VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 175Quyển 177 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 176

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

如施設論說有五淨居。謂無煩無熱善現善
見色究竟天。云何無煩天。謂無煩天一類伴
侶眾同分。依得事得處得。及已生彼天無覆
無記。色受想行識是名無煩天。問彼天何故
名無煩耶。答彼是假名假想名施設想施設
隨欲而立。不必如名悉有其義。復次彼天
身無煩擾心無煩擾。一期領受純寂靜樂
非下所有故名無煩。復次彼天審見苦真
是苦集真是集滅真是滅道真是道。離下所
起麁重煩惱故名無煩。復次煩者謂廣即廣
果天。今此天最初超彼故名無煩天。云何無
熱天。謂無熱天一類伴侶乃至廣說。問彼天
何故名無熱耶。答彼是假名假想乃至廣說。
復次彼天身無熱惱心無熱惱。一期領受
純清涼樂非下所有故名無熱。復次彼天
審見苦真是苦乃至道真是道。離下所起煩
惱蒸熱故名無熱。復次無煩天中隣逼下地
所起增上煩惱火故猶名為熱。此超彼故
名無熱天。云何善現天。謂善現天一類伴侶
乃至廣說。問彼天何故名善現耶。答彼是假
名假想乃至廣說。復次彼天形色端正妙好。

過下二天故名善現。復次彼天審見苦真
是苦乃至道真是道。離諸垢濁心淨顯了故
名善現。復次彼得上品雜修靜慮善麁顯故
名善現天。云何善見天。謂善見天一類伴侶
乃至廣說。問彼天何故名善見耶。答彼是假
名假想乃至廣說。復次彼天形色轉復妙好
眾所樂觀故名善見。復次彼天審見苦真是
苦乃至道真是道。離諸垢濁心轉淨了故名
善見。復次彼得上勝圓滿品雜修靜慮所得
善法轉麁顯故名善見天。云何色究竟天。謂
色究竟天。一類伴侶乃至廣說。問彼天何故
名色究竟。答彼是假名假想乃至廣說。復次
彼天形色最為勝妙餘不及故名色究竟。復
次彼天審見苦真是苦乃至道真是道。離
諸垢濁諸餘色天所不及故名色究竟。復
次彼得上極圓滿品雜修靜慮。餘色界善根
所不能及故名色究竟。復次彼天於有色
界最尊最勝最極故名色究竟。復次彼亦名
為礙究竟天。礙者謂積集色。彼於此礙最尊
最勝最極故名礙究竟。復次彼亦名為頂究
竟天。是一切有色頂亦是究竟故。
問淨居天生為由業感。為由雜修靜慮耶。
若爾何失。若由業者雜修靜慮則為唐捐。若
由雜修靜慮者便與品類足論所說相違。
如彼說雜修靜慮及由業故生淨居天乃至
廣說。答有作是說。彼由業感。問雜修靜慮
豈不唐捐。答由雜修靜慮業得決定故非
唐捐。復次要雜修靜慮後乃能引彼思業現
前由此能引彼眾同分。有餘師說。由雜修

靜慮。問品類足說當云何通。答即雜修靜慮
以業聲說。復次彼論先說雜修靜慮者。為
顯先時入彼定故。後說及由業故生淨居
者。為顯後時即由彼力生淨居故。如是
說者。亦由業力亦由雜修靜慮。謂雖有思
業現前若不雜修靜慮則不得生彼。雖
有雜修靜慮若無思業現前亦不得生彼。
是故要有思業牽引雜修靜慮令其決定。方
得生彼。
諸學彼一切為得未得而學耶。設為得未
得而學彼一切學耶。答應作四句。問何故
作此論。答始縛迦經是此論根本。彼說學所
學故名學。勿有生疑。諸有學者學所學
時乃名為學。住本性時不名為學。諸無學
者住本性時乃名無學。學所學時不名無
學。欲令此疑得決定故。顯諸學者有住本
性。諸無學者亦學所學故作斯論。有學非
為得未得而學。謂學住本性有二因緣名
住本性。一守賢善性而無退轉。二守自分
德而不進修。今但說不進修名住本性。謂
預流者不進修一來果加行。一來者不進
修不還果加行。不還者不進修阿羅漢果加
行。信勝解不求作見至。又諸學者不求起
所未得不淨觀持息念念住三義觀七處善
靜慮無量無色解脫勝處遍處。不引發諸通。
不雜修靜慮。不入滅盡定。不受持讀誦
素怛纜毘奈耶阿毘達磨亦不授與他。不
住阿練若處思惟觀察素怛纜毘奈耶阿毘
達磨。亦不經營佛法僧事。是謂學非為得

未得而學。問彼何因緣不學所學。答彼或
長病。或闕資緣。作是思惟我已越度無量
生死。唯餘七有。或餘一有。或念我已出欲
淤泥。唯餘上界少許生在今既患苦。或資緣
闕幸可少息何遽進修。由此學者不學所
學。有為得未得而學彼非學。謂阿羅漢及
異生進求上法。此中上法謂勝功德即時解
脫求作不動。及阿羅漢起所未得不淨觀。
持息念。念住三義觀。七處善。靜慮。無量。無色
解脫。勝處遍處。引發諸通。雜修靜慮入滅
盡定。起無礙解無諍願智邊際定空空無願
無願無相無相。受持讀誦素怛纜毘奈耶阿
毘達磨。若授與他若住阿練若處。思惟觀
察素怛纜毘奈耶阿毘達磨。或復經營佛法
僧事。及異生求離欲染色染無色一分染。或
起不淨觀。持息念。念住。三義觀。七處善。煖
頂忍世第一法。靜慮無量無色解脫勝處遍
處引發諸通入無想定。受持讀誦素怛纜
毘奈耶阿毘達磨。若授與他若住阿練若
處。思惟觀察素怛纜毘奈耶阿毘達磨或復
經營佛法僧事。是謂為得未得而學彼非
學。問何故阿羅漢復學所學。答彼雖不為
斷煩惱故學。而以愛樂勝功德故。學有
學亦為得未得而學。謂學進求上法。即預
流者進修一來果加行。廣說乃至或復經營
佛法僧事。是謂學亦為得未得而學。有非
學亦非為得未得而學。謂阿羅漢及異生
住本性。即時解脫不求作不動。廣說乃至
亦不經營佛法僧事。及異生不求離欲界

染。廣說乃至亦不經營佛法僧事。是謂非
學亦非為得未得而學。
諸無學彼一切不為得未得而學耶。設不
為得未得而學。彼一切無學耶。答應作四
句。有無學非不為得未得而學。謂阿羅漢
進求上法即時解脫求作不動及阿羅漢
起所未得不淨觀持息念。廣說乃至或復
經營佛法僧事。是謂無學非不為得未得
而學。有不為得未得而學彼非無學。謂學
及異生住本性即預流者不進修一來果加
行。廣說乃至亦不經營佛法僧事。及異生
不為離欲界染。廣說乃至亦不經營佛法
僧事。是謂不為得未得而學彼非無學。
有無學亦不為得未得而學。謂阿羅漢住
本性即時解脫不求作不動及阿羅漢。不
求起所未得不淨觀持息念。廣說乃至亦
不經營佛法僧事。是謂無學亦不為得未
得而學。有非無學亦非不為得未得而
學。謂學及異生進求上法。即預流者進修一
來果加行。廣說乃至或復經營佛法僧事。及
異生求離欲界染。廣說乃至或復經營佛法
僧事。是謂非無學亦非不為得未得而
學。問為學所學故名學。為得學法故名
學。設爾何失。若學所學故名學者此文云
何通。如說學住本性。若得學法故名學者
經說云何通。如說學所學故名學。答有
說。得學法故名學。謂若學若不學但成就
學法即名為學。問若爾。經說當云何通。答
彼經但依現學者說。不說一切。復次彼經

依意樂不息故作是說。謂諸學者若起善
心。若起不善無記心。若起加行。若不起加
行。彼一切學意樂未甞廢息。以不永捨加
行。故如行路者暫休息時他問何往。答言
往某。彼亦以意樂不息。故雖住言往此亦
如是。有說。學所學故名學。問若爾。此文云
何通。如說學住本性。答此依暫息加行而
說。然以意樂。不捨學故名學所學。復次學
住本性時雖不起學心心所等。而其學得
恒時現行。依此義故名學所學。問若學者
不學無學者學。云何建立學無學異。答於聖
位中約斷煩惱立學無學。不依修勝功德。
是故有異。
順流是何義。乃至廣說。問何故作此論。答
為欲分別契經義故。如契經說。有四補特
伽羅。一順流。二逆流。三中住。四到彼岸。契
經雖作是說而不廣分別。彼經是此論所
依根本。彼所不說者今應說之。故作斯論。
問順流是何義。答於諸生諸趣諸有諸種類
諸生死。為支為門為事為道為迹向是
順流義。逆流是何義。答於諸生滅趣滅有
滅種類滅生死滅。為支為門為事為道為
迹向。是逆流義。流有多種。或說聖道名流。
或說業名流或說愛名流。或說生死名流。
此中流者。但說生死。又契經說順流云何。謂
習諸欲及造惡業。逆流云何。謂不習諸欲
不造惡業。當知彼經依一生建立順流逆
流。此中所說依多生建立順流逆流。復次
彼經依暫時起欲惡離欲惡。建立順流逆

流。是故未離欲染聖者亦名順流。已離欲
染異生亦名逆流。此中所說依長時向生
死背生死建立順流逆流。是故有已離色
染者而名順流。有未離欲染者而名逆
流。諸生者謂四生。諸趣者謂五趣。諸有者謂
三有。諸種類者謂地處等種類差別。諸生死
者。謂無始時來乃至後際流轉差別。為支者
謂十二有支。為門者謂業煩惱。為事者謂所
依止。為道者謂趣生死道。為迹向者謂趣
薩迦耶集迹向。此中前五句顯生死。後五句
顯生死長養。生死攝受。生死任持。生死無斷
絕。生死增益隨順。如引河流而無有盡。
逆流義中生等五種如前說。差別者於彼得
滅。為支者謂八聖道支。為門者謂不淨觀
持息念等。為事者謂三解脫門。為道者謂
趣生死滅道。為迹向者謂趣薩迦耶滅迹
向。此中前五句顯生死滅。後五句顯能摧
滅生死非長養。能棄背生死非攝受。能散
壞生死非任持。能斷絕生死非無斷絕。能
損減違逆生死非增益隨順。如決陂潢
漸令枯涸。問齊何名順流逆流者。有說。乃
至苦法智忍未生名順流者。已生名逆流者。
有說。乃至世第一法未生名順流者。已生
名逆流者。有說。乃至增上忍未生名順流
者。已生名逆流者。有說。乃至忍法。有說
乃至頂法。有說。乃至煖法。有說。乃至念
住。有說。乃至不淨觀持息念等未生名順
流者。已生。名逆流者。如是說者。若未種
順解脫分善根名順流者。已種順解脫分

善根名逆流者。所以者何。無量有情雖能
惠施沙門婆羅門貧窮孤獨遠行疲極。及苦
行者種種飲食衣服臥具醫藥房舍燈明香
花。及諸珍寶種種所須。又設無遮祠祀大
會。如吠羅摩不剛強等。彼由不種順解脫
分善根故。於生死長夜受彼果已還生餓
鬼中受飢渴苦經百千歲。乃至不聞飲食
之名。或生人中貧窮下賤多諸苦惱。或復
見有無量有情護持禁戒學習多聞。受持
讀誦素怛纜毘奈耶阿毘達磨。通達文義分
別解說。又能傍通世俗諸論。所謂記論因論
王論諸醫方論工巧論等。或復兼善外道諸
論。所謂勝論數論明論順世間論離繫論等。
彼由不種順解脫分善根故。於生死長
夜受彼果已。還生傍生趣中。作諸牛羊
駝驢身等。愚癡盲瞑乃至不能言。或生人
中盲聾喑啞闇鈍無智。或復見有無量有情。
修習諸定。或離欲染。或離色染。或離無色
一分染住八等至。起四無量引發五通。彼
由不種順解脫分善根故。於生死長夜受
彼果已。還生地獄受諸劇苦。或傍生趣作
大蟒身。吐毒熾然崩巖裂石。或生人中作
旃茶羅補羯娑等造穢惡業。諸如是等雖
暫受福還退墮故皆名順流。若諸有情或但
惠施一摶之食。或唯受持一日夜戒。或乃至
誦四句伽他。或須臾間修定加行而能種
殖順解脫分善根。由此後時雖因煩惱造
作種種身語意惡行。或作無間業。或復斷滅
一切善根。乃至身中無有少許白法種子。墮

無間獄受種種苦。而得名為住涅槃岸。以
彼必得般涅槃故。此中有喻。如釣魚人以
食為餌。置於鉤上著深水中。有魚吞之。
彼魚爾時雖復遊戲或入穴中。當知已名
在彼人手。不久定當至岸上故。由此故
說。寧作提婆達多墮無間獄。不作嗢達洛
迦遏邏摩子生非想非非想天。所以者何。
提婆達多雖造三無間業斷諸善根墮無
間獄。而於人壽四萬歲時當得獨覺菩提。
利根勝舍利子等。嗢達洛迦遏邏摩子。雖
離八地染住八等至極奢摩他垂越三有
近甘露門。生非想非非想處經八萬大劫
受寂靜樂。從彼命終。由惡業力生彼阿
練若苦行林中。作著翅飛狸捕食禽獸水陸
空行無得免者。由此惡行命終當墮無間
地獄。具受種種難忍劇苦。佛不記彼得解
脫時。由此故說。雖住苦行林中而名順流
者。雖處五欲境界而名逆流者。此中有喻。
如人齎二器行。一金二瓦。腳跌而倒二器
俱破。其人爾時不惜金器而惜瓦器。以是
嗟恨。人問其故彼具答之。人復詰言。金器
破壞汝能不惜。何乃傷惜一瓦器耶。彼復
答言。汝誠愚癡。所以者何。金器破已雖失
器形不失器體。還付金師可令如本或
勝於本。瓦器破已形體俱失。雖付陶師。乃
至不堪復作燈盛。況本器乎。是故我今不
歎金器而惜瓦器。如是天授已種順解脫
分善根故。雖造眾惡生地獄中。而當成
獨覺勝舍利子等。如彼金器破已還成。猛

喜子不種順解脫分善根故。雖離八地染
生有頂天。而終墮惡趣未期解脫。如彼瓦
器破已不收。是故未種順解脫分善根者
名為順流。已種順解脫分善根者名為逆
流。問順解脫分善根在有情身其相微細。已
種未種云何可知。答以相故知。彼有何相。
謂若聞善友說正法時。身毛為竪悲泣流
淚。厭離生死欣樂涅槃。於法法師深生愛
敬。當知決定已種順解脫分善根。若不能
如是當知未種。此中有喻。如人於田畦
中下種子已經久生疑。我此畦中曾下種
不。躊躇未決。傍人語言。何足猶豫。汝今但
可以水灌漬以糞覆之。彼若生芽則知已
種。不然則不。彼如其言便得決定。如是行
者。自疑身中曾種解脫種子已不。時彼善
友而語之言。汝今可往至說法所。若聽法
時身毛為竪悲泣流淚。乃至於法法師生愛
敬者。當知已種解脫種子。不然則不。故由
此相可得了知。
自住是何義。答非於諸生乃至諸生死為
支。乃至為迹向亦非於生滅乃至生死滅
為支。乃至為迹向是自住義。此謂少分所
作已辦。或一切所作已辦。意樂暫息或究竟
息。不同順流及逆流者。於生死涅槃各作
所作意樂不息故名自住。即是住自分義。
問諸阿羅漢彼一切自住耶。設自住彼一切
阿羅漢耶。答諸阿羅漢彼一切皆自住。彼為
住何處。謂住離非想非非想處染。阿羅漢果
一切結盡斷遍知中。有自住非阿羅漢。謂

不還。彼為住何處。謂住離欲染不還果五
順下分結盡斷遍知中。如世尊言。
永斷五煩惱學滿無引法
得自在定根是人名自住
五煩惱者。謂五蓋及五順下分結。不還已盡
故。言永斷。學滿者。謂果滿根滿非等至滿。
無引法者。謂欲界業煩惱所不能引。得自
在者。謂得心自在即是於他心智證通得
自在究竟義。得定根者。謂成就靜慮所攝
三摩地根。是人名自住者。謂住離欲染不
還果五順下分結盡斷遍知中。
諸得極禁。彼一切得極迹耶。設得極迹彼
一切得極禁耶。答諸得極禁彼一切得極
迹。所以者何。無學尸羅名為極禁。四種神足
名為極迹。諸有已得無學尸羅。必亦逮得
四神足故。有得極迹非得極禁。謂不還如
世尊言。云何苾芻得極迹。謂於五順下分結
永斷遍知。所以者何。以不還者。已得四神
足未得無學尸羅故。或作是說。諸得極迹
彼一切到彼岸耶。設到彼岸彼一切得極迹耶。
答諸得極迹彼一切到彼岸。所以者何。一切
結盡名為極迹。如契經說。迹謂涅槃。永斷
五結不復輪迴生死名到彼岸。諸阿羅漢
身已作證名得極迹。已斷五順上分結。不
復輪迴三界生死名到彼岸。有到彼岸非
得極迹。謂不還。如世尊言。云何苾芻名到
彼岸。謂於五順下分結永斷遍知。以斷此
故不復輪迴欲界生死名到彼岸。復次阿
羅漢於三界再到彼岸。謂斷三界見所斷

修所斷時。不還者。於欲界亦再到彼岸。謂
斷欲界見所斷修所斷時。而未得涅槃故
不名得極迹。或作是說。諸阿羅漢彼一切
盡源底耶。設盡源底彼一切阿羅漢耶。答
諸阿羅漢彼一切盡源底。有盡源底非阿
羅漢。謂不還。如世尊言。云何苾芻盡源底。
謂於五順下分結永斷遍知。此中二釋如到
彼岸說。
齊何名菩薩。乃至廣說。問何故作此論。答
為欲分別契經義故。如契經言。有一有
情。是不愚類是聰慧類。謂菩提薩埵。雖作
是說而不分別。齊何名菩薩。得何名菩
薩。彼契經是此論所依根本。彼所不說者今
應說之。故作斯論。復次為斷實非菩薩
起菩薩增上慢故而作斯論。所以者何。有
諸有情。以一食施。或以一衣或一住處。乃至
或以一楊枝施。或受持一戒。或誦一伽他。
或一攝心觀不淨等。便師子吼作如是言。我
因此故定當作佛。為斷如是增上慢故。
顯雖經於三無數劫具修種種難行苦行。
若未修習妙相業者猶未應言我是菩薩
況彼極劣增上慢者。是故菩薩乃至初無數
劫滿時。雖具修種種難行苦行。而未能決
定自知作佛。第二無數劫滿時。雖能決定自
知作佛。而猶未敢發無畏言我當作佛。第
三無數劫滿已修妙相業時。亦決定知我當
作佛。亦發無畏師子吼言。我當作佛。齊何
名菩薩。答齊能造作增長相異熟業。問若諸
有情發阿耨多羅三藐三菩提心能不退轉。

從此便應說為菩薩。何故乃至造作增長相
異熟業方名菩薩耶。答若於菩提決定及
趣決定乃名真實菩薩。從初發心乃至未修
妙相業來。雖於菩提決定。而趣未決定。未
得名為真實菩薩。要至修習妙相業時。乃
於菩提決定。趣亦決定。是故齊此方名菩
薩。復次修妙相業時。若人若天共識知彼
是菩薩故名真菩薩。未修妙相業時唯天
所知。是故未得名真菩薩。復次修妙相業
時。捨五劣事得五勝事。一捨諸惡趣恒生
善趣。二捨下劣家恒生貴家。三捨非男身
恒得男身。四捨不具根恒具諸根。五捨有
忘失念恒得自性生念。由此得名真實菩
薩。未修妙相業時與此相違。是故不名真
實菩薩。問菩薩得此自性生念有何利益
耶。答菩薩得此自性生念離有情過。積集
多聞深信因果。善攝徒眾所說教誡終不
唐捐。菩提資糧轉復圓滿是為利益。得何
名菩薩。答得相異熟業。問何故復作此論。
答欲令疑者得決定故。謂先作是說。齊能
造作增長相異熟業名為菩薩。勿有生疑。
雖齊此位名為菩薩。而菩薩名或由證得
其餘勝法。欲顯即由相異熟業得菩薩名
不由餘法。故作斯論。問由阿耨多羅三藐
三菩提故名菩提薩埵。何故未證得時此名
隨轉。及證得已便不隨轉而更名佛陀耶。
答由此薩埵未得阿耨多羅三藐三菩提
時。以增上意樂恒隨順菩提。趣向菩提。親
近菩提。愛樂菩提。尊重菩提。渴仰菩提。求

證欲證不懈不息。於菩提中心無暫捨。
是故名為菩提薩埵。彼既證得阿耨多羅三
藐三菩提已。於求菩提意樂加行並皆止
息。唯於成就覺義為勝。一切染污不染污
癡皆永斷故覺了一切勝義世俗諸爾焰故
復能覺悟。無量有情隨根欲性作饒益故。
由如是等覺義勝故。名為佛陀。不名菩
薩。復次薩埵是勇猛者義。未得阿耨多羅三
藐三菩提時。恒於菩提精進勇猛。求欲速
證。是故名為菩提薩埵。既得阿耨多羅三藐
三菩提已。便於菩提勇猛心息。唯覺義勝
故名佛陀。以能成就最勝覺故。

Việt dịch

SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 176 429  
www.daitangkinh.org  


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

QUYỂN 176

LUẬN VỀ BẤT HOÀN (Phần 3)

Như luận Thi Thiết nói: “Có năm cõi trời Tịnh Cư, đó là cõi trời
Vô Phiền-Vô Nhiệt-Thiện Hiện-Thiện Kiến và Sắc Cứu Cánh.
Thế nào là cõi trời Vô Phiền? Đ ó là cõi trời Vô Phiền cùng một
loại Chúng đồng phần làm bạn, nương tựa đạt được-sự việc đạt được-
nơi chốn đạt được, và đã sinh ra Sắc-Thọ- Tưởng-Hành-Thức vô phú vô
ký của cõi trời ấy, thì gọi là cõi trời Vô Phiền.”
Hỏi: Vì sao cõi trời ấy gọi là Vô Phiền?
Đáp: Đó là giả danh-giả tưởng, da nh thi thiết-tưởng thi thiết, tùy
theo ý muốn mà lập ra, không nhất định phải như tên gọi đều có nghĩa
ấy.
Lại nữa, cõi trời ấy thân không có phiền não quấy nhiễu, tâm
không có phiền não quấy nhiễu, suốt một thời kỳ thọ nhận niềm vui
hoàn toàn vắng lặng, không phải là địa dưới vốn có, cho nên gọi là Vô
Phiền.
Lại nữa, cõi trời ấy thấy rõ Khổ thật sự là Khổ, Tập thật sự là Tập,
Diệt thật sự là Diệt, Đạo thật sự là Đạo, lìa bỏ phiền não thô nặng của
địa dưới đã khởi lên, cho nên gọi là Vô Phiền.
Lại nữa, Phiền nghĩa là Quảng, tức là cõi trời Quảng Quả, nay cõi
trời này đầu tiên vượt lên trên cõi trời ấy, cho nên gọi là Vô Phiền.
“Thế nào là cõi trời Vô Nhiệt? Đó là cõi trời Vô Nhiệt cùng một
loại Chúng đồng phần làm bạn, cho đến nói rộng ra.”
Hỏi: Vì sao cõi trời ấy gọi là Vô Nhiệt?
Đáp: Đó là giả danh-giả tưởng, danh thi thiết-tưởng thi thiết, cho
đến nói rộng ra.
Lại nữa, cõi trời ấy tha ân không có phiền não nóng bỏng, tâm
không có phiền não nóng bỏng, suốt một  thời kỳ thọ nhận niềm vui
430 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
hoàn toàn mát mẻ, không phải là đị a dưới vốn có, cho nên gọi là Vô
Nhiệt.
Lại nữa, cõi trời ấy thấy rõ K hổ thật sự là Khổ cho đến Đạo thật
sự là Đạo, lìa bỏ hơi nóng do phiền não của địa dưới đã khởi lên, cho
nên gọi là Vô Nhiệt.
Lại nữa, trong cõi trời Vô Phi ền áp sát bên cạnh ngọn lửa phiền
não tăng thượng của địa dưới đã khởi lên, cho nên vẫn gọi là nóng bỏng,
cõi trời này vượt lên trên cõi trời ấy, cho nên gọi là Vô Nhiệt.
“Thế nào là cõi trời Thiện Hiện? Đó là cõi trời Thiện Hiện cùng
một loại Chúng đồng phần làm bạn, cho đến nói rộng ra.”
Hỏi: Vì sao cõi trời ấy gọi là Thiện Hiện? Đáp: Đó là giả danh-giả
tưởng, danh thi thiết-tưởng thi thiết, cho đến nói rộng ra.
Lại nữa, cõi trời ấy có hình sắc đoan chánh tuyệt vời, hơn hẳn hai
cõi trời dưới, cho nên gọi là Thiện Hiện.
Lại nữa, cõi trời ấy thấy rõ K hổ thật sự là Khổ cho đến Đạo thật
sự là Đạo, lìa bỏ mọi cấu trược, ta âm thanh tịnh hiển bày rõ ràng, cho
nên gọi là Thiện Hiện.
Lại nữa, cõi trời ấy đạt được tu xen lẫn Tĩnh lự thuộc phẩm Thượng,
pháp thiện hiển bày rõ ràng, cho nên gọi là Thiện Hiện.
“Thế nào là cõi trời Thiện Kiến? Đó là cõi trời Thiện Kiến cùng
một loại Chúng đồng phần làm bạn, cho đến nói rộng ra.”
Hỏi: Vì sao cõi trời ấy gọi là Thiện Kiến?
Đáp: Đó là giả danh-giả tưởng, danh thi thiết-tưởng thi thiết, cho
đến nói rộng ra.
Lại nữa, cõi trời ấy có hình sắc lại càng tuyệt vời hơn, mọi người
đều thích ngắm nhìn, cho nên gọi là Thiện Kiến.
Lại nữa, cõi trời ấy thấy rõ Khổ thật sự là Khổ cho đến Đạo thật
sự là Đạo, lìa bỏ mọi cấu trược, ta âm thanh tịnh càng hiển bày rõ ràng,
cho nên gọi là Thiện Kiến.
Lại nữa, cõi trời ấy đạt được tu xen lẫn Tĩnh lự thuộc phẩm đầy đủ
trọn vẹn thù thắng nhất, pháp thiện đã đạt được càng hiển bày rõ ràng,
cho nên gọi là Thiện Kiến.
“Thế nào là cõi trời Sắc Cứu Cánh? Đó là cõi trời Sắc Cứu Cánh
cùng một loại Chúng đồng phần làm bạn, cho đến nói rộng ra.”
Hỏi: Vì sao cõi trời ấy gọi là Sắc Cứu Cánh?
Đáp: Đó là giả danh-giả tưởng, danh thi thiết-tưởng thi thiết, cho
đến nói rộng ra.
Lại nữa, cõi trời ấy có hình sắc  thật là thù th ắng tuyệt vời, nơi
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 176 431  
www.daitangkinh.org  
khác không sánh kịp, cho nên gọi là Sắc Cứu Cánh.
Lại nữa, cõi trời ấy thấy rõ K hổ thật sự là Khổ cho đến Đạo thật
sự là Đạo, lìa bỏ mọi cấu trược, các cõi trời khác vốn không sánh bằng,
cho nên gọi là Sắc Cứu Cánh.
Lại nữa, cõi trời ấy đạt được tu xen lẫn Tĩnh lự thuộc phẩm đầy đủ
trọn vẹn thù thắng cao nhất, những căn thiện của cõi Sắc vốn không có
thể sánh bằng, cho nên gọi là Sắc Cứu Cánh.
Lại nữa, cõi trời ấy đối với cõi có Sắc là tôn quý nhất-thù thắng
nhất-cao nhất, cho nên gọi là Sắc Cứu Cánh.
Lại nữa, cõi trời ấy cũng gọi là cõi trời Ngại Cứu Cánh, Ngại nghĩa
là tích tập về Sắc, cõi trời ấy đối với  sự tích tập về Sắc này là tôn quý
nhất-thù thắng nhất-cao nhất, cho nên gọi là Ngại Cứu Cánh.
Lại nữa, cõi trời ấy cũng gọi là cõi trời Đảnh Cứu Cánh, bởi vì là
đỉnh cao của tất cả các cõi có Sắc cho nên cũng là Cứu Cánh.
Hỏi: Cõi trời Tịnh Cư là do nghiệp  mà cảm, hay là do tu xen lẫn
Tĩnh lự? Nếu như vậy thì có gì sai? Nếu do nghiệp thì tu xen lẫn sẽ trở
thành vô ích. Nếu do tu xen lẫn Tĩnh lự thì trái ngược nhau với luận
Phẩm Loại Túc đã nói, như luận ấy nói: “Tu xen lẫn Tĩnh lự và do ng-
hiệp cho nên sinh đến cõi trời Tịnh Cư…”
Đáp: Có người đưa ra  cách nói này: Đó là do nghiệp mà cảm
đến.

Hỏi: Tu xen lẫn Tĩnh lự lẽ nào không vô ích hay sao?
Đáp: Bởi vì Tu xen lẫn Tĩnh lự thì nghiệp được quyết định, cho
nên không phải là vô ích.
Lại nữa, cần phải tu xen lẫn Tĩnh lự sau đó mới có thể dẫn đến
nghiệp Tư ấy hiện rõ trước mắt, từ đây có thể dẫn đến Chúng đồng phần
ấy.
Có Sư khác nói: Do tu xen lẫn Tĩnh lự.
Hỏi: Luận Phẩm Loại Túc đã nói nên hiểu thế nào?
Đáp: Tức là tu xen lẫn Tĩnh lự dùng thanh Nghiệp mà nói.
Lại nữa, luận ấy trước nói “Tu xen lẫn Tĩnh lự”, là bởi vì hiển bày
lúc trước tiến vào Định ấy; sau nói “Và do nghiệp cho nên sinh đến cõi
trời Tịnh Cư”, là bởi vì hiển bày về sau dựa vào lực của Định ấy cho nên
sinh đến cõi trời Tịnh Cư.
Nói như vậy thì cũng do nghiệp lực, cũng do tu xen lẫn Tĩnh lự,
nghĩa là nghiệp Tư hiện rõ trước mắt, nhưng nếu không tu xen lẫn Tĩnh
lự thì không có thể sinh đến nơi ấy; tuy có tu xen lẫn Tĩnh lự, nhưng nếu
không có nghiệp Tư hiện rõ trước mắt, thì cũng không có thể sinh  đến
432 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
nơi ấy. Vì thế cần phải có nghiệp Tư dẫn dắt tu xen lẫn Tĩnh lự, khiến
cho được quyết định thì mới có thể sinh đến nơi ấy.
Hỏi: Những người Học thì lúc ấy tất cả vì đạt được điều chưa đạt
được mà Học chăng? Giả sử vì đạt được điều chưa đạt được mà Học thì
lúc ấy tất cả là Học chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Kinh Thỉ-phược-ca là căn bản của luận này, kinh ấy nói đến
Học những điều thuộc về Học (Học-sở Học) cho nên gọi là Học. Đừng
có sinh nghi ngờ, những người Hữu học  lúc Học những điều thuộc về
Học thì mới gọi là Học, lúc tr ú trong tánh vốn có (bổn tánh) thì không
gọi là Học; lúc những người Vô họ c trú trong tánh vốn có thì mới gọi
là Vô học, lúc Học những điều thu ộc về Học thì không gọi là Vô học.
Muốn làm cho mối nghi này được quyết định, hiển bày về những người
Học có lúc trú trong tánh vốn có, những người Vô học cũng Học những
điều thuộc về Học, cho nên soạn ra phần luận này.
1. Có lúc Học không phải là vì đa ït được điều chưa  đạt được mà
Học, đó là Học trú trong tánh vốn có.
Có hai nhân duyên gọi là trú trong tánh vốn có:
a. Giữ gìn tánh hiền thiện mà không c ó sự đổi thay lui sụt (thối
chuyển).
b. Giữ gìn đức của mình mà không tiến tới tu tập.
Nay chỉ nói về không tiến tới tu ta äp thì gọi là trú trong tánh vốn
có, đó là hàng Dự lưu không tiến tới tu tập gia hạnh của quả Nhất lai,
hàng Nhất lai không tiến tới tu tập gia hạnh của quả Bất hoàn, hàng Bất
hoàn không tiến tới tu tập gia hạnh c ủa quả A-la-hán, Tín thắng giải
không cầu làm Kiến chí.
Lại nữa, những người Học không ca àu khởi lên những pháp chưa
đạt được như quán Bất tịnh, Trì tức niệm, Niệm trú, ba Nghĩa quán, bảy
Xứ thiện, Tĩnh lự, Vô lượng, Vô sắc, Giải thoát, Thắng xứ, Biến xứ,
không dẫn dắt phát khởi các T hông, không tu xen lẫn Tĩnh lự, không
tiến vào Định Diệt tận, không thọ trì đọc tụng ba Tạng kinh-luật-luận
cũng không giảng dạy cho người kh ác, không ở chốn A-luyện-nhã tư
duy quán sát về ba Tạng kinh-luật-luận cũng không chịu khó quản lý sự
việc của Phật-Pháp-Tăng. Đó gọi la ø Học không phải vì đạt được điều
chưa đạt được mà Học.
Hỏi: Lúc ấy vì nhân duyên gì mà không Học những điều thuộc về
Học?
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 176 433  
www.daitangkinh.org  
Đáp: Lúc ấy hoặc vì bệnh kéo dài, hoặc thiếu duyên giúp đỡ, dấy
lên tư duy như vậy: Mình đã trải qu a vô lượng sinh tử, chỉ còn lại bảy
đời, hoặc chỉ còn lại một đời. Có lúc nghĩ rằng mình đã ra khỏi bùn lầy
của cõi Dục, chỉ còn lại chút ít cu ûa cõi trên, đời hiện tại đã khổ đau lo
lắng, hoặc thiếu duyên giúp đỡ, may mắn có thể ngừng nghỉ chút ít, vội
vàng gì tiến tới tu tập? Vì vậy người Học không Học những điều thuộc
về Học.
2. Có lúc vì đạt được điều chưa đạt được mà Học nhưng lúc ấy
không phải là Học, đó là A-la hán va ø dị sinh tiến tới cầu pháp phía
trên.
Trong này, pháp phía trên là công đức thù thắng, tức là Thời giải
thoát cầu làm Bất động, và A-la hán khởi lên những pháp chưa đạt được
như quán Bất tịnh, Trì tức niệm, Niệm trú, ba Nghĩa quán, bảy Xứ thiện,
Tĩnh lự, Vô lượng, Vô sắc, Giải thoát, Thắng xứ, Biến xứ, dẫn dắt phát
khởi các Thông, tu xen lẫn Tĩnh lự, ti ến vào Định Diệt tận; khởi lên
Vô ngại giải, Vô tranh, Nguyện trí, Định Biên tế, Không Không, Vô
nguyện Vô nguyện, Vô tướng Vô tướng; thọ trì đọc tụng ba Tạng kinh-
luật-luận, hoặc là giảng dạy cho người khác, hoặc là ở chốn A-luyện-
nhã, tư duy quán sát về ba Tạng kinh-luật-luận, hoặc lại chịu khó quản
lý sự việc của Phật-Pháp-Tăng.
Và dị sinh cầu lìa nhiễm cõi Dục, lìa nhiễm cõi Sắc, lìa một phần
nhiễm cõi Vô sắc; hoặc là khởi l ên quán Bất tịnh, Trì tức niệm, Niệm
trú, ba Nghĩa quán, bảy Xứ thiện, Noãn-Đảnh-Nhẫn-Thế đệ nhất pháp,
Tĩnh lự, Vô lượng, Vô sắc, Giải thoát, Thắng xứ, Biến xứ, dẫn dắt phát
khởi các Thông, tiến vào Định Diệt tận; thọ trì đọc tụng ba Tạng kinh-
luật-luận, hoặc là giảng dạy cho người khác, hoặc là ở chốn A-luyện-
nhã, tư duy quán sát về ba Tạng kinh-luật-luận, hoặc lại chịu khó quản
lý sự việc của Phật-Pháp-Tăng. Đ ó gọi là vì đạt được điều chưa đạt
được mà Học nhưng lúc ấy không phải là Học.
Hỏi: Vì sao A-la hán lại Học những điều thuộc về Học? Đáp: Lúc
ấy tuy không vì đoạn phiền não cho nên Học, mà vì yêu thích công đức
thù thắng cho nên Học.
3. Có lúc Học cũng vì đạt được điều chưa đạt được mà Học, đó là
Học tiến tới cầu pháp phía trên, tức là hàng Dự lưu tiến tới tu tập gia
hạnh của quả Nhất lai, nói rộng ra  cho đến hoặc lại chịu khó quản lý
sự việc của Phật-Pháp-Tăng. Đó gọi là Học cũng vì đạt được điều chưa
đạt được mà Học.
4. Có lúc không phải là Học cũng không phải là vì đạt được điều
434 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
chưa đạt được mà Học, đó là A-la hán và dị sinh trú trong tánh vốn có,
tức là Thời giải thoát không cầu làm Bất động, nói rộng ra cho đến cũng
không chịu khó quản lý sự việc của Phật-Pháp-Tăng; và dị sinh không
cầu lìa nhiễm cõi Dục, nói rộng ra cho đến cũng không chịu khó quản
lý sự việc của Phật-Pháp-Tăng. Đó gọi là không phải Học cũng không
phải vì đạt được điều chưa đạt được mà Học.
Hỏi: Những người Vô học thì lúc ấy tất cả không vì đạt được điều
chưa đạt được mà Học chăng? Giả  sử không vì đạt được điều chưa đạt
được mà Học thì lúc ấy tất cả là Vô học chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Vô học không phải là không vì đạt được điều chưa đạt
được mà Học, đó là A-la hán tiến t ới cầu pháp phía trên, tức là Thời
giải thoát cầu làm Bất động, và A-la hán khởi lên những pháp chưa đạt
được như quán Bất tịnh, Trì tức niệm, nói rộng ra cho đến hoặc lại chịu
khó quản lý sự việc của Phật-Pháp-Tăng. Đó gọi là Vô học không phải
là không vì đạt được điều chưa đạt được mà Học.
2. Có lúc không vì đạt được điều chưa đạt được mà Học nhưng lúc
ấy không phải là Vô học, đó là Học và dị sinh trú trong tánh vốn có, tức
là hàng Dự lưu không tiến tới tu tập gia hạnh của quả Nhất lai, nói rộng
ra cho đến cũng không chịu khó quản lý sự việc của Phật-Pháp-Tăng;
và dị sinh không vì lìa nhiễm cõi Dục, cũng không chịu khó quản lý sự
việc của Phật-Pháp-Tăng. Đó gọi là không vì đạt được điều chưa đạt
được mà Học nhưng lúc ấy không phải là Vô học.
3. Có lúc Vô học cũng không vì đạt  được điều chưa đạt được mà
Học, đó là A-la hán trú trong tánh vốn có, tức là Thời giải thoát không
cầu làm Bất động, và A-la hán không cầu khởi lên những pháp chưa đạt
được như quán Bất tịnh, Trì tức niệm, nói rộng ra cho đến cũng không
chịu khó quản lý sự việc của Phật- Pháp-Tăng. Đó gọi là Vô học cũng
không vì đạt được điều chưa đạt được mà Học.
4. Có lúc không phải là Vô học cũng không phải là không vì đạt
được điều chưa đạt được mà Học, đó là Học và dị sinh tiến tới cầu pháp
phía trên, tức là hàng Dự lưu tiến tới tu tập gia hạnh của quả Nhất lai,
nói rộng ra cho đến hoặc lại chịu khó quản lý sự việc của Phật-Pháp-
Tăng; và dị sinh cầu lìa nhiễm cõi Dục, nói rộng ra cho đến hoặc lại
chịu khó quản lý sự việc của Phật-Pháp-Tăng. Đó gọi là không phải là
Vô học cũng không phải là không vì đa ït được điều chưa đạt được mà
Học.
Hỏi: Vì Học những điều thuộc về Học cho nên gọi là Học, hay là
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 176 435  
www.daitangkinh.org  
vì đạt được pháp Học cho nên gọi là Học? Giả sử như vậy thì có gì sai?
Nếu như Học những điều thuộc về Học cho nên gọi là Học, thì văn này
nên hiểu thế nào? Như nói: Học trú trong tánh vốn có. Nếu như đạt được
pháp Học cho nên gọi là Học, thì trong kinh nói nên hiểu thế nào? Như
nói: Học những điều thuộc về Học.
Đáp: Có người nói: Đạt được pháp Học cho nên gọi là Học, đó là
nếu Học hay là không Học nhưng thành tựu pháp Học thì gọi là Học.
Hỏi: Nếu như vậy thì trong kinh nói nên hiểu thế nào?
Đáp: Kinh ấy chỉ dựa vào người H ọc hiện tại mà nói, chứ không
nói đến tất cả.
Lại nữa, kinh ấy dựa vào ý thíc h không dừng lại cho nên đưa ra
cách nói như vậy. Nghĩa là những người Học nếu khởi lên tâm thiện,
hay là khởi lên tâm bất thiện-vô ký, hoặc là khởi  lên gia hạnh, hay là
không khởi lên gia hạnh, thì lúc ấy tất cả ý thích về Học chưa hề ngừng
bỏ, bởi vì không vĩnh viễn rời bỏ gia hạnh. Như người đi đường, lúc tạm
thời dừng chân nghỉ ngơi, người khác hỏi rằng đi đến nơi nào? Người ấy
trả lời rằng đi đến nơi ấy. Lúc ấy cũng bởi vì ý thích không dừng lại, cho
nên tuy dừng lại nhưng nói là đi đến; ở đây cũng như vậy.
Có người nói: Học những điều thuộc về Học cho nên gọi là Học.
Hỏi: Nếu như vậy thì văn này nên hiểu thế nào? Như nói: Học trú
trong tánh vốn có.
Đáp: Văn này dựa vào tạm thời ngừng gia hạnh mà nói, nhưng
bởi vì ý thích không rời bỏ Học, ch o nên gọi là Học những điều thuộc
về Học.
Lại nữa, lúc Học trú trong ta ùnh vốn có, tuy không khởi lên tâm-
tâm sở pháp… thuộc về Học, mà Học ấy có thể luôn luôn hiện hành, dựa
vào nghĩa này cho nên gọi là Học những điều thuộc về Học.
Hỏi: Nếu người Học là không Học, người Vô học là Học, thì tại
sao kiến lập Học-Vô học khác nhau? Đáp: Ở trong phần vị Thánh giả,
căn cứ theo đoạn trừ phiền não mà kiến lập Học-Vô học, chứ không dựa
vào tu tập công đức thù thắng, vì thế cho nên có khác nhau.
Thuận lưu là nghĩa gì? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn phân biệt nghĩa lý trong kinh. Như trong kinh
nói: “Có bốn Bổ-đặc-già-la:
1. Thuận lưu.
2. Nghịch lưu.
3. Trung trú.
436 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
4. Đáo bỉ ngạn.”
Trong kinh tuy nói ra điều này ma ø không phân biệt rộng ra, kinh
ấy là nơi nương tựa căn bản của luận này, điều gì mà kinh ấy không giải
thích thì nay cần phải giải thích, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Thuận lưu là nghĩa gì?
Đáp: Làm cành nhánh, làm cửa ngõ, làm quan hệ, làm con đường,
làm dấu vết hướng đến, đối với các sinh loại, các nẽo, các cõi, các
chủng loại, các sinh tử, là nghĩa của thuận lưu.
Hỏi: Nghịch lưu là nghĩa gì?
Đáp: Làm cành nhánh, làm cửa ngõ, làm quan hệ, làm con đường,
làm dấu vết hướng đến, đối với diệt sinh loại, diệt nẽo, diệt cõi, diệt
chủng loại, diệt sinh tử, là nghĩa của nghịch lưu.
Lưu có nhiều loại, hoặc nói về Thánh đạo gọi là lưu, hoặc nói về
nghiệp gọi là lưu, hoặc nói về ái gọi la ø lưu, hoặc nói về sinh tử gọi là
lưu. Trong này, lưu là chỉ nói về sinh tử.
Lại trong kinh nói: “Thuận lưu là thế nào? Đó là luyện tập về các
Dục và tạo ra nghiệp ác. Nghịch lưu là thế nào? Đó là không luyện tập
về các Dục, không tạo ra nghiệp ác.”
Nên biết kinh ấy dựa vào một đời mà kiến lập về Thuận lưu và
Nghịch lưu. Trong này đã nói là dựa vào nhiều đời mà kiến lập về
Thuận lưu và Nghịch lưu.
Lại nữa, kinh ấy dựa vào thời gi an ngắn khởi lên Dục ác-lìa bỏ
Dục ác mà kiến lập về Thuận lưu và Nghịch lưu. Vì vậy, chưa lìa nhiễm
cõi Dục thì Thánh giả cũng gọi là Thuận lưu, đã lìa nhiễm cõi Dục thì dị
sinh cũng gọi là Nghịch lưu. Trong này đã nói là dựa vào thời gian dài
hướng về sinh tử-rời bỏ sinh tử mà kiến lập về Thuận lưu và Nghịch lưu.
Vì vậy, có người đã lìa nhiễm cõi Sa éc mà gọi là Thuận lưu, có người
chưa lìa nhiễm cõi Dục mà gọi là Nghịch lưu.
Các sinh loại, đó là bốn loại Sinh. Các nẽo, đó là năm nẽo. Các
cõi, đó là ba cõi. Các chủng loại, đó là chủng loại sai biệt như địa-xứ…
Các sinh tử, đó là sự lưu chuyển sai biệt từ vô thỉ đến nay, cho đến về
sau. Làm cành nhánh, đó là mười hai ca ønh nhánh của Hữu. Làm cửa
ngõ, đó là nghiệp và phiền não. Làm quan hệ, đó là nơi nương tựa. Làm
con đường, đó là con đường đi đến sinh tử. Làm dấu vết hướng đến, đó
là dấu vết hướng đến tiến vào Tát-ca-da (hữu thân kiến).
Trong này, năm câu trước nêu rõ về sinh tử, năm câu sau nêu rõ
về nuôi lớn sinh tử, thâu nhiếp tiếp nha än sinh tử, tùy ý duy trì sinh tử,
không đoạn tuyệt sinh tử, tùy thuận tăng thêm sinh tử, như dòng   sông
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 176 437  
www.daitangkinh.org  
tuôn chảy mà không có khô cạn.
Trong nghĩa của Nghịch lưu, năm loại như sinh loại…, nói như
trước. Sai biệt là được diệt bở đối với những loại ấy. Làm cành nhánh,
đó là tám chi Thánh đạo. Làm cửa ngõ, đó là quán Bất tịnh, Trì tức
niệm… Làm quan hệ, đó là ba Giải thoát môn. Làm con đường, đó là
hướng đến con đường diệt bỏ sinh tử. Làm dấu vết hướng đến, đó là dấu
vết hướng đến diệt bỏ Tát-ca-da kiến.
Trong này, năm câu trước nêu rõ về diệt bỏ sinh tử, năm câu sau
nêu rõ có thể hủy diệt sinh tử mà không phải là nuôi lớn, có thể rời bỏ
sinh tử mà không phải là thâu nhiếp tiếp nhận, có thể phá tan sinh tử
mà không phải là tùy ý duy trì, có thể đoạn tuyệt đoạn tuyệt sinh tử
mà không phải là không đoạn tuyệt, có thể xa lìa giảm bớt sinh tử mà
không phải là tùy thuận tăng thêm, như chỗ đê vỡ dần dần làm cho khô
cạn.
Hỏi: Đến đâu thì gọi là Thuận lưu và Nghịch lưu?
Đáp: Có người nói: Cho đến Khổ pha ùp trí nhẫn chưa sinh thì gọi
là Thuận lưu, đã sinh thì gọi là Nghịch lưu.
Có người nói: Cho đến Thế đệ nh ất pháp chưa sinh thì gọi là
Thuận lưu, đã sinh thì gọi là Nghịch lưu.
Có người nói: Cho đến Nhẫn tăng thượng chưa sinh thì gọi là
Thuận lưu, đã sinh thì gọi là Nghịch lưu.
Có người nói: Cho đến pháp Nhẫn.
Có người nói: Cho đến pháp Đảnh.
Có người nói: Cho đến pháp Noãn.
Có người nói: Cho đến Niệm trú.
Có người nói: Cho đến quán Bất tịnh, Trì tức niệm… chưa sinh thì
gọi là Thuận lưu, đã sinh thì gọi là Nghịch lưu.
Nói như vậy thì nếu chưa gieo trồng căn thiện thuận phần Giải
thoát thì gọi là Thuận lưu, đã gieo trồng căn thiện thuận phần Giải thoát
thì gọi là Nghịch lưu.
Nguyên cớ thế nào? Bởi vì vô lượng hữu tình t uy có thể cúng
dường cho các Sa-môn và Bà-la -môn, bố thí cho những người nghèo
khó-cô độc, đi xa mệt nhọc và người khổ hạnh, các loại đồ ăn thức
uống-áo quần-đồ nằm-thuốc men c hữa bệnh-nhà cửa-đèn sáng-hương
hoa, cùng với các loại châu báu mà họ cần đến, còn thiết hội lớn cúng
tế bình đẳng (vô giá hội), như Phệ-ma-la, Bất Cang Cường… Nhưng bởi
vì họ không gieo trồng căn thiện thuận phần Giải thoát, cho nên ở trong
sinh tử lâu dài nhận lấy quả ấy rồi, trở lại sinh vào ngạ quỷ nhận  chịu
438 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
nỗi khổ đói khát trải qua trăm ngàn năm, thậm chí không nghe đến tên
gọi của ăn uống; hoặc là sinh trong loài người thì nghèo túng hèn mạt,
lắm điều khổ não.
Hoặc lại thấy có vô lượng hữu tình, giữ gìn cấm giới, học nhiều
hiểu rộng, thọ trì đọc tụng ba Tạng kinh-luật-luận, giải thích phân biệt
văn nghĩa thông suốt; lại có thể hiểu thông các luận của thế tục, đó là
các luận về Ký, luận về Nhân, luận về Vương pháp, luận về các phương
pháp chữa bệnh, luận về nghệ thuật tinh xảo…; hoặc lại thành thạo đủ
cả các luận của ngoại đạo, đó là các luận về Thắng, luận về Số, luận
về Minh, luận về Thuận thế gian, luận về Ly hệ… Bởi vì họ không gieo
trồng căn thiện thuận phần Giải thoát , cho nên ở trong sinh tử lâu dài
nhận lấy quả ấy rồi, trở lại sinh trong nẽo bàng sinh, làm thân của các
loài trâu-dê-la-lừa…, ngu si mù lòa thậm chí không thể nói được; hoặc
sinh trong loài người thì đui điếc câm ngọng, tối tăm chậm chạp không
có trí tuệ.
Hoặc lại thấy có vô lượng hữu tình, tu tập các pháp Định, hoặc
lìa nhiễm của cõi Dục, hoặc lìa nhiễm của cõi Sắc, hoặc lìa một phần
nhiễm của cõi Vô sắc, trú trong tám Đẳng chí, khởi lên bốn Vô lượng,
dẫn dắt phát ra năm Thông. Bởi vì họ không gieo trồng căn thiện thuận
phần Giải thoát, cho nên ở trong sinh tử lâu dài nhận lấy quả ấy rồi, trở
lại sinh vào nẽo địa ngục, nhận chịu những nỗi khổ đau khốc liệt; hoặc
sinh vào nẽo bàng sinh làm thân mãng xà, phun ra hơi độc hừng hực làm
cho núi lở đá nhào; hoặc sinh trong loài người thì làm hạng Chiên-đồ-la,
Bổ-yết-sa…, tạo nghiệp xấu ác.
Những loại như vậy tuy tạm thời thọ phước, mà trở lại rơi vào nẽo
ác, cho nên đều gọi là Thuận lưu.
Nếu các hữu tình, hoặc chỉ bố thí một nắm thức ăn, hoặc chỉ thọ
trì giới một ngày đêm, hoặc thậm chí đọc bài tụng bốn câu, hoặc trong
chốc lát tu gia hạnh về Định, mà có thể gieo trồng căn thiện thuận phần
Giải thoát. Từ đây về sau tuy bởi vì phiền não mà tạo tác các loại hành
ác của thân-ngữ-ý, hoặc gây ra nghi ệp vô gián, hoặc lại đoạn diệt tất
cả căn thiện, thậm chí trong thân không có một chút chủng tử của pháp
thiện, rơi vào địa ngục vô gián nhận chịu các loại khổ đau, nhưng được
gọi là dừng nơi bến bờ c ủa Niết-bàn, bởi vì h ọ chắc chắ n được nhập
Niết-bàn.
Trong này có thí dụ, như người câu cá dùng thức ăn làm mồi nhử,
gắn ở trên lưỡi câu đưa vào trong nước sâu, có con cá nuốt lấy mồi câu,
con cá ấy lúc bấy giờ tuy còn bơi lội đùa vui, hoặc là bơi vào trong hang,
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 176 439  
www.daitangkinh.org  
nhưng nên biết đã gọi là nằm ở trong tay người câu cá, bởi vì không bao
lâu chắc chắn sẽ đến trên bờ.
Vì vậy cho nên nói: Thà làm Đề-bà-đạt-đa mà rơi vào địa ngục
vô gián, chứ không làm Ốt-đạt-lạc-ca-át-ma-la-tử sinh đến cõi trời Phi
tưởng phi phi tưởng. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Đề-bà-đạt-đa tuy tạo
ra ba nghiệp vô gián, đoạn các căn thiện, rơi vào địa ngục vô gián, mà
vào lúc con người thọ đến bốn vạn tuổi , sẽ đạt được Bồ-đề Độc giác,
lợi căn hơn hẳn Xá-lợi-tử… Ốt-đạt-lạc-ca-át-ma-la-tử tuy lìa nhiễm của
tám địa, trú trong tám Đẳng chí, Xa -ma-tha cao nhất, sắp vượt qua ba
cõi, đến gần cửa Cam lộ, sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trải qua
tám vạn Đại kiếp thọ nhận niềm vui va éng lặng; bởi vì lực của nghiệp
ác, mà sinh vào chốn A-luyện-nha õ ở trong rừng Khổ hạnh, làm loài
chồn bay mang theo đôi cánh, bắt chim thú để ăn thịt, các loài sinh sống
trong nước-trên đất-giữa bầu trời, không có loài nào có thể thoát được.
Do hành ác này, mạng chung sẽ rơi vào địa ngục vô gián, nhận chịu tất
cả các loại khổ đau khốc liệt khó mà chịu nổi.
Đức Phật không ghi nhận thời gian  được giải thoát của người ấy.
Vì thế cho nên nói: Tuy cư trú tr ong rừng Khổ hạnh mà gọi là người
Thuận lưu, tuy ở trong cảnh giới của  năm dục mà gọi là người Nghịch
lưu.
Trong này có thí dụ, như người ôm hai cái bình đi xa, một cái bằng
vàng, một cái bằng sành. Trượt chân mà ngã nhào, hai cái bình đều vỡ
toang, lúc bấy giờ người ấy không tiếc cái bình vàng, mà tiếc cái bình
sành, vì vậy than thở hối hận. Ngườ i ta hỏi nguyên cớ vì sao, người ấy
trả lời đầy đủ việc ấy. Người ta lại hỏi vặn: Cái bình vàng vỡ toang mà
ông có thể không tiếc, sao lại thương tiếc một cái bình sành? Người ấy
lại trả lời rằng: Ông quả thật ngu si! Nguyên cớ thế nào? Bởi vì cái bình
vàng vỡ rồi tuy mất đi hình dáng cái bình, nhưng không mất đi Thể của
cái bình, trở về giao cho thợ vàng có thể làm cho giống như ban đầu,
hoặc là hơn hẳn ban đầu; cái bình sành vỡ rồi thì hình dáng và Thể chất
đều mất đi, tuy giao cho thợ gốm, mà thậm chí không có thể sửa chữa để
làm vật dụng khác, huống là cái bình ban đầu hay sao? Vì thế cho nên
nay tôi không than cho cái bình vàng mà tiếc cho cái bình sành!
Như vậy, bởi vì Thiên Thụ đã gi eo trồng căn thiện thuận phần
Giải thoát, cho nên tuy tạo ra nhiề u điều ác phải sinh trong địa ngục,
mà sẽ thành tựu Bồ-đề Độc giá c, lợi căn hơn hẳn Xá-lợi-tử…, như cái
bình vàng ấy vỡ toang rồi vẫn làm lại được; bởi vì Mãnh Hỷ Tử không
gieo trồng căn thiện thuận phần Giải thoát, cho nên tuy lìa nhiễm  của
440 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
tám địa, sinh đến cõi trời Hữu Đảnh, mà cuối cùng rơi vào nẽo ác không
có hạn kỳ giải thoát, như cái bình sành kia vỡ toang rồi không còn tác
dụng.
Vì thế cho nên người chưa gieo trồng căn thiện thuận phần Giải
thoát thì gọi là Thuận lưu, người đa õ gieo trồng căn thiện thuận phần
Giải thoát thì gọi là Nghịch lưu.
Hỏi: Căn thiện thuận phần Giải thoát ở nơi thân hữu tình, tướng ấy
rất vi tế, đã gieo trồng-chưa gieo trồng làm sao có thể biết được?
Đáp: Bởi vì tướng cho nên biết. Căn ấy có tướng gì? Đó là nếu lúc
nghe Thiện hữu nói đến Chánh pháp, thì toàn thân nổi gai ốc, đau buồn
rơi nước mắt, chán ngán lìa xa sinh tử, vui mừng hướng đến niết-bàn,
sinh lòng kính yêu sâu sắc đối với Chánh pháp và Pháp sư. Nên biết là
quyết định đã gieo trồng căn thiện thuận phần Giải thoát, nếu không có
thể như vậy thì nên biết là chưa gieo trồng.
Trong này có thí dụ, như người gieo hạt giống ở trong thửa ruộng
rồi, qua một thời gian dài sinh lòng nghi ngờ: Trong thửa ruộng này
mình đã từng gieo hạt giống hay không? Lưỡng lự chưa quyết định,
người bên cạnh nói rằng: Đâu đán g phân vân, nay ông chỉ cần dùng
nước để tưới thấm, dùng phân để phủ lên, nếu hạt giống nảy mầm thì
biết là đã gieo, không như vậy thì không gieo. Người ấy như lời nói ấy
liền có được quyết định. Như vậy, hành giả tự mình nghi ngờ trong thân
đã từng gieo chủng tử Giải thoát  hay không? Lúc ấy Thiện hữu bèn
nói cho biết rằng: Nay ông có thể đi đến nơi giảng pháp, nếu lúc nghe
pháp mà toàn thân nổi gai ốc, đau buồn rơi nước mắt, cho đến sinh lòng
kính yêu sâu sắc đối với Chánh pháp và Pháp sư, thì nên biết là đã gieo
trồng chủng tử Giải thoát, không như vậy thì không gieo. Vì vậy nhờ
vào tướng này mà có thể biết rõ ràng.
Hỏi: Tự trú là nghĩa gì?
Đáp: Không phải là làm cành  nhánh cho đến làm dấu vết hướng
về đối với các sinh loại cho đến các  sinh tử, cũng không phải là làm
cành nhánh cho đến làm dấu vết hướng về đối với diệt sinh loại cho đến
diệt sinh tử, là nghĩa của tự trú. Đây gọi là phần ít việc cần làm đã hoàn
thành, hoặc là tất cả những việc cần làm đã hoàn thành, ý thích dừng
lại một lúc, hoặc là dừng lại hoàn toàn. Không giống như người Thuận
lưu và Nghịch lưu, đối với sinh t ử và Niết-bàn đều làm những việc đã
làm, bởi vì ý thích không dừng lại cho nên gọi là tự trú, tức là nghĩa về
trú trong phạm vi của mình.
Hỏi: Các A-la-hán thì lúc ấy tất cả là tự trú chăng? Giả sử tự  trú
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 176 441  
www.daitangkinh.org  
thì lúc ấy tất cả là A-la-hán chăng?
Đáp: Các A-la-hán thì lúc ấy tất cả đều là tự trú. Lúc ấy là trú nơi
nào? Đó là trú vào đoạn và biết khắp tất cả kiết không còn trong quả
A-la-hán, lìa nhiễm của Phi tưởng phi  phi tưởng xứ. Có lúc tự trú mà
không phải là A-la-hán, đó là Bất hoàn. Lúc ấy là trú nơi nào? Đó là trú
vào đoạn và biết khắp năm kiết thuận phần dưới trong quả Bất hoàn, lìa
nhiễm của cõi Dục. Như Đức Thế Tôn nói:
“Vĩnh viễn đoạn trừ năm phiền não, Học đầy đủ không pháp dẫn
dắt,
Đạt được tự tại và căn Định, chính người này gọi là tự trú.”
Năm phiền não, đó là năm Cái và năm kiết thuận phần dưới, bởi
vì Bất hoàn đã trừ hết, cho nên nói là vĩnh viễn đoạn trừ. Học đầy đủ,
đó là Qủa tròn đầy-Căn đầy đủ chứ không phải là Đẳng chí đầy đủ.
Không có pháp dẫn dắt, đó là nghiệp-phiền não của cõi Dục vốn không
có thể dẫn dắt. Đạt được tự tại, đó là đạt được tâm tự tại, tức là đối với
Tha tâm trí chứng thông đạt được nghĩa tự tại cứu cánh. Đạt được căn
Định, đó là do thành tựu Tĩnh lự mà thâu nhiếp căn thuộc về Tam-ma-
địa. Chính người này gọi là tự trú, đó là trú vào đoạn và biết khắp năm
kiết thuận phần dưới trong quả Bất hoàn, lìa nhiễm của cõi Dục.
Hỏi: Những người đạt được giới Vô học (cực cấm) thì lúc ấy tất cả
đạt được bốn loại Thần túc (cực tíc h) chăng? Giả sử đạt được bốn loại
Thần túc thì lúc ấy tất cả đạt được giới Vô học chăng?
Đáp: Những người đạt được giới Vô học thì lúc ấy tất cả đạt được
bốn loại Thần túc.
Nguyên cớ thế nào? Bởi vì giới Vô học gọi là Cực cấm, bốn loại
Thần túc gọi là Cực tích, cho nên có những người đã đạt được giới Vô
học, nhất định cũng đến nơi đạt được bốn loại Thần túc.
Có lúc đạt được bốn loại Thần túc mà không phải là đạt được giới
Vô học, đó là Bất hoàn. Như Đức  Thế Tôn nói: “Thế nào là Tỳ kheo
đạt được bốn loại Thần túc? Đó là vĩnh viễn đoạn và biết khắp đối với
năm kiết thuận phần dưới.”
Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Bất hoàn thì đã đạt được bốn loại Thần
túc, mà chưa đạt được giới Vô học.
Hoặc đưa ra cách nói này: Những người đạt được bốn loại Thần
túc thì lúc ấy tất cả đến bờ giải t hoát (đáo bỉ ngạn) chăng? Giả sử đến
bờ giải thoát thì lúc ấy tất cả đạt được bốn loại Thần túc chăng?
Đáp: Những người đạt được bốn loại Thần túc thì lúc ấy tất cả đến
bờ giải thoát.
442 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tất cả kiết không còn thì gọi là bốn loại
Thần túc. Như trong kinh nói: “Tích gọi là Niết-bàn, vĩnh viễn đoạn trừ
năm kiết không còn luân hồi sinh tử thì gọi là đến bờ giải thoát.” Các
A-la-hán, thân đã tác chứng thì gọi là đạt được bốn loạ i Thần túc, đã
đoạn trừ năm kiết thuận phần trên, không còn luân hồi sinh tử trong ba
cõi thì gọi là đến bờ giải thoát.
Có lúc đến bờ giải thoát mà không phải là đạt được bốn loại Thần
túc, đó là Bất hoàn. Như Đức Thế Tôn nói: “Thế nào là Tỳ kheo gọi là
đến bờ giải thoát?
Đó là vĩnh viễn đoạn và biết khắp  đối với năm kiết thuận phần
dưới.” Bởi vì đoạn kiết này, cho nên không còn luân hồi sinh tử trong
cõi Dục, thì gọi là đến bờ giải thoát.
Lại nữa, A-la-hán lại tiếp tục đến bờ giải thoát đối với ba cõi, đó
là lúc đoạn kiết do Kiến mà đoạn, Kiết do Tu mà đoạn của ba cõi. Bất
hoàn cũng lại tiếp tục đến bờ giải thoát đối với cõi Dục, đó là lúc đoạn
kiết do Kiến mà đoạn, Kiết do Tu mà đoạn của cõi Dục, mà bởi vì chưa
đạt được Niết-bàn cho nên không gọi là đạt được bốn loại Thần túc.
Hoặc đưa ra cách nói này: Các A- la-hán thì lúc ấy tất cả không
còn nguồn gốc chăng? Giả sử không còn nguồn gốc thì lúc ấy tất cả là
A-la-hán chăng?
Đáp: Các A-la-hán thì lúc ấy tất cả không còn nguồn gốc.
Có lúc không còn nguồn gốc mà không phải là A-la-hán, đó là
Bất hoàn. Như Đức Thế Tôn nói: “Thế nào là Tỳ kheo không còn nguồn
gốc? Đó là vĩnh viễn đoạn và biết  khắp đối với năm kiết thuận phần
dưới.” Trong này, hai cách giải thích nói như đến bờ giải thoát.
Đến đâu thì gọi là Bồ-tát? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn phân biệt nghĩa lý trong kinh. Như trong kinh
nói: “Có một hữu tình, là chủng loại không ngu, là chủng loại thông tuệ,
đó là Bồ-đề Tát-đỏa.” Trong kinh tuy nói ra điều này mà không phân
biệt, đến đâu thì gọi là Bồ-tát, đạt được gì thì gọi là Bồ-tát? Kinh ấy là
nơi nương tựa căn bản của luận này, điều gì mà kinh không giải thích thì
nay cần phải giải thích, cho nên soạn ra phần luận này.
Lại nữa, bởi vì đoạn trừ tâm lý của người thật sự không phải là
Bồ-tát mà khởi lên Tăng thượng mạn cho là Bồ-tát, cho nên soạn ra
phần luận này.
Nguyên cớ thế nào? Bởi vì có những hữu tình đem một bữa ăn để
bố thí, hoặc đem một cái áo, ho ặc một chỗ ở, cho đến hoặc đem một
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 176 443  
www.daitangkinh.org  
cái tăm xỉa răng để bố thí, hoặc thọ trì một giới, hoặc tụng một bài kệ,
hoặc một lần nhiếp tâm quán tưởng Ba át tịnh…, mà không sợ hãi gì (sư
tử hống) nói ra lời như vậy: Tôi nhờ vào điều nàycho nên nhất định sẽ
làm Phật. Bởi vì đoạn trừ ta âm niệm Tăng thượng mạn như vậy, hiển
bày tuy trải qua ba Vô số kiếp tu đầy đủ các loại khổ hạnh khó thực
hành, nếu như chưa tu tập về nghiệp của  Diệu tướng thì hãy còn chưa
nên nói mình là Bồ-tát, huống là người Tăng thượng mạn vô cùng kém
cõi ấy hay sao? Vì vậy Bồ-tát cho đến lúc hết Vô số kiếp thứ nhất, tuy
tu đầy đủ các loại khổ hạnh khó thực hành, mà chưa có thể quyết định
tự biết mình làm Phật; lúc hết Vô số kiếp thứ hai, tuy có thể quyết định
tự biết mình làm Phật, mà hãy còn chưa dám phát khởi tâm niệm không
sợ hãi, nói là mình sẽ làm Phật; hết Vô số kiếp thứ ba, lúc đã tu tập về
nghiệp của Diệu tướng, cũng quyết định biết mình sẽ làm Phật, cũng
phát khởi tâm niệm nói lời không s ợ hãi giống như Sư tử gầm lên: Ta
sẽ làm Phật.
Hỏi: Đến đâu thì gọi là Bồ-tát?
Đáp: Đến lúc có thể tạo tác tăng trưởng về nghiệp dị thục của
Diệu tướng.
Hỏi: Nếu các hữu tình phát ta âm Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác (A nậu đa la tam miệu tam bồ đề) luôn luôn không lui sụt thay đổi,
thì từ đó đã thuận theo nói là Bồ-ta ùt, vì sao cho đến lúc tạo tác tăng
trưởng về nghiệp dị thục của Diệu tướng mới gọi là Bồ-tát? Đáp: Nếu
quyết định đối với Bồ-đề và quyết định nơi  đến thì mới gọi là Bồ-tát
chân thật. Từ lúc mới phát tâm cho đến nay chưa tu về nghiệp của Diệu
tướng, tuy quyết định đối với Bồ- đề, mà nơi đến chưa quyết định, thì
chưa được gọi là Bồ-tát chân thậ t. Cần phải đến lúc tu tập về nghiệp
của Diệu tướng, mới quyết định đối với Bồ-đề, nơi đến cũng quyết định.
Vì thế cho nên đến đây mới gọi là Bồ-tát.
Lại nữa, lúc tu về nghiệp của Diệu tướng, hoặc là loài người hay
là loài trời cùng nhận biết vị ấy là Bồ-tát, cho nên gọi là Bồ-tát; lúc
chưa tu về nghiệp của Diệu tướng, chỉ có loài trời nhận biết, cho nên
chưa được gọi là Bồ-tát chân thật.
Lại nữa, lúc tu về nghiệp của Diệu tướng, rời bỏ năm điều xấu
kém-đạt được năm điều tốt đẹp:
1. Rời bỏ các nẽo ác, luôn luôn sinh đến nẽo thiện.
2. Rời bỏ gia đình hèn kém, luôn luôn sinh đến gia đình cao quý.
3. Rời bỏ thân không phải là nam, luôn luôn đạt được thân nam.
4. Rời bỏ căn không đầy đủ, luôn luôn đầy đủ các căn.
444 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
5. Rời bỏ có lúc quên mất ý niệm, luôn luôn đạt được tự tánh sinh
khởi ý niệm. Vì vậy được gọi là Bồ-tát chân thật. Lúc chưa tu về nghiệp
của Diệu tướng, cùng với điều này trái ngược nhau, cho nên không gọi
là Bồ-tát chân thật.
Hỏi: Bồ-tát đạt được tự tánh sinh khởi ý niệm này có gì lợi ích?
Đáp: Bồ-tát đạt được tự tánh sinh khởi ý niệm này, lìa bỏ lỗi lầm
của hữu tình, tích tập nghe nhiều hiểu rộng, tin sâu sắc đối với nhân
quả, khéo thâu nhiếp đồ chúng, lời dạy-lời khuyên đã nói hoàn toàn
không vô ích, tư lương Bồ-đề lại càng đầy đủ trọn vẹn, đây là lợi ích.
Hỏi: Đạt được gì thì gọi là Bồ-tát?
Đáp: Đạt được nghiệp dị thục của tướng.
Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi có được quyết định, đó là
trước nói ra điều này: Đến lúc c ó thể tạo tác tăng trưởng về nghiệp dị
thục của tướng, thì gọi là Bồ-ta ùt. Đừng có sinh lòng nghi ngờ, tuy đến
phần vị này thì gọi là Bồ-tát, mà tên gọi Bồ-tát hoặc là do chứng được
những pháp thù thắng khác. Muốn hi ển bày chính là do nghiệp dị thục
của tướng mà được tên gọi Bồ-tát, chứ không do pháp khác, cho nên
soạn ra phần luận này.
Hỏi: Nhờ vào Vô thượng Chánh đa úng Chánh giác cho nên gọi là
Bồ-đề Tát-đỏa, vì sao lúc chưa chứng được thì tên gọi này Tùy chuyển,
và chứng được rồi thì không Tùy chuyển mà lại gọi là Phật-đà?
Đáp: Bởi vì lúc Tát-đỏa này chưa đạt được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, dùng ý thích tăng thượng luôn luôn tùy thuận Bồ-đề, hướng
về Bồ-đề, gần gũi Bồ-đề, yêu thích Bồ-đề, tôn trọng Bồ-đề, khát ngưỡng
Bồ-đề, cầu chứng-muốn chứng, không lơi lỏng-không dừng nghỉ, tâm ở
trong Bồ-đề không có tạm thời rời bỏ, vì thế cho nên gọi là Bồ-đề Tát-
đỏa. Người ấy đã chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi, ý
thích-gia hạnh đối với cầu mong Bồ-đề cũng đều dừng lại, chỉ đối với sự
thành tựu về nghĩa Giác ngộ là hơn hẳn, tất cả si mê nhiễm ô hay không
nhiễm ô đều vĩnh viễn đoạn trừ, cho nên Giác ngộ rõ ràng về tất cả các
Trí cảnh (nhĩ diệm) thuộc Thắng nghĩa va ø Thế tục. Vì thế lại có năng
lực Giác ngộ vô lượng hữu tình, tùy theo căn tánh và ý muốn mà làm lợi
ích nhiều hơn. Bởi vì những nghĩa t hù thắng về Giác ngộ như vậy, cho
nên gọi là Phật-đà, chứ không gọi là Bồ-tát.
Lại nữa, Tát-đỏa là nghĩa của người dũng mãnh, lúc chưa đạt được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, luôn luôn tinh tiến dũng mãnh đối
với Bồ-đề, cầu mong nhanh chóng c hứng được, vì thế cho nên gọi là
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 176 445  
www.daitangkinh.org  
Bồ-đề Tát-đỏa. Đã đạt được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi, thì
tâm dũng mãnh đối với Bồ-đề dừng lại , chỉ đối với nghĩa Giác ngộ là
hơn hẳn, cho nên gọi là Phật-đà, bởi vì có năng lực thành tựu Giác ngộ
thù thắng nhất.


„
446 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt