trú, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày về
nghĩa của mình. Nghĩa là hoặc có người  nói: Không có tu vị lai, bởi vì
không có điều gì chưa làm mà đã được . Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển
bày là có tu vị lai, điều ấy tuy chưa khởi lên mà đã khởi lên chủng loại
ấy.
Hoặc lại có người nói: Hai tâm cùng hiện hành, bởi vì thấy-nghe…
có cùng lúc. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày không có hai tâm cùng
hiện hành, bởi vì sát-na chuyển đổi nhanh chóng cho nên không phải là
cùng lúc mà tựa như cùng lúc.
Hoặc lại có người nói: Bốn Chánh đoạn… không phải là có cùng
một lúc, bởi vì tác dụng của nhân khác nhau. Vì ngăn chặn ý chấp ấy,
hiển bày pháp này cùng lúc có đư ợc bốn loại, bởi vì Thể không có gì
khác nhau.
Hoặc lại có người nói: Tín… chỉ la ø vô lậu, bởi vì kinh nói dị sinh
không có các căn như Tín… Vì ngăn cha ën ý chấp ấy, hiển bày về Tín…
gồm chung hữu lậu, trong kinh chỉ nói về căn vô lậu.
Hoặc lại có người nói: Thể của Căn và Lực khác nhau, bởi vì phần
vị mạnh yếu ấy khác nhau. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày phần vị
tuy khác mà tác dụng của Căn và Lực có cùng một Thể.
Hoặc lại có người nói: Giác ch i gồm chung hữu lậu, bởi vì nói
quán Bất tịnh cùng tu với Niệm giác chi. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển
bày về Giác chi chỉ là vô lậu, bởi vì trong kinh nói có đi cùng chứ không
phải là cùng lúc đi cùng.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 140 725  
www.daitangkinh.org  
Hoặc lại có người nói: Địa Cận phần có Hỷ, bởi vì trong kinh nói
dựa vào Hỷ đoạn mà rời bỏ Ưu. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về
Cận phần không có Hỷ, bởi vì trong kinh nói đã đoạn-sẽ đoạn gọi là
đoạn.
Hoặc lại có người nói: Ch ánh ngữ-nghiệp-mạng không có cùng
lúc, bởi vì trong một sát-na không có hai nghiệp thân-ngữ. Vì ngăn chặn
ý chấp ấy, hiển bày ba Giới cùng do ba căn mà khởi lên, cho nên cùng
lúc có thể được.
Hoặc lại có người nói: Dự lưu-Nhất lai cũng đạt được Tĩnh lự. Vì
ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày ca û hai đều không đạt được, bởi vì chưa
lìa dục.
Hoặc lại có người nói: Nhẫn tức là Trí. Vì ngăn chặn ý chấp ấy,
hiển bày Nhẫn không phải là Trí, bởi vì chưa quyết định chính xác đối
với cảnh của Đế.
Hoặc lại có người nói: Dị sinh không đoạn phiền não, bởi vì chưa
thấy được Đế. Vì ngăn chặn ý chấ p ấy, hiển bày về dị sinh cũng đoạn
phiền não, bởi vì thấy phần thô…
Hoặc lại có người nói: Thánh giả không dùng đạo thế tục để đoạn
phiền não. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về Thánh giả tự tại, bởi vì
tùy ý sử dụng bất cứ đạo nào.
Hoặc lại có người nói: Địa trên cũng có chi Chánh tư duy. Vì
ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày địa trên không có chi ấy, bởi vì không
có Tầm.
Hoặc lại có người nói: Vô sắc c ũng có chi Giới vô lậu. Vì ngăn
chặn ý chấp ấy, hiển bày cõi ấy không có Giới, bởi vì không có sắc.
Hoặc lại có người nói: Ba Tam-ma-địa, nghĩa khác nhau mà Thể
như nhau. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về Thể cũng khác nhau, bởi
vì hành tướng khác nhau.
Vì ngăn chặn các loại tông chỉ quái lạ như vậy, để hiển bày đúng
đắn về những điều đã nói, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng quả D ự lưu, lúc tu đạo ấy thì bốn
Niệm trú, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai? Bốn Chánh đoạn, bốn
Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, tám Đạo chi, bốn Tĩnh lự,
bốn Vô lượng, bốn Vô sắc, tám Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến
xứ, tám Trí, ba Đẳng trì,mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai?
Đáp: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần
túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có
năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo chi, hiện tại và vị  lai
726 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
đều có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc,
không có Giải thoát, không có Th ắng xứ, không có Biến xứ, không có
Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một.
Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Đây là ngăn chặn ý chấp
về hai tâm cùng hiện hành, và không có tu vị lai. Nếu có hai tâm cùng
lúc hiện hành, thì bốn Niệm trú phải tu ở hiện tại. Nhưng bốn Niệm trú
chắc chắn không cùng hiện hành, bởi  vì một tâm tương ưng không có
bốn Tuệ. Không thể nào kiến lập bốn pháp này cùng chung một Thể,
bởi vì hành tướng và sở duyên đều có khác biệt. Không phải là trong
một sự nối tiếp nhau mà có nhiều ta âm cùng sinh khởi, đừng vì điều ấy
mà thành ra nhiều hữu tì nh. Nếu đời vị lai kh ông có nghĩa của tu, thì
pháp thiện đã tu không có nghĩa tăng rộng, khởi lên nhiều gia hạnh sẽ
trở thành trống rỗng, giả sử dụng công nhiều mà đạt được rất ít, và lúc
mới thành Phật sẽ chưa đầy đủ tất cả công đức. Đừng có những sai lầm
như vậy. Có tu vị lai, bởi vì đời vị lai rộng rãi cho nên tu đầy đủ bốn, thế
dụng của tu hiện tại có năng lực da ãn dắt pháp thuộc chủng loại tương
lai, có thể khiến cho hiện rõ trước mắt. Hiện tại có một, đó là duyên xen
tạp với Pháp niệm trú, bởi vì thấy được Đạo đế.
Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Đây là ngăn
chặn ý chấp về Chánh đoạn-Thần t úc không phải là có cùng một lúc.
Thể của Chánh Cần có bốn, phát động tạo tác như ngọn đèn, trong một
lúc có bốn tác dụng, một Tam-ma-địa nhờ vào bốn nhân mà sinh ra, cho
nên từ nhân mà thiết lập bốn tên gọi. Tu vị lai, cũng là một phần nghĩa
thuộc về Thể, cho nên hiện tại và vị lai đều nói là tu có bốn.
Căn-Lực, hiện tại và vị lai có năm. Đây là ngăn chặn ý chấp về
Thể của Căn-Lực khác nhau, và nói năm loại sinh khởi theo thứ tự. Tuy
phần vị của Căn-Lực khác nhau mà tự Thể không có gì khác biệt, tức là
một Tín… có hai tác dụng của sinh-pha ù, cho nên thiết lập tên gọi Căn-
Lực không trái ngược lẫn nhau. Bởi vì giúp đỡ nhau cùng phát khởi, cho
nên năm loại này không phải là sinh khởi theo thứ tự.
Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đây là nga ên chặn ý chấp
về Cận phần có Hỷ. Bởi vì nơi này chưa đạt được địa Căn bản phía trên,
chưa lìa sợ hãi của địa dưới, cho nên không sinh ra Hỷ. Trong kinh nói
dựa vào Hỷ đoạn để rời bỏ Ưu, là dựa vào đạo gia hạnh mà nói, không
phải là đạo vô gián cho nên không tr ái ngược nhau. Ở đây dựa vào Vị
chí không có Hỷ, cho nên có sáu.
Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Đây là ngăn chặn ý chấp về
Chánh ngữ-nghiệp-mạng không cùng lúc. Do không có tham-sân-si mà
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 140 727  
www.daitangkinh.org  
phát khởi Vô biểu, cho nên đều có bảy loại cùng lúc dấy khởi.
Không có Tĩnh lự. Đây là ngăn cha ën ý chấp về Dự lưu-Nhất lai
cũng đạt được Tĩnh lự. Bởi vì người này chưa lìa dục mà tiến vào Kiến
đạo, người đã lìa dục thì không phải là hai Hướng.
Không có Vô lượng. Đây là ngăn chặn ý chấp về Vô lượng cũng
gồm chung vô lậu, và trong Kiến đạo có tu Vô lượng. Bởi vì pháp này
duyên với hữu tình, không phải là vô lậu và Kiến đạo nhanh chóng. Vả
lại, vì mới đạt được cho nên không có năng lực tu đầy đủ tất cả. Hơn
nữa, bởi vì chưa đạt được địa Căn bản, cho nên không tu Vô lượng.
Không có Vô sắc. Đây là ngăn chặn ý chấp về Vô sắc có Kiến
đạo. Bởi vì trong Vô sắc không có Trí duyên với khắp nơi, cho nên chắc
chắn không có Kiến đạo. Vả lại, bởi vì nơi này chưa đạt được Định Vô
sắc.
Không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Đây
là ngăn chặn ý chấp về ba pháp trước như Giải thoát…, cũng gồm chung
vô lậu. Bởi vì mười sáu hành tướng vốn không thâu nhiếp, cho nên
không gọi là vô lậu. Vả lại, bởi vì lúc  bấy giờ chưa đạt được địa Căn
bản, cho nên những pháp ấy đều không tu.
Không có Trí. Đây là ngăn chặn ý chấp về Nhẫn tức là Trí. Bởi vì
Nhẫn đối với cảnh của Đế chưa quyết định chính xác như thật, cho nên
không gọi là Trí. Vả lại, bởi vì ở phần vị này tu trong phạm vi của mình,
không tu các trí của vị lai, cho nên nói là không có.
Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một. Đây là ngăn chặn ý chấp
về ba Tam-ma-địa có nghĩa khác nh au mà Thể như nhau. Bởi vì hành
tướng của ba Đẳng trì khác nhau, cho nên Thể cũng có khác nhau. Một,
đó là Đẳng trì Vô nguyện, bởi vì lúc Đạo loại nhẫn hiện khởi chỉ tu pháp
này, cho nên tuy tám Nhẫn đều là đạo vô gián, nhưng dựa vào phần vị
chứng quả mà nói thì chỉ là Đạo loại nhẫn chứ không phải là pháp nào
khác.
Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng quả Nhấ t lai, lúc tu đạo ấy thì bốn
Niệm trú, cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai? Đáp:
Nếu thêm lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu đạo
ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện
tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hi ện tại và vị lai đều có năm. Giác
chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám.
Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có Giải
thoát, không có Thắng xứ, không c ó Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì,
hiện tại và vị lai đều có một.
728 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Nếu thêm lìa nhiễm cõi Dục, tiến vào Chánh tánh ly sinh. Đây là
ngăn chặn ý chấp về dị sinh không đoạn phiền não. Nhưng chủng loại
dị sinh có thể dùng sáu loại hành tướng như thô…, lìa nhiễm của cõi Dục
cho đến lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ. Nếu trước đã lìa nhiễm cõi Dục
thuộc sáu phẩm, thì gọi là thêm lìa nhiễm cõi Dục, bởi vì thêm ba phẩm
sau. Những câu còn lại đều giải thích như trước.
Nếu từ quả Dự lưu dùng đạo thế tục chứng quả Nhất lai, thì lúc tu
đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc,
hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực , hiện tại và vị lai đều có năm.
Giác chi, hiện tại không có, vị lai có sáu. Đạo chi, hiện tại không có,
vị lai có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc,
không có Giải thoát, không có Th ắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện
tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba.
Dùng đạo thế tục chứng quả Nhất lai. Đây là ngăn chặn ý chấp về
Thánh giả không dùng đạo thế tục để đoạn phiền não. Bởi vì Thánh giả
đều thành tựu đối với hai đạo, cho nên tùy theo ý muốn hiện rõ trước
mắt, thì dùng đạo ấy để đoạn.
Niệm trú, hiện tại có một, đó là duyên xen tạp với Pháp niệm
trú, bởi vì đạo vô gián lìa nhiễm hữu lậu, cho nên chắc chắn là duyên
chung.
Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Đây là ngăn chặn ý chấp
về Tín… chỉ là vô lậu. Nói là bởi vì quán xét về Tín… là Tập…, bởi vì
Đức Phật quán xét ba căn rồi mới thuyết pháp, bởi vì hữu lậu cũng có
tác dụng của Căn-Lực.
Giác chi, hiện tại không có. Đây là ngăn chặn ý chấp về Giác chi
gồm chung hữu lậu. Bởi vì hữu lậu không có năng lực nhận hiểu đúng
như thật, cho nên nói là quán Bất tịnh đi cùng với tu Niệm giác chi, đó
là dựa vào nhân lần lượt chuyển đổi cùng có mà nói. Vị lai có sáu, bởi
vì lúc Thánh giả khởi lên đạo hữu lậu, cũng tu gồm chung vô lậu.
Đạo chi, hiện tại không có, tuy là Đạo chi gồm chung hữu lậu,
nhưng nói sau Giác chi cho nên cũng ch ỉ là vô lậu, bởi vì A-tỳ-đạt-ma
có tướng như vậy.
Không có Vô lượng…, bởi vì trong Đị nh Vị chí không có các pháp
thiện của các địa Căn bản ấy.
Trí, hiện tại có một, đó là trí thế tu ïc; vị lai có bảy, là trừ ra Tha
tâm trí, bởi vì trái với đạo vô gia ùn, và bởi vì chưa đạt được. Trong này
chỉ dựa vào tám trí mà soạn luận, trừ ra Tận trí và Vô sinh trí, bởi vì
phần vị hạn chế.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 140 729  
www.daitangkinh.org  
Đẳng trì, hiện tại không có, ba  Đẳng trì tuy gồm chung hữu lậu,
nhưng trong này nói đến vô lậu, bởi vì vô lậu là cửa ngõ giải thoát. Văn
này nói đến đạo vô gián thứ sáu, bởi vì đạo ấy có năng lực chứng được
quả Nhất lai. Phần còn lại như trước nói.
Nếu từ quả Dự lưu dùng đạo vô lậu chứng quả Nhất lai, thì lúc tu
đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc,
hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực , hiện tại và vị  lai đều có năm.
Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có
tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc, không có
Giải thoát, không có Thắng xứ, không c ó Biến xứ. Trí, hiện tại có hai,
vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.
Niệm trú, hiện tại có một, đó là Ph áp niệm trú, hoặc là xen tạp-
không xen tạp, bởi vì bốn Pháp trí tùy theo khởi lên một.
Trí, hiện tại có hai, đó là Khổ trí và Pháp trí, hoặc là cho đến Đạo
trí và Pháp trí.
Đẳng trì, hiện tại có một, đó là trong ba tùy theo một. Phần còn
lại như trước nói.
Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng quả Bất hoàn, lúc tu đạo ấy thì bốn
Niệm trú, cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai?
Đáp: Nếu đã lìa nhiễm cõi Dục , dựa vào Định Vị chí tiến vào
Chánh tánh ly sinh, thì lúc  tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai
có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại  và vị lai đều có bốn. Căn-Lực,
hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo
chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng,
không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có
Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một.
Không có Tĩnh lự, bởi vì Kiến đạo dựa vào địa dưới không tu pháp
của địa trên. Phần còn lại như trước nói.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ nhất tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc
tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần
túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có
năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có bảy. Đạo chi, hiện tại và vị lai
đều có tám. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Không có Vô lượng,
không có Vô sắc, không có Giải th oát, không có Thắng xứ, không có
Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một. Giải thích
đoạn văn này dựa theo trước nên biết.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian ti ến vào Chánh ta ùnh ly sinh, thì
lúc tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần
730 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có
năm. Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị
lai có tám. Tĩnh lự, hiện tại không có, vị lai có một. Không có Vô lượng,
không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có
Biến xứ, không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một.
Giác chi, hiện tại có sáu, bởi  vì Tĩnh lự trung gian không có Hỷ
căn. Bởi vì địa trên tu pháp của địa dưới, cho nên vị lai có bảy.
Đạo chi, hiện tại có bảy. Đây là ngăn chặn ý chấp về địa trên có
Tầm, bởi vì tâm của địa trên này vi tế cho nên không có Tầm. Phần còn
lại như trước nói.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ hai tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu
đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc,
hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực , hiện tại và vị lai đều có năm.
Giác chi, hiện tại và vị lai đều có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có
tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có hai. Không có Vô lượng, không
có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ,
không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một. Giải thích đoạn văn
này dựa theo trước nên biết.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ ba tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu
đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc,
hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực , hiện tại và vị  lai đều có năm.
Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai
có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có ba. Không có Vô lượng, không
có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ,
không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị  lai đều có một. Giải thích đoạn
văn này như trước.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ tư tiến vào Chánh tánh ly sinh, thì lúc tu
đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc,
hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực , hiện tại và vị  lai đều có năm.
Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có
tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Không có Vô lượng, không
có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không có Biến xứ,
không có Trí. Đẳng trì, hiện tại và vị lai đều có một. Đoạn này tùy theo
sự thích hợp, giải thích như trước.
Nếu từ quả Nhất lai dùng đạo thế tục chứng quả Bất hoàn, thì lúc
tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần
túc, hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có
năm. Giác chi, hiện tại không có, vị lai có sáu. Đạo chi, hiện tại không
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 140 731  
www.daitangkinh.org  
có, vị lai có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô
sắc, không có Giải thoát, không c ó Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí,
hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba.
Giải thích đoạn văn này như trước nên biết.
Nếu từ quả Nhất lai dùng đạo vô lậu chứng quả Bất hoàn, thì lúc
tu đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần
túc, hiện tại và vị la i đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có
năm. Giác chi, hiện tại và vị lai đều có sáu. Đạo chi, hiện tại và vị lai
đều có tám. Không có Tĩnh lự, không có Vô lượng, không có Vô sắc,
không có Giải thoát, không có Th ắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện
tại có hai, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba. Đoạn này
giải thích như trước.
Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng Thần cảnh trí thông, lúc tu đạo ấy
thì bốn Niệm trú cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị
lai? Đáp: Nếu các dị sinh dựa vào Tĩ nh lự thứ nhất, thì lúc tu đạo ấy:
Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại
và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Không có
Giác chi, không có Đạo chi. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Vô
lượng, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có V ô sắc. Giải thoát,
hiện tại không có, vị lai có hai. Th ắng xứ, hiện tại không có, vị lai có
bốn. Không có Biến xứ. Trí, hiện tại  và vị lai đều có một. Không có
Đẳng trì.
Trong này, Niệm trú hiện tại có một, đó là Thân niệm trú, bởi vì
Thần cảnh trí thông chỉ duyên với sa éc, đạo vô gián ấy cũng chỉ duyên
với sắc.
Hỏi: Như Định Kim cang dụ duyên với  bốn Uẩn của Hữu Đảnh,
hoặc là Diệt-Đạo của ba cõi; Lậu tận thông duyên với bốn Uẩn của Hữu
Đảnh, như vậy thì sở duyên có lúc khác nhau, vì sao trong này nói Thần
cảnh trí thông và đạo vô gián nhất định cùng duyên với sắc?
Đáp: Định Kim cang dụ và Tận trí-Vô sinh trí lúc đầu, đều là đạo
quán xét về Đế mà đoạn phiền na õo, chỉ cầu lìa nhiễm chứ không phải
là đối với sở duyên, bởi vì có sự chuyển đổi tạo tác cho nên sở duyên có
lúc khác nhau. Thần cảnh trí thông… đều là tùy theo sự việc mà tác ý,
bởi vì đều muốn biết rõ ràng đối với cảnh biến hiện, cho nên sở duyên
nhất định phải như nhau.
Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có bốn, nghĩa là công đức hữu
lậu trong địa Căn bản, bởi vì cùng địa cho nên tùy theo thích hợp đều
tu.
732 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có hai, nghĩa là hai Giải thoát
đầu, lúc ấy còn hệ thuộc hai Tĩnh lự đầu.
Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn, nghĩa là bốn Thắng xứ
đầu cũng hệ thuộc nơi ấy.
Trí, hiện tại và vị lai đều có một, đó là thế tục trí.
Hỏi: Vì sao không có tha tâm trí?
Đáp: Bởi vì trong đạo vô gián không tu trí ấy. Phần còn lại tùy
theo thích hợp đã nói như trước.
Nếu các Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, thì lúc tu đạo ấy:
Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại
và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện ta ïi và vị lai đều có năm. Giác chi,
hiện tại không có, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại không có, vị lai có
tám. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Vô lượng, hiện tại không có,
vị lai có bốn. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có
hai. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Biến xứ. Trí,
hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba.
Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một.
Hỏi: Thánh giả đã lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ ba đạt được Tĩnh lự
thứ tư, dựa vào Tĩnh lự thứ nhất tu Thần cảnh thông, trong đạo vô gián
nên nói là Tĩnh lự tu vị lai có bốn, bởi vì đạo vô lậu dựa vào địa trên-
dưới mà tu, vì sao chỉ nói là vị lai có một?
Đáp: Có người nói: Cần phải nói tu vị lai có bốn mà không nói thì
nên biết là có khác.
Có người nói: Trong này dựa vào từ từ mà nói, nghĩa là từ vốn có
phiền não tiến vào Chánh tánh ly sinh, cho đến đạt được quả Bất hoàn
rồi, dựa vào Tĩnh lự thứ nhất tu Thần cảnh thông, trong đạo vô gián tu
vị lai có một, không tu pháp của địa trên bởi vì chưa đạt được.
Có người nói: Giả sử lìa nhiễm c ủa Tĩnh lự thứ ba, dựa vào Tĩnh
lự thứ nhất tu Thần cảnh thông, thì cũng chỉ tu một bởi vì không tu pháp
của địa trên.
Hỏi: Chẳng lẽ không dựa vào Tĩnh lự thứ nhất để đoạn nhiễm của
địa trên, và người Vô học lúc tu pháp Luyện căn cũng tu tất cả công đức
của địa trên hay sao? Thà rằng nói là dựa vào địa dưới không có thể tu
pháp của địa trên.
Đáp: Đoạn phiền não của địa trên thì có thể tu pháp của địa trên,
bởi vì đạo của địa ấy có sự đối trị như nhau, cho nên pháp đoạn phiền
não ấy có năng lực đối trị thì cần phải tu, Vô học Luyện căn giống như
đạt được quả ấy, vì vậy lúc này đều dựa vào địa dưới mà tu địa trên; các
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 140 733  
www.daitangkinh.org  
thần thông thì không như vậy, cho nên không tu pháp của địa trên. Như
trong Kiến đạo chỉ tu pháp của địa dưới địa mình.
Ví dụ này phi lý, bởi vì Kiến đạo là lần đầu đạt được chủng tánh
mà chưa tự tại, chỉ tu trong phạm vi của mình; Tu đạo là đã đạt được
chủng tánh, tự tại đối với chủng tánh ấy lẽ nào không tu đầy đủ hay sao?
Nhưng năm thần thông là công đức thù thắng, lúc tu gia hạnh cần phải
tác ý cao nhất. Nếu các Tĩnh lự đã đa ït được tự tại thì lý nào làm ngăn
ngại mà không tu đầy đủ? Vì vậy nên biết cách nói trước là hợp lý.
Không có Vô sắc…, dựa theo đây nên biết. Phần còn lại như trước
nói.
Nếu các dị sinh dựa vào Tĩnh lự thứ hai, thì lúc tu đạo ấy:   Niệm
trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị
lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Không có Giác
chi, không có Đạo chi. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Vô lượng,
hiện tại không có, vị lai có bốn. Không c ó Vô sắc. Giải thoát, hiện tại
không có, vị lai có hai. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không
có Biến xứ. Trí, hiện tại và vị lai đều có một. Không có Đẳng trì.
Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một, nghĩa là lúc ấy đã đạt được
pháp của địa dưới mà không tu công đức hữu lậu, chỉ tu pháp của địa
mình bởi vì thuộc về cõi-địa. Phần còn lại như trước nói.
Nếu các Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ hai, thì lúc tu đạo ấy:
Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại
và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện ta ïi và vị lai đều có năm. Giác chi,
hiện tại không có, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại không có, vị lai có
tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có hai. Vô lượng, hiện tại không có,
vị lai có bốn. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có
hai. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Biến xứ. Trí,
hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không có, vị lai có ba.
Tĩnh lự, vị lai có hai, nghĩa là ha i Tĩnh lự đầu, ba n đầu chỉ là vô
lậu. Phần còn lại như trước nói.
Nếu các dị sinh dựa vào Tĩnh lự thứ ba, thì lúc tu đạo ấy: Niệm
trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị
lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Không có Giác
chi, không có Đạo chi. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một. Vô lượng,
hiện tại không có, vị lai có ba. Khô ng có Vô sắc, không có Giải thoát,
không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại và vị lai đều có một.
Không có Đẳng trì.
Vô lượng, vị lai có ba, đó là trừ ra Hỷ vô lượng.
734 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Không có Giải thoát…, bởi vì Tĩnh lự thứ ba do Lạc mà mê đắm,
cho nên không có những giải thoát, chán ngán thực hành công đức giải
thoát thanh tịnh…, tuy dấy lên hành tướng vui mừng, nhưng bởi vì địa có
tai họa bất ngờ cho nên cũng không đa ït được. Phần còn lại như trước
nói.
Nếu các Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ ba, thì lúc tu đạo ấy: Niệm
trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị
lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện tại
không có, vị lai có bảy. Đạo chi, hi ện tại không có, vị lai có tám. Tĩnh
lự, hiện tại có một, vị lai có ba. Vô lượng, hiện tại không có, vị lai có
ba. Không có Vô sắc, không có Giải thoát, không có Thắng xứ, không
có Biến xứ. Trí, hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không
có, vị lai có ba. Giải thích rộng ra như trước.
Nếu các dị sinh dựa vào Tĩnh lự thứ tư, thì lúc tu đạo ấy: Niệm
trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị
lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Không có Giác
chi, không có Đạo chi. Tĩnh lự, hiện tại và vị lai đều có một.Vô lượng,
hiện tại không có, vị lai có ba. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại
không có, vị lai có một. Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Biến
xứ, hiện tại không có, vị lai có tám. Trí, hiện tại và vị lai đều có một.
Không có Đẳng trì.
Giải thoát, vị lai có một, đó là trú đầy đủ vào Thân tác chứng-giải
thoát thanh tịnh.
Thắng xứ, vị lai có bốn, đó là bốn Thắng xứ sau.
Biến xứ, vị lai có tám, đó là tám Biến xứ trước. Bởi vì trong địa
này lìa xa tám tai họa bất ngờ, ch o nên có những công đức thanh tịnh
như vậy. Phần còn lại như trước nói.
Nếu các Thánh giả dựa vào Tĩnh lự thứ tư, thì lúc tu đạo ấy: Niệm
trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại và vị
lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện tại và vị lai đều có năm. Giác chi, hiện
tại không có, vị lai có bảy. Đạo chi,  hiện tại không có, vị lai có tám.
Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Vô lượng, hiện tại không có, vị
lai có ba. Không có Vô sắc. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có một.
Thắng xứ, hiện tại không có, vị lai có bốn. Biến xứ, hiện tại không có,
vị lai có tám. Trí, hiện tại có một, vị lai có bảy. Đẳng trì, hiện tại không
có, vị lai có ba. Giải thích rộng ra như trước.
Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng Th iên nhĩ trí thông, Tha tâm trí
thông, Túc trú tùy niệm trí thông, Sinh tử trí thông, lúc tu đạo ấy thì bốn
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 140 735  
www.daitangkinh.org  
Niệm trú cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai?
Đáp: Như Thần cảnh trí thông, cần phải tùy theo tướng mà nói,
bởi vì năm loại này đều dựa vào bốn Tĩnh lự, dị sinh và Thánh giả đều
có thể khởi lên. Nhưng lúc tu Thiên nhĩ trí thông-Sinh tử trí thông, thì
đạo vô gián có Niệm trú hiện tại như Thần cảnh trí thông đã nói, bởi vì
cùng duyên với sắc làm Thân niệm trú; lúc tu Tha tâm trí thông, thì đạo
vô gián hiện tại chỉ khởi lên Tâm niệm trú; lúc tu Túc trú tùy niệm trí
thông, thì đạo vô gián hiện tại chỉ khởi lên Pháp niệm trú. Phần còn lại
tùy theo thích hợp đều nói như trước.
Hỏi: Dùng đạo vô gián chứng Lậu tận trí thông, lúc tu đạo ấy thì
bốn Niệm trú cho đến ba Đẳng trì, mấy là tu hiện tại, mấy là tu vị lai?
Đáp: Nếu dựa vào Định Vị chí chứng qua û A-la-hán, thì lúc tu đạo ấy:
Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại
và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện ta ïi và vị lai đều có năm. Giác chi,
hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám. Tĩnh
lự, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc, hiện tại
không có, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có ba. Không
có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu. Đẳng
trì, hiện tại có một, vị lai có ba.
Niệm trú, hiện tại có một, đó là Ph áp niệm trú, hoặc là xen tạp-
không xen tạp, bởi vì bốn Loại trí và hai Pháp trí, tùy theo một loại hiện
rõ trước mắt.
Tĩnh lự, vị lai có bốn, bởi vì đoạn phiền não của Hữu Đảnh, cùng
tu về đạo có năng lực đối trị của địa trên-dưới.
Không có Vô lượng…, bởi vì lúc bấy giờ không tu pháp hữu lậu,
bởi vì pháp hữu lậu không có năng lực đối trị với Hữu Đảnh.
Vô sắc và Giải thoát, vị lai có ba, đó là ba Vô sắc trước và chính
ba Giải thoát ấy đều gồm chung vô lậu.
Trí, hiện tại có hai, đó là Diệt trí và Pháp trí, hoặc là Đạo trí và
Pháp trí, hoặc là Khổ trí và Loại trí, cho đến hoặc là Đạo trí và Loại trí.
Vị lai có sáu, đó là trừ ra thế tục trí và Tha tâm trí, bởi vì trí ấy là hữu
lậu, cho nên cùng với đạo vô gián trái ngược nhau.
Đẳng trì, hiện tại có một, đó là Không-Vô tướng-Vô nguyện, tùy
theo một loại hiện rõ trước mắt, bởi vì Định Kim cang dụ tương ưng với
sáu Trí. Trong này chỉ nói về đạo vô gián thứ chín đoạn phiền não của
Hữu Đảnh, bởi vì đạo ấy có thể chứng được Lậu tận trí thông. Phần còn
lại như trước nói.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ nhất chứng quả A-la-hán, thì lúc tu  đạo
736 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện
tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hi ện tại và vị lai đều có năm. Giác
chi, hiện tại và vị lai đều có bảy. Đạo chi, hiện tại và vị lai đều có tám.
Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc, hiện
tại không có, vị lai có ba. Giải thoa ùt, hiện tại không có, vị lai có ba.
Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu.
Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian chứng quả A-la-hán, thì lúc tu đạo
ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện
tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hi ện tại và vị lai đều có năm. Giác
chi, hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có tám.
Tĩnh lự, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc,
hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có
ba. Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có
sáu. Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ hai chứng quả A-la-hán, thì lúc tu đạo ấy:
Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại
và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện ta ïi và vị lai đều có năm. Giác chi,
hiện tại và vị lai đều có bảy. Đạo chi, hiện tại có bảy, vị lai có tám. Tĩnh
lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc, hiện tại
không có, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai có ba. Không
có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu. Đẳng
trì, hiện tại có một, vị lai có ba.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ ba-thứ tư chứng quả A-la-hán, thì lúc tu
đạo ấy: Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc,
hiện tại và vị lai đều có bốn. Căn-Lực , hiện tại và vị lai đều có năm.
Giác chi, hiện tại có sáu, vị lai c ó bảy. Đạo chi, hiện ta ïi có bảy, vị lai
có tám. Tĩnh lự, hiện tại có một, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô
sắc, hiện tại không có, vị lai có ba. Giải thoát, hiện tại không có, vị lai
có ba. Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai
có sáu. Đẳng trì, hiện tại có một, vị  lai có ba. Đoạn này tùy theo thích
hợp như trước giải thích.
Nếu dựa vào Định Vô sắc chứng quả  A-la-hán, thì lúc tu đạo ấy:
Niệm trú, hiện tại có một, vị lai có bốn. Chánh đoạn-Thần túc, hiện tại
và vị lai đều có bốn. Căn-Lực, hiện ta ïi và vị lai đều có năm. Giác chi,
hiện tại có sáu, vị lai có bảy. Đạo ch i, hiện tại có bốn, vị lai có tám.
Tĩnh lự, hiện tại không có, vị lai có bốn. Không có Vô lượng. Vô sắc,
hiện tại có một, vị lai có ba. Giải t hoát, hiện tại có một, vị lai có ba.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 140 737  
www.daitangkinh.org  
Không có Thắng xứ, không có Biến xứ. Trí, hiện tại có hai, vị lai có sáu.
Đẳng trì, hiện tại có một, vị lai có ba.
Dựa vào Định Vô sắc, đó là dựa  vào Không vô biên xứ, hoặc là
dựa vào Thức vô biên xứ, hoặc là dựa  vào Vô sở hữu xứ, bởi vì ba địa
này đều có đạo vô lậu, có thể lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Định lực của Phi tưởng phi phi tưởng xứ mơ hồ yếu kém, không phải là
nơi nương tựa của đạo vô lậu, cho nên trong này không nói đến.
Đạo chi, hiện tại có bốn. Đây là ngăn chặn ý chấp về cõi Vô sắc
có Giới vô lậu, và địa trên có Chánh tư duy. Bởi vì bốn Đại chủng không
có nơi nương tựa, và bởi vì tâm của địa trên dần dần vi tế.
Hỏi: Như không có Đại chủng vô lậu mà có Giới vô lậu, như vậy
tuy không có Đại chủng của địa ấy mà có Giới của địa ấy, điều này có
gì sai?
Đáp: Giới vô lậu không rơi vào cõi- địa, tùy theo Đại chủng sở
tạo của thân sở y, vì vậy tuy không có Đại chủng vô lậu mà có Giới vô
lậu sở tạo. Giới hữu lậu nha át định rơi vào cõi-đ ịa, chỉ là Đại chủng sở
tạo của địa mình. Bởi vì cõi ấy không có Đại chủng, cho nên Giới cũng
không có.
Hỏi: Nếu không có Giới vô lậu tùy theo Đại chủng sở tạo của thân
sở y, thì sinh ở cõi Dục-Sắc lúc tiến vào Định Vô sắc thuộc vô lậu cần
phải khởi lên Định ấy cùng với Giới  vô lậu, bởi vì có Đại chủng của
thân sở y?
Đáp: Tuy Giới vô lậu tùy theo Đại chủng sở tạo của thân sở y,
nhưng hễ địa nào cần có Đại chủng tạo, thì Giới hữu lậu mới tùy theo
chủng loại ấy mà dấy khởi Giới vô lậu. Trong Vô sắc không có Đại
chủng tạo của Giới hữu lậu cho nên Giới vô lậu ở cõi ấy cũng không có,
bởi vì dựa vào Giới vốn có ấy mà phát khởi vô lậu.
Hỏi: Vì sao Thể của Giới chỉ là sắc?
Đáp: Bởi vì ngăn chặn sắc ác dấy khởi. Vả lại, vốn là tánh của
nghiệp thân-ngữ, bởi vì hai nghiệp thân-ngữ lấy sắc làm Thể.
Hỏi: Vì sao ý nghiệp không phải là Giới?
Đáp: Bởi vì không có thể tự mình ngăn chặn Giới ác.
Hỏi: Vì sao Giới ác không phải là ý nghiệp?
Đáp: Người chưa lìa dục đều thành tựu ý nghiệp bất thiện, lẽ nào
những người ấy đều gọi là phạm giới, hoặc là không có luật nghi hay
sao? Vì vậy cho nên Giới ác không phải là ý nghiệp. Vả lại, ý nghiệp
thiện nếu là Giới thiện, thì lẽ ra tất cả những người không đoạn mất căn
thiện đều gọi là trú trong luật nghi, bởi vì những người ấy đều thành tựu
738 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
ý nghiệp thiện. Nếu chấp nhận như vậy, thì một hữu tình gọi là trú trong
luật nghi, cũng gọi là trú trong không có luật nghi. Vậy là sẽ không có
ba loại sai biệt, như vậy thì trá i ngược với Thánh giáo, cho nên Giới
thiện-Giới ác đều không phải là ý nghiệp. Vả lại, thế gian cùng chấp
nhận phòng ngừa giữ gìn thân-ngữ thì nói là Giới, cho nên ý nghiệp
không phải là Giới. Cần phải biết rằng ý nghiệp là nhân phát sinh Giới,
không thể nào nhân của Giới mà gọi  là Giới. Đừng làm cho nhân quả
có lỗi tạp loạn. Vì vậy, trong Vô sa éc thì Đạo chi chỉ có bốn, vị lai gồm
tu vô lậu của địa dưới cho nên có đầy đủ tám.
Vô sắc và Giải thoát, hiện tại  có một, đó là ba địa đã dựa vào
trước đây tùy theo một địa. Phần còn lại như trước đã giải thích.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt