VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 164Quyển 166 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 165

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

若最初入無漏初靜慮。乃至廣說。初有四
種。一入正性決定初。二得果初。三離染初。四
轉根初。此中依二初作論。謂得果及轉根。
得果初者。謂得阿羅漢果初盡智時。轉根初
者。謂時解脫阿羅漢練根作不動最後解脫
道時。問何故於四初中但依二初作論。答
若爾時修一切地功德者。此中依之作論。
唯二初位能如是修故依作論。若最初入
無漏初靜慮。爾時所得諸餘未來無漏心心
所法。彼一切當言有尋有伺耶。答彼或有
尋有伺。或無尋唯伺。或無尋無伺。有尋有伺
者。謂所修未至定。及初靜慮。無尋唯伺者。謂
所修靜慮中間。無尋無伺者。謂所修上三靜
慮。下三無色。若最初入無漏第二靜慮。爾時
所得諸餘未來無漏心心所法。彼一切當言
喜根相應耶。答彼或樂根相應。或喜根相應。
或捨根相應。樂根相應者。謂所修第三靜慮。
喜根相應者。謂所修初及第二靜慮。捨根相
應者。謂所修未至定。靜慮中間。第四靜慮。下
三無色。若最初入無漏第三靜慮。爾時所得
諸餘未來無漏心心所法。彼一切當言樂根
相應耶。答彼或樂根相應。或喜根相應。或捨

根相應。義如前釋。若最初入無漏第四靜
慮。爾時所得諸餘未來無漏心心所法。彼一
切當言捨根相應耶。答彼或樂根相應。或
喜根相應。或捨根相應。義如前釋。若最初
入無漏空無邊處。爾時所得諸餘未來無漏
心心所法。彼一切當言空無邊處攝耶。答
彼或空無邊處攝。或識無邊處攝。或無所有
處攝。空無邊處攝者。謂所修空無邊處。識無
邊處攝者。謂所修識無邊處。無所有處攝者。
謂所修無所有處。若最初入無漏識無邊處。
爾時所得諸餘未來無漏心心所法。彼一切
當言識無邊處攝耶。答彼或空無邊處攝。
或識無邊處攝。或無所有處攝。義如前釋。若
最初入無漏無所有處。爾時所得諸餘未來
無漏心心所法。彼一切當言無所有處攝
耶。答彼或空無邊處攝。或識無邊處攝。或無
所有處攝。義如前釋。問何故此中於靜慮
問相應。於無色問攝。答彼作論者意欲爾
故。隨彼意而作論。但不違法相便不應
責。有說。於靜慮無色並應俱問。而不問者
當知此義有餘。有說。為現種種文種種說。
由種種文種種說故義則易解。有說。為現
二門二略二階二炬二明二光二種文影。如
於靜慮說相應。於無色亦爾。如於無色
說攝。於靜慮亦爾。有說。靜慮麁顯易見易
知。故問相應。無色微細難了難覺。故但問
攝。有說。靜慮有種種相互不相似。故問相
應。無色不爾。故但問攝。有說。靜慮有種種
受種種根。故問相應。無色不爾。有說。靜慮

有多功德多勝利。故問相應。無色不爾。有
說。靜慮有遍緣智。故問相應。無色但有緣
自上智。故但問攝。問何故此中於靜慮亦
攝無色。於無色不攝靜慮耶。答彼作論
者意欲爾故。乃至廣說。有說。於靜慮無色
並應俱攝。而不說攝者當知此義有餘。有
說。為現種種文種種說。由種種文種種說
故義則易解。有說。為現二門二略二影二
光。乃至廣說。有說。無色依屬靜慮。以先得
靜慮後得無色故。於靜慮亦攝無色。靜慮
不依屬無色。故於無色不攝靜慮。有說。
於靜慮亦不攝無色。以無尋無伺等言有
別意故。謂無尋無伺者。唯說後三靜慮。捨
根相應者。唯說未至靜慮中間及第四靜慮。
以靜慮無色其相各異。雖互相修而不相
攝。有說。於無色亦應攝靜慮。應作是說。
或未至定攝。乃至或無所有處攝。而不說者
欲顯無色非入靜慮加行。以靜慮現前不
必因無色故。有說。生靜慮地能起無色。
生無色地。不能起靜慮。有說。聖者生靜
慮後容生無色。生無色後無容生靜慮。
是故於靜慮攝無色。於無色不攝靜慮。
味相應初靜慮乃至廣說。問何故作此論。答
欲止譬喻者意。以彼於緣性中不明了
故。說緣非實有。今欲顯示諸緣自性。令
知諸緣皆是實有。故作斯論。味相應初靜
慮。與味相應初靜慮等為幾緣。答與自地
味相應為因等無間所緣增上。因者三因。即
相應俱有同類因。等無間者。謂味相應初靜

慮等無間。味相應初靜慮現在前。所緣者。謂
味相應初靜慮與味相應初靜慮為所緣。增
上者。謂不礙生。及唯無障。此中因緣如種子
法。等無間緣如開避法。所緣緣如任杖法。
增上緣如與欲法。與自地淨為等無間。所
緣增上等無間者。謂味相應。初靜慮等無間
淨初靜慮現在前。如愛見慢疑。上靜慮者。煩
惱等無間淨定現在前。此則總說。若別說者。
淨有四種。謂順退分。順住分。順勝進分。順
決擇分。此中有說。味相應等無間。唯順退分
現在前。有說。亦起順住分所緣者。謂味相
應初靜慮。與淨初靜慮為所緣。增上者。謂
不礙生及唯無障。非因者。以染污法與善
法非如種子法故。由此義故味相應與
自地淨。若總說為三緣。若別說或三或二。
謂與前二分為三緣。與後二分為二緣。
與自地無漏。為所緣增上。所緣者。謂與苦
集類忍類智品為所緣。增上者如前說。非
因者。有漏法與無漏法非如種子法故。非
等無間者。煩惱等無間不起聖道現在前
故。由此義故味相應與自地無漏。若總說
為二緣。若別說或二或一。謂與苦集類忍智
品為二緣。與滅道類忍類智品及一切法忍
法智品。為一緣。與淨無漏上三靜慮為所
緣增上。所緣者。彼緣下地味相應故。增上
者。謂不礙生及唯無障故。非因緣者。染於
不染非種子法故。非等無間緣者。已離下
染方能起上根本地淨無漏故。與餘為一
增上。餘謂味相應上三靜慮。及一切無色。增

上義如前說。非因緣者。異界地法因果斷
故。及異類法非種子故。非等無間緣者。已
離下染上地染方現前故。及相違故。非所
緣者。上地煩惱。及根本無色。不緣下地有
漏法故。淨初靜慮與淨初靜慮等為幾緣。
答與自地淨為因等無間所緣增上。因者三
因。即相應俱有同類因。等無間者。謂淨初靜
慮等無間。淨初靜慮現在前。所緣者。謂與淨
初靜慮為所緣。增上義如前說。此即總說。
若別說者。淨有四分。順退分與順退分為
四緣。與順住分亦爾。與餘二分為三緣。
除等無間。順住分與順住分為四緣。與順
勝進分亦爾。與順決擇分為三緣。除等無
間。與順退分為三緣。除因緣。勝非劣因
故。順勝進分與順勝進分為四緣。與順決
擇分亦爾。與順退分。有說。但為所緣增上。
順勝進分無間順退分不現前故。如是說者。
亦現在前。是故與順退分為三緣。除因緣。
以彼劣故。與順住分亦爾。順決擇分與順
決擇分為四緣。與順退分為所緣增上。與
順住分。有說。但為所緣增上。以順決擇分
無間順住分不現在前故。如是說者。亦現在
前。是故與彼為三緣。除因緣。與順勝進分
亦爾。與自地無漏。為等無間所緣增上。等
無間者。謂淨初靜慮等無間。無漏初靜慮現
在前。此但從順決擇分。有說。亦從順勝進
分。所緣者。謂與無漏初靜慮為所緣。增上
者如前說。非因緣者。有漏法非無漏因故。
與自地味相應為等無間所緣增上。等無間

者。如愛見慢疑。上靜慮者淨定等無間煩惱
現在前。當知此從順退分。或順住分。起由
已離未離自地染者。起自地煩惱有差別
故。所緣者。味著自地淨靜慮故。餘如前說。
與淨無漏第二第三靜慮為等無間所緣增
上。等無間者。於第二順次入故。於第三順
起入故。當知從順勝進分入上淨非餘。餘
如前說。與淨無漏第四靜慮為所緣增上。
無等無間者。以極遠故。餘如前說。與餘為
一增上。餘謂味相應三靜慮。及一切無色。增
上義如前說。是中差別者。謂與淨無漏無
色。非等無間者。以極遠故。餘如前說。問
亦有等無間緣。謂初靜慮善心命終生上地
時。此中何故不說。答應說與彼為等無間
增上。而不說者。當知義則有餘。有說。此定
蘊中唯說定善及定煩惱命終。結生但是生
善及生煩惱。是故不說。有說。此定蘊中唯
說根本善及煩惱命終。結生唯住近分不
住根本。是以不說。無漏初靜慮與無漏初
靜慮等為幾緣。答與自地無漏為因等無
間所緣增上。因者三因。即相應俱有同類因。
所緣者。謂與道忍道智品為所緣。餘說如
前。此即總說。若別說者。法智品與法智品
為四緣。與類智品為三緣。除所緣。類智品
與類智品為四緣。與法智品為三緣。除
所緣。苦集滅智品與苦集滅智品為三緣。
除所緣。與道智品為四緣。道智品與道智
品為四緣。與苦集滅智品為三緣。除所
緣。未知當知根品與未知當知根品為四

緣。與已知根品亦爾。與具知根品為三緣。
除等無間。已知根品與已知根品為四緣。
與具知根品亦爾。與未知當知根品為二
緣。除因等無間。除因者。後生於前。生非因
故。除等無間者。修道等無間。見道不現在
前故。具知根品與具知根品為四緣。與未
知當知根品及已知根品為二緣。除因等無
間。無學法智品與學類智品為一增上。無
學類智品與學法智品為一增上。是故以
總說故云與自地無漏為四緣。若差別說。
則有如是或四三二一。與無漏第二第三靜
慮。為因等無間所緣增上。以無漏法不墮
界故。異地為因緣如前說。與自地淨及淨
第二第三靜慮。為等無間所緣增上。此中於
自地淨。有說。除順退分與餘三分為等無
間。有說。唯與後二分為等無間。於上地
淨亦爾。如是說者。漸次入時。亦與勝進分
為等無間。超越入時唯與順決擇分為等
無間。問何故超越入時唯順決擇分。與無漏
道互為等無間緣。餘時不爾。答於超越時。
唯有猛盛堅固善根。能相引發順決擇分猛
盛堅固。餘分不爾。與淨第四靜慮及淨無
色。為所緣增上。以初靜慮類智品是無色對
治故。與淨無色亦為所緣。餘如前說。與
無漏第四靜慮及無漏無色為因所緣增上。
以無色道類智品亦緣初靜慮類智品故。
餘如前說。與餘為增上。餘謂與一切味相
應。增上義如前說。由無漏與味極相違故
無等無間。貪不能緣無漏法故非所緣。無

漏與染非種子法故非因。問若無漏與味
極相違者。云何作增上。答於無間起雖極
相違。而正生時去來無障。故得展轉互為
增上。
味相應。第二靜慮與味相應第二靜慮等為
幾緣。答與自地味相應。為因等無間所緣
增上。與淨初二靜慮為等無間所緣增上。
與一切無漏靜慮及淨第三第四靜慮為所
緣增上。與餘為一增上。餘謂味相應初第三
第四靜慮。及一切無色。此中與淨初靜慮
為等無間者。謂瑜伽師第二靜慮淨定無間。
起諸煩惱。其心熱惱如為火燒。遂即歸投
淨初靜慮。故契經說。寧起厭作。意俱初靜
慮。不起劣作意俱第二靜慮。問彼起何等
淨初靜慮。有說。起順住分。以易起故。有
說。起順勝進分。防護上地故。又此所說與
味相應初靜慮為一增上。
問第二靜慮染心命終生初靜慮。則有等無
間緣。何故不說。答應說與彼為等無間增
上。而不說者。當知此義有餘。有說。此定蘊
中唯說定煩惱命終。結生是生煩惱。是故不
說。有說。此定蘊中但說根本地煩惱命終。
結生唯住近分地煩惱。是故不說。餘隨所
應如前說。淨第二靜慮與淨第二靜慮等
為幾緣。答與自地淨為因等無間所緣增
上。與一切無漏靜慮及淨初第三第四靜慮。
并自地味相應。為等無間所緣增上。與餘
為一增上。此亦如前隨應廣說。無漏第二
靜慮與無漏第二靜慮等為幾緣。答與一

切無漏靜慮。為因等無間所緣增上。與一切
淨靜慮為等無間所緣增上。與淨無色。為
所緣增上。與無漏無色。為因所緣增上。與
餘為一增上。此亦隨應廣如前說。從第三
靜慮。乃至非想非非想處。有五三一二問
答。廣說如本論應知。問如以世俗道離
第四靜慮及下三無色染時。一切無間道皆
緣下地。何故不說第四靜慮下三無色味相
應淨與上地淨為所緣耶。答此亦應說。而
不說者。當知有餘。有說。此定蘊中唯說根
本地。九無間道但是近分地。是故不說。問何
等無漏第三第四靜慮。與淨無漏無色為等
無間耶。答唯類智品。問何故非法智品。有
說。法智品依下緣下故。謂法智品但依欲
界。但緣欲界諸行。及彼因彼滅彼對治道。淨
無漏無色不爾。故法智品非彼等無間緣。有
說。法智品但緣欲界及彼滅道。緣欲界及
彼滅道無間。不得即緣無色地境。以極遠
故。由此法智品非無色等無間緣。有說。無
色地非法智品所依所緣及地故。謂四靜慮
雖非法智品所依所緣。而是法智品地。欲界
雖非法智品地。而是法智品所依所緣。諸無
色地無如是事。故非法智品無間所起。問
何故淨無漏無色。但緣下地類智品道。非法
智品道耶。答法智品道非彼地對治故。問
豈不法智品道亦對治彼耶。答雖對治彼
而非根本亦非全。是故不說。謂雖是彼修
所斷法對治。而非彼見所斷法對治。又雖滅
道法智是彼對治。而非苦集法智。有說。類

智品是彼主對治。法智品是彼客對治故非
彼所緣然淨無漏靜慮無色或下或上無間
而起。從下起者名順次順超。從上起者名
逆次逆超同類起者名純。異類起者名雜。
地無間者名次地。有間者名超。有間唯能
越於一地。是謂此處略毘婆沙。
問所說超定加行云何。答修超定時。彼修定
者。先起欲界善心。從此無間入有漏初靜
慮。次入有漏第二靜慮。次第乃至入非想非
非想處。從彼還入有漏無所有處。次第乃至
復還入有漏初靜慮。於此諸地循環修習。
令善淳熟如王路已。復入無漏初靜慮。次
入無漏第二靜慮次第乃至入無漏無所有
處。從彼還入無漏。識無邊處。次第乃至復
還入無漏初靜慮。於此諸地循環修習。令
善淳熟如王路已。復入有漏初靜慮。從有
漏初靜慮。超入有漏第三靜慮。從有漏第三
靜慮。超入有漏空無邊處。從有漏空無邊
處。超入有漏無所有處。從有漏無所有處。
還超入有漏空無邊處。從有漏空無邊處。
超入有漏第三靜慮。從有漏第三靜慮。超
入有漏初靜慮。於此諸地循環修習。令善
淳熟如王路已。復入無漏初靜慮。從無漏
初靜慮。超入無漏第三靜慮。從無漏第三靜
慮。超入無漏空無邊處。從無漏空無邊處。
超入無漏。無所有處。從無漏無所有處。還
超入無漏空無邊處。從無漏空無邊處。超
入無漏第三靜慮。從無漏第三靜慮超入無
漏初靜慮。於此諸地循環修習。令善淳熟

猶如王路。齊此超定加行成滿。從此復入
有漏初靜慮。從有漏初靜慮。超入無漏第三
靜慮。從無漏第三靜慮。超入有漏空無邊
處。從有漏空無邊處。超入無漏無所有處。
從無漏無所有處。還超入有漏空無邊處。
從有漏空無邊處。超入無漏第三靜慮。從
無漏第三靜慮。超入有漏初靜慮。如是名
為超定成滿。有餘師說。修超定時。先起欲
界善心。從此無間入有漏初靜慮。次入有
漏第二靜慮。次第乃至入非想非非想處。從
彼還入有漏無所有處。次第乃至復還入有
漏初靜慮。於此諸地善串習已復入無漏初
靜慮。次入無漏第二靜慮。次第乃至入無漏
無所有處。從彼還入無漏識無邊處。次第乃
至復還入無漏初靜慮。於此諸地善串習
已。復入有漏初靜慮。次入無漏第二靜慮。
次入有漏第三靜慮。次入無漏第四靜慮。次
入有漏空無邊處。次入無漏識無邊處。次
入有漏無所有處。從彼還入無漏識無邊
處。次第乃至復還入有漏初靜慮。於此諸
地善串習已。復入無漏初靜慮。次入有漏
第二靜慮。次入無漏第三靜慮。次入有漏第
四靜慮。次入無漏空無邊處。次入有漏識無
邊處。次入無漏無所有處。次入非想非非想
處。從彼還入無漏無所有處。次第乃至復還
入無漏初靜慮。於此諸地善串習已。復入
有漏初靜慮。從有漏初靜慮。超入有漏第三
靜慮。從有漏第三靜慮。超入有漏空無邊
處。從有漏空無邊處。超入有漏無所有處。

從有漏無所有處。還入有漏空無邊處。從
有漏空無邊處。超入有漏第三靜慮。從有漏
第三靜慮。超入有漏初靜慮。於此諸地善
串習已。復入無漏初靜慮。從無漏初靜慮。
超入無漏第三靜慮。從無漏第三靜慮。超
入無漏空無邊處。從無漏空無邊處。超入無
漏無所有處。從無漏無所有處。還入無漏空
無邊處。從無漏空無邊處。超入無漏第三靜
慮。從無漏第三靜慮。超入無漏初靜慮。於
此諸地善串修習。是名超定加行成滿。從
此復入有漏初靜慮從有漏初靜慮。超入
無漏第三靜慮。從無漏第三靜慮。超入有漏
空無邊處。從有漏空無邊處。超入無漏無所
有處。從無漏無所有處。還超入有漏空無邊
處。從有漏空無邊處。超入無漏第三靜慮。
從無漏第三靜慮。超入有漏初靜慮。從此
復入無漏初靜慮。從無漏初靜慮。超入有
漏第三靜慮。從有漏第三靜慮。超入無漏空
無邊處。從無漏空無邊處。超入有漏無所有
處。從有漏無所有處。還超入無漏空無邊
處。從無漏空無邊處。超入有漏第三靜慮。
從有漏第三靜慮。超入無漏初靜慮。如是
名為超定成滿。復有說者。前來所說皆是加
行。從此位後自在循環超入諸定。無所罣
礙乃名成滿。然必不能超入第四。問何故
不能超入第四。答過殑伽沙數諸佛世尊及
聖弟子超入諸定法皆如是。故不應問。有
說。諸超定者本應漸起。若從彼超法唯超
一。勢不過故。如登梯時亦應漸上。其有越

者莫能越二。勢不及故。有說。後起徑路
法皆如前故但超一。謂觀行者初超定時。從
五入五從四入四。支數等故易可超入。後
亦如是故不超二。有說。如所緣緣故唯超
一。謂觀行者不念作意。於所緣緣唯能超
一。問云何觀行者於所緣超。答彼由不念
作意以初靜慮。於九地境一一別緣。於中
唯能超緣一地。謂緣欲界無間能上緣初
靜慮。或第二靜慮非餘。緣初靜慮無間能
下緣欲界。上緣第二靜慮。或第三靜慮非
餘。緣第二靜慮無間能下緣欲界。或初靜
慮。上緣第三靜慮或第四靜慮非餘。緣第
三靜慮無間能下緣初靜慮。或第二靜慮。上
緣第四靜慮或空無邊處非餘。如是乃至
緣非想非非想處無間能下緣識無邊處。或
無所有處非餘。如依初定。如是依餘定。
隨其所應於所緣緣皆應廣說。如不能
越二地所緣。超定亦爾。故不入第四。問若
爾。何故說淨解脫次起五心。淨解脫心緣
於欲界。第四靜慮遍行隨眠能緣自上乃至
有頂。豈非能越二地所緣。答說不染心不
能超二。彼心是染故不相違。問如苦法智
緣欲界無間起苦類忍。乃至緣有頂云何
說不染污心不能超二。答彼但是總緣不
名為超。亦俱緣餘地故是故非難。
問何處能超定。答在欲界非色無色。在人
趣非餘趣。在三洲非北洲。男子女人俱能
超定。尊者僧伽筏蘇說曰。唯贍部洲唯男子
能超定。餘洲及女人所依劣故不能。如是說

者。餘洲及女人亦能超定。彼於三摩地亦
得心自在故。問何等補特伽羅能超定。答
是聖者非異生。是無學非學。無學中是不時
解脫非時解脫。於不時解脫中。要得願智邊
際定等殊勝功德然後能超。問何故唯無學
不時解脫能超定耶。答要相續中無諸煩惱。
於定自在乃能超定。學相續中猶有煩惱。時
解脫於定不得自在故並不能超定。問何
等善根無間能超定耶。答無量解脫勝處遍
處諸通等善根無間皆不能超定。唯無常等
行相善根無間能超。所以者何。要猛利增上
善根能超定故。

Việt dịch

SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 165 245  
www.daitangkinh.org  


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

QUYỂN 165

LUẬN VỀ DUYÊN (Phần 4)

Nếu lúc đầu (tối sơ) tiến vào V ô lậu của Tĩnh lự thứ nhất? Cho
đến nói rộng ra.
Bắt đầu (sơ) có bốn loại:
1. Bắt đầu tiến vào Chánh tánh quyết định.
2. Bắt đầu đạt được quả.
3. Bắt đầu lìa nhiễm.
4. Bắt đầu chuyển căn.
Trong này dựa vào hai loại bắt đầu để soạn luận, đó là đạt được
quả và chuyển căn.
Bắt đầu đạt được quả, đó là đạt được quả A-la-hán lúc bắt đầu
Tận trí.
Bắt đầu chuyển căn, đó là A-la-hán Thời giải thoát luyện căn làm
Bất động lúc đạo giải thoát cuối cùng.
Hỏi: Vì sao ở trong bốn loại bắt đầu chỉ dựa vào hai loại bắt đầu
để soạn luận?
Đáp: Nếu lúc bấy giờ tu công đức của tất cả các địa, thì trong này
dựa vào đó để soạn luận, chỉ có hai pha àn vị bắt đầu có thể tu như vậy,
cho nên dựa vào đó để soạn luận.
Hỏi: Nếu lúc đầu tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất, lúc bấy
giờ đã đạt được các tâm-tâm sở pháp V ô lậu khác của vị lai, thì tất cả
tâm-tâm sở pháp ấy nên nói là có Tầm-có Tứ chăng?
Đáp: Tất cả tâm-tâm sở pháp ấy hoặc là có Tầm-có Tứ, hoặc là
không có Tầm-chỉ có Tứ, hoặc là không có Tầm-không có Tứ.
Có Tầm-có Tứ, đó là đã tu Định Vị chí và Tĩnh lự thứ nhất.
Không có Tầm-chỉ có Tứ, đó là đã tu Tĩnh lự trung gian.
Không có Tầm-không có Tứ, đó là đa õ tu ba Tĩnh lự trên, ba Vô
246 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
sắc dưới.
Hỏi: Nếu lúc đầu tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ hai, lúc bấy giờ
đã đạt được các tâm-tâm sở pháp Vô lậu khác của vị lai, thì tất cả tâm-
tâm sở pháp ấy nên nói là tương ưng với Hỷ căn chăng?
Đáp: Tất cả tâm-tâm sở pháp a áy hoặc là tương ưng với Lạc căn,
hoặc là tương ưng với Hỷ căn, hoặc là tương ưng với Xả căn.
Tương ưng với Lạc căn, đó là đã tu Tĩnh lự thứ ba.
Tương ưng với Hỷ căn, đó là đã tu Tĩnh lự thứ nhất và Tĩnh lự thứ
hai.
Tương ưng với Xả căn, đó là đã tu Định Vị chí, Tĩnh lự trung gian,
Tĩnh lự thứ tư, ba Vô sắc dưới.
Hỏi: Nếu lúc đầu tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba, lúc bấy giờ
đã đạt được các tâm-tâm sở pháp Vô lậu khác của vị lai, thì tất cả tâm-
tâm sở pháp ấy nên nói là tương ưng với Lạc căn chăng?
Đáp: Tất cả tâm-tâm sở pháp a áy hoặc là tương ưng với Lạc căn,
hoặc là tương ưng với Hỷ căn, hoặc là tương ưng với Xả căn, nghĩa giải
thích như trước.
Hỏi: Nếu lúc đầu tiến vào Vô lậu c ủa Tĩnh lự thứ tư, lúc bấy giờ
đã đạt được các tâm-tâm sở pháp Vô lậu khác của vị lai, thì tất cả tâm-
tâm sở pháp ấy nên nói là tương ưng với Xả căn chăng?
Đáp: Tất cả tâm-tâm sở pháp a áy hoặc là tương ưng với Lạc căn,
hoặc là tương ưng với Hỷ căn, hoặc là tương ưng với Xả căn, nghĩa giải
thích như trước.
Hỏi: Nếu lúc đầu tiến vào Vô lậu của Không vô biên xứ, lúc bấy
giờ đã đạt được các tâm-tâm sở pháp V ô lậu khác của vị lai, thì tất cả
tâm-tâm sở pháp ấy nên nói là Không vô biên xứ thâu nhiếp chăng?
Đáp: Tất cả tâm-tâm sở pháp a áy hoặc là Không vô biên xứ thâu
nhiếp, hoặc là Thức vô biên xứ thâu nhiếp, hoặc là Vô sở hữu xứ thâu
nhiếp.
Không vô biên xứ thâu nhiếp, đó là đã tu Không vô biên xứ.
Thức vô biên xứ thâu nhiếp, đó là đã tu Thức vô biên xứ.
Vô sở hữu xứ thâu nhiếp, đó là đã tu Vô sở hữu xứ.
Hỏi: Nếu lúc đầu tiến vào Vô la äu của Thức vô biên xứ, lúc bấy
giờ đã đạt được các tâm-tâm sở pháp V ô lậu khác của vị lai, thì tất cả
tâm-tâm sở pháp ấy nên nói là Thức vô biên xứ thâu nhiếp chăng?
Đáp: Tất cả tâm-tâm sở pháp a áy hoặc là Không vô biên xứ thâu
nhiếp, hoặc là Thức vô biên xứ thâu nhiếp, hoặc là Vô sở hữu xứ thâu
nhiếp, nghĩa giải thích như trước.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 165 247  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Nếu lúc đầu tiến vào Vô lậu của Vô sở hữu xứ, lúc bấy giờ
đã đạt được các tâm-tâm sở pháp Vô lậu khác của vị lai, thì tất cả tâm-
tâm sở pháp ấy nên nói là Vô sở hữu xứ thâu nhiếp chăng?
Đáp: Tất cả tâm-tâm sở pháp a áy hoặc là Không vô biên xứ thâu
nhiếp, hoặc là Thức vô biên xứ thâu nhiếp, hoặc là Vô sở hữu xứ thâu
nhiếp, nghĩa giải thích như trước.
Hỏi: Vì sao trong này đối với Tĩnh lự hỏi về Tương ưng, đối với
Vô sắc thì hỏi về Thâu nhiếp?
Đáp: Đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, tùy theo ý đó
để soạn luận, nhưng không trái với pháp tướng thì không cần phải vặn
hỏi.
Có người nói: Đối với Tĩnh lự và Vô sắc đều cần phải hỏi cả hai
loại, mà không hỏi thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Vì nêu rõ các loại văn từ-các loại giải thích, nhờ
vào các loại văn từ-các loại giả i thích, cho nên nghĩa sẽ dễ dàng hiểu
được.
Có người nói: Vì nêu rõ hai môn loại, hai phương thức, hai giai
đoạn, hai ngọn đuốc, hai ánh sáng, hai cảnh vật, hai loại văn từ mô
phỏng. Như đối với Tĩnh lự nói về Tương ưng, đối với Vô sắc cũng như
vậy; như đối với Vô sắc nói về Th âu nhiếp, đối với Tĩnh lự cũng như
vậy.
Có người nói: Tĩnh lự thô thiển dễ nhìn thấy-dễ nhận biết, cho nên
hỏi về Tương ưng; Vô sắc vi tế khó rõ ràng-khó hiểu được, cho nên hỏi
về Thâu nhiếp.
Có người nói: Tĩnh lự có các loại tướng không tương tự với nhau,
cho nên hỏi về Tương ưng; Vô sa éc thì không như vậy, cho nên hỏi về
Thâu nhiếp.
Có người nói: Tĩnh lự có các loạ i Thọ-các loại Căn, cho nên hỏi
về Tương ưng; Vô sắc thì không như vậy.
Có người nói: Tĩnh lự có nhiều công đức-nhiều lợi ích thù thắng,
cho nên hỏi về Tương ưng; Vô sắc thì không như vậy.
Có người nói: Tĩnh lự có Trí duyên với khắp nơi, cho nên hỏi về
Tương ưng; Vô sắc chỉ có Trí duyên với địa trên địa mình, cho nên chỉ
hỏi về Thâu nhiếp.
Hỏi: Vì sao trong này đối với Tĩnh lự cũng Thâu nhiếp Vô sắc, đối
với Vô sắc thì không Thâu nhiếp Tĩnh lự?
Đáp: Đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói rộng
ra.
248 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Có người nói: Đối với Tĩnh lự và Vô sắc đều cần phải Thâu nhiếp
cả hai, mà không nói Thâu nhiếp thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Vì nêu rõ các loại văn từ-các loại giải thích, nhờ
vào các loại văn từ-các loại giả i thích, cho nên nghĩa sẽ dễ dàng hiểu
được.
Có người nói: Vì nêu rõ hai môn loại, hai phương thức, hai giai
đoạn, hai ngọn đuốc, hai ánh sáng, hai cảnh vật, hai loại văn từ mô
phỏng, cho đến nói rộng ra.
Có người nói: Vô sắc dựa vào Tĩnh lự, bởi vì trước phải đạt được
Tĩnh lự rồi sau mới đạt được Vô sắc, cho nên đối với Tĩnh lự cũng Thâu
nhiếp Vô sắc. Tĩnh lự không dựa vào Vô sắc, cho nên đối với Vô sắc
không Thâu nhiếp Tĩnh lự.
Có người nói: Đối với Tĩnh lự cũng không Thâu nhiếp Vô sắc, bởi
vì nói về không có Tầm-không có Tứ…, có ý khác nhau. Nghĩa là không
có Tầm-không có Tứ, chỉ nói về ba Tĩnh lự sau; tương ưng với Xả căn,
chỉ nói về Vị chí-Tĩnh lự trung gian và Tĩnh lự thứ tư. Bởi vì Tĩnh lự và
Vô sắc đều có tướng khác nhau, cho nên tuy tu lẫn nhau mà không Thâu
nhiếp lẫn nhau.
Có người nói: Đối với Vô sắc cũng phải Thâu nhiếp Tĩnh lự, nên
đưa ra cách nói này: “Hoặc là Định Vị chí Thâu nhiếp, cho đến hoặc là
Vô sở hữu xứ Thâu nhiếp.” Nhưng mà không nói là muốn hiển bày Vô
sắc không phải là gia hạnh tiến vào Tĩnh lự, bởi vì Tĩnh lự hiện rõ trước
mắt không nhất định phải nhờ vào Vô sắc.
Có người nói: Sinh ở địa Tĩnh lự có thể khởi lên Vô sắc, sinh ở địa
Vô sắc thì không có thể khởi lên Tĩnh lự.
Có người nói: Thánh giả sinh vào Tĩnh lự về sau có thể sinh đến
Vô sắc, sinh đến Vô sắc về sau không có thể sinh vào Tĩnh lự. Vì thế
cho nên đối với Tĩnh lự Thâu nhiếp Vô sắc, đối với Vô sắc không Thâu
nhiếp Tĩnh lự.
Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất, Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Cần phải ngăn chặn ý của phái Thí Dụ, bởi vì phái ấy ở trong
tánh của duyên không hiểu rõ ràng, cho nên nói duyên không phải là có
thật. Nay muốn hiển bày rõ ràng về tự tánh của các duyên, khiến cho
biết các duyên đều là có thật, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất, cùng với Vị tương ưng của
Tĩnh lự thứ nhất… làm mấy duyên?
Đáp: Cùng với Vị tương ưng của  địa mình làm Nhân, Đẳng vô
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 165 249  
www.daitangkinh.org  
gián, Sở duyên và Tăng thượng. Nhân là ba nhân, tức là nhân Tương
ưng-Câu hữu và Đồng loại. Đẳng vô gián, đó là Vị tương ưng của Tĩnh
lự thứ nhất Đẳng vô gián, Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở
trước mắt. Sở duyên, đó la ø Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất làm Sở
duyên cho Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất. Tăng thượng, đó là không
ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại.
Trong này, Nhân duyên như pháp c ủa hạt giống, Đẳng vô gián
duyên như pháp của sự phát triển, Sở duyên duyên như pháp của cây
gậy chống đỡ, Tăng thượng duyên như pháp của sự mang lại mong
muốn.
Cùng với Tịnh của địa mình làm Đẳng vô gián, Sở duyên và Tăng
thượng. Đẳng vô gián, đó là Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất Đẳng vô
gián, Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt. Như Ái-Kiến-Mạn-
Nghi của Tĩnh lự trên, là phiền não  Đẳng vô gián, Tịnh của Định hiện
rõ ở trước mắt.
Đây là nói chung. Nếu nói riêng bi ệt thì Tịnh có bốn loại, đó là
thuận phần lui sụt, thuận phần an trú, thuận phần thắng tiến, thuận phần
quyết trạch.
Trong này, có người nói: Vị tương ưng Đẳng vô gián, chỉ có thuận
phần lui sụt hiện rõ ở trước mắt . Có người nói: Cũng khởi lên thuận
phần an trú.
Sở duyên, đó là Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất, làm Sở duyên
cho Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất. Tăng thượng, đó là không ngăn ngại đối
với sinh khởi, và chỉ riêng không có chướng ngại. Không phải là Nhân,
bởi vì pháp nhiễm ô cù ng với pháp thiện không phải là như pháp của
hạt giống.
Bởi vì nghĩa này cho nên Vị tương ưng cùng với Tịnh của địa
mình, nếu nói chung thì làm ba duyên, nếu nói riêng thì hoặc là ba-hoặc
là hai duyên, nghĩa là cùng với hai phần trước là ba duyên, cùng với hai
phần sau là hai duyên.
Cùng với Vô lậu của địa mình làm Sở duyên và Tăng thượng. Sở
duyên, đó là làm Sở duyên cho phẩm Loại nhẫn-Loại trí của Khổ-Tập.
Tăng thượng, nói như trước. Không phải là Nhân, bởi vì pháp hữu lậu
cùng với pháp vô lậu không phải là như pháp của hạt giống. Không phải
là Đẳng vô gián, bởi vì phiền não Đẳng vô gián không khởi lên Thánh
đạo hiện rõ ở trước mắt.
Bởi vì nghĩa này cho nên Vị tương  ưng cùng với Vô lậu của địa
mình, nếu nói chung thì làm hai duyên, nếu nói riêng thì hoặc là hai-
250 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
hoặc là một duyên, nghĩa là cùng với phẩm Loại nhẫn-Loại trí của Khổ-
Tập là hai duyên, cùng với phẩm Loại nha ãn-Loại trí của Diệt-Đạo và
tất cả các phẩm Pháp nhẫn-Pháp trí là một duyên.
Cùng với Tịnh-Vô lậu của ba Tĩnh lự trên làm Sở duyên và Tăng
thượng. Sở duyên, bởi vì pháp ấy duyên với Vị tương ưng của địa dưới.
Tăng thượng, đó là không ngăn ngại đối với sinh khởi, và chỉ riêng
không có chướng ngại. Không phải là Nhân duyên, bởi vì nhiễm ô đối
với không nhiễm ô không phải là pháp c ủa hạt giống. Không phải là
Đẳng vô gián duyên, bởi vì đã lìa nhi ễm của địa dưới thì mới có thể
khởi lên Tịnh-Vô lậu của địa Căn bản trên.
Cùng với pháp còn lại làm một Tăng thượng. Pháp còn lại, đó là
Vị tương ưng của ba Tĩnh lự trên, và tất cả Vô sắc. Tăng thượng, nghĩa
nói như trước. Không phải là Nhân duyên, bởi vì pháp khác cõi-địa thì
nhân-quả dứt đoạn, và bởi vì pháp khác chủng loại không phải là hạt
giống. Không phải là Đẳng vô gián duyên, bởi vì đã lìa nhiễm của địa
dưới thì nhiễm của địa trên mới hiện rõ trước mắt, và bởi vì trái ngược
nhau. Không phải là Sở duyên, bởi vì phiền não của địa trên và Vô sắc
Căn bản, không duyên với pháp hữu lậu của địa dưới.
Hỏi: Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất, cùng với Tịnh của Tĩnh lự thứ
nhất… làm mấy duyên?
Đáp: Cùng với Tịnh của địa mình làm Nhân, Đẳng vô gián, Sở
duyên và Tăng thượng. Nhân là ba nha ân, tức là nhân Tương ưng-Câu
hữu và Đồng loại. Đẳng vô gián, đó là Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất Đẳng
vô gián, Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt. Sở duyên, đó là
làm Sở duyên cho Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất. Tăng thượng, nghĩa nói
như trước.
Đây tức là nói chung. Nếu nói riêng biệt thì Tịnh có bốn phần: Đó
là thuận phần lui sụt cùng với t huận phần lui sụt làm bốn duyên, cùng
với thuận phần an trú cũng như vậy; cùng với hai phần còn lại làm ba
duyên, trừ ra Đẳng vô gián. Thuận phần an trú cùng với thuận phần an
trú làm bốn duyên, cùng với thuận phần thắng tiến cũng như vậy; cùng
với thuận phần quyết trạch làm ba duyên, trừ ra Đẳng vô gián, cùng
với thuận phần lui sụt làm ba duy ên trừ ra Nhân duyên, bởi vì pháp
mạnh mẽ không phải là nhân của pháp yếu kém. Thuận phần thắng tiến
cùng với thuận phần thắng tiến làm bốn duyên, cùng với thuận phần
quyết trạch cũng như vậy; cùng với thuận phần lui sụt, có người nói:
Chỉ làm Sở duyên và Tăng thượng, bởi vì thuận phần thắng tiến không
gián đoạn thì thuận phần lui sụt không hiện rõ trước mắt. Nói như  vậy
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 165 251  
www.daitangkinh.org  
thì cũng hiện rõ ở trước mắt, cho nên cùng với thuận phần lui sụt làm
ba duyên, trừ ra Nhân duyên, bởi vì pháp ấy yếu kém; cùng với thuận
phần an trú cũng như vậy. Thuận phần quyết trạch cùng với thuận phần
quyết trạch làm bốn duyên, cùng với thua än phần lui sụt làm Sở duyên
và Tăng thượng; cùng với thuận phần an trú, có người nói: Chỉ làm Sở
duyên và Tăng thượng, bởi vì thuận phần quyết trạch không gián đoạn
thì thuận phần an trú không hiện rõ tr ước mắt. Nói như vậy thì cũng
hiện rõ ở trước mắt, cho nên cùng với thuận phần an trú làm ba duyên,
trừ ra Nhân duyên; cùng với thuận phần thắng tiến cũng như vậy.
Cùng với Vô lậu của địa mình làm Đẳng vô gián, Sở duyên và
Tăng thượng. Đẳng vô gián, đó là Tịnh của Tĩnh l ự thứ nhất Đẳng vô
gián, Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt; đây là chỉ từ
phần thuận quyết trạch, có người nó i: Cũng từ phần thuận thắng tiến.
Sở duyên, đó là làm Sở duyên cho Vô la äu của Tĩnh lự thứ nhất. Tăng
thượng, nói như trước. Không phải là Nhân duyên, bởi vì pháp hữu lậu
không phải là nhân của pháp vô lậu.
Cùng với Vị tương ưng của địa mình làm Đẳng vô gián, Sở duyên
và Tăng thượng. Đẳng vô gián, như Ái -Kiến-Mạn-Nghi của Tĩnh lự
trên, Tịnh của Định Đẳng vô gián th ì phiền não hiện rõ ở trước mắt.
Nên biết đây là từ phần thuận lui sụt, hoặc là phần thuận an trú khởi
lên, bởi vì đã lìa nhiễm-chưa lìa nhiễm của địa mình, khởi lên phiền não
của địa mình thì có sai biệt. Sở duyên, bởi vì Vị bám lấy địa mình thuộc
Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất. Phần còn lại nói như trước.
Cùng với Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ hai-thứ ba làm Đẳng vô
gián, Sở duyên và Tăng thượng. Đẳng vô gián, đối với Tĩnh lự thứ hai
thuận theo thứ tự tiến vào, đối với Tĩnh lự thứ ba thuận theo hiện khởi
tiến vào, nên biết là từ phần thuận thắng tiến mà tiến vào Tịnh của địa
trên chứ không phải là gì khác. Phần còn lại nói như trước.
Cùng với Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư làm Sở duyên và Tăng
thượng. Không có Đẳng vô gián, bởi vì cá ch rất xa. Phần còn lại nói
như trước.
Cùng với pháp còn lại làm một Tăng thượng. Pháp còn lại, đó là
Vị tương ưng của ba Tĩnh lự trên, và tất cả Vô sắc. Tăng thượng, nghĩa
nói như trước.
Trong này, sai biệt là cùng với Tị nh-Vô lậu của Vô sắc, không
phải là Đẳng vô gián, bởi vì cách rất xa. Phần còn lại nói như trước.
Hỏi: Cũng có Đẳng vô gián duyên, đó là tâm thiện của Tĩnh lự thứ
nhất lúc mạng chung sinh lên địa trên, vì sao trong này không nói?
252 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Đáp: Cần phải nói pháp ấy làm Đẳng vô gián và Tăng thượng, mà
không nói đến thì nên biết là nghĩa có khác.
Có người nói: Trong chương Định Uẩn này chỉ nói về thiện của
Định và phiền não của Định, mạng chung tiến vào thai chỉ là thiện sinh
ra và phiền não sinh ra, cho nên không nói đến.
Có người nói: Trong chương Định Uẩn này chỉ nói về thiện Căn
bản và phiền não, mạng chung tiến vào thai chỉ trú vào Cận phần chứ
không trú vào Căn bản, vì vậy không nói đến.
Hỏi: Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất, cùng với Vô lậu của Tĩnh lự thứ
nhất… làm mấy duyên?
Đáp: Cùng với Vô lậu của địa mình làm Nhân, Đẳng vô gián, Sở
duyên và Tăng thượng. Nhân là ba nha ân, tức là nhân Tương ưng-Câu
hữu và Đồng loại. Sở duyên, đó là làm Sở duyên cho phẩm Đạo nhẫn-
Đạo trí. Phần còn lại nói như trước.
Đây tức là nói chung. Nếu nói riêng biệt thì phẩm Pháp trí cùng
với phẩm Pháp trí làm bốn duyên; cùng với phẩm Loại trí làm ba duyên,
trừ ra Sở duyên.
Phẩm Loại trí cùng với phẩm Loại trí làm bốn duyên; cùng với
phẩm Pháp trí làm ba duyên, trừ ra Sở duyên.
Phẩm Khổ-Tập-Diệt trí cùng với phẩm Khổ-Tập-Diệt trí làm ba
duyên, trừ ra Sở duyên; cùng với phẩm Đạo trí làm bốn duyên.
Phẩm Đạo trí cùng với phẩm Đạo trí làm bốn duyên; cùng với
phẩm Khổ-Tập-Diệt trí làm ba duyên, trừ ra Sở duyên.
Phẩm Vị tri đương tri căn cùng với phẩm Vị tri đương tri căn làm
bốn duyên; cùng với phẩm Dĩ tri căn cũng như vậy; cùng với phẩm Cụ
tri căn làm ba duyên, trừ ra Đẳng vô gián.
Phẩm Dĩ tri căn cùng với phẩm Dĩ tri căn làm bốn duyên; cùng với
phẩm Cụ tri căn cũng như vậy; cùng với phẩm Vị tri đương tri căn làm
hai duyên, trừ ra Nhân và Đẳng vô gia ùn. Trừ ra Nhân, bởi vì sau sinh
ra trước, sinh không phải là Nhân. Tr ừ ra Đẳng vô gián, bởi vì Tu đạo
Đẳng vô gián, Kiến đạo không hiện rõ ở trước mắt.
Phẩm Cụ tri căn cùng với pha åm Cụ tri căn làm bốn duyên; cùng
với phẩm Vị tri đương tri căn và phẩm Dĩ tri căn làm hai duyên, trừ ra
Nhân và Đẳng vô gián.
Phẩm Pháp trí Vô học cùng với phẩm Loại trí thuộc Học làm một
Tăng thượng, phẩm Loại trí Vô học cùng với phẩm Pháp trí thuộc Học
làm một Tăng thượng. Bởi vì nói chung cho nên nói là cùng với Vô lậu
của địa mình làm bốn duyên. Nếu nói sai biệt thì có hoặc là bốn-ba-hai-
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 165 253  
www.daitangkinh.org  
một duyên như vậy.
Cùng với Vô lậu của Tĩnh lự t hứ hai-thứ ba làm Nhân, Đẳng vô
gián, Sở duyên và Tăng thượng. Bởi vì pháp Vô lậu không rơi vào cõi,
cho nên địa khác làm Nhân duyên, nói như trước.
Cùng với Tịnh của địa mình và Tị nh của Tĩnh lự thứ hai-thứ ba
làm Đẳng vô gián, Sở duyên và Tăng thượng.
Trong này, đối với Tịnh của địa mình, có người nói: Trừ ra phần
thuận lui sụt, cùng với ba phần còn lại làm Đẳng vô gián.
Có người nói: Chỉ cùng với hai pha àn sau làm Đẳng vô gián, đối
với Tịnh của địa trên cũng như vậy.
Nói như vậy thì lúc dần dần tiến vào, cũng cùng với phần thắng
tiến làm Đẳng vô gián, lúc vượt lên trên tiến vào chỉ cùng với phần
thuận quyết trạch làm Đẳng vô gián.
Hỏi: Vì sao lúc vượt lên tr ên tiến vào chỉ có phần thuận quyết
trạch, cùng với đạo Vô lậu làm Đẳng vô gián duyên cho nhau, lúc khác
thì không như vậy?
Đáp: Đối với lúc vượt lên trên, chỉ có căn thiện mạnh mẽ kiên cố,
có thể cùng dẫn dắt phát khởi phần thuận quyết trạch mạnh mẽ kiên cố,
phần khác thì không như vậy.
Cùng với Tịnh của Tĩnh lự thứ tư  và Tịnh của Vô sắc làm Sở
duyên-Tăng thượng. Bởi vì phẩm Loại trí của Tĩnh lự thứ nhất là đối trị
với Vô sắc, cho nên cùng với Tịnh của Vô sắc cũng làm Sở duyên. Phần
còn lại nói như trước.
Cùng với Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư  và Vô lậu của Vô sắc làm
Nhân-Sở duyên và Tăng thượng. Bởi vì  phẩm Đạo loại trí của Vô sắc
cũng duyên với phẩm Loại trí của Tĩnh l ự thứ nhất. Phần còn lại nói
như trước.
Cùng với pháp còn lại làm Tăng thượng. Pháp còn lại, đó là cùng
với tất cả Vị tương ưng. Tăng thượng, nghĩa nói như trước. Bởi vì Vô lậu
cùng với Vị hết sức trái ngược nhau, cho nên không có Đẳng vô gián.
Tham không có thể duyên với pháp Vô lậu, cho nên không phải là Sở
duyên. Vô lậu cùng với nhiễm ô không phải là pháp của hạt giống, cho
nên không phải là Nhân.
Hỏi: Nếu Vô lậu cùng với Vị hết sức trái ngược nhau, thì tại sao
làm Tăng thượng?
Đáp: Đối với không gián đoạn khởi lên tuy hết sức trái ngược
nhau, mà lúc đang sinh khởi thì qua  lại không chướng ngại gì, cho nên
có thể lần lượt chuyển đổi làm Tăng thượng lẫn nhau.
254 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Hỏi: Vị tương ưng của Tĩnh lự t hứ hai cùng với Vị tương ưng của
Tĩnh lự thứ hai… làm mấy duyên?
Đáp: Cùng với Vị tương ưng của  địa mình làm Nhân, Đẳng vô
gián, Sở duyên và Tăng thượng. Cùng với Tịnh của hai Tĩnh lự đầu, làm
Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Cùng với tất cả Vô lậu của
Tĩnh lự và Tịnh của Tĩnh lự t hứ ba-thứ tư, làm Sở duyên-Tăng thượng.
Cùng với pháp còn lại làm một Tăng thượng. Pháp còn lại, đó là Vị
tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất-thứ ba-thứ tư, và tất cả Vô sắc.
Trong này, cùng với Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất làm Đẳng vô gián,
đó là Sư Du-già ở Tĩnh lự thứ hai, Tịnh của Định không gián đoạn, khởi
lên các phiền não, tâm lúc ấy nóng bức phiền muộn như bị lửa đốt, lập
tức quay trở về Tịnh của Tĩnh lự th ứ nhất. Vì vậy trong kinh nói: “Thà
khởi lên tác ý chán ngán đi cùng Tĩnh lự thứ nhất, chứ không khởi lên
tác ý yếu kém đi cùng Tĩnh lự thứ hai.”
Hỏi: Lúc ấy khởi lên Tịnh của Tĩnh lự thứ nhất như thế nào?
Đáp: Có người nói: Khởi lên phần thuận an trú, bởi vì dễ khởi
lên.
Có người nói: Khởi lên phần thuận thắng tiến, bởi vì phòng hộ địa
trên, vả lại ở đây đã nói là cùng với Vị tương ưng của Tĩnh lự thứ nhất
làm một Tăng thượng.
Hỏi: Tâm nhiễm ô của Tĩnh lự thứ hai mạng chung sinh vào Tĩnh
lự thứ nhất, thì có Đẳng vô gián duyên, vì sao không nói?
Đáp: Cần phải nói là cùng với tâm ấy làm Đẳng vô gián-Tăng
thượng, mà không nói đến thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Trong chương Định Ua ån này chỉ nói về phiền não
của Định, mạng chung tiến vào thai là phiền não sinh ra, cho nên không
nói đến.
Có người nói: Trong chương Định Ua ån này chỉ nói về phiền não
của địa Căn bản, mạng chung tiến vào thai chỉ trú vào phiền não của
địa Cận phần, cho nên không nói đến. Phần còn lại tùy theo thích hợp,
nói như trước.
Hỏi: Tịnh của Tĩnh lự thứ hai, cùng với Tịnh của Tĩnh lự thứ hai…
làm mấy duyên?
Đáp: Cùng với Tịnh của địa mình làm Nhân, Đẳng vô gián, Sở
duyên và Tăng thượng. Cùng với tất cả Vô lậu của Tĩnh lự và Tịnh của
Tĩnh lự thứ nhất-thứ ba-thứ tư, và Vị tương ưng của địa mình, làm Đẳng
vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Cùng với pháp còn lại làm một Tăng
thượng, phần này cũng như trước tùy theo thích hợp nói rộng ra.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 165 255  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Vô lậu của Tĩnh lự thứ hai, cùng với Vô lậu của Tĩnh lự thứ
hai… làm mấy duyên?
Đáp: Cùng với tất cả Vô lậu của Tĩnh lự làm Nhân, Đẳng vô
gián, Sở duyên và Tăng thượng. Cùng với tất cả Tịnh của Tĩnh lự làm
Đẳng vô gián-Sở duyên và Tăng thượng. Cùng với Tịnh của Vô sắc làm
Sở duyên và Tăng thượng. Cùng với Vô lậu của Vô sắc làm Nhân-Sở
duyên và Tăng thượng. Cùng với pháp c òn lại làm một Tăng thượng,
phần này cũng tùy theo thích hợp nói rộng ra như trước.
Từ Tĩnh lự thứ ba cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, có năm-ba-
một-hai lượt hỏi đáp, nói rộng ra như bản luận, nên biết.
Hỏi: Như lúc dùng đạo thế tục lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư và ba
Vô sắc dưới, tất cả đạo vô gián đều duyên với địa dưới, vì sao không nói
Vị tương ưng-Tịnh của Tĩnh lự thứ tư  và ba Vô sắc dưới cùng với Tịnh
của địa trên làm sở duyên?
Đáp: Điều này cũng cần phải nói, mà không nói đến thì nên biết
là có khác.
Có người nói: Trong chương Định Uẩn này chỉ nói về địa Căn bản,
chín đạo vô gián chỉ là địa Cận phần, cho nên không nói đến.
Hỏi: Như thế nào là Vô lậu của  Tĩnh lự thứ ba-thứ tư, cùng với
Tịnh-Vô lậu của Vô sắc làm Đẳng vô gián?
Đáp: Chỉ là phẩm Loại trí.
Hỏi: Vì sao không phải là phẩm Pháp trí?
Đáp: Có người nói: Bởi vì phẩm Pháp trí dựa vào địa dưới-duyên
với địa dưới, nghĩa là phẩm Pháp trí chỉ dựa vào cõi Dục, chỉ duyên với
các hành của cõi Dục, và Nhân c ủa hành ấy-Diệt hành ấy-Đạo đối trị
của hành ấy. Tịnh-Vô lậu của Vô sắc thì không như vậy, cho nên phẩm
Pháp trí không phải là Đẳng vô gián duyên của địa ấy.
Có người nói: Phẩm Pháp trí chỉ duyên với cõi Dục và Diệt-Đạo
của địa ấy, duyên với cõi Dục và Diệt-Đạo của địa ấy không gián đoạn,
không đạt được thì duyên với cảnh của đị a Vô sắc, bởi vì cách rất xa,
cho nên phẩm Pháp trí này không phải là Đẳng vô gián duyên của Vô
sắc.
Có người nói: Bởi vì địa Vô sắc  không phải là sở y-sở duyên và
địa của phẩm Pháp trí, nghĩa là bốn Tĩnh lự tuy không phải là sở y-sở
duyên của phẩm Pháp trí, mà là địa c ủa phẩm Pháp trí; cõi Dục tuy
không phải là địa của phẩm Pháp trí,  mà là sở y-sở duyên của phẩm
Pháp trí. Các địa Vô sắc không có sự việc như vậy, cho nên không phải
là phẩm Pháp trí không gián đoạn mà khởi lên.
256 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Hỏi: Vì sao Tịnh-Vô lậu của Vô sắc chỉ duyên với Đạo thuộc
phẩm Loại trí của địa dưới, chứ k hông phải là Đạo thuộc phẩm Pháp
trí?

ấy.
Đáp: Bởi vì Đạo thuộc phẩm Pháp trí không phải là đối trị của địa

Hỏi: Lẽ nào không phải Đạo thuộc phẩm Pháp trí cũng là đối  trị
của địa ấy chăng?
Đáp: Tuy là đối trị của địa a áy mà không phải là Căn bản, cũng
không phải là toàn phần, cho nên không nói đến. Nghĩa là tuy đối trị với
pháp do Tu mà đoạn của địa ấy, nhưng không phải là đối trị với pháp
do Kiến mà đoạn của địa ấy. Vả lại, tuy Diệt-Đạo pháp trí là đối trị với
địa ấy, mà không phải là Khổ-Tập pháp trí.
Có người nói: Phẩm Loại trí là đối trị chủ của địa ấy, phẩm Pháp
trí là đối trị khách của địa ấy, cho nên không phải là Sở duyên của địa
ấy.
Nhưng Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự-Vô sắc, hoặc là địa dưới-hoặc là
địa trên không gián đoạn mà khởi lên, từ địa dưới khởi lên thì gọi là thu-
ận theo thứ tự-thuận theo vượt lên, từ địa trên khởi lên thì gọi là ngược
với thứ tự-ngược với vượt lên, cùng lo ại khởi lên thì gọi là thuần nhất,
khác loại khởi lên thì gọi là xen tạp, địa không gián đoạn thì gọi là theo
thứ tự, địa có gián đoạn thì gọi là vượt lên. Có gián đoạn chỉ có thể vượt
qua một địa. Đây gọi là Tỳ-bà-sa tóm lược ở nơi này.
Hỏi: Đã nói đến Định vượt qua (siêu định) thì gia hạnh như thế
nào?
Đáp: Lúc tu Định vượt qua, người tu Định ấy trước tiên khởi   lên
tâm thiện của cõi Dục, từ đây khô ng gián đoạn tiến vào Hữu lậu của
Tĩnh lự thứ nhất, tiếp đến tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ hai, lần lượt
cho đến tiến vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ; từ đó trở lại tiến vào Hữu
lậu của Vô sở hữu xứ, lần lượt cho đến tiếp tục trở lại tiến vào Hữu lậu
của Tĩnh lự thứ nhất.
Đối với các địa này xoay vòng t heo nhau tu tập, làm cho thuần
thục khéo léo như con đường của vua rồi, tiếp tục tiến vào Vô lậu của
Tĩnh lự thứ nhất, tiếp theo tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ hai, lần lượt
cho đến tiến vào Vô lậu của Vô sở hữu xứ; từ đó trở lại tiến vào Vô lậu
của Thức vô biên xứ, lần lượt cho đến tiếp tục trở lại tiến vào Vô lậu
của Tĩnh lự thứ nhất.
Đối với các địa này xoay vòng t heo nhau tu tập, làm cho thuần
thục khéo léo như con đường của vua rồi, tiếp tục tiến vào Hữu lậu của
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 165 257  
www.daitangkinh.org  
Tĩnh lự thứ nhất; từ Hữu lậu của Tĩnh lự thứ nhất, vượt qua tiến vào Hữu
lậu của Tĩnh lự thứ ba; từ Hữu lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt qua tiến vào
Hữu lậu của Không vô biên xứ; từ Hữu lậu của Không vô biên xứ, vượt
qua tiến vào Hữu lậu của Vô sở hữu xứ; từ Hữu lậu của Vô sở hữu xứ,
trở lại vượt qua tiến vào Hữu lậu của Không vô biên xứ; từ Hữu lậu của
Không vô biên xứ, vượt qua tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ ba; từ Hữu
lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt qua tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ nhất.
Đối với các địa này xoay vòng theo nhau tu tập, làm cho thuần
thục khéo léo như con đường của vua rồi, tiếp tục tiến vào Vô lậu của
Tĩnh lự thứ nhất; từ Vô lậu của Tĩ nh lự thứ nhất, vượt qua tiến vào Vô
lậu của Tĩnh lự thứ ba; từ Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt qua tiến vào
Vô lậu của Không vô biên xứ; từ Vô lậu của Không vô biên xứ, vượt
qua tiến vào Vô lậu của Vô sở hữu xứ; từ Vô lậu của Vô sở hữu xứ,
trở lại vượt qua tiến vào Vô lậu của  Không vô biên xứ; từ Vô lậu của
Không vô biên xứ, vượt qua tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba; từ Vô
lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt qua tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất.
Đối với các địa này xoay vòng theo nhau tu tập, làm cho thuần
thục khéo léo giống như con đường của vua, đến đây thì thành tựu đầy
đủ gia hạnh của Định vượt qua. Từ đây tiếp tục tiến vào Hữu lậu của
Tĩnh lự thứ nhất; từ Hữu lậu của Tĩnh lự thứ nhất, vượt qua tiến vào Vô
lậu của Tĩnh lự thứ ba; từ Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt qua tiến vào
Hữu lậu của Không vô biên xứ; từ Hữu lậu của Không vô biên xứ, vượt
qua tiến vào Vô lậu của Vô sở hữu xứ; từ Vô lậu của Vô sở hữu xứ, trở
lại vượt qua tiến vào Hữu lậu của  Không vô biên xứ; từ Hữu lậu của
Không vô biên xứ, vượt qua tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba; từ Vô
lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt qua tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ nhất.
Như vậy gọi là thành tựu đầy đủ Định vượt qua.
Có Sư khác nói: Lúc tu Định vượt qua (siêu định), trước tiên khởi
lên tâm thiện của cõi Dục, từ đây không gián đoạn tiến vào Hữu lậu của
Tĩnh lự thứ nhất, tiếp đến tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ hai, lần lượt
cho đến tiến vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ; từ đó trở lại tiến vào Hữu
lậu của Vô sở hữu xứ, lần lượt cho đến tiếp tục trở lại tiến vào Hữu lậu
của Tĩnh lự thứ nhất.
Đối với các địa này khéo léo luyện tập thành thạo rồi, tiếp tục
tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất, tiếp theo tiến vào Vô lậu của Tĩnh
lự thứ hai, lần lượt cho đến tiến vào Vô lậu của Vô sở hữu xứ; từ đó trở
lại tiến vào Vô lậu của Thức vô biên xứ, lần lượt cho đến tiếp tục trở lại
tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất.
258 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Đối với các địa này khéo léo luyện tập thành thạo rồi, tiếp tục
tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ nha át, tiếp theo tiến vào Vô lậu của
Tĩnh lự thứ hai, tiếp theo tiến vào H ữu lậu của Tĩnh lự thứ ba, tiếp
theo tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ tư, tiếp theo tiến vào Hữu lậu của
Không vô biên xứ, tiếp theo tiến vào Vô lậu của Thức vô biên xứ, tiếp
theo tiến vào Hữu lậu của Vô sở hữu xứ. Từ đó trở lại tiến vào Vô lậu
của Thức vô biên xứ, lần lượt cho đến tiếp tục trở lại tiến vào Hữu lậu
của Tĩnh lự thứ nhất.
Đối với các địa này khéo léo luyện tập thành thạo rồi, tiếp tục tiến
vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất, tiếp theo tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự
thứ hai, tiếp theo tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba, tiếp theo tiến vào
Hữu lậu của Tĩnh lự thứ tư, tiếp theo tiến vào Vô lậu của Không vô biên
xứ, tiếp theo tiến vào Hữu lậu của Thức vô biên xứ, tiếp theo tiến vào
Vô lậu của Vô sở hữu xứ, tiếp theo tiến vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Từ đó trở lại tiến vào Vô lậu của  Vô sở hữu xứ, lần lượt cho đến tiếp
tục trở lại tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất.
Đối với các địa này khéo léo luyện tập thành thạo rồi, tiếp tục
tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ nhất; từ Hữu lậu của Tĩnh lự thứ nhất,
vượt qua tiến vào Hữu lậu của Tĩnh l ự thứ ba; từ Hữu lậu của Tĩnh lự
thứ ba, vượt qua tiến vào Hữu lậu của Không vô biên xứ; từ Hữu lậu của
Không vô biên xứ, vượt qua tiến vào Hữu lậu của Vô sở hữu xứ; từ Hữu
lậu của Vô sở hữu xứ, trở lại tiến  vào Hữu lậu của Không vô biên xứ;
từ Hữu lậu của Không vô biên xứ, vượt qua tiến vào Hữu lậu của Tĩnh
lự thứ ba; từ Hữu lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt qua tiến vào Hữu lậu của
Tĩnh lự thứ nhất.
Đối với các địa này khéo léo luyện tập thành thạo rồi, tiếp tục
tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhấ t; từ Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất,
vượt qua tiến vào Vô lậu của Tĩnh l ự thứ ba; từ Vô lậu của Tĩnh lự
thứ ba, vượt qua tiến vào Vô lậu của  Không vô biên xứ; từ Vô lậu của
Không vô biên xứ, vượt qua tiến vào Vô lậu của Vô sở hữu xứ; từ Vô
lậu của Vô sở hữu xứ, trở lại tiến vào Vô lậu của Không vô biên xứ; từ
Vô lậu của Không vô biên xứ, vượt qua tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ
ba; từ Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba, vư ợt qua tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự
thứ nhất.
Đối với các địa này khéo léo tu tập thành thạo rồi, thì gọi là thành
tựu đầy đủ Định vượt qua. Từ đây tiếp tục tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự
thứ nhất; từ Hữu lậu của Tĩnh lự thứ nhất, vượt qua tiến vào Vô lậu của
Tĩnh lự thứ ba; từ Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt qua tiến vào Hữu lậu
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 165 259  
www.daitangkinh.org  
của Không vô biên xứ; từ Hữu lậu của Không vô biên xứ, vượt qua tiến
vào Vô lậu của Vô sở hữu xứ; từ Vô lậu của Vô sở hữu xứ, trở lại vượt
qua tiến vào Hữu lậu của Không vô biên xứ; từ Hữu lậu của Không vô
biên xứ, vượt qua tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ ba; từ Vô lậu của Tĩnh
lự thứ ba, vượt qua tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ nhất.
Từ đây tiếp tục tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất; từ Vô lậu
của Tĩnh lự thứ nhất, vượt qua tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ ba; từ
Hữu lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt qua tiến vào Vô lậu của Không vô biên
xứ; từ Vô lậu của Không vô biên xứ, vượt qua tiến vào Hữu lậu của Vô
sở hữu xứ; từ Hữu lậu của Vô sở hữu xứ, trở lại vượt qua tiến vào Vô
lậu của Không vô biên xứ; từ Vô lậu của Không vô biên xứ, vượt qua
tiến vào Hữu lậu của Tĩnh lự thứ ba; từ Hữu lậu của Tĩnh lự thứ ba, vượt
qua tiến vào Vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất. Như vậy gọi là thành tựu đầy
đủ Định vượt qua.
Lại có người nói: Trước đây đã nói đều là gia hạnh, từ phần vị này
về sau tự tại xoay vòng theo nhau vượt qua tiến vào các Định, không có
gì chướng ngại mới gọi là thành tựu đầy đủ, nhưng nhất định không có
thể vượt qua tiến vào Tĩnh lự thứ tư.
Hỏi: Vì sao không có thể vượt qua tiến vào Tĩnh lự thứ tư?
Đáp: Bởi vì pháp của vô lượng vô biên chư Phật Thế Tôn và đệ tử
bậc Thánh vượt qua tiến vào ca ùc Định đều là như vậy, cho nên không
cần phải hỏi.
Có người nói: Các pháp vượt qua Định vốn là thuận theo từ từ khởi
lên, nếu từ đó vượt qua thì pháp chỉ vượt qua một, bởi vì thế lực không
hơn được. Như lúc bước lên bậc thang cũng cần phải từ từ bước lên, có
lúc nhảy qua nhưng không có ai có thể nhảy qua hai bậc, bởi vì thế lực
không đến được.
Có người nói: Bởi vì pháp của con đường khởi lên sau đó đều như
trước, cho nên chỉ vượt qua một. Nghĩa là lúc người tu quán hành bắt
đầu vượt qua Định, từ năm tiến vào  năm, từ bốn tiến vào bốn, Chi số
bằng nhau cho nên có thể dễ dàng vượt qua tiến vào, sau đó cũng như
vậy, cho nên không vượt qua hai.
Có người nói: Như Sở duyên duyên cho nên chỉ vượt qua một,
nghĩa là người tu quán hành không nghĩ đến tác ý, đối với Sở duyên
duyên chỉ có thể vượt qua một.
Hỏi: Vì sao người tu quán hành vượt qua đối với Sở duyên?
Đáp: Bởi vì lúc ấy không nghĩ đến tác ý dùng Tĩnh lự thứ nhất, đối
với cảnh của chín địa, duyên riêng biệt với mỗi một cảnh, trong đó chỉ
260 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
có thể khởi lên duyên với một địa.
Nghĩa là duyên với cõi Dục không gián đoạn thì có thể phía trên
duyên với Tĩnh lự thứ nhất, hoặc là Tĩnh lự thứ hai chứ không phải là
địa nào khác. Duyên với  Tĩnh lự thứ nhất không gián đoạn thì có thể
phía dưới duyên với cõi Dục, phía trên duyên với Tĩnh lự thứ hai, hoặc
là Tĩnh lự thứ ba chứ không phải la ø địa nào khác. Duyên với Tĩnh lự
thứ hai không gián đoạn thì có thể phía dưới duyên với cõi Dục, hoặc là
Tĩnh lự thứ nhất, phía trên duyên với Tĩnh lự thứ ba, hoặc là Tĩnh lự thứ
tư chứ không phải là địa nào khác. Duyên với Tĩnh lự thứ ba không gián
đoạn thì có thể phía dưới duyên với Tĩnh lự thứ nhất, hoặc là Tĩnh lự thứ
hai, phía trên có thể duyên với Tĩnh lự thứ tư, hoặc là Không vô biên xứ
chứ không phải là địa nào khác. Như vậy cho đến duyên với Phi tưởng
phi phi tưởng xứ không gián đoạn thì có thể phía dưới duyên với Thức
vô biên xứ, hoặc là Vô sở hữu xứ chứ không phải là địa nào khác.
Như dựa vào Định thứ nhất, như vậy dựa vào các Định sau tùy
theo sự thích hợp đối với Sở duyên duyên đều cần phải nói rộng ra.
Như không có thể vượt qua Sở duyên của hai địa, vượt qua Định
cũng như vậy, cho nên không tiến vào Tĩnh lự thứ tư.
Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao nói Tịnh giải thoát tiếp theo khởi lên
năm tâm, tâm của Tịnh giải thoát  duyên với cõi Dục, tùy miên biến
hành của Tĩnh lự thứ tư có thể duyên với địa trên địa mình cho đến Hữu
đảnh, lẽ nào không phải là có thể vượt qua Sở duyên của hai địa hay
sao?
Đáp: Nói đến tâm không nhiễm ô thì không có thể vượt qua hai,
bởi vì tâm ấy là nhiễm ô cho nên không trái ngược nhau.
Hỏi: Như Khổ pháp trí duyên với cõi Dục không gián đoạn thì
khởi lên Khổ loại nhẫn, cho đến duyên với Hữu đảnh, vì sao nói là tâm
không nhiễm ô thì không có thể vượt qua  hai? Đáp: Đó chỉ là duyên
chung cho nên không gọi là vượt qua , bởi vì cũng cùng duyên với địa
khác, cho nên không phải là vấn nạn.
Hỏi: Nơi nào có thể vượt qua Định?
Đáp: Ở cõi Dục chứ không phải là cõi Sắc-Vô sắc, ở nẽo người
chứ không phải là nẽo khác, ở ba châ u chứ không phải là châu Bắc
Câu-lô, người nam-người nữ đều có thể vượt qua Định.
Tôn giả Tăng-già-phiệt-tô nói ra èng: “Chỉ riêng châu Thiệm Bộ,
chỉ riêng người nam có thể vượt qua Định, châu khác và người nữ bởi vì
sở y yếu kém cho nên không có thể vượt qua.”
Nói như vậy thì châu khác và người nữ cũng có thể vượt qua Định,
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 165 261  
www.daitangkinh.org  
bởi vì những nơi ấy cũng đạt được tự tại đối với Tam-ma-địa.
Hỏi: Những Bổ-đặc-già-la nào có thể vượt qua Định?
Đáp: Là Thánh giả chứ không phải là dị sinh, là Vô học chứ không
phải là Học; trong Vô học thì Bất thời giải thoát chứ không phải là Thời
giải thoát; ở trong Bất thời giải t hoát cần phải đạt được công đức thù
thắng của Nguyện trí-Định Biên tế…, sau đó mới có thể vượt qua.
Hỏi: Vì sao chỉ riêng Bất thời gi ải thoát Vô học mới có thể vượt
qua Định?
Đáp: Cần phải trong sự nối tiếp nhau không có các phiền não, đối
với Định đạt được tự tại thì mới có thể vượt qua Định; trong sự nối tiếp
nhau của Học hãy còn có phiền não, Thời giải thoát đối với Định không
đạt được tự tại, cho nên không có thể vượt qua Định.
Hỏi: Những căn thiện nào không gián đoạn thì có thể vượt  qua
Định?
Đáp: Những căn thiện như Vô l ượng, Giải thoát, Thắng xứ, Biến
xứ, các thần thông… không gián đoạn thì đều không có thể vượt qua
Định; chỉ riêng căn thiện của những hành tướng như Vô thường…không
gián đoạn thì có thể vượt qua Định. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì cần phải
là căn thiện mạnh mẽ nhanh nhạy va ø tăng thượng thì mới có thể vượt
qua Định.


„
262 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt