A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 167
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
無常想等攝幾靜慮等耶。答無常想攝四靜 慮四無色四解脫。乃至廣說。問何故作此論。 答欲止他宗顯己義故。如分別論者。許 他性攝遮自性攝。今止彼意許自性攝遮 他性攝故作斯論。問何故此中不說想還 攝想。答有說。是作論者意欲爾故。乃至 廣說。有說。此中應作是問。無常想等攝 幾想等耶。答無常想攝無常想。乃至一 切世間不可樂想。攝一切世間不可樂想。 應作是說而不說者當知此義有餘。有 說。此中欲成立未成立義。想還攝想不待 成立是故不說。問若爾後文亦不應說初 靜慮等。還攝初靜慮等。有說。靜慮等攝多 法體非於多法。自性攝義不說自成想唯 一法是故非難。有說。彼亦不應說靜慮等 攝靜慮等。而說者欲現種種文種種說。由 種種文種種說莊嚴於義。義則易解。有說。 為現二門二略二階二炬二明二光二種文 影。如不說想攝想。如是亦應不說靜慮 攝靜慮等。如後說靜慮攝靜慮等。如是亦 應說想攝想。欲令彼此二義俱通。故作二 文互相影發。有說。此中辯攝及相應義。以 想對想但有攝義。無相應義是故不說。此 不應理於智等持。亦不應說無相應故。 應作是說。想自性無雜於攝易了是故不 說。智與等持或自性有雜。或行相有雜。於 攝難了是故則說。無常想攝四靜慮者。此 即總說。然諸靜慮皆五蘊性。此無常想唯攝 想蘊不攝餘蘊。於想蘊中唯攝無常想不 攝餘想。於無常想中過去攝過去。未來 攝未來。現在攝現在。有漏攝有漏。無漏攝 無漏。學攝學。無學攝無學。非學非無學攝 非學非無學。退法攝退法。乃至不動法攝不 動法。於中在初靜慮者攝初靜慮。乃至在 第四靜慮者攝第四靜慮。是故總說攝四靜 慮。如說攝四靜慮。攝四無色四解脫亦爾。 差別者。四無色四解脫四蘊為性。餘想隨應 亦准此說。然諸想皆以想為自性故。皆不 攝智三摩地第八解脫。問無常想亦通欲界 繫。此中何故不說。答有說應說而不說者 當知。此義有餘。有說。無常想在欲界者。 是加行非根本。此中唯說根本是故不說。 有說。今此定蘊唯說定地法故不說欲界。 有說。此中以十想對靜慮等門為問。欲界 非靜慮等門是故不說。餘想不說義亦同 此。如無常想。無常苦想苦無我想死想斷想 離想滅想亦爾。皆在八等至通有漏無漏 故。此七想以所緣行相異故。不攝初三解 脫。八勝處。十遍處。及無量不淨想。攝第三 第四靜慮初二解脫。問四靜慮中皆有不淨 想。何故唯說攝第三第四靜慮耶。答亦應 說攝初第二靜慮。而不說者。當知此義 有餘。有說。若說攝初二解脫。當知已說攝 初二靜慮。以初二解脫在初二靜慮故。有 說。此中舉後顯初。舉離喜地顯有喜地 故。有說。初二靜慮無不淨想是故不說。所 以者何。彼二地皆有喜根一切喜根欣歡行 轉。不淨想厭慼行轉非一心中二行轉故。問 若爾者此想所攝初二解脫在何地耶。答 在二近分非根本地。亦以與喜受相違 故。問若爾後文不應說初二靜慮。攝初二 解脫前四勝處。答彼說靜慮亦攝眷屬。如 說城邑亦攝城邑邊。問若爾不應說不淨 想攝第三靜慮。以彼地有樂受亦與不淨 想相違故。答第三靜慮言亦攝眷屬。非根 本地是故無過。若爾此中亦應說不淨想 攝初二靜慮。以汝俱許在近分地無差別 故。如是說者。初二靜慮根本地中。亦有不 淨想及初二解脫。若謂無者應無有能離 此地染。以此地有增上喜動踊其心。若無 不淨想初二解脫制伏彼者。諸瑜伽師豈能 離彼地染。又彼亦應無苦集忍智以彼厭 行轉故。由此亦應無無常想無常苦想。問 云何喜受作厭行轉耶。答能自在厭故亦生 喜。即生喜時於彼亦厭。如勝怨時亦厭亦 喜。有說。如王與將士摧怨敵已共受喜 樂。如是行者以不淨想等摧欲界已。於 初靜慮等共受喜樂。有說。初靜慮中初二解 脫及不淨想。對治欲界鼻舌二識。第二靜慮 初二解脫及不淨想。對治初靜慮眼耳身識。 是故初二靜慮中定有初二解脫及不淨想。 然此中略故不說不淨想攝初二靜慮。有 說。不淨想實在四靜慮。然此唯說攝第三第 四靜慮者。以第三靜慮有生死中殊勝受 樂。第四靜慮有生死中殊勝輕安樂。難厭難 捨故於是中說不淨想。初二靜慮中無如 是樂故不說攝。問何故不淨想但說攝初 二解脫。不說攝前四勝處耶。答不淨想是 初修總觀與初二解脫相似故攝。勝處是後 起別觀故不相攝。如不淨想厭食想亦爾。 問厭食想非解脫自性。云何亦攝初二解脫。 答此文但應說厭食想攝第三第四靜慮。而 說如不淨想者。欲顯厭食想以不淨想 為加行。說厭食想及加行。故說如不淨想。 有說。厭食想與不淨想相雜相引有相攝 義。是故說攝如不淨想。有說。厭食想亦作 不淨行轉。如說若得飯時作虫蛆想。乃至 廣說。是故亦攝初二解脫俱觀色處不淨 轉故。問若厭食想與不淨想俱觀色處不 淨轉者。世尊所說厭食想不淨想何差別。答 體實無別但以所對治愛有差別故建立 二想。謂不淨想對治婬欲愛。厭食想對治段 食愛。評曰。不應作如是說。佛所安立十 想各各異故。又段食愛緣段食起。香味觸處 是段食性。若許此想對治彼愛。云何說同 不淨想觀色處故攝初二解脫耶。是故應 知初說為善。此二想所緣行相。及地異故。 不攝餘解脫勝處及遍處無量一切世間不 可樂想。攝第三第四靜慮。問初第二靜慮亦 有此想何故不說攝耶。答此文應說攝四 靜慮。而但說攝後二者。當知此義有餘。有 說。此中舉後顯初。有說。上二靜慮是殊勝 可愛樂地。以有最勝受樂及最勝輕安樂 故。於如是地說有此想。顯修行者於勝 樂地中。尚能起不可樂想。況於餘處是故 唯說攝此二地。有說。初靜慮為尋伺風所 動。第二靜慮為極喜水所漂。雖有不淨厭 食一切世間不可樂想。而不明淨。後二靜慮 與此相違故說攝彼此想所緣行相及地異 故。不攝一切解脫勝處遍處無量。 初靜慮等攝幾靜慮等耶。答初靜慮攝初靜 慮四無量初二解脫前四勝處八智三三摩 地。第二靜慮攝第二靜慮四無量。初二解脫 前四勝處八智三三摩地。第三靜慮攝第三 靜慮三無量八智三三摩地。第四靜慮攝第 四靜慮三無量淨解脫後四勝處前八遍處八 智三三摩地。此中四靜慮皆以自根本地五 蘊為性。故得攝此諸門功德。應知皆是自 性攝非他性攝。 慈無量等攝幾無量等耶。答慈攝慈世俗智 乃至捨攝捨世俗智。此中四無量皆以俱生 品諸蘊為性故。得攝世俗智總緣有情為 境故。不攝解脫勝處遍處及他心智有漏 故。不攝餘智三三摩地。 空無邊處等攝幾無色等耶。答空無邊處攝 空無邊處。及彼解脫彼遍處六智三三摩地。 識無邊處攝識無邊處及彼解脫彼遍處六 智三三摩地。無所有處攝無所有處及彼 解脫六智三三摩地。非想非非想處攝非想 非非想處及彼解脫滅想受解脫世俗智。此 中四無色皆以自根本地四蘊為性故。得 攝此所有功德。六智者。除法智他心智。此 二不依無色地故。 初解脫等攝幾解脫等耶。答初第二第三解 脫攝初第二第三解脫世俗智。空無邊處解 脫攝空無邊解脫及彼遍處六智三三摩地。 識無邊處解脫攝識無邊處解脫及彼遍處 六智三三摩地。無所有處解脫。攝無所有處 解脫六智三三摩地。非想非非想處解脫。攝 非想非非想處解脫世俗智。滅想受解脫攝 滅想受解脫。此中前三解脫皆以俱生品五 蘊為性故。得攝世俗智。是初總觀故不攝 勝處遍處。是有漏故。不攝餘智三三摩地。 緣色故不攝他心智。四無色解脫各以自 地加行善四蘊為性。是故得攝後二遍處 及六智三三摩地。 初勝處等攝幾勝處等耶。答初勝處攝初勝 處世俗智乃至第八勝處。攝第八勝處世俗 智。此中八勝處皆以俱生品五蘊為性故。 得攝世俗智勝處。是中觀故不攝遍處。有 漏故不攝餘智三三摩地。緣色故不攝他 心智。初遍處等攝幾遍處等耶。答初遍處 攝初遍處世俗智乃至第十遍處。攝第十遍 處世俗智。此中十遍處皆以俱生品五蘊四 蘊為性故。得攝世俗智。有漏故不攝餘智 三三摩地。緣色及地異故不攝他心智。 法智等攝幾智等耶。答法智攝法智五智少 分。乃至廣說。法智攝法智者。法智在六地。 謂未至定。靜慮中間。及四靜慮。未至定攝未 至定。乃至第四靜慮攝第四靜慮。又法智在 三道。謂見道修道無學道。見道攝見道。乃至 無學道攝無學道。又法智緣四諦。苦法智 攝苦法智。乃至道法智攝道法智。又法智 在四道。謂加行無間解脫勝進道。加行道攝 加行道。乃至勝進道攝勝進道。又法智墮三 世。過去攝過去。未來攝未來。現在攝現在。 於中乃至此剎那攝此剎那。彼剎那攝彼剎 那。此中總說故但言法智攝。法智攝五智少 分者。謂法智亦攝他心智。四諦智少分。他 心智通有漏無漏。此唯攝無漏。無漏中有 法智類智。此唯攝法智故言少分。四諦智 各通法智類智。此唯攝法智故言少分。類 智攝類智五智少分者。如法智說。差別者。 此在九地。他心智攝他心智者。他心智在 四根本靜慮。初靜慮攝初靜慮。乃至第四靜 慮攝第四靜慮。又他心智通有漏無漏。有漏 攝有漏。無漏攝無漏。又他心智有法智類 智。法智攝法智。類智攝類智。又他心智有 學無學非學非無學。學攝學。乃至非學非 無學攝非學非無學。又他心智墮三世。過去 攝過去。未來攝未來。現在攝現在。於中乃 至此剎那攝此剎那。彼剎那攝彼剎那。此中 總說故。但言他心智攝他心智。攝四智少 分者。謂他心智亦攝法智類智世俗智道智 小分。法智類智各緣四諦。此唯攝緣道諦 少分。故言少分世俗智在十八地。謂欲界 靜慮中間四靜慮。四無色。及彼近分。此唯攝 四靜慮。於四靜慮中。有善染污無覆無記。 此唯攝善。於善中有生得聞所成修所成。 此唯攝修所成。於修所成中有加行無間 解脫勝進道。此唯攝勝進。於勝進道中。有 順退分順住分順勝進分順決擇分。此唯攝 順住分。於順住分中。有緣過去未來現在及 離世。此唯攝緣現在。於緣現在中有緣自 相續緣他相續。此唯攝緣他相續。緣他相續 中有緣心心所。有緣五蘊。此唯攝緣心心所 緣。心心所中有緣一法有緣多法。此唯攝 緣一法。緣一法中。有是他心智。有非他心 智。此唯攝他心智。由如是義故言少分。道 智在九地。謂未至定。靜慮中間四靜慮。三無 色。此唯攝四靜慮。於四靜慮中。有見道修 道無學道。此唯攝修道無學道。於此二中 有加行無間解脫勝進道。此唯攝勝進道。 於勝進道中有緣過去未來現在。此唯攝 緣現在。於緣現在中。有緣自相續有緣他 相續。此唯攝緣他相續。於緣他相續中有 緣心心所法。有緣五蘊。此唯攝緣心心所 法。於緣心心所法中。有緣一法有緣多法。 此唯攝緣一法。於緣一法中。有是他心智 有非他心智。此唯攝他心智。由如此義故 言少分。世俗智攝世俗智者。世俗智在十 八地如前說。欲界攝欲界。乃至非想非非 想處攝非想非非想處。又世俗智有善染污 無覆無記。善攝善。乃至無覆無記攝無覆無 記。於善中有加行得離染得生得。加行得 攝加行得。乃至生得攝生得。復有順退分 乃至順決擇分。順退分攝順退分。乃至順決 擇分攝順決擇分。復有加行道乃至勝進道。 加行道攝加行道。乃至勝進道攝勝進道。復 有過去未來現在。過去攝過去。乃至現在 攝現在。於中乃至此剎那攝此剎那。彼剎 那攝彼剎那。此中總說故言世俗智攝世 俗智。一智少分者。謂世俗智亦攝他心智少 分。他心智通有漏無漏。此唯攝有漏故言 少分。苦智攝苦智者。苦智在九地。在三 道。在四道。墮三世。墮剎那。隨在何地何 道。墮何世。何剎那。即彼地。彼道。彼世。彼剎 那攝。此中總說故言苦智攝苦智。二智少 分者。謂苦智亦攝法智類智少分。法智類智 各緣四諦。此唯攝緣苦諦故言少分。集智 攝集智二智少分。滅智攝滅智二智少分 者。皆如苦智說。道智攝道智者。亦如苦智 說。三智少分者。謂道智亦攝法智類智他心 智少分。法智類智各緣四諦。此唯攝緣道 諦。他心智通有漏無漏。此唯攝緣無漏故 言少分。空三摩地等攝幾三摩地耶。答空 攝空。無願攝無願。無相攝無相。空三摩地 緣苦諦二行相轉。無願三摩地緣三諦十行 相轉。無相三摩地緣滅諦四行相轉。於中一 一行相皆在九地。在三道。在四道。墮三世。 墮剎那。隨何行相。在何地。何道。墮何世。 何剎那。即彼行相。彼地。彼道。彼世。彼剎那 攝。此中總說故言空攝空。乃至無相攝無 相。三三摩地雖通有漏。此中依解脫門說 故唯攝無漏。 如攝可得亦爾由自體於自體可得是攝 義故。謂自體於自體。是有。自體於自體。是 實。自體於自體。是現有。是不異。是不外。是 不相離。是不解脫。是無差別。是不空。是不無 非客非遠非二非諍。諸如是等皆是可得 義故。諸法自體攝自體。非如以手攝食以 指攝衣。但一切法障礙自體。令究竟不捨 故名為攝。有餘師說。此自體攝有四種。謂 各別界。各別物。各別剎那。各別相續。各別界 者。謂眼界攝眼界。乃至法界攝法界。各別 物者。謂法界中有七物。即色受想行。及三 無為。色攝色。乃至非擇滅攝非擇滅。各別 剎那者。謂色中有過去未來現在。過去攝過 去。乃至現在攝現在。各別相續者。謂現在色 有墮自相續。有墮他相續。自相續攝自相 續。他相續攝他相續。由此理趣餘應准知。 故言如攝可得亦爾。攝與可得義無異故。 無常想等與幾靜慮等相應耶。答無常想與 四靜慮四無色四解脫四智一三摩地相應。 乃至廣說。問何故作此論。答為止愚於相 應法執相應法非實有者意顯相應法是 實有故。而作斯論。無常想與四靜慮相應 者。四靜慮皆五蘊性。此想與彼二蘊全。一蘊 少分相應。與四無色四解脫相應者。四無 色及四無色解脫皆四蘊性。此想與彼二蘊 全。一蘊少分相應。與四智相應者。謂與法 智類智。世俗智苦智。相應。一三摩地相應者。 謂緣苦無願。如無常想。無常苦想。苦無我 想。死想。斷想。離想。滅想。亦爾者。此依皆與 四智一三摩地相應。數同故言亦爾。於中 一切同者。謂死想行想異而名同者。謂無常 苦想智名同。餘不同者。謂苦無我想。與空三 摩地相應故。唯有數同餘皆不同者。謂斷離 滅想。與滅智無相三摩地相應故。不淨想 與後二靜慮初二解脫世俗智相應者。此想 與四靜慮相應。而但言後二靜慮相應者。 如攝中說。如不淨想厭食想亦爾者。此想 實不與初二解脫相應。而說與相應者。亦 如攝中說。一切世間不可樂想。與後二靜慮 世俗智相應者。此想亦與四靜慮相應。而 但言與後二相應者亦如攝中說。初靜慮 等與幾靜慮等相應耶。答初靜慮與初靜慮 四無量初二解脫前四勝處八智三三摩地 相應。第二靜慮與第二靜慮四無量初二解 脫前四勝處八智三三摩地相應。第三靜慮 與第三靜慮三無量八智三三摩地相應。第 四靜慮與第四靜慮三無量淨解脫後四勝 處前八遍處八智三三摩地相應。此中四靜 慮皆以自地五蘊為性。一一地俱生四蘊展 轉相應故。言初靜慮與初靜慮。乃至第四靜 慮與第四靜慮相應。非自性與自性有相 應義。又以一一靜慮攝多法。故得與諸無 量等功德相應。三無量者除喜無量。後二靜 慮無喜根故。諸有欲令喜無量不以喜受 為自性者。亦說此與喜受相應故。彼二地 唯三無量。 慈無量等與幾無量等相應耶。答慈與慈世 俗智相應。乃至捨與捨世俗智相應。慈等 雖以無瞋善根等為自性。而此中所說總 攝自性相應俱有。為慈等體故說慈與慈 相應。乃至捨與捨相應。即是俱生四蘊互相 應義。空無邊處等。與幾無色等相應耶。答 空無邊處與空無邊處及彼解脫彼遍處六 智三三摩地相應。識無邊處與識無邊處及 彼解脫彼遍處六智三三摩地相應。無所有 處與無所有處及彼解脫六智三三摩地相 應。非想非非想處與非想非非想處及彼解 脫世俗智相應。此中四無色皆以自地四蘊 為性。一一地俱生四蘊展轉相應故。言空無 邊處與空無邊處。乃至非想非非想處與非 想非非想處相應。又以一一無色攝多法 故。得與餘所說功德相應。六智者如攝中 說。 初解脫等與幾解脫等相應耶。答初第二第 三解脫。與初第二第三解脫世俗智相應。空 無邊處解脫與空無邊處解脫及彼遍處六 智三三摩地相應。識無邊處解脫與識無邊 處解脫及彼遍處六智三三摩地相應。無所 有處解脫與無所有處解脫六智三三摩地 相應。非想非非想處解脫與非想非非想處 解脫世俗智相應。滅想受解脫非相應。前三 解脫雖皆以無貪善根為自性。而此中所 說總以自性相應俱有法為體故。說初第二 第三解脫與初第二第三解脫相應。即是俱 生四蘊互相應義。四無色解脫如四無色說。 滅想受解脫雖有多法如心心所不相離 俱時起。而無所依所緣行相同義故非相 應。 初勝處等與幾勝處等相應耶。答初勝處與 初勝處世俗智相應。乃至第八勝處與第八 勝處世俗智相應。此中八勝處雖皆無貪善 根為自性。而此中所說總以自性相應俱有 法為體故。說初勝處與初勝處。乃至第八 勝處與第八勝處相應。 初遍處等與幾遍處等相應耶。答初遍處與 初遍處世俗智相應。乃至第十遍處與第十 遍處世俗智相應。前八遍處雖以無貪善 根為自性。此中所說總以自性相應俱有 法為體。後二遍處總以俱生四蘊為性。故 言初遍處與初遍處。乃至第十遍處與第十 遍處相應。法智等與幾三摩地相應耶。答 法智與三三摩地少分相應。乃至廣說。法智 與三三摩地少分相應者。此智不與類智 及一切忍俱三三摩地相應故言少分。如法 智類智亦爾者。此智不與法智及一切忍俱 三三摩地相應故言亦爾。他心智與一三 摩地少分相應者。此智與苦集滅智及他心 智所不攝道智。并一切忍俱。三摩地不相 應故言少分。即是與一緣道無願三摩地少 分相應義如他心智。集滅道智亦爾者。此 依數同故說亦爾。然集智唯與緣集無願 三摩地少分相應。滅智唯與無相三摩地少 分相應。道智唯與緣道無願三摩地少分相 應。皆除忍俱三摩地故。苦智與二三摩地 少分相應者。此智唯與智俱。空三摩地。及 苦智俱無願三摩地相應故言少分。三三摩 地門不別說相應者。對前諸門具已說故。 於自門中無相應故。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 167 279 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 167 LUẬN VỀ NHIẾP (Phần 2) Hỏi: Tưởng về Vô thường… thâu nhiếp mấy Tĩnh lự…? Đáp: Tưởng về Vô thường thâu nhiếp bốn Tĩnh lự, bốn Vô sắc, bốn Giải thoát. Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày về nghĩa của mình. Như Luận giả Phân Biệt chấp nhận thâu nhiếp tánh khác, ngăn chặn thâu nhiếp tự ta ùnh. Nay ngăn chặn ý đó, chấp nhận thâu nhiếp tự tánh, ngăn chặn thâu nhiếp tánh khác, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Vì sao trong này không nói Tưởng trở lại thâu nhiếp Tưởng? Đáp: Có người nói: Bởi vì là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói rộng ra. Có người nói: Trong này nên đưa ra cách nói này: “Tưởng về Vô thường… thâu nhiếp mấy Tưởng…? Đáp: Tưởng về Vô thường thâu nhiếp Tưởng về Vô thường, cho đến Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, thâu nhiếp Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui.” Cần phải đưa ra cách nói này, mà không nói thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Trong này muốn thành lập về nghĩa chưa thành lập, Tưởng trở lại thâu nhiếp Tưởng không cần thành lập, cho nên không nói. Hỏi: Nếu như vậy thì văn sau c ũng không cần nói là Tĩnh lự thứ nhất… trở lại thâu nhiếp Tĩnh lự thứ nhất…? Đáp: Có người nói: Các Tĩnh lự thâu nhiếp Thể của nhiều pháp, không phải là đối với nhiều pháp, nghĩa về thâu nhiếp tự tánh không nói mà tự thành, Tưởng chỉ là một pháp, cho nên không phải là vấn nạn. 280 BỘ TỲ ĐÀM 6 Có người nói: Văn ấy cũng không cần nói là các Tĩnh lự thâu nhiếp các Tĩnh lự, mà nói đến là muốn nêu rõ các loại văn từ-các loại giải thích, nhờ vào các loại văn từ-các loại giải thích bổ sung cho nghĩa thì nghĩa sẽ dễ hiểu. Có người nói: Vì nêu rõ hai môn loại, hai phương thức, hai giai đoạn, hai ngọn đuốc, hai ánh sáng, hai ca ûnh vật, hai loại văn từ mô phỏng. Như không nói là Tưởng thâu nhiếp Tưởng, như vậy cũng không nên nói là các Tĩnh lự thâu nhiếp các Tĩnh lự. Như văn sau nói là các Tĩnh lự thâu nhiếp các Tĩnh lự, như vậy cũng nên nói là Tưởng thâu nhiếp Tưởng. Muốn làm cho hai nghĩa của đôi bên đều thông suốt, cho nên đưa ra hai văn để biểu đạt phỏng theo lẫn nhau. Có người nói: Trong này phân tích về nghĩa của Thâu nhiếp và Tương ưng, bởi vì Tưởng đối với Tưởng chỉ có nghĩa về Thâu nhiếp, không có nghĩa về Tương ưng, cho nên không nói. Cách nói này không hợp lý, bởi vì đối với Trí và Đẳng trì cũng không nên nói là không có Tương ưng. Nên đưa ra cách nói này: Tự tánh của Tưởng không có xen tạp, đối với Thâu nhiếp dễ dàng hiểu rõ, cho nên không nói; Trí và Đẳng trì, hoặc là tự tánh có xen tạp, hoặc là hành tướng có xen tạp, đối với Thâ u nhiếp khó hiểu rõ ràng, cho nên nói đến. Tưởng về Vô thường thâu nhiếp bốn Tĩnh lự, đây tức là nói chung. Nhưng các Tĩnh lự đều là tánh thuộc năm Uẩn, Tưởng về Vô thường này chỉ thâu nhiếp Tưởng uẩn chứ không thâu nhiếp Uẩn khác. Ở trong Tưởng uẩn chỉ thâu nhiếp Tưởng về Vô thường chứ không thâu nhiếp Tưởng khác. Ở trong Tưởng về Vô thường, quá khứ thâu nhiếp quá khứ, vị lai thâu nhiếp vị lai, hiện tại thâu nhiếp hiện tại, hữu lậu thâu nhiếp hữu lậu, vô lậu thâu nhiếp vô lậu, Học thâu nhiếp Học, Vô học thâu nhiếp Vô học, Phi học phi vô học tha âu nhiếp Phi học phi vô học, pháp lui sụt thâu nhiếp pháp lui sụt, cho đến pháp bất động thâu nhiếp pháp bất động; trong đó ở Tĩnh lự thứ nhất thì thâu nhiếp Tĩnh lự thứ nhất, cho đến ở Tĩnh lự thứ tư thì thâu nhiếp Tĩnh lự thứ tư. Vì vậy nói chung là thâu nhiếp bốn Tĩnh lự. Như nói về thâu nhiếp bốn Tĩnh lự, thâu nhiếp bốn Vô sắc-bốn Giải thoát cũng như vậy. Sai biệt là bốn Vô sắc-bốn Giải thoát lấy bốn Uẩn làm tánh. Tưởng còn lại tùy theo thích hợp cũng dựa theo cách nói này. Nhưng các Tưởng đều lấy Tưởng làm tự tánh, đều không thâu nhiếp Trí, Tam-ma-địa và Giải thoát thứ tám. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 167 281 www.daitangkinh.org Hỏi: Tưởng về Vô thường cũng bao gồm hệ thuộc cõi Dục, trong này vì sao không nói? Đáp: Có người nói: Cần phải nói mà không nói thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Tưởng về Vô thường ở cõi Dục, là gia hạnh chứ không phải là Căn bản, trong này chỉ nói đến Căn bản, cho nên không nói. Có người nói: Nay ở chương Định Uẩn này chỉ nói đến pháp ở địa của Định, cho nên không nói đến cõi Dục. Có người nói: Trong này dùng mười Tưởng đối với các môn của Tĩnh lự để làm câu hỏi, cõi Dục không phải là các môn của Tĩnh lự, cho nên không nói. Không nói đến Tưởng khác, nghĩa cũng giống như vậy. Như Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt cũng như vậy, bởi vì thuộc về tám Đẳng chí bao gồm hữu lậu và vô lậu. Bảy Tưởng này bởi vì sở duyên và hành tướng khác nhau, cho nên không thâu nhiếp ba Giải thoát đầu, tám Thắng xứ, mười Biến xứ và Vô lượng. Tưởng về Bất tịnh tha âu nhiếp Tĩnh lự thứ ba-thứ tư, hai Giải thoát đầu. Hỏi: Trong bốn Tĩnh lự đều có Tưởng về Bất tịnh, vì sao chỉ nói là thâu nhiếp Tĩnh lự thứ ba-thứ tư? Đáp: Cũng cần phải nói thâu nhiếp hai Tĩnh lự đầu, mà không nói thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Nếu nói thâu nhiếp hai Giải thoát đầu, thì nên biết là đã nói đến thâu nhiếp hai Tĩnh lự đầu, bởi vì hai Giải thoát đầu thuộc về hai Tĩnh lự đầu. Có người nói: Trong này nêu ra phần sau để hiển bày phần đầu, cho nên nêu ra địa lìa Hỷ thì đã hiển bày về địa có Hỷ. Có người nói: Hai Tĩnh lự đầu không có Tưởng về Bất tịnh, cho nên không nói. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì hai địa ấy đều có Hỷ căn, tất cả Hỷ căn chuyển hành tướng vui mừng, Tưởng về Bất tịnh chuyển hành tướng buồn chán, không phải là hai hành tướng chuyển trong một tâm. Hỏi: Nếu như vậy thì Tưởng này đã thâu nhiếp hai Giải thoát đầu ở địa nào? Đáp: Ở hai Cận phần chứ không phải là địa Căn bản, cũng bởi vì trái ngược nhau với Hỷ thọ. Hỏi: Nếu như vậy thì văn sau không nên nói là hai Tĩnh lự đầu 282 BỘ TỲ ĐÀM 6 thâu nhiếp hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước? Đáp: Văn ấy nói Tĩnh lự cũng thâu nhiếp quyến thuộc, như nói về thành ấp cũng thâu nhiếp bên cạnh thành ấp. Hỏi: Nếu như vậy thì không nên nói Tưởng về Bất tịnh thâu nhiếp Tĩnh lự thứ ba, bởi vì địa ấy có Lạc thọ, cũng trái ngược nhau với Tưởng về Bất tịnh? Đáp: Tĩnh lự thứ ba nói là cũng thâu nhiếp quyến thuộc chứ không phải là địa Căn bản, cho nên không c ó lỗi. Nếu như vậy thì trong này cũng nên nói Tưởng về Bất tịnh thâu nhiếp hai Tĩnh lự đầu, bởi vì ông cùng chấp nhận ở địa Cận phần không c ó gì sai biệt. Nói như vậy thì trong địa Căn bản của hai Tĩnh lự đầu, cũng có Tưởng về Bất tịnh và hai Giải thoát đầu. Nếu cho rằng không có, thì lẽ ra không có ai có thể lìa nhiễm của địa này, bởi vì địa này có Hỷ tăng thượng làm lay động tâm ấy. Nếu không có Tưởng về Bất tịnh và hai Giải thoát đầu để chế phục tâm ấy, thì các Sư Du-già lẽ nào có thể lìa nhiễm của địa ấy hay sao? Vả lại, địa ấy lẽ ra cũng không có Khổ-Tập nhẫn trí để chuyển hành tướng chán ngán ấy, vì vậy lẽ ra cũng không có Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ. Hỏi: Vì sao Hỷ thọ làm chuyển hành tướng chán ngán? Đáp: Bởi vì có thể tự tại đối với chán ngán cho nên cũng sinh ra vui vẻ, ngay lúc sinh ra vui vẻ đối với điều ấy cũng chán ngán, như lúc đánh thắng kẻ thù cũng chán ngán-cũng vui vẻ. Có người nói: Như vua cùng với tướng sĩ đánh tan quân địch rồi cùng nhau thọ nhận niềm vui sướng; như vậy hành giả dùng Tưởng về Bất tịnh… trừ bỏ cõi Dục rồi, đối với Tĩnh lự thứ nhất… cùng nhau thọ nhận niềm vui sướng. Có người nói: Trong Tĩnh lự thứ nhất, hai Giải thoát đầu và Tưởng về Bất tịnh, đối trị với Tỷ-Thiệt thức của cõi Dục; trong Tĩnh lự thứ hai, hai Giải thoát đầu và Tưởng về Bất tịnh, đối trị với Nhãn-Nhĩ-Thân thức của Tĩnh lự thứ nhất, vì vậy trong hai Tĩnh lự đầu chắc chắn có hai Giải thoát đầu và Tưởng về Bất tịnh. Nhưng trong này tóm lược cho nên không nói đến Tưởng về Bất tịnh thâu nhiếp hai Tĩnh lự đầu. Có người nói: Tưởng về Bất tịnh thật ra ở bốn Tĩnh lự, nhưng ở đây chỉ nói thâu nhiếp Tĩnh lự thứ ba-thứ tư, là bởi vì Tĩnh lự thứ ba có Lạc thọ thù thắng nhất ở trong sinh tử, Tĩnh lự thứ tư có niềm vui Khinh an thù thắng nhất ở trong sinh t ử, khó chán ngán-khó rời bỏ cho nên ở trong này nói đến Tưởng về Bất tị nh; trong hai Tĩnh lự đầu không có niềm vui như vậy, cho nên không nói đến thâu nhiếp. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 167 283 www.daitangkinh.org Hỏi: Vì sao Tưởng về Bất tịnh chỉ nói thâu nhiếp hai Giải thoát đầu, chứ không nói thâu nhiếp bốn Thắng xứ trước? Đáp: Bởi vì Tưởng về Bất tịnh là bắt đầu tu pháp quán chung tương tự với hai Giải thoát đầu cho nên thâu nhiếp, Thắng xứ là về sau dấy khởi pháp quán riêng biệt cho nên không thâu nhiếp lẫn nhau. Như Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn cũng như vậy. Hỏi: Tưởng về Chán ăn không phải là tự tánh giải thoát, vì sao cũng thâu nhiếp hai Giải thoát đầu? Đáp: Văn này chỉ cần nói Tưởng về Chán ăn thâu nhiếp Tĩnh lự thứ ba-thứ tư, mà nói như Tưởng v ề Bất tịnh, là muốn hiển bày Tưởng về Chán ăn lấy Tưởng về Bất tịnh làm gia hạnh, bởi vì nói Tưởng về Chán ăn và gia hạnh, cho nên nói là như Tưởng về Bất tịnh. Có người nói: Tưởng về Chán a ên và Tưởng về Bất tịnh, xen tạp lẫn nhau-dẫn dắt lẫn nhau, có nghĩa của thâu nhiếp lẫn nhau, cho nên nói là thâu nhiếp như Tưởng về Bất tịnh. Có người nói: Tưởng về Chán ăn cũng làm chuyển hành tướng Bất tịnh, như nói nếu có được cơm thì dấy lên Tưởng về giòi bọ, cho đến nói rộng ra. Vì vậy cũng thâu nhiếp hai Giải thoát đầu, cùng quán Sắc xứ mà chuyển Bất tịnh. Hỏi: Nếu Tưởng về Chán ăn và Tưởng về Bất tịnh cùng quán Sắc xứ mà chuyển Bất tịnh, thì Đức Thế Tôn đã nói Tưởng về Chán ăn và Tưởng về Bất tịnh có gì sai biệt? Đáp: Thể thật sự không có khác nhau, nhưng bởi vì đã đối trị Ái có sai biệt, cho nên kiến lập hai Tưởng, đó là Tưởng về Bất tịnh đối trị với Ái thuộc Dâm dục, Tưởng về Chán ăn đối trị với Ái thuộc Đoàn thực. Lời bình: Không nên đưa ra cách nói như vậy, bởi vì Đức Phật đã an lập mười Tưởng đều khác nhau. Vả lại, Ái thuộc Đoàn thực duyên với Đoàn thực mà khởi lên, Hương-Vị -Xúc xứ là tánh của Đoàn thực. Nếu chấp nhận Tưởng này đối trị với Ái kia, thì tại sao nói là giống như Tưởng về Bất tịnh, quán Sắc xứ cho nên thâu nhiếp hai Giải thoát đầu? Vì vậy nên biết cách nói trước là hợp lý, bởi vì hành tướng-sở duyên và địa của hai Tưởng này khác nhau, cho nên không thâu nhiếp tất cả Giải thoát-Thắng xứ và Biến xứ-Vô lượng. Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, thâu nhiếp Tĩnh lự thứ ba-thứ tư. Hỏi: Hai Tĩnh lự đầu cũng có T ưởng này, vì sao không nói thâu nhiếp? Đáp: Văn này cần phải nói là thâu nhiếp bốn Tĩnh lự, mà chỉ nói 284 BỘ TỲ ĐÀM 6 thâu nhiếp hai Tĩnh lự sau, thì nên biết là nghĩa này có khác. Có người nói: Trong này nêu ra phần sau để hiển bày phần đầu. Có người nói: Hai Tĩnh lự trên là địa thù thắng đáng yêu thích, bởi vì có Lạc thọ thù thắng nhất và niềm vui Khinh an thù thắng nhất. Đối với địa như vậy nói có Tưởng na øy, là hiển bày về người tu hành ở trong địa vui sướng thù thắng, hãy còn có thể khởi lên Tưởng về không đáng vui, huống là ở nơi khác hay sao? Vì vậy chỉ nói là thâu nhiếp hai địa này. Có người nói: Tĩnh lự thứ nhất bị ngọn gió Tầm-Tứ làm cho lay động, Tĩnh lự thứ hai bị dòng nước vui vẻ tột độ(cực hỷ) làm cho trôi nổi, tuy có Tưởng về Bất tịnh-Chán ăn-Tất cả thế gian không đáng vui, mà không rõ ràng trong sáng; hai Tĩnh lự sau, cùng với điều này trái ngược nhau, cho nên nói là thâu nhiếp. Bởi vì hành tướng-sở duyên và địa của hai Tưởng này khác nhau, cho nên không thâu nhiếp tất cả Giải thoát-Thắng xứ và Biến xứ-Vô lượng. Hỏi: Tĩnh lự thứ nhất… thâu nhiếp mấy Tĩnh lự…? Đáp: Tĩnh lự thứ nhất thâu nhiếp Tĩnh lự thứ nhất, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ tr ước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự thứ hai thâu nhiếp Tĩnh lự thứ hai, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự thứ ba thâu nhiếp Tĩnh lự thứ ba, ba Vô lượng, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự thứ tư thâu nhiếp Tĩnh lự thứ tư, ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Trong này, bốn Tĩnh lự đều dùng năm Uẩn ở địa Căn bản của mình để làm tánh, cho nên có thể th âu nhiếp công đứ c của các môn này. Nên biết đều là thâu nhiếp tự tánh chứ không phải là thâu nhiếp tánh khác. Hỏi: Từ vô lượng… thâu nhiếp mấy Vô lượng…? Đáp: Từ thâu nhiếp Từ và Thế tục trí, cho đến Xả thâu nhiếp Xả và Thế tục trí. Trong này, bốn Vô lượng đều dùng các Uẩn thuộc phẩm câu sinh để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp Thế tục trí. Bởi vì duyên chung với hữu tình làm cảnh, cho nên không thâu nhiếp Giải thoát-Thắng xứ- Biến xứ và Tha tâm trí, hữu lậu cho nên không thâu nhiếp Trí khác và ba Tam-ma-địa. Hỏi: Không vô biên xứ… thâu nhiếp mấy Vô sắc…? Đáp: Không vô biên xứ thâu nhi ếp Không vô biên xứ, và Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Thức vô SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 167 285 www.daitangkinh.org biên xứ thâu nhiếp Thức vô biên xứ, và Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Vô sở hữu xứ thâu nhiếp Vô sở hữu xứ, và Giải thoát của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Phi tưởng phi phi tưởng xứ thâu nhiếp Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Gi ải thoát của địa ấy, Diệt Tưởng-Thọ giải thoát, Thế tục trí. Trong này, bốn Vô sắc đều dùng bốn Uẩn ở địa Căn bản của mình để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp tất cả công đức này. Sáu Trí, là trừ ra Pháp trí và Tha tâm trí, bởi vì hai Trí này không dựa vào địa Vô sắc. Hỏi: Giải thoát thứ nhất… thâu nhiếp mấy Giải thoát…? Đáp: Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba thâu nhiếp Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba và Thế tục trí. Giải thoát của Không vô biên xứ thâu nhiếp Giải thoát của Không vô biên xứ, và Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Thức vô biên xứ thâu nhiếp Giải thoát của Thức vô biên xứ, và Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Vô sở hữu xứ thâu nhiếp Giải thoát của Vô sở hữu xứ, và sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ thâu nhiếp Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Thế tục trí. Diệt Tưởng-Thọ giải thoát thâu nhiếp Diệt Tưởng-Thọ giải thoát. Trong này, ba Giải thoát trước đều dùng năm Uẩn thuộc phẩm câu sinh để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp Thế tục trí, là bắt đầu quán chung cho nên không thâu nhiếp Tha éng xứ và Biến xứ, là hữu lậu cho nên không thâu nhiếp Trí khác và ba Tam-ma-địa, duyên với Sắc cho nên không thâu nhiếp Tha tâm trí. Giải thoát của bốn Vô sắc đều dùng bốn Uẩn thiện gia hạnh của địa mì nh làm tánh, cho nê n có thể thâu nhiếp hai Biến xứ sau và sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Hỏi: Thắng xứ thứ nhất… thâu nhiếp mấy Thắng xứ…? Đáp: Thắng xứ thứ nhất thâu nhiếp Thắng xứ thứ nhất và Thế tục trí, cho đến Thắng xứ thứ tám thâu nhiếp Thắng xứ thứ tám và Thế tục trí. Trong này, tám Thắng xứ đều dùng năm Uẩn thuộc phẩm câu sinh để làm tánh, cho nên có thể thâu nhi ếp Thế tục trí. Thắng xứ là quán phần giữa(trung quán) cho nên không thâu nhiếp Biến xứ, hữu lậu cho nên không thâu nhiếp Trí khác và ba Tam-ma-địa, duyên với Sắc cho nên không thâu nhiếp Tha tâm trí. Hỏi: Biến xứ thứ nhất… thâu nhiếp mấy Biến xứ…? Đáp: Biến xứ thứ nhất thâu nhiếp Biến xứ thứ nhất và Thế tục trí, cho đến Biến xứ thứ mười thâu nhiếp Biến xứ thứ mười và Thế tục trí. 286 BỘ TỲ ĐÀM 6 Trong này, mười Biến xứ đều dùng năm Uẩn-bốn Uẩn thuộc phẩm câu sinh để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp Thế tục trí, hữu lậu cho nên không thâu nhiếp Trí khác và ba Tam-ma-địa, duyên với Sắc và địa khác nhau cho nên không thâu nhiếp Tha tâm trí. Hỏi: Pháp trí… thâu nhiếp mấy Trí…? Đáp: Pháp trí thâu nhiếp Pháp trí và phần ít của năm Trí, cho đến nói rộng ra. Pháp trí thâu nhiếp Pháp trí. Pháp trí thuộc về sáu địa, đó là Định Vị chí, Tĩnh lự trung gian và bốn Tĩnh lự. Định Vị chí thâu nhiếp Định Vị chí, cho đến Tĩnh lự thứ tư thâu nhiếp Tĩnh lự thứ tư. Lại nữa, Pháp trí thuộc về ba đạo, đó là Kiến đạo, Tu đạo và đạo Vô học. Kiến đạo thâu nhiếp Kiến đạo, cho đến đạo Vô học thâu nhiếp đạo Vô học. Lại nữa, Pháp trí duyên với bốn Đế, Khổ pháp trí thâu nhiếp Khổ pháp trí, cho đến Đạo pháp trí thâu nhiếp Đạo pháp trí. Lại nữa, Pháp trí thuộc về bốn đạo, đó là đạo gia hạnh-vô gián- giải thoát-thắng tiến. Đạo gia ha ïnh thâu nhiếp đạo gia hạnh, cho đến đạo thắng tiến thâu nhiếp đạo thắng tiến. Lại nữa, Pháp trí rơi vào ba đời, quá khứ thâu nhiếp quá khứ, vị lai thâu nhiếp vị lai, hiện tại thâu nhiếp hiện tại. Trong đó cho đến sát-na này thâu nhiếp sát-na này, sát-na kia thâu nhiếp sát-na kia. Trong này nói chung cho nên chỉ nói là Pháp trí thâu nhiếp Pháp trí. Pháp trí thâu nhiếp phần ít của năm Trí, đó là Pháp trí cũng thâu nhiếp Tha tâm trí, phần ít của Trí thuộc bốn Đế. Tha tâm trí bao gồm hữu lậu và vô lậu, Trí này chỉ thâu nhiếp vô lậu; trong vô lậu có Pháp trí và Loại trí, Trí này chỉ thâu nhiếp Pháp trí, cho nên nói là phần ít. Trí thuộc bốn Đế đều bao gồm Pháp trí và Loại trí, Trí này chỉ thâu nhiếp Pháp trí, cho nên nói là phần ít. Loại trí thâu nhiếp Loại trí và pha àn ít của năm Trí, nói như Pháp trí. Sai biệt là Trí này thuộc về chín địa. Tha tâm trí thâu nhiếp Tha tâm trí, Tha tâm trí thuộc về bốn Tĩnh lự Căn bản, Tĩnh lự thứ nhất thâu nhiếp Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Tĩnh lự thứ tư thâu nhiếp Tĩnh lự thứ tư. Lại nữa, Tha tâm trí bao gồm hữu lậu và vô lậu, hữu lậu thâu nhiếp hữu lậu, vô lậu thâu nhiếp vô lậu. Lại nữa, Tha tâm trí có Pháp trí va ø Loại trí, Pháp trí thâu nhiếp Pháp trí, Loại trí thâu nhiếp Loại trí. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 167 287 www.daitangkinh.org Lại nữa, Tha tâm trí có Học-Vô học và Phi học phi vô học, Học thâu nhiếp Học, cho đến Phi học ph i vô học thâu nhiếp Phi học phi vô học. Lại nữa, Tha tâm trí rơi vào ba đời, quá khứ thâu nhiếp quá khứ, vị lai thâu nhiếp vị lai, hiện tại thâu nhiếp hiện tại. Trong đó cho đến sát-na này thâu nhiếp sát-na này, sát-na kia thâu nhiếp sát-na kia. Trong này nói chung cho nên chỉ nói là Tha tâm trí thâu nhiếp Tha tâm trí. Tha tâm trí thâu nhiếp phần ít của bốn Trí, đó là Tha tâm trí cũng thâu nhiếp phần ít của Pháp trí-Loại trí-Thế tục trí-Đạo trí. Pháp trí-Loại trí đều duyên với bốn Đế, Trí này chỉ duyên với phần ít của Đạo đế, cho nên nói là phần ít. Thế tục trí thuộc về mười tám địa, đó là cõi Dục, Tĩnh lự trung gian, bốn Tĩnh lự, bốn Vô sắc, và Cận phần của tám địa ấy, Trí này chỉ thâu nhiếp bốn Tĩnh lự. Ở trong bốn Tĩnh lự, có thiện-nhiễm ô và vô phú vô ký, Trí này chỉ thâu nhiếp thiện. Ở trong thiện, có sinh đạt được- do Văn mà thành và do Tu mà thành, Trí này chỉ thâu nhiếp do Tu mà thành. Ở trong do Tu mà thành, có đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát- thắng tiến, Trí này chỉ thâu nhiếp đa ïo thắng tiến. Ở trong đạo thắng tiến, có thuận phần lui sụt, thuận pha àn an trú, thuận phần thắng tiến và thuận phần quyết trạch, Trí này chỉ thâu nhiếp thuận phần an trú. Ở trong thuận phần an trú, có duyên với quá khứ-vị lai-hiện tại và lìa thời gian, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với hiện tại. Ở trong duyên với hiện tại, có duyên với Tự tương tục và duyên với Tha tương tục, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với Tha tương tục. Ở trong duyên với Tha tương tục, có duyên với tâm-tâm sở, có duyên với năm Uẩn, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với tâm-tâm sở. Ở trong duyên với tâm-tâm sở, có duyên với một pháp, có duyên với nhiều pháp, Trí na øy chỉ thâu nhiếp duyên với một pháp. Ở trong duyên với một pháp, có lúc là Tha tâm trí, có lúc không phải là Tha tâm trí, Trí này chỉ thâu nhiếp tha Tâm trí. Bởi vì nghĩa như vậy, cho nên nói là phần ít. Đạo trí thuộc về chín địa, đó là Định Vị chí, Tĩnh lự trung gian, bốn Tĩnh lự, ba Vô sắc, Trí này chỉ thâu nhiếp bốn Tĩnh lự. Ở trong bốn Tĩnh lự, có Kiến đạo-Tu đạo và đạo Vô học, Trí này chỉ thâu nhiếp Tu đạo và đạo Vô học. Ở trong hai đạo này, có đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát-thắng tiến, Trí này chỉ thâu nhiếp đạo thắng tiến. Ở trong đạo thắng tiến, có duyên với quá khứ-vị lai-hiện tại, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với hiện tại. Ở trong duyên với hiện tại, có duyên với Tự tương 288 BỘ TỲ ĐÀM 6 tục, có duyên với Tha tương tục, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với Tha tương tục. Ở trong duyên với Tha t ương tục, có duyên với tâm-tâm sở, có duyên với năm Uẩn, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với tâm-tâm sở. Ở trong duyên với tâm-tâm sở, có duyên với một pháp, có duyên với nhiều pháp, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với một pháp. Ở trong duyên với một pháp, có lúc là Tha tâm trí, có lúc không phải là Tha tâm trí, Trí này chỉ thâu nhiếp Tha tâm trí. Bởi vì nghĩa như vậy, cho nên nói là phần ít. Thế tục trí thâu nhiếp Thế tục tr í, Thế tục trí thuộc về mười tám địa, nói như trước. Cõi Dục thâu nhiếp cõi Dục, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ thâu nhiếp Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Lại nữa, Thế tục trí có thiện-nhiễm ô và vô phú vô ký, thiện thâu nhiếp thiện, cho đến vô phú vô ký th âu nhiếp vô phú vô ký. Ở trong thiện, có gia hạnh đạt được-lìa nhi ễm đạt được và sinh đạt được, gia hạnh đạt được thâu nhiếp gia hạnh đạt được, cho đến sinh đạt được thâu nhiếp sinh đạt được. Lại có thuận phần lui sụt cho đến thuận phần quyết trạch, thuận phần lui sụt th âu nhiếp thuận phần lui sụt, cho đến thuận phần quyết trạch thâu nhiếp t huận phần quyết trạch. Lại có đạo gia hạnh cho đến đạo thắng tiến, đạo gia hạnh thâu nhiếp đạo gia hạnh, cho đến đạo thắng tiến thâu nhiếp đạo thắng tiến. Lại có quá khứ-vị lai-hiện tại, quá khứ thâu nhiếp quá khứ, cho đến hiện tại thâu nhiếp hiện tại. Trong đó cho đến sát-na này thâu nhiếp sát-na này, sát-na kia thâu nhiếp sát-na kia. Trong này nói chung cho nên nói là Thế tục trí thâu nhiếp Thế tục trí. Phần ít của một Trí, đó là Thế tục trí cũng thâu nhiếp phần ít của Tha tâm trí. Tha tâm trí bao gồm h ữu lậu và vô lậu, Trí này chỉ thâu nhiếp hữu lậu, cho nên nói là phần ít. Khổ trí thâu nhiếp Khổ trí. Khổ trí thuộc về chín địa, thuộc về ba đạo, thuộc về bốn đạo, rơi vào ba đời, rơi vào sát-na. Hễ thuộc về địa nào, thuộc về đạo nào, rơi vào đời nào, rơi vào sát-na nào, thì ngay địa ấy, đạo ấy, đời ấy, sát-na ấy thâu nhiếp. Trong này nói chung cho nên nói là Khổ trí thâu nhiếp Khổ trí. Phần ít của hai Trí, đó là Khổ trí cũng thâu nhiếp phần ít của Pháp trí-Loại trí. Pháp trí-Loại trí đều duyên với bốn Đế, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với Khổ đế, cho nên nói là phần ít. Tập trí thâu nhiếp Tập trí và pha àn ít của hai Trí, Diệt trí thâu SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 167 289 www.daitangkinh.org nhiếp Diệt trí và phần ít của hai Trí, đều nói như Khổ trí. Đạo trí thâu nhiếp Đạo trí, cũng nói như Khổ trí. Phần ít của ba Trí, đó là Đạo trí cũng thâu nhiếp phần ít của Pháp trí-Loại trí và Tha tâm trí. Pháp trí-Loại trí đều duyên với bốn Đế, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với Đạo đế; Tha tâm trí bao gồm hữu lậu và vô lậu, Trí này chỉ thâu nhiếp vô lậu, cho nên nói là phần ít. Hỏi: Tam-ma-địa Không… thâu nhiếp mấy Tam-ma-địa…? Đáp: Không thâu nhiếp Không, Vô nguyện thâu nhiếp Vô nguyện, Vô tướng thâu nhiếp Vô tướng. Tam-ma-địa Không duyên với hai hành tướng của Khổ đế mà chuyển, Tam-ma-địa Vô nguyện duyên với mười hành tướng của ba Đế mà chuyển, Tam-ma-địa Vô tướng duyên với bốn hành tướng của Diệt đế mà chuyển. Ở trong mỗi một hành tướng đều thuộc về chín địa, thuộc về ba đạo, thuộc về bốn đạo, rơi vào ba đời, rơi vào sát-na. Hễ hành tướng nào, thuộc về địa nào, thuộc về đạo nào, rơi vào đời nào, rơi vào sát-na nào, thì ngay hành tướng ấy, địa ấy, đạo ấy, đời ấy, sát-na ấy thâu nhiếp. Trong này nói chung cho nên nói là Không thâu nhiếp Không, cho đến Vô tướng thâu nhiếp Vô tướng. Ba Tam-ma-địa tuy bao gồm hữu lậu, nhưng trong này dựa vào môn Giải thoát mà nói, cho nên chỉ thâu nhiếp vô lậu. Như thâu nhiếp, có thể đạt được (khả đắc) cũng như vậy, bởi vì tự Thể đối với tự Thể có thể đạt được là nghĩa của thâu nhiếp. Nghĩa là tự Thể đối với tự Thể là có, tự Thể đối với tự Thể là thật, tự Thể đối với tự Thể là hiện có, là không khác, là không ngoài, là không lìa nhau, là không thoát khỏi, là không có sai biệt, là không phải trống rỗng, là không phải không có, không phải là kha ùch, không phải là xa, không phải là hai, không phải là tranh chấp. Những nghĩa như vậy đều là nghĩa của có thể đạt được. Các pháp tự Thể thâu nhiếp tự Thể, không phải là như dùng bàn tay giữ lấy thức ăn, dùng ngón tay giữ lấy áo, nhưng bởi vì tất cả các pháp chướng ngại đến tự Thể, khiến cuối cùng không rời bỏ cho nên gọi là thâu nhiếp. Có Sư khác nói: Tự Thể này tha âu nhiếp có bốn loại, đó là khác nhau về Giới, khác nhau về Pháp, khác nhau về Sát-na, khác nhau về Tương tục. Khác nhau về Giới, đó là Nhãn giới thâu nhiếp Nhãn giới, cho đến Pháp giới thâu nhiếp Pháp giới. Khác nhau về Pháp, đó là trong Pháp giới có bảy pháp, tức là Sa éc-Thọ-Tưởng-Hành và ba Vô vi, Sắc thâu nhiếp Sắc, cho đến Phi trạch diệt thâu nhiếp Phi trạch diệt. Khác nhau về Sát-na, đó là trong Sắc c ó quá khứ-vị lai-hiện tại, quá khứ 290 BỘ TỲ ĐÀM 6 thâu nhiếp quá khứ, cho đến hiện tại thâu nhiếp hiện tại. Khác nhau về Tương tục, đó là Sắc hiện tại có lúc rơi vào Tự tương tục, có lúc rơi vào Tha tương tục, Tự tương tục thâu nhiếp Tự tương tục, Tha tương tục thâu nhiếp Tha tương tục. Dựa vào lý lẽ này, còn lại nhất định phải biết, cho nên nói là như thâu nhiếp, có thể đa ït được cũng như vậy, bởi vì nghĩa về thâu nhiếp và có thể đạt được không có gì khác nhau. Hỏi: Tưởng về Vô thường… tương ưng với mấy Tĩnh lự…? Đáp: Tưởng về Vô thường tương ưng với bốn Tĩnh lự, bốn Vô sắc, bốn Giải thoát, bốn Trí, một Tam-ma-địa. Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Vì ngăn chặn ý của người ngu đối với pháp Tương ưng, chấp rằng pháp Tương ưng không phải là có thật, để hiển bày về pháp Tương ưng là có thật, cho nên soạn ra phần luận này. Tưởng về Vô thường tương ưng với bốn Tĩnh lự, bốn Tĩnh lự đều lấy năm Uẩn làm tánh, Tưởng này tương ưng với toàn phần hai Uẩn kia và phần ít của một Uẩn. Tương ưng với bốn Vô sắc- bốn Giải thoát, bốn Vô sắc và bốn Giải thoát của Vô sắc đều lấy bốn Uẩn làm tánh, Tưởng này tương ưng với toàn phần hai Uẩn kia và phần ít của một Uẩn. Tương ưng với bốn Trí, đó là tương ưng với Pháp trí-Loại trí, Thế tục trí-Khổ trí. Tương ưng với một Tam-ma-địa, đó là duyên với Vô nguyện thuộc Khổ. Như Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt, cũng như vậy. Dựa vào nhữ ng Tưởng này đều tương ưng với bốn Trí và một Tam-ma-địa, số giống nhau cho nên nói là cũng như vậy. Trong đó, tất cả giống nhau, đó là Tưởng về Chết. Hành tướng khác nhau mà tên gọi giống nhau, đó là Tưởng về Vô thường-Khổ. Tên gọi về Trí giống nhau, còn lại không giống nhau, đó là Tưởng về Khổ- Vô ngã, bởi vì tương ưng với Tam-ma-địa Không. Chỉ có số giống nhau, còn lại đều không giống nhau, đó là T ưởng về Đoạn-Lìa-Diệt, bởi vì tương ưng với Tam-ma-địa Vô tướng thuộc Diệt trí. Tưởng về Bất tịnh tương ưng với hai Tĩnh lự sau, hai Giải thoát đầu và Thế tục trí. Tưởng này tương ưng với bốn Tĩnh lự, mà chỉ nói là tương ưng với hai Tĩnh lự sau, nói như trong phần thâu nhiếp. Như Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Ch án ăn cũng như vậy, nghĩa là tưởng này thật ra không tương ưng với hai Giải thoát đầu, mà nói là tương ưng với, cũng nói như trong phần thâu nhiếp. Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, tương ưng với hai Tĩnh SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 167 291 www.daitangkinh.org lự sau và Thế tục trí. Tưởng này cũng tương ưng với bốn Tĩnh lự, mà chỉ nói là tương ưng với hai Tĩnh lự sau, cũng nói như trong phần thâu nhiếp. Hỏi: Tĩnh lự thứ nhất… tương ưng với mấy Tĩnh lự…? Đáp: Tĩnh lự thứ nhất tương ưng với Tĩnh lự thứ nhất, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự thứ hai tương ưng với Tĩnh lự thứ hai, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự thứ ba tương ưng với Tĩnh lự thứ ba, ba V ô lượng, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự thứ tư tương ưng với Tĩnh lự thứ tư, ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Trong này, bốn Tĩnh lự đều lấy năm Uẩn của địa mình làm tánh, bởi vì bốn Uẩn câu sinh của mỗi một địa lần lượt chuyển đổi tương ưng, cho nên nói Tĩnh lự thứ nhất tương ưng với Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Tĩnh lự thứ tư tương ưng với Tĩnh l ự thứ tư, không phải là tự tánh cùng với tự tánh có nghĩa của tương ưng. Vả lại, bởi vì mỗi một Tĩnh lự thâu nhiếp nhiều pháp, cho nên có thể tương ưng với các công đức của Vô lượng… Ba Vô lượng là trừ ra Hỷ vô lượng, bởi vì hai Tĩnh lự sau không có Hỷ căn. Có những người muốn làm cho Hỷ vô lượng không dùng Hỷ thọ làm tự tánh, cũng nói Hỷ vô lượng tương ưng với Hỷ thọ, cho nên hai địa ấy chỉ có ba Vô lượng. Hỏi: Từ vô lượng… tương ưng với mấy Vô lượng…? Đáp: Từ tương ưng với Từ và Thế tục trí, cho đến Xả tương ưng với Xả và Thế tục trí. Từ… t uy dùng căn thiện không có sân… làm tự tánh, mà trong này đã nói đến thâu nhiếp toàn bộ cùng có tương ưng với tự tánh làm Thể của Từ…, cho nên nói là Từ tương ưng với Từ, cho đến Xả tương ưng với Xả, tức là nghĩa về tương ưng với bốn Uẩn câu sinh. Hỏi: Không vô biên xứ… tương ưng với mấy Vô sắc…? Đáp: Không vô biên xứ tương ưng với Không vô biên xứ, và Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Thức vô biên xứ tương ưng với Thức vô biên xứ, và Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Vô sở hữu xứ tương ưng với Vô sở hữu xứ, và Giải thoát của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Phi tưởng phi phi tưởng xứ tương ưng với Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Giải thoát của địa ấy cùng Thế tục trí. Trong này, bốn Vô sắc đều lấy bốn Uẩn của địa mình làm tánh, bởi vì bốn Uẩn câu sinh của mỗi một địa lần lượt chuyển đổi tương ưng, 292 BỘ TỲ ĐÀM 6 cho nên nói là Không vô biên xứ tương ưng với Không vô biên xứ, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ tương ưng với Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vả lại, bởi vì mỗi một Vô sắc thâu nhiếp nhiều pháp, cho nên có thể tương ưng với những công đức đã nói. Sáu Trí thì nói như trong phần thâu nhiếp. Hỏi: Giải thoát thứ nhất… tương ưng với mấy Giải thoát…? Đáp: Giải thoát thứ nhất-thứ ha i-thứ ba tương ưng với Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba và Thế tục trí. Giải thoát của Không vô biên xứ tương ưng với Giải thoát của Không vô biên xứ, và Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Thức vô biên xứ tương ưng với Giải thoát của Thức vô biên xứ, và Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Vô sở hữu xứ tương ưng với Giải thoát của Vô sở hữu xứ, và sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ tương ưng với Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Thế tục trí. Diệt Tưởng-Thọ giải thoát không phải là tương ưng. Ba Giải thoát trước tuy đều dùng căn thiện không có tham để làm tự tánh, mà trong này đã nói đến toàn bộ dùng pháp cùng có tương ưng với tự tánh làm Thể, cho nên nói là Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba tương ưng với Giải thoát thứ nhấ t-thứ hai-thứ ba, tức là nghĩa về tương ưng với bốn Uẩn câu sinh. Bốn Giải thoát của Vô sắc nói như bốn Vô sắc. Diệt Tưởng-Thọ giải thoa ùt tuy có nhiều pháp như tâm-tâm sở không tách lìa nhau cùng lúc khởi lên, mà không có nghĩa giống nhau về sở y-sở duyên-hành tướng, cho nên không phải là tương ưng. Hỏi: Thắng xứ thứ nhất…tương ưng với mấy Thắng xứ…? Đáp: Thắng xứ thứ nhất tương ưng với Thắng xứ thứ nhất và Thế tục trí, cho đến Thắng xứ thứ tám tương ưng với Thắng xứ thứ tám và Thế tục trí. Trong này, tám Thắng xứ tuy đều dùng căn thiện không có tham để làm tự tánh, mà trong này đã nói đến toàn bộ dùng pháp cùng có tương ưng với tự tánh làm Thể, cho nên nói là Thắng xứ thứ nhất tương ưng với Thắng xứ thứ nhất, cho đ ến Thắng xứ thứ tám tương ưng với Thắng xứ thứ tám. Hỏi: Biến xứ thứ nhất… tương ưng với mấy Biến xứ…? Đáp: Biến xứ thứ nhất tương ưng với Biến xứ thứ nhất và Thế tục trí, cho đến Biến xứ thứ mười tương ưng với Biến xứ thứ mười và Thế tục trí. Trong này, tám Biến xứ trước tuy đều dùng căn thiện không có SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 167 293 www.daitangkinh.org tham để làm tự tánh, mà trong này đã nói đến toàn bộ dùng pháp cùng có tương ưng với tự tánh làm Thể; hai Biến xứ sau dùng toàn bộ bốn Uẩn câu sinh làm tánh, cho nên nói là Biến xứ thứ nhất tương ưng với Biến xứ thứ nhất, cho đến Biến xứ thứ mười tương ưng với Biến xứ thứ mười. Hỏi: Pháp trí… tương ưng với mấy Tam-ma-địa? Đáp: Pháp trí tương ưng với phần ít của ba Tam-ma-địa, cho đến nói rộng ra. Pháp trí tương ưng với phần ít của ba Tam-ma-địa, Trí này không tương ưng với Loại trí và tất cả cá c Nhẫn đi cùng ba Tam-ma-địa, cho nên nói là phần ít. Như Pháp trí, Loại trí cũng như vậy, nghĩa là Trí này không tương ưng với Pháp trí và tất cả các Nhẫn đi cùng ba Tam-ma-địa, cho nên nói là cũng như vậy. Tha tâm trí tương ưng với phần ít c ủa một Tam-ma-địa, Trí này không tương ưng với Khổ-Tập-Diệt trí và Tha tâm trí vốn không thâu nhiếp Đạo trí, cùng với tất cả cá c Nhẫn đi kèm Tam-ma-địa, cho nên nói là phần ít. Tức là tương ưng với phần ít của Tam-ma-địa Vô nguyện duyên với Đạo, nghĩa như Tha tâm trí. Tập-Diệt-Đạo trí cũng như vậy, đây là dựa vào số giống nhau cho nên nói là cũng như vậy. Nhưng Tập trí chỉ tương ưng với phần ít của Tam-ma-địa Vô nguyện duyên với Tập, Diệt trí chỉ tương ưng với phần ít của Tam-ma-địa Vô tướng duyên với Diệt, Đạo trí chỉ tương ưng với phần ít của Tam-ma-địa Vô nguyện duyên với Đạo, bởi vì đều trừ ra Nhẫn đi cùng Tam-ma-địa. Khổ trí tương ưng với phần ít của hai Tam-ma-địa, Trí này chỉ tương ưng với Trí đi cùng Tam-ma-địa Không, và Khổ trí đi cùng Tam- ma-địa Vô nguyện, cho nên nói là phần ít. Phần nói về ba Tam-ma-địa, không nói riêng biệt về tương ưng, bởi vì đối với các phần trước đã nói đầy đủ, cho nên ở trong phần của mình không có tương ưng. 294 BỘ TỲ ĐÀM 6 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt