A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 145
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
此二十二根幾見苦所斷乃至廣說。問何故 復作此論。答前門遮說頓斷者意。而猶未 遮說頓現觀。又亦未顯漸次現觀。今欲遮 顯故作斯論。有說。前門亦遮頓現觀亦顯 漸現觀。但不明了。今欲令明了故作斯論。 有說。所以作論者。欲分別五部煩惱五部 對治。故造斯論。五部煩惱者謂見苦所斷。乃 至修所斷。五部對治者。謂苦忍苦智。乃至道 忍道智。此二十二根幾。見苦所斷。幾見集 所斷。幾見滅所斷。幾見道所斷。幾修所斷。幾 不斷。答九修所斷。三不斷。十應分別。九修所 斷者。謂七色命苦根。三不斷者。謂三無漏根。 十應分別者。謂意四受信等五根。謂意根或 見苦所斷。或見集見滅見道所斷。或修所斷。 或不斷。云何見苦所斷。謂意根隨信隨法行 苦現觀邊忍所斷。此復云何。謂見苦所斷二 十八隨眠相應意根。云何見集所斷。謂意根隨 信隨法行。集現觀邊忍所斷。此復云何。謂見 集所斷十九隨眠相應意根。云何見滅所斷。 謂意根隨信隨法行。滅現觀邊忍所斷。此復 云何。謂見滅所斷十九隨眠相應意根。云何 見道所斷。謂意根隨信隨法行道。現觀邊忍 所斷。此復云何。謂見道所斷二十二隨眠相 應意根。云何修所斷。謂意根學見迹修所斷。 此復云何。謂修所斷十隨眠相應意根及不 染污有漏意根。云何不斷。謂無漏意根。如意 根。捨根亦爾。樂根或見苦所斷。或見集見滅 見道所斷。或修所斷。或不斷。云何見苦所斷。 謂樂根隨信隨法行。苦現觀邊忍所斷。此復 云何。謂見苦所斷九隨眠相應樂根。云何見 集所斷。謂樂根隨信隨法行。集現觀邊忍所 斷。此復云何。謂見集所斷六隨眠相應樂根。 云何見滅所斷。謂樂根隨信隨法行。滅現觀 邊忍所斷。此復云何。謂見滅所斷六隨眠相 應樂根。云何見道所斷。謂樂根隨信隨法行。 道現觀邊忍所斷。此復云何。謂見道所斷七 隨眠相應樂根。云何修所斷。謂樂根學見迹 修所斷。此復云何。謂修所斷五隨眠相應樂 根。及不染污有漏樂根。五隨眠者。謂欲界貪 無明。色界貪慢無明。云何不斷。謂無漏樂根。 喜根或見苦所斷。或見集見滅見道所斷。或 修所斷。或不斷。云何見苦所斷。謂喜根隨信 隨法行。苦現觀邊忍所斷。此復云何。謂見苦 所斷十七隨眠相應喜根。十七隨眠者。謂欲 界除瞋疑。色界一切。云何見集所斷。謂喜根 隨信隨法行集現觀邊忍所斷。此復云何。謂 見集所斷十一隨眠相應喜根。云何見滅所 斷。謂喜根隨信隨法行。滅現觀邊忍所斷。此 復云何。謂見滅所斷十一隨眠相應喜根。云 何見道所斷。謂喜根隨信隨法行。道現觀邊 忍所斷。此復云何。謂見道所斷十二隨眠相 應喜根。云何修所斷。謂喜根學見迹修所斷。 此復云何。謂修所斷六隨眠相應喜根。及不 染污有漏喜根。六隨眠者。謂欲界除瞋。色界 一切。云何不斷。謂無漏喜根。憂根或見苦所 斷。或見集見滅見道所斷。或修所斷。云何見 苦所斷。謂憂根隨信隨法行。苦現觀邊忍所 斷。此復云何。謂見苦所斷四隨眠相應憂根。 四隨眠者。謂欲界邪見瞋疑無明。 云何見集所斷。謂憂根隨信隨法行。集現觀 邊忍所斷。此復云何。謂見集所斷四隨眠相 應憂根。云何見滅所斷。謂憂根隨信隨法行 滅現觀邊忍所斷。此復云何。謂見滅所斷四 隨眠相應憂根。云何見道所斷。謂憂根隨信 隨法行道現觀邊忍所斷。此復云何。謂見道 所斷四隨眠相應憂根。云何修所斷。謂憂根 學見迹修所斷。此復云何。謂修所斷二隨眠 相應憂根及不染污憂根。二隨眠者。謂欲界 瞋無明。信等五根或修所斷。或不斷。云何修 所斷。謂有漏信等五根。云何不斷。謂無漏信 等五根。 已分別諸根見苦所斷等。彼見苦所斷等義 今當說。問云何名見苦所斷。乃至修所斷 耶。答若法對治。決定對治。所緣決定。名見 苦所斷。乃至見道所斷。若法對治不決定。對 治所緣不決定。名修所斷。有說。若法處所 決定對治。所緣決定。名見苦所斷乃至見道 所斷。若法處所不決定對治。所緣不決定。名 修所斷。有說。若法苦忍苦智為對治。名見 苦所斷。乃至若法道忍道智為對治名見道 所斷。若法諸智為對治。名修所斷。有說。若 法苦忍所斷。名見苦所斷。乃至若法道忍所 斷。名見道所斷。若法諸智所斷。名修所斷。 有說。若法觀苦諦所斷。名見苦所斷。乃至 若法觀道諦所斷。名見道所斷。若法或觀苦 諦。或觀集滅道諦。或不觀諦所斷。名修所 斷。有說。若法與見苦諦相違。名見苦所斷。 乃至若法與見道諦相違。名見道所斷。若 法與見四諦相違。名修所斷。 此二十二根。幾見。幾非見。乃至廣說。問何故 作此論。答欲止說一切法皆是見性者意。 彼作是說。所作猛利說名為見。一切法無 不皆於自事猛利故悉名見。為遮彼執。 顯諸法中唯眼根及慧少分名見非餘。故 作斯論。 此二十二根。幾見。幾非見。答一見。十七非 見。四應分別。一見者。謂眼根。十七非見者。 謂六色命意五受信等四根。四應分別者。謂 慧三無漏根。慧根或見。或非見。云何見。謂盡 智無生智所不攝意識相應慧根。云何非見。 謂餘慧根即五識相應慧根。及盡智無生智 所攝慧根。未知當知根。或見或非見。云何見。 謂未知當知根所攝慧根。云何非見。謂未知 當知根所攝餘根。即餘八根。如未知當知根。 已知根亦爾。具知根或見或非見。云何見。謂 盡智無生智所不攝具知根所攝慧根。云何 非見。謂具知根所攝餘根。即餘八根。及盡智 無生智所攝慧根。 已分別諸根見等。彼見等義今當說。問何故 名見見是何義。答由四緣。故名見。一能觀 故。二推決故。三堅執故。四深入所緣故。能 觀故者。謂見自性。問邪見顛倒見。彼何所觀。 答是故說見自性。謂雖邪顛倒見。而是見慧 自性。故說能觀。如人隨有所見即名能 觀。非如盲者。推決定者。謂能推求決定。問 一剎那頃如何推求。答性猛利故說名推求。 堅執故者。謂諸見趣僻執堅牢。非聖道力無 由令捨。深入所緣者。謂於境猛入。如針 墮埿。有說。由二緣故名見。一照了性故。 二推度性故。有說。由三緣故名見。一有見 相故。二成見事故。三於境無礙故。有說。由 三緣故名見。一意樂故。二執著故。三推決 故。有說。由三緣故名見。一意樂故。二加行 故三無智故。意樂故者。謂意樂壞者。加行故 者。謂加行壞者。無智故者。謂俱壞者。復次意 樂故者。謂修定者。加行故者。謂尋思者。無智 故者。謂隨聞者。 此二十二根。幾有尋有伺。乃至廣說。問何故 作此論。答欲止譬喻者所說故。彼說從欲 界乃至有頂。皆有尋伺。所以者何。契經說 故。如契經說。心麁性是尋。心細性是伺。心 麁細性乃至有頂。彼大德說曰。對法諸師說。 尋伺是心麁細性。此麁細性相待而立。乃至 有頂皆現可得。而說尋伺唯在欲界。及梵 世有。此是惡說非為善說。阿毘達磨諸論 師言。我等善說非為惡說。以依多門說麁 細性非是一種。如說。纏麁隨眠細。此中尋 伺非麁非細。以俱非纏隨眠性故。如說。 色蘊麁四蘊細。此中尋伺俱是其細。以俱攝 在行蘊中故。如說。欲界麁初靜慮細。此 中尋伺俱通麁細以二俱通二地攝故。如 說。初靜慮麁第二靜慮細。此中尋伺俱是 其麁。以依多門說麁細性。故尋與伺非至 有頂。若說尋伺至有頂者。應不說有三 地差別。譬喻者言。始從欲界乃至有頂。皆 有善染無記三法。一切地染法皆名有尋有 伺。唯善無記有三地別。若爾。何故說尋伺滅 無尋無伺。定生喜樂入第二靜慮。彼言。此 依善尋伺說。不說染污。此說不然。何緣乃 說滅善尋伺非滅染污。而應先滅染污尋 伺。以離染時必斷彼故。以越界地方捨於 善故。譬喻者真為惡說。欲止彼意顯尋與 伺唯在二地。故作斯論。 此二十二根幾有尋有伺。幾無尋唯伺。幾無 尋無伺。答二有尋有伺。八無尋無伺。十二應 分別。二有尋有伺者。謂苦憂根。八無尋無伺 者。謂七色命根。十二應分別者。謂意。三受。 信等五。三無漏根。意根或有尋有伺。或無尋 唯伺。或無尋無伺。云何有尋有伺。謂有尋有 伺作意相應意根。此復云何。謂欲界初靜慮 意根。云何無尋唯伺。謂無尋唯伺作意相應 意根。此復云何。謂靜慮中間意根。 云何無尋無伺。謂無尋無伺作意相應意根。 此復云何。謂從第二靜慮乃至非想非非想 處意根。 如意根。捨根信等五根三無漏根亦爾。樂根 或有尋有伺。或無尋無伺。云何有尋有伺。謂 有尋有伺作意相應樂根。此復云何。謂欲界 初靜慮樂根。云何無尋無伺。謂無尋無伺作 意相應樂根。此復云何。謂第三靜慮樂根。如 樂根。喜根亦爾。然有差別。謂第二靜慮喜根 名無尋無伺。 已分別諸根有尋有伺等。彼有尋有伺等義 今當說。問云何名有尋有伺。無尋唯伺。無 尋無伺耶。答若法與尋伺俱。尋伺相應。尋 伺等起。尋伺俱轉。名有尋有伺。若法不與 尋俱。唯與伺俱。尋不相應。唯伺相應。非尋 等起。唯伺等起。尋已息滅。唯伺俱轉。名無 尋唯伺。若法不與尋伺俱。非尋伺相應。非 尋伺等起。尋伺已息名無尋無伺。有說。若 法有尋求。有伺察。名有尋有伺。若法無尋 求。有伺察。名無尋唯伺。若法無尋求無伺 察。名無尋無伺。 此二十二根。幾樂根相應。乃至廣說。問何故 作此論。答欲止他宗顯己義故。如譬喻 者說心心所次第而生。彼大德言。心心所法 一一而起。如經狹路。尚無二並。何況有多。 或復有說。若法由彼力起即說與彼相應 非餘。謂心能生心及心所故。心心所與心 相應。心所唯能生於心所故。諸心所亦互相 應。心所不能生於心故。不說心與心所 相應。或復有執。諸法唯與自體相應。彼作 是言。遍和合義是相應義。更無餘遍和合。如 自體於自體者。故說自體相應非他。有執。 諸法自體於自體非相應非不相應。非相 應者不自觀故。非不相應者遍和合故。為 止如是種種異說。顯心心所俱時而生展 轉相應。非於自體唯望他說。故作斯論 此二十二根幾樂根相應。幾苦根相應。幾喜 根相應。幾憂根相應。幾捨根相應。答樂根喜 根捨根九根少分相應。苦根憂根六根少分相 應。樂喜捨根九根少分相應者。謂意信等五 根三無漏根。問云何樂喜捨與此九少分相 應耶。答意根信等五根通與五受相應。此中 但取三受相應故言少分。三無漏根多法為 性。今除受體與餘相應故言少分。苦根憂 根六根少分相應者。謂意信等五根。問云何 苦憂與此六少分相應耶。答此六根與五受 相應。此中但取憂苦相應故言少分。問何 故但問與受相應。不問餘心心所耶。答是 作論者意欲爾故。隨彼意欲而作論。但不 違法相。便不應責。有說。一切法皆歸趣受 是以問之。有說。一受有多根相。謂於一受 分為五根餘法不爾。故唯問受。有說。諸受 成就不相違。現行相違。是以偏問。成就不相 違者。謂一有情成就五受。現行相違者。謂一 有情一剎那中。不能起二。何況起多。有說。 以受是緣起輪轂。是以偏問。有說。除受更 欲問何。若問信等五根三無漏根。彼唯是 善。非與一切有相應義。若問命等八根。彼 唯無記又不相應。問若爾。何故不問意根。 答本由意根立相應法。不可還問與意相 應。是故此中唯問與受相應之義。五受自性 非自相應故。復唯以餘法問受。已分別諸 根與受相應。彼相應義今當說。問何故名 相應。相應是何義。答等義是相應義。問諸心 品中。心所法有多有少云何名等。謂欲界多 色界少。色界多無色界少。善多不善少。不善 多無記少。有覆無記多無覆無記少。云何等 義是相應義。答以事等故說名為等。謂一心 品中。若有二受。一想等者可說非等。然一 心品中如受有一。想等亦爾。故名為等。有 說。五種等義是相應義。謂所依等。所緣等。 行相等。時等。事等。餘廣說如結蘊初納息 此二十二根。幾欲界繫。乃至廣說。問何故作 此論。答欲止他宗顯己義故。謂或有執色 界有男女根。彼作是言。有色身處皆有女 男二根可得。為止彼意顯女男根唯欲界 有。故作斯論。復有說言。樂根苦根五地可 得。謂欲界四靜慮。彼說有身皆有苦樂。為 遮彼執。顯苦根唯欲界有。樂根唯三地有。 故作斯論。或復有說。喜根憂根九地可得。 謂從欲界乃至有頂。彼說有心皆有憂喜。 三界九地皆有心故。又欲界身不淨可厭。尚 於合時生喜。離時生憂。況上界中身極淨 妙猶如燈焰。心無嬈濁如清涼池。而於離 合得無憂喜。為遮彼執。顯憂唯欲界。喜至 第二靜慮。上地俱無。故作斯論。 此二十二根。幾欲界繫。幾色界繫。幾無色界 繫。幾不繫。答四欲界繫。三不繫。十五應分 別。四欲界繫者。謂女男苦憂根。三不繫者。 謂三無漏根。十五應分別者。謂五色命意三 受信等五根。眼根或欲界繫。或色界繫。云何 欲界繫。謂欲界繫大種所造眼根。云何色界 繫。謂色界繫大種所造眼根。如眼根。耳鼻舌 身根亦爾。命根或欲界繫。或色界繫。或無色 界繫。云何欲界繫。謂欲界繫壽。云何色界繫。 謂色界繫壽。云何無色界繫。謂無色界繫壽。 意根或欲界繫。或色界繫。或無色界繫。或不 繫。云何欲界繫。謂欲界繫作意相應意根。云 何色界繫。謂色界繫作意相應意根。云何 無色界繫。謂無色界繫作意相應意根。云何 不繫。謂無漏作意相應意根。如意根。捨根信 等五根亦爾。樂根或欲界繫。或色界繫。或不 繫。云何欲界繫。謂欲界繫作意相應樂根。云 何色界繫。謂色界繫作意相應樂根。云何不 繫。謂無漏作意相應樂根。如樂根。喜根亦 爾。 問何故色界無男女根。答非其田非其器。 乃至廣說。有說。為欲棄捨男女根故。修 諸靜慮往色界生。若彼亦有男女根者。則 應無有求生彼界。若法下地所有上地亦 有者。應不施設有漸次滅法。若無漸次滅 法。亦應無畢竟滅法。以漸次滅法能引畢 竟滅法故。若無畢竟滅法應無解脫。若無 解脫。應無出離。勿有如斯眾多過失故。 於色界無男女根。有說。女男二根段食 所引。如契經說。劫初時人無女男根形相 不異。後食地味男女根生。由此便有男 女相異。色界離段食故無此二根。有說。男 女二根欲界有用。非於色界。是故彼無。問 鼻舌二根於彼無用。云何得有。答鼻舌二根 於彼有用。令端嚴故。非女男根有端嚴 義。可慚鄙故。問色界天眾為女為男。若 爾何失。若是女者應有女根。若是男者應 有男根。若非二者便違經說。如說。女身不 得作梵王等而不遮男。答應作是說。彼 皆是男。問豈不彼類不成就男根耶。答雖 無男根而有餘丈夫相。又能離染。故說為 男。如契經中說。諸果向皆名丈夫。非無女 人行向住果。當知亦以能離染故說為丈 夫。毘柰耶中亦作是說。佛以兩手捧大生 主骨。告苾芻眾。汝等諦聽。一切女人其性輕 轉。多諸嫉妬諂媚慳貪。唯大生主雖是女 人。而離一切女人過失。作丈夫所作。得丈 夫所得。我說是輩名為丈夫。色界諸天理亦 應爾。能離染故說為丈夫。由此應作四句 分別。有是男子不成就男根。謂色無色天 大生主等。有成就男根而非男子。謂二形 是。有是男子亦成就男根。謂一切丈夫成 就男根者。有非男子亦不成就男根。謂 除前相。諸是女者必成就女根。有成就女 根而非是女。謂二形者。若依所引毘柰耶 義。女亦四句應推廣說。問何故上界無憂苦 根。答非田非器。乃至廣說。有說。為欲棄 捨憂苦根故。修諸靜慮往色界生。若彼亦 有憂苦根者。則應無有求生彼界。若法下 地所有上地亦有者。應不施設有漸次滅 法。廣說如前。勿有斯過。故上界無憂苦根。 有說。何故憂苦根色界無者。以是欲界不共 過失故。諸界地中各有不共功德過失。欲界 過失者。謂苦根等。功德者。謂能入見道等。 上界功德過失。隨地應廣說。有說。欲界是 過失界。由是過失界故雖殊勝身亦猶有 苦。如佛獨覺聲聞輪王。上界是功德界。由 是功德界故。雖下劣身亦無有苦。如遇 惡歲雖有美稼不能無災。若逢善歲雖 諸穢草亦無災及。欲界上界應知亦爾。所 以上界亦無憂者。以諸憂根離欲捨故。又 是重無知等流果故。生上界者離重無知。 是故憂根於彼非有。 已分別諸根欲界繫等。彼欲界繫等義今當 說。問云何名欲界繫。色界繫。無色界繫耶。 答若法繫在欲界名欲界繫。繫在色界名 色界繫。繫在無色界名無色界繫。如牛繫 在柱等名柱等繫。或有說者。若法繫屬欲 界足名欲界繫。繫屬色無色界足名色無 色界繫。足名煩惱。如說。佛無邊所行無 足。誰將去如人有足能往四方。若無足 者則不能往。如是若有煩惱足者。能往 諸界諸趣諸生生死流轉。無煩惱足則不 能往。或有說者。若法為欲界生死縛所 繫。名欲界繫。為色無色界生死縛所繫。名 色無色界繫。或有說者。若法為欲界阿賴耶 所藏。摩摩异多所執。名欲界繫。為色無色 界阿賴耶所藏。摩摩异多所執。名色無色界 繫。阿賴耶者謂愛。摩摩异多者謂見。或有 說者。若法為欲界愛所潤。見執為我我所。 名欲界繫。為色無色界愛所潤。見執為我 我所。名色無色界繫。或有說者。若法欲界樂 欲所合。名欲界繫。色無色界樂欲所合。名 色無色界繫。樂名為愛。欲名為見。或有說 者。若法為欲界垢所垢。毒所毒。穢所穢。名 欲界繫。為色無色界垢所垢。毒所毒。穢所 穢。名色無色界繫。此中一切煩惱名穢。非 但說瞋。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 145 809 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 145 LUẬN VỀ CĂN (Phần 4) Hai mươi hai căn này, mấy loại do kiến Khổ mà đoạn? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này? Đáp: Phần trước ngăn chặn ý nói về lập tức Đoạn, mà vẫn chưa ngăn chặn ý nói về lập tức Hiện qua ùn, lại cũng chưa hiển bày về từ từ Hiện quán, nay muốn ngăn chặn và hiển bày cho nên soạn ra phần luận này. Có người nói: Phần trước cũng ng ăn chặn về lập tức Hiện quán, cũng hiển bày về từ từ Hiện quán, nhưng không rõ ràng, nay muốn làm cho rõ ràng, cho nên soạn ra phần luận này. Có người nói: Nguyên cớ soạn lu ận là muốn phân biệt về năm Bộ phiền não-năm Bộ đối trị, cho nên soạn ra phần luận này. Năm Bộ phiền não, đó là do kiến Khổ mà đoạn, cho đến do tu mà đoạn. Năm Bộ đối trị, đó là Khổ nhẫn-Khổ trí, cho đến Đạo nhẫn-Đạo trí. Hỏi: Hai mươi hai căn này, mấy lo ại do kiến Khổ mà đoạn, mấy loại do kiến Tập mà đoạn, mấy loạ i do kiến Diệt mà đoạn, mấy loại do kiến Đạo mà đoạn, mấy loại do tu mà đoạn, mấy loại không đoạn? Đáp: Chín loại do tu mà đoạn, ba loại không đoạn, mười loại cần phải phân biệt. Chín loại do tu mà đoạn, đó là bảy Sắc căn và Mạng căn-Khổ căn. Ba loại không đoạn, đó là ba căn Vô lậu. Mười loại cần phải phân biệt, đó là Ý căn-bốn Thọ và năm căn như Tín… Ý căn, hoặc là do kiến Khổ ma ø đoạn, hoặc là do kiến Tập-kiến Diệt-kiến Đạo mà đoạn, hoặc là do tu mà đoạn, hoặc là không đoạn. Thế nào là do kiến Khổ ma ø đoạn? Đó là Ý căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện qua ùn biên Nhẫn về Khổ ma ø đoạn. Điều này lại 810 BỘ TỲ ĐÀM 5 là thế nào? Đó là Ý căn tương ưng với hai mươi tám tùy miên do kiến Khổ mà đoạn. Thế nào là do kiến Tập mà đoạn? Đó là Ý căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện qua ùn biên Nhẫn về Tập mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Ý căn tương ưng với mười chín tùy miên do kiến Tập mà đoạn. Thế nào là do ki ến Diệt mà đoạn? Đó là Ý căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Diệt mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Ý căn tương ưng với mười chín tùy miên do kiến Diệt mà đoạn. Thế nào là do kiến Đạo mà đoạn? Đó là Ý căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Đạo mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Ý căn tương ưng với hai mươi hai tùy miên do kiến Đạo mà đoạn. T hế nào là do tu mà đoạn? Đó là Ý căn của Học thấy dấu tích, do tu mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Ý căn tương ưng với mười tùy miên do tu mà đoạn, và Ý căn hữu lậu không nhiễm ô. Thế nào là không đoạn? Đó là Ý căn vô lậu. Như Ý căn, Xả căn cũng như vậy. Lạc căn, hoặc là do kiến Khổ mà đoạn, hoặc là do kiến Tập-kiến Diệt- kiến Đạo mà đoạn, hoặc là do tu mà đoạn, hoặc là không đoạn. Thế nào là do kiến Khổ mà đoạn? Đó là Lạc căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Khổ mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Lạc căn tương ưng với chín tùy miên do kiến Khổ mà đoạn. Thế nào là do kiến Tập mà đoạn? Đó là Lạc căn của Tùy tín hành- Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Tập mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Lạc căn tương ưng với sáu tùy miên do kiến Tập mà đoạn. Thế nào là do kiến Diệt mà đoạn? Đó là Lạc căn của Tùy tín hành- Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Diệt mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Lạc căn tương ưng với sáu tùy miên do kiến Diệt mà đoạn. Thế nào là do kiến Đạo mà đoạn? Đó là Lạc căn của Tùy tín hành- Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Đạo mà đoạn. Điều này lại là t hế nào? Đó là Lạc ca ên tương ưng với bảy tùy miên do kiến Đạo mà đoạn. Thế nào la ø do tu mà đoạn? Đó là Lạc căn của Học thấy dấu tích, do tu mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Lạc căn tương ưng với năm tùy miên do tu mà đoạn, và Lạc căn hữu lậu không nhiễm ô. Năm tùy miên, đó là Tham-Vô minh của cõi Dục, Tham- Mạn và Vô minh của cõi Sắc. Thế nào la ø không đoạn? Đó là Lạc căn vô lậu. Hỷ căn, hoặc là do kiến Khổ mà đoạn, hoặc là do kiến Tập-kiến Diệt-kiến Đạo mà đoạn, hoặc là do tu mà đoạn, hoặc là không đoạn. Thế nào là do kiến Khổ mà đoạn? Đó là Hỷ căn của Tùy tín hành-Tùy SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 145 811 www.daitangkinh.org pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Khổ mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Hỷ căn tương ưng với mười bảy tùy miên do kiến Khổ mà đoạn. Mười bảy tùy miên, đó là tùy miên của cõi Dục trừ ra Sân- Nghi, tất cả tùy miên của cõi Sắc. Thế nào là do kiến Tập mà đoạn? Đó là Hỷ căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Tập mà đoạn. Điều này lại là th ế nào? Đó là Hỷ căn tương ưng với mười một tùy miên do kiến Tập mà đoạn. Thế nào là do kiến Diệt mà đoạn? Đó là Hỷ căn của Tùy tín hành- Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Diệt mà đoạn. Điều này la ïi là thế nào? Đó là Hỷ căn tương ưng với mười một tùy miên do kiến Diệt mà đoạn. Thế nào là do kiến Đạo mà đoạn? Đó là Hỷ căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Đạo mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Hỷ căn tương ưng với mười hai tùy miên do kiến Đạo mà đoạn. Thế nào là do tu mà đoạn? Đó là Hỷ căn của Học thấy dấu tích, do tu mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Hỷ căn tương ưng với sáu tùy miên do tu mà đoạn, và Hỷ căn hữu lậu không nhiễm ô. Sáu tùy miên, đó là tùy miên của cõi Dục trừ ra Sân, tất cả tùy miên của cõi Sắc. Thế nào là không đoạn? Đó là Hỷ căn vô lậu. Ưu căn, hoặc là do kiến Khổ mà đoạn, hoặc là do kiến Tập-kiến Diệt-kiến Đạo mà đaọn, hoặc là do tu mà đoạn. Thế nào là do kiến Khổ mà đoạn? Đó là Ưu căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Khổ mà đoạn. Điều na øy lại là thế nào? Đó là Ưu căn tương ưng với bốn tùy miên do kiến Khổ mà đoạn. Bốn tùy miên, đó là Tà kiến-Sân-Nghi và Vô minh của cõi Dục. Thế nào là do kiến Tập mà đoạn? Đó là Ưu căn của Tùy tín hành Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Tập mà đoạn. Điều này lại la ø thế nào? Đó là Ưu căn tương ưng với bốn tùy miên do kiến Tập mà đoạn. Thế nào là do kiến Diệt mà đoạn? Đó là Ưu căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Diệt mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Ưu căn tương ưng với bốn tùy miên do kiến Diệt mà đoạn. Thế nào là do kiến Đạo mà đoạn? Đó là Ưu căn của Tùy tín hành-Tùy pháp hành, do Hiện quán biên Nhẫn về Đạo mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Ưu căn tương ưng với bốn tùy miên do kiến Đạo mà đoạn. Thế nào là do tu mà đoạn? Đó là Ưu căn của Học thấy dấu tích, do tu mà đoạn. Điều này lại là thế nào? Đó là Ưu căn tương ưng với hai tùy miên do tu mà đoạn, và Ưu căn không nhiễm ô. Hai tùy miên, đó là Sân và Vô minh của cõi Dục. Năm căn như Tín…, hoặc là do tu mà đoạn, hoặc là không đoạn. 812 BỘ TỲ ĐÀM 5 Thế nào là do tu mà đoạn? Đó là năm căn như Tín… thuộc hữu lậu. Thế nào là không đoạn? Đó là năm căn như Tín… thuộc vô lậu. Đã phân biệt về các căn do kiến Khổ mà đoạn…, nay sẽ nói đến nghĩa của các căn do kiến Khổ mà đoạn… Hỏi: Vì sao gọi là do kiến Khổ mà đoạn, cho đến do tu mà đoạn? Đáp: Nếu pháp là đối trị quyết định, đối trị sở duyên quyết định, thì gọi là do kiến Khổ mà đoa ïn; cho đến do kiến Đạo mà đoạn. Nếu pháp là đối trị không quyết định, đối trị sở duyên không quyết định, thì gọi là do tu mà đoạn. Có người nói: Nếu pháp là xứ sở quyết định, đối trị sở duyên quyết định, thì gọi là do kiến Khổ mà đoạn cho đến do kiến Đạo mà đoạn. Nếu pháp là xứ sở không quyết định, đối trị sở duyên không quyết định, thì gọi là do tu mà đoạn. Có người nói: Nếu pháp dùng Khổ nhẫn-Khổ trí làm đối trị thì gọi là do kiến Khổ mà đoạn, cho đến nếu pháp dùng Đạo nhẫn-Đạo trí làm đối trị thì gọi là do kiến Đạo mà đoạn. Nếu pháp dùng các Trí làm đối trị, thì gọi là do tu mà đoạn. Có người nói: Nếu pháp do Khổ nhẫn mà đoạn, thì gọi là do kiến Khổ mà đoạn; cho đến nếu pháp do Đa ïo nhẫn mà đoạn, thì gọi là do kiến Đạo mà đoạn. Nếu pháp do các Trí mà đoạn, thì gọi là do tu mà đoạn. Có người nói: Nếu pháp do quán x ét Khổ đế mà đoạn, thì gọi là do kiến Khổ mà đoạn; cho đến nếu pháp do quán xét Đạo đế mà đoạn, thì gọi là do kiến Đạo mà đoạn. N ếu pháp hoặc là quán xét Khổ đế, hoặc là quán xét Tập-Diệt-Đạo đế, hoặc là không quán xét về Đế mà đoạn, thì gọi là do tu mà đoạn. Có người nói: Nếu pháp cùng với kiến Khổ đế trái ngược nhau, thì gọi là do kiến Khổ mà đoạn; cho đến nếu pháp cùng với kiến Đạo đế trái ngược nhau, thì gọi là do kiến Đạo mà đoạn. Nếu pháp cùng với kiến bốn Đế trái ngược nhau, thì gọi là do tu mà đoạn. Hai mươi hai căn này, mấy loại là Kiến, mấy loại không phải là Kiến? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Muốn ngăn chặn về ý nói tất cả các pháp đều là tánh thuộc Kiến. Những người ấy đưa ra cách nói này: Những việc làm mạnh mẽ sắc bén thì gọi là Kiến, tất cả các pháp không có pháp nào không mạnh mẽ sắc bén đối với việc làm của chính mình, cho nên đều gọi là Kiến. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày trong các pháp chỉ có Nhãn căn và SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 145 813 www.daitangkinh.org phần ít của Tuệ gọi là Kiến chứ không phải là loại nào khác, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Hai mươi hai căn này, mấy loại là Kiến, mấy loại không phải là Kiến? Đáp: Một loại là Kiến, mười bảy loại không phải là Kiến, bốn loại cần phải phân biệt. Một loại là Kiến, đó là Nhãn ca ên. Mười bảy loại không phải là Kiến, đó là sáu Sắc căn-Mạng căn -Ý căn-năm Thọ và bốn căn như Tín… Bốn loại cần phải phân biệt , đó là Tuệ và ba căn Vô lậu. Tuệ căn, hoặc là Kiến, hoặc không phải là Kiến. Thế nào là Kiến? Đó là Tận trí-Vô sinh trí vốn không thâu nhiếp Tuệ căn tương ưng với Ý thức. Thế nào là không phải Kiến? Đó là Tuệ căn khác, tức là Tuệ căn tương ưng với năm Thức, và Tuệ căn do Tận trí-Vô sinh trí thâu nhiếp. Vị tri đương tri căn, hoặc là Kiến, hoặc không phải là Kiến. Thế nào là Kiến? Đó là Tuệ căn do Vị tri đương tri căn thâu nhiếp. Thế nào là không phải Kiến? Đó là những căn khác do Vị tri đương tri căn thâu nhiếp, tức là tám căn khác. Như Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn cũng như vậy. Cụ tri căn, hoặc là Kiến, hoặc không phải là Kiến. Thế nào là Kiến? Đó là Tận trí-Vô sinh trí vốn không thâu nhiếp Tuệ căn do Cụ tri tri căn thâu nhiếp. Thế nào là không phải Kiến? Đó là những căn khác do Cụ tri căn thâu nhiếp, tức là tám căn khác, và Tuệ căn do Tận trí-Vô sinh trí thâu nhiếp. Đã phân biệt về các căn thuộc Kiến…, nay sẽ nói đến nghĩa của các căn thuộc Kiến… Hỏi: Vì sao gọi là Kiến, Kiến là nghĩa gì? Đáp: Do bốn duyên cho nên gọi là Kiến: 1. Bởi vì có năng lực quán xét. 2. Bởi vì suy đoán quyết định. 3. Bởi vì kiên quyết nắm giữ. 4. Bởi vì đi sâu vào sở duyên. Bởi vì có năng lực quán xét, đó là tự tánh của Kiến. Hỏi: Tà kiến-Điên đảo kiến, những loại ấy quán xét điều gì? Đáp: Vì thế cho nên nói là tự tánh của Kiến, nghĩa là tuy Tà kiến- Điên dảo kiến, mà là tự tánh của Tuệ-Kiến, cho nên nói là có năng lực quán xét. Như người hễ có nhìn thấy th ì gọi là có năng lực quán xét, không phải là như người mù. Bởi vì suy đoán quyết định, đó là có năng lực suy xét tìm tòi và 814 BỘ TỲ ĐÀM 5 quyết định. Hỏi: Trong một sát-na làm sao suy xét tìm tòi? Đáp: Tánh nhanh nhạy sắc bén cho nên gọi là suy xét tìm tòi. Bởi vì kiên quyết nắm giữ, đó là giữ chặt các kiến chấp quái lạ, không phải là uy lực của Thánh đạo thì không biết cách nào làm cho rời bỏ. Bởi vì đi sâu vào sở duyên, đó là mạnh mẽ đi vào cảnh, như kim nhọn rơi vào bùn. Có người nói: Do hai duyên cho nên gọi là Kiến: 1. Bởi vì tánh soi chiếu rõ ràng. 2. Bởi vì tánh suy đoán. Có người nói: Do ba duyên cho nên gọi là Kiến: 1. Bởi vì có tướng của Kiến. 2. Bởi vì thành sự của Kiến. 3. Bởi vì đối với cảnh không có ngăn ngại. Có người nói: Do ba duyên cho nên gọi là Kiến: 1. Bởi vì ý thích. 2. Bởi vì chấp trước. 3. Bởi vì suy đoán quyết định. Có người nói: Do ba duyên cho nên gọi là Kiến: 1. Bởi vì ý thích. 2. Bởi vì gia hạnh. 3. Bởi vì không có trí. Bởi vì ý thích, đó là ý thích hủy hoại. Bởi vì gia hạnh, đó là gia hạnh hủy hoại. Bởi vì không có trí, đó là cả hai đều hủy hoại. Lại nữa, bởi vì ý thích, đó là người tu Định; bởi vì gia hạnh, đó là người tìm tòi suy nghĩ; bởi vì không có trí, đó là người nghe theo. Hai mươi hai căn này, mấy loại có Tầm-có Tứ? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn cách nói của phái Thí Dụ. Họ nói từ cõi Dục cho đến Hữu Đảnh đều có Tầm-Tứ. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì trong kinh nói. Như trong kinh nói: “Tánh của tâm thô là Tầm, tánh của tâm tế là Tứ, tánh của tâm thô-tế cho đến Hữu Đảnh.” Đại đức ấy nói rằng: “Các sư phái Đối Pháp nói Tầm-Tứ là tánh của tâm thô-tế, tánh thô-tế này đối đãi nhau mà thiết lập, cho đến Hữu Đảnh đều hiện hành có thể đạt được, mà nói Tầm-Tứ chỉ có ở cõi Dục và cõi Phạm Thế, đây là nói sai trái chứ không phải là nói hợp lý.” SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 145 815 www.daitangkinh.org Các Luận sư A-tỳ-đạt-ma nó i: “Chúng tôi nói hợp lý chứ không phải là nói sai trái, bởi vì dựa vào nhiều môn nói về tánh thô-tế chứ không phải là một loại. Như nói: Triền thô-tùy miên tế. Trong này, Tầm-Tứ không phải là thô-không phải là tế, bởi vì cả hai đều không phải là tánh của triền-tùy miên. Như nói: Sắc uẩn thô-bốn uẩn tế. Trong này, Tầm-Tứ đều là tế, bởi vì đều thâu nhiếp ở trong Hành uẩn. Như nói: Cõi Dục thô-Tĩnh lự thứ nhất tế. Trong này, Tầm-Tứ đều bao gồm thô-tế, bởi vì cả hai loại đều thâu nhiếp bao gồm hai địa. Như nói: Tĩnh lự thứ nhất thô-Tĩnh lự thứ hai tế. Trong này, Tầm-Tứ đều là thô. Bởi vì dựa vào nhiều môn nói về tánh thô-tế, cho nên Tầm và Tứ không phải là đến Hữu Đảnh. Nếu nói Tầm và Tứ đều đến Hữu Đảnh, thì không nên nói là có ba địa sai biệt.” Phái Thí Dụ nói: “Bắt đầu từ cõi Dục cho đến Hữu Đảnh, đều có ba pháp là thiện- nhiễm và vô ký, pha ùp nhiễm của tất cả các địa đều gọi là có Tầm-có Tứ, chỉ riêng thi ện và vô ký có ở ba địa khác.” Nếu như vậy thì tại sao nói là Tầm-Tứ diệt không có Tầm-không có Tứ, nhất định sinh ra Hỷ-Lạc tiến vào Tĩnh lự thứ hai? Họ nói: “Đây là dựa vào Tầm-Tứ thiện mà nói, chứ không nói đến nhiễm ô.” Cách nói này không đúng, vì sao lại nói diệt Tầm-T ứ thiện chứ không phải là diệt nhiễm ô, mà lẽ ra Tầm-Tứ nhiễm ô phải diệt trước tiên, bởi vì lúc lìa nhiễm nhất định phải đoạn bỏ nó, bởi vì vượt qua cõi-địa mới rời bỏ thiện. Phái Thí Dụ thật sự là nói sai trái. Bởi vì ngăn chặn ý đó để hiển bày về Tầm và Tứ chỉ có ở hai địa, cho nên soạn ra phần luận này. Hai mươi hai căn này, mấy loại có Tầm-có Tứ, mấy loại không có Tầm-chỉ có Tứ, mấy loại không có Tầm-không có Tứ? Đáp: Hai loại có Tầm-có T ứ, tám loại không có Tầm-không có Tứ, mười hai loại cần phải phân biệt. Hai loại có Tầm-có Tứ, đó là Khổ căn và Ưu căn. Tám loại không có Tầm-không có Tứ, đó là bảy Sắc căn và Mạng căn. Mười hai loại cần phải phân biệt, đó là Ý căn- ba Thọ-năm căn như Tín… và ba căn Vô lậu. Ý căn, hoặc là có Tầm-có Tứ, hoặc là không có Tầm-chỉ có Tứ, hoặc là không có Tầm-không có Tứ. Thế nào là có Tầm-có Tứ? Đó là Ý căn tương ưng vói tác ý có Tầm-c ó Tứ. Điều này lại là thế nào? Đó là Ý căn của cõi Dục và Tĩnh lự thứ nhất. Thế nào là không có Tầm-chỉ có Tứ? Đó là Ý căn tương ưng với tác ý không có Tầm-chỉ có Tứ. Điều này lại là thế nào? Đó là Ý căn của tĩnh lự trung gian. Thế nào là không có Tầm-không có Tứ? Đó là Ý căn tương ưng với tác ý không có Tầm- 816 BỘ TỲ ĐÀM 5 không có Tứ. Điều này lại là thế nào? Đó là Ý căn từ Tĩnh lự thứ hai cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như Ý căn, Xả căn-năm căn như Tín… và ba căn Vô lậu cũng như vậy. Lạc căn, hoặc là có Tầm-có Tứ, hoặc là không có Tầm-không có Tứ. Thế nào là có Tầm-có Tứ? Đó là Lạc căn tương ưng với tác ý có Tầm-có Tứ. Điều này lại là thế nào? Đó là Lạc căn của cõi Dục và Tĩnh lự thứ nhất. Thế nào là không c ó Tầm-không có Tứ? Đó là Lạc căn tương ưng với tác ý không có Tầm-không có Tứ. Điều này lại là thế nào? Đó là Lạc căn của Tĩnh lự thứ ba. Như Lạc căn, Hỷ căn cũng như vậy. Nhưng có sai biệt, đó là Hỷ căn của Tĩnh lự thứ hai gọi là không có Tầm-không có Tứ. Đã phân biệt về các căn có Tầm-có Tứ…, nay sẽ nói đến nghĩa của các căn có Tầm-có Tứ… Hỏi: Vì sao gọi là có Tầm-có Tứ, không có Tầm-chỉ có Tứ, không có Tầm-không có Tứ? Đáp: Nếu pháp đi cùng với Tầm-Tứ, tương ưng với Tầm-Tứ, cùng phát khởi Tầm-Tứ, cùng chuyển với Tầm Tứ, thì gọi là có Tầm-có Tứ. Nếu pháp không đi cùng với Tầm mà chỉ đi cùng với Tứ, không tương ưng với Tầm mà chỉ tương ưng với T ứ, không phải là cùng phát khởi Tầm mà chỉ cùng phát khởi Tứ, Tầm đã ngừng diệt mà chỉ cùng chuyển với Tứ, thì gọi là không có Tầm- chỉ có Tứ. Nếu pháp không đi cùng với Tầm-Tứ, không phải là tương ưng với Tầm-Tứ, không phải là cùng phát khởi Tầm-Tứ, Tầm-Tứ đã ngừng, thì gọi là không có Tầm-không có Tứ. Có người nói: Nếu pháp có tìm kiếm- có quán sát, thì gọi là có Tầm-có Tứ. Nếu pháp không có tìm ki ếm mà có quán sát, thì gọi là không có Tầm-chỉ có Tứ. Nếu pháp không có tìm kiếm-không có quán sát, thì gọi là không có Tầm-không có Tứ. Hai mươi hai căn này, mấy loại tương ưng với Lạc căn? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày nghĩa lý của mình. Như phái Thí Dụ nói: Tâm-tâm sở pháp theo thứ tự mà sinh khởi. Đại đức ấy nói: Tâm- tâm sở pháp theo từng loại một mà sinh khởi, như đi qua con đường hẹp, hãy còn không có hai người cùng đi, huống gì có nhiều người cùng đi? Hoặc lại có người nói: Nếu pháp do lực của nó khởi lên thì nói là tương ưng với nó chứ không phải là gì khác, nghĩa là tâm có thể sinh ra tâm và tâm sở, cho nên tâm-tâm sở tương ưng với tâm. Tâm sở chỉ có SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 145 817 www.daitangkinh.org thể sinh ra tâm sở, cho nên các tâm sở cũng tương ưng với nhau. Tâm sở không có thể sinh ra tâm, cho nên không nói đến tâm tương ưng với tâm sở. Hoặc lại có người chấp: Các pháp chỉ tương ưng với tự Thể. Người ấy đưa ra cách nói này: Nghĩa về hòa hợp khắp nơi là nghĩa của tương ưng, lại không có hòa hợp khắp nơi nào khác, như tự Thể đối với tự Thể, cho nên nói tương ưng với tự Thể chứ không phải là Thể khác. Có người chấp: Tự Thể của các pháp đối với tự Thể, không phải là tương ưng, không phải là không tương ưng. Không phải là tương ưng bởi vì không tự mình quán xét, kh ông phải là không tương ưng bởi vì hòa hợp khắp nơi. Bởi vì ngăn chặn các loại kiến chấp như vậy, hiển bày tâm-tâm sở cùng lúc mà sinh khởi, lần lượt chuyển đổi tương ưng với nhau, không phải là đối với tự Thể chỉ hướng về nơi khác mà nói, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Hai mươi hai căn này, mấy loại tương ưng với Lạc căn, mấy loại tương ưng với Khổ căn, mấy loạ i tương ưng với Hỷ căn, mấy loại tương ưng với Ưu căn, mấy loại tương ưng với Xả căn? Đáp: Lạc căn- Hỷ căn-Xả căn tương ưng với phần ít của chín căn, Khổ căn-Ưu căn tương ưng với phần ít của sáu căn. Lạc-Hỷ-Xả căn tương ưng với phần ít của chín căn, đó là Ý căn- năm căn như Tín… và ba căn Vô lậu. Hỏi: Vì sao Lạc-Hỷ-Xả tương ưng với phần ít của chín căn này? Đáp: Ý căn- năm căn như Tín…cùng tương ưng với năm Thọ. Trong này chỉ chọn lấy tương ưng với ba T họ, cho nên nói là phần ít. Ba căn Vô lậu lấy nhiều pháp làm tánh, nay trừ ra Thể của Thọ tương ưng với loại khác, cho nên nói là phần ít. Khổ căn-Ưu căn tương ưng với phần ít của sáu căn, đó là Ý căn và năm căn như Tín… Hỏi: Vì sao Khổ-Ưu tương ưng với phần ít của sáu căn này? Đáp: Sáu căn này tương ưng với năm Thọ. Trong này chỉ chọn lấy tương ưng với Khổ-Ưu, cho nên nói là phần ít. Hỏi: Vì sao chỉ hỏi về tương ưng với Thọ, chứ không hỏi về tâm- tâm sở khác? Đáp: Là ý của người soạn lu ận muốn như vậy, tùy theo ý muốn ấy mà soạn luận, nhưng không trái với pháp tướng, thì không cần phải vặn hỏi. Có người nói: Tất cả các pháp đều quay về với Thọ, vì vậy chỉ 818 BỘ TỲ ĐÀM 5 hỏi đến Thọ. Có người nói: Một Thọ có t ướng của nhiều căn, nghĩa là đối với một Thọ phân ra làm năm căn, ph áp khác thì không như vậy, cho nên chỉ hỏi đến Thọ. Có người nói: Các Thọ thành tựu không trái ngược nhau, mà hiện hành trái ngược nhau, vì vậy ch ỉ nói đến Thọ. Tha ønh tựu không trái ngược nhau, đó là một hữu tình thành tựu năm Thọ. Hiện hành trái ngược nhau, đó là một hữu tình trong một sát-na, không có thể khởi lên hai loại, huống gì khởi lên nhiều loại hay sao? Có người nói: Bởi vì Thọ là trục bánh xe duyên khởi, vì vậy chỉ hỏi đến Thọ. Có người nói: Trừ ra Thọ lại muốn hỏi điều gì? Nếu hỏi về năm căn như Tín… và ba căn Vô lậu, thì những căn ấy chỉ là thiện, không phải là có nghĩa tương ưng với tất cả. Nếu hỏi về tám căn như Mạng…, thì những căn ấy chỉ là vô ký, lại không tương ưng. Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao không hỏi đến Ý căn? Đáp: Ban đầu dựa vào Ý căn mà thiết lập pháp tương ưng, không có thể quay lại hỏi về tương ưng với ý, cho nên trong này chỉ hỏi về nghĩa tương ưng với Thọ. Tự tánh của năm Thọ không phải là tự tương ưng, cho nên chỉ dùng pháp khác để hỏi về Thọ. Đã phân biệt về các căn tương ưng với Thọ, nay sẽ nói đến nghĩa tương ưng của các căn. Hỏi: Vì sao gọi là tương ưng, tương ưng là nghĩa gì? Đáp: Nghĩa về bằng nhau là nghĩa của tương ưng. Hỏi: Trong các phẩm tâm, tâm sở pháp có nhiều-có ít, làm sao gọi là bằng nhau? Nghĩa là cõi Dục nhiều-cõi Sắc ít, cõi Sắc nhiều- cõi Vô sắc ít, thiện nhiều- bất thiện ít, bất thiện nhiều-vô ký ít, hữu phú vô ký nhiều-vô phú vô ký ít, tại sao nghĩa về bằng nhau là nghĩa của tương ưng? Đáp: Bởi vì sự bằng nhau cho nên nói là bằng nhau, nghĩa là trong một phẩm tâm, nếu có hai Thọ-một Tưởng… thì có thể nói là không phải bằng nhau. Nhưng trong một phẩm tâm, như Thọ có một, Tưởng…cũng như vậy, cho nên gọi là bằng nhau. Có người nói: Nghĩa về năm loại bằng nhau là nghĩa của tương ưng, đó là sở y bằng nhau, sở duyên bằng nhau, hành tướng bằng nhau, thời gian bằng nhau, sự việc bằng nhau. Phần còn lại nói rộng ra như phẩm thứ nhất trong chương Kiết Uẩn. Hai mươi hai căn này, mấy loại hệ thuộc cõi Dục? Cho đến nói SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 145 819 www.daitangkinh.org rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày nghĩa lý của mình. Nghĩa là hoặc có người chấp: Cõi Sắc có Nam căn- Nữ căn. Người ấy đưa ra cách nói này: Nơi nào có sắc thân thì đều có Nam căn-Nữ căn có thể đạt được. Vì ngăn chặn ý ấy để hiển bày về Nam căn-Nữ căn chỉ có ở cõi Dục, cho nên soạn ra phần luận này. Lại có người nói: Lạc căn-Khổ căn ở năm địa có thể đạt được, đó là cõi Dục và bốn Tĩnh lự. Người a áy nói có thân đều có Khổ-Lạc. Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày Khổ căn chỉ có ở cõi Dục, Lạc căn chỉ có ở ba địa, cho nên soạn ra phần luận này. Hoặc lại có người nói: Hỷ căn-Ưu căn ở chín địa có thể đạt được, đó là từ cõi Dục cho đến Hữu Đảnh. Người ấy nói bởi vì có tâm thì đều có Ưu-Hỷ, ba cõi- chín địa đều có tâm. Vả lại, thân của cõi Dục bất tịnh đáng chán ngán, mà hãy còn sinh ra vui thích vào lúc hòa hợp, sinh ra buồn rầu vào lúc chia lìa, huống là thân trong cõi trên rất thanh tịnh tuyệt vời giống như ngọn đèn sáng tỏ, tâm vắng lặng thong dong như hồ nước trong mát, mà đối với sự hòa hợp-chia ly có thể không có buồn lo-vui thích hay sao? Vì ngăn chặn ý chấp ấy, hiển bày về Ưu chỉ có ở cõi Dục, Hỷ thì đến Tĩnh lự thứ hai, địa trên thì cả hai loại đều không có, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Hai mươi hai căn này, mấy loạ i hệ thuộc cõi Dục, mấy loại hệ thuộc cõi Sắc, mấy loại hệ thu ộc cõi Vô sắc, mấy loại không hệ thuộc? Đáp: Bốn loại hệ thuộc cõi Dục, ba loại không hệ thuộc, mười lăm loại cần phải phân biệt. Bốn loại hệ thuộc cõi Dục, đó là Nam-Nữ-Khổ-Ưu căn. Ba loại không hệ thuộc, đó là ba căn Vô lậu. Mười lăm loại cần phải phân biệt, đó là năm Sắc căn- Mạng căn- Ý căn- ba Thọ và năm căn như Tín… Nhãn căn, hoặc là hệ thuộc cõi D ục, hoặc là hệ thuộc cõi Sắc. Thế nào là hệ thuộc cõi Dục? Đó là Nhãn căn hệ thuộc cõi Dục do Đại chủng đã tạo ra. Thế nào là hệ thuộc cõi Sắc? Đó là Nhãn căn hệ thuộc cõi Sắc do Đại chủng đã tạo ra. Như Nhãn căn, Nhĩ-Tỷ-Thiệt-thân căn cũng như vậy. Mạng căn, hoặc là hệ t huộc cõi Dục, hoặc la ø hệ thuộc cõi Sắc, hoặc là hệ thuộc cõi Vô sắc. Thế na øo là hệ thuộc cõi Dục? Đó là tuổi thọ hệ thuộc cõi Dục. T hế nào là hệ thuộc cõi Sa éc? Đó là tuổi thọ hệ thuộc cõi Sắc. Thế nào là hệ thuộc cõi Vô sắc? Đó là tuổi thọ hệ thuộc 820 BỘ TỲ ĐÀM 5 cõi Vô sắc. Ý căn, hoặc là hệ thuộc cõi Dục, hoặc là hệ thuộc cõi Sắc, hoặc là hệ thuộc cõi Vô sắc, hoặc là không hệ thuộc. Thế nào là hệ thuộc cõi Dục? Đó là Ý căn tương ưng với tác ý hệ thuộc cõi Dục. Thế nào là hệ thuộc cõi Sắc? Đó là Ý căn tương ưng với tác ý hệ thuộc cõi Sắc. Thế nào là hệ thuộc cõi Vô sắc? Đó la ø Ý căn tương ưng với tác ý hệ thuộc cõi Vô sắc. Thế nào là không hệ thuộc? Đó là Ý căn tương ưng với tác ý vô lậu. Như Ý căn, Xả căn và năm căn như Tín… cũng như vậy. Lạc căn, hoặc là hệ thuộc cõi Dục, hoặc là hệ thuộc cõi Sắc, hoặc là không hệ thuộc. Thế nào là hệ thuộc cõi Dục? Đó là Lạc căn tương ưng với tác ý hệ thuộc cõi Dục. Thế nào là hệ thuộc cõi Sắc? Đó là Lạc căn tương ưng với tác ý hệ thuộc cõi Sắc. Thế nào là không hệ thuộc? Đó là Lạc căn tương ưng với tác ý vô lậu. Như Lạc căn, Hỷ căn cũng như vậy. Hỏi: Vì sao cõi Sắc không có Nam căn-Nữ căn? Đáp: Bởi vì cõi ấy không phải là ruộng đất, không phải là đồ đựng, cho đến nói rộng ra. Có người nói: Bởi vì muốn từ bỏ Nam căn-Nữ căn, cho nên tu các Tĩnh lự sinh đến cõi Sắc. Nếu ở co õi ấy cũng có Nam căn-Nữ căn, thì không có ai cần phải cầu sinh đến c õi ấy. Nếu pháp vốn có ở địa dưới mà địa trên cũng có, thì không cần phải thi thiết có pháp diệt từ từ. Nếu không có pháp diệt từ từ, thì cũng sẽ không có pháp diệt hoàn toàn, bởi vì pháp diệt từ từ có thể da ãn đến pháp diệt hoàn toàn. Nếu không có pháp diệt hoàn toàn, thì sẽ không có giải thoát. Nếu không có giải thoát, thì sẽ không có rời ra. Đ ừng có quá nhiều sai lầm như vậy, cho nên ở cõi Sắc không có Nam căn-Nữ căn. Có người nói: Nam căn- Nữ căn do đoàn thực mà sinh ra. Như trong kinh nói: “Lúc kiếp bắt đa àu, con người không có Nam căn-Nữ căn, hình tướng không khác nhau, về sau ăn vị của đất mà sinh ra Nam căn-Nữ căn, vì vậy đã có tướng của Nam- Nữ khác nhau.” Cõi Sắc lìa bỏ đoàn thực cho nên không có hai căn này. Có người nói: Nam căn-Nữ căn có tác dụng ở cõi Dục, chứ không phải là ở cõi Sắc, vì vậy ở cõi ấy không có. Hỏi: Tỷ căn-Thiệt căn không có tác dụng ở cõi ấy, tại sao cần phải có? Đáp: Tỷ căn- Thiệt căn có tác dụng ở cõi ấy, bởi vì làm cho đoan nghiêm, không phải là Nam căn- Nữ căn có nghĩa của đoan nghiêm, bởi vì thô tục đáng xấu hổ. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 145 821 www.daitangkinh.org Hỏi: Thiên chúng cõi Sắc là nữ hay là nam? Giả sử như vậy thì có gì sai? Nếu là nữ thì phải có Nữ căn, nếu là nam thì phải có Nam căn, nếu không phải là hai loại thì trái với kinh nói. Như nói: “Thân nữ không được làm Phạm Vương…, mà không ngăn chặn thân nam.” Đáp: Nên đưa ra cách nói này: Ở cõi ấy đều là nam. Hỏi: Lẽ nào không phải loại ấy không thành tựu Nam căn hay sao? Đáp: Tuy không có Nam căn mà có tướng trượng phu khác, lại có thể lìa nhiễm cho nên nói là nam. Như trong kinh nói: “Các Quả-Hướng đều là trượng phu, không phải là không có người nữ thực hành theo Hướng-trú vào Quả.” Nên biết cũng bởi vì có thể lìa nhiễm cho nên nói là trượng phu. Trong Tỳ-nại-da cũng đưa ra các h nói này: “Đức Phật dùng hai tay nâng xương của Đại Sinh Chủ lên, nói với chúng Tỳ kheo: Các ông lắng nghe kỹ càng! Tất cả người nữ đều là tánh tùy tiện chuyển đổi, phần nhiều là ganh ghét-nịnh hót-tham lam-ích kỷ, chỉ có Đại Sinh Chủ tuy là người nữ, mà lìa bỏ tất cả sai lầm của người nữ, làm những việc mà trượng phu đã làm, đạt được điều mà trượng phu đã đạt được, Ta nói hạng này gọi là trượng phu.” Chư Thiên cõi Sắc, lý cũng thua än theo như vậy, bởi vì có thể lìa nhiễm cho nên nói là trượng phu. Vì vậy nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc là người nam mà không thành tựu Nam căn, đó là chư Thiên cõi Sắc-Vô sắc. 2. Có lúc thành tựu Nam căn mà không phải là người nam, đó là người hai hình thể. 3. Có lúc là người nam cũng tha ønh tựu Nam căn, đó là tất cả trượng phu thành tựu Nam căn. 4. Có lúc không phải là người nam cũng không thành tựu Nam căn, đó là trừ ra những tướng trước. Những người là nữ thì nhất định tha ønh tựu Nữ căn. Có lúc thành tựu Nữ căn mà không phải là người nữ, đó là người hai hình thể. Nếu dựa vào nghĩa trong Tỳ-nại-da đã dẫn chứng, thì người nữ cũng có bốn câu cần phải nói rộng ra. Hỏi: Vì sao cõi trên không có Ưu căn-Khổ căn? Đáp: Bởi vì cõi ấy không phải là ruộng đất, không phải là đồ đựng, cho đến nói rộng ra. Có người nói: Bởi vì muốn lìa bỏ Ưu căn-Khổ căn, cho nên tu các 822 BỘ TỲ ĐÀM 5 Tĩnh lự sinh đến cõi Sắc. Nếu cõi ấy cũng có Ưu căn-Khổ căn, thì không có ai cần phải cầu sinh đến cõi ấy. Nếu pháp vốn có ở địa dưới mà địa trên cũng có, thì không cần phải thi thiết có pháp diệt từ từ, nói rộng ra như trước. Đừng có sai lầm ấy, cho nên cõi trên không có Ưu căn-Khổ căn. Có người nói: Vì sao Ưu căn-Khổ căn không có ở cõi Sắc? Bởi vì không cùng chung sai lầm của cõi Dục này. Trong các cõi-địa đều có sai lầm- công đức không như nhau. Ở cõi Dục, sai lầm thì đó là Khổ căn…, công đức thì đó là có thể tiến vào Ki ến đạo… Sai lầm-công đức ở cõi trên, tùy theo địa cần phải nói rộng ra. Có người nói: Cõi Dục là cõi của sai lầm, bởi vì là cõi của sai lầm cho nên tuy thân thù thắng mà cũng còn có Khổ, như Phật-Độc giác- Thanh văn-Luân vương; cõi trên là cõi của công đức, bởi vì là cõi của công đức cho nên tuy thân thấp ké m mà cũng không có Khổ. Như gặp năm xấu thì tuy có lúa mạ tốt đẹp mà không thể nào không có tai họa, nếu gặp năm tốt thì tuy các loại c ỏ dại mà cũng không có tai họa xảy đến. Cõi Dục và cõi trên, nên biế t cũng như vậy, cho nên ở cõi trên cũng không có buồn lo, bởi vì các Ưu căn lìa dục thì rời bỏ. Lại là quả Đẳng lưu của sự không hiểu biết chồng chất, sinh ở cõi trên thì rời bỏ sự không hiểu biết chồng chất, vì vậy Ưu căn ở cõi ấy không có. Đã phân biệt về các căn hệ thuộc cõi Dục…, nay sẽ nói đến nghĩa của các căn hệ thuộc cõi Dục… Hỏi: Vì sao gọi là hệ thuộc cõi Dục, hệ thuộc cõi Sắc, hệ thuộc cõi Vô sắc? Đáp: Nếu pháp ràng buộc ở cõi D ục thì gọi là hệ thuộc cõi Dục,ràng buộc ở cõi Sắc thì gọi là hệ thuộc cõi Sắc, ràng buộc ở cõi Vô sắc thì gọi là hệ thuộc cõi Vô sắc. Như trâu buộc vào cây cột…thì gọi là hệ thuộc vào cây cột… Hoặc có người nói: Nếu pháp ràng buộc vào chân của cõi Dục thì gọi là hệ thuộc cõi Dục, ràng buộc vào chân của cõi Sắc - Vô sắc thì gọi là hệ thuộc cõi Sắc - Vô sắc. Chân là nói đến phiền não, như nói: Công hạnh của Phật không giới hạn, không có chân thì ai mang đi? Như người có chân thì có thể đi khắp bốn phương, nếu không có chân thì không có thể đi được. Như vậy, nếu có chân của phiền não, thì sinh tử lưu chuyển có thể đi đến các cõi-các nẽo-các loại chúng sinh; không có chân của phiền não thì không có thể đi đến được. Hoặc có người nói: Nếu pháp bị phiền não sinh tử của cõi Dục làm cho ràng buộc, thì gọi là hệ thuộc cõi Dục; bị phiền não sinh tử của SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 145 823 www.daitangkinh.org cõi Sắc-Vô sắc làm cho ràng buộc, thì gọi là hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc. Hoặc có người nói: Nếu pháp bị cất giấu vì A-lại-da, bị nắm giữ vì Ma-ma-dị-đa của cõi Dục, thì gọi là hệ thuộc cõi Dục; bị cất giấu vì A-lại-da, bị nắm giữ vì Ma-ma-dị -đa của cõi Sắc-Vô sắc, thì gọi là hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc. A-lại-da thì đó là Ái, Ma-ma-dị-đa thì đó là Kiến. Hoặc có người nói: Nếu pháp vì Ái của cõi Dục làm cho thấm ướt, Kiến nắm giữ làm ngã-ngã sở, thì gọi là hệ thuộc cõi Dục; vì Ái của cõi Sắc-Vô sắc làm cho thấm ướt, Kiến nắm giữ làm ngã-ngã sở, thì gọi là hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc. Hoặc có người nói: Nếu pháp hòa hợp do lạc dục của cõi Dục, thì gọi là hệ thuộc cõi Dục; hòa hợp do lạc dục của cõi Sắc-Vô sắc, thì gọi là hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc. Lạc gọi là Ái, Dục gọi là Kiến. Hoặc có người nói: Nếu pháp vì cấu bẩn của cõi Dục làm cho cấu bẩn, hiểm độc làm cho hiểm độc, xấu xa làm cho xấu xa, thì gọi là hệ thuộc cõi Dục; vì cấu bẩn của c õi Sắc-Vô sắc làm cho cấu bẩn, hiểm độc làm cho hiểm độc, xấu xa làm cho xấu xa, thì gọi là hệ thuộc cõi Sắc-Vô sắc. Trong này, tất cả phiền não đều gọi là xấu xa, không phải là chỉ nói đến Sân. 824 BỘ TỲ ĐÀM 5 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt