VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 142Quyển 144 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 143

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

問已知根云何。答已見諦者已現觀者。諸學
慧慧根。及所有根。信解見至身證。於四聖
諦已現觀重現觀。是謂已知根。此中於四
聖諦已見故。名已見諦者。已現觀故名已
現觀者。諸學慧慧根者。此說慧根及所有根。
信解見至身證。於四聖諦已現觀。重現觀
者。說餘八根。總此九根名已知根。問諸無
學者於四聖諦亦重現觀。如從退法轉至
思法。乃至從堪達法轉至不動。何故但說
學重現觀非無學耶。答亦應說無學。而不
說者。當知有餘。有說。此中舉初顯後。若
說學重現觀。當知已說無學亦重現觀。如
舉初顯後。舉始入顯已度。舉加行顯究
竟。當知亦爾。有說。若斷未曾斷煩惱。得未
曾得沙門果者。說重現觀。無學爾時非斷
未曾斷煩惱。亦非得未曾得沙門果。是故不
說。有說。若斷未曾斷繫得。得未曾得離繫
得者。說重現觀。無學爾時雖得未曾得離
繫得而不斷未曾斷繫得。是故不說。如斷
繫得。得離繫得。除過患修功德。捨下劣
證上妙。去無義取有義。盡渴愛苦受無
熱樂。應知亦爾。有說。捨未曾捨無智。得未

曾得智者。說重現觀。無學爾時雖得未曾
得智。而非捨未曾捨無智。是故不說。應知
此依染無智說。由如是等種種因緣。學說
重現觀非無學。
問具知根云何。答漏盡阿羅漢。諸無學慧慧
根。及所有根。慧解脫俱解脫能得現法樂住。
此中漏盡阿羅漢諸無學慧慧根者。此說慧
根及所有根。慧解脫俱解脫能得現法樂住
者。說餘八根。總此九根名具知根。問學者
亦有現法樂住。何故但說無學耶。答亦應
說學。而不說者。當知有餘。有說。此中舉
終顯始。若說無學得現法樂住。當知已說
學亦得現法樂住。如舉終顯始。舉已度
顯初入。舉究竟顯加行。當知亦爾。復次此
說名義勝者。以法言之。則無學法勝。以補
特伽羅言之。則無學補特伽羅勝。有說。此
中說得輕安樂非煩惱熱所損者。學雖得
輕安樂。而猶為煩惱熱所損。是故不說。復
次此中說受輕安樂自在廣大者。學於所
作有所作故。雖受輕安樂。而不自在。亦
不廣大。如王未除一切怨敵。雖受王樂而
不自在。亦不廣大。彼亦如是。是故不說。有
說。此中說已息煩惱意言已滿牟尼相者。
學則不然。是故不說。有說。此中說有現法
樂住。無後世樂住者。學於二世皆有樂住。
是故不說。由如是等諸因緣故。無學說樂
住非學。
問為有三明阿羅漢不。若有者。此中何故
不說。若無者。恣舉經云何通。如說。尊者舍

利子恭敬合掌白佛言世尊。此五百苾芻。幾
是三明。幾是俱解脫。幾是慧解脫。此中因論
生論。尊者舍利子知是事不。若知者何故問。
若不知者。云何得名波羅蜜多聲聞。應作
是說。彼尊者知。若爾何故問。亦有知而問
者。如毘柰耶說。爾時世尊知而故問。由此
不應以知故遮其問。有說。尊者欲饒益
他故。謂舍利子雖自了知。而知眾中有不
知者。無無畏故不能問佛。舍利子無是
過故。為饒益他所以發問。有說。尊者欲
於總中顯差別故。謂佛為五百苾芻如應
說法。彼聞皆得阿羅漢果。永斷後有稱可
佛心。一切有情真實稱可佛心者。謂得阿
羅漢果永斷後有。尊者舍利子作是念彼
諸苾芻。雖皆得阿羅漢果永斷後有。而未
知彼誰先來勤修加行誰不爾。欲於總中
顯有差別。故發斯問。有說。世尊先為五百
苾芻說法令等住果。尊者舍利子欲顯彼
道有差別故。是以發問。有說。世尊先為五
百苾芻說法。令住平等無為解脫。尊者舍利
子。欲顯彼有為解脫非無異故。而發斯問。
有說。尊者欲顯發功德伏藏令世共知故。
如世伏藏土所覆故世人不見。若因開發
乃得見之生希有想。如是功德寶藏以少
欲土覆世無知者。由舍利子所顯發故。世
人共知生希有想。有說。尊者欲發施主增
上思故。有諸施主雨四月中。以衣服等供
給僧眾。彼或生念。我所施田為良美不。為
欲令彼生決定知我等已於良田植福

快哉所作功不唐捐。是故尊者發如是問。
有說。尊者欲顯師徒儀式法應爾故。謂弟
子法應問師。師法應教弟子。有說。尊者
顯己求法無厭離諸懈慢。令他亦然。是以
故問。有說。尊者欲斷世人少有所知。便生
傲足不問他故。彼尊者念言世人智慧。於
我所有十六分中不能及一。我猶問他。何
況汝等少知少見而不問耶。有說。尊者欲
顯離法慳垢故。謂法慳者見他問時尚不
生喜。何況自問。有說。尊者欲止外道誹
謗故。謂諸外道恒謗佛言。沙門喬答摩攝
受鄔波底沙俱履多故。夜從受法晝為他說。
若舍利子於大眾前。合掌恭敬而請問者。此
謗便止。有說。尊者欲顯世尊弟子所有善
說皆須佛印印之。故發斯問。如王所司所
有符疏。若無王印人不承受。往關津等悉
為障礙。若有王印人皆信用所往無礙。如
是佛弟子所有善說。若無佛印他不信受。
如來滅後所有四眾亦不敬受。若為佛印所
印可者。聞則奉行。遺法四眾亦生敬重。由
此等緣彼舍利子而作斯問。若無三明阿羅
漢者。彼經所說云何通耶。答應說有三明
阿羅漢。問若爾。彼經善通。此中何故不說。
答此中應作是說。及所有根慧解脫俱解脫
三明。能得現法樂住。而不說者。當知有餘。
復次已說在先所說中。謂三明阿羅漢。或是
慧解脫。或是俱解脫。若說慧解脫。當知已
說慧解脫三明。若說俱解脫。當知已說俱
解脫三明。故不別說。昔於此義有二論師。

一名時毘羅。二名寠沙伐摩。尊者時毘羅偏
稱讚慧。尊者寠沙伐摩偏稱讚滅定。時毘羅
作如是說。慧勝非滅定。慧有所緣。滅定無
所緣故。寠沙伐摩作如是說。滅定勝非慧
滅定唯聖者有。慧通異生有故稱讚慧者
作如是言。若具三明非八解脫者。是名
三明。若具三明亦八解脫者。亦名三明。若
具八解脫非三明者。是名俱解脫。若有一
明二明。是名慧解脫。所以者何。以慧勝滅
定故。稱讚滅定者作如是言。若具八解
脫非三明者。是名俱解脫。若具八解脫亦
三明者。亦名俱解脫。若具三明非八解脫
者。是名三明。若有一明二明。名慧解脫。所
以者何。以滅定勝慧故。此二所說俱唐捐
其功。於文無益於義無益。然具三明者
有得滅定。有不得滅定。若得者名俱解脫
三明。若不得者名慧解脫三明。
今當重說三無漏根一一立名差別所以。問
何故名未知當知根。答未已知而知。未已現
觀而現觀。斷無智故名未知當知根。問若
如是者。苦法智忍生。於欲界五蘊苦得現
觀。苦法智生於彼復得現觀。則是現觀已復
現觀。何故猶名未知當知根。不名已知根
耶。答苦法智忍於欲界五蘊苦名現觀。非
已現觀。苦法智生乃名已現觀。然非已現
觀而現觀故。不名已知根。有說。苦法智忍
於欲界五蘊苦。雖名現觀而不名知。非
智性故。苦法智生乃得名知。爾時雖名已
現觀。而現觀而非已知而知。故不名已知

根。又此中依智現觀而作論。非忍故。亦不
名已現觀而現觀。如何名已知根。有說苦
法智後復有未已現觀道生。此智為未已現
觀。覺所𣣋所覆以下著上。彼增上力故此
不自在。由此苦法智不名已知根。餘忍智
亦爾。
問何故名已知根。答已知而知。已現觀而現
觀。斷無智故名已知根。問若如是者。道類
智忍生。除其自性相應俱有法。於餘一切類
智品道皆得現觀。此後道類智生。於道類
智忍自性相應俱有法。乃得現觀。爾時於彼
忍自性等未已現觀而現觀。何故名已知
根不名未知當知根。答外國師說十六心
剎那皆是見道。問今不問彼。但問十五心
剎那為見道者。何故爾耶。尊者僧伽筏蘇說
曰。道類智忍現在前時。能修未來無量剎那
道類智忍。彼所修者於現在忍等已得現
觀。故無有過。此不應理。未來道無作用
故。應作是答。從多分說名已現觀。謂已現
觀者無量無邊。未已現觀者但有少許。已現
觀而現觀者。猶如大地。未已現觀而現觀者。
但如一塊。妙高一塵大海一渧。虛空蚊處
喻亦如是。故從多分名已知根。問第十六
心頃應如七智。何故獨說為已知根。非已
知而知故。答此亦從多分說。謂初剎那雖
與七智相似。後諸剎那皆與彼異。從多分
說悉名已知根。一類性故。有說。此後更無
未已知。道所𣣋所覆不以下著上。令不
得自在。必當爾故。於知言已知。如去時

名已去。彼亦如是。
問何故名具知根。答已知而知。已現觀而現
觀。不斷無智先已斷故。名具知根問若如是
者。三乘無學皆是具知。何故世尊獨名為佛。
答能初覺故。能遍覺故。能別覺故。說名為佛
聲聞獨覺不能初覺。不能遍覺。不能別
覺。故不名佛。有說。若於爾焰自覺遍覺。
無錯謬覺。說名為佛。獨覺雖能自覺。無餘
二種。聲聞俱無。故不名佛。有說。若於諸緣
能自然覺。一切種覺說名為佛。獨覺雖有
自然覺。而無一切種覺。聲聞俱無。故不名
佛。有說。若智於能覺所覺。行相所緣。根根
義。有境境。爾焰中。能遍明覺說名為佛。二
乘不爾。有說。若有聞而不捨。說名為佛。
二乘不爾。有說。若相續中。永伏一切非理
習氣。說名為佛。二乘不爾。有說。若有於甚
深緣起河能盡源底。說名為佛。二乘不爾。
故經喻以三獸渡河。謂兔馬象。兔於水上
但浮而渡馬或履地或浮而渡。香象恒時蹈
底而渡。聲聞獨覺及與如來。渡緣起河如
次亦爾。有說。若斷二種無知。謂染不染。
說名為佛。聲聞獨覺唯能斷染。不斷不染。
故不名佛。有說。若斷二種疑惑。謂事隨眠。
說名為佛。聲聞獨覺雖斷隨眠而不斷事。
故不名佛。有說。若盡智時二障俱斷心得
解脫謂煩惱障及解脫障。說名為佛。聲聞
獨覺或先脫煩惱障。後解脫障。或先斷解
脫障。後煩惱障。無俱脫者。故不名佛。有說。
若具二圓滿者。說名為佛。謂所依能依諸

餘有情。或所依圓滿非能依。如轉輪王。或
能依圓滿非所依。謂聲聞獨覺。唯佛具二故
得佛名。如所依能依器器中處處中明與行。
應知亦爾。有說。若三事圓滿說名為佛。謂
色族辯。二乘不爾。有說。若三事圓滿說名
為佛。謂立誓果成恣問。二乘不爾。有說。若
具三不護三不共念住說名為佛。二乘不
爾。有說。若所言無二。辯才無竭。所記無謬。
說名為佛。二乘不爾。有說。若具四智說名
為佛。謂因智時智相智說智。二乘不爾。有
說。若具四智說名為佛。謂無著智。無礙智。
無謬智。不退智。二乘不爾。有說。若具種種
因覺。種種果覺。種種相續覺。種種對治覺。說
名為佛。二乘不爾。有說。若世八法所不能
染。功德彼岸無能逮者。一切危厄堪能拔
濟。說名為佛。二乘不爾。有說。若具十八不
共佛法。十力。四無所畏。大悲。三不共念住。
說名為佛。二乘不爾。有說。若有深遠微細
遍行。平等大悲心者。說名為佛。深遠者。三
無數劫所積集故。微細者。覺三苦故。遍行
者。緣三界故。平等者。於怨親中無異轉
故。由如是等種種因緣。於三具知唯一名
佛。
問世尊何故於色蘊中。唯立眼處等為根。
非色處等耶。答由色處等無根相故。有說。
內處攝者立根。外處攝者不立。有說。若亦
作所依者立根。唯作所緣者不立。有境
境說亦爾。有說。若唯有情數攝者立根。若
不定者不立。有說。若唯是有執受者立根。

若非及不定者不立。有說。若唯相續攝者立
根。不定者不立。有說。若唯自相續受用者
立根。不定者不立。有說。不共者立根。共
者不立。
問世尊何故於受蘊中。苦受樂受各立二根。
不苦不樂受唯立一耶。答不苦不樂受亦應
立二。而不立者。當知是有餘說。復次欲
以種種文種種說莊嚴於義令易解故。復
次欲現二門二略。乃至廣說。復次苦樂二受
有明利。有不明利。有輕躁。有不輕躁。有
安住。有不安住。諸明利輕躁不安住者。立
憂喜受。諸不明利不輕躁安住者。立苦樂受。
不苦不樂受。唯不明利不輕躁安住。故合立
一。復次苦受樂受轉有異故。各分為二。謂
樂根轉異喜根轉異。苦根轉異。憂根轉異。不
苦不樂受無異轉。故合立為一。復次苦受樂
受互相違故。各分為二。謂苦樂相違。憂喜相
違。不苦不樂受無此相違。故但說一
問何故想蘊不立為根。答非根法多。何獨
問想。問如色蘊行蘊少分立根。受蘊識蘊
皆立為根。唯想不立。所以故問。答以想無
根相故。復次根者自力轉。想由他轉。如傭
作人他教即作。不教不作。想於境轉。亦復
如是。謂受思識領納造作了別境已。想方取
相。復次根者自在不為他覆。想為慧覆。故
不說根謂善想為善慧所覆。如於善事善
取相者。世間說此名聰慧人。無記想為無
記慧所覆。如於世務善取相者。世便說
此名巧慧人。染污想為顛倒慧所覆。如說

於無常起常想顛倒。乃至於非我起我想
顛倒。尊者世友說曰。想何故不立根。答增
上義是根義。想增上少故不立根。問想亦
有增上。如說一切有為法展轉增上。諸無為
法於有為增上。答我說少不說無也。又
說根者能害煩惱。想不能害煩惱。問想
亦能害煩惱。如說苾芻於無常想。若習
若修若多修習。能除一切欲貪色無色貪。
答此於慧說想名也。大德說曰。根是主義
不隨於他。想則隨他。餘心心所分別境
已方能取相。故不立根。尊者眾世說曰。根
者沈實。想用浮虛。故勝解觀名為假想。世
亦於彼不實解中言是汝想。尊者覺天說曰。
根者決定難可搖動。想用隨緣轉易不定。
如影像陽焰。故不立根。問何故煩惱不立
為根。答彼無根相。是以不立。有餘師說。增
上是根。煩惱下劣。問煩惱能令諸有相續。壞
諸善品令沒生死。令遠涅槃難可調伏。
云何下劣。答以諸煩惱鄙賤可訶。智者棄
之故名下劣。非無勢用名為下劣。如旃
荼羅補羯娑等。雖有勢用亦名下劣。以諸
勝人所輕賤故。問若爾。染污受應不立根。
答受於染品勢用增上故立為根。煩惱不
爾。以依諸受生煩惱故。問若爾。想應立
根。亦能生煩惱故。答想雖能生煩惱。而不
及受勝。由此義故亦不說在緣起支中。
有說。受雖隨順染品。而亦與善法交通。煩
惱唯於染品隨順。而不順善。故不立根。猶
如獄正所居雖下而與貴勝交往。非如守

門獄卒。雖有威猛苦切於人。而極鄙惡可
厭賤故。貴勝離之。尊者僧伽伐蘇說曰。
若法有染無染。身中可得者立根。煩惱唯
於有染身中可得。故不立根。若爾憂根及
具知根皆不應立。憂根但於有染身中可
得。具知根但於無染身中可得故。有說。根
是主義。煩惱非主。是心所法故。若爾受等亦
應不立。由此因緣前說為善。
問何故受善染無記皆立為根。慧念定唯善
立根。非染無記。答受於順雜染品勢用增
上。善染無記受皆有勢力。順雜染品故並立
根。慧念定三順清淨品勢用增上。唯善慧
念定順清淨品故立為根。染慧念定乃相資
助斷清淨品。無記慧等亦於淨品不順。是
故皆不立根。有餘師說。受於三品皆有勢
用。故並立根。慧念定三唯於淨品有勢用
故。唯善立根。所以者何。諸受力故令有情
類於諸善染無記事轉。由受於淨品勝故。
說在覺支靜慮支中。於染品勝故。說在十
二緣起支中。於非二品勝者。謂由受故造
作種種無記事業。慧等不爾。由此應知意
根亦於三品勝故。善染無記皆立為根。於
三勝者。以三品法皆依心故。問何故作意
勝解觸欲不立為根。答無根相故。謂作意
雖能發動於意趣所緣境。非一切時恒有
勝用。故不立根。問此於淨品豈無勝用。諸
修定者初修定時。無不皆由作意力故。答
初修定時令心趣境雖暫有力。心住境已
便無勝用。故不立根。勝解雖能令心於境

印可決定。而於生長無別勝用。故不立根。
問豈不勝解於善法中亦有勝用。於戒等
五蘊。十無學支中。皆建立故。答於離染位
離染相顯。立解脫蘊正解脫支。除此更無
生長勝用。以無根相不立為根。觸雖令心
觸對於境順生諸受。然於染淨無別勝用。
故不立根。問豈不生受即是勝用。答受於
染淨有勝功能可立為根。觸唯生受於染
淨品無親勝用。又觸唯能隨順染品。非順
淨品。故不立根。多順淨品立諸根故。即
由此故欲不立根。亦於淨品無勝用故。
問契經說諸法欲為根本。諸染淨品皆從
欲生。如何於淨無有勝用。答雖染淨品
無欲不生。契經說為諸法根本。然既生已
便無勝用。又多順愛故不立根。順下賤法
非增上故。問思能令心造作善惡。立為意
業。能發身語。能感生死。有增上用。勝於餘
法。何不立根。答唯順雜染。非清淨品。故
不立根。有說。諸業從煩惱生。煩惱鄙賤
非增上故。不立為根。業亦應爾。如鄙賤
人所生男女。人皆厭棄不與交婚。諸業亦然。
故無根義。
問何故善心所法中。唯二立根餘皆不立。答
餘並無根相故。謂信能為諸善根本。無有
善品離信而成。精進普能策發眾善。無有
善品離精進成。故此二法增上義勝。可立
為根。餘則不爾。問慚愧二種自性善攝。說
為白法。何不立根。答此能對治遍不善心。
一向黑品自性不善。故說名白及自性善。然

於生長諸善法中。無別勝能。故無根義。問
無貪無恚名為善根。此中何故不立為根。
答彼建立根。與此義異。謂彼所治與六識
俱。通五所斷。是隨眠性。能發麁重身語惡
業。與斷善根作勝加行。具斯五義立不善
根。無貪等三能對治彼。及起諸散善業故
名善根。此中信等立根。通望生長一切善
法。多依隨順出世善品。故無貪等於此非
根。問輕安。不害。不放逸捨。何不立根。答無
根相故。謂彼所治四隨煩惱。三唯遍染心。一
為惡尋伴。惱亂菩薩障取菩提。故善法中
立彼能治。然於生長清淨品法。無勝所作。
故不立根。問諸善皆依不放逸起。云何說
所作非勝耶。答此但能。除諸放逸法故。令
諸善品依信等生。非彼親能有生長用。問
欣厭何故不立根耶。答於散位中此用雖
勝。於定善位用不分明。根用必於兩位中
勝。而於定位明了增強。故彼二法無有根
義。問若爾。何故立信為根。答澄淨用通一
切位故。非唯散位。是故立根。問惡作睡眠。
及與尋伺。何故非根。答無根相故。謂前二種
唯在散心。後二不通一切界地。又皆無有
生善勝能。故皆不說有其根義。問若爾。苦
等四受應不立根。答總而言之。受遍諸位。
依彼種類皆說為根。又受皆有生長增上。
彼四不爾。問道支中立尋靜慮。支中立尋
伺。豈非生長有增勝耶。答此於定慧有策
持力故立為支。非於生長有增上用。是故
非根。

問何故於諸不相應行唯命立根。答唯命根
有根義故。謂彼唯是有情數攝。唯是異熟。
能遍任持故立為根。餘皆不爾。所以者何。
四有為相三義皆無。無想異熟無遍持義。
其眾同分非唯異熟。由彼亦通等流性故。
二無心定。名句文身。得非得等。無後二義。
故彼一切皆不立根。
問若最勝義是根義者。涅槃於一切法中最
勝。何不立根。答彼是諸根盡滅處故。根盡滅
處不名為根。如缾等壞處不名缾等。有說。
若法行世取果與果。有諸作用了知所緣。
可立為根。涅槃不爾。有說。若法生滅有因
有果有有為相。可立為根。涅槃不爾。有
說。根者屬因屬緣和合而生。涅槃不爾。
有說。若法為生所生。為老所老。為滅所滅。
可立為根。涅槃不爾。有說。根者墮蘊墮
世。眾苦所隨。涅槃不爾。有說。根者有前
後相上中下相。涅槃不爾。有說。最勝是根
義者。謂於有為中勝而有作用。涅槃乃於
一切法中最勝。而無作用。故不立根。虛空
非擇滅不立根義。准此應知。

Việt dịch

SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 143 775  
www.daitangkinh.org  


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

QUYỂN 143

LUẬN VỀ CĂN (Phần 2)

Hỏi: Dĩ tri căn là thế nào?
Đáp: Đã Kiến đế, đã Hiện quán, các Tuệ về Học-Tuệ căn và Căn
vốn có, Tín giải-Kiến chí-Thân c hứng, đối với bốn Thánh đế đã Hiện
quán lại tiếp tục Hiện quán, đó gọ là Dĩ tri căn.
Trong này, đối với bốn Thánh đế đã thấy rõ cho nên gọi là đã
Kiến đế, đã Hiện quán cho nên gọi là đã Hiện quán. Các Tuệ về Học-
Tuệ căn, đây là nói về Tuệ căn và Căn vốn có. Tín giải-Kiến chí-Thân
chứng, đối với bốn Thánh đế đã Hiện quán lại tiếp tục Hiện quán, là nói
về tám Căn còn lại. Toàn bộ chín Căn này gọi là Dĩ tri căn.
Hỏi: Những người Vô học đối với bốn Thánh đế cũng trở lại Hiện
quán, như từ Thối pháp chuyển đến Tư pháp, cho đến từ Kham đạt pháp
chuyển đến Bất động, vì sao chỉ nói là Học trở lại Hiện quán chứ không
phải là Vô học?
Đáp: Cũng cần phải nói về Vô học mà không nói, thì nên biết là
có khác.
Có người nói: Trong này nêu ra phần đầu-hiển bày phần sau, nếu
nói về Học trở lại Hiện quán, thì nên biết là đã nói đến Vô học cũng
trở lại Hiện quán. Như nêu ra phần đầu-hiển bày phần sau, nêu ra mới
tiến vào-hiển bày đã vượt qua, nêu ra gia hạnh-hiển bày cứu cánh, nên
biết cũng như vậy.
Có người nói: Nếu đoạn bỏ phiền não chưa từng đoạn bỏ, đạt được
quả Sa-môn chưa từng đạt được, thì nói là trở lại Hiện quán; Vô học
lúc bấy giờ không phải là đoạn bỏ phiền não chưa từng đoạn bỏ, cũng
không phải là đạt được quả Sa-môn  chưa từng đạt được, vì vậy không
nói đến.
Có người nói: Nếu đoạn bỏ Ly hệ đắc chưa từng đoạn bỏ, đạt được
776 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Ly hệ đắc chưa từng đạt được, thì nói là trở lại Hiện quán; Vô học lúc
bấy giờ tuy đạt được Ly hệ đắc chưa từng đạt được, mà không đoạn bỏ
Ly hệ đắc chưa từng đoạn bỏ, vì vậy không nói đến. Như đoạn bỏ Ly
hệ đắc-đạt được Ly hệ đắc, trừ bỏ lỗi lầm-tu tập công đức, buông bỏ
yếu kém-chứng được vi diệu, loại trừ không có nghĩa-giữ lấy có nghĩa,
không còn nỗi khổ khao khát của ái-tiếp nhận niềm vui không có nóng
bức, nên biết cũng như vậy.
Có người nói: Rời bỏ không có trí c hưa từng rời bỏ, đạt được trí
chưa từng đạt được, thì nói là trở lại Hiện quán; Vô học lúc bấy giờ tuy
đạt được trí chưa từng đạt được, mà không phải là rời bỏ không có trí
chưa từng rời bỏ, vì vậy không nói đến. Nên biết đây là dựa vào nhiễm
và không có trí mà nói.
Bởi vì các loại nhân duyên như vậy, cho nên nói Học trở lại Hiện
quán chứ không phải là Vô học.
Hỏi: Cụ tri căn là thế nào?
Đáp: A-la-hán không còn lậu, các Tuệ thuộc Vô học-Tuệ căn và
Căn vốn có, Tuệ giải thoát-Câu giải thoát có thể đạt được niềm vui trú
trong pháp hiện tại.
Trong này, A-la-hán không còn lậu, các Tuệ thuộc Vô học-Tuệ
căn, đây là nói đến Tuệ căn và Căn vốn có. Tuệ giải thoát-Câu giải
thoát có thể đạt được niềm vui trú  trong pháp hiện tại, là nói đến tám
Căn còn lại. Toàn bộ chín Căn này gọi là Cụ tri căn.
Hỏi: Học thì cũng có niềm vui trú trong pháp hiện tại, vì sao chỉ
nói đến Vô học?
Đáp: Cũng cần phải nói về Học mà không nói, thì nên biết là  có
khác.
Có người nói: Trong này nêu ra phần cuối-hiển bày phần đầu, nếu
nói đến Vô học đạt được niềm vui trú trong pháp hiện tại, thì nên biết là
đã nói về Học cũng đạt được niềm vui trú trong pháp hiện tại. Như nêu
ra phần cuối-hiển bày phần đầu, nêu ra đã vượt qua-hiển bày mới tiến
vào, nêu ra cứu cánh-hiển bày gia hạnh, nên biết cũng như vậy.
Lại nữa, đây là nói về tên gọi  thuộc thắng nghĩa, dùng pháp mà
nói thì pháp Vô học là hơn hẳn, dùng Bổ-đặc-già-la mà nói thì Bổ-đặc-
già-la Vô học là hơn hẳn.
Có người nói: Trong này nói đến người  đạt được niềm vui Khinh
an chứ không phải là do phiền não nóng bức làm tổn hại, Học tuy đạt
được niềm vui Khinh an mà hãy còn bị phiền não nóng bức làm tổn hại,
vì vậy không nói đến.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 143 777  
www.daitangkinh.org  
Lại nữa, trong này nói người tiếp nhận niềm vui Khinh an tự tại
rộng lớn, bởi vì Học đối với những việc làm mà có những việc làm, tuy
tiếp nhận niềm vui Khinh an mà không tự tại, cũng không rộng lớn; như
vị vua chưa trừ hết tất cả giặc t hù, tuy tiếp nhận niềm vui của một vị
vua mà không tự tại, cũng không rộng lớn, Học cũng như vậy cho nên
không nói đến.
Có người nói: Trong này nói đến người đã chấm dứt phiền não, ý
nói về người đã đầy đủ tướng Mâu-ni; Học thì không như vậy, cho nên
không nói đến.
Có người nói: Trong này nói đến người có niềm vui trú trong pháp
hiện tại, không có niềm vui trú trong tha ân đời sau; Học đối với hai đời
đều có niềm vui an trú, vì vậy không nói đến.
Bởi vì các loại nhân duyên như vậy, cho nên Vô học nói đến niềm
vui an trú chứ không phải là Học.
Hỏi: Là có A-la-hán ba Minh hay không? Nếu có thì vì sao trong
này không nói? Nếu không có thì trong kinh Tứ Cử làm sao thông hiểu?
Như nói: “Tôn giả Xá-lợi-tử cung kính chắp tay thưa với Đức Phật rằng:
Thưa Đức Thế Tôn! Năm trăm Tỳ kheo này, mấy vị là ba Minh, mấy vị
là Câu giải thoát, mấy vị là Tuệ gi ải thoát?” Trong này, dựa vào luận
mà phát sinh luận, Tôn giả Xá-lợi-tử biết sự việc này hay không? Nếu
biết thì vì sao lại hỏi? Nếu không biết  thì làm sao được gọi là Thanh
văn Ba-la-mật-đa?
Đáp: Nên đưa ra cách nói này: Tôn giả ấy biết.
Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao lại hỏi?
Đáp: Cũng có lúc biết mà hỏi, như trong Tỳ-nại-da nói: “Lúc bấy
giờ Đức Thế Tôn biết mà cố tình hỏi.” Vì vậy không cần phải bởi vì biết
mà ngăn chặn câu hỏi ấy.
Có người nói: Bởi vì Tôn giả muốn lợi ích thêm cho người khác.
Nghĩa là Xá-lợi-tử tuy tự mình bi ết rõ ràng, mà biết trong chúng có
người không biết, bởi vì không có lực Vô úy cho nên không thể nào thưa
hỏi với Đức Phật, Xá-lợi-tử không có sai lầm này, vì lợi ích của người
khác cho nên mở lời thưa hỏi.
Có người nói: Bởi vì Tôn giả muốn từ trong cái chung hiển bày
về sai biệt. Nghĩa là Đức Phật vì năm trăm Tỳ kheo mà thuyết pháp,
họ nghe đều đạt được quả A-la-hán, vĩnh viễn đoạn bỏ thân đời sau
gọi là hợp với tâm Phật. Tất cả hữu tình chân thật gọi là hợp với tâm
Phật, đó là đạt được quả A-la-hán vĩnh viễn đoạn bỏ thân đời sau. Tôn
giả Xá-lợi-tử dấy lên suy nghĩ này: Các Tỳ kheo ấy tuy đều đạt   được
778 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
quả A-la-hán, vĩnh viễn đoạn bỏ thân đời sau, mà chưa biết trong số ấy
người nào từ trước đến nay thường xuyên tu gia hạnh, người nào không
như vậy? Muốn từ trong cái chung hiển bày có sai biệt, cho nên đưa ra
câu hỏi ấy.
Có người nói: Đức Thế Tôn trước đó vì năm trăm Tỳ kheo mà
thuyết pháp khiến cho đều trú trong quả vị, Tôn giả Xá-lợi-tử vì muốn
hiển bày về đạo ấy có sai biệt, cho nên thưa hỏi.
Có người nói: Đức Thế Tôn tr ước đó vì năm trăm Tỳ kheo mà
thuyết pháp khiến cho trú vào giải t hoát vô vi bình đẳng, Tôn giả Xá-
lợi-tử bởi vì muốn hiển bày về giải thoát hữu vi ấy không phải là không
có khác nhau, mà đưa ra câu hỏi ấy.
Có người nói: Tôn giả muốn hiển bày rõ ràng về kho tàng công
đức ẩn kín khiến cho thế gian cùng biết; như kho tàng cất giấu ở thế
gian do đất che lấp cho nên người thế gian không thấy, nếu nhờ vào sự
khai phá mới thấy được kho tàng a áy, thì sinh ra ý tưởng hiếm có. Như
vậy, kho báu công đức bởi vì đất Th iểu dục che lấp cho nên thế gian
không có ai biết, do Xá-l ợi-tử đã hiển bày rõ ràng cho nên người thế
gian cùng biết mà sinh ra ý tưởng hiếm có.
Có người nói: Bởi vì Tôn giả  muốn gợi mở suy nghĩ tăng thượng
của thí chủ. Có các thí chủ tr ong bốn tháng mùa mưa, đem áo quần…
cung cấp cho Tăng chúng, những người a áy có lúc nảy sinh ý niệm:
Thửa ruộng mà mình cúng dường là tốt đẹp hay không? Vì muốn khiến
cho những người ấy sinh tâm quyết định, biết rằng chúng ta đã gieo
trồng phước thiện vào thửa ruộng tốt, thật là vui sướng, công lao đã làm
không uổng phí. Vì vậy Tôn giả đưa ra câu hỏi như vậy.
Có người nói: Bởi vì Tôn giả muốn hiển bày về nghi thức của thầy
trò, pháp thuận theo như vậy. Nghĩa là pháp của đệ tử nên thưa hỏi với
thầy, pháp của thầy nên dạy cho đệ tử.
Có người nói:Bởi vì Tôn giả hiển bày chính mình cầu pháp không
có chán ngán, lìa xa những tâm lý lười nhác khinh mạn, khiến cho người
khác cũng như vậy, vì thế cho nên thưa hỏi.
Có người nói: Bởi vì Tôn giả muốn đoạn bỏ tâm lý của người thế
gian, có chút hiểu biết thì sinh ra kiêu ngạo, không hỏi người khác. Tôn
giả nghĩ rằng: Trí tuệ của người thế gian, ở trong mười sáu phần mà tôi
vốn có, không có thể bằng một phần, tôi hãy còn hỏi người khác, huống
gì là các ông biết chút ít-thấy chút ít mà không hỏi hay sao?
Có người nói: Bởi vì Tôn giả muốn hiển bày lìa bỏ sự keo kiệt bẩn
thỉu về pháp. Nghĩa là người keo kiệt  về pháp thì lúc gặp người khác
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 143 779  
www.daitangkinh.org  
hỏi, hãy còn không sinh tâm vui vẻ, huống gì là tự mình hỏi.
Có người nói: Bởi vì Tôn giả muốn ngăn chặn sự phỉ báng của
ngoại đạo. Nghĩa là các ngoại đạo luôn luôn phỉ báng Đức Phật rằng:
Sa-môn Kiều-đáp-ma thâu nhiếp tiếp nhận Ô-ba-để-sa-câu-lũ-đa, cho
nên đêm thì đi theo thọ pháp, ngày thì nói cho người khác. Nếu Tôn giả
Xá-lợi-tử ở trước Đại chúng, chắp tay cung kính mà thưa hỏi, thì sự phỉ
báng này liền chấm dứt.
Có người nói: Tôn giả muốn hiển bày đệ tử của Đức Thế Tôn vốn
có cách nói khéo léo, đều cần phải có sự ấn chứng của Đức Phật, cho
nên đưa ra câu hỏi này. Như các quan do nhà vua điều khiển vốn có
ấn dấu sớ điệp, nếu không có dấu ấn của nhà vua thì mọi người không
chấp nhận, đi đến cửa ải… đều bị la øm cho chướng ngại; nếu có dấu ấn
của nhà vua thì mọi người đều tin nhận, mà đi qua không trở ngại gì.
Như vậy, đệ tử của Đức Phậ t vốn có cách nói khéo léo, nếu không có
sự ấn chứng của Đức Phật thì người khác không tin nhận, sau khi Như
Lai diệt độ tất cả bốn chúng cũng không cung kính tiếp nhận; nếu được
Đức Phật ấn chứng thì người nghe vâng lời thực hành, bốn chúng cũng
sinh tâm cung kính tôn trọng đối với giáo pháp để lại.
Bởi vì những duyên này cho nên Tôn giả Xá-lợi-tử đưa ra câu hỏi
này.
Hỏi: Nếu không có A-la-hán ba Minh, thì kinh ấy đã nói làm sao
thông hiểu?
Đáp: Nên nói là có A-la-hán ba Minh.
Hỏi: Nếu như vậy thì kinh ấy dễ dàng thông hiểu, trong này vì sao
không nói?
Đáp: Trong này nên đưa ra cách nói này: Và Căn vốn có-Tuệ giải
thoát-Câu giải thoát-ba Minh, có thể đạt được niềm vui trú trong pháp
hiện tại. nhưng mà không nói thì nên biết là có khác.
Lại nữa, đã nói ở trong phần trước đã nói, nghĩa là A-la-hán ba
Minh, hoặc là Tuệ giải thoát, hoặc là Câu giải thoát. Nếu nói về Tuệ
giải thoát, thì nên biết là đã nói đến Tuệ giải thoát ba Minh; nếu nói về
Câu giải thoát, thì nên bi ết là đã nói đến Câu gi ải thoát ba Minh, cho
nên không nói riêng biệt.
Xưa đối với nghĩa này, có hai Luận sư:
1. Tên gọi Thời-tỳ-la.
2. Tên gọi Lũ-sa-phiệt-ma.
Tôn giả Thời-tỳ-la chỉ ca ngợi tán thưởng về Tuệ, Tôn giả Lũ-sa-
phiệt-ma chỉ ca ngợi tán thưởng về Diệt định.
780 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Thời-tỳ-la đưa ra cách nói như vậy: Tuệ hơn hẳn chứ không phải
là Diệt định, bởi vì Tuệ có sở duyên, Diệt định thì không có sở duyên.
Lũ-sa-phiệt-ma đưa ra cách nói như vậy: Diệt định hơn hẳn chứ không
phải là Tuệ, bởi vì Diệt định chỉ riêng Thánh giả mới có, Tuệ thì
gồm chung dị sinh cũng có.
Người ca ngợi tán thưởng về Tuệ, đưa  ra cách nói như vậy: Nếu
người có đủ ba Minh chứ không phải là tám Giải thoát, thì gọi là ba
Minh. Nếu người có đủ ba Minh cũng đủ tám Giải thoát, thì cũng gọi là
ba Minh. Nếu người có đủ tám Giải thoát chứ không phải là ba Minh, thì
gọi là Câu giải thoát. Nếu người có một Minh-hai Minh, thì gọi là Tuệ
giải thoát. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Tuệ hơn hẳn Diệt định.
Người ca ngợi tán thưởng về Diệt định, đưa ra cách nói như vậy:
Nếu người có đủ tám Giải thoát c hứ không phải là ba Minh, thì gọi là
Câu giải thoát. Nếu có đủ tám Giải thoát cũng có đủ ba Minh, thì cũng
gọi là Câu giải thoát. Nếu có đủ ba Minh chứ không phải là tám Giải
thoát, thì gọi là ba Minh. Nếu có một Minh-hai Minh, thì gọi là Tuệ giải
thoát. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Diệt định hơn hẳn Tuệ.
Hai cách nói này đều uổng phí công lao, đối với văn không ích gì,
đối với nghĩa không ích gì. Nhưng người có đủ ba Minh thì có người đạt
được Diệt định, có người không đạt được Diệt định. Nếu đạt được thì
gọi là Câu giải thoát ba Minh, nếu  không đạt được thì gọi là Tuệ giải
thoát ba Minh.
Nay sẽ nói lại ba Căn vô lậu, nguyên cớ thiết lập tên gọi sai biệt
của từng loại một.
Hỏi: Vì sao gọi là Vị tri đương tri căn?
Đáp: Chưa hẳn đã biết mà biết, chưa hẳn đã Hiện quán mà Hiện
quán, bởi vì đoạn bỏ không có trí cho nên gọi là Vị tri đương tri căn.
Hỏi: Nếu như vậy thì Khổ pháp trí nhẫn sinh khởi, đạt được Hiện
quán đối với năm uẩn Khổ của cõi D ục; Khổ pháp trí sinh khởi lại đạt
được Hiện quán đối với pháp ấy, vậy thì Hiện quán rồi lại Hiện quán, vì
sao vẫn gọi là Vị tri đương tri căn mà không gọi là Dĩ tri căn?
Đáp: Khổ pháp trí nhẫn đối với năm uẩn Khổ của cõi Dục thì gọi
là Hiện quán chứ không phải là đã Hiện quán, Khổ pháp trí sinh khởi thì
mới gọi là đã Hiện quán, nhưng không phải là đã Hiện quán mà Hiện
quán, cho nên không gọi là Dĩ tri căn.
Có người nói: Khổ pháp trí nhẫn đ ối với năm uẩn Khổ của cõi
Dục, tuy gọi là Hiện quán mà không gọi là biết, bởi vì không phải là
tánh thuộc trí; Khổ pháp trí sinh khởi thì mới được gọi là biết. Lúc bấy
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 143 781  
www.daitangkinh.org  
giờ tuy gọi là đã Hiện quán mà Hiện quán, nhưng không phải là đã biết
mà biết, cho nên không gọi là Dĩ tri căn. Vả lại, trong này dựa vào trí
Hiện quán mà soạn luận chứ không phải là Nhẫn, cho nên cũng không
gọi là đã Hiện quán mà Hiện quán, thì làm sao gọi là Dĩ tri căn?
Có người nói: Sau Khổ pháp trí lại có đạo chưa hẳn đã Hiện quán
sinh khởi, trí này là chưa hẳn đã Hiện quán, bị Giác lấn ép che phủ, lấy
phía dưới đưa lên phía trên, bởi vì lực tăng thượng của Giác ấy cho nên
trí này không được tự tại, vì vậy K hổ pháp trí không gọi là Dĩ tri căn.
Nhẫn-trí khác cũng như vậy.
Hỏi: Vì sao gọi là Dĩ tri căn?
Đáp: Đã biết mà biết, đã Hiện quán mà Hiện quán, bởi vì đoạn bỏ
không có trí cho nên gọi là Dĩ tri căn.
Hỏi:Nếu như vậy thì Đạo loại trí nhẫn sinh khởi, trừ ra pháp cùng
có tương ưng với tự tánh ấy, đối với tất cả các đạo thuộc phẩm Loại trí
đều đạt được Hiện quán, từ đây về sau Đạo loại trí sinh  khởi, đối với
pháp cùng có tương ưng với Đạo loại trí nhẫn mới đạt được Hiện quán.
Lúc bấy giờ đối với tự tánh… của  Nhẫn ấy chưa hẳn đã Hiện quán mà
Hiện quán, vì sao gọi là Dĩ tri căn mà không gọi là Vị tri đương tri
căn?
Đáp: Các Sư nước ngoài nói sa ùt-na trong mười sáu tâm đều là
Kiến đạo.
Hỏi: Nay không hỏi về điều ấy, chỉ hỏi sát-na trong mười lăm tâm
là Kiến đạo, thì vì sao như vậy?
Đáp: Tôn giả Tăng-già-phiệt-tô nói rằng: “L úc Đạo loại trí nhẫn
hiện rõ ở trước mắt, có thể tu vô lư ợng sát-na Đạo loại trí nhẫn của vị
lai, pháp đã tu ấy đối với Nhẫn… c ủa hiện tại đã đạt được Hiện quán,
cho nên không có lỗi”.
Điều này không hợp lý, bởi vì đạo của vị lai không có tác dụng.
Nên đưa ra cách trả lời này: Thua än theo phần nhiều mà nói thì gọi là
đã Hiện quán, nghĩa là đã Hiện qua ùn thì vô lượng vô biên, chưa hẳn
đã Hiện quán thì chỉ có một ít. Đã  Hiện quán mà Hiện quán thì giống
như mặt đất, chưa hẳn đã Hiện qu án mà Hiện quán thì chỉ bằng một
nắm nhỏ. Núi Diệu Cao và một hạt bụi, biển rộng và một giọt nước,
ruồi muỗi ở giữa hư không, ví dụ cũng như vậy. Vì thế, thuận theo phần
nhiều cho nên gọi là Dĩ tri căn.
Hỏi: Trong tâm thứ mười sáu phải giống như bảy trí, vì sao chỉ nói
là Dĩ tri căn, bởi vì không phải là đã biết mà biết?
Đáp: Điều này cũng thuận theo phần nhiều mà nói, nghĩa là  sát-
782 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
na thứ nhất tuy tương tự với bảy trí, nhưng các sát-na sau đều khác với
bảy trí, thuận theo phần nhiều mà nói cho nên đều gọi là Dĩ tri căn, bởi
vì cùng một loại tánh.
Có người nói: Từ đây về sau lại không có gì chưa hẳn đã biết,
do Đạo lấn ép che phủ, không lấy phí a dưới đưa lên phía trên, khiến
cho không được tự tại, bởi vì nhất  định phải như vậy, cho nên đối với
biết nói là đã biết. Như lúc rời xa thì nói là đã rời xa, điều ấy cũng như
vậy.
Hỏi: Vì sao gọi là Cụ tri căn?
Đáp: Đã biết mà biết, đã Hiện quán mà Hiện quán, bởi vì không
đoạn bỏ không có trí đã đoạn bỏ trước đây, cho nên gọi là Cụ tri căn.
Hỏi: Nếu như vậy thì bậc Vô học ở ba Thừa đều là người biết đầy
đủ, vì sao chỉ có Đức Thế Tôn gọi là Phật?
Đáp: Bởi vì có năng lực giác ngộ đầu tiên, có năng lực giác ngộ
khắp nơi, có năng lực giác ngộ riêng biệt, cho nên gọi là Phật. Thanh
văn-Độc giác không có năng lực  giác ngộ đầu tiên, không có năng
lực giác ngộ khắp nơi, không có năng lực giác ngộ riêng biệt, cho nên
không gọi là Phật.
Có người nói: Nếu đối với trí ca ûnh (nhĩ diệm), tự mình giác ngộ,
giác ngộ khắp nơi, giác ngộ không có sai lầm, thì gọi là Phật. Độc giác
tuy có thể tự mình giác ngộ, mà không có hai loại còn lại; Thanh văn thì
cả ba loại đều không có, cho nên không gọi là Phật.
Có người nói: Nếu đối với các duyên có thể tự nhiên giác ngộ,
giác ngộ tất cả các loại thì gọi là Ph ật. Độc giác tuy có tự nhiên giác
ngộ mà không có giác ngộ tất cả các loại, Thanh văn đều không có, cho
nên không gọi là Phật.
Có người nói: Nếu trí đối với năn g giác-sở giác, hành tướng-sở
duyên, căn-nghĩa của căn, có cảnh-cảnh, trong trí cảnh có năng lực giác
ngộ rõ ràng khắp nơi thì gọi là Phật; Nhị thừa thì không như vậy.
Có người nói: Nếu có nghe mà không rời bỏ thì gọi là Phật, Nhị
thừa thì không như vậy.
Có người nói: Nếu trong sự nối tiếp nhau, vĩnh viễn đè bẹp tất cả
các tập khí phi lý thì gọi là Phật, Nhị thừa thì không như vậy.
Có người nói: Nếu có năng lực thấu suốt tận cùng nguồn gốc đối
với dòng sông duyên khởi rất sâu thì gọi là Phật, Nhị thừa thì không như
vậy. Vì thế trong kinh thí dụ lấy ba loài thú vượt qua dòng sông, đó là
thỏ-ngựa và voi. Thỏ ở trên mặt nước chỉ bơi nổi mà vượt qua, ngựa có
lúc đi trên đất-có lúc bơi nổi mà vượt qua, voi chúa luôn luôn đạp thấu
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 143 783  
www.daitangkinh.org  
đáy mà vượt qua. Thanh văn-Độc giác và Như Lai, vượt qua dòng sông
duyên khởi như thứ tự cũng vậy.
Có người nói: Nếu đoạn bỏ hai loại không biết gì, đó là nhiễm và
không nhiễm, thì gọi là Phật. Thanh văn-Độc giác chỉ có thể đoạn bỏ
nhiễm, không đoạn bỏ không nhiễm, cho nên không gọi là Phật.
Có người nói: Nếu đoạn bỏ hai loại nghi hoặc, đó là sự-tùy miên,
thì gọi là Phật. Thanh văn-Độc giác chỉ đoạn bỏ tùy miên mà không
đoạn bỏ sự, cho nên không gọi là Phật.
Có người nói: Nếu lúc Tận trí phát khởi mà hai chướng ngại cùng
đoạn dứt, tâm được giải thoát, đó la ø phiền não chướng và giải thoát
chướng, thì gọi là Phật. Thanh văn-Độc  giác hoặc là trước thoát khỏi
phiền não chướng, sau lìa bỏ giải thoát chướng; hoặc là trước lìa bỏ giải
thoát chướng, sau thoát khỏi phiền não chướng, không có ai cùng lúc
thoát bỏ, cho nên không gọi là Phật.
Có người nói: Nếu người có đủ hai loại viên mãn thì gọi là Phật,
đó là sở y và năng y. Các hữu tình kha ùc, hoặc là sở y viên mãn chứ
không phải là năng y, như Chuyển Lua ân Vương; hoặc là năng y viên
mãn chứ không phải là sở y, đó là Thanh văn-Độc giác. Chỉ riêng Phật
có đủ hai loại cho nên được tên gọi là Phật.
Có người nói: Nếu ba sự viên mãn thì gọi là Phật, đó là sắc tướng-
dòng họ-biện tài. Nhị thừa thì không như vậy.
Có người nói: Nếu ba sự viên mãn thì gọi là Phật,  đó là lập thệ
nguyện, thành tựu quả-tùy thời gian. Nhị thừa thì không như vậy.
Có người nói: Nếu có đủ ba nghiệp không cần phòng ngừa, ba
Niệm trú không cùng chung, thì gọi la ø Phật. Nhị thừa thì không như
vậy.
Có người nói: Nếu lời nói không khác nhau, biện tài không tận
cùng, ghi nhớ không lầm lẫn, thì gọi là Phật. Nhị thừa thì không như
vậy.
Có người nói: Nếu có đủ bốn Trí thì gọi là Phật, đó là Trí thuộc
nhân tố, Trí thuộc thời gian, Trí thuộc hình tướng, Trí thuộc giảng giải.
Nhị thừa thì không như vậy.
Có người nói: Nếu có đủ bốn Trí th ì gọi là Phật, đó là Trí không
có đắm trước, Trí không có ngăn ngại, Trí không có lầm lẫn, Trí không
lui sụt. Nhị thừa thì không như vậy.
Có người nói: Nếu có đủ các loại giác ngộ thuộc về nhân, các loại
giác ngộ thuộc về quả, các loại giá c ngộ thuộc về tương tục, các loại
giác ngộ thuộc về đối trị, thì gọi là Phật. Nhị thừa thì không như vậy.
784 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Có người nói: Nếu tám pháp của thế gian mà không thể nào làm
nhiễm ô được, công đức của bến bờ giả i thoát không có ai có thể sánh
bằng, tất cả ách nạn hiểm nguy đều c ó năng lực cứu giúp, thì gọi là
Phật. Nhị thừa thì không như vậy.
Có người nói: Nếu có đủ mười tám pháp Bất cọng, mười Lực, bốn
Vô úy, Đại Bi, ba Niệm trú bất cọng, thì gọi là Phật. Nhị thừa thì không
như vậy.
Có người nói: Nếu người có tâm Đại Bi bình đẳng, hiện hành khắp
nơi vô cùng vi tế sâu xa, thì gọi là Ph ật. Sâu xa là bởi vì đã tích tập từ
ba Vô số kiếp. Vi tế là bởi vì giác ngộ về ba nỗi khổ. Hiện hành khắp
nơi là bởi vì duyên với ba cõi. Bình đẳng là bởi vì ở giữa người thân-kẻ
oán mà chuyển hóa không có gì khác nhau.
Bởi vì các loại nhân duyên như va äy, cho nên đối với người biết
đầy đủ trong ba Thừa, chỉ có một người gọi là Phật.
Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn từ trong Sắc uẩn, chỉ thiết lập Nhãn xứ…
làm Căn, chứ không phải là Sắc xứ?
Đáp: Bởi vì Sắc xứ…không có tướng của Căn.
Có người nói: Xứ bên trong thâu nhiếp thì thiết lập làm Căn, xứ
bên ngoài thâu nhiếp thì không thiết lập.
Có người nói: Nếu cũng làm sở y thì thiết lập làm Căn, chỉ làm sở
duyên thì không thiết lập; có cảnh và cảnh, nói cũng như vậy.
Có người nói: Nếu chỉ thuộc về số hữu tình thì thiết lập làm Căn,
nếu không nhất định thì không thiết lập.
Có người nói: Nếu chỉ là có Cha áp thọ thì thiết lập làm Căn, nếu
không có Chấp thọ và không nhất định thì không thiết lập.
Có người nói: Nếu chỉ thuộc về nối tiếp nhau thì thiết lập làm
Căn, không nhất định thì không thiết lập.
Có người nói: Nếu chỉ là thọ dụng nối tiếp nhau của mình thì thiết
lập làm Căn, không nhất định thì không thiết lập.
Có người nói: Không giống nhau thì thiết lập làm Căn, giống nhau
thì không thiết lập.
Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn từ tr ong Thọ uẩn, thì Khổ thọ và Lạc
thọ đều thiết lập làm hai Căn, Thọ không khổ không lạc thì chỉ thiết lập
làm một?
Đáp: Thọ không khổ không lạc cũng ca àn phải thiết lập làm hai
Căn, mà không thiết lập thì nên biết là có cách nói khác.
Lại nữa, bởi vì muốn dùng các loại văn từ-các loại ngôn thuyết để
biểu hiện đối với nghĩa làm cho dễ dàng hiểu rõ.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 143 785  
www.daitangkinh.org  
Lại nữa, muốn nêu rõ hai phương pháp-hai cách thức, cho đến nói
rộng ra.
Lại nữa, Khổ thọ và Lạc thọ, có lúc sáng tỏ nha nh nhạy, có lúc
không sáng tỏ nhanh nhạy, có lúc nóng nảy tùy tiện, có lúc không nóng
nảy tùy tiện, có lúc an trú, có l úc không an trú. Những loại sáng tỏ
nhanh nhạy-nóng nảy tùy tiện-không an trú, thì thiết lập làm Ưu-Hỷ
thọ; những loại không sáng tỏ nhanh nhạy-không nóng nảy tùy tiện-
an trú, thì thiết lập làm Khổ-La ïc thọ. Thọ không khổ không lạc, chỉ là
không sáng tỏ nhanh nhạy-không nóng nảy tùy tiện-an trú, cho nên hợp
lại thiết lập làm một.
Lại nữa, bởi vì Khổ thọ- Lạc thọ chuyển đổi có khác nhau, đều
phân làm hai, đó là Lạc căn chuyển khác-Hỷ căn chuyển khác, Khổ căn
chuyển khác-Ưu căn chuyển khác; Thọ không khổ không lạc chuyển
đổi không có gì khác nhau, cho nên hợp lại thiết lập làm một.
Lại nữa, bởi vì Khổ thọ-Lạc t họ trái ngược lẫn nhau, đều phân
làm hai, đó là Khổ-Lạc trái ngược  nhau, Ưu-Hỷ trái ngược nhau; Thọ
không khổ không lạc không có trái ngược nhau như vậy, cho nên chỉ nói
là một.
Hỏi: Vì sao Tưởng uẩn không thiết lập làm Căn?
Đáp: Nhiều pháp không phải là Căn, sao chỉ hỏi về Tưởng?
Hỏi: Như phần ít của Sắc uẩn-Ha ønh uẩn thiết lập làm Căn, Thọ
uẩn-Thức uẩn đều thiết lập làm Căn, chỉ riêng Tưởng là không thiết
lập, vì vậy cho nên hỏi?
Đáp: Bởi vì Tưởng không có tướng của Căn.
Lại nữa, Căn là do sức mình mà chuyển, Tưởng là do nơi khác mà
chuyển. Như người làm mướn, người kha ùc sai bảo thì làm, không sai
bảo thì không làm; Tưởng đối với cảnh mà chuyển, cũng lại như vậy.
Nghĩa là Thọ-Tư-Thức tiếp nhận cảnh tạo tác phân biệt rõ ràng rồi,
Tưởng mới giữ lấy tướng.
Lại nữa, Căn là tự tại, không bị pháp khác che khuất, Tưởng bị
Tuệ che khuất, cho nên không nói là Căn. Nghĩa là Tưởng thiện bị Tuệ
thiện che khuất, như n gười đối với việc thi ện thì khéo léo chọn lấy
tướng, thế gian nói người này gọi là người thông minh trí tuệ; Tưởng vô
ký bị Tuệ vô ký che khuất, như người đối với công việc thế gian khéo
léo chọn lấy tướng, thế gian liền nói  người này gọi là người trí tuệ tài
tình; Tưởng nhiễm ô bị Tuệ điên đa ûo che khuất, như nói đối với Vô
thường khởi lên Tưởng điên đảo là Thường, cho đến đối với Vô ngã
khởi lên Tưởng điên đảo về Ngã.
786 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Hỏi: Tôn giả Thế Hữu nói rằng:  “Vì sao Tưởng không thiết lập
làm Căn?
Đáp: Nghĩa về tăng thượng là nghĩa của Căn, Tưởng ít tăng thượng
cho nên không thiết lập làm Căn.
Hỏi: Tưởng cũng có tăng thượng, như nói: Tất cả các pháp hữu
vi lần lượt chuyển đổi tăng thượng, các pháp vô vi tăng thượng đối với
hữu vi?
Đáp: Tôi nói là ít chứ không nói là không có. Vả lại, nói là Căn thì
có thể làm hại phiền não, Tưởng không có thể làm hại phiền não.
Hỏi: Tưởng cũng có thể làm hại phiền não, như nói: Tỳ kheo đối
với Tưởng về Vô thường, nếu tập-nếu tu- nếu tu tập nhiều, thì có thể trừ
bỏ tất cả các tham của cõi Dục, tham của cõi Sắc-Vô sắc?
Đáp: Đây là đối với Tuệ mà nói tên gọi của Tưởng.”
Đại đức nói rằng: “Căn là nghĩa về làm chủ, không tùy theo nơi
khác; Tưởng thì tùy theo nơi khác, tâm-tâm sở khác phân biệt cảnh rồi
mới có thể chọn lấy tướng, cho nên không thiết lập làm Căn.”
sTôn giả Chúng Thế nói rằng: “Căn là nặng về thật, tác dụng của
Tưởng thì trôi nổi không thật, cho nên quán xét về Thắng giải gọi là
giả tưởng; thế gian cũng từ trong cách hiểu không thật ấy nói là Tưởng
của ông.”
Tôn giả Giác Thiên nói rằng: “Căn là quyết định khó có thể lay
động, tác dụng của Tưởng tùy theo duyên mà chuyển dời không nhất
định, như hình ảnh trong hơi nóng của ánh mặt trời, cho nên không thiết
lập làm Căn.”
Hỏi: Vì sao phiền não không thiết lập làm Căn?
Đáp: Bởi vì phiền não không có tướng của Căn, cho nên không
thiết lập.
Có Sư khác nói: Tăng thượng là Căn, phiền não thì thấp kém.
Hỏi: Phiền não có thể làm cho các quả báo nối  tiếp nhau, hủy
hoại các phẩm thiện, làm cho chìm vào sinh tử, làm cho cách xa Niết-
bàn, khó có thể điều phục, vì sao lại thấp kém?
Đáp: Bởi vì các phiền não thấp hèn đáng chê trách, người trí đều
vứt bỏ, cho nên gọi là thấp kém, chứ không phải là không có thế dụng
mà gọi là thấp kém; như đẳng cấp Chiên-đồ-la, Bổ-yết-sa…, tuy có thế
dụng mà cũng gọi là thấp kém, bởi vì bị những người hơn hẳn khinh
rẻ.
Hỏi: Nếu như vậy thì Thọ nhiễm ô không nên thiết lập làm Căn?
Đáp: Thọ có thế dụng tăng thượng đối với phẩm tạp nhiễm,   cho
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 143 787  
www.daitangkinh.org  
nên thiết lập làm Căn; phiền não thì không như vậy, bởi vì dựa vào các
Thọ mà sinh ra phiền não.
Hỏi: Nếu như vậy thì Tưởng nên thiết lập làm Căn, bởi vì cũng có
thể sinh ra phiền não?
Đáp: Tưởng tuy có t hể sinh ra phiền na õo, mà không mạnh bằng
Thọ. Bởi vì nghĩa này cho nên ở trong chi Duyên khởi cũng không nói
đến.
Có người nói: Thọ tuy là tùy thuận với phẩm tạp nhiễm, mà cũng
quan hệ qua lại với pháp thiện; phi ền não chỉ tùy thuận với phẩm tạp
nhiễm mà không thuận với thiện, cho nên không thiết lập làm Căn.
Giống như người đang ở trong tù, tuy thấp kém mà giao tiếp qua lại
với người cao quý, không phải là như lính canh cửa ngục, tuy có uy lực
quyền hạn làm cho người khác phải khổ sở hết sức mà vô cùng xấu xa
hèn hạ, bởi vì đáng chán ghét cho nên người cao quý lìa xa.
Tôn giả Tăng-già-phiệt-tô nói  rằng: “Nếu pháp có thể có được
trong thân có nhiễm hay không có nhiễm thì thiết lập làm Căn; phiền
não chỉ có thể có được ở trong thân có nhiễm, cho nên không thiết lập
làm Căn.”
Hỏi: Nếu như vậy thì Ưu căn va ø Cụ tri căn đều không nên thiết
lập, bởi vì Ưu căn chỉ có thể có được ở trong thân có nhiễm, Cụ tri căn
chỉ có thể có được ở trong thân không có nhiễm?
Đáp: Có người nói: Căn là nghĩa về làm chủ, phiền não không
phải là chủ, bởi vì là tâm sở pháp.
Nếu như vậy thì Thọ… cũng không nên th iết lập làm Căn. Bởi vì
nhân duyên này, cho nên cách nói trước là hợp lý.
Hỏi: Vì sao Thọ thiện-nhiễm-vô ký đều thiết lập làm Căn, Tuệ-
Niệm-Định chỉ có thiện thiết lập làm Căn chứ không phải là nhiễm và
vô ký?
Đáp: Thọ có thế dụng tăng thượng thuận với phẩm tạp nhiễm, Thọ
thiện-nhiễm-vô ký đều có thế lực, bởi vì thuận với phẩm tạp nhiễm cho
nên cùng thiết lập làm Căn. Tuệ- Niệm-Định có thế dụng tăng thượng
thuận với phẩm thanh tịnh, chỉ có Tuệ-Niệm-Định thiện thuận với phẩm
thanh tịnh cho nên thiết lập làm Căn; Tuệ-Niệm-Định nhiễm lại giúp đỡ
lẫn nhau đoạn mất phẩm thanh tịnh, Tuệ-Niệm-Định vô ký cũng không
thuận với phẩm thanh tịnh, vì vậy cũng không thiết lập làm Căn.
Có Sư khác nói: Thọ đối với  ba phẩm đều có thế dụng, cho nên
đều thiết lập làm Căn. Tuệ-Niệm-Đị nh chỉ có thế dụng đối với phẩm
thanh tịnh, cho nên chỉ có thiện thiết lập làm Căn. Nguyên cớ thế nào?
788 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Bởi vì lực của các Thọ làm cho loài hữu tình chuyển biến theo các sự
việc thuộc về thiện-nhiễm-vô ký. B ởi vì Thọ mạnh hơn đối với phẩm
thanh tịnh, cho nên nói ở trong Giác chi-Tĩnh lự chi; bởi vì mạnh hơn
đối với phẩm tạp nhiễm, cho nên nói ở trong mười hai Chi duyên khởi;
không phải là mạnh hơn đối với hai phẩm, nghĩa là bởi vì Thọ cho nên
tạo tác các loại sự nghiệp vô ký. Tuệ-Niệm-Định thì không như vậy.
Vì vậy nên biết Ý căn cũng mạnh hơn đối với ba phẩm, cho nên thiện-
nhiễm-vô ký đều thiết lập làm Căn. Mạnh hơn đối với ba phẩm, bởi vì
pháp thuộc về ba phẩm đều dựa vào tâm.
Hỏi:  Vì  sao  Tác  ý-Thắng  giải-Xúc-Dục  không  thiết  lập  làm
Căn?
Đáp: Bởi vì không có tướng của Căn. Nghĩa là Tác ý tuy có    thể
phát động làm cho ý hướng đến cảnh sở duyên, nhưng không phải là tất
cả mọi lúc thường có tác dụng thù thắng, cho nên không thiết lập làm
Căn.
Hỏi: Pháp này đối với phẩm thanh tịnh lẽ nào không có tác dụng
thù thắng, bởi vì những người tu Định thì lúc bắt đầu tu Định, tất cả đều
nhờ vào lực của Tác ý?
Đáp: Lúc bắt đầu tu Định khiến cho tâm hướng đến cảnh, tuy là
tạm thời có lực, nhưng tâm trú vào cảnh rồi thì không còn tác dụng thù
thắng, cho nên không thiết lập làm Căn.
Thắng giải tuy có thể khiến c ho tâm quyết định phù hợp đối với
cảnh, mà đối với sự sinh trưởng thì không có tác dụng thù thắng nào
khác, cho nên không thiết lập làm Căn.
Hỏi: Lẽ nào không phải là Thắng giải ở trong pháp thiện cũng có
tác dụng thù thắng, cho nên ở trong năm Uẩn như Giới…, mười chi Vô
học đều kiến lập hay sao?
Đáp: Ở phần vị lìa nhiễm hiển bày tướng lìa nhiễm, thiết lập Uẩn
giải thoát thuộc về chi Chánh giải thoát, trừ điều này ra lại không có tác
dụng thù thắng nào về sinh trưởng, bởi vì không có tướng của Căn, cho
nên không thiết lập làm Căn.
Xúc tuy khiến cho tâm thuận theo Xúc đối với cảnh sinh ra các
Thọ, nhưng đối với phẩm nhiễm-tịnh th ì không có tác dụng thù thắng
nào khác,cho nên không thiết lập làm Căn.
Hỏi: Lẽ nào không phải sinh ra Thọ tức là tác dụng thù thắng hay
sao?
Đáp: Thọ đối với nhiễm-tịnh có công năng thù thắng thì có thể
thiết lập làm Căn. Xúc chỉ sinh ra Thọ chứ không có tác dụng thù thắng
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 143 789  
www.daitangkinh.org  
đích thực đối với phẩm nhiễm-tịnh. Vả lại, Xúc chỉ có thể tùy thuận với
phẩm tạp nhiễm chứ không phải là thuận với phẩm thanh tịnh, cho nên
không thiết lập làm Căn. Phần nhiều thuận với phẩm thanh tịnh thì thiết
lập làm các Căn, chính vì vậy cho nên Dục không thiết lập làm Căn, bởi
vì cũng không có tác dụng thù thắng đối với phẩm thanh tịnh.
Hỏi: Trong kinh nói các pháp lấy Dục làm căn  bản, các phẩm
nhiễm-tịnh đều từ Dục mà sinh ra, tại sao không có tác dụng thù thắng
đối với phẩm thanh tịnh?
Đáp: Tuy phẩm nhiễm-tịnh không có Dục thì không sinh ra, mà
trong kinh nói là các pháp căn bản,  nhưng đã sinh ra rồi thì không còn
tác dụng thù thắng. Vả lại, phần nhiều thuận với Ái cho nên không thiết
lập làm Căn, bởi vì thuận theo pháp thấp kém chứ không phải là tăng
thượng.
Hỏi: Tư có thể khiến cho tâm tạo tác thiện ác, thiết lập làm ý ng-
hiệp, có thể phát khởi thân-ngữ, có thể cảm lấy sinh tử, có tác dụng tăng
thượng mạnh hơn pháp khác, vì sao không thiết lập làm Căn?
Đáp: Bởi vì chỉ thuận với phẩm tạp nhiễm, không phải là phẩm
thanh tịnh, cho nên không thiết lập làm Căn.
Có người nói: Các nghiệp từ phiền não sinh ra, bởi vì phiền não
thấp hèn chứ không phải là tăng thượng, cho nên không thiết lập làm
Căn; nghiệp cũng phải như vậy. Như người hèn mọn mà sinh ra con cái,
mọi người đều ghét bỏ không kết hôn qua lại với nhau, các nghiệp cũng
như vậy, cho nên không có nghĩa của Căn.
Hỏi: Vì sao trong tâm sở pháp thiện, chỉ có hai pháp thiết lập làm
Căn, những pháp còn lại đều không thiết lập?
Đáp: Bởi vì những pháp còn la ïi đều không có tướng của Căn.
Nghĩa là Tín có thể làm căn bản cho các pháp thiện, không có phẩm
thiện nào tách lìa Tín mà thành tựu; Tinh tiến có thể thúc đẩy phát khởi
các pháp thiện khắp nơi, không có phẩm thiện nào tách lìa Tinh tiến mà
thành tựu. Bởi vì hai pháp này có nghĩa tăng thượng hơn hẳn, cho nên có
thể thiết lập làm Căn, những pháp còn lại thì không như vậy.
Hỏi: Hai loại Tàm-Quý thuộc về t ự tánh thiện, nói là pháp thiện
(bạch pháp),vì sao không thiết lập làm Căn?
Đáp: Hai loại này có thể đối trị với tâm bất thiện khắp nơi, bởi vì
tự tánh bất thiện luôn luôn là phẩm ác (hắc phẩm), cho nên nói đến tên
gọi là thiện (bạch) và tự tánh thiện; nhưng ở trong sự sinh trưởng của
các pháp thiện, bởi vì không có công năng thù thắng nào khác, cho nên
không có nghĩa của Căn.
790 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Hỏi: Không có Tham-không có Nhuế gọi là Căn thiện, vì sao trong
này không thiết lập làm Căn?
Đáp: Kiến lập về Căn ấy, cùng với nghĩa này khác nhau. Nghĩa là
pháp do loại ấy đối trị đi cùng với sáu Thức, bao gồm năm pháp đã đoạn
là tánh tùy miên, có thể phát khởi  nghiệp ác thô nặng của thân-ngữ,
làm gia hạnh thù thắng cho đoạn ma át Căn thiện; đầy đủ năm nghĩa ấy
cho nên thiết lập làm Căn bất thiện. Ba loại như không có Tham… có thể
đối trị với loại ấy, và khởi lên các nghiệp thiện phân tán, cho nên gọi
là Căn thiện. Trong này, Tín… thiết lập làm Căn, bao gồm hướng về sự
sinh trưởng tất cả các pháp thiện, phần nhiều dựa vào sự tùy thuận với
phẩm thiện xuất thế, cho nên không có Tham… đối với điều này không
phải là Căn.
Hỏi: Khinh an-không làm hại-không phóng dật-Xả, vì sao không
thiết lập làm Căn?
Đáp: Bởi vì không có tướng của Căn. Nghĩa là pháp do loại ấy đối
trị là bốn tùy phiền não, ba loại ch ỉ là tâm nhiễm ô khắp nơi, một loại
làm bạn với Tầm ác, làm não loạn Bồ-tát và ngăn cản chọn lấy Bồ-đề,
cho nên trong pháp thiện th iết lập những loại ấy làm chủ thể đối trị.
Nhưng đối với sự sinh trưởng của pháp thuộc phẩm thanh tịnh, không có
công năng thù thắng nào khác, cho nên không thiết lập làm Căn.
Hỏi: Các pháp thiện đều dựa vào không phóng dật mà khởi lên, vì
sao nói công năng không phải là thù thắng?
Đáp: Bởi vì những loại này chỉ có thể trừ bỏ các pháp phóng dật,
khiến cho các phẩm thiện dựa vào Tín… mà sinh khởi, không phải là
loại ấy tự mình có thể có tác dụng sinh trưởng.
Hỏi: Vui mừng-Chán ngán(hân-yếm), vì sao không thiết lập  làm
Căn?
Đáp: Ở trong phần vị phân tán thì tác dụng của loại này tuy là thù
thắng, nhưng ở trong phần vị Định thiện thì tác dụng không rõ ràng, tác
dụng của Căn nhất định phải thù th ắng ở trong hai phần vị, mà ở phần
vị Định thì rõ ràng tăng mạnh, cho nên hai pháp ấy không có nghĩa của
Căn.
Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao thiết lập Tín làm Căn?
Đáp: Bởi vì tác dụng lắng trong thanh tịnh bao gồm tất cả các phần
vị, không phải là chỉ ở phần vị phân tán, cho nên thiết lập làm Căn.
Hỏi: Ác tác-Thụy miên và Tầm-Tứ, vì sao không phải là Căn?
Đáp: Bởi vì không có tướng của Căn. Nghĩa là hai loại trước chỉ
thuộc về tâm phân tán, hai loại sau không bao gồm tất cả các   cõi-địa,
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 143 791  
www.daitangkinh.org  
và đều không có công năng thù thắng về sinh khởi pháp thiện, cho nên
đều không nói là có nghĩa của Căn.
Hỏi: Nếu như vậy thì bốn lo ại như Khổ thọ…không nên thiết lập
làm Căn?
Đáp: Nói tóm lại là Thọ có khắp các phần vị, dựa vào chủng loại
ấy đều nói là Căn, và Thọ đều có sự sinh trưởng tăng thượng, bốn loại
ấy thì không như vậy.
Hỏi: Trong Đạo chi thiết lập Tầm, trong Tĩnh lự chi thiết lập Tầm-
Tứ, lẽ nào không phải là sinh tr ưởng có tăng thượng thù thắng hay
sao?
Đáp: Những loại này có lực thúc đẩy duy trì đối với Định-Tuệ, cho
nên thiết lập làm Chi, không phải là có tác dụng tăng thượng đối với sự
sinh trưởng, cho nên không phải là Căn.
Hỏi: Vì sao đối với các Hành không tương ưng chỉ riêng Mạng
thiết lập làm Căn?
Đáp: Bởi vì chỉ riêng Mạng căn có nghĩa của Căn. Nghĩa là loại
ấy chỉ là do số hữu tình thâu nhiếp, chỉ là dị thục, có thể tùy ý duy trì
khắp nơi, cho nên thiết lập làm Căn, những loại còn lại thì không như
vậy. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì ba nghĩa về bốn tướng hữu vi đều không
có, không có dị thục của Tưởng, không có nghĩa duy trì khắp nơi, Chúng
đồng phần ấy không phải là chỉ có dị thục, bởi vì nó cũng bao gồm tánh
thuộc đẳng lưu. Hai loại không có tâm định, danh cú-văn thân, đắc-phi
đắc…, không có hai nghĩa sau, cho nên tất cả nhưng loại ấy đều không
thiết lập làm Căn.
Hỏi: Nếu nghĩa về tối thắng là nghĩa của Căn, thì Niết-bàn là tối
thắng ở trong tất cả các pháp, vì sao không thiết lập làm Căn?
Đáp: Bởi vì Niết-bàn là nơi các Căn diệt hết, nơi Căn diệt hết thì
không gọi là Căn; như nơi hủy hoại các loại bình-chậu… thì không gọi
là bình-chậu…
Có người nói: Nếu pháp hiện hành giữa thế gian, chọn lấy quả-
mang lại quả, có các tác dụng, biết rõ ràng sở duyên, thì có thể thiết lập
làm Căn; Niết-bàn thì không như vậy.
Có người nói: Nếu pháp sinh diệt có nhân-có quả-có tướng hữu vi,
thì có thể thiết lập làm Căn; Niết-bàn thì không như vậy.
Có người nói: Căn là thuộc về nhân-thuộc về duyên hòa hợp mà
sinh; Niết-bàn thì không như vậy.
Có người nói: Nếu như pháp vì sinh mà sinh, vì lão mà lão, vì diệt
mà diệt, thì có thể thiết lập làm Căn; Niết-bàn thì không như vậy.
792 BỘ TỲ ĐÀM 5
 
 
Có người nói: Căn là thuộc về uẩn-thuộc về đời, do các khổ mà
thuận theo; Niết-bàn thì không như vậy.
Có người nói: Căn là có tướng trước-sau, có tướng thượng-trung-
hạ; Niết-bàn thì không như vậy.
Có người nói: Tối thắng là nghĩa của Căn, đó là ở trong pháp hữu
vi thù thắng mà có tác dụng; Niết-ba øn là tối thắng ở trong tất cả các
pháp, mà không có tác dụng, cho nên không thiết lập làm Căn.
Hư không Phi trạch diệt không thiết lập làm Căn, nghĩa dựa theo
đây nên biết.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt