A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 142
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
五百大阿羅漢等造 三藏法師玄奘奉 詔譯 6 根蘊1 根納息1 根蘊第六中根納息第一之一 二十二根。眼根耳根鼻根舌根身根女根男 根命根意根樂根苦根喜根憂根捨根信根精 進根念根定根慧根未知當知根已知根具知 根。此二十二根。幾學。幾無學。幾非學非無 學。如是等章。及解章義。既領會已應廣分 別。問何故尊者以二十二根而作論。答是 彼尊者所樂欲故。隨彼所欲不違法相而 作斯論。不應責其所以。有說。不應問。彼 尊者以契經說二十二根。彼根契經是此論 根本。依彼經造論不可責其因緣。以彼 尊者於佛所說二十二根不能少減說二 十一。不能少增說二十三。以佛所說無增 減故不可增減。如不可增減。不可多少。 不可損益。無量無邊應知亦爾。以佛所說 無量無邊。不可於中作量邊故。無量者義 難測故。無邊者文難知故。譬如大海無量 無邊。無量者深。無邊者廣。世尊所說應知亦 然。雖百千俱胝那庾多數。如舍利子等諸大 論師。於佛所說二句文義。造百千論分別 解釋。盡其覺性不得邊際。是故不應責 彼尊者。問置彼尊者。世尊何故說此契經。 答觀所化者應聞此法得饒益故。復次此 經有別緣起。謂有梵志名曰生聞。來詣佛 所歡喜。問訊。在一面坐而白佛言。施設幾 根攝諸根盡。佛言。我說二十二根攝諸 根盡。若有遮此更說餘根。當知彼說有言 無義。若還問彼反生愚惑。所以者何。非其 境故由梵志問。說此契經。是故不應徵佛 說意。問置佛說意。梵志何故但問諸根。不 問蘊界處等。答隨彼所疑而問。不應為 責。或彼梵志性善尋思。隨有所聞憙便歷 問。為知根義周遍遊歷九十六道問諸根 量。如離繫者施設一根所謂命根遍內外 物。故彼立制不飲冷水。不斷生草以有 命故。問諸外道於外物中。執有何根名有 根法。答有於外物執有意根。有於外物執 有命根。有於外物執有二根。由意根故 名有根法。由命根故名有命法。有於外物 執有二根。謂業與意隨應當說。又如外道 波羅設利。作如是說。眼不見色。耳不聞 聲。名聖修根。問何故彼名波羅設利。答是 所立名不應問立名所以。名隨假立不必 皆有實義故。有說。此是彼姓。謂婆羅門有姓 憍蹉。有姓筏蹉。有姓扇祑略。有姓憍陳那。 有姓婆羅墮闍。有姓波羅設利。有說。此是 雜種。謂從剎帝利婆羅門生。名波羅設利。 如從驢馬所生名騾。如是說者。此是彼 姓。彼有弟子名嗢怛羅。曾於一時來詣佛 所。歡喜問訊在一面坐。佛時告曰。汝師波 羅設利。為汝等說修根法耶。嗢怛羅言。我 師曾說。佛問云何。彼云。我師作如是說。眼 不見色。耳不聞聲。名聖修根無所取故。 佛即難曰。若爾盲者應名聖修根不見色 故。時阿難陀佛邊侍立。為佛搖扇。尋亦 難言。聾者亦應名聖修根不聞聲故。問 設有外道。百千俱胝那庾多數。智慧辯才 如舍利子。佛皆能伏。何故世尊作初難已。 尊者慶喜作第二難。世尊何故而不遮止。答 佛觀慶喜咽喉有相。知欲設難故便自止。 以佛昔在三無數劫。精懃修習菩薩行時。 尚不斷他所有才辯。乃至弟子亦不遮遏。 況今成佛斷他辯才。又佛了知若自所說。若 慶喜說平等無異。無有增減故不遮止。又 顯師與弟子俱能摧伏他故。若師弟子俱 能伏者。乃名善伏故不遮制。又欲令彼無 餘言故。謂若世尊作第一難。慶喜不作第 二難者。則彼外道還自眾中。以餘慢心作 如是言。雖為彼師所伏而非弟子。彼雖能 伏我等而非我師。若佛世尊作第一難。慶 喜復作第二難者。則彼永捨憍慢之心。弟 子尚能摧伏我等何況彼師。設我師來亦不 能對何況我等。又欲滿彼梵志意故彼作 是念。喬答摩尊諸力士中。為無有上能伏 能破一切論者而無屈撓。諸論師中最為 尊勝。往昔所有諸大論師。尚無能對何況我 等。若彼弟子與我談論。我當酬對豈不宜 哉。佛一切時滿所化意。如其所念而汲引 之。故不遮止慶喜所難。復次佛以慶喜為 證義人。故彼外道眾信重慶喜。以彼尊者形 貌端嚴。善知因陀羅聲明論故。佛意令彼 問所信人。自驗師宗應正理不。慶喜時說 故佛不止。復次欲顯世尊無勝己慮故。謂 諸外道慮弟子中有勝己故。遮其言辯佛 無是事。設有弟子百千俱胝那庾多數。辯才 智慧如舍利子。亦無問難與佛等者況能勝 佛。復次欲顯己斷法慳垢故。謂諸外道不 許弟子與他論難。勿彼由斯多獲名譽恭 敬利養。佛則不爾。假使世間。一切皆得無 邊名利。佛無一毫終無嫉妬。是故不止慶 喜所說。復次欲顯弟子亦勝他故。謂諸外 道恐己門徒與他論難墮負受辱。世尊弟子 無不勝他。若論難時益更光揚如來正法 故不遮制。復次為欲顯示善說法中文義 滿足無異見故。謂諸外道惡說法中。文義乖 違師徒見異。隨有所立所說所解。師與弟 子各各相違。佛正法中無此過失。隨有所 立所說所解。弟子與師皆同一味。由此等緣 對彼外道。佛與慶喜各設一難。問外道若 許盲聾之人。是聖修根云何成難。答是為 大難亦是總說外道過失無能對者謂汝若 許盲聾之人。亦得名為聖修根者。汝等何 故棄捨居家。晝夜精勤修諸梵行。但應毀 壞眼耳二根。自可名為聖修根者。故前所說 是為大難。亦是總訶一切外道。又勝論者說 有五根。鼻舌眼身耳根為五。又數論者說 十一根。謂五覺根五業根意根。五覺根者。所 謂眼耳鼻舌身根。五業根者。謂語手足大小 便根。意者意根為第十一。或復有說。百二十 根。謂眼耳鼻各二為六。舌身意命及五受根。 信等五根總為二十。六趣各二十為百二十。 彼說阿素洛為第六趣。有說。根是主義。彼 外道說有百二十主。如天主龍主阿素洛主 及人主等。要受如是百二十處。勝妙之身方 得解脫。生聞梵志聞如是等。說根不同轉 生疑惑。不知何者是其實說。聞釋氏宮生 一大子。具三十二大丈夫相八十隨好。身 真金色圓光一尋。見者歡喜覩無厭足。捨輪 王位踰城出家。精勤修習難行苦行。證得 無上正等菩提。一切知者一切見者。斷一切 疑網施一切決定。能盡一切問難源底。聞 已即時來詣佛所。在一面坐而白佛言。說 根者多沙門說幾根攝諸根盡。問何故梵 志不以所聞說根差別。請問於佛而直作 此問耶。答彼有惡慧恐佛於他所說根中。 擇善而說故作總問。佛依彼問答言。我說 二十二根攝諸根盡。若有遮此更說餘根。 廣說乃至。非其境故。問世尊何故復作是 語。若有遮此更說餘根。當知彼說有言無 義。若還問彼反生迷惑。所以者何。非其境 故。答欲令彼知先所聞一根。乃至百二十 根皆非實故義言。我是一切知者一切見者。 尚不能於二十二根中。減一根說二十一。 增一根說二十三。況諸外道僻見無知於 諸根中有能增減。說一乃至百二十耶。由 此因緣彼來詣佛。但問根義非蘊界等 問此二十二根名有二十二。實體有幾。答對 法者言。名二十二。實體十七。於中男女三無 漏根無別體故。問何故男女根無別體耶。 答此二即是身根攝故。如說女根云何。謂身 根少分。男根云何。謂身根少分。問何故三無 漏根亦無別體。答此三即是九根攝故。九謂 意根。樂喜捨根。信等五根。此九根有位名未 知當知根。有位名已知根。有位名具知根。 即見道位。修道位。無學道位。如次應知。又 在隨信隨法行相續中。名未知當知根。在 信解見至身證相續中。名已知根。在慧解脫 俱解脫相續中。名具知根。九根聚集隨位說 三故無別體。由此故說二十二根名二十 二實體十七。尊者法救作如是說。名二十二。 實體十四。謂即前五及命捨定無別實體故。 問何故彼說命根無實體。答命根是不相應 行蘊所攝。彼說不相應行蘊無實體故。問 何故復說捨根無別體。答彼說離苦樂受 無別不苦不樂受。所以者何。諸所有受。或樂 或苦若非苦樂。云何名受。問若爾經說三受 當云何通。答彼作是說。樂受苦受有上。有 下有利有鈍。有躁有靜。諸上利躁者名樂 受苦受。諸下鈍靜者名不苦不樂受。此體不 定如疑而轉。問何故彼說定根亦無別體。 答彼說離心無定體故。如說定云何。謂心 一境性。由此諸根名二十二。實體十四。尊者 覺天作如是說。名二十二。實體唯一。所謂 意根。彼作是說。諸有為法有二自性。一大 種。二心。離大種無所造色。離心無心所。諸 色皆是大種差別。無色皆是心之差別。由此 義故實根唯一。如實義者。應如初說名二 十二。實體十七如名體。如是。名施設體施 設。名異相體異相。名異性體異性。名別性體 別性。名分別體分別。名覺悟體覺悟。應知 亦爾。是名諸根自性。我物性相自體 已說自性當說所以。問何故名根。根是何 義。答增上義是根義。明義是根義。現義是根 義。憙觀義是根義。端嚴義是根義。最義是根 義。勝義是根義。主義是根義。問若增上義是 根義者。諸有為法展轉增上。諸無為法於有 為增上。則一切法皆應立根。何故世尊立 二十二。脇尊者言。佛於諸法了達究竟。善 知諸法體相勢用餘不能知。若法有根相 者立根。無者不立不應責問。有說。增上緣 有下有上有劣有勝。上勝立根。下劣不 立。有說。雖一切法皆有增上緣義。而非皆 有增上明現。乃至主義。如二十二根者。如 一切有情雖皆互有增上緣義。而有勝者。 如鬼界中琰摩王勝。傍生趣中師子王勝。村 中主勝。國中王勝。四大洲中轉輪王勝。於欲 界中自在天勝。千世界中梵王為勝。於三 界中佛為最勝。佛於一切有情類中。獨稱 法王無倫匹故。如是諸法雖皆是增上緣。 而非一切皆有增上。乃至主義。如二十二 根者。故佛唯說此二十二根。 問若增上義是根義者。誰於何增上。答眼根 於四處增上。一莊嚴自身。二導養自身。三 為識等依。四作不共事。莊嚴自身者。雖有 妙身支分具足。眼根若缺人不喜觀。故於嚴 身此為增上。導養自身者。由眼根故見 好惡色。捨危就安令身久住。為識等依者。 眼識及相應法依此而生。作不共事者。唯 眼根見色非餘根。耳根於四處增上。一莊 嚴自身。二導養自身。三為識等依。四作不 共事。莊嚴自身者。雖有妙身支分具足。耳 根若缺人不憙觀。故於嚴身此為增上。導 養自身者。由耳根故聞好惡聲。捨危就安 令身久住。為識等依者。耳識及相應法依 此而生。作不共事者。唯耳根聞聲非餘根。 有餘師說。眼根導養生身為勝。耳根導養 法身為勝。如說。 譬如明眼人能避現嶮難 世有聰明者能離當苦惡 多聞能知法多聞能離罪 多聞捨無義多聞得涅槃 復有說者。眼根耳根俱能導養生身法身。 導養生身如前說。導養法身者。由眼根 故親近善士。由耳根故聽聞正法。由此能 引如理作意。法隨法行乃至展轉證得涅槃。 是故經說。梵壽梵志勿壞二根。謂眼與耳。 問何故於諸根聚中。但說勿壞二根耶。答 由眼耳根佛出世時。為路為門趣入佛法。 又由眼耳遇佛便能比知是佛。如說苾芻。 汝若不能知佛心者應二處求。一所聞。二 所見。由此偏說勿壞二根。鼻舌身根皆於 四處增上。一莊嚴自身。二導養自身。三為 識等依。四作不共事。莊嚴自身者。雖有妙 身支分具足。三根隨缺人不憙觀。導養自 身者。由此三根受用段食令身久住。以 段食是香味觸故。為識等依者。鼻識及相 應法依鼻根生。舌識及相應法依舌根生。 身識及相應法依身根生。作不共事者。唯 鼻能嗅。唯舌能嘗。唯身覺觸。各非餘根。意 根於二處增上。一能續後有。二自在隨轉。 能續後有者。如說識若不託母胎名色得 成羯邏藍不。不也世尊。自在隨轉者。如說。 世間心所引亦為心所勞 心若於彼生皆自在隨轉 有說。意根於染淨品增上。如說心雜染故 有情雜染。心清淨故有情清淨。男女二根於 二處增上。一有情異。二分別異。有情異者。 由此二根令諸有情男女類別分別異者。 由此二根形相言音乳房等別。謂劫初時無 女男差別。後於是處少造色生。便有男女 體類狀貌。顯形言音衣著飲食受用差別。有 說。此二於染淨品增上。於染勝者。非於婬 欲此無疑故。但由此二若壞若闕。於不律 儀。五無間業。不能受作。亦復不能斷諸善 根。於淨勝者。此男女根若壞若闕。便不能 起一切律儀。亦復不能離三界染。不能 種植三乘種子。命根於二處增上。一令說 有根。二令根不斷。命根若在可說有根。及 令諸根相續住故。有說。命根於四處勝。一 續眾同分。二持眾同分。三護養眾同分。四令 眾同分不斷。五受根於雜染品增上。以諸 有情由受勢力。四方追求遊於鐵鎖。鉤索 嶮路登山越谷。匍匐偃倒。或入大海遇諸 畏難。謂波浪洄澓室獸摩羅。黑風旋風伏山 灘磧墮惡龍宮。邏剎娑洲金毘羅難盜賊難 等。如是種種皆因諸受。問無漏受云何於 雜染品增上耶。答初起加行及趣入時。亦 於雜染品增上。謂觀行者求彼受時。亦須 追求衣食等物。由此勢力亦生染故。有說。 受於染淨俱勝。樂受。於染勝者。如說於樂 受貪隨增。於淨勝者。如說樂故心定。苦受。 於染勝者。如說於苦受瞋隨增。於淨勝者。 如說苦為信依。不苦不樂受。於染勝者。如 說於不苦不樂受無明隨增。於淨勝者。如 說六出離依捨。信等五根。於清淨品增上。 如說。 信生能歸趣越放逸流海 精進能除苦慧能得清淨 又說我聖弟子具信。伊師迦能捨不善修習 善法。又佛告慶喜。精進能得菩提。又說我 聖弟子具精進力。捨不善法修習善法。又 說念能遍行防護一切。我聖弟子具念防護。 捨不善法修習善法。又說定是正道不定是 邪道。定心得解脫非不定心。定心能知諸 蘊生滅。又說。我聖弟子具三定鬘。能離不 善修於善法。又說。 慧為世間上能順趣決擇 能正知諸法能盡老死苦 又說。一切法中慧為最上。又說。姊妹。我聖 弟子能以慧刀。斷諸結縛隨眠纏垢。又說。 我聖弟子具慧垣牆。能障惡法增長善法。 未知當知根。於未見諦而見諦增上。已知 根。於已見諦除煩惱過增上。具知根。於已 除煩惱過。得現法樂住增上。由此各各於 彼彼處有增上義。故說為根。 尊者寠沙筏摩作如是說。唯意一種是勝義 根。是內是遍有所緣故。是內者。內處攝故。是 遍者。從無間獄至有頂故。有所緣者。緣一 切法故。餘眼等根不具斯義。是故不立為 勝義根。謂眼等五雖內處攝。而非是遍非 有所緣。命根雖遍而非內處。亦非有緣。苦 樂憂喜。雖有所緣非遍非內。捨信等五雖 遍有緣而非內處。三無漏根如九根說。問 若唯意是勝義根者。餘二十一何故名根。答 彼與意根作所依。作依。作雜染。作清淨。 作清淨位。故亦名根。誰作所依。謂眼等五 根。誰作依。謂命根。誰作雜染。謂五受根。誰 作清淨。謂信等五根。誰作清淨位謂三無漏。 根。即見位修位無學位。問何故男女復得名 根。答生有情故。生欲樂故。制煩惱故。為 染依故。生有情者。謂生胎生卵生有情。 生欲樂者。謂於是處初生欲樂後乃遍身。 如依眉間初生聖樂後乃遍身。此亦如是 制煩惱者。謂此志性能於暫時伏諸煩惱。 為染依者。謂染污識及相應法此為所依。 餘處身根發三種識。此唯發染污識非餘。 發此識時唯作習近意故必與貪俱。尊者 僧伽筏蘇作如是說。唯命等六是勝義根。所 謂眼耳鼻舌身命有情本故。問若命等六是 勝義根者。餘十六種何故名根。答與命等 六。作種子。作雜染。作清淨。作清淨位。故 亦名根。誰作種子。謂意根。誰作雜染。謂五 受根。誰作清淨。謂信等五根。誰作清淨位。 謂三無漏根即見位修位無學位。問何故男 女亦得名根。答欲界有情欲為種子。欲為 苗稼。此依何有。謂男女根。是故此二亦得 名根。 尊者妙音作如是說。命等八種是勝義根。謂 眼耳鼻舌身男女命有情本故。問若命等八 是勝義根者。餘十四種何故名根。答與命等 八作種子。作雜染。作清淨。作清淨位。故 亦名根。廣如前說。 問身根極微遍身等有。何故此獨名女男 根。復說為顯。尊者世友作如是說。此處能 顯是男女故。名男女根復說為顯。問有二 形者亦能顯耶。答此不能顯不決定故。由 此故說非女非男。有說。此處生流轉者還 滅者故。外道六師補刺拏等名流轉者。聲聞 獨覺。及與如來名還滅者。尊者說曰。此處能 生諸仙牟尼。諸聰慧者。善調伏者。易共住 者。故名男女根。亦說名顯。 已說諸根總相所以。今當顯示一一別相。 問眼根云何。答若已見色。今見色。當見色。 及此所餘是名眼根。已見色者說過去眼。 今見色者說現在眼。當見色者說未來眼。 此說同分。及此所餘者說彼同分。眼如界 中廣說。乃至意根說亦如是。問女根云何。答 身根少分。男根云何。答身根少分。命根云何。 答三界壽。樂根云何。答依順樂觸所生身心 樂。平等受受所攝。是謂樂根。苦根云何。答 依順苦觸所生身苦。不平等受受所攝是謂 苦根。喜根云何。答依順樂觸所生心悅。平等 受受所攝。是謂喜根。憂根云何。答依順苦 觸所生心慼。不平等受受所攝。是謂憂根。捨 根云何。答依順不苦不樂觸所生身心捨。非 平等非不平等受受所攝。是謂捨根。信根云 何。答於出離遠離所生善法。諸信順印可忍 受欲樂心清淨性。是謂信根。精進念定慧根 如文廣說。問未知當知根云何。答未見諦者。 未現觀者。諸學慧慧根。及所有根。隨信隨法 行。於四聖諦未現觀能現觀。是謂未知當 知根。此中於四聖諦未已見故。名未見 諦者。未已現觀故名未現觀者。諸學慧慧根 者。此說慧根及所有根。隨信行隨法行於 四聖諦未現觀能現觀者。說餘八根。總此九 根名未知當知根。問此九根中何故慧根再 說。別說餘根但作一總說耶。答慧名義勝 故。謂根聚中慧為最勝。如國中王勝。村中 主勝。餘根不爾。有說。慧為導首故。如說。 苾芻。諸善法生。明為導首。明為前因。由此 引生所有慚愧。有說。慧具三現觀故。謂慧 具三現觀。一見現觀。二緣現觀。三事現觀。 慧相應法有二現觀。謂除見非慧性故。慧 具有法有一現觀。謂事非餘。非慧性故。無 所緣故。有說。慧見煩惱令不久住。如穴居 眾生。人若見時便還入穴。有說。慧照相續 則煩惱不侵。如室有燈賊不能盜。有說。 慧能照一切法。外日月等唯照一界一處一 蘊一世少分。慧能普照十八界。十二處。五 蘊。三世。及無為法。有說。無慧者縛。有慧者 解。有說。慧入佛法甚歡娛故。謂佛法中以 解為勝。是故諸有慧者見妙法寶。於中歡 娛如明眼人入於寶渚。若無智慧雖入佛 法無所見故常懷憂慼。如生盲人至採寶 所更增愁毒。有說。慧根如將。如導。如目。 如首。是覺覺支。是道道支。有說。慧能導引 餘菩提分令不異趣。如明眼者導眾盲人 令行正路。此亦如是。有說。慧斷纏縛猶 如利刀。如說。姊妹。我聖弟子。能以慧刀斷 諸結縛隨眠纏垢。有說。慧如臺殿。如尊者 阿埿律陀言。我依戒住戒。得昇無上智慧 臺殿。有說。慧能安立諸法自相共相。能分 別諸法自相共相。破自體愚及所緣愚。於諸 法中不增減轉。有說。慧是諸佛所愛敬故。 佛不愛敬有情色力族姓財富自在。但愛敬 慧以慧能證諸功德故。有說。慧能顯佛 無與等故。謂諸色力族姓財富榮貴自在。不 能顯佛是最尊勝。唯慧能顯。以一切智唯 佛有故。餘根不爾。以如是等無量因緣。慧 根餘根作差別說。
Việt dịch
QUYỂN 142 CHƯƠNG VI: CĂN UẨN Phẩm Thứ Nhất: LUẬN VỀ CĂN LUẬN VỀ CĂN (Phần 1) Hai mươi hai Căn, đó là Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỷ căn, Thiệt căn, Thân căn, Nữ căn, Nam căn, Mạng ca ên, Ý căn, Lạc căn, Khổ căn, Hỷ căn, Ưu căn, Xả căn, Tín căn, Tinh tiến căn, Niệm căn, Định căn, Tuệ căn, Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn, Cụ tri căn. Hai mươi hai Căn này, mấy là Học , mấy là Vô học, mấy là Phi học phi vô học? Các chương như vậy và giải thích về nghĩa từng chương đã lĩnh hội rồi, tiếp theo cần phải phân biệt rộng ra. Hỏi: Vì sao Tôn giả dùng hai mươi hai Căn mà soạn luận? Đáp: Là do ý muốn của Tôn gi ả ấy, tùy theo ý muốn ấy không trái với pháp tướng mà soạn ra phần luận này, không cần phải vặn hỏi về nguyên cớ ấy. Có người nói: Không cần phải hỏi, bởi vì Tôn giả ấy dùng hai mươi hai Căn nói trong kinh. Kinh ấy là căn bản của luận này, dựa vào kinh ấy mà soạn luận cho nên không có thể vặn hỏi về nhân duyên ấy. Bởi vì Tôn giả ấy đối với hai mươi hai Căn mà Đức Phật đã nói, không có thể giảm bớt mà nói là hai mươi mốt, không có thể tăng thêm mà nói là hai mươi ba. Bởi vì Đức Phật đã nói không có tăng giảm, cho nên không có thể tăng giảm. Như không c ó thể tăng giảm, không có thể nhiều ít, không có thể thua được, vô lượng vô biên, nên biết cũng như vậy. Bởi vì vô lượng vô biên mà Đức Phật đã nói, không có thể ở trong đó làm thành số lượng-giới hạn. Vô lượng là bởi vì nghĩa khó suy lường, vô biên là bởi vì văn khó nhận biết. Ví như biển rộng vô lượng vô biên, vô lượng là sâu, vô biên SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 142 759 www.daitangkinh.org là rộng. Đức Thế Tôn đã nói nên biết cũng như vậy, tuy số lượng trăm ngàn Câu-chi Na-dữu-đa các Đại luận sư như Xá-lợi-tử…, mà đối với nghĩa của hai câu văn do Đức Phật nói ra, soạn thành trăm ngàn bộ luận để phân biệt giải thích, tận cùng tánh giác ngộ ấy cũng không đạt được giới hạn. Vì vậy, không cần phải vặn hỏi Tôn giả về điều ấy. Hỏi: Gác lại sự việc Tôn giả ấy, vì sao Đức Thế Tôn nói kinh này? Đáp: Bởi vì quán xét hữu tình hóa độ thuận theo nghe pháp này được lợi ích thêm. Lại nữa, kinh này có duyên khởi riêng biệt, đó là “Có Phạm Chí tên gọi Sinh Văn, đi đến nơi Đức Phật, hoan hỷ chào hỏi rồi ngồi ở một phía mà thưa với Đức Phật rằng: Thi thiết mấy Căn để thâu nhiếp hết các Căn? Đức Phật nói: Ta nói hai mươi hai Căn thâu nhiếp hết các Căn, nếu có ai ngăn chặn những Căn này mà lại nói đến những Căn khác, thì nên biết người ấy nói có ngôn từ nhưng không có nghĩa lý. Nếu còn hỏi thì người ấy lại sinh ra ngu dốt mê hoặc. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì không phải là cảnh giới của họ.” Bởi vì Phạm Chí hỏi cho nên nói ra kinh này. Vì vậy, không nên dẫn ra ý Đức Phật đã nói. Hỏi: Gác lại ý Đức Phật đã nói , vì sao Phạm Chí chỉ hỏi về các Căn mà không hỏi đến Uẩn-Giới-Xứ…? Đáp: Tùy theo sự nghi ngờ ấy mà hỏi, không cần phải vặn hỏi. Hoặc là Phạm Chí ấy có tánh khéo tìm hiểu suy nghĩ, hễ có nghe điều gì khác lạ thì đi hỏi khắp nơi, vì biết về nghĩa của Căn cho nên đi trải qua chín mươi sáu ngoại đạo ở khắp nơi để hỏi về số lượng của các Căn. Như ngoại đạo Ly Hệ thi thiết mộ t Căn, đó gọi là Mạng căn có khắp mọi vật trong ngoài, cho nên người ấy đưa ra quy định không uống nước lạnh, không chặt đứt cỏ xanh, bởi vì có mạng sống. Hỏi: Các ngoại đạo ở trong vật bên ngoài, chấp có Căn gì mà gọi là pháp có Căn? Đáp: Có người đối với vật bên ngoài chấp là có Ý căn. Có người đối với vật bên ngoài chấp là c ó Mạng căn. Có người đối với vật bên ngoài chấp là có hai Căn, do Ý ca ên cho nên gọi là pha ùp có Căn, do Mạng căn cho nên gọi là pháp có Mạng. Có người đối với vật bên ngoài chấp là có hai Căn, đó là Nghiệp và Ý, tùy theo thích hợp sẽ nói. Lại như ngoại đạo Ba-la-thiết-lợi, đưa ra cách nói như vậy: Mắt không nhìn thấy Sắc, tai không nghe thấy Thanh, gọi là Tu căn của Thánh. Hỏi: Vì sao người ấy gọi là Ba-la-thiết-lợi? Đáp: Là tên gọi đã lập ra, không cần phải hỏi về lý do lập ra tên gọi, bởi vì tên gọi tùy theo giả lập không hẳn là đều có Thật nghĩa. 760 BỘ TỲ ĐÀM 5 Có người nói: Đây là họ của người ấy, nghĩa là Bà-la-môn có họ là Kiều-sa, có họ là Phiệt-sa, có họ là Phiến-thất-lược, có họ là Kiều- trận-na, có họ là Bà-la-đọa-xà, có họ là Ba-la-thiết-lợi. Có người nói: Đây là tạp chủng, nghĩa là từ Sát-đế-lợi và Bà-la- môn sinh ra, gọi là Ba-la-thiết-lợi; như từ Lừa và Ngựa mà sinh ra gọi là con La. Nói như vậy thì đây là họ của người ấy. “Người ấy có đệ tử tên gọi Ốt-đát -la, đã từng vào một lúc nọ đi đến nơi Đức Phật, hoan hỷ chào hỏi xong ngồi ở một phía. Lúc ấy Đức Phật bảo rằng: Thầy ông là Ba-la-th iết-lợi, vì các ông mà nói về pháp Tu căn chăng? Ốt-đát-la nói: Thầy con đã từng nói. Đ ức Phật hỏi thế nào? Người ấy nói: Thầy con đưa ra cách nói như vậy: Mắt không nhìn thấy Sắc, tai không nghe thấy Thanh, gọi là Tu căn của Thánh, bởi vì không có gì giữ lấy. Đức Phật liền chất vấn: Nếu như vậy thì người mù phải gọi là Tu căn của Thánh, bởi vì không nhìn thấy Sắc. Lúc ấy A- nan-đà đứng hầu bên Đức Phật, phe phẩy quạt cho Đức Phật, lập tức cũng chất vấn: Người điếc cũng phải gọi là Tu căn của Thánh, bởi vì không nghe thấy Thanh.” Hỏi: Giả sử có số lượng trăm ngàn Câu-chi Na-dữu-đa ngoại đạo, trí tuệ biện tài giống như Xá-lợi-tử, Đức Phật đều có thể làm cho khuất phục, vì sao Đức Thế Tôn đưa ra chất vấn thứ nhất rồi, Tôn giả Khánh Hỷ đưa ra chất vấn thứ hai, mà Đức Thế Tôn không ngăn chặn là tại vì sao? Đáp: Đức Phật nhìn yết hầu của Khánh Hỷ có tướng trạng, biết là muốn đưa ra chất vấn cho nên tự mình liền dừng lại. Bởi vì Đức Phật ở trong ba Vô số kiếp xưa kia, lúc thường xuyên tinh tiến tu hạnh Bồ-tát, hãy còn không làm gián đoạn biện tài vốn có của người khác, cho đến đệ tử cũng không ngăn chặn, huống hồ nay thành Phật mà làm gián đoạn biện tài của người khác hay sao? Lại nữa, Đức Phật biết rõ hoặc là tự mình đã nói, hoặc là Khánh Hỷ nói, đều bình đẳng không có gì khác nhau, không hề có tăng giảm, cho nên không ngăn chặn. Lại nữa, bởi vì hiển bày về thầy và đệ tử cùng có năng lực làm cho người khác phải khuất phục. Nếu thầy và đệ tử cùng có năng lực làm cho phải khuất phục, thì mới gọi là khéo léo điều phục, cho nên không ngăn cản. Lại nữa, bởi vì muốn làm cho ngư ời ấy không có lời nào khác. Nghĩa là nếu Đức Thế Tôn đưa ra chất vấn thứ nhất, Khánh Hỷ không SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 142 761 www.daitangkinh.org đưa ra chất vấn thứ hai, thì ngoại đạo ấy trở về trong chúng của mình, bởi vì tâm kiêu mạn còn lại, mà đưa ra lời nói như vậy: Tuy bị vị thầy làm cho khuất phục mà không phải là đệ t ử của vị ấy, vị ấy tuy có thể làm cho chúng ta khuất phục mà không phải là thầy của chúng ta. Nếu Phật Thế Tôn đưa ra chất vấn thứ nhất , Khánh Hỷ lại đưa ra chất vấn thứ hai, thì người ấy vĩnh viễn rời bỏ tâm kiêu mạn, bởi vì đệ tử hãy còn có thể làm cho chúng ta khuất phục, huống là thầy của họ hay sao? Giả sử thầy chúng ta có đến thì cũng không thể nào đối đáp được, huống gì là chúng ta? Lại nữa, bởi vì muốn thỏa ý của Phạm Chí ấy. Người ấy dấy lên nghĩ rằng: Kiều-đáp-ma tôn quý là bậc đứng đầu trong các lực sĩ, không có ai cao hơn, có thể điều phục và có thể đánh đổ tất cả các Luận giả mà không bị khuất phục; là bậc tôn quý thù thắng nhất trong các Luận sư, tất cả các Đại Luận sư xưa ki a hãy còn không có ai có thể đối đáp, huống gì là chúng ta? Nếu đệ tử của vị ấy cùng với mình bàn luận, thì mình sẽ đối đáp qua lại, lẽ nào không thích hợp hay sao? Đức Phật luôn luôn làm thỏa ý của người đã hóa độ, như suy nghĩ của họ mà đưa đường dẫn lối, cho nên không ngăn cản sự chất vấn của Khánh Hỷ. Lại nữa, Đức Phật lấy Khánh Hỷ làm người chứng nghĩa, cho nên chúng ngoại đạo ấy tin tưởng tôn trọng Khánh Hỷ. Bởi vì hình dáng tướng mạo của Tôn giả ấy đoan nghiêm, có sở trường biết về Nhân-đà- la và luận Thanh minh, cho nên ý Đức Phật khiến Tôn giả hỏi người đã tin tưởng, tự nghiệm xét tông chỉ của thầy mình có hợp với chánh lý hay không? Vì vậy, lúc Khánh Hỷ nói nhưng Đức Phật không ngăn cản. Lại nữa, bởi vì muốn hiển bày Đức Thế Tôn không có suy nghĩ về người hơn mình. Nghĩa là các ngoại đạo suy nghĩ trong số đệ tử có người hơn mình, cho nên ngăn chặn ngôn từ biện giải của họ; Đức Phật không có điều này. Giả sử có số lượng trăm ngàn Câu-chi Na-dữu-đa đệ tử, có biện tài trí tuệ như Xá-lợi-tử, cũng không có ai vấn nạn sánh bằng Đức Phật, huống gì có thể hơn được Đức Phật? Lại nữa, bởi vì muốn hiển bày mình đã đoạn bỏ sự keo kiệt bẩn thỉu về pháp. Nghĩa là các ngoại đạo không cho phép đệ tử luận bàn chất vấn với người khác, đừng để cho họ nhờ đó mà được nhiều danh dự-cung kính-lợi dưỡng; Đức Phật thì không như vậy. Giả sử ở thế gian, tất cả đều có được rất nhiều danh lợi, mà Đức Phật không có chút nào thì cũng không hề ganh ghét, vì thế cho nên không ngăn cản lời nói của Khánh Hỷ. Lại nữa, bởi vì muốn hiển bày đệ tử cũng hơn hẳn người khác. 762 BỘ TỲ ĐÀM 5 Nghĩa là các ngoại đạo sợ rằng học trò của mình luận bàn chất vấn với người khác, rơi vào thất bại chuốc la áy nhục nhã; đệ tử của Đức Thế Tôn không có ai không hơn hẳn người kha ùc, nếu luận bàn chất vấn thì Chánh pháp của Như Lai lưu truyền càng rạng rỡ thêm, cho nên không ngăn cản. Lại nữa, bởi vì muốn biểu hiện rõ ràng trong cách nói pháp khéo léo, văn nghĩa đầy đủ không có cách nhìn khác nhau. Nghĩa là các ngoại đạo trong cách nói pháp xấu xa, văn nghĩa trái ngược, thầy trò nhìn nhận khác nhau, hễ có vấn đề gì đa õ thiết lập-đã nói ra-đã giải thích, thì thầy và đệ tử đều trái ngược nhau; trong Chánh pháp của Đức Phật không có lỗi lầm này, hễ có vấn đề gì đã thiết lập-đã nói ra-đã giải thích, thì đệ tử và thầy đều cùng chung một vị. Bởi vì những nhân duyên như vậy, cho nên đối với ngoại đạo ấy, Đức Phật và Khánh Hỷ đều đưa ra một vấn nạn. Hỏi: Nếu ngoại đạo chấp nhận người mù-điếc là tu căn của Thánh, thì tại sao làm thành vấn nạn? Đáp: Đây là vấn nạn lớn, cũng là nói chung về sai lầm của ngoại đạo, không có ai có thể đối đáp được. Nghĩa là nếu ông chấp nhận người mù-điếc cũng có thể gọi là tu căn của Thánh, thì tại sao các ông rời bỏ đời sống gia đình, ngày đêm luôn luôn chịu khó tu các phạm hạnh? Chỉ cần hủy hoại hai căn của ma ét và tai, thì tự nhiên có thể gọi là người tu căn của thá nh. Vì vậy, trước đã nói là đây là vấn nạn lớn, cũng là chỉ trích chung tất cả ngoại đạo. Lại nữa, phái Thắng Luận nói có năm Căn, nhãn-nhĩ-tỷ-thiệt-thân là năm Căn. Lại nữa, phái Số Luận nói mười một Căn, đó là năm Căn thuộc về giác quan, năm Căn thuộc về nghi ệp và Ý căn. Năm Căn thuộc về giác quan, đó là nhãn-nhĩ-tỷ-thiệt-thân Căn. Năm Căn thuộc về nghiệp, đó là Căn của lời nói-tay-chân-đại tiện và tiểu tiện. Cùng với Ý căn là Căn thứ mười một. Hoặc lại có người nói: Một trăm hai mươi Căn, đó là nhãn-nhĩ-tỷ đều có hai là sáu, thiệt-thân-ý-ma ïng và năm Căn t huộc về cảm thọ, năm Căn như Tín…, tổng cọng là ha i mươi sáu, mỗi một nẽo đều có hai mươi là một trăm hai mươi. Họ nói A-tố-lạc là nẽo thứ sáu. Có người nói: Căn là nghĩa của Chủ. Ngoại đạo ấy nói có một trăm hai mươi Chủ, như Chủ loài trời, Chủ loài rồng, Chủ loài A-tố-lạc và Chủ loài người…, cần phải nhận lấy một trăm hai mươi Xứ như vậy, thân vi diệu thù thắng mới được giải thoát. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 142 763 www.daitangkinh.org “Phạm Chí Sinh Văn nghe những điều như vậy, nói về Căn không như nhau, càng sinh ra nghi hoặc, không biết nơi nào là nói đúng sự thật về Căn. Nghe trong cung của dòng họ Thích sinh ra một Thái tử, đầy đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, tám mươi vẻ đẹp, thân màu vàng ròng, ánh sáng xoay tròn một tầm, người trông thấy hoan hỷ ngắm nhìn không hề thỏa mãn, từ bỏ ngôi vị Luân vương, vượt qua hoàng thành mà xuất gia, tinh tiến thường xuyên tu tập khổ hạnh rất khó thực hành, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, biết rõ tất cả mọi điều, thấy rõ tất cả mọi điều, đoạn trừ tất cả mọi điều nghi ngờ, thiết lập tất cả mọi điều quyết định, có năng lực giải thích tận cùng nguồn gốc tất cả những câu hỏi khó nhất. Nghe rồi lập tức đi đến nơi Đức Phật, ngồi ở một bên mà thưa với Đức Phật rằng: Nói về Căn thì có nhiều Sa-môn đã nói, có mấy căn thâu nhiếp hết các căn?” Hỏi: Vì sao Phạm Chí không đem điều mình đã nghe nói sai biệt về Căn để thưa hỏi với Đức Phật mà dứt khoát đưa ra câu hỏi này? Đáp: Người ấy có tuệ ác, sợ rằng Đức Phật từ trong Căn mà người khác đã nói, chọn lấy điều thích hợp để nói, cho nên đưa ra câu hỏi tổng quát, Đức Phật dựa vào câu hỏi ấy trả lời rằng: “Ta nói hai mươi hai Căn thâu nhiếp hết các Căn, …nói rộng ra cho đến…Bởi vì không phải là cảnh giới của họ.” Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn lại nói ra lời này: “Nếu có ai ngăn chặn những Căn này mà lại nói đến những Căn khác, thì nên biết người ấy nói có ngôn từ mà không có nghĩa lý. Nếu còn hỏi thì người ấy lại sinh ra ngu dốt mê hoặc. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì không phải là cảnh giới của họ.” Đáp: Bởi vì muốn khiến cho người ấy biết trước đây đã nghe nói về nghĩa của một Căn, cho đến một trăm hai mươi Căn đều không phải là sự thật. Ta là người biết rõ tất cả mọi điều, thấy rõ tất cả mọi điều, hãy còn không có thể từ trong hai mươi hai Căn, giảm bớt một Căn mà nói là hai mươi mốt, tăng thêm một Căn mà nói là hai mươi ba; huống gì các ngoại đạo không có tri thức-nhìn nhận kỳ quái, từ trong các Căn có ai có năng lực tăng thêm và giảm bớt mà nói một cho đến một trăm hai mươi chăng? Bởi vì nhân duyên này cho nên người ấy đi đến nơi Đức Phật, chỉ hỏi về nghĩa của Căn chứ không phải là hỏi về Uẩn-Giới-Xứ… Hỏi: Hai mươi hai Căn này thì tên gọi có hai mươi hai, Thật Thể có mấy loại? Đáp: Phái Đối Pha ùp nói: Tên gọi có hai mươi hai, Thật Thể có mười bảy, bởi vì ở trong Nam căn-Nữ căn và ba Căn vô lậu 764 BỘ TỲ ĐÀM 5 không có Thể riêng biệt. Hỏi: Vì sao Nam căn-Nữ căn không có Thể riêng biệt? Đáp: Bởi vì hai Căn này chính là Thân căn thâu nhiếp. Như nói: Nữ căn là thế nào? Đó là phần ít của Thân căn. Nam căn là thế nào? Đó là phần ít của Thân căn. Hỏi: Vì sao ba Căn vô lậu cũng không có Thể riêng biệt? Đáp: Bởi vì ba Căn này chính là chín Căn thâu nhiếp. Chín căn, đó là Ý căn, Lạc-Hỷ-Xả căn, năm Căn như Tín… Chín căn này có phần vị gọi là Vị tri đương tri căn, có phần vị gọi là Dĩ tri căn, có phần vị gọi là Cụ tri căn, tức là phần vị Kiến đạo, phần vị Tu đạo, phần vị đạo Vô học, như thứ tự nên biết. Lại nữa, ở trong sự nối tiếp nha u của Tùy tín-Tùy pháp hành, gọi là Vị tri đương tri căn; ở trong s ự nối tiếp nhau của Tín giải-Kiến chí-Thân chứng, gọi là Dĩ tri căn; ở trong sự nối tiếp nhau của Tuệ giải thoát-Câu giải thoát, gọi là Cụ tri căn. Chín căn tụ tập tùy theo phần vị mà nói là ba cho nên không có Thể riêng biệt. Vì vậy cho nên nói hai mươi hai Căn thì tên gọi có hai mươi hai, Thật Thể có mười bảy. Tôn giả Pháp Cứu đưa ra cách nói như vậy: “Tên gọi có hai mươi hai, Thật Thể có mười bốn, đó là bởi vì ngay năm Căn trước và Mạng- Xả-Định căn không có Thật Thể riêng biệt.” Hỏi: Vì sao vị ấy nói Mạng căn không có Thật Thể? Đáp: Mạng căn là do Hành uẩn không tương ưng thâu nhiếp, vị ấy nói Hành uẩn không tương ưng cho nên không có Thật Thể. Hỏi: Vì sao lại nói Xả căn không có Thể riêng biệt? Đáp: Vị ấy nói lìa Khổ thọ-Lạc thọ không có Thọ không khổ không lạc riêng biệt. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì các Thọ vốn có, hoặc là Lạc-hoặc là Khổ, nếu không phải là Khổ-Lạc thì tại sao gọi là Thọ? Hỏi: Nếu như vậy thì trong kinh nói ba Thọ nên hiểu thế nào? Đáp: Vị ấy đưa ra cách nói này: Lạc thọ-Khổ thọ, có trên cao-có dưới thấp, có sắc bén-có cùn chậm, có nóng vội-có điềm tĩnh, các loại trên cao-sắc bén- nóng vội thì gọi là Lạc thọ-Khổ thọ, các loại dưới thấp-cùn chậm-điềm tĩnh thì gọi là Thọ không khổ không lạc, Thể này không nhất định, như nghi ngờ mà chuyển đổi. Hỏi: Vì sao vị ấy nói Định căn cũng không có Thể riêng biệt? Đáp: Vị ấy nói bởi vì lìa ta âm không có Thể của Định. Như nói: Định là thế nào? Đó là tâm cùng một cảnh với tánh. Vì vậy, các Căn thì tên gọi có hai mươi hai, Thật Thể có mười bốn. Tôn giả Giác Thiên đưa cách nói như vậy: “Tên gọi có hai mươi SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 142 765 www.daitangkinh.org hai, Thật Thể chỉ có một, đó là Ý căn.” Vị ấy đưa ra cách nói này: Các pháp hữu vi có hai tự tánh, một là Đại chủng, hai là Tâm. Lìa xa Đại chủng thì không có sắc sở tạo, lìa xa Tâm thì không có tâm sở, các sắc đều là sự sai biệt của Đại chủng, không có sắc đều là sự sai biệt của Tâm. Bởi vì nghĩa này cho nên Thật Thể của Căn chỉ có một. Như Thật nghĩa thì nên như cách nói thứ nhất là tên gọi có hai mươi hai, Thật Thể có mười bảy. N hư tên gọi và Thể, như vậy tên gọi thi thiết-Thể thi thiết, tên gọi khác tướng-Thể khác tướng, tên gọi khác tánh-Thể khác tánh, tên gọi lìa tánh-Thể lìa tánh, tên gọi phần biệt-Thể phân biệt, tên gọi giác ngộ-Thể giác ngộ, nên biết cũng như vậy. Đó gọi là tự tánh của các Căn, tự Thể và tánh tướng của ngã-vật. Đã nói về tự tánh, nên nói đến nguyên cớ. Hỏi: Vì sao gọi là Căn, Căn là nghĩa gì? Đáp: Nghĩa về tăng thượng là nghĩa của Căn, nghĩa về sáng tỏ là nghĩa của Căn, nghĩa về hiện bày là nghĩa của Căn, nghĩa về hỷ quán là nghĩa của Căn, nghĩa về đoan nghiêm là nghĩa của Căn, nghĩa về tối thượng là nghĩa của Căn, nghĩa về thù thắng là nghĩa của Căn, nghĩa về làm chủ là nghĩa của Căn. Hỏi: Nếu nghĩa về tăng thượng là nghĩa của Căn, thì các pháp hữu vi lần lượt chuyển đổi tăng thượng, các pháp vô vi đối với hữu vi tăng thượng, tất cả các pháp đều nên thiết lập làm Căn, vì sao Đức Thế Tôn thiết lập hai mươi hai? Đáp: Hiếp Tôn giả nói: “Đức Ph ật hiểu rõ ràng đến tận cùng đối với các pháp, biết tường tận về thế dụng-Thể tướng của các pháp, người khác không thể nào biết được. Nếu pháp có tướng của Căn thì thiết lập làm Căn, không có tướng của Căn th ì không thiết lập làm Căn, vì vậy không cần phải vặn hỏi.” Có người nói: Duyên tăng thượng có dưới-có trên, có yếu-có mạnh, trên và mạnh thì thiết lập làm Căn, dưới và kém thì không thiết lập. Có người nói: Tuy tất cả các pháp đều có nghĩa về duyên tăng thượng, mà không phải là đều có nghĩ a về tăng thượng-sáng tỏ-hiện bày cho đến nghĩa về làm chủ, như hai mươi hai Căn ấy. Như tất cả hữu tình tuy đều có nghĩa về duyên tăng thượng, mà có người hơn hẳn. Như trong cõi quỷ thì Diễm Ma Vương là hơn hẳn, trong loài bàng sinh thì sư tử chúa là hơn hẳn, trong thôn xóm thì người đứng đầu là hơn hẳn, trong đất nước thì vua chúa là hơn hẳn, trong bốn Đại châu thì Chuyển Luân 766 BỘ TỲ ĐÀM 5 Vương là hơn hẳn, ở trong cõi Dục thì trời Tự Tại là hơn hẳn, trong một ngàn thế giới thì Phạm Vương là hơn hẳn, ở trong ba cõi thì Đức Phật là bậc thù thắng nhất, Đức Phật ở trong tất cả các loài hữu tình, một mình xưng là Pháp Vương bởi vì không có ai sánh bằng. Như vậy, các pháp tuy đều là duyên tăng thượng, mà không phải là tất cả đều có nghĩa về tăng thượng, cho đến nghĩa về làm c hủ, như hai mươi hai Căn ấy. Vì vậy, Đức Phật chỉ nói đến hai mươi hai Căn này. Hỏi: Nếu nghĩa về tăng thượng là nghĩa của Căn, thì tăng thượng với loại nào-ở đâu? Đáp: Nhãn căn tăng thượng đối với bốn xứ: 1. Trang nghiêm cho thân mình. 2. Dẫn dắt nuôi giữ thân mình. 3. Làm chỗ dựa cho Thức… 4. Làm công việc không như nhau. Trang nghiêm cho thân mình, nghĩa là tuy có thân hình tuyệt vời, tay chân đầy đủ, nhưng nếu như thiếu mất Nhãn căn thì người khác không thích nhìn, cho nên Nhãn căn này làm tăng thượng đối với thân trang nghiêm. Dẫn dắt nuôi giữ tha ân mình, nghĩa là nhờ vào Nhãn căn cho nên thấy rõ cảnh sắc tốt xấu, rời xa nơi nguy hiểm đi đến nơi yên lành, khiến cho thân tồn tại lâu dài. Làm chỗ dựa cho Thức…, nghĩa là Nhãn thức và pháp tương ưng dựa vào Nhãn căn này mà sinh khởi. Làm công việc không như nhau, nghĩa là chỉ có Nhãn căn thấy cảnh sắc chứ không phải là Căn nào khác. Nhĩ căn tăng thượng đối với bốn xứ: 1. Trang nghiêm cho thân mình. 2. Dẫn dắt nuôi giữ thân mình. 3. Làm chỗ dựa cho Thức…. 4. Làm công việc không như nhau. Trang nghiêm cho thân mình, nghĩa là tuy có thân hình tuyệt vời, tay chân đầy đủ, nhưng nếu như thiếu mất Nhĩ căn thì người khác không thích nhìn, cho nên Nhĩ căn này làm tăng thượng đối với thân trang ng- hiêm. Dẫn dắt nuôi giữ thân mình, nghĩa là nhờ vào Nhĩ căn cho nên nghe rõ âm thanh tốt xấu, rời xa nơi nguy hiểm đi đến nơi yên lành, khiến cho thân tồn tại lâu dài. La øm chỗ dựa cho Thức…, nghĩa là Nhĩ thức và pháp tương ưng dựa vào Nhĩ căn này mà sinh khởi. Làm công việc không như nhau, nghĩa là chỉ có Nhĩ căn nghe âm thanh chứ không phải là Căn nào khác. Có Sư khác nói: Nhãn căn dẫn dắt nuôi giữ Sinh thân là hơn hẳn, SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 142 767 www.daitangkinh.org Nhĩ căn dẫn dắt nuôi giữ Pháp thân là hơn hẳn. Như nói: “Ví như người đôi mắt sáng tỏ, tránh được hiểm nạn ngay trước mắt, bàn.” Người thế gian có được thông minh, có thể lìa quả khổ đời sau, Nghe nhiều có thể biết rõ pháp, nghe nhiều có thể lìa tội lỗi, Nghe nhiều rời bỏ không có nghĩa, nghe nhiều có thể đến Niết- Lại có người nói: Nhãn căn và Nhĩ căn đều có thể dẫn dắt nuôi giữ Sinh thân-Pháp thân. Dẫn dắt nuôi giữ Sinh thân, như trước nói. Dẫn dắt nuôi giữ Pháp thân, nghĩa là nhờ vào Nhãn căn cho nên gần gũi bậc Thiện sĩ, nhờ vào Nhĩ căn cho nên lắng nghe Chánh pháp. Nhờ vậy có thể dẫn dắt tác ý như lý, pháp t ùy pháp hành cho đến lần lượt chuyển đổi chứng được Niết-bàn. Vì vậy kinh nói: “Phạm Thọ-Phạm Chí đừng hủy hoại hai Căn, đó là Nhãn căn và Nhĩ căn.” Hỏi: Vì sao ở trong tụ của các Căn, chỉ nói là đừng hủy hoại hai Căn? Đáp: Nhờ vào Nhãn căn-Nhĩ căn mà lúc Đức Phật xuất thế, làm con đường-làm cửa ngõ để hướng vào Phậ t pháp. Lại nhờ vào Nhãn- Nhĩ mà lúc được gặp Phật thì có thể so sánh biết là Phật. Như nói: “Này Tỳ kheo! Nếu ông không có thể biết được tâm Phật thì nên cầu ở hai nơi: 1. Từ nơi nghe; 2. Từ nơi thấy.” Vì vậy chỉ nói là đừng hủy hoại hai Căn. Tỷ- Thiệt- Thân căn đều tăng thượng đối với bốn Xứ: 1. Trang nghiêm cho thân mình. 2. Dẫn dắt nuôi giữ thân mình. 3. Làm chỗ dựa cho Thức… 4. Làm công việc không như nhau. Trang nghiêm cho thân mình, nghĩa là tuy có thân hình tuyệt vời, tay chân đầy đủ, nhưng ba Căn tùy thuộc thiếu mất thì người khác không thích nhìn. Dẫn dắt nuôi giữ thân mình, nghĩa là nhờ vào ba Căn này tiếp nhận sử dụng đoàn thực khiến cho thân được tồn tại lâu dài, bởi vì đoàn thực là Hương-Vị-Xúc. Làm chỗ dựa cho Thức…, nghĩa là Tỷ thức và pháp tương ưng dựa vào Tỷ căn mà sinh khởi, Thiệt thức và pháp tương ưng dựa vào Thiệt căn mà sinh khởi, Thân thức và pháp tương ưng dựa vào Thân căn mà sinh khởi. Làm công việc không như nhau, nghĩa là chỉ có Tỷ căn có thể ngửi, chỉ có Thiệt căn có thể nếm, chỉ có Tha ân căn cảm giác xúc chạm, tất cả không phải là Căn nào khác. Ý căn tăng thượng đối với hai Xứ: 1. Có thể nối tiếp thân đời sau. 768 BỘ TỲ ĐÀM 5 2. Tự tại tùy ý chuyển đổi. Có thể nối tiếp thân đời sau, như nói: “Nếu Thức không dựa vào thai mẹ thì Danh sắc có thể tha ønh Yết-la-lam hay không? Thưa Đức Thế Tôn, không thể nào.” Tự tại tùy ý chuyển đổi, như nói: “Thế gian do tâm đã dẫn lối, cũng bị tâm làm cho nhọc nhằn, Nếu tâm sinh khởi ở nơi ấy, đều tự tại tùy ý chuyển đổi.” Có người nói: Ý căn tăng thượng đối với phẩm nhiễm-tịnh, như nói: “Tâm tạp nhiễm cho nên hữu tình tạp nhiễm, tâm thanh tịnh cho nên hữu tình thanh tịnh.” Nam căn-Nữ căn tăng thượng đối với hai Xứ: 1. Hữu tình khác nhau. 2. Phân biệt khác nhau. Hữu tình khác nhau, là do hai Căn này khiến cho các loài hữu tình nam-nữ khác nhau. Phân biệt khác nhau, là do hai Căn này mà hình tướng-âm thanh-ngôn ngữ… khác nhau. Nghĩa là lúc kiếp bắt đầu không có nam-nữ sai biệt, về sau ở chỗ này ít tạo sắc phát sinh, liền có dáng vẻ-thể loại của nam-nữ, hình ha øi biểu hiện, ngôn ngữ âm thanh, áo quần ăn uống, tiếp nhận sử dụng đều sai biệt. Có người nói: Hai Căn này tăng thượng đối với phẩm nhiễm-tịnh. Đối với người mạnh về nhiễm, không phải là đối với dâm dục, bởi vì Căn này không nghi ngờ gì; chỉ do hai Căn này, hoặc là hư hoại-hoặc là thiếu mất, đối với không luật nghi, năm nghiệp vô gián, không có thể tiếp nhận tạo tác, lại cũng không có thể đoạn mất các căn thiện. Đối với người mạnh về tịnh, Nam căn-Nữ căn này hoặc là hư hoại-hoặc là thiếu mất, thì không có thể phát khởi tất cả luật nghi, lại cũng không có thể lìa nhiễm của ba cõi, không có thể gieo trồng chủng tử của ba Thừa. Mạng căn tăng thượng đối với hai Xứ: 1. Khiến cho nói là có Căn. 2. Khiến cho Căn không đoạn dứt. Bởi vì Mạng căn nếu còn thì có thể nói là có Căn, và khiến cho các Căn nối tiếp nhau tồn tại. Có người nói: Mạng căn tăng thượng đối với bốn Xứ: 1. Nối tiếp Chúng đồng phần. 2. Duy trì Chúng đồng phần. 3. Bảo vệ và nuôi giữ Chúng đồng phần. 4. Khiến cho Chúng đồng phần không đoạn dứt. Năm Thọ căn tăng thượng đối với phẩm tạp nhiễm, bởi vì các hữu tình do thế lực của Thọ mà theo đuổi tìm cầu khắp nơi, đi qua mọi chốn, SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 142 769 www.daitangkinh.org đường sá hiểm nguy, trèo lên núi cao, vượt qua hố hầm, đi vào biển rộng gặp phải tai nạn đáng sợ, sóng nước trôi nổi, gió cuộn mịt mù, giặc cướp bao vây, thú dữ gầm gào, núi lở đá lấp…, rất nhiều tai họa bất ngờ rình rập. Các loại như vậy đều bởi vì các Thọ. Hỏi: Thọ vô lậu vì sao tăng thượng đối với phẩm tạp nhiễm? Đáp: Bắt đầu khởi lên gia ha ïnh và lúc hướng vào, cũng tăng thượng đối với phẩm tạp nhiễm, nghĩa là người quán hành lúc cầu mong Thọ ấy, cũng cần phải theo đuổi tìm cầu các vật như cơm ăn-áo mặc…, bởi vì thế lực này cho nên cũng sinh khởi tạp nhiễm. Có người nói: Thọ đối với nhiễm-tịnh đều mạnh. Lạc thọ, đối với người mạnh về nhiễm, như nói: “Đối với Lạc thọ thì Tham tùy tăng.” Đối với người mạnh về tịnh, như nói: “Lạc cho nên tâm định.” Khổ thọ, đối với người mạnh về nhiễm, như nói: “Đối với Khổ thọ thì Sân tùy tăng.” Đối với người mạnh về tịnh, như nói: “Khổ làm chỗ dựa cho Tín.” Thọ không khổ không lạc, đối với người mạnh về nhiễm, như nói: “Đối với Thọ không khổ không lạc thì Vô minh tùy tăng.” Đối với người mạnh về tịnh, như nói: “Sáu rời bỏ dựa vào Xả.” Năm Căn như Tín… tăng thượng đối với phẩm nhiễm-tịnh, như nói: “Tín phát sinh có thể quay về, vượt qua biển rộng của phóng dật, Tinh tiến có thể trừ khổ đau, Tuệ có thể đạt được thanh tịnh.” Lại nói: “Đệ tử hàng Thánh của Ta có đủ Tín, Y-sư-ca có thể rời bỏ bất thiện mà tu tập pháp thiện.” Lại nói: “Đức Phật bảo với Kha ùnh Hỷ: Tinh tiến có thể đạt được Bồ-đề.” Lại nói: “Đệ tử hàng Thánh của Ta có đủ lực Tinh tiến, rời bỏ pháp bất thiện, tu tập pháp thiện.” Lại nói: “Niệm có thể hoạt động khắp nơi phòng ngừa bảo vệ tất cả, đệ tử hàng Thánh của Ta có đủ Niệm phòng ngừa bảo vệ, rời bỏ pháp bất thiện, tu tập pháp thiện.” Lại nói: “Định là Chánh đạo, bất định là tà đạo, tâm định đạt được giải thoát chứ không phải là tâm bất định, tâm định có thể biết rõ các uẩn sinh diệt.” Lại nói: “Đệ tử hàng Thánh của Ta có đủ ba vòng hoa của Định, có thể lìa xa pháp bất thiện, tu tập pháp thiện.” Lại nói: “Tuệ là cao nhất của thế gian, có thể thuận theo đến quyết trạch, Có thể biết chính xác các pháp, có thể không còn khổ lão tử.” 770 BỘ TỲ ĐÀM 5 Lại nói: “Trong tất cả các pháp, Tuệ là cao nhất.” Lại nói: “Này chị em! Đệ tử ha øng Thánh của Ta có thể dùng dao Tuệ, cắt đứt các kiết-phược-tùy miên-triền-cấu.” Lại nói: “Đệ tử hàng Thánh của Ta vốn có bức tường ngay thẳng của Tuệ, có thể ngăn cản pháp ác, tăng trưởng pháp thiện.” Vị tri đương tri căn, tăng thượng đối với phần vị chưa Kiến đế mà Kiến đế. Dĩ tri căn, tăng thượng đối với phần vị đã Kiến đế và loại trừ lỗi lầm của phiền não. Cụ tri căn, tăng thượng đối với phần vị đã loại trừ lỗi lầm của phiền não, được an trú trong niềm vui của pháp hiện tại. Vì vậy, tất cả đều có nghĩa tăng thượng đối với mọi nơi, cho nên nói là Căn. Tôn giả Lũ-sa-phiệt-ma đưa ra cách nói như vậy: “Chỉ riêng Ý là một loại Căn thuộc về thắng nghĩa, bởi vì là bên trong-là bao trùm và có sở duyên. Là bên trong, bởi vì Xứ bên trong thâu nhiếp. Là bao trùm, bởi vì từ địa ngục vô gián cho đến cõi Hữu Đảnh. Có sở duyên, bởi vì duyên với tất cả các pháp. Căn còn lại như Nhãn… không có đủ nghĩa này, cho nên không thiết lập làm Căn thuộc về thắng nghĩa. Nghĩa là năm Căn như Nhãn tuy Xứ bên trong thâu nhiếp, mà không phải là bao trùm, không phải là có sở duyên; Mạng căn tuy bao trùm mà không phải là Xứ bên trong, cũng không phải là có sở duyên; Khổ-Lạc-Ưu-Hỷ căn tuy có sở duyên, nhưng không phải là bao trùm, không phải là bên trong; năm Căn như Xả-Tín… tuy bao trùm và có sở duyên, mà không phải là bên trong; ba Căn vô lậu nói như chín Căn.” Hỏi: Nếu chỉ riêng Ý là Căn t huộc về thắng nghĩa, thì hai mươi mốt loại còn lại vì sao gọi là Căn? Đáp: Những loại ấy làm sở y, làm chỗ dựa, làm tạp nhiễm, làm thanh tịnh, làm phần vị thanh tịnh cho Ý căn, cho nên cũng gọi là Căn. Căn nào làm sở y? Đó là Nhãn, đó là năm Căn. Căn nào làm chỗ dựa? Đó là Mạng căn. Căn nào làm tạp nhiễm? Đó là năm Thọ căn. Căn nào làm thanh tịnh? Đó là năm Căn như Tín… Căn nào làm phần vị thanh tịnh? Đó là ba Căn vô lậu, tức la ø phần vị Kiến đạo, phần vị Tu đạo, phần vị đạo Vô học. Hỏi: Vì sao Nam-Nữ lại được gọi là Căn? Đáp: Bởi vì sinh ra hữu tình, bởi vì sinh ra dục lạc, bởi vì chế ngự phiền não, bởi vì làm chỗ dựa cho nhiễm. Sinh ra hữu tình, nghĩa là sinh ra hữu tình thuộc loại thai sinh-noa õn sinh. Sinh ra dục lạc, nghĩa là ở chỗ này bắt đầu sinh ra dục lạc, sau đó mới lan khắp toàn thân; như dựa vào chặng mày bắt đầu sinh ra niềm vui thiền định, sau đó mới lan khắp toàn thân, đối với Nam-Nữ cũng như vậy. Chế ngự phiền não, nghĩa SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 142 771 www.daitangkinh.org là chí tánh này có thể điều phục các phiền não ở trong thời gian ngắn. Làm chỗ dựa cho nhiễm, nghĩa là Thức nhiễm ô và pháp tương ưng lấy nơi này làm sở y; nơi khác của Th ân căn phát sinh ba loại Thức, chỗ này chỉ phát sinh Thức nhiễm ô chứ không phải là gì khác, lúc phát sinh Thức này chỉ làm tập khí gần của Ý bởi vì tâm đi cùng với tham. Tôn giả Tăng-già-phiệt-tô đưa ra cách nói như vậy: “Chỉ có sáu loại như Mạng… là Căn thuộc về thắng nghĩa, đó là Nhãn-Nhĩ-Tỷ-Thiệt- Thân-Mạng, bởi vì là gốc của hữu tình.” Hỏi: Nếu sáu loại như Mạng… là Căn thuộc về thắng nghĩa, thì mười sáu loại còn lại vì sao gọi là Căn? Đáp: Những loại ấy làm chủng tử, làm tạp nhiễm, làm thanh tịnh, làm phần vị thanh tịnh cho sáu lo ại như Mạng…, cho nên cũng gọi là Căn. Căn nào làm chủng tử? Đó là Ý căn. Căn nào làm tạp nhiễm? Đó là năm Thọ căn. Căn nào làm thanh tịnh? Đó là năm Căn như Tín… Căn nào làm phần vị thanh tịnh? Đó là ba Căn vô lậu, tức là phần vị Kiến đạo, phần vị Tu đạo, phần vị đạo Vô học. Hỏi: Vì sao Nam-Nữ cũng được gọi là Căn? Đáp: Hữu tình cõi Dục lấy dục làm chủng tử, lấy dục làm lúa mạ. Hữu tình này dựa vào đâu mà có? Đó là Nam ca ên-Nữ căn. Vì vậy hai loại này cũng được gọi là Căn. Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Tám loại như Mạng… là Căn thuộc về thắng nghĩa, đó la ø Nhãn-Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân-Nam- Nữ-Mạng, bởi vì là gốc của hữu tình.” Hỏi: Nếu tám loại như Mạng… là Căn thuộc về thắng nghĩa, thì mười bốn loại còn lại vì sao gọi là Căn? Đáp: Những loại ấy làm chủng tử, làm tạp nhiễm, làm thanh tịnh, làm phần vị thanh tịnh cho tám loại như Mạng…, cho nên cũng gọi là Căn. Nói rộng ra như trước. Hỏi: Cực vi của Thân căn khắp toàn thân đều có, vì sao chỉ có chỗ này gọi là Nam căn-Nữ căn, lại nói là biểu hiện rõ? Đáp: Tôn giả Thế Hữu đưa ra cách nói như vậy: “Bởi vì chỗ này có thể biểu hiện rõ là Nam-Nữ, cho nên gọi là Nam căn-Nữ căn, lại nói là biểu hiện rõ.” Hỏi: Có người hai hình thái cũng có thể biểu hiện rõ chăng? Đáp: Loại này không có thể biểu hiện rõ bởi vì không quyết định, vì vậy cho nên nói là phi nam phi nữ. Có người nói: Bởi vì nơi này sinh ra người lưu chuyển, người hoàn diệt. Ngoại đạo, Lục sư, Bổ-thích-noa… gọi là người lưu chuyển; Thanh 772 BỘ TỲ ĐÀM 5 văn, Độc giác và Như Lai gọi là người hoàn diệt. Tôn giả nói rằng: Nơi này có thể sinh các vị Tiên Mâu-ni, những người thông tuệ, người khéo điều phục, người dễ dàng cư trú cùng nhau, cho nên gọi là Nam căn-Nữ căn, cũng nói là biểu hiện rõ. Đã nói về nguyên cớ thuộc tướng chung của các Căn, nay sẽ biểu hiện rõ ràng tướng riêng của từng loại một. Hỏi: Nhãn căn là thế nào? Đáp: Nếu đã thấy sắc, đang thấy sắc, sẽ thấy sắc, và những phần khác của loại này, thì gọi là Nhãn căn. Đã thấy sắc là nói về Nhãn quá khứ, đang thấy sắc là nói về Nhãn hiện tại, sẽ thấy sắc là nói về Nhãn vị lai. Đây là nói về Đồng phần. Va ø những phần khác của loại này là nói về Bỉ đồng phần. Nhãn như trong phần Giới nói rộng ra, cho đến Ý căn nói cũng như vậy. Hỏi: Nữ căn là thế nào? Đáp: Phần ít của Thân căn. Hỏi: Nam căn là thế nào? Đáp: Phần ít của Thân căn. Hỏi: Mạng căn là thế nào? Đáp: Thọ mạng của ba cõi. Hỏi: Lạc căn là thế nào? Đáp: Dựa vào Xúc thuận với ni ềm vui mà sinh ra niềm vui của thân tâm, tiếp nhận bình đẳng do Thọ thâu nhiếp, đó gọi là Lạc căn. Hỏi: Khổ căn là thế nào? Đáp: Dựa vào Xúc thuận với nỗi khổ mà sinh ra nỗi khổ của thân, tiếp nhận không bình đẳng do Thọ thâu nhiếp, đó gọi là Khổ căn. Hỏi: Hỷ căn là thế nào? Đáp: Dựa vào Xúc thuận với ni ềm vui mà sinh ra niềm vui của tâm, tiếp nhận bình đẳng do Thọ thâu nhiếp, đó gọi là Hỷ căn. Hỏi: Ưu căn là thế nào? Đáp: Dựa vào Xúc thuận với nỗi khổ mà sinh ra buồn lo trong tâm, tiếp nhận không bình đẳng do Thọ thâu nhiếp, đó gọi là Ưu căn. Hỏi: Xả căn là thế nào? Đáp: Dựa vào Xúc không khổ không vui mà sinh ra buông xả thân tâm, tiếp nhận không phải là bình đẳng-không phải là không bình đẳng, do Thọ thâu nhiếp, đó gọi là Xả căn. Hỏi: Tín căn là thế nào? Đáp: Đối với sự rời bỏ-xa lìa mà sinh khởi pháp thiện, những sự tin nhận-thuận theo-phù hợp-vừa ý-chịu đựng-tâm ưa thích-tánh thanh SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 142 773 www.daitangkinh.org tịnh, đó gọi là Tín căn. Tinh tiến-Niệm-Định-Tuệ căn, như văn nói rộng ra. Hỏi: Vị tri đương tri căn là thế nào? Đáp: Chưa Kiến đế, chưa Hiện quán, các Tuệ về Học-Tuệ căn, và Căn vốn có, Tùy tín-Tùy pháp hành, đối với bốn Thánh đế chưa Hiện quán-có năng lực Hiện quán, đó gọi là Vị tri đương tri căn. Trong này, đối với bốn Thánh đế chưa hẳn đã thấy rõ cho nên gọi là chưa Kiến đế, chưa hẳn đã Hiện quán cho nên gọi là chưa Hiện quán. Các Tuệ về Học-Tuệ căn, đây là nói về Tuệ căn và Căn vốn có. Tùy tín hành-Tùy pháp hành, đối với bốn Thánh đế chưa Hiện quán-có năng lực Hiện quán, là nói về tám Căn còn lại. Toàn bộ chín Căn này gọi là Vị tri đương tri căn. Hỏi: Trong chín Căn này, vì sao Tuệ căn lại nói thêm và nói riêng biệt, những Căn khác chỉ đưa ra nói tổng quát một lần? Đáp: Bởi vì Tuệ gọi là thắng nghĩa, nghĩa là trong tụ Căn thì Tuệ là thù thắng nhất; như trong đất nước thì nhà vua là hơn hẳn, trong thôn xóm thì người đứng đầu là hơn hẳn, Căn khác thì không như vậy. Có người nói: Bởi vì Tuệ là pháp dẫn dắt đứng đầu, như nói: “Này Tỳ kheo! Các pháp thiện sinh khởi, sáng suốt là dẫn dắt đứng đầu, sáng suốt là nhân tố trước tiên, vì vậy da ãn dắt sinh ra tất cả các pháp tàm quý.” Có người nói: Bởi vì Tuệ có đủ ba Hiện quán, nghĩa là Tuệ đi cùng ba Hiện quán: 1. Hiện quán về Kiến. 2. Hiện quán về Duyên. 3. Hiện quán về Sự. Pháp tương ưng với Tuệ có hai Hiện quán, đó là trừ ra Kiến, bởi vì không phải là tánh thuộc Tuệ. Pháp cùng có với Tuệ có một Hiện quán, đó là Sự chứ không phải là gì khác, bởi vì không phải là tánh thuộc Tuệ, bởi vì không có sở duyên. Có người nói: Tuệ thấy rõ làm cho phiền não không tồn tại lâu dài; như chúng sinh ở trong hang đá, nếu lúc thấy người thì quay trở vào trong hang. Có người nói: Tuệ soi chiếu nối tiếp nhau thì phiền não không xâm phạm, như trong nhà có ánh đèn thì kẻ trộm cắp không có thể lấy trộm. Có người nói: Tuệ có năng lực soi chiếu tất cả các pháp, mặt trời- mặt trăng… bên ngoài chỉ soi chiếu một Giới-một Xứ-một Uẩn và phần ít của một đời; Tuệ có năng lực soi chiếu tất cả mười tám Giới-mười hai 774 BỘ TỲ ĐÀM 5 Xứ-năm Uẩn, ba đời và pháp vô vi. Có người nói: Không có Tuệ thì ràng buộc, có Tuệ thì giải thoát. Có người nói: Tuệ tiến vào Phật pháp rất vui sướng, nghĩa là trong Phật pháp lấy giải thoát làm hơn hẳn, vì vậy những người có Tuệ thấy rõ Pháp bảo vi diệu, vui sướng ở trong đó; như người mắt sáng đi vào hòn đảo châu báu. Nếu không có trí t uệ thì tuy tiến vào Phật pháp mà không trông thấy gì, cho nên thường ôm lòng buồn lo; như người sống trong mù lòa đến chỗ thu nhặt châu báu càng thêm buồn bã xót xa. Có người nói: Tuệ căn như vị tướng, như người dẫn đường, như đôi mắt, như cái đầu, là Giác cũng là Giác chi, là Đạo cũng là Đạo chi. Có người nói: Tuệ có năng lực đưa đường dẫn lối cho những phần Bồ-đề còn lại, khiến không hướng về nơi khác; như người mắt sáng dẫn đường cho những người mù, khiến đi trên con đường ngay thẳng; Tuệ căn này cũng như vậy. Có người nói: Tuệ đoạn dứt ràng buộc giống như lưỡi dao sắc bén, như nói: “Này chị em! Đệ tử hàng Th ánh của Ta có thể dùng dao Tuệ cắt đứt các kiết phược-tùy miên-triền cấu.” Có người nói: Tuệ như cung điện lầu đài, như Tôn giả A-na-luật- đà nói: “Tôi dựa vào giới-trú vào giới, được bước lên cung điện lầu đài của trí tuệ Vô thượng.” Có người nói: Tuệ có năng lực an lập tự tướng và cọng tướng của các pháp, có năng lực phân biệt tư ï tướng và cọng tướng của các pháp, phá bỏ ngu muội về tự Thể và ngu muội về sở duyên, ở trong các pháp không tăng giảm mà chuyển đổi. Có người nói: Tuệ là pháp được chư Phật yêu quý, chư Phật không yêu quý hình sắc-sức lực-dòng họ-giàu sang tự tại của hữu tình, chỉ yêu quý pháp Tuệ, bởi vì Tuệ có năng lực chứng được các công đức. Có người nói: Tuệ có năng lực biểu hiện rõ Đức Phật không có gì sánh bằng, nghĩa là các loại hình sắc-sức lực-dòng họ-giàu sang-cao quý tự tại, không có thể biểu hiện rõ Đức Phật là bậc tôn quý thù thắng nhất, chỉ có Tuệ có năng lực biểu hiện rõ, bởi vì tất cả trí tuệ chỉ riêng Đức Phật mới có, những Căn khác thì không như vậy. Bởi vì rất nhiều những nhân duyên như vậy, cho nên Tuệ căn đưa ra cách nói sai biệt so với những Căn khác.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt