A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 166
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
五百大阿羅漢等造 三藏法師玄奘奉 詔譯 3 攝納息1 定蘊第七中攝納息第三之一 十想謂無常想。無常苦想。苦無我想。死想。不 淨想。厭食想。一切世間不可樂想。斷想。離 想。滅想。如是等章及解章義。既領會已應 廣分別。問何故此中先依十想作論。答彼 作論者意欲爾故。隨彼意欲而作斯論。但 不違法相便不應責。有說。為欲分別契 經義故。如契經中說。有十想無常想乃至 滅想。契經雖作是說。而不廣辯。今欲辯之 故作斯論。問何故此中但說十想。答此不 應問以是佛經所說故。佛於處處經中 唯說十想。作論者於佛所說中不能增 一說十一想。不能減一說於九想。所以者 何。佛所說法無增減故不可增減。如無增 無減無多無少無缺無長。無量無邊亦爾。無 量者義難測故。無邊者文難了故。譬如大 海無量無邊。無量者深。無邊者廣。假使百千 那庾多數諸大論師如舍利子。於佛所說二 句經中造百千論。分別解釋盡其覺性。亦 不能窮其邊量況復多耶。問置作論者。何 故世尊但說十想。答所化有情齊此所說事 究竟故。謂佛世尊凡所說法。皆觀有情所應 作事令善究竟。齊此而止不增不減。譬如 良醫觀有病者。隨應授藥不增不減。佛亦 如是。有說。世尊為顯聖道聖道加行及聖 道果故說十想。謂說無常想無常苦想苦無 我想死想則顯聖道。說不淨想厭食想一切 世間不可樂想則顯聖道加行。說斷想離想 滅想則顯聖道果。有說。世尊為顯聖道聖 道資糧及聖道果故說十想。此中配釋如前 應知。有說。世尊為顯奢摩他毘鉢舍那。 及二果故說於十想。謂說不淨想厭食想一 切世間不可樂想則顯奢摩他。說無常想無 常苦想苦無我想死想則顯毘鉢舍那說 斷想離想滅想則顯彼二果。有說。世尊為 顯此岸彼岸及船栰故說於十想。謂說不 淨想厭食想一切世間不可樂想則顯此岸。 說斷想離想滅想則顯彼岸。說無常想無 常苦想苦無我想死想則顯船栰。有說。世 尊為顯諸蘊諸界過失及彼還滅果故說十 想。謂說無常想無常苦想苦無我想則顯諸 蘊過失。說不淨想厭食想則顯欲界過失。 說一切世間不可樂想。則顯色界過失。說 死想則顯無色界過失。說斷想離想滅想 則顯彼還滅果。有說。世尊為顯入正性離 生離三界染及彼道果故說十想。謂說無 常想無常苦想苦無我想。則顯入正性離生。 說不淨想厭食想則顯離欲界染。以欲界 有婬欲及段食欲。於彼染習不能離欲界 染故。說一切世間不可樂想則顯離色界 染。以色界有生死中最勝喜受。最勝樂受。 及第四靜慮最勝輕安樂。於彼耽著不能 離色界染故。說死想則顯離無色界染。 以無色界壽量長遠。於彼保著不能離無 色界染故。說斷想離想滅想則顯彼道果。 有說。世尊為顯近對治所治障故說於十 想。謂說無常想顯近對治於諸行中我慢 障。說無常苦想顯近對治懈怠障。說苦無 我想顯近對治我見障。說不淨想顯近對 治色貪障。說厭食想顯近對治耽美食障。 說一切世間不可樂想。顯近對治貪著世間 可愛事障。說死想顯近對治恃命憍逸障。 說斷想顯近對治諸非法障。說離想顯近 對治染著障。說滅想顯近對治所依障。有 說。世尊為顯對治外道執見故說十想。謂 諸外道於無常蘊中多起常執。對治彼故 說無常想。彼由於蘊起常執故便計為樂。 對治彼故說無常苦想。彼由於蘊執有樂 故便計有我。對治彼故說苦無我想。彼由 執有我故便計有淨。對治彼故說不淨 想及厭食想。彼由執有淨故便樂著生死。 對治彼故說一切世間不可樂想。彼由著 生死故便不求涅槃。對治彼故說斷想離 想滅想。彼由不求涅槃故保愛壽命。對治 彼故說於死想。有說。世尊為顯厭逆過 失遠離過失。及證離彼所得功德故說十 想。謂說不淨想厭食想一切世間不可樂想 則顯厭逆過失。說無常想無常苦想苦無我 想死想則顯遠離過失。說斷想離想滅想。 則顯證離彼所得功德。有說。世尊為顯暫 時斷究竟斷故說十想。謂說不淨想厭食想 一切世間不可樂想顯暫時斷。說餘七想 顯究竟斷。如暫時斷究竟斷。如是有影斷。 無影斷。有餘斷。無餘斷。有縛斷。無縛斷。摧 枝葉斷。拔根本斷。制伏纏斷。害隨眠斷亦爾。 有說。世尊為顯離三界染加行。離三界染 道。離三界染故說十想。謂說不淨想厭食 想顯離欲界染加行。說無常想顯離欲界 染道。說斷想顯離欲界染。說一切世間不 可樂想顯離色界染加行。說無常苦想。顯 離色界染道。說離想顯離色界染。說死想 顯離無色界染加行。說苦無我想顯離無 色界染道。說滅想顯離無色界染。 如是十想界分別者。不淨想厭食想一切世 間不可樂想欲色界。餘三界及非界。 地者。不淨想厭食想在十地。謂欲界。靜慮中 間。四靜慮。及四近分。一切世間不可樂想在 七地。謂欲界。未至。靜慮中間。根本四靜慮。 餘七想有漏者。在十一地。謂欲界。未至。靜 慮中間。根本四靜慮。四無色。無漏者。在九 地。謂未至。靜慮中間。根本四靜慮。下三無 色。所依者。不淨想厭食想一切世間不可樂 想依欲界。餘依三界。 行相者無常想作無常行相。無常苦想作苦 行相。苦無我想作無我行相。不淨想作不淨 行相。厭食想作厭逆行相。一切世間不可樂 想作不可樂行相。死想作死行相。斷想作 斷行相。離想作離行相。滅想作滅行相。有 說。後三一切皆作滅靜妙離四種行相。問死 想亦通無漏。云何聖道作死行相耶。答死 為所緣故名死想。然彼還作無常行相。問 若爾死想無常想有何差別。有說。觀察諸 行最後無常此想名死想。觀察諸行剎那 無常此想名無常想。有說。觀察有執受諸 行無常此想名死想。觀察有執受無執受諸 行無常此想名無常想。有說。於有情處轉 名死想。於法處轉名無常想。問若厭食想 作厭逆行相者。彼不淨想亦作厭逆行相。 此二有何差別。答不淨想厭逆於色。厭食想 厭逆於味。有說。不淨想對治婬貪。厭食想 對治食貪。諸有欲令十六行相外無聖道 者。彼說無漏斷離滅想。即作滅諦四種行 相。諸有欲令十六行相外有聖道者。彼說 無漏斷想即作斷行相。乃至無漏滅想即作 滅行相。 所緣者無常想。有漏者。三諦為所緣。無漏 者。苦諦為所緣。無常苦想有漏者。二諦為 所緣。無漏者。苦諦為所緣。苦無我想有漏 者。一切法為所緣。無漏者。苦諦為所緣。然 佛此中所說三想唯說緣苦諦非餘。不淨想 眼識為加行所引發故。色處為所緣。厭食 想厭段食故。香味觸處為所緣。有說。此想 亦眼識為加行所引發故。但以色處為所 緣。一切世間不可樂想。有說。唯緣欲界。以 說此想對治緣世間可愛事貪欲。此貪欲 唯在欲界故。此中有說。唯緣世間可愛事。 有說。亦緣可愛事所起貪欲。問若唯緣欲 界者。云何名一切世間不可樂想。答一切 有二種。一一切一切。二少分一切。此中說 少分一切是故無過。有說。此想通緣三界。 以名一切世間不可樂想故。問若爾何故說 此想對治世間。可愛事貪欲。彼貪欲唯在欲 界故。答彼經顯示初起趣入加行故作是 說。 若已數習成滿者。亦能斷色無色界貪欲是 故無過。死想有說。以最後剎那命根為所 緣。有說。以最後剎那命根無常為所緣。有 說。以最後剎那命根俱生五蘊為所緣。有 說。以最後剎那命根俱生五蘊無常為所 緣。有說。以一切眾同分命根為所緣。有 說。以一切眾同分命根無常為所緣。有說。 以一切眾同分命根。俱生五蘊為所緣。有 說。以一切眾同分命根。俱生五蘊無常為 所緣。如是說者。以最後命根俱生五蘊無 常為所緣。斷想以斷為所緣。離想以離為 所緣。滅想以滅為所緣。此後三想隨別如 此。即是皆以滅諦涅槃為所緣義。 念住者。無常想。無常苦想。苦無我想。四念住 俱。不淨想厭食想。身念住俱。一切世間不可 樂想。有說。身念住俱。有說。法念住俱。死想 斷離滅想法念住俱。 智者無常想。無常苦想。苦無我想。死想。四智 相應。謂法智類智苦智世俗智。不淨想。厭食 想。一切世間不可樂想。一智相應。謂世俗智。 斷離滅想四智相應。謂法智類智滅智世俗 智。三摩地者。無常想。無常苦想。死想。無漏 者與無願三摩地相應。苦無我想無漏者。 與空三摩地相應。斷離滅想無漏者。與無 相三摩地相應。不淨想。厭食想。一切世間不 可樂想。及餘七想中有漏者。皆不與三摩 地相應。根者。總說皆與三根相應。謂樂喜 捨根。世者皆墮三世。緣世者。無常想。無常 苦想。苦無我想。緣三世。不淨想。厭食想。一 切世間不可樂想。過去緣過去。現在緣現 在。未來生者緣未來。不生者緣三世。死想 有說。緣三世。有說。緣未來。斷離滅想緣 非世。 善等者一切皆善。緣善等者。無常想。無常 苦想苦無我想。不淨想。緣善不善無記。厭 食想緣無記。一切世間不可樂想。有說。緣 三種。有說。緣不善無記。死想有說。緣無 記。有說。緣三種。斷離滅想唯緣善。 三界繫不繫者。不淨想。厭食想。一切世間不 可樂想。欲色界繫。餘三界繫及不繫。緣三 界繫不繫者。無常想。無常苦想。苦無我想。 死想緣三界繫。不淨想。厭食想。緣欲界繫。 一切世間不可樂想。有說。緣欲界。以說此 想對治緣可愛事貪欲。此貪欲唯在欲界 故。有說。緣三界。以此名一切世間不可樂 想故。如是說者。初說為善。斷離滅想緣不 繫。 學等者。不淨想。厭食想。一切世間不可樂想。 唯非學非無學。餘通三種。謂學無學非學非 無學。緣學等者。一切皆緣非學非無學。見所 斷等者。不淨想。厭食想。一切世間不可樂想。 唯修所斷。餘通修所斷及不斷。緣見所斷 等者。無常想。無常苦想。苦無我想。緣見修 所斷。不淨想。厭食想。一切世間不可樂想。 緣修所斷。死想有說。緣修所斷。有說緣見 修所斷。斷離滅想。緣不斷。 緣名義者。無常想。無常苦想。苦無我想。通 緣名義。死想有說。唯緣義。有說通緣名 義。餘六想但緣於義。 緣自相續等者。前七想緣自他相續。後三 想緣非相續。 加行得。離染得。生得者。一切加行得。離染 得。非生得。 有漏無漏者。不淨想。厭食想。一切世間不可 樂想。唯有漏。餘有漏無漏。外國師說。死想唯 有漏。所以者何。非諸聖道作我當死行相 轉故。評曰。應說此想有漏無漏。以此想 加行時雖作我等當死行相。若成滿時即於 彼境還作無常行相轉故。緣有漏無漏者。 前七想緣有漏。後三想緣無漏。問此十想幾 有漏緣無漏。幾無漏緣有漏。幾有漏緣有 漏。幾無漏緣無漏。答三少分是有漏緣無 漏。四少分是無漏緣有漏。三全四少分是有 漏緣有漏。三少分是無漏緣無漏。問此十想 幾非有漏。非不緣有漏。乃至廣作四句。前 第二句作此第一句。前第一句作此第二句。 前第四句作此第三句。前第三句作此第四 句。有為無為者。一切皆是有為。緣有為無 為者。前七想緣有為。後三想緣無為。問此 十想幾自性斷。非所緣斷。幾所緣斷非自性 斷。幾自性斷亦所緣斷。幾非自性斷。亦非 所緣斷。答三少分自性斷非所緣斷。四少分 所緣斷非自性斷。三全四少分亦自性斷亦 所緣斷。三少分非自性斷亦非所緣斷。問 此十想幾非自性斷。非不所緣斷。乃至廣 作四句。前第二句作此第一句。前第一句 作此第二句。前第四句作此第三句。前第三 句作此第四句。 問此十想幾是轉。幾是隨轉。答三是轉。謂不 淨想。厭食想。死想。餘七是隨轉。問若爾何想 轉時幾想隨轉。答不淨想厭食想轉時。各四 想隨轉。謂一切世間不可樂想。及斷離滅想。 死想轉時。七想隨轉。謂無常想。無常苦想。苦 無我想。一切世間不可樂想。及斷離滅想。云 何不淨想轉時四想隨轉。謂修行者起不淨 想時。先往塚間觀不淨相。所謂死屍青瘀 膖脹膿爛。或虫獸食噉血肉狼藉支節分離。 或肉盡筋連。唯觀骨鎖次第連接。取是相 已至一近處閉目思惟。若皆分明現前者 善。若不明了當更往觀。如此。善觀不淨相 已。疾還所止洗足敷座。結跏趺坐調滑身 心。令身心柔軟身心堪能。身心無熱身心離 蓋。既令身心離諸蓋已。取先外相以方己 身。如彼此亦爾。如此彼亦爾。謂我此身具 有如前諸不淨相。因於足骨以拄踝骨。因 於踝骨以拄脛骨。因於脛骨以拄膝骨。 因於膝骨以拄髀骨。因於髀骨以拄 髖骨。因於髖骨以拄腰骨。因於腰骨以 拄脊骨。因於脊骨傍連肋骨。又因手骨以 拄肘骨。因於肘骨以拄臂骨。因於臂骨以 拄肩骨。因於肩骨以拄脊骨。復因脊骨以 拄項骨。因於項骨以拄頷輪。因於頷輪以 拄齒鬘。上有髑髏於此身中骨鎖次第。善 取相已繫念眉間。然其所樂有廣有略。若 樂略者即從眉間入身念住。從身念住入 受念住。從受念住入心念住。從心念住入 法念住若樂廣者從眉間起。復觀髑髏齒 鬘頷輪。次第觀察乃至足骨。次由勝解作 意力故。令所觀骨鎖漸增漸廣。遍滿一床 一房一院一僧伽藍一村一田一城一國。乃 至大海邊際所有大地。皆為白骨周匝遍滿。 復以勝解作意力故。從彼漸略捨大地骨 觀於一國。捨一國觀一城。乃至捨一房 觀一床。復捨一床所有骨相。但觀身骨。謂 觀足骨次觀踝骨。次觀脛骨。乃至最後觀 髑髏骨捨髑髏骨繫念眉間。彼瑜伽師若 於如是廣略自在。是名不淨觀成。然此不 淨觀有所緣少。非自在少。應作四句。有所 緣少非自在少。謂但思惟自身骨鎖相。而 能數數入出。彼觀有自在少非所緣少。謂 能思惟大地骨鎖相。而不能數數入出。彼 觀有自在少。亦所緣少。謂但思惟自身骨 鎖相。亦不能數數入出。彼觀有非自在少。 亦非所緣少。謂能思惟大地骨鎖相。亦能數 數入出。彼觀又此不淨觀。有所緣無量。非 自在無量。應作四句。謂前第二句作此第 一句。前第一句作此第二句。前第四句作此 第三句。前第三句作此第四句。彼瑜伽師如 是觀察不淨相已。作是思惟。生死諸行。何 可欣樂。爾時便於欲色無色三界諸行都 不貪樂。由如此故彼先所修一切世間不可 樂想便得圓滿。彼由不欣樂生死故便欣 樂涅槃。由此因緣先所修習斷離滅想皆得 圓滿。如是不淨想轉時四想隨轉。云何厭食 想轉時四想隨轉。謂修行者起厭食想時。 觀手中若鉢中食從何而成。知從等。復 觀等從何而來知從田中種子差別。復 觀種子由誰故生知由種種泥土糞穢。如 是觀已便作是念。此食展轉從不淨生。復 能展轉生諸不淨。誰有智者於中貪著。又彼 行者或常乞食。或僧中食。常乞食者。晨旦 澡漱嚼楊枝時。於水作尿想。於楊枝作 指骨想。著衣持鉢往聚落時。於衣作濕人 皮想。於腰縚作人腸想。於鉢作髑髏想 於錫杖作脛骨想。於道路間所見礫石作 骸骨想。既至聚落見諸城壁作塚墓想。見 諸男女作骨鎖想。於乞食時若得餅作人 肚想。若得作骨粖想。若得鹽作人齒想。 若得飯作蛆虫想。若得諸菜作人髮想。若 得羹臛作下汁想。若得乳酪作人腦想。若 得酥蜜作人脂膏想。若得魚及肉作人 肉想。若得諸飲作人血想。若得歡喜丸等 作乾糞想。其僧中食者。若得淨草作死人 髮想。所處床座作骨聚想。於所得飲食作 不淨想。皆如前說。問行者何故於飲食等 作不淨想耶。答彼作如是思惟。我無始生 死由於不淨作淨想故。輪迴五趣受諸 苦惱。今欲違彼趣涅槃樂。是故於中觀為 不淨。復次彼行者作是念。莫令我於飲食 生淨想故。增益貪心障礙聖道故。於飲 食作不淨想。由不淨想便能厭離。彼瑜伽 師如是於食起厭想已作是思惟。生死諸 行何可欣樂。便於三界諸行生厭。由如此 故彼先所修一切世間不可樂想便得圓滿。 彼由厭生死故便樂涅槃。由此因緣先 所修習斷離滅想皆得圓滿。如是厭食想轉 時四想隨轉。云何死想轉時七想隨轉。謂修 行者起死想時。觀察諸法念念生滅。彼於 春時見諸卉木。生花生葉鮮榮紅紺如妙寶 色。河池津液水漸盈滿魚鳥喧戲。便作是 念。今外物生。彼入聚落見諸男女。歌舞跳 躍飲食喜慶。即前問之。此何故爾。答曰。此 處生男生女。便作是念。今內法生。復於夏 時見諸卉木柯條聳密花葉茂盛。河池汎溢 波濤輪轉查沫𣣋岸。便作是念。此諸外法 今已興盛。彼入聚落見諸男女。擊鼓吹貝 歌舞歡笑車馬雜沓。即前問之此何。故爾。答 曰。此中有嫁娶事。便作是念。此諸內法今 已壯盛。復於秋時見諸草木。為秋日所曝 涼風所吹青色銷盡葉皆黃悴。河池流水漸 漸減縮。便作是念。此諸外物今已衰悴。彼 入聚落見諸男女。髮白面皺扶杖而行。身 形曲僂咳逆上氣。便作是念。此諸內法今已 衰老。復於冬時見諸草木。霜風飄擊葉皆 在地摧折枯死。河池流水漸皆竭盡乃至乾 涸。便作是念。此諸外法今已復滅。彼入聚 落見諸男女。被髮跳踊搥胸號叫宛轉在 地。即前問之此何故爾。答曰。此處父母死 喪。便作是念。此諸內法今已復滅。彼於如 是內外無常。善取相已還其所止。洗足敷 座結跏趺坐。調滑身心令身心柔渜身心 堪能身心無熱身心離蓋。既令身心離諸 蓋已。內住其心修於死想。謂如所見諸無 常想。觀察內身一期諸蘊結生時生。乃至 老死時滅。復於一期有爾所位諸蘊各異。 捨餘隨觀一位諸蘊前生後滅。復於一位 有爾所歲諸蘊各異。捨餘隨觀一歲諸蘊前 生後滅。復於一歲有爾所時諸蘊各異。捨 餘隨觀一時諸蘊前生後滅。復於一時有 爾所月諸蘊各異。捨餘隨觀一月諸蘊前生 後滅。復於一月有爾所晝夜諸蘊各異。捨 餘隨觀一晝夜蘊前生後滅。復於一晝夜 有爾所牟呼栗多諸蘊各異。捨餘隨觀一牟 呼栗多蘊前生後滅。復於一牟呼栗多有爾 所臘縛諸蘊各異。捨餘隨觀一臘縛蘊前生 後滅。復於一臘縛有爾所怛剎那諸蘊各 異。捨餘隨觀一怛剎那蘊前生後滅。復於 一怛剎那有爾所剎那諸蘊各異。以剎那最 多故於中漸漸略觀。乃至觀蘊二剎那生二 剎那滅。是名生滅觀加行圓滿。從此無間能 觀諸蘊一剎那生一剎那滅。是名生滅觀 成。爾時名為死想圓滿。以諸位滅即是死 故。彼修行者如是諦觀蘊生滅已。便作是 念。世尊所說諸行無常誠為善說。以生滅即 無常故。如是行者死想轉時。令先所修諸 無常想皆得圓滿。行者復觀諸蘊相續前剎 那蘊。由後剎那蘊所逼迫故生已即滅。如 是觀已便作是念。世尊所說無常故苦誠為 善說。以逼迫即是苦故。如是行者死想轉 時。令先所修無常苦想而得圓滿。行者復 觀前剎那蘊纔滅後剎那蘊即生。假使前蘊 念言我今不滅後蘊念言我今不生。彼於所 欲皆不自在。前蘊後所逼故必滅。後蘊前 所牽故必生。如是觀已便作是念。世尊所說 苦無我想誠為善說。以不自在即無我故。 如是行者死想轉時。令先所修苦無我想而 得圓滿。行者復觀諸行生滅不自在故。於 空行聚中不生貪樂。由此便於三界諸行 不生樂著。如是死想轉時。令先所修一切 世間不可樂想而得圓滿。彼修行者既於生 死不樂著故便樂涅槃。如是死想轉時令 先所修斷離滅想皆得圓滿。由此故說死想 轉時七想隨轉。問修諸想時有勝解作意 有真實作意。彼勝解作意所觀不實何非顛 倒。答彼修行者知非真實不生實執故非 顛倒。問若知不實何故猶作。答為伏煩惱 是故須作。問此若不實云何能伏煩惱。答由 作彼想。便能制伏。如於餘女作母想時 不生貪染。於怨憎所作親想時不生瞋 恚。於下人所作尊想時不生憍慢。此亦如 是故須觀察。
Việt dịch
QUYỂN 166 CHƯƠNG VII: ĐỊNH UẨN (Tiếp Theo) Phẩm Thứ Ba: LUẬN VỀ NHIẾP LUẬN VỀ NHIẾP (Phần 1) Mười Tưởng, đó là Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường- Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt. Các chương như vậy và giải thích về nghĩa từng chương đã lĩnh hội rồi, tiếp theo cần phải phân biệt rộng ra. Hỏi: Vì sao trong này trước phải dựa vào mười Tưởng để soạn luận? Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, tùy theo ý muốn ấy mà soạn ra phần luận này, nhưng không trái với pháp tướng thì không cần phải vặn hỏi. Có người nói: Bởi vì muốn phân biệt nghĩa lý trong kinh. Như trong kinh nói: “Có mười Tưởng, đó là Tưởng về Vô thường cho đến Tưởng về Diệt.” Trong kinh tuy nói ra điều này mà không giải thích rộng ra, nay muốn giải thích về điều ấy cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Vì sao trong này chỉ nói mười Tưởng? Đáp: Điều này không cần phải hỏi, bởi vì là kinh do Đức Phật đã nói ra, Đức Phật ở khắp nơi trong kinh chỉ nói mười Tưởng, người soạn luận từ trong lời Đức Phật đã nói không có thể tăng một mà nói là mười một Tưởng, không có thể giảm một ma ø nói là chín Tưởng. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì pháp mà Đức Phật đã nói không có tăng giảm, cho nên không có thể tăng giảm. Như không có tăng-không có gia ûm, không có nhiều-không có ít, không có thiếu-không có thêm, vô lượng vô biên cũng như vậy. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 166 263 www.daitangkinh.org Vô lượng là bởi vì nghĩa khó suy lường, vô biên là bởi vì văn khó hiểu rõ; ví như biển rộng vô lượng vô biên, vô lượng là sâu, vô biên là rộng, giả sử trăm ngàn Na-dữu-đa s ố các Đại Luận Sư như Xá-lợi-tử, đối với hai câu trong kinh mà Đức Ph ật đã nói, soạn ra trăm ngàn bộ luận, phân biệt giải thích đến cùng tánh giác ngộ ấy, cũng không có thể cùng tận giới hạn ấy, huống là nhiều hơn hay sao? Hỏi: Gác lại vấn đề về người soạn luận, vì sao Đức Thế Tôn chỉ nói mười Tưởng? Đáp: Bởi vì hữu tình được hóa độ đến đây mà nói là điều cuối cùng. Nghĩa là pháp mà Đức Thế Tôn đã nói, đều quán xét hữu tình thuận theo việc làm khiến cho khéo léo đến cùng, đến đây mà dừng lại không tăng-không giảm; ví như vị thầy thuốc giỏi quán xét người có bệnh, tùy theo thích hợp mà trao cho thuốc uống không tăng-không giảm, Đức Phật cũng như vậy. Có người nói: Đức Phật vì hi ển bày Thánh đạo, gia hạnh của Thánh đạo và quả của Thánh đạo, cho nên nói về mười Tưởng. Nghĩa là nói đến Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, là hiển bày về Thánh đạo; nói đến Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, T ưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là hiển bày về gia hạnh của Th ánh đạo; nói đến Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt, là hiển bày về quả của Thánh đạo. Có người nói: Đức Thế Tôn vì hiển bày về Thánh đạo, tư lương của Thánh đạo và qua û của Thánh đạo, c ho nên nói về mười Tưởng. Trong này phối hợp giải thích như trước nên biết. Có người nói: Đức Thế Tôn vì hiển bày về Xa-ma-tha, Tỳ-bát- xá-na và hai quả, cho nên nói về mười Tưởng. Nghĩa là nói đến Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, T ưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là hiển bày về Xa-ma-tha; nói đến Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, là hiển bày về Tỳ-bát-xá-na; nói đến Tưởng về Đo ạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt, là hiển bày về hai quả ấy. Có người nói: Đức Thế Tôn vì hiển bày về bờ bên này, bờ bên kia và thuyền bè, cho nên nói về mười Tưởng. Nghĩa là nói đến Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là hiển bày về bờ bên này; nói đến Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt, là hiển bày về bờ bên kia; nói đến Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ- Vô ngã, Tưởng về Chết, là hiển bày về thuyền bè. 264 BỘ TỲ ĐÀM 6 Có người nói: Đức Thế Tôn vì hiển bày về lỗi lầm của các Uẩn- các Cõi và quả hoàn diệt ấy, cho nên nói về mười Tưởng. Nghĩa là nói đến Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, là hiển bày về lỗi lầm của các Uẩn; nói đến Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, là hiển bày về lỗi lầm của cõi Dục; nói đến Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là hiển bày về lỗi lầm của cõi Sắc; nói đến Tưởng về Chết, là hiển bày về lỗi lầm của cõi Vô sắc; nói đến Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt, là hiển bày về quả hoàn diệt ấy. Có người nói: Đức Thế Tôn vì hiển bày về tiến vào Chánh tánh ly sinh, lìa nhiễm của ba cõi và qu ả của đạo ấy, cho nên nói về mười Tưởng. Nghĩa là nói đến Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường- Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, là hiển bày về tiến vào Chánh tánh ly sinh; nói đến Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, là hiển bày về lìa nhiễm của cõi Dục, bởi vì cõi Dục có ham muốn về Dâm dục và Đoàn thực, cho nên đối với tập khí nhiễ m ô ấy không có thể lìa nhiễm của cõi Dục; nói đến Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là hiển bày về lìa nhiễm của cõi Sắc, bởi vì cõi Sắc ở trong sinh tử có Hỷ thọ thù thắng nhất, Lạc thọ thù thắng nhất , và niềm vui Khinh an thù thắng nhất ở Tĩnh lự thứ tư, đam mê đối với điều ấy cho nên không có thể lìa nhiễm của cõi Sắc; nói đến Tưởng về Chết, là hiển bày về lìa nhiễm của cõi Vô sắc, bởi vì thọ lượng lâu dài của cõi Vô sắc, say mê giữ gìn đối với điều ấy cho nên không có thể lìa nhiễm của cõi Vô sắc; nói đến Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt, là hiển bày về quả của đạo ấy. Có người nói: Đức Thế Tôn vì hiể n bày về đối trị gần mà sửa trị chướng ngại, cho nên nói về mười T ưởng. Nghĩa là nói đến Tưởng về Vô thường, là hiển bày về đối trị gần do chướng ngại của Ngã mạn trong các hành; nói đến Tưởng về Vô thường-Khổ, là hiển bày về đối trị gần do chướng ngại của Giải đãi; nói đến Tưởng về Khổ-Vô ngã, là hiển bày về đối trị gần do chướng ngại của Ngã kiến; nói đến Tưởng về Bất tịnh, là hiển bày về đối trị ga àn do chướng ngại của Tham sắc; nói đến Tưởng về Chán ăn, là hiển bày về đối trị gần do chướng ngại của say mê ăn ngon; nói đến Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là hiển bày về đối trị gần do chướng ngại của tham đắm điều đáng yêu của thế gian; nói đến Tưởng về Chết, là hiển bày về đối trị gần do chướng ngại của ỷ lại mạng sống ma ø kiêu ngạo phóng túng; nói đến Tưởng về Đoạn, là hiển bày về đối trị gần do chướng ngại của các pháp sai SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 166 265 www.daitangkinh.org trái; nói đến Tưởng về Lìa, là hiển bày về đối trị gần do chướng ngại của nhiễm trước; nói đến Tưởng về Di ệt, là hiển bày về đối trị gần do chướng ngại của sở y. Có người nói: Đức Thế Tôn vì hi ển bày về đối trị kiến chấp của ngoại đạo, cho nên nói về mười Tưởng. Nghĩa là các ngoại đạo ở trong Uẩn Vô thường phần nhiều khởi lên chấp là Thường, bởi vì đối trị điều ấy cho nên nói đến Tưởng về Vô t hường; do họ đối với Uẩn khởi lên chấp là Thường, cho nên liền nghĩ là vui sướng, bởi vì đối trị điều ấy cho nên nói đến Tưởng về Vô thường-Khổ; do họ đối với Uẩn chấp là có vui sướng, cho nên liền nghĩ là có Ngã, bởi vì đối trị điều ấy cho nên nói đến Tưởng về Khổ-Vô ngã; do họ chấp là có Ngã, cho nên liền nghĩ là có Tịnh, bởi vì đối trị điều ấy cho nên nói đến Tưởng về Bất tịnh và Tưởng về Chán ăn; do họ chấp là có Tịnh, cho nên liền vui say trong sinh tử, bởi vì đối trị điều ấy cho nên nói đến Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui; do họ đắm say si nh tử, cho nên đã không mong cầu Niết-bàn, bởi vì đối trị điều ấy cho nên nói đến Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt; do họ không mong cầu Niết-bàn, cho nên bảo vệ yêu quý thọ mạng, bởi vì đối tr ị điều ấy cho nên nói đến Tưởng về Chết. Có người nói: Đức Thế Tôn vì hiển bày về chán ngán lỗi lầm, xa lìa lỗi lầm và chứng được công đức đã lìa xa lỗi lầm ấy, cho nên nói về mười Tưởng. Nghĩa là nói đến Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là hiển bày về chán ngán lỗi lầm; nói đến Tưởng về Vô t hường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, là hiển bày về xa lìa lỗi lầm; nói đến Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt, là hiển bày về chứng được công đức đã lìa xa lỗi lầm ấy. Có người nói: Đức Thế Tôn vì hiển bày về Đoạn trong tạm thời và Đoạn đến cuối cùng, cho nên nói về mười Tưởng. Nghĩa là nói đến Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là hiển bày về Đoạn tron g tạm thời; nói đến bảy Tưởng còn lại, là hiển bày về Đoạn đến cuối cùng. Như Đoạn trong tạm thời-Đoạn đến cuối cùng, như vậy Đoạn có bóng dáng-Đoạn không có bóng dáng, Đoạn có sót lại-Đoạn không có sót lại, Đoạn có ràng buộc-Đoạn không có ràng buộc, Đoạn bẻ gãy cành lá-Đoạn nhổ bật gốc rễ, Đoạn áp chế đè bẹp Triền-Đoạn làm hại Tùy miên cũng như vậy. Có người nói: Đức Thế Tôn vì hiển bày về gia hạnh lìa nhiễm của ba cõi, đạo lìa nhiễm của ba cõi, lìa nhiễm của ba cõi, cho nên nói 266 BỘ TỲ ĐÀM 6 về mười Tưởng. Nghĩa là nói đến Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, là hiển bày về gia hạnh lìa nhiễm của ba cõi; nói đến Tưởng về Vô thường, là hiển bày về đạo lìa nhiễm của ba cõi; nói đến Tưởng về Đoạn, là hiển bày về lìa nhiễm của c õi Dục; nói đến Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là hiển bày về gia hạnh lìa nhiễm của cõi Sắc; nói đến Tưởng về Vô thường-Khổ, là hiển bày về đạo lìa nhiễm của cõi Sắc; nói đến Tưởng về Lìa, là hiển ba øy về lìa nhiễm của cõi Sắc; nói đến Tưởng về Chết, là hiển bày về gia hạnh lìa nhiễm của cõi Vô sắc; nói đến Tưởng về Khổ-Vô ngã, là hiển bày về đạo lìa nhiễm của cõi Vô sắc; nói đến Tưởng về Diệt, là hiển bày về lìa nhiễm của cõi Vô sắc. Như vậy mười Tưởng, phân biệt về Cõi: Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, là thuộc về cõi Dục-Sắc; các Tưởng còn lại là t huộc về ba cõi và không phải là thuộc về cõi. Địa: Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn thuộc về mười địa, đó là cõi Dục, Tĩnh lự trung gian, bốn Tĩnh lự và bốn Cận phần. Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui thuộc về bảy địa, đó là cõi Dục, Vị chí, Tĩnh lự trung gian, bốn Tĩnh lự Căn bản. Bảy Tưởng còn lại, hữu lậu thì thuộc về mười một địa, đó là cõi Dục , Vị chí, Tĩnh lự trung gian, bốn Tĩnh lự Căn bản, bốn Vô sắc; vô lậu thì thuộc về chín địa, đó là Vị chí, Tĩnh lự trung gian, bốn Tĩnh lự Căn bản, ba Vô sắc dưới. Sở y: Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, dựa vào cõi Dục; còn lại thì dựa vào ba cõi. Hành tướng: Tưởng về Vô thường làm hành tướng Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ làm hành tướng Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã làm hành tướng Vô ngã, Tưởng về Bất tịnh làm hành tướng Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn làm hành tướng Chán bỏ, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui làm hành tướng Không đáng vui, Tưởng về Chết làm hành tướng Chết, Tưởng về Đoạn làm hành tướng Đoạn, Tưởng về Lìa làm hành tướng Lìa, Tưởng về Diệt làm hành tướng Diệt. Có người nói: Tất cả ba loại sau đều làm bốn hành tướng Diệt- Tĩnh-Diệu-Ly. Hỏi: Tưởng về Chết cũng bao gồm vô lậu, vì sao Thánh đạo lại làm hành tướng Chết? Đáp: Chết làm sở duyên cho nên gọi là Tưởng về Chết, nhưng Tưởng ấy vẫn làm hành tướng Vô thường. Hỏi: Nếu như vậy thì Tưởng về Chết và Tưởng về Vô thường có gì sai biệt? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 166 267 www.daitangkinh.org Đáp: Có người nói: Quán sát các hành cuối cùng là Vô thường, Tưởng này gọi là Tưởng về Chết; qua ùn sát các hành Vô thường trong sát-na, Tưởng này gọi là Tưởng về Vô thường. Có người nói: Quán sát các ha ønh Vô thường có ch ấp thọ, Tưởng này gọi là Tưởng về Chết; quán sát các hành Vô thường có chấp thọ- không có chấp thọ, Tưởng này gọi là Tưởng về Vô thường. Có người nói: Đối với Xứ của hữu tình mà chuyển thì gọi là Tưởng về Chết, đối với Pháp xứ mà chuyển thì gọi là Tưởng về Vô thường. Hỏi: Nếu Tưởng về Chán ăn làm hành tướng Chán bỏ, thì Tưởng về Bất tịnh ấy cũng làm hành tướng Chán bỏ, hai loại này có gì sai biệt? Đáp: Tưởng về Bất tịnh thì chán bỏ đối với Sắc, Tưởng về Chán ăn thì chán bỏ đối với Vị. Có người nói: Tưởng về Bất tịnh đối trị với tham dâm, Tưởng về Chán ăn đối trị với tham ăn. Những người có ý muốn làm cho không có Thánh đạo ở ngoài mười sáu hành tướng, họ nói Tưởng về Đoạn-Lìa- Diệt vô lậu, tức là làm bốn loại hành tướng của Diệt đế. Những người có ý muồn làm cho có Thánh đạo ở ngoài mười sáu hành tướng, họ nói Tưởng về Đoạn vô lậu tức là làm hành tướng Đoạn, cho đến Tưởng về Diệt vô lậu tức là làm hành tướng Diệt. Sở duyên: Tưởng về Vô thường, hữu lậu thì ba Đế làm sở duyên, vô lậu thì Khổ đế làm sở duyên. Tưởng về Vô thường-Khổ, hữu lậu thì hai Đế làm sở duyên, vô lậu thì Khổ đế làm sở duyên. Tưởng về Khổ- Vô ngã, hữu lậu thì tất cả pháp làm sở duyên, vô lậu thì Khổ đế làm sở duyên. Nhưng trong này Đức Phật đã nói về ba Tưởng chỉ duyên với Khổ đế chứ không phải là Đế nào khác. Tưởng về Bất tịnh do Nhãn thức làm gia hạnh mà dẫn dắt phát khởi, cho nên Sắc xứ làm sở duyên. Tưởng về Chán ăn bởi vì chán ngán Đoàn thực, cho nên Hương- Vị-Xúc xứ làm sở duyên. Có người nói: Tưởng này cũng do Nhãn thức làm gia hạnh mà dẫn dắt phát khởi, cho nên chỉ dùng Sắc xứ làm sở duyên. Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui. Có người nói: Chỉ duyên với cõi Dục, bởi vì nói Tưởng này là đối trị của tham dục, duyên với điều đáng yêu của thế gian, tham dục này chỉ có ở cõi Dục. Trong này, có người nói: Chỉ duyên với điều đáng yêu của thế gian. Có người nói: Cũng duyên với điều đáng yêu mà khởi lên tham dục. Hỏi: Nếu chỉ duyên với cõi Dục, thì tại sao gọi là Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui? 268 BỘ TỲ ĐÀM 6 lỗi. Đáp: Tất cả (nhất thiết) có hai loại: 1. Tất cả của tất cả. 2. Phần ít của tất cả. Trong này nói đến phần ít của tất cả, vì thế cho nên không có Có người nói: Tưởng này bao gồm duyên với ba cõi, bởi vì gọi là Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui. Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao nói Tưởng này là đối trị của tham dục, duyên với điều đáng yêu của thế gian, bởi vì tham dục ấy chỉ có ở cõi Dục? Đáp: Kinh ấy hiển bày rõ ràng về bắt đầu khởi lên tiến vào gia hạnh, cho nên đưa ra cách nói này. Nếu đã thường xuyên luyện tập thành tựu đầy đủ, thì cũng có thể đoạn bỏ tham dục của cõi Sắc-Vô sắc, vì thế cho nên không có lỗi. Tưởng về Chết, có người nói: Lấy Mạng căn trong sát-na cuối cùng làm sở duyên. Có người nói: Lấy Mạng căn Vô thường trong sát-na cuối cùng làm sở duyên. Có người nói: Lấy năm Uẩn câu sinh của Mạng căn trong sát- na cuối cùng làm sở duyên. Có ng ười nói: Lấy năm Uẩn câu sinh Vô thường của Mạng căn trong sát-na cuối cùng làm sở duyên. Có người nói: Lấy Mạng căn của tất cả Chúng đồng phần làm sở duyên. Có người nói: Lấy Mạng căn Vô thường của tất cả Chúng đồng phần làm sở duyên. Có người nói: Lấy năm Uẩn câu si nh thuộc Mạng căn của tất cả Chúng đồng phần làm sở duyên. Có người nói: Lấy năm Uẩn câu sinh Vô thường thuộc Mạng căn của tất cả Chúng đồng phần làm sở duyên. Nói như vậy thì lấy năm Uẩn câu sinh Vô thường của Mạng căn cuối cùng làm sở duyên. Tưởng về Đoạn lấy Đoạn làm sở duyên, Tưởng về Lìa lấy Lìa làm sở duyên, Tưởng về Diệt lấy Diệt làm sở duyên. Ba Tưởng sau cùng này tùy theo riêng biệt như vậy, tức là đều lấy Niết-bàn Diệt đế làm nghĩa của sở duyên. Niệm trú: Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, đi cùng với bốn Niệm trú. Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, đi cùng với Thân niệm trú. Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, có người nói: Đi cùng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 166 269 www.daitangkinh.org với Thân niệm trú. Có người nói: Đi cùng với Pháp niệm trú. Tưởng về Chết, Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt, đi cùng với Pháp niệm trú. Trí: Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, tương ưng với bốn Trí, đó là Pháp trí-Loại trí-Khổ trí-Thế tục trí. Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, tương ưng với một Trí, đó là Thế tục trí. Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt, tương ưng với bốn Trí, đó là Pháp trí-Loại trí-Diệt trí-Thế tục trí. Tam-ma-địa: Tưởng về Vô thườn g, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Chết, vô lậu thì tương ưng với Tam-ma-địa Vô nguyện. Tưởng về Khổ-Vô ngã, vô lậu thì tương ưng với Tam-ma-địa Không. Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt, vô lậu thì tương ưng với Tam-ma-địa Vô tướng. Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, và trong bảy Tưởng còn lại, hữu lậu thì đều không tương ưng với Tam-ma-địa. Căn: Nói chung đều tương ưng với ba Căn, đó là Lạc-Hỷ và Xả căn. Đời: Đều thuộc về ba đời. Duyên với đời: Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, duyên với ba đời. Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, thì quá khứ duyên với quá khứ, hiện tại duyên với hiện ta ïi, vị lai sinh ra thì duyên với vị lai, không sinh ra thì duyên với ba đời. Tưởng về Chết, có người nói: D uyên với ba đời. Có người nói: Duyên với vị lai. Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt, duyên với không phải là đời. Thiện…: Tất cả đều là thiện. Duyên với thiện… Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường- Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Bất tịnh, duyên với thiện-bất thiện và vô ký. Tưởng về Chán ăn, duyên với vô ký. Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, có người nói: Duyên với ba loại. Có người nói: Duyên với bất thiện và vô ký. Tưởng về Chết, có người nói: Duyên với vô ký. Có người nói: Duyên với cả ba loại. Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt, chỉ duyên với thiện. Hệ thuộc ba cõi-không hệ thuộc: Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về 270 BỘ TỲ ĐÀM 6 Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, hệ thuộc cõi Dục- Sắc; những Tưởng còn lại hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc. Duyên với hệ thuộc ba cõi-không hệ thuộc: Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, duyên với hệ thuộc ba cõi. Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, duyên với hệ thuộc cõi Dục. Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, có người nói: Duyên với cõi Dục, bởi vì nói Tưởng này là đối trị của tham dục, duyên với điều đáng yêu của thế gia n, tham dục này chỉ có ở cõi Dục. Có người nói: Duyên với ba cõi, bởi vì Tưởng này gọi là Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui. Nói như vậy thì cách nói thứ nhất là hợp lý. Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt duyên với không hệ thuộc. Học… Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, chỉ là Phi học phi vô học; những Tưởng còn lại bao gồm ba loại, đó là Học-Vô học và Phi học phi vô học. Duyên với Học… Tất cả các Tưởng đều duyên với Phi học phi vô học. Do Kiến mà đoạn… Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, chỉ là do Tu mà đoạn; những Tưởng còn lại bao gồm do Tu mà đoạn và không đoạn. Duyên với do Kiến mà đoạn… Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, duyên với do Kiến-Tu mà đoạn. Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, duyên với do Tu mà đoạn. Tưởng về Chết, có người nói: Duyên với do Tu mà đoạn. Có người nói: Duyên với do Kiến-Tu mà đoạn. Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt, duyên với không đoạn. Duyên với danh-nghĩa: Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường- Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, bao gồm duyên với danh và nghĩa. Tưởng về Chết, có người nói: Chỉ duyên với nghĩa. Có người nói: Bao gồm duyên với danh và nghĩa. Sáu Tưởng còn lại chỉ duyên với nghĩa. Duyên với sự nối tiếp nhau của mình… Bảy Tưởng trước duyên với sự nối tiếp nhau của mình và nơi khác, ba Tưởng sau duyên với không phải là sự nối tiếp nhau. Gia hạnh đắc-lìa nhiễm đắc và sinh đắc: Tất cả đều là gia hạnh đắc và lìa nhiễm đắc, không phải là sinh đắc. Hữu lậu-vô lậu: Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 166 271 www.daitangkinh.org Tất cả thế gian không đáng vui, chỉ là hữu lậu; những Tưởng còn lại bao gồm hữu lậu và vô lậu. Các Sư nước ngoài nói: “Tưởng về Chết chỉ là hữu lậu. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì không phải là các Thánh đạo làm chuyển hành tướng đang chết của Ngã.” Lời bình: Nên nói Tưởng này bao gồm hữu lậu và vô lậu, bởi vì Tưởng này lúc gia hạnh tuy làm hành tướng đang chết của Ngã…, nhưng nếu lúc thành tựu đầy đủ thì đối với cảnh ấy vẫn làm chuyển hành tướng Vô thường. Duyên với hữu lậu-vô lậu: Bảy Tưởng trước duyên với hữu lậu, ba Tưởng sau duyên với vô lậu. Hỏi: Mười Tưởng này, mấy loại là hữu lậu duyên với vô lậu, mấy loại là vô lậu duyên với hữu lậu, mấy loại là hữu lậu duyên với hữu lậu, mấy loại là vô lậu duyên với vô lậu? Đáp: Phần ít của ba loại là hữu lậu duyên với vô lậu, phần ít của bốn loại là vô lậu duyên với hữu lậu, ba loại toàn phần và phần ít của bốn loại là hữu lậu duyên với hữu lậu, phần ít của ba loại là vô lậu duyên với vô lậu. Hỏi: Mười Tưởng này, mấy loạ i không phải là hữu lậu, không phải là không duyên với hữu lậu, cho đến rộng ra làm thành bốn câu phân biệt? Đáp: Câu thứ hai của phần trước làm câu thứ nhất ở phần này, câu thứ nhất của phần trước làm câu thứ hai ở phần này, câu thứ tư của phần trước làm câu thứ ba ở phần này, câu thứ ba của phần trước làm câu thứ tư ở phần này. Hữu vi-vô vi: Tất cả các Tưởng đều là hữu vi. Duyên với hữu vi-vô vi: Bảy Tưở ng trước duyên với hữu vi, ba Tưởng sau duyên với vô vi. Hỏi: Mười Tưởng này, mấy loại la ø tự tánh của Đoạn chứ không phải là sở duyên của Đoạn, mấy loại là sở duyên của Đoạn chứ không phải là tự tánh của Đoạn, mấy loại là tự tánh của Đoạn cũng là sở duyên của Đoạn, mấy loại không phải là tự tánh của Đoạn cũng không phải là sở duyên của Đoạn? Đáp: Phần ít của ba loại là tự tánh của Đoạn chứ không phải là sở duyên của đoạn, phần ít của bốn loại là sở duyên của Đoạn chứ không phải là tự tánh của Đoạn, ba loạ i toàn phần và pha àn ít của bốn loại cũng là tự tánh của Đoạn-cũng là sở duyên của Đoạn, phần ít của ba loại không phải là tự tánh của Đo ạn cũng không phải là sở duyên của Đoạn. 272 BỘ TỲ ĐÀM 6 Hỏi: Mười Tưởng này, mấy loại không phải là tự tánh của Đoạn, không phải là sở duyên của Đoạn, c ho đến rộng ra làm thành bốn câu phân biệt? Đáp: Câu thứ hai của phần trước làm câu thứ nhất ở phần này, câu thứ nhất của phần trước làm câu thứ hai ở phần này, câu thứ tư của phần trước làm câu thứ ba ở phần này, câu thứ ba của phần trước làm câu thứ tư ở phần này. Hỏi: Mười Tưởng này, mấy loại là Chuyển, mấy loại là Tùy chuyển? Đáp: Ba loại là Chuyển, đó là Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Chết; bảy loại còn lại là Tùy chuyển. Hỏi: Nếu như vậy thì lúc T ưởng nào chuyển có mấy Tưởng tùy chuyển? Đáp: Lúc Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn chuyển, đều có bốn Tưởng tùy chuyển, đó là Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, và Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt. Lúc Tưởng về Chết chuyển, có bảy Tưởng tùy chuyển, đó là Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui. Thế nào là bốn Tưởng tùy chuyển lúc Tưởng về Bất tịnh chuyển? Nghĩa là lúc người tu hành khởi l ên Tưởng về Bất tịnh, trước tiên đi đến bãi tha ma quán về tướng bất tịnh, đó là xác chết bầm xanh-phình trướng-rữa nát, hoặc là giòi bọ-chim thú rỉa ăn, máu thịt bừa bãi-hình hài rời rã, hoặc là thịt hết-gân nối liền nhau, chỉ thấy bộ xương nối liền theo thứ tự. Giữ lấy tướng này rồi, đến một nơi gần đó nhắm mắt tư duy, nếu đều rõ ràng hiện ra trước mắt thì tốt, nếu không rõ ràng thì nên quay lại để quán sát. Như vậy cố gắng quán về tướng bất tịnh rồi, nhanh chóng trở về nơi cư trú rửa chân trải chỗ ngồi, ngồi xếp bằng tròn điều hòa thân tâm, làm cho thân tâm mềm mại, thân tâm có thể chịu đựng, thân tâm không còn khó chịu, thân tâm lìa xa phiền não. Đã làm cho thân tâm lìa xa các phiền não rồi, giữ lấy tướng bên ngoài trước đây để phỏng theo thân của mình, như thân kia-thân này cũng như vậy, như thân này-thân kia cũng như vậy. Nghĩa là thân này của mình có đủ các tướng bất tịnh như trước, nhờ vào xương bàn chân để chống đỡ xương mắt cá chân, nhờ vào xương mắt cá chân để chống đỡ xương ống chân, nhờ vào xương ống chân để chống đỡ xương đầu gối, nhờ vào xương đầu gối để chống đỡ xương đùi, nhờ vào xương đùi để chống đỡ xương hông, nhờ vào xương SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 166 273 www.daitangkinh.org hông để chống đỡ xương eo, nhờ vào xương eo để chống đỡ xương sống, nhờ vào xương sống kề sát nối liền bắp thịt với xương. Lại nhờ vào xương bàn tay để chống đỡ xương khuỷu tay, nhờ vào xương khuỷu tay để chống đỡ xương cánh tay, nhờ vào xương cánh tay để chống đỡ xương vai, nhờ vào xương vai để chống đỡ xương sống. Lại nhờ vào xương sống để chống đỡ xương gáy, nhờ vào xương gáy để chống đỡ xương quai hàm, nhờ vào xương quai hàm để chống đỡ bộ răng, phía trên có đầu lâu. Bộ xương theo thứ tự ở trong thân này như vậy, khéo chọn lấy tướng rồi buộc niệm ở giữa chặng mày. Nhưng ý thích ấy có mở rộng-có tóm lược. Nếu người thích tóm lược thì từ giữa chặng mày tiến va øo Thân niệm trú, từ Thân niệm trú tiến vào Thọ niệm trú, từ Thọ niệm trú tiến vào Tâm niệm trú, từ Tâm niệm trú tiến vào Pháp niệm trú. Nếu người thích mở rộng thì từ giữa chặng mày khởi lên, tiếp tục quán đầu lâu-bộ răng-xương quai hàm, theo thứ tự quán sát cho đến xương bàn chân, tiếp theo nhờ vào lực tác ý thắng giải, cho nên khiến bộ xương đã quán dần dần tăng lên-dần dần rộng ra, đầy khắp một chiếc giường-một căn phòng-một tòa nhà-một ngôi chùa-một thôn làng-một cánh đồng-một khu thành-một quốc gia, cho đến bến bờ biển rộng-tất cả mặt đất, đầy khắp mọi nơi đều là xương trắng. Tiếp tục dùng lực tác ý thắng gi ải, cho nên từ đó dần dần tóm lược rời bỏ mặt đất đầy xương trắng quán đến một quốc gia, rời bỏ một quốc gia quán đến một khu thành, c ho đến rời bỏ một căn phòng quán đến một chiếc giường. Tiếp tục rời bỏ tướng xương vốn có bằng một chiếc giường, chỉ quán đến xương trong thân, đó là quán về xương bàn chân, tiếp theo quán về xương mắt cá chân, tiếp theo quán về xương ống chân, cho đến cuối cùng quán về xương đầu lâu, rời bỏ xương đầu lâu buộc niệm ở giữa chặng mày. Sư Du-già ấy nếu tự tại đối với sự mở rộng và tóm lược như vậy, thì gọi là thành tựu quán Bất tịnh. Nhưng quán Bất tịnh này, có lúc ít sở duyên chứ không phải là ít tự tại, nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc ít sở duyên chứ không phải la ø ít tự tại, đó là chỉ tư duy về tướng bộ xương của thân mình, mà có thể thường xuyên tiến vào và rời khỏi quán ấy. 2. Có lúc ít tự tại chứ không phải là ít sở duyên, đó là có thể tư duy về tướng bộ xương khắp mặt đất, mà không có thể thường xuyên tiến vào và rời khỏi quán ấy. 3. Có lúc ít tự tại mà cũng ít sở duyên, đó là chỉ tư duy về tướng 274 BỘ TỲ ĐÀM 6 bộ xương của thân mình, cũng không có thể thường xuyên tiến vào và rời khỏi quán ấy. 4. Có lúc không phải là ít tự tại mà cũng không phải là ít sở duyên, đó là có thể tư duy về tướng bộ xương khắp mặt đất, cũng có thể thường xuyên tiến vào và rời khỏi quán ấy. Vả lại, quán Bất tịnh này có lúc là sở duyên vô lượng chứ không phải là tự tại vô lượng, nên làm thành bốn câu phân biệt: Đó là câu thứ hai của phần trước làm câu thứ nhất ở phần này, câu thứ nhất của phần trước làm câu thứ hai ở phần này, câu thứ tư của phần trước làm câu thứ ba ở phần này, câu thứ ba của phần trước làm câu thứ tư ở phần này. Sư Du-già ấy quán sát về tướng bất tịnh như vậy rồi, dấy lên tư duy này: Các hành sinh tử, đâu đa ùng vui mừng? Lúc bấy giờ đã hoàn toàn không ham thích đối với các hành c ủa ba cõi Dục-Sắc-Vô sắc. Bởi vì như vậy cho nên Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui đã tu trước đó liền được trọn vẹn. Bởi vì lúc ấy không vui thích đối với sinh tử cho nên đã vui mừng đối với Niết-bàn. Bởi vì nhân duyên này cho nên Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt đã tu tập trước đó đều được trọn vẹn. Như vậy là bốn Tưởng tùy chuyển lúc Tưởng về Bất tịnh chuyển. Thế nào là bốn Tưởng tùy chuyển lúc Tưởng về Chán ăn chuyển? Nghĩa là lúc người tu hành khởi lên Tưởng về Chán ăn, quán thức ăn cầm trong tay, hoặc là thức ăn trong bát từ đâu mà thành? Biết là từ các loại thóc lúa. Lại quán các loại thóc lúa từ đâu mà có? Biết là từ các loại hạt giống sai biệt trong ruộng. Lại quán các loại hạt giống do đâu mà sinh ra? Biết là do các loại bùn đất phân bón. Như vậy quán rồi liền dấy lên ý nghĩ này: Thức ăn này lần lượt chuyển đổi từ bất tịnh sinh ra, lại có thể lần lượt chuyển đổi sinh ra các thứ bất tịnh, người nào có trí mà tham đắm trong đó? Vả lại, hành giả ấy hoặc là thường đi khất thực, hoặc là ăn trong Tăng chúng. Thường đi khất thực: Lúc sáng sớm xỉa răng súc miệng, đối với nước dấy lên tưởng về nước tiểu, đối với tăm xỉa răng dấy lên tưởng về xương ngón tay. Lúc mặc áo ôm bát đi vào thôn làng, đối với áo dấy lên tưởng về da người ẩm ướt, đối với dây lưng dấy lên tưởng về ruột người, đối với bình bát dấy lên tưởng về đầu lâu, đối với tích trượng dấy lên tưởng về xương ống chân, đối với đá sỏi nhìn thấy giữa đường đi dấy lên tưởng về xương khô. Đã đến thôn làng thấy những tường thành dấy lên tưởng về mồ mả, thấy những trai gái dấy lên tưởng về bộ xương. Vào lúc khất thực, nếu có được bánh thì dấy lên tưởng về bụng SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 166 275 www.daitangkinh.org người, nếu có được bột rang thì da áy lên tưởng về xương vụn, nếu có được muối thì dấy lên tưởng về răng người, nếu có được cơm thì dấy lên tưởng về giòi bọ, nếu có được các loại rau thì dấy lên tưởng về tóc người, nếu có được canh thịt thì dấy lên tưởng về chất nước cặn bã, nếu có được sữa đặc thì dấy lên tưởng về não người, nếu có được bơ sữa thì dấy lên tưởng về mỡ người, nếu có được cá và thịt thì dấy lên tưởng về thịt người, nếu có được các thức uống thì dấy lên tưởng về máu người, nếu có được những viên thuốc Hoan hỷ thì dấy lên tưởng về phân khô. Ăn trong Tăng chúng: Nếu có được rau sạch thì dấy lên tưởng về tóc người chết, ngồi ở nơi giường ghế dấy lên tưởng về đống xương, đối với những đồ ăn thức uống có được dấy lên Tưởng về Bất tịnh, đều nói như trước. Hỏi: Vì sao hành giả đối với những đồ ăn thức uống đều dấy lên Tưởng về Bất tịnh? Đáp: Lúc ấy hành giả dấy lên tư duy như vậy: Mình từ vô thỉ đến nay chìm trong sinh tử, bởi vì đối với bất tịnh dấy lên Tưởng về tịnh, cho nên luân hồi khắp năm nẽo nhận chịu những sự khổ não. Nay muốn tránh xa nơi ấy, hướng về niềm vui Niết-bàn, vì thế cho nên từ trong đó quán làm bất tịnh. Lại nữa, lúc ấy hành giả dấy lên ý nghĩ này: Đừng làm cho mình đối với đồ ăn thức uống sinh ra ý tưởng về tịnh, bởi vì tăng thêm tâm tham chướng ngại Thánh đạo. Cho nên đối với đồ ăn thức uống dấy lên Tưởng về Bất tịnh, do Tưởng về Bất tịnh mà có thể chán ngán lìa bỏ. Sư Du-già ấy đối với thức a ên khởi lên Tưởng chán ngán như vậy rồi, dấy lên tư duy này: Các ha ønh sinh tử, đâu đáng vui mừng? Liền sinh ra chán ngán đối với các hành c ủa ba cõi. Bởi vì như vậy cho nên Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui đã tu trước đó liền được trọn vẹn. Bởi vì lúc ấy chán ngán đối với sinh tử cho nên đã vui mừng đối với Niết-bàn. Bởi vì nhân duyên này cho nên Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt đã tu tập trước đó đều được trọn vẹn. Như vậy là bốn Tưởng tùy chuyển lúc Tưởng về Bất tịnh chuyển. Thế nào là bảy Tưởng tùy chuyển lúc Tưởng về Chết chuyển? Nghĩa là lúc người tu hành khởi lên Tưởng về Chết, quán sát các pháp sinh diệt trong từng niệm từng niệm. Người ấy vào mùa Xuân nhìn thấy các loại cỏ cây trổ lá đơm hoa tươi đẹp, hồng tím rực rỡ như màu sắc của vật báu tuyệt vời, sông ngòi ao hồ dần tràn đầy nước, chim cá líu lo đùa vui, liền dấy lên nghĩ như vậy: Lúc này các pháp bên ngoài sinh sôi. Người ấy đi vào thôn làng 276 BỘ TỲ ĐÀM 6 thấy những trai gái, vui mừng ca hát nhảy múa ăn uống, liền đi đến hỏi: Nơi này vì sao như vậy? Trả lời rằng: Nơi này sinh con trai-sinh con gái. Liền dấy lên nghĩ như vậy: Lúc này các pháp bên trong sinh sôi. Lại vào mùa Hạ nhìn thấy các loại cỏ cây, cành nhánh vút cao um tùm-hoa lá tươi tốt, sông hồ dâng tràn, sóng lớn quay vòng tung bọt vỗ vào ven bờ, liền dấy lên nghĩ như vậy: Lúc này các pháp bên ngoài nay đã hưng thịnh. Người ấy đi vào thôn làng thấy những trai gái, đánh trống thổi kèn-ca múa vui cười sung sướng, ngựa xe tấp nập rộn ràng, liền đi đến hỏi: Nơi này vì sao như vậy? Trả lời rằng: Trong vùng này có việc lấy vợ-lấy chồng. Liền dấy lên nghĩ như vậy: Lúc này các pháp bên trong nay đã lớn mạnh. Lại vào mùa Thu nhìn thấy các loạ i cỏ cây, bị mặt trời mùa Thu hong khô, gió lạnh thổi vào, màu xanh tiêu hết, lá đều vàng úa, dòng nước chảy vào sông hồ dần dần gia ûm bớt, liền dấy lên nghĩ như vậy: Lúc này các pháp bên ngoài nay đã suy tàn. Người ấy đi vào thôn làng thấy những trai gái, tóc bạc-mặt nh ăn cầm gậy mà đi, thân hình còm xuống hơi thở hổn hển, liền dấy lên nghĩ như vậy: Lúc này các pháp bên trong nay đã già yếu. Lại vào mùa Đông nhìn thấy các loại cỏ cây, sương gió lững lờ lay động, lá đều lả tả rơi rụng, cành nhánh bị gãy chết khô, dòng nước chảy vào sông hồ dần dần đều hết cho đến khô cạn, liền dấy lên nghĩ như vậy: Lúc này các pháp bên ngoài nay đã diệt mất. Người ấy đi vào thôn làng thấy những trai gái, đầu t óc rối tung-đấm ngực kêu gào, lăn lộn đưới đất, liền đi đến hỏi: Nơi này vì sao như vậy? Trả lời rằng: Nơi này cha mẹ qua đời. Liền dấy lên nghĩ như vậy: Lúc này các pháp bên trong nay đã diệt mất. Người ấy đối với Vô thường trong-ngoài như vậy, cố gắng giữ lấy tướng rồi nhanh chóng trở về nơi cư trú, rửa chân trải chỗ ngồi, ngồi xếp bằng tròn điều hòa thân tâm, làm cho thân tâm mềm mại, thân tâm có thể chịu đựng, thân tâm không còn khó chịu, thân tâm lìa xa phiền não. Đã làm cho thân tâm lìa xa cá c phiền não rồi, bên trong trú vào tâm ấy, tu tập đối với Tưởng về Chết. Nghĩa là như các tướng Vô thường đã nhìn thấy, quán sát một thời kỳ trong thân, lúc các Uẩn tiến vào thai thì sinh ra, cho đến lúc già-chết thì diệt đi. Lại đối với một thời kỳ có bao nhiêu phần vị, các Uẩn đều khác SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 166 277 www.daitangkinh.org nhau, rời bỏ mọi phần vị tùy theo quán một phần vị, các Uẩn trước sinh ra-sau diệt đi. Lại đối với một phần vị có bao nhiêu năm, các Uẩn đều khác nhau, rời bỏ mọi năm tùy theo quán một năm, các Uẩn trước sinh ra-sau diệt đi. Lại đối với một năm có bao nhiêu mùa, các Uẩn đều khác nhau, rời bỏ mọi mùa tùy theo quán một mùa, các Uẩn trước sinh ra-sau diệt đi. Lại đối với một mùa có bao nhiêu tháng, các Uẩn đều khác nhau, rời bỏ mọi tháng tùy theo quán một tháng, các Uẩn trước sinh ra-sau diệt đi. Lại đối với một tháng có bao nhiêu ngày đêm, các Uẩn đều khác nhau, rời bỏ mọi ngày đêm tùy theo quán một ngày đêm, các Uẩn trước sinh ra-sau diệt đi. Lại đối với một ngày đêm có ba o nhiêu Mâu-hô-lật-đa, các Uẩn đều khác nhau, rời bỏ mọi Mâu-hô- lật-đa tùy theo quán một Mâu-hô- lật-đa, các Uẩn trước sinh ra-sau diệt đi. Lại đối với một Mâu-hô-lật-đa có bao nhiêu Lạp-phược, các Uẩn đều khác nhau, rời bỏ mọi Lạp-phược tùy theo quán một Lạp-phược, các Uẩn trước sinh ra-sau diệt đi. Lại đối với một Lạp-phược có bao nhiêu Đát-sát-na, các Uẩn đều khác nhau, rời bỏ mọi Đát-sát-na tùy theo quán một Đát-sát-na, các Uẩn trước sinh ra-sau diệt đi. Lại đối với một Đát-sát-na co ù bao nhiêu Sát-na, các Uẩn đều khác nhau, bởi vì Sát-na nhiều nhất cho nên ở trong đó dần dần quán tóm lược, cho đến quán Uẩn trong hai Sát-na sinh ra, hai Sát-na diệt đi, thì gọi là trọn vẹn gia hạnh về quán Sinh diệt. Từ đây không gián đoạn có thể quán các Uẩn trong một Sát-na sinh ra, một Sát-na diệt đi, thì gọi là thành tựu về quán Sinh diệt. Lúc bấy giờ gọi là trọn vẹn Tưởng về Chết, bởi vì các phần vị diệt đi tức là chết. Người tu hành ấy quán tỉ mỉ ( đế quán) về Uẩn sinh diệt rồi, liền dấy lên nghĩ như vậy: Đức Thế T ôn đã nói các hành Vô thường, quả thật là khéo nói, bởi vì sinh diệt tức là Vô thường. Như vậy lúc hành giả chuyển Tưởng về Chết, làm cho các Tưởng về Vô thường đã tu trước đó đều được trọn vẹn. Hành giả lại quán các Uẩn nối tiếp nhau, Uẩn trong sát-na tr ước bởi vì Uẩn trong sát-na sau đã bức bách, cho nên sinh ra rồi liền diệt đi. Như vậy quán rồi liền dấy lên ý nghĩ này: Đức Thế Tôn đã nói Vô thường cho nên Khổ, quả thật 278 BỘ TỲ ĐÀM 6 là khéo nói, bởi vì bức bách tức là Khổ. Như vậy lúc hành giả chuyển Tưởng về Chết, làm cho các Tưởng về Vô thường-Khổ đã tu trước đó đều được trọn vẹn. Hành giả lại quán Uẩn trong sát-na trước vừa diệt đi, Uẩn trong sát-na sau đã sinh ra. Giả sử Uẩn trước nghĩ rằng nay mình không diệt đi, Uẩn sau nghĩ rằng nay mình không sinh ra, lúc ấy đối với sự mong muốn đều không tự tại, bởi vì Uẩn trước do sau thúc ép cho nên chắc chắn diệt đi, Uẩn sau do trước lôi kéo cho nên chắc chắn sinh ra. Như vậy quán rồi liền dấy lên ý nghĩ này: Đức Thế Tôn đã nói Tưởng về Khổ-Vô ngã, quả thật là khéo nói, bởi vì không tự tại tức là Vô ngã. Như vậy lúc hành giả chuyển Tưởng về Chết, làm cho Tưởng về Khổ-Vô ngã đã tu trước đó đều được trọn vẹn. Hành giả lại quán các hành sinh diệt không tự tại, cho nên ở trong tụ hành trống rỗng, không sinh lòng ham thích, vì vậy mà không sinh lòng vui thích đối với các hành của ba cõi. Như vậy lúc chuyển Tưởng về Chết, làm cho Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui đã tu trước đó đều được trọn vẹn. Người tu hành ấy đã không vui thích đối với sinh tử cho nên liền vui với Niết-bàn. Như vậy lúc chuyển Tưởng về Chết, làm cho Tưởng về Đoạn-Lìa- Diệt đã tu trước đó đều được trọn vẹn. Vì vậy cho nên nói là bảy Tưởng tùy chuyển lúc Tưởng về Chết chuyển. Hỏi: Lúc tu các Tưởng có tác ý thắng giải, có tác ý chân thật; tác ý thắng giải ấy đã quán sát không thật, sao không phải là điên đảo? Đáp: Bởi vì người tu hành ấy biết không phải là chân thật, không sinh tâm chấp là thật, cho nên không phải là điên đảo. Hỏi: Nếu biết là không thật thì tại sao vẫn còn thực hiện? Đáp: Bởi vì chế phục phiền não, cho nên cần phải thực hiện. Hỏi: Pháp này nếu không thật, thì làm sao có thể chế phục phiền não? Đáp: Bởi vì thực hiện về Tưởng ấy, thì có năng lực chế phục được phiền não. Như đối với người nữ khác dấy lên Tưởng về mẹ thì không sinh lòng tham nhiễm, đối với người oán ghét mà dấy lên Tưởng về người thân thương thì không sinh lòng giận dữ, đối với tôi tớ mà dấy lên Tưởng về tôn quý thì không sinh lòng kiêu mạn, pháp này cũng như vậy cho nên cần phải quán sát.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt