VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 177Quyển 179 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 178

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

問如說菩薩經三劫阿僧企耶。修四波羅
蜜多而得圓滿。謂施波羅蜜多。戒波羅蜜
多。精進波羅蜜多。般若波羅蜜多。當言於
何時分修何波羅蜜多而得圓滿。答有說。

若菩薩行布施時。不為慳悋之所屈伏。
當言施波羅蜜多圓滿。持淨戒時不為惡
戒之所陵雜。當言戒波羅蜜多圓滿。起精
進時不為懈怠之所退敗。當言精進波羅
蜜多圓滿。修般若時不為惡慧之所嬈濁。
當言般若波羅蜜多圓滿。有說。若時菩薩但
以悲心能施一切一切種物。乃至身命頭目
髓腦都無少許戀著之心。齊此名為施波羅
蜜多圓滿。若時菩薩橫被有情斬截手足。
割劓耳鼻。或斫身分。乃至無完如芥子許。
爾時無有一念瞋心。況欲加報。齊此名為
戒波羅蜜多圓滿。若時菩薩心勇猛故。經七
晝夜一足而立不瞚而視。以一伽他讚歎
於佛。而無一念懈倦之心。齊此名為精進
波羅蜜多圓滿。若時菩薩名瞿頻陀精求菩
提。聰慧第一論難無敵。世共稱仰。齊此名
為般若波羅蜜多圓滿。或說。乃至坐金剛
座入金剛喻定。將證無上正等菩提。齊此
方名般若波羅蜜多圓滿。如是說者。此等
所說皆依一時。一行增上說為圓滿。如實義
者。得盡智時此四波羅蜜多方得圓滿。外
國師說。有六波羅蜜多。謂於前四加忍靜
慮。迦濕彌羅國諸論師言。後二波羅蜜多即
前四所攝。謂忍攝在戒中。靜慮攝在般若。
戒慧滿時即名彼滿故。復有別說。六波羅
蜜多。謂於前四加聞及忍。若時菩薩能遍
受持如來所說十二分教。齊此聞波羅蜜多
名為圓滿。若時菩薩自稱忍辱被羯利王
割截支體。曾無一念忿恨之心。反以慈言

誓饒益彼。齊此忍波羅蜜多名為圓滿。此
二亦在前四中攝。忍如前說聞攝在慧。雖
諸功德皆可名為波羅蜜多。而依顯了增上
義說。故唯有四。問修此四波羅蜜多時。
於一一劫阿僧企耶逢事幾佛。答初劫阿僧
企耶逢事七萬五千佛。最初名釋迦牟尼最
後名寶髻。第二劫阿僧企耶逢事七萬六千
佛。最初即寶髻最後名然燈。第三劫阿僧企
耶逢事七萬七千佛。最初即然燈最後名勝
觀。於修相異熟業九十一劫中逢事六佛。最
初即勝觀最後名迦葉波。當知此依釋迦菩
薩說。若餘菩薩不定。如是釋迦菩薩於迦
葉波佛時。四波羅蜜多先隨分滿。相異熟業
今善圓滿。從此贍部洲歿生覩史多天。受
天趣最後異熟。問何故菩薩唯於覩史多天
受天趣最後異熟。不於餘天耶。脅尊者言。
此不應問。若上若下俱亦生疑。然生彼天
不違法相。有說。覩史多天是千世界天趣
之中猶如齊法。是故菩薩唯生彼天。有說。
下天放逸上天根鈍。唯覩史多天離二過失。
菩薩怖畏放逸厭患鈍根。故唯生彼。有說。
下天煩惱利上天煩惱數。覩史多天離此二
種。菩薩厭此二類煩惱。故生彼天。有說。菩
薩唯造作增長彼天處業。故唯生彼。有說。
唯覩史多天壽量與菩薩成佛及贍部洲人
見佛業熟時分相稱。謂人間經五十七俱胝
六十千歲。能化所化善根應熟。彼即是覩史
多天壽量。是故菩薩唯生彼天。若生上天
壽量未盡善根已熟。若生下天壽量已盡善

根未熟。故不生彼。有說。為化覩史多天
無量樂法菩薩眾故。謂彼天中有九廊院。廊
各十二踰繕那量。樂法菩薩常滿其中。補
處菩薩晝夜六時恒為說法。上下天處無如
是事。有說。菩薩恒時樂處中行。故於最後
生處中覩史多天。從彼歿已生中印度劫比
羅筏窣覩城。於夜中分踰城出家。依處中
行成等正覺。為諸有情說處中法。於夜中
分入般涅槃。由此唯生覩史多天。非餘天
處。問何緣菩薩於最後有唯從天歿不從
人來。答有說。於諸趣中天趣勝故。有說。
從天上來人所重故。有說。從天來時有神
變事。從人趣來無如是事。有說。人中無
有如是壽量如覩史多與善根熟時相稱
可故。有說。覩史多天樂法菩薩業增上力。
令此菩薩必生彼天為說法故。有說。菩薩
彼有生天業定應受故。有說。若菩薩頻
生人中而成佛者。則生厭賤不受化故。問
何不即於覩史多天成正等覺。而必來
人間耶。答隨諸佛法故。謂過殑伽沙數
諸佛世尊。皆於人中而取正覺故。復次天
趣身非阿耨多羅三藐三菩提所依止故。復
次唯人智見猛利能得阿耨多羅三藐三菩
提故。復次諸天耽著妙欲。於入正性離生得
果離染等事非增上故。復次人趣根性猛利
多分能受如來正法。天趣不爾。復次最後有
菩薩必受胎生。天趣唯化生故。復次有二事
處佛出世間。一有厭心。二有猛利智。當知
此二唯人趣有。復次人天並是法器。為欲俱

攝故來人間。若在天上則人無由往。又
不可令天上成佛。來人間化人當疑佛。是
幻所作不受法故。是以菩薩人間成佛。然菩
薩住覩史多宮。彼壽量盡將下生時。先觀
四事。一觀時分。二觀處所。三觀種姓。四觀
依器。觀時分者。觀諸世間於何時中佛
應出世。即知從人壽八萬歲。乃至百歲時佛
應出世。今正是時。觀處所者。謂觀世間
於何方處佛應出世。即知於贍部洲中印
度佛應出世。非邊地達絮蔑戾車中。觀種
姓者。謂觀世間何種姓中佛應出世。即知
或剎帝利或婆羅門種姓中佛應出世。隨彼
時強勝者即生其中。觀依器者。謂觀世間
何等女人。父母種姓並皆清淨。胎藏寬博無
諸過失。能持菩薩那羅延力所合成身經十
月日。即知贍部洲中有是女人名字某甲堪
為依器。菩薩如是觀四事已。即告行道天
子言。汝可巡告覩史多天眾。却後七日。補
處菩薩當從此歿生贍部洲中印度劫比羅
筏窣覩城。廣作佛事。諸欲隨者當發往願。
行道天子歡喜敬諾。乘己所有迅疾神通。遍
告覩史多天眾言。天仙當知。却後七日補
處菩薩當下贍部洲。生中印度劫比羅筏窣
覩城。廣作佛事。仁等天眾欲隨從者當發
往願。爾時便有五百天子。尋聲即發隨下
生願。至第七日。菩薩便與五百天子。一時
從覩史多天沒。於贍部洲中印度劫比羅筏
窣覩城俱時而生。皆為釋種助宣佛事。當
知此說釋迦菩薩。若餘菩薩隨其所應。

如說慈氏。汝於來世當得作佛。乃至廣說。
問何故作此論。答為欲分別契經故。如世
尊說。於未來世人壽八萬歲時。此贍部洲其
地寬廣。人民熾盛安隱豐樂。村邑城郭鷄鳴
相接。女人年五百歲爾乃行嫁。彼時諸人身
雖勝妙然有三患。一者大小便利。二者寒
熱飢渴。三者貪婬老病。有轉輪王名曰餉
佉。威伏四方如法化世。成就七寶。所謂輪
寶象寶馬寶珠寶女寶主藏臣寶主兵臣寶。
千子具足。勇健端政能摧怨敵。極大海際
地平如掌。無有丘坑砂礫毒刺。人皆和睦
慈心相向。兵戈不用以正自守。王有寶臺。
高千尋量廣十六分。種種莊嚴持施福田興
大福業。其後不久剃除鬚髮。以信出家勤
修梵行。於現法中成阿羅漢。即能自知。我
生已盡梵行已立所作已辦不受後有。得般
涅槃。時佛說是語已。眾中阿氏多苾芻。即
從座起恭敬合掌而白佛言。世尊。願我於
未來世當得作彼餉佉輪王。威伏四方如
法化世。廣說乃至得般涅槃。爾時世尊
呵叱彼曰。癡人云何不欲一死而求再死
願於來世作餉佉輪王。乃至廣說。然阿氏
多如汝所願。汝於來世定得作彼餉佉輪
王。降伏四方如法化世。廣說乃至得般涅
槃。復告大眾。未來人壽八萬歲時有佛出
世。名曰慈氏如來應正等覺明行圓滿善逝
世間解無上丈夫調御士天人師佛薄伽梵。如
我今者十號具足。彼佛復於此世間天魔大
梵沙門婆羅門天人眾中。自稱我是。如來應

正等覺。乃至佛薄伽梵。具足證得自在通慧。
亦自了知我生已盡梵行已立所作已辦不
受後有得大涅槃。復為有情宣說正法。
開示初善中善後善。文義巧妙純一圓滿清
白梵行。為諸人天正開梵行令廣修學。無
量百千徒眾圍遶。無量慈種弟子侍衛。作大
饒益。如我今者亦於此世間天魔大梵。廣說
乃至。無量釋種弟子侍衛作大饒益。時佛說
是語已。眾中慈氏菩薩即從座起。恭敬合掌
而白佛言。世尊。願我於未來世當得作彼
慈氏如來應正等覺。廣說乃至。如今世尊亦
為無量釋種弟子侍衛作大饒益。爾時世尊
聞彼語已起前際智。審觀慈氏三無數劫
修四波羅蜜多得圓滿不。即如實知皆已
圓滿。復審觀彼百大劫中修相異熟業得圓
滿不。即如實知除金色相業餘皆圓滿。由
此佛告大生主喬答彌言。汝今可以此金
色衣布施眾僧。若供養僧當知亦名供養
於我佛時預知眾僧得此金色衣已。有是
因緣應慈氏得慈氏得已必當施我。乃至
廣說。由此因緣金色業滿。此中或說。佛欲
令彼金色業滿。告阿難陀言。汝可為我覓
新金色衣。吾欲持與慈氏。時阿難陀如教
即得。尋時跪進。世尊得已命慈氏言。汝可
取此新金色衣。慈氏承命然不敢取。佛言。
但取。任汝奉施佛上首僧。所以者何。汝於
未來當由此福饒益世間故。慈氏敬諾取
已奉施佛上首僧。由此因緣。金色業滿。有
說。慈氏金色相業亦先圓滿。然佛令彼施金

色衣者。欲顯功德雖滿而無厭足勸引
他故。世尊起前際智觀慈氏前際已。復起
後際智審觀未來人壽八萬歲時。慈氏有
得阿耨多羅三藐三菩提所依身不。即知彼
有。復審觀察彼於爾時為有堪能得菩提
不。即知彼能。世尊觀彼前後際已。即讚慈
氏菩薩言。善哉善哉。汝能發此廣大思願
為欲饒益無量有情。誠為快善。復告慈氏。
如汝所願。汝於來世人壽八萬歲時。當得
作佛名曰慈氏如來應正等覺。廣說乃至。無
量慈種弟子侍衛作大饒益。如我今者亦
為無量釋種弟子侍衛作大饒益。問阿氏多
及慈氏俱求未來八萬歲時身。何故世尊訶
阿氏多而讚慈氏。答阿氏多苾芻於有起
意樂起勝解起欣慕起希望起尋求故
佛訶之。慈氏菩薩不於有起意樂。乃至尋
求。然於利樂諸有情事起意樂。乃至尋求
故佛讚之。復次阿氏多求世間輪王位故佛
訶之。慈氏求出世法輪王位故佛讚之。如
是求流轉王位。求還滅王位說亦爾。復次
阿氏多求自利樂故佛訶之。慈氏求利樂
他故佛讚之。如是求自饒益求饒益他
說亦爾。契經雖作是說。慈氏汝於來世人
壽八萬歲時當得作佛。名慈氏如來應正
等覺。乃至廣說。而不分別此何智於何轉。
契經是此論所依根本。彼所不分別者今
應分別。故作斯論。問如說慈氏汝於來世
當得作佛。名慈氏如來應正等覺。此何智。
答因智道智。此即如來觀察慈氏前後際智。

問此於何轉。答有於相異熟業轉。由此
名因智。有於無漏根力覺支道支得阿耨多
羅三藐三菩提轉由此名道智。此即如來
觀察慈氏前際相異熟業圓滿不。圓滿智於
因轉故說名因智。及是觀察慈氏後際。無漏
根力覺支道支得無上正等菩提。智於道轉
故說名道智。然此二智俱是世俗智攝。以非
十六行相智故。或有身中雖有三十二相
而無聖法。謂異生轉輪王。或有身中雖有
聖法而無三十二相。謂非輪王聲聞等。或
有身中有三十二相亦有聖法而非佛。謂
餉佉王等得聖道已。或有身中無三十二
相亦無聖法。謂餘異生。一切佛身必有無
上三十二相及無上聖法。謂正等菩提。問何
故此中唯說於相異熟業轉名因智。不說
於四波羅蜜多轉名因智耶。答應說而不
說者。當知此義有餘。復次相異熟業近。四
波羅蜜多遠此中說近不說遠。復次相異熟
業修時顯了人天共知。四波羅蜜多不爾。此
中隨顯而說。復次修相異熟業時。菩提決
定趣亦決定。修四波羅蜜多時。雖菩提決
定。而趣未決定。是故不說。復次此中說知
身近因菩提近因。相異熟業是身近因。無漏
根力等是菩提近因。四波羅蜜多及不淨觀
等非二近因。是故不說。
如說。此苾芻即於現法當辨聖旨。乃至廣
說。問何故作此論。答為欲分別契經義故。
如自恣經說。此苾芻即於現法當辨聖
旨能自了知。我生已盡梵行已立所作已辦。

不受後有得般涅槃。彼經雖作是說。而
不分別此何智於何轉。彼經是此論所依根
本。彼所不說者今應說之。故作斯論。問
如說此苾芻即於現法當辨聖旨此何智。
答道智。問此於何轉。答此於無漏根力覺
支道支得諸漏永盡轉由此名道智。此即
如來觀諸苾芻無漏根力覺支道支得諸漏
永盡智於道轉故說名道智。此亦是世俗智
攝。以非無漏十六行相智故。問此中何故
不說因智。答有說。此中應作是說。此何
智。答因智道智。此於何轉。答有於順解脫
分善根等轉由此名因智。有於無漏根力
覺支道支得諸漏永盡轉由此名道智。而
不作是說者。當知此義有餘。有說。無上
菩提加行廣大三無數劫百劫乃成彼因可
重。是故說觀彼智。聲聞菩提加行狹小。謂
極速者三生便得。第一生下種。第二生成熟。
第三生解脫。因非可重故不說觀彼智。有
說。菩薩相異熟業所依種性等決定故說
知彼智。聲聞順解脫分善根所依種性等不
決定故不說知彼智。有說。佛有二事勝。
一所依身。二所得菩提。故觀彼所因具說
知二種因智。聲聞但有所得菩提勝。非所
依身故但說知菩提因智。有說。知順解脫
分善根等智前亦不說。故於此中不應為
問。願智云何。乃至廣說。問何故作此論。答
前雖說願智作用。而未說彼自性。今欲說
之故作斯論。問願智云何。答如阿羅漢成
就神通得心自在。隨欲知義發正願已。便

入邊際第四靜慮。從定起已如願皆知。隨
欲知義者。問何故阿羅漢欲知義耶。答三
因緣故。一為饒益弟子故。二為住持佛法
故。三為知世間安不安故。饒益弟子者。謂
阿羅漢於諸弟子修觀行時。法應觀彼入
聖久近。我壽盡來某甲能入正性離生不。設
不能入者我命終後。有餘能教令得入不。
如此皆以願智故知。是等名為饒益弟子。
住持佛法者。謂阿羅漢或有經營窣堵波毘
訶羅僧伽藍等佛法僧事時。法應觀察久
近成辦。盡我壽來為能辦不。設不辦者我
命終後。為有餘人能續辦不。或有國王大
臣長者及商主等欲於佛法作衰損事。有
阿羅漢念欲化之。即便觀察彼可化不。設
可化者為久近耶。我壽盡來化事果不。設
不果者我命終後有能續不。此等皆以願
智故知。諸如是事名住持佛法。知世間安
不安者。謂阿羅漢或時觀察所在國土及時
分中。當有豐儉怖畏安隱疾疫等事。欲令自
他知趣捨故起願智知。如昔於此迦濕彌
羅國有王名鑠迦。為縛喝國王入境侵奪。
時王鑠迦即率兵士欲與交戰。彼王本性
慈仁恒懼惡業。竊作是念。不知我今戰必
得勝存王位不。脫當不遂徒殺人民。更招
殃罪死墮地獄。曾聞某甲僧伽藍中。有阿
羅漢得妙願智。我當往問。念已即往。歸誠
禮敬請決所疑。彼阿羅漢便答王曰。我雖
曾得此智然資緣闕故。身力羸劣久不現
前。時王即以種種飲食上妙資具而供給

之。尊者未幾能起願智即為觀察。便見彼
縛喝王必當奪得鑠迦王位作大饒益。見
已即報鑠迦王言。王當失國願自思勉。鑠
迦敬諾。即率左右及將眷屬。捨國而去往
投他土。由此因緣諸阿羅漢欲知彼義。入
邊際第四靜慮者。問何故名邊際第四靜慮
耶。答此於第四靜慮。為表為極為稠林。故
名邊際第四靜慮。即是最勝品第四靜慮義。
猶如樹端樹中最勝名樹邊際。有說。此是
表智極智稠林智等諸功德法所依處。故名
邊際第四靜慮。謂無量等種種功德熏相續
已。方起此定故。依此定所起功德。於諸功
德為表為極為稠林。猶如醍醐牛味中勝。
有說。此應名後際第四靜慮。際有三。一前
際二中際三後際。此三即過去現在未來。如
其次第。此中前際二智所知。謂宿住隨念智。
及願智。中際亦二智所知。謂他心智及願智。
後際唯願智所知。以未來境中唯有此智。是
故此智名後際智。能起此定名為後際第
四靜慮。有說。此應名未至際第四靜慮。際
有三種。一未至際二至際三至已際。此三即
未來現在過去。如其次第。如知現在名至
際智。知過去名至已際智。如是此智多分
知未來故名未至際智。能起此定名未至
際第四靜慮。有說。此但應名邊際第四靜
慮。所以者何。邊者名現在蘊界處。際者名
過去未來。如於現在蘊界處有現見智轉。
如是於過去未來亦有現見智轉。故此智
名邊際智。能起此定名為邊際第四靜慮。

從定起已如願皆知者。問為在定知為起
定知。若爾何失。若在定知。何故此中說從
定起已如願皆知。若起定知。何故須入邊
際第四靜慮耶。答即在定能知。問何故此中
說從定起已如願皆知。答此於說時名知
由說顯知故。復次爾時令他知故說名為
知。有說。起定能知。問何故復入第四靜慮。
答邊際第四靜慮是知方便。要入彼定此
智生故。如是說者。初說為善以在定能知
起定說故。
問願智自性是何。答自性是慧。如自性如
是我物性相本性亦爾。已說自性。所以今當
說。問何故名願智。答如願能知故名願智。
問為如自願能知。為如他願能知耶。答
如自願亦知。如他願亦知。隨所有願皆能
知故。復次知所有願故名願智。願有二種。
謂菩提願及有願。菩提願者如慈氏等願。有
願者如阿氏多等願。知此等願故名願智。
復次智隨願起故名願智。謂此智殊勝。要由
先願作意加行所引發故。如來雖無作意
加行。而亦必有心願為先。有說。此應名
期智以所知境微細甚深。必起要期方能
知故。有說。此應名妙智以諸智中此最勝
故。如世間說妙飲食妙衣服等。彼於勝說
妙聲。此亦如是。然此願智。界者色界。地者
在第四靜慮地。所依者依欲界身。行相者作
十六行相。或餘行相所緣者緣一切法。念住
者通四念住。智者舊阿毘達磨者說唯一世
俗智。有餘師說。八智性除盡無生。所以者

何。彼非見性願智是見性故。如是說者。唯
一世俗智。三摩地俱者不與三摩地俱。唯
有漏故。根相應者捨根相應。世者墮三世。
緣三世及離世。善不善無記者是善緣三種。
三界繫不繫者唯色界繫。緣三界繫及不繫。
學無學非學非無學者是非學非無學。緣三
種。見所斷修所斷不斷者是修所斷。緣三種。
緣名緣義者通緣名義。緣自相續他相續
非相續者通緣三種。何處起者。欲界起非
色無色界。欲界中唯人趣非餘。人趣中唯
三洲非北洲。三洲中男女身俱能起。尊者瞿
沙筏摩作如是說。唯贍部洲能起非餘洲。
唯男子能起非女人。所以者何。願智殊勝。要
依增上猛利之身。餘二洲及女身皆羸劣故。
如是說者初說為善。三洲男女身皆增上猛
利。以皆能得心自在及定自在故。若不爾
者。經不應說大生主為上首五百苾芻尼。
於一日中俱捨壽行而般涅槃。彼若不得
邊際第四靜慮則不能捨於壽行。既於此
得何獨不能發起願智。問何等補特伽羅
能起此智。答聖者非異生。聖中無學。非
有學。無學中唯不時解脫。非時解脫。所以者
何。若於定得自在及相續。不為煩惱所持
者能起願智。諸異生及信勝解二事俱無。見
至雖於定得自在。而相續為煩惱所持。時
解脫雖相續不為煩惱所持。而於定不得
自在。是故皆不能發起。願智唯有不時解
脫於定得自在。及相續不為煩惱所持故。
能起願智。

Việt dịch

QUYỂN 178

LUẬN VỀ BẤT HOÀN (Phần 5)

Hỏi: Như nói Bồ-tát trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp, tu bốn Ba-la-mật-
đa mà được tròn đầy, đó là Bố thí Ba-la-mật-đa, Trì giới Ba-la-mật-đa,
Tinh tiến Ba-la-mật-đa, Bát nhã Ba-la-mật-đa, nên nói ở thời gian nào,
tu Ba-la-mật-đa nào mà được tròn đầy?
Đáp: Có người nói: Nếu lúc Bồ-tát thực hành bố thí, không bị sự
keo kiệt bủn xỉn làm cho khuất phục, thì nên nói là Bố thí Ba-la-mật-đa
tròn đầy; lúc trì giới thanh tịnh không bị giới ác làm cho xen tạp, thì nên
nói là Trì giới Ba-la-mật-đa tròn đầy; lúc phát khởi tinh tiến không bị sự
lười nhác uể oải làm lui sụt hư hoại, thì nên nói là Tinh tiến Ba-la-mật-
đa tròn đầy; lúc tu Bát-nhã không bị Tuệ ác làm rối loạn, thì nên nói là
Bát nhã Ba-la-mật-đa tròn đầy.
Có người nói: Nếu lúc Bồ-tát chỉ vì  tâm Bi mà có thể bố thí tất
cả các loại vật dụng, cho đến thâ n mạng-đầu mắt-tủy não cũng không
có một niệm tâm luyến tiếc, thì đ ến đây gọi là Bố thí Ba-la-mật-đa
tròn đầy; nếu lúc Bồ-tát bất ngờ bị hữu tình chặt đứt tay chân, cắt xẻo
tai mũi, hoặc là chặt đứt thân thể, thậm chí không còn nguyên vẹn dù
chỉ bằng hạt cải, lúc bấy gi ờ không có một niệm tâm tức giận, huống
gì muốn trả thù, thì đến đây gọi là Trì giới Ba-la-mật-đa tròn đầy; nếu
lúc Bồ-tát bởi vì tâm dũng mãnh, trải qua bảy ngày đêm mà đứng một
chân, không chớp mắt mà nhìn, dùng một  bài tụng ca ngợi Đức Phật,
mà không có một niệm tâm uể oải mệt mỏi, thì đến đây gọi là Tinh tiến
Ba-la-mật-đa tròn đầy; nếu lúc Bồ-ta ùt tên gọi Cù-tần-đà tinh tiến cầu
mong Bồ-đề, thông minh trí tuệ bậc nhất, luận bàn chất vấn không ai
sánh bằng, thế gian đều ca ngợi ngưỡng mộ, thì đến đây gọi là Bát nhã
Ba-la-mật-đa tròn đầy.
Hoặc là nói: Cho đến ngồi nơi tòa Kim cang, tiến vào Định  Kim
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 178 465  
www.daitangkinh.org  
cang dụ, sắp chứng được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, đến đây
mới gọi là Bát nhã Ba-la-mật-đa tròn đầy.
Nói như vậy thì những cách nói này đều dựa vào một thời gian,
một công hạnh tăng thượng mà nói là tròn đầy; nghĩa như thật thì lúc đạt
được Tận trí, bốn Ba-la-mật-đa này mới được tròn đầy.
Sư nước ngoài nói: “Có sáu Ba-la-mật-đa, đó là bốn loại ở trước
thêm vào Nhẫn và Tĩnh lự.”
Các luận sư của nước Ca-thấp- di-la nói: “Hai Ba-la-mật-đa sau
tức là do bốn loại trước thâu nhiếp, đó là Nhẫn thâu nhiếp ở trong Giới,
Tĩnh lự thâu nhiếp ở trong Bát-nhã, bởi  vì lúc Giới-Tuệ đầy đủ thì gọi
là Bát-nhã đầy đủ.”
Lại có người nói khác: Sáu Ba-la- mật-đa, đó là bốn loại ở trước
thêm vào Văn và Nhẫn. Nếu lúc Bồ-ta ùt có thể thọ trì tất cả mười hai
phần giáo của Đức Như Lai đã nói, thì đến đây gọi là Văn Ba-la-mật-đa
tròn đầy. Nếu lúc Bồ-tát tự nói mình tu Nhẫn nhục, bị vua Yết-lợi cắt xẻ
thân thể, mà không hề có một niệm tâm tức giận, lại dùng lời nói hiền
từ thề làm lợi ích cho nhà vua, th ì đến đây gọi là Nhẫn Ba-la-mật-đa
tròn đầy.
Hai loại này cũng thâu nhiếp ở trong bốn loại trước, Nhẫn nói như
trước, Văn thuộc về Tuệ, tuy các công đức đều có thể gọi là Ba-la-mật-
đa, mà dựa vào nghĩa tăng thượng biểu hiện rõ ràng để nói, cho nên chỉ
có bốn loại.
Hỏi: Lúc tu bốn Ba-la-mật-đa này, ở mỗi một A-tăng-kỳ kiếp gặp
được sự việc của mấy Đức Phật?
Đáp: A-tăng-kỳ kiếp thứ nhất gặp được sự việc của bảy vạn năm
ngàn Đức Phật, vị đầu tiên danh hiệu Thích-ca Mâu-ni, vị cuối cùng
danh hiệu Bảo Kế; A-tăng-kỳ kiếp thứ hai gặp được sự việc của bảy
vạn sáu ngàn Đức Phật, vị đầu tiên chính là Bảo Kế, vị cuối cùng danh
hiệu Nhiên Đăng; A-tăng-kỳ kiếp thứ ba gặp được sự việc của bảy vạn
bảy ngàn Đức Phật, vị đầu tiên chính là Nhiên Đăng, vị cuối cùng danh
hiệu Thắng Quán; ở trong chín mươi mốt kiếp tu về nghiệp dị thục của
tướng, gặp được sự việc của sáu Đức Phật, vị đầu tiên chính là Thắng
Quán, vị cuối cùng danh hiệu Ca-diếp-ba.
Nên biết đây là dựa vào Bồ-tát  Thích-ca mà nói, nếu là Bồ-tát
khác thì không nhất định. Như vậy Bồ-tát Thích-ca ở thời Đức Phật Ca-
diếp-ba, bốn Ba-la-mật-đa trước tiên đầy đủ tùy theo từng phần, nghiệp
dị thục của tướng nay khéo tròn đầy, từ châu Thiệm Bộ này chết đi, sinh
đến cõi trời Đổ-sử-đa, nhận lấy dị thục cuối cùng ở cõi trời.
466 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Hỏi: Vì sao Bồ-tát chỉ ở cõi trời  Đổ-sử-đa, nhận lấy dị thục cuối
cùng ở cõi trời, chứ không ở cõi trời khác?
Đáp: Hiếp Tôn giả nói: “Điều này không cần phải hỏi, nếu ở trên
hay là ở dưới thì cũng đều sinh lòng nghi ngờ, nhưng mà sinh ở cõi trời
ấy không trái với pháp tướng.”
Có người nói: Cõi trời Đổ-sử-đa là cõi trời ở giữa một ngàn thế
giới, pháp giống như phần rốn, vì thế cho nên Bồ-tát chỉ sinh đến cõi
trời ấy.
Có người nói: Cõi trời phía dưới thì phóng túng, cõi trời phía trên
thì căn chậm chạp, chỉ có cõi trời Đổ-sử-đa lìa xa hai lỗi lầm, bởi vì Bồ-
tát lo sợ phóng túng-chán ngán că n chậm chạp, cho nên chỉ sinh đến
cõi trời ấy.
Có người nói: Cõi trời phía dưới th ì phiền não sắc bén, cõi trời
phía trên thì phiền não thường xuyên hiện ha ønh, cõi trời Đổ-sử-đa lìa
xa hai loại này, bởi vì Bồ-tát chán ngán hai loại phiền não này, cho nên
chỉ sinh đến cõi trời ấy.
Có người nói: Bồ-tát chỉ tạo tác tăng trưởng về nghiệp của cõi trời
ấy, cho nên chỉ sinh đến cõi trời ấy.
Có người nói: Chỉ riêng thọ lượng ở cõi trời Đổ-sử-đa tương xứng
với thời gian Bồ-tát thành Phậ t và nghiệp chín muồi của người châu
Thiệm Bộ được thấy Đức Phật. N ghĩa là loài người trải qua năm mươi
bảy Câu-chi sáu mươi ngàn năm, thì căn thiện của người hóa độ và
người được hóa độ sẽ chín muồi, đó chí nh là thọ lượng ở cõi trời Đổ-
sử-đa, vì thế cho nên Bồ-tát chỉ sinh đến cõi trời ấy. Nếu sinh ở cõi trời
phía trên thì thọ lượng chưa hết mà căn thiện đã chín muồi, nếu sinh ở
cõi trời phía dưới thì thọ lượng đã hết mà căn thiện chưa chín muồi, cho
nên không sinh đến những nơi ấy.
Có người nói: Bởi vì giáo hóa vô lượng chúng Bồ-tát vui với pháp
ở cõi trời Đổ-sử-đa, nghĩa là trong cõi trời ấy có chín sảnh đường, mỗi
sảnh đường có số lượng là mười hai Du-thiện-na, Bồ-tát vui với pháp
thường quy tụ trong đó, Bồ-tát Bổ xứ ngày đêm sáu thời luôn luôn nói
pháp cho họ, ở cõi trời phía trên-phía dưới không có sự việc như vậy.
Có người nói: Bồ-tát luôn luôn ư thích thực hành Trung đạo (xử
trung), cho nên ở đời cuối cùng sinh trong cõi trời Đổ-sử-đa, từ cõi trời
ấy chết rồi sinh vào kinh thành Ki ếp-tỷ-la-phiệt-suất-đổ thuộc Trung
Ấn Độ, vào thời gian nửa đêm vượt thành xuất gia, dựa vào công hạnh
Trung đạo thành tựu quả vị Đẳng Cha ùnh Giác, vì các hữu tình nói về
pháp Trung đạo, ở thời gian nửa đêm mà nhập Niết-bàn. Vì vậy chỉ sinh
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 178 467  
www.daitangkinh.org  
đến cõi trời Đổ-sử-đa, chứ không ở cõi trời nào khác.
Hỏi: Vì sao Bồ-tát ở thân cuối cùng chỉ từ cõi trời chết đi chứ
không từ loài người mà xuất hiện?
Đáp: Có người nói: Bởi vì ở trong các nẽo thì nẽo trời là thù
thắng.
Có người nói: Bởi vì từ trên cõi trời mà xuất hiện cho nên loài
người đều tôn trọng.
Có người nói: Bởi vì lúc từ cõi trời xuất hiện thì có sự việc thần
biến, từ loài người xuất hiện thì không có sự việc như vậy.
Có người nói: Trong loài người không có thọ lượng như vậy, bởi
vì thọ lượng ở cõi trời Đổ-sử-đa tương xứng với thời gian chín muồi của
căn thiện.
Có người nói: Bởi vì lực tăng thượng do nghiệp của chúng Bồ-tát
vui với pháp ở cõi trời Đổ-sử-đa, kh iến cho Bồ-tát này nhất định phải
sinh ở cõi trời ấy để thuyết pháp cho họ.
Có người nói: Bởi vì lúc ấy Bồ- tát có nghiệp sinh ở cõi trời cho
nên nhất định phải đón nhận.
Có người nói: Nếu Bồ-tát nhiều lần sinh trong loài người mà thành
Phật, thì bởi vì sinh tâm cha ùn ngán thấp hèn cho nên không tiếp nhận
hóa độ.
Hỏi: Vì sao không thành tựu Cha ùnh Đẳng Giác ngay nơi cõi trời
Đổ-sử-đa, mà cần phải đến giữa loài người?
Đáp: Bởi vì thuận theo pháp của chư Phật, nghĩa là hằng hà sa
số chư Phật Thế Tôn đều ở giữa loài người mà tiếp nhận quả vị Chánh
giác.
Lại nữa, bởi vì thân của loài trời không phải là nơi nương tựa của
quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.
Lại nữa, bởi vì chỉ có trí tuệ-nhận thức mạnh mẽ sắc bén của loài
người mới có thể đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.
Lại nữa, bởi vì chư Thiên đam mê theo dục lạc tuyệt vời, đối với
sự việc tiến vào Chánh tánh ly  sinh-đạt được quả-lìa nhiễm… không
phải là tăng thượng.
Lại nữa, căn tánh của loài người mạnh mẽ sắc bén, phần nhiều có
thể tiếp nhận Chánh pháp của Như Lai; loài trời thì không như vậy.
Lại nữa, bởi vì thân cuối cùng của Bồ-tát cần phải nhận lấy Thai
sinh, mà loài trời chỉ là Hóa sinh.
Lại nữa, có hai sự việc để Đức Phật xuất hiện ở thế gian:
1. Có tâm chán ngán.
468 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
2. Có trí mạnh mẽ sắc bén. Nên biết hai sự việc này chỉ có ở loài
người.
Lại nữa, loài người và loài trời đều là pháp khí, bởi vì muốn thâu
nhiếp cả hai, cho nên xuất hiện giữa loài người; nếu ở trên cõi trời thì
loài người không biết nhờ đâu mà đến được. Hơn nữa, không có thể
khiến cho ở trên cõi trời thành Ph ật mà đến giáo hóa giữa loài người,
loài người sẽ nghi ngờ Đức Phật là do huyễn hóa đã tạo ra, cho nên
không tiếp nhận giáo pháp. Vì thế cho nên Bồ-tát thành Phật giữa loài
người.
Nhưng Bồ-tát ở cung trời Đổ-sử-đa, thọ lượng ở đó không còn, lúc
sắp sinh xuống cõi dưới, trước tiên quán xét bốn sự việc:
1. Quán xét về thời gian.
2. Quán xét về xứ sở.
3. Quán xét về chủng tánh.
4. Quán xét về nơi nương tựa.
Quán xét về thời gian, đó là quán xét đối với thế gian, Đức Phật
nên xuất thế ở trong thời gian nào? Liền biết là Đức Phật nên xuất thế
từ lúc loài người sống thọ tám vạn tuổi cho đến một trăm tuổi, nay chính
là đúng lúc.
Quán xét về xứ sở, đó là quán xét đối với thế gian, Đức Phật nên
xuất thế ở xứ sở nào? Liền biết là Đức Phật nên xuất thế ở vùng Trung
Ấn Độ thuộc châu Thiệm Bộ, chứ không phải là trong chốn biên địa
Đạt-tự Miệt-lệ-xa.
Quán xét về chủng tánh, đó là quán xét đối với thế gian, Đức Phật
nên xuất thế trong chủng tánh nào? Liền biết là Đức Phật nên xuất thế
hoặc là trong chủng tánh Sát-đế-lợi, hoặc là chủng tánh Bà-la-môn, tùy
theo lúc ấy chủng tánh nào cường thịnh thì sinh trong chủng tánh ấy.
Quán xét về nơi nương tựa, đó là quán xét đối với thế gian, những
người nữ nào có cha mẹ-chủng tánh thảy đều thanh tịnh, thai tạng rộng
rãi không có những lỗi lầm, có thể duy trì sức lực Na-la-diên của bồ-tát
mà hợp thành thân, trải qua thời gian mười tháng? Liền biết trong châu
Thiệm Bộ có người nữ này, tên gọi như vậy, có thể làm nơi nương tựa.
Bồ-tát quán xét bốn sự việc như va äy rồi, liền bảo với Thiên tử
Hành Đạo rằng: Ông có thể đi kha ép nơi nói cho Thiên chúng ở cung
trời Đổ-sử-đa biết, sau bảy ngày nữa  Bồ-tát Bổ xứ sẽ từ nơi này chết
đi, sinh vào kinh thành Kiếp-tỷ-la- phiệt-suất-đổ thuộc Trung Ấn Độ ở
châu Thiệm Bộ, làm nhiều Phật sự, những ai muốn đi theo thì nên phát
nguyện hướng đến! Thiên tử Hành Đạo hoan hỷ vâng dạ cung kính, nhờ
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 178 469  
www.daitangkinh.org  
vào thần thông nhanh chóng vốn có của  mình, đi khắp nơi báo tin cho
Thiên chúng ở cung trời Đổ-sử-đa biết: Các vị Thiên Tiên nên biết! Sau
bảy ngày nữa Bồ-tát Bổ xứ sẽ đi xuống châu Thiệm Bộ, sinh trong kinh
thành Kiếp-tỷ-la-phiệt-suất-đổ thuộc Trung Ấn Độ, làm nhiều Phật sự,
các vị Nhân giả và Thiên chúng nào muốn đi theo thì nên phát nguyện
hướng đến! Lúc bấy giờ liền có năm tr ăm vị Thiên tử,  theo tiếng nói
lập tức phát nguyện sinh theo xuống tr ần gian. Đến ngày thứ bảy, Bồ-
tát liền cùng với năm trăm vị Thiên t ử, cùng lúc từ cung trời Đổ-sử-đa
chết đi, cùng lúc mà sinh vào kinh thành Kiếp-tỷ-la-phiệt-suất-đổ thuộc
Trung Ấn Độ ở châu Thiệm Bộ, đều là người dòng họ Thích, giúp đỡ
truyền bá thực hiện Phật sự. Nên biết  đây là nói về Bồ-tát Thích-ca,
nếu như Bồ-tát khác thì tùy theo sự thích hợp của họ.
Như nói: “Này Từ Thị, ông ở đời vị lai sẽ được làm Phật…”
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn phân biệt nghĩa lý trong kinh, như “Đức Thế
Tôn nói: Ở đời vị lai, lúc tuổi thọ của con người là tám vạn tuổi, châu
Thiệm Bộ này đất đai rộng rãi, dân chúng đông đúc, yên ổn vui sướng,
thôn xóm thành ấp rộn tiếng gà gáy, người nữ năm trăm tuổi bấy giờ
mới đi lấy chồng. Lúc ấy thân thể mọi người tuy mạnh mẽ xinh đẹp,
nhưng có ba điều lo sợ:
1. Đại tiện-tiểu tiện.
2. Nóng lạnh đói khát.
3. Tham dâm già bệnh.
Có vị Chuyển Luân Vương tên gọi  Hưởng Khư, uy lực điều phục
bốn phương, như pháp cảm hóa thế gian, thành tựu bảy vật quý báu, đó
là vòng xe quý báu, voi quý báu, ngựa quý báu, ngọc quý báu, người
nữ quý báu, quan chủ quản kho tạn g quý báu, quan chủ quản binh lính
quý báu. Đầy đủ ngàn người con, dũng cảm mạnh mẽ, khôi ngô tuấn
tú, có năng lực đẩy lùi quân địch. Mặt đất bằng phẳng như bàn tay, cho
đến tận cùng bờ biển rộng không có gò nổng-hố hầm-sỏi đá-gai góc.
Mọi người đều hòa thuận, tâm Từ hướng về nhau, không dụng binh khí,
dùng lẽ phải tự giữ mình. Nhà vua có đài quý báu, cao một ngàn Tầm-
chiều rộng mười sáu Phân, trang nghiêm đủ loại mang đi cúng dường
ruộng phước, bắt đầu nghiệp phước to lớn. Sau đó không lâu cạo bỏ râu
róc, dùng tín tâm xuất gia chịu khó tu Phạm hạnh, ở trong pháp hiện tại
thành bậc A-la-hán, liền c ó thể tự biết rõ: Đời  sống của mình đã hết,
Phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không nhận lấy thân đời sau, được
nhập Niết-bàn.
470 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Lúc Đức Phật nói lời này xong, Tỳ kheo A-thị-đa ở trong chúng,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy mà cung kính chắp tay thưa với Đức Phật
rằng: Thưa Đức Thế Tôn! Con nguyện ở đời vị lai sẽ được làm Luân
Vương Hưởng Khư ấy, uy lực điều phục bốn phương, như pháp cảm hóa
thế gian…, cho đến được nhập Niết-bàn.
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn quở trách Tỳ kheo ấy rằng: Người ngu
si, vì sao không muốn một lần chết mà cầu mong nhiều lần chết, nguyện
ở đời vị lai làm Luân Vương Hưởng Khư…? Nhưng mà A-thị-đa, như ông
đã nguyện, ông ở đời vị lai nhất định được làm Luân Vương Hưởng Khư
ấy, uy lực điều phục bốn phương, như pháp cảm hóa thế gian…, cho đến
được nhập Niết-bàn.
Lại bảo với Đại chúng: Ở đời vị lai, lúc tuổi thọ của con người là
tám vạn tuổi, có Đức Phật xuất t hế, danh hiệu là Từ Thị Như Lai-Ứng
Chánh Đẳng Giác-Minh Hạnh Viên Mãn-Thiện Thệ-Thế Gian Giải-Vô
Thượng Sĩ-Điều Ngự Trượng Phu-Thiên Nhân Sư-Phật-Thế Tôn, đầy
đủ mười hiệu như Ta bây giờ. Đức Phật ấy lại ở giữa chúng Thiên ma,
Đại Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, trời người của thế gian này, tự xưng
Ta là Như Lai-Ứng Chánh Đẳng Giá c cho đến Phật-Thế Tôn, đầy đủ
mười hiệu, chứng được thần thông trí tuệ tự tại, cũng tự biết rõ ràng
đời sống của mình đã hết, Phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không
nhận lấy thân đời sau, được nhập Niết-bàn. Lại vì hữu tình tuyên thuyết
về Chánh pháp, nêu bày rõ ràng Sơ th iện-Trung thiện-Hậu thiện, văn
nghĩa tuyệt vời thuần nhất, đa ày đủ trọn vẹn Phạm hạnh trong sáng,
đích thực mở bày Phạm hạnh cho các hàng trời-người, khiến cho tu học
nhiều hơn, vô lượng trăm ngàn đồ chúng vây quanh, vô lượng đệ tử họ
Từ hầu hạ bảo vệ, làm lợi ích to lớn. Như Ta bây giờ cũng ở giữa chúng
Thiên ma, Đại Phạm… của thế gian này, nói rộng cho đến… vô lượng đệ
tử họ Thích hầu hạ bảo vệ, làm lợi ích to lớn.
Lúc Đức Phật nói lời này xong, Bồ-tát Từ Thị ở trong chúng, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy mà cung kính chắ p tay thưa với Đức Phật rằng:
Thưa Đức Thế Tôn! Con nguyện ở đời vị lai sẽ được làm Từ Thị Như
Lai-Ứng Chánh Đẳng Giác… ấy, nói rộng cho đến… như Đức Thế Tôn
bây giờ cũng được vô lượng đệ tử họ Th ích hầu hạ bảo vệ, làm lợi ích
to lớn.
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn nghe vị  ấy nói xong, khởi lên trí đời
trước (tiền tế trí), quán xét tỉ mỉ Tư ø Thị trải qua ba Vô số kiếp tu bốn
Ba-la-mật-đa được đầy đủ trọn vẹn hay không? Liền biết như thật là
đều đã đầy đủ trọn vẹn. Lại quán xét  tỉ mỉ vị ấy trong trăm Đại kiếp
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 178 471  
www.daitangkinh.org  
tu về nghiệp dị thục của tướng được đầy đủ trọn vẹn hay không? Liền
biết như thật là trừ ra nghiệp của tướng sắc vàng, còn lại đều đầy đủ
trọn vẹn.
Vì vậy, Đức Phật bảo với Đại sinh chủ Kiều-đáp-di rằng: Nay cô
có thể đem chiếc y sắc va øng này cúng dường chúng Tăng, nếu cúng
dường Tăng thì nên biết cũng gọi là cúng dường cho Ta. Lúc ấy Đức
Phật biết trước là chúng Tăng có được ch iếc y sắc vàng này rồi, có là
nhân duyên thích hợp để Từ Thị có được, Từ Thị có được rồi nhất định
sẽ cúng dường cho Ta, nói rộng cho đến… nhờ vào nhân duyên này mà
đầy đủ nghiệp của sắc vàng.”
Trong này, có người nói: “Đức Phật muốn làm cho vị ấy đầy đủ
nghiệp của sắc vàng, bảo với A-nan-đà rằng: Ông hãy tìm cho Ta chiếc
y sắc vàng mới, Ta muốn cầm trao Từ Thị. Lúc ấy A-nan-đà như lời dạy
tìm được chiếc y, lập tức quỳ gối dâng lên. Đức Thế Tôn có được chiếc
y rồi bảo với Từ Thị rằng: Ông hãy nhận lấy chiếc y sắc vàng mới này.
Từ Thị vâng theo lời dạy nhưng không dám nhận lấy. Đức Phật bảo
rằng: Cứ nhận lấy, tùy ý ông dâng c úng Đức Phật là bậc Thượng Thủ
của Tăng. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì ông ở đời vị lai sẽ nhờ vào phước
này để làm lợi ích cho thế gian. Từ Thị cung kính vâng dạ nhận lấy rồi
dâng cúng Đức Phật là bậc Thượng Thủ của Tăng. Nhờ vào nhân duyên
này mà đầy đủ nghiệp của sắc vàng.”
Có người nói: Nghiệp về tướng sắc vàng của Từ Thị cũng đầy
đủ trọn vẹn trước đó, nhưng Đức Phật dạy vị ấy cúng dường chiếc y
sắc vàng, là bởi vì muốn hiển bày về công đức tuy đầy đủ trọn vẹn mà
không hề thỏa mãn, cho nên khuyến khích dẫn dắt người khác.
“Đức Thế Tôn khởi lên trí đời trước quán xét về đời trước của Từ
Thị rồi, lại khởi lên trí đời sau (hậu tế trí) quán xét tỉ mỉ ở vị lai lúc tuổi
thọ của con người là tám vạn tuổi, T ừ Thị có đạt được thân sở y của
quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề hay không? Liền biết là Từ Thị có
điều đó. Lại quán sát tỉ mỉ là Từ Thị vào lúc bấy giờ có khả năng đạt
được quả vị Bồ-đề hay không? Liền biết  là Từ Thị có khả năng. Đức
Thế Tôn quán xét đời trước-đời sau của Từ Thị rồi, liền khen ngợi Bồ-
tát Từ Thị rằng: Khéo thay, khéo thay! Ông có thể phát khởi Tư nguyện
rộng lớn này vì muốn làm lợi ích c ho vô lượng hữu tình, thật là niềm
vui tốt lành!
Lại bảo với Từ Thị: Như ông đã nguyện, ông ở đời vị lai lúc tuổi
thọ của con người là tám vạn tuổi, sẽ được làm Phật danh hiệu là Từ
Thị Như Lai-Ứng Chánh Đẳng Giác…, nói rộng cho đến… vô lượng đệ tử
472 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
họ Từ hầu hạ bảo vệ, làm lợi ích to lớn. Như Ta bây giờ cũng được vô
lượng đệ tử họ Thích hầu hạ bảo vệ, làm lợi ích to lớn.”
Hỏi: A-thị-đa và Từ Thị đều cầu mong thân lúc tám vạn tuổi ở vị
lai, vì sao Đức Thế Tôn quở trách A-thị-đa mà lại khen ngợi Từ Thị?
Đáp: Tỳ kheo A-thị-đa đối với quả báo khởi lên ý thích, khởi lên
thắng giải, khởi lên vui mừng, khởi lên hy vọng, khởi lên mong cầu, cho
nên Đức Phật quở trách; Bồ-tát Từ Thị đối với quả báo không khởi lên
ý thích cho đến mong cầu, nhưng khởi lên ý thích cho đến mong cầu đối
với việc làm lợi ích yên vui cho hữu tình, cho nên Đức Phật khen ngợi.
Lại nữa, A-thị-đa mong cầu địa vị Luân Vương của thế gian, cho
nên Đức Phật quở trách; Từ Thị mong cầu địa vị Luân Vương xuất thế
gian, cho nên Đức Phật khen ngợi. Như vậy, cầu địa vị của Luân Vương
lưu chuyển, cầu địa vị của Luân Vương hoàn diệt nói cũng như vậy.
Lại nữa, A-thị-đa mong cầu lợi ích yên vui cho mình, cho nên Đức
Phật quở trách; Từ Thị mong cầu lợi ích yên vui cho người, cho nên Đức
Phật khen ngợi. Như vậy, cầu lợi ích cho mình, cầu lợi ích cho người nói
cũng như vậy.
Trong kinh tuy nói ra điều này: “Này Từ Thị, ông ở đời vị lai lúc
tuổi thọ của con người là tám vạn tuổi, sẽ được làm Phật danh hiệu là
Từ Thị Như Lai-Ứng Chánh Đẳng Giác…” Nhưng mà không phân biệt
đây là trí nào, trí này đối với nơi nào mà chuyển? Kinh ấy là nơi nương
tựa căn bản của luận này, điều gì trong kinh không nói, thì nay cần phải
nói, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Như nói: “Này Từ Thị, ông ở đời vị lai lúc tuổi thọ của con
người là tám vạn tuổi, sẽ được làm Phật danh hiệu là Từ Thị Như Lai-
Ứng Chánh Đẳng Giác.” Đây là trí nào?
Đáp: Nhân trí và Đạo trí, đây chính là trí của Như Lai quán sát về
đời trước-đời sau của Từ Thị.
Hỏi: Trí này đối với nơi nào mà chuyển?
Đáp: Có lúc đối với nghiệp dị thục của tướng mà chuyển, vì vậy
gọi là Nhân trí; có lúc đối với Ca ên-Lực-Giác chi-Đạo chi vô lậu đạt
được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề mà chuyển, vì vậy gọi là
Đạo trí. Đây chính là trí của N hư Lai quán sát về nghiệp dị thục của
tướng ở đời trước của Từ Thị đa ày đủ trọn vẹn hay không đầy đủ trọn
vẹn, trí đối với nhân mà chuyển cho nên gọi là Nhân trí; và là trí quán
sát về Căn-Lực-Giác chi-Đạo ch i vô lậu đạt được quả vị Vô thượng
Chánh đẳng Bồ-đề ở đời sau của Từ Thị, trí đối với đạo mà chuyển cho
nên gọi là Đạo trí.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 178 473  
www.daitangkinh.org  
Nhưng mà hai trí này đều là Thế t ục trí thâu nhiếp, bởi vì không
phải là trí của mười sáu hành tướng. Hoặc có lúc trong thân tuy có ba
mươi hai tướng mà không có Thánh pháp, đó là dị sinh như Chuyển
Luân Vương. Hoặc có lúc trong th ân tuy có Thánh pháp mà không có
ba mươi hai tướng, đó là không phải Lu ân Vương và hàng Thanh văn.
Hoặc có lúc trong thân có ba mươi hai tướng cũng có Thánh pháp mà
không phải là Phật, đó là như Lu ân Vương Hưởng Khư, đã có được
Thánh đạo. Hoặc có lúc trong th ân không có ba mươi hai tướng cũng
không có Thánh pháp, đó là những dị sinh còn lại. Tất cả thân Phật chắc
chắn có ba mươi hai tướng Vô thượng và Thánh pháp Vô thượng, đó là
Chánh đẳng Bồ-đề.
Hỏi: Vì sao trong này chỉ nói là đối với nghiệp dị thục của tướng
mà chuyển gọi là Nhân trí, không nói  là đối với bốn Ba-la-mật-đa mà
chuyển gọi là Nhân trí?
Đáp: Cần phải nói mà không nói, thì nên biết là nghĩa này có
khác.
Lại nữa, nghiệp dị thục của tướng thì gần, bốn Ba-la-mật-đa    thì
xa, trong này nói đến gần chứ không nói đến xa.
Lại nữa, lúc tu về nghiệp dị thục của tướng thì biểu hiện rõ ràng,
trời-người cùng nhận biết; bốn Ba-la-mật-đa thì không như vậy, trong
này thuận theo hiển bày mà nói.
Lại nữa, lúc tu về nghiệp dị thục của tướng, thì Bồ-đề quyết định
mà nẽo cũng quyết định; lúc tu bốn Ba-la-mật-đa, thì Bồ-đề tuy quyết
định mà nẽo chưa quyết định, vì thế cho nên không nói.
Lại nữa, trong này nói nhận biết nhân gần của thân, nhân gần của
Bồ-đề, nghiệp dị thục của tướng là nhân gần của thân, Căn-Lực…vô lậu
là nhân gần của Bồ-đề; bốn Ba-la-mật-đa và quán Bất tịnh… không phải
là hai nhân gần, vì thế cho nên không nói.
Như nói: “Tỳ kheo này ngay nơi pháp hiện tại sẽ phân rõ tôn chỉ
của bậc Thánh…”
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn phân biệt nghĩa lý trong kinh. Như kinh Tự Tứ
nói: “Tỳ kheo này ngay nơi pháp hiện tại  sẽ phân rõ tôn chỉ của bậc
Thánh, có thể tự mình biết rõ ra øng, đời sống của mình đã hết, Phạm
hạnh đã lập, việc làm đã xong, không nhận lấy thân đời sau, được nhập
Niết-bàn.” Kinh ấy tuy nói ra điều này mà không phân biệt đây là trí
nào, trí này đối với nơi nào mà c huyển? Kinh ấy là nơi nương tựa căn
bản của luận này, điều gì trong kinh không phân biệt, thì nay cần  phải
474 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
phân biệt, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Như nói: “Tỳ kheo này ngay nơi pháp hiện tại sẽ phân rõ tôn
chỉ của bậc Thánh…” Đây là trí nào?
Đáp: Đạo trí.
Hỏi: Trí này đối với nơi nào mà chuyển?
Đáp: Trí này đối với Căn-Lực-Gia ùc chi-Đạo chi vô lậu đạt được
các lậu vĩnh viễn không còn mà chuyển, vì vậy gọi là Đạo trí. Đây
chính là trí của Như Lai quán sát v ề Căn-Lực-Giác chi-Đạo chi vô lậu
đạt được các lậu vĩnh viễn không còn c ủa các Tỳ kheo, trí đối với đạo
mà chuyển cho nên gọi là Đạo trí. Trí này cũng là Thế tục trí thâu
nhiếp, bởi vì không phải là trí vô lậu của mười sáu hành tướng.
Hỏi: Vì sao trong này không nói đến Nhân trí?
Đáp: Có người nói: Trong này nên đưa ra cách nói này: “Đây là
trí nào? Đáp: Nhân trí và Đạo trí.  Trí này đối với nơi nào mà chuyển?
Đáp: Có lúc đối với căn thiện th uận phần giải thoát… mà chuyển, vì
vậy gọi là Nhân trí; có lúc đối với Căn-Lực-Giác chi-Đạo chi vô lậu đạt
được các lậu vĩnh viễn không còn mà chuyển, vì vậy gọi là Đạo trí.” Mà
không đưa ra cách nói này, thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Gia hạnh của Bồ- đề Vô thượng rộng lớn, trải qua
ba Vô số kiếp, trăm kiếp mới th ành, nhân ấy đáng coi trọng, cho nên
nói đến trí quán xét điều ấy. Gia hạnh của Bồ-đề Thanh văn nhỏ hẹp,
đó là nhanh nhất thì ba đời sẽ đạt được, đời thứ nhất gieo giống, đời thứ
hai thành thục, đời thứ ba giải thoát, nhân không phải là đáng coi trọng,
cho nên không nói đến trí quán xét điều ấy.
Có người nói: Sở y-chủng tánh-nghiệp dị thục về tướng của Bồ-tát
đều quyết định, cho nên nói đến trí nhận biết về điều ấy; sở y-chủng
tánh-căn thiện thuận phần giải t hoát của Thanh văn đều không quyết
định, cho nên không nói đến trí nhận biết về điều ấy.
Có người nói: Đức Phật có hai sự thù thắng, một là thân sở y, hai
là Bồ-đề đã đạt được, bởi vì quán xét đầy đủ nhân ấy cho nên nói đến
trí nhận biết hai loại nhân; Thanh văn chỉ có sự thù thắng thuộc Bồ-đề
đã đạt được, không phải là thân s ở y, cho nên chỉ nói đến trí nhận biết
về nhân Bồ-đề.
Có người nói: Trí nhận biết về căn thiện thuận phần giải thoát…
trước đây cũng không nói, cho nên ở trong này không cần phải đưa ra
câu hỏi.
Nguyện trí là thế nào? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 178 475  
www.daitangkinh.org  
Đáp: Trước đây tuy nói về tác dụng của Nguyện trí, mà chưa nói
đến tự tánh của Nguyện trí, nay muốn nói đến điều ấy cho nên soạn ra
phần luận này.
Hỏi: Nguyện trí là thế nào?
Đáp: Như A-la-hán thành tựu thần thông, đạt được tâm tự tại, tùy
theo ý muốn biết rõ ý nghĩa, phát khởi Chánh nguyện rồi, liền tiến vào
giới hạn (biên tế) của Tĩnh lự thứ tư, từ trong Định rời ra rồi như nguyện
đều biết rõ. Tùy theo ý muốn biết rõ ý nghĩa.
Hỏi: Vì sao A-la-hán muốn biết rõ ý nghĩa?
Đáp: Bởi vì ba nhân duyên:
1. Bởi vì lợi ích cho đệ tử.
2. Bởi vì trú trì Phật pháp.
3. Bởi vì biết thế gian yên ổn hay là không yên ổn.
Bởi vì lợi ích cho đệ tử, đó là A- la-hán đối với các đệ tử lúc tu
quán hành, thì pháp cần phải quán xét họ tiến vào hàng Thánh lâu hay
mau, tuổi thọ của mình không còn thì họ có thể tiến vào Chánh tánh ly
sinh hay không? Giả sử không có thể tiến vào thì sau khi mình mạng
chung, có người nào khác có thể dạy bảo khiến cho có thể tiến vào hay
không? Như vậy đều dùng Nguyện trí mà nhận biết, những sự việc như
vậy gọi là vì lợi ích cho đệ tử.
Bởi vì trú trì Phật pháp, đó là A-la -hán có lúc quản lý công việc
của Phật-Pháp-Tăng như xây dựng tháp thờ-chùa chiền-nhà cửa (Suất-
đổ-ba, Tỳ-ha-la, Tăng già lam)…, thì pháp cần phải quán xét lâu-mau
sẽ hoàn thành, hết tuổi thọ của mình có thể hoàn thành hay không?
Giả sử không hoàn thành thì sau khi  mình mạng chung, có người nào
khác có thể tiếp tục hoàn tha ønh hay không? Hoặc có Quốc vương-Đại
thần-Trưởng giả và những chủ buôn, muốn gây ra sự suy tổn đối với
Phật pháp, có A-la-hán suy nghĩ muốn hóa độ, lập tức quán sát người
ấy có thể hóa độ hay không? Giả sử có thể hóa độ thì sẽ lâu mau? Tuổi
thọ của mình không còn thì sự hóa độ có kết quả hay không? Giả sử
không có kết quả, thì sau khi mình mạng chung có ai có thể tiếp tục hay
không? Như vậy đều dùng Nguyện trí mà nhận biết, những sự việc như
vậy gọi là vì trú trì Phật pháp.
Bởi vì biết thế gian yên ổn ha y là không yên ổn, đó là A-la-hán
có lúc quán sát trong đất nước này và trong thời gian này, sẽ có những
sự việc như tốt lành-sợ hãi-yên ổn-dịch bệnh..., muốn khiến cho mình
và người nhận biết mà giữ lấy va ø rời bỏ, cho nên khởi lên Nguyện trí
để nhận biết. Như xưa kia ở nước Ca-thấp-di-la này có vị vua tên    gọi
476 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Thước-ca, bởi vì vua nước Phược-hát xâm phạm cướp đoạt tiến vào lãnh
thổ, lúc ấy vua Thước-ca lập tức dẫn đầu binh lính muốn đánh nhau. Vị
vua ấy bản tánh hiền từ nhân hậu,  luôn luôn sợ nghiệp ác, thầm dấy
lên nghĩ rằng: Không biết nay mình đánh nhau chắc chắn được thắng
trận, giữ được ngôi vua hay không, nếu như sẽ thất bại thì chỉ giết hại
dân chúng vô tội, lại chuốc lấy tội lỗi, chết sẽ rơi vào địa ngục, từng
nghe trong ngôi chùa ấy có vị A-la-h án đạt được Nguyện trí vi diệu,
mình nên đi đến hỏi xem! Nghĩ rồi lập tức đi đến, thật lòng quy y cung
kính lễ lạy, cầu mong quyết đoán mối nghi  của mình. Vị A-la-hán ấy
liền trả lời nhà vua rằng: Tôi tuy đã từng đạt được trí này, nhưng bởi vì
thiếu duyên giúp đỡ, thân lực yếu kém cho nên đã lâu không còn hiện
rõ trước mắt. Lúc ấy nhà vua liền dùng các loại đồ ăn thức uống-đồ vật
sinh hoạt tuyệt vời bậc nhất mà cung cấp cho vị ấy. Không bao lâu thì
Tôn giả ấy có thể khởi lên Nguyện trí, lập tức quán sát cho nhà vua, thì
thấy vua Phược-hát chắc chắn sẽ đo ạt được ngôi vị của vua Thước-ca,
làm nhiều điều lợi ích. Thấy rồi liền trả lời vua Thước-ca rằng: Nhà vua
sẽ mất đất nước, mong tự mình suy nghĩ cẩn thận! Vua Thước-ca vâng
dạ cung kính, liền dẫn đầu binh lín h và mang theo quyến thuộc, rời bỏ
đất nước mà đi đến xứ sở khác. Bởi vì nhân duyên này, cho nên các A-
la-hán muốn biết rõ ý nghĩa ấy. Tiến vào giới hạn của Tĩnh lự thứ tư.
Hỏi: Vì sao gọi là giới hạn của Tĩnh lự thứ tư?
Đáp: Đây là dấu hiệu, là điểm cuối cùng, là khu rừng rậm rạp đối
với Tĩnh lự thứ tư, cho nên gọi là giới hạn của Tĩ nh lự thứ tư, chính là
nghĩa thuộc phẩm thù thắng nhất của Tĩnh lự thứ tư; giống như đọt cây
là điểm cao nhất trong thân cây, thì gọi là giới hạn của cây.
Có người nói: Đây là nơi nương t ựa của các pháp công đức như
dấu hiệu của trí, điểm cuối cùng của trí, khu rừng rậm rạp của trí…, cho
nên gọi là giới hạn của Tĩnh lự thứ tư. Nghĩa là bởi vì các loại công đức
như Vô lượng… xông ướp nối tiếp nhau rồi, mới khởi lên Định này. Dựa
vào Định này mà khởi lên công đức, là dấu hiệu, là điểm cuối cùng, là
khu rừng rậm rạp đối với các công đức; giống như Đề-hồ là vị thù thắng
nhất trong sữa bò.
Có người nói: Trí này nên gọi là giới hạn sau cùng (hậu tế) của
Tĩnh lự thứ tư. Giới hạn (tế) có ba loại:
1. Giới hạn đầu tiên.
2. Giới hạn khoảng giữa.
3. Giới hạn sau cùng. Ba giới hạn này tức là quá khứ-hiện tại-vị
lai, như thứ tự ấy. Trong này, giới hạn đầu tiên do hai trí nhận biết,  đó
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 178 477  
www.daitangkinh.org  
là Túc trú tùy niệm trí và Nguyện trí; giới hạn khoảng giữa cũng do hai
trí nhận biết, đó là Tha tâm trí và Nguyện trí; giới hạn sau cùng chỉ do
Nguyện trí nhận biết, bởi vì trong cảnh c ủa vị lai chỉ có trí này. Vì thế
cho nên trí này gọi là trí thuộc giới hạn sau cùng (hậu tế trí), có thể khởi
lên Định này, gọi là giới hạn sau cùng của Tĩnh lự thứ tư.
Có người nói: Trí này nên gọi là chưa đến giới hạn (vị chí tế) của
Tĩnh lự thứ tư. Giới hạn (tế) có ba loại:
1. Chưa đến giới hạn.
2. Đến giới hạn.
3. Đã đến giới hạn.
Ba giới hạn này tức là vị lai-hiện tại-quá khứ, như thứ tự ấy. Như
nhận biết hiện tại gọi là trí chưa đến giới hạn, nhận biết quá khứ gọi là
trí đã đến giới hạn, như vậy trí này phần nhiều nhận biết về vị lai, cho
nên gọi là trí chưa đến giới hạn; có thể khởi lên Định này, gọi là chưa
đến giới hạn của Tĩnh lự thứ tư.
Có người nói: Trí này chỉ nên gọi la ø giới hạn của Tĩnh lự thứ tư.
Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Biên là gọi cho Uẩn-Giới-Xứ hiện tại, Tế
là gọi cho quá khứ-vị lai. Như đối với Uẩn-Giới-Xứ hiện tại có trí hiện
thấy mà chuyển, như vậy đối với quá khứ-vị lai cũng có trí hiện thấy mà
chuyển, cho nên trí này gọi là trí của giới hạn (biên tế trí); có thể khởi
lên Định này, gọi là giới hạn của Tĩnh lự thứ tư. Từ trong Định rời ra rồi
như nguyện đều biết rõ.
Hỏi: Là đang còn Định mà nhận biết, hay là rời khỏi Định mà
nhận biết? Nếu như vậy thì có gì sai? Nếu như đang còn Định mà nhận
biết, thì tại sao trong này nói t ừ trong Định rời ra rồi như nguyện đều
biết rõ? Nếu như rời khỏi Định mà nha än biết, thì tại sao cần phải tiến
vào giới hạn của Tĩnh lự thứ tư?
Đáp: Ngay lúc đang còn Định có thể nhận biết.
Hỏi: Tại sao trong này nói từ trong Định rời ra rồi như nguyện đều
biết rõ?
Đáp: Đây là ở lúc nói mà gọi là nhận biết, bởi vì nói là biểu hiện
cho nhận biết.
Lại nữa, lúc bấy giờ làm cho người khác nhận biết cho nên gọi
là nhận biết.
Có người nói: Rời khỏi Định có thể nhận biết.
Hỏi: Tại sao cần phải tiến vào Tĩnh lự thứ tư?
Đáp: Giới hạn của Tĩnh lự thứ tư là phương tiện nhận biết, bởi vì
cần phải tiến vào Định này thì trí này mới sinh khởi.
478 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Nói như vậy thì cách nói thứ nhất là hợp lý, bởi vì đang còn Định
có thể nhận biết, rời khỏi Định mà nói rõ.
Hỏi: Tự tánh của Nguyện trí là gì?
Đáp: Tự tánh là Tuệ. Như tự tánh, như vậy bổn tánh và tánh tướng
của Ngã-vật cũng như vậy.
Đã nói về tự tánh, nay sẽ nói đến nguyên cớ.
Hỏi: Vì sao gọi là Nguyện trí?
Đáp: Có thể nhận biết như nguyện, cho nên gọi là Nguyện trí.
Hỏi: Là có thể nhận biết như nguyện của mình, hay là có thể nhận
biết như nguyện của người khác?
Đáp: Cũng nhận biết như nguyện của mình, cũng nhận biết như
nguyện của người khác, bởi vì tùy theo nguyện vốn có đều có thể nhận
biết.
Lại nữa, nhận biết về nguyện vốn c ó, cho nên gọi là Nguyện trí.
Nguyện có hai loại, đó là nguyện về Bồ-đề và nguyện về quả báo.
Nguyện về Bồ-đề là như các nguyện của Từ Thị, nguyện về quả báo là
như các nguyện của A-thị-đa, nhận biết những nguyện này cho nên gọi
là Nguyện trí.
Lại nữa, trí tùy theo nguyện mà khởi lên, cho nên gọi là Nguyện
trí. Đó là bởi vì trí thù thắng này, cần phải do tác ý gia hạnh của nguyện
trước đây mà dẫn dắt phát khởi; N hư Lai tuy không có tác ý gia hạnh,
mà cũng cần phải có tâm nguyện làm đầu tiên.
Có người nói: Trí này nên gọi là Kỳ trí, bởi vì cảnh nhận biết vô
cùng vi tế, cần phải đưa ra hạn kỳ thì mới có thể nhận biết.
Có người nói: Trí này nên gọi là Diệu trí, bởi vì trí này thù thắng
nhất trong các trí; như thế gian nói đồ ăn thức uống tuyệt vời, áo quần
tuyệt vời…, đó là đối với thù thắng mà nói theo thanh tuyệt vời, ở đây
cũng như vậy.
Nhưng Nguyện trí này: Nói về Cõi, thì cõi Sắc.
Nói về Địa, thì thuộc về địa Tĩnh lự thứ tư.
Nói về Sở y, thì dựa vào thân của cõi Dục.
Nói về Hành tướng, thì làm mười sáu hành tướng, hoặc là hành
tướng khác.
Nói về Sở duyên, thì duyên với tất cả các pháp.
Nói về Niệm trú, thì bao gồm bốn Niệm trú.
Nói về Trí, thì A-tỳ-đạt-ma xưa kia nói là chỉ riêng Thế tục trí.
Có Sư khác nói: Tánh thuộc tám trí, trừ ra Tận trí và Vô sinh  trí.
Nguyên cớ thế nào? Bởi vì hai trí ấy không phải là tánh thuộc Kiến, mà
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 178 479  
www.daitangkinh.org  
Nguyện trí là tánh thuộc Kiến.
Nói như vậy thì chỉ là một Thế tục trí.
Nói về Tam-ma-địa đi cùng, th ì không đi cùng với Tam-ma-địa,
bởi vì chỉ là hữu lậu.
Nói về Căn tương ưng, thì tương ưng với Xả căn.
Nói về Thời gian (thế), thì thuộc về ba thời gian; duyên với ba thời
gian và tách lìa thời gian.
Nói về thiện-bất thiện-vô ký, thì đều là thiện; duyên với ba loại.
Nói về hệ thuộc ba cõi-không hệ thuộc, thì chỉ hệ thuộc cõi  Sắc;
duyên với hệ thuộc ba cõi và không hệ thuộc.
Nói về Học-Vô học và Phi học phi vô học, thì đều là Phi học phi
vô học; duyên với ba loại.
Nói về do Kiến mà đoạn-do Tu mà đoạn và không đoạn, thì đều
là do Tu mà đoạn; duyên với ba loại.
Nói về duyên với danh-duyên với nghĩa, thì duyên chung với danh
và nghĩa.
Nói về duyên với Tự tương tục-Tha tương tục và Phi tương tục, thì
duyên chung với ba loại.
Hỏi: Khởi lên ở nơi nào?
Đáp: Khởi lên ở cõi Dục chứ không phải là cõi Sắc-Vô sắc. Trong
cõi Dục thì chỉ có loài người, c hứ không phải là loài khác. Trong loài
người thì chỉ có ba châu, chứ không phải là châu Bắc Câu-lô. Trong ba
châu thì thân nam-thân nữ đều có thể khởi lên.
Tôn giả Cù-sa-phiệt-ma đưa ra cách nói như vậy: “Chỉ có châu
Thiệm Bộ có thể khởi lên chứ không phải là châu khác, chỉ có người
nam có thể khởi lên chứ không phả i là người nữ. Nguyên cớ thế nào?
Bởi vì Nguyện trí thù thắng, cho nên cần phải dựa vào thân mạnh mẽ
sắc bén tăng thượng, mà hai châu khác và thân nữ đều là yếu kém.”
Nói như vậy thì cách nói thứ nhất là hợp lý, ba châu và thân nam-
thân nữ đều mạnh mẽ sắc bén tăng t hượng, bởi vì đều có thể đạt được
tâm tự tại và Định tự tại. Nếu không như vậy thì trong kinh không nên
nói Đại sinh chủ là bậc Thượng thủ của năm trăm Tỳ kheo Ni, ở trong
một ngày cùng lúc rời bỏ thọ mạng hiện hành mà nhập Niết-bàn. Nếu
họ không đạt được giới hạn của Tĩnh lự thứ tư, thì không có thể rời bỏ
đối với thọ mạng hiện hành. Đã đạt được điều này thì vì sao tự mình
không có thể phát khởi Nguyện trí?
Hỏi: Những Bổ-đặc-già-la nào có thể khởi lên trí này?
Đáp: Thánh giả chứ không phải là dị sinh. Trong hàng Thánh chỉ
480 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
có Vô học, không phải là Hữu học. Tr ong Vô học chỉ có Bất thời giải
thoát, không phải là Thời giải thoát. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì nếu đối
với Định đạt được tự tại, và trong sự nối tiếp nhau không bị phiền não
níu giữ, thì có thể khởi lên Nguyện trí. Các dị sinh và Tín thắng giải cả
hai sự việc đều không có; Kiến chí tuy đối với Định đạt được tự tại, mà
trong sự nối tiếp nhau bị phiền não níu gi ữ; Thời giải thoát tuy sự nối
tiếp nhau không bị phiền não níu giữ, mà đối với Định không đạt được
tự tại; vì thế cho nên đều không có thể phát khởi Nguyện trí. Chỉ có Bất
thời giải thoát đối với Định đạt được tự tại, và trong sự nối tiếp nhau
không bị phiền não níu giữ, cho nên có thể khởi lên Nguyện trí.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt