A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 182
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
云何法輪乃至廣說。問何故作此論。答為欲 分別契經義故。如契經說世尊轉法輪諸 餘世間沙門婆羅門天魔梵等皆無有能如 法轉者。契經雖作是說而不分別。云何法 輪齊何當言轉法輪。契經是此論所依根 本。彼所不說者今應說之故作斯論。云何 法輪。答八支聖道。若兼相應隨轉則五蘊性。 此是法輪自性。是我是物是相是性是本性。 已說自性所以今當說。問何故名法輪。答 此輪是法所成法為自性故名法輪。如世 間輪金等所成金等為性名金等輪。此亦如 是。有說。此輪於諸法性能簡擇極簡擇 能覺悟極覺悟現觀作證故名法輪。有說。此 輪能淨聖慧法眼故名法輪。有說。此輪能 治非法輪故名法輪。非法輪者謂布刺拏等 六師所轉八邪支輪。問何故名輪輪是何義。 答動轉不住義是輪義。捨此趣彼義是輪義。 能伏怨敵義是輪義。由斯等義故名為輪。 如大四十法門經說。有二十善品二十不善 品此名梵輪。乃至廣說。問二十善品可爾。 二十不善品云何名梵輪耶。答佛意不說 彼為梵輪。但說於善不善品法有忍智 轉名為梵輪。問此何故名梵。答極寂靜故 離災橫故無罪累故不惱害故說名為梵。 問何故名梵輪。答以梵世在初可得及具 聖道故名梵輪。第二第三靜慮非初可得亦 不具聖道。第四靜慮雖是佛身初得而不 具聖道故不名輪。唯有梵世是初可得 及亦具足故名梵輪。有說。修梵行者相續 中可得故名梵輪。有說。對治非梵行故名 為梵輪。有說。對治三界見所斷非梵煩惱 故名梵輪。有說。此因梵王勸請而轉故名 梵輪。有說。佛是大梵佛所宣說分別開示故 名梵輪。有說。梵音演說故名梵輪。有說。唯 梵世聖道能對治眾多非梵法故名為梵輪。 眾多非梵法者謂三界見修所斷煩惱。或不 善無記煩惱。或有異熟無異熟煩惱。或生二 果生一果煩惱。或無慚無愧相應。無慚無愧不 相應煩惱。或有事無事煩惱。或忍所治智所 治煩惱。如是等名眾多非梵法。有說。唯梵世 有多梵行果故名梵輪。多梵行果者謂四沙 門果。上三靜慮唯有二沙門果。無色唯有一 沙門果。唯梵世中具有四果。或九遍知果。上 三靜慮唯有五遍知果。無色唯有二遍知果。 唯梵世具有九遍知果。或八十九沙門果唯 梵世具有非於上地。是故聖道說名梵輪。 問何故唯說見道名法輪非餘耶。答前說 動轉不住義是輪義。見道是速疾道不起期心 道於動轉不住。最為隨順故獨名法輪。有 說。前說捨此趣彼義是輪義。見道中捨苦 現觀趣集現觀。乃至捨滅現觀趣道現觀。 是故見道獨名法輪。有說。以四事故名輪。 一捨此。二趣彼。三未降伏者降伏。四已降 伏者守護。見道中亦爾。捨此者捨苦現觀。 趣彼者趣集現觀。未降伏者降伏即集現觀。 已降伏者守護即苦現觀。乃至滅道說亦如 是故名法輪。有說。迴轉義是輪義。猶如車 輪周旋迴轉。如是見道忍智循環。謂忍後智 現前智後忍復現前。法品類品循環亦爾故 名法輪。有說。上下義是輪義。猶如車輪 或上或下如是見道緣境上下。謂緣欲界 已即緣有頂。緣有頂已復緣欲界。對治上 下說亦如是故名法輪。有說。見道猶如輻 轂輞法故說為輪。猶如車輪轂最居中輻 依轂住輞攝於輻。如是見道苦集忍智如 輻。滅忍滅智如轂。道忍道智如輞。遍緣道 故。或有說者。苦集滅忍智如輻三諦如轂道 諦如輞。或有說者。三諦忍智如輻道忍道 智如輞四諦如轂。或有說者。正見正思惟 正勤如輻正語業命如轂正念正定如輞。或 有說者。正思惟正勤正念正定如輻正語業 命如轂正見如輞。或有說者。唯正定如輞 餘如前說。有說。降伏四方義是輪義。如轉 輪王所有輪寶。降伏四洲所有怨敵。如是行 者以見道輪降伏四諦所有煩惱故名法 輪。有說。見所斷煩惱名非法輪。能起八邪 支故。見道是彼近對治故說名法輪。尊者 妙音說曰。學八支道展轉和合一時至他相 續中轉故名法輪。此八支道見道位勝是故 見道獨名法輪。齊何當言轉法輪。答若 時具壽阿若多憍陳那見法。問何故復作此 論。答前雖顯法輪自性而未顯作用。今欲 顯之故作斯論。有說。為止摩訶僧祇部說 法輪語為自性。彼作是說一切佛語皆是法 輪。若謂聖道是法輪者則菩提樹下已轉法 輪。何故至婆羅痆斯方名轉法輪耶。為止 彼意顯法輪體但是聖道非佛語性。若是佛 語者則應菩提樹邊為商人說法已名轉法 輪。何故後至婆羅痆斯國乃言轉法輪耶。 故知爾時令他身中有聖道起方名轉法 輪。法輪聖道為體故。說齊阿若多憍陳那見 法名佛轉法輪。問若爾佛於菩提樹下已 名轉法輪。何故於婆羅痆斯國乃言初轉法 輪耶。答轉法輪有二種。一自相續中轉。二令 他相續中轉。菩提樹下是自轉法輪。婆羅痆 斯是令他轉法輪。佛以饒益他為正事故。 依令他轉說初轉法輪。有說。轉法輪有二 種。一共二不共。菩提樹下所轉法輪與二乘 共自利法故。婆羅痆斯國所轉法輪不與二 乘共利他法故。依不共說故言彼處初轉 法輪。有說。與此相違名共不共依共說 轉。如共不共曾未曾亦爾。有說。若於轉時 勝獨覺者乃言初轉。謂諸獨覺亦能自轉。 但不令他。唯佛亦能令他轉故。有說。若於 轉時有人為證乃說初轉。謂五苾芻證無 我理方能為佛作證轉法輪人。有說。婆羅 痆斯所轉法輪是佛昔日三無數劫所修苦行 功勞之果故說初轉。所以者何。佛若欲於 過去佛所般涅槃者即得隨意。所以經於 三無數劫精勤修習百千苦行。於蘊處界 求善巧者皆為饒益所化有情恒作是願。 若我證得無上菩提當為有情開甘露門。 令皆解脫生死牢獄。故今所轉正是昔日苦 行之果。有說。若能降伏他身煩惱方名法 輪正所作用。如王輪寶降伏他土非但降 伏自所住宮。如來法輪亦復如是。依此說佛 初轉法輪。問若彼身中聖道生時即彼名為 轉法輪者。何故說佛轉法輪耶。答依能轉 因故作是說。謂彼身中所有聖道世尊若不 以言說手為其轉者。則彼聖道無因得生。 彼聖道生皆由佛力。是故說佛初轉法輪。如 轉輪王未以輪寶置於左手右手轉之。則 諸天神亦不能轉。要王轉已彼能轉之故 說輪王能轉非彼此亦如是。有說。依開覺 緣故作是說。謂彼身中雖有聖道乃至若 未以佛語光而照觸者無由得生。彼聖道 生皆是佛力是故說佛初轉法輪。譬如池中 嗢鉢羅等種種蓮花。乃至若未以日光而照 觸者則不開不敷不香。日光照時則開敷 香此亦如是。有說。依除障緣故作是說。謂 彼身中雖有聖道。若佛不以未曾有善巧 名句文身除彼身中所有障者。則彼聖道無 由得生。彼聖道生由佛除障。是故說佛初 轉法輪。有說。依資助緣故作是說。謂彼身 中雖有聖道。若佛不以法水灌之則聖道 芽無由得生。彼得生者由佛資助。是故說 佛初轉法輪。如倉中種子闕眾緣故芽則不 生。當知芽生由資助力。此亦如是。有說。 依示導緣故作是說。謂彼身中雖有聖道。 若無如來言說示導彼者則彼身中聖道不 轉。佛開示故彼聖道轉。是故說佛初轉法 輪。如闇室中以燈炤了便見種種可取之 物。此亦如是。有說。二因二緣生於正見。一 聞他法音。二如理作意。由聞他法音故說 佛初轉。由如理作意故說彼自轉。有說。若 人具足四法名多有所作。謂親近善士聽 聞正法如理作意法隨法行。由親近善士 聽聞正法故說佛轉法輪。由如理作意法 隨法行故說彼自轉法輪。 問憍陳那住苦法智忍即應說佛初轉法 輪。何故乃至道類智時方名為轉。答苦法智 忍時雖得名轉。而未究竟道類智時於轉 究竟。有說。道類智時三因緣具故說名轉。 一捨曾道二得未曾道三結斷一味證。有 說。道類智時五因緣具故名為轉。一捨曾 道二得未曾道三結斷一味證四頓得八 智五一時修十六行相。捨曾道者謂捨見 道。得未曾道者謂得修道。結斷一味證者 謂集證三界見所斷斷。頓得八智者謂頓得 四法智四類智。一時修十六行相者。謂一 時修苦四行相乃至道四行相。有說。道類智 時已斷一切見所斷煩惱。無事煩惱忍所治 煩惱永害見邪性故。於爾時方說為轉。有 說。此所言轉依至果位可稱可數。有相可 說可得施設法補特伽羅而說非於先時 不名為轉。有說。此所言轉約可命終受生 處說。非於先時不名為轉。 如契經說佛說此法門時。具壽憍陳那及 八萬諸天。遠塵離垢於諸法中生淨法眼。 此中遠塵者謂遠隨眠。離垢者謂離纏垢。 於諸法中者謂於四聖諦中。生淨法眼者 謂見四聖諦淨法眼生。問佛說此法門時 五苾芻皆見法。何故但說憍陳那耶。答以 憍陳那先見法故。謂憍陳那已入見道。餘四 猶在順決擇分善根位中。有說。世尊於彼 有宿願故以彼為首而轉法輪是故偏說。 由此佛告憍陳那言汝已解耶。彼言已解。 第二第三亦復如是。因斯號彼為阿若多。 問世尊何故三問彼耶。答彼憍陳那見聖諦 已。世尊便起前後際智作是觀察。為憍陳 那所應受惡趣相續蘊界處多。為我過去三 無數劫所經剎那臘縛牟呼栗多多耶。觀已 即見憍陳那所應受無間地獄相續蘊界處 多。非我過去三無數劫所經剎那臘縛牟呼 栗多多。見已便作是念我於三無數劫修 無量百千難行苦行。今得無上正等菩提。但 令憍陳那爾所無間地獄相續蘊界處住不 生法中。設我即般涅槃於我劬勞已為果 滿況作餘事以慶慰故三反問之。復次佛 見從不可知本際以來。憍陳那起煩惱 縛一切有情。一切有情亦起煩惱縛憍陳 那。又見憍陳那於一切有情相續中受胎。一 切有情於憍陳那相續中受胎。更相損害 更相食噉說亦如是。如見前際見後際亦 爾。佛見此已便作是念。我但令憍陳那一 人於一切有情離如是事。於我三無數劫 所修苦行便為果滿。況更饒益無量有情 欣慰情深是以三問。有說。為止誹謗是以 三問。謂佛為菩薩時厭老病死出劫比羅 伐窣堵城求無上智時。淨飯王遣釋種五 人隨逐給侍。二是母親三是父親。母親二人 執受欲得淨。父親三人執苦行得淨。當 於菩薩修苦行時。母親二人心不忍可即便 捨去。菩薩知後苦行非道捨而受食羹飯 酥乳。以油塗身習處中行。父親三人咸謂 菩薩狂亂失志亦復捨去。於是二女所謂難 陀難陀跋羅俱來給侍。爾時菩薩便作是念。 若彼五人不捨我者豈令女人來相親近。菩 薩受食十六轉乳糜已身力轉增。從吉祥人 邊受取草已詣菩提樹自敷草座結跏趺 坐。立如是誓我今要當不起此座。降魔 軍眾永斷諸漏證取無上正等菩提。立此 誓已尋時摧破三十六俱胝惡魔軍眾。以三 十四心得阿耨多羅三藐三菩提。佛眼遍觀 一切世界誰應最初聞我正法我當為說。 觀已便知嗢達洛迦曷邏摩子應先聞我法。 是時有天即白佛言。嗢達洛迦曷邏摩子昨 日命過。有說七日。爾時世尊亦起智見知 彼命過便傷歎言。彼失大利。若彼聞我所說 法者當得正解。世尊復觀除彼誰應初聞 我法我當為說。觀已便知頞邏茶迦邏摩 應先聞我法。天復白言頞邏荼迦邏摩命過 來已經七日。有說昨日。爾時世尊亦起智 見知彼命過而傷歎言。彼失大利若彼聞 我所說法者當得正解。問佛初得阿耨多 羅三藐三菩提時。何故不為二人說法。而 令命過不得聞法將非教化失時耶。有 說。世尊初成佛時未起為他說法心。又未 以大悲緣有情界故。無化導失時之咎。 尊者妙音說曰。佛初得無上菩提時愛重 法故多日思念。尚不及起飲食之心。況能 起心為他說法。復有說者。初成佛時未建 立有情三聚差別。未知所應化導及非所 應故無有失。有說彼時二人善根未熟未 堪聞法。所以者何。佛成道已彼初一人若更 經五十七日有餘命者應堪聞法。有說。 五十六日。有說四十九日。彼第二人若更經 五十一日有餘命者應堪聞法。有說。五十 日有說。四十三日。由此非佛教化失時。世 尊或時留自壽行待所化者如待蘇跋達 羅等。若能留他壽行無有是處。問佛何故 傷歎耶。答佛先以彼二人為師習世俗定 不得真法。今佛自證無上真法欲令彼知。 又欲以己所證饒益於彼而彼命終是以 傷歎。問前說彼若聞我法者當得正解依 何位說得正解耶。有說。此說入正性離生 位。有說。住順決擇分善根位。有說。起順解 脫分善根位。如是說者。乃至令彼除一切 智增上慢。知唯佛世尊具一切智。爾時名 得正解。世尊復觀除彼二人誰復最初應 聞我法我當為說。觀已即知憍陳那等五 人應先聞法。即作是念。彼皆是我父母親 族先來恭敬供養於我。今欲酬報為何所 在。天即白言今在婆羅痆斯國仙人鹿苑。爾 時世尊亦起智見知在彼處。便捨菩提樹 步涉而往婆羅痆斯。問佛具最勝神足何以 步涉往耶。答敬重法故不以神足。然於行 時足常去地如四指量。一一足迹皆有喜 旋吉祥可愛。千輻輪相分明如畫。身影所 觸乃至七日能令有情至其處者諸根安 悅。漸次行到婆羅痆斯。爾時五人忽遙見佛 遂共立制。彼憍答摩懈慢多求狂亂失志空 無所獲。而今復來欲相呼誘。我等宜各勿 與言談恭敬問訊。但敷一常座任其坐不。 爾時世尊漸行近彼威德所逼。令捨本期 不覺一時從座而起趍走迎逆合掌歸命。於 中或有改敷淨座。或取佛衣或取佛鉢。或 有供水。或有洗足。俱白佛言唯願就座。 佛便作念如是癡人自立制約須臾還破。 時佛就座安詳而坐。威光奇特如妙高山。是 時五人雖復恭敬而猶呼佛為具壽。或復 稱佛為喬答摩。佛即告言汝等勿呼如來 為具壽亦勿稱觸姓名。若故爾者當於長 夜獲無義利受諸劇苦。所以者何。如來已 證無上菩提安隱涅槃。度生老病死覺一 切法性。救護一切為三界尊。成就無邊功 德法故。時五人言。具壽猶是昔喬答摩。身形 所作不異往日。懈慢多求狂亂失志。捨於 苦行受好飲食以油塗身皮膚充悅。雖知 具壽自稱證得無上菩提安隱涅槃誰當相 信。而不許我稱觸名姓。世尊告曰。汝今觀 我面貌威光諸根容止豈與昔日同耶。五人 答言。我觀具壽實異於昔。佛言。我若不證 法者豈得如是。汝應以此證知我得無上 菩提。何故猶於如來而生不信。世尊於是 漸漸化誘令其調伏。於日初分為二人說 法教誡教授。令餘三人入村乞食彼所乞 食充足六人。於日後分為三人說法教誡 教授。令餘二人入村乞食。所乞飲食充足 五人。世尊性離非時食故。如是教化經於 三月。有說四月。令彼五人善根熟已。於迦 栗底迦月白半八日如來為彼轉正法輪。時 憍陳那最初見法。佛便三問汝已解耶。此 意問言汝今觀我是懈慢多求狂亂失志不 證無上菩提涅槃而誑汝耶。故三問解不。 彼還三反答言已解此意。答言我今觀佛實 非懈慢多求。亦非狂亂失志。又實證得菩 提涅槃而非誑我。我今為佛證人故三答 已解。是故為止誹謗佛三問之。有說。為 顯本願滿足是以三問。其事云何。曾聞過 去此賢劫中有王名羯利。時有仙人號為 忍辱。住一林中勤修苦行。時羯利王除去 男子。與內宮眷屬作諸伎樂遊戲林間縱 意娛樂經久疲厭而便睡眠。內宮諸女為花 果故遊諸林間。遙見仙人於自所止端身 靜思便馳趣之。皆集其所到已頂禮圍繞而 坐。仙人即為說欲之過。所謂諸欲皆是不淨 臭穢之法。是可訶責是可厭患。誰有智者 當習近之。諸姊皆應生厭捨離。王從睡覺 不見諸女便作是念。將無有人誘奪去 耶。即拔利劍處處求覓。乃見諸女在仙人 邊圍繞而坐。生大瞋恚是何大鬼誘我諸 女。即前問之汝是誰耶。答言我是仙人。復問 在此作何事耶。答言修忍辱道。王作是念。 此人見我瞋故便言我修忍辱。我今試之 即復問言。汝得非想非非想處定耶。答言不 得。次第責問乃至汝得初靜慮耶。答言不 得。王倍瞋忿語言。汝是未離欲人云何恣 情觀我諸女。復言我是修忍辱人。可伸一 臂試能忍不。爾時仙人便伸一臂。王以利 劍斬之。如斷藕根墮於地上。王復責問汝 是何人。答言我是修忍辱人。時王復令伸 餘一臂即復斬之如前責問。仙人亦如前 答我是修忍辱人。如是次斬兩足復截兩 耳。又割其鼻一一責問答皆如前。令仙人 身七分墮地作七瘡已王心便止。仙人告 言。王今何故自生疲厭。假使斷我一切身 分猶如芥子乃至微塵。我亦不生一念瞋 忿。所言忍辱終無有二。復發是願。如汝今 日我實無辜。而斷我身令成七分作七瘡 孔。我未來世。得阿耨多羅三藐三菩提時。 以大悲心不待汝請最初令汝修七種道 斷七隨眠。當知爾時忍辱仙人者即今世尊 釋迦牟尼是。羯利王者即今具壽憍陳那是。 故憍陳那見聖諦已佛以神力除彼闇障。 令其憶念過去世事。彼便自見為羯利王 佛為仙人。自以利劍斷佛七支作七瘡孔。 佛不瞋恨反以誓願欲饒益之。故佛世尊 三問解不。此意問言我豈違背昔願。豈不 如本誓願已酬滿耶。時憍陳那極懷恥愧 合掌恭敬亦三答已解。此意答言實知世尊 不違昔願如本誓願皆已酬滿。我本愚癡 作斯極惡。唯願哀愍赦我重罪。是故為滿 本願佛三問之。有說。世尊顯己說法有善 巧力故三問之。謂此意言我於三無數劫。 修無量百千難行苦行。所證得法由巧說故 令彼須臾即得悟解是故三問。有說。世尊 令餘四人聞生勇勵速入見道故三問之。 有說。世尊欲顯善說法中師及弟子。於所 證法審諦真實離增上慢。不同外道於未 得法。起增上慢謂為已得。是以三問。問佛 初轉法輪時有八萬諸天亦同見法。何故但 說為憍陳那等五人轉法輪耶。答此中但 說正所為者。諸天因五人故得聞非正所 為是以不說。有說。人先見法故偏說之。有 說。人是現見天非現見。有說。佛與人趣身 相威儀所作悉同天則不爾。有說。若於是 處名為法滅即於是處名轉法輪。謂雖天 中有證甘露若人中無便名法滅。是故但 說為人轉法輪。有說。人中佛弟子有四眾 差別天中不爾。有說。佛轉法輪以人為 證不以天證。有說。人中有能轉者及所為 者是以說之。天中唯有所為無能轉者是 故不說。有說。人中能得種種殊勝功德。天 中不爾。是故但說為人轉法輪。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 182 539 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 182 LUẬN VỀ BẤT HOÀN (Phần 9) Thế nào là Pháp luân? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn phân biệt nghĩa lý trong kinh. Như trong kinh nói: “Đức Thế Tôn chuyển Pháp lua ân, các hàng Sa-môn, Bà-la-môn, trời-ma-Phạm còn lại ở thế gian đều không có ai có năng lực như pháp mà Chuyển.” Trong kinh tuy nói ra điều này mà không phân biệt, thế nào là Pháp luân, đến đâu thì nên gọi là chuyển Pháp luân? Kinh là nơi nương tựa căn bản của luận này, điều gì trong kinh không giải thích, thì nay cần phải giải thích, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Thế nào là Pháp luân? Đáp: Tám chi Thánh đạ o. Nếu bao gồm Tương ưng-Tùy chuyển thì tánh thuộc năm Uẩn. Đó là tự tánh của Pháp luân, là Ngã, là vật, là tướng, là tánh, là bổn tánh. Đã nói về tự tánh, nay sẽ nói đến nguyên cớ. Hỏi: Vì sao gọi là Pháp luân? Đáp: Luân này là do pháp mà thành, lấy pháp làm tự tánh, cho nên gọi là Pháp luân. Như vòng va øng…của thế gian do vàng…mà làm thành, lấy vàng…làm tánh, gọi là vòng vàng…; ở đây cũng như vậy. Có người nói: Luân này có thể lựa chọn đến cuối cùng lựa chọn, có thể giác ngộ đến cuối cùng giá c ngộ, Hiện quán-tác chứng đối với tánh của các pháp, cho nên gọi là Pháp luân. Có người nói: Luân này có thể thanh tịnh Pháp nhãn của Thánh tuệ, cho nên gọi là Pháp luân. Có người nói: Luân này có thể sửa trị pháp luân sai trái, cho nên gọi là Pháp luân; pháp luân sai trái, đó là luân thuộc tám chi Tà do Lục Sư như Bố-lạt noa…đã chuyển. 540 BỘ TỲ ĐÀM 6 Hỏi: Vì sao gọi là Luân, Luân là nghĩa gì? Đáp: Nghĩa về chuyển động không dừng là nghĩa của Luân, nghĩa về rời bỏ nơi này hướng đến nơi kia là nghĩa của Luân, nghĩa về có năng lực làm cho kẻ địch phải khuất phục là nghĩa của Luân. Như trong kinh Đại Tứ Thập Pha ùp Môn nói: “Có hai mươi phẩm thiện, hai mươi phẩm bất thiện, đây gọi là Phạm luân…” Hỏi: Hai mươi phẩm thiện thì có thể như vậy, hai mươi phẩm bất thiện vì sao gọi là Phạm luân? Đáp: Ý của Đức Phật không nói pháp ấy là Phạm luân, chỉ nói về Luân có Nhẫn-Trí đối với pháp thuộc phẩm thiện-bất thiện gọi là Phạm luân. Hỏi: Pháp này vì sao gọi là Phạm? Đáp: Bởi vì rất vắng lặng, xa rời tai họa bất ngờ, không có tội lỗi, không làm não hại, cho nên gọi là Phạm. Hỏi: Vì sao gọi là Phạm luân? Đáp: Bởi vì ở cõi Phạm Thế là nơi đầu tiên có thể đạt được và có đủ Thánh đạo, cho nên gọi là Phạm luân. Tĩnh lự thứ hai-thứ ba không phải là nơi đầu tiên đạt được, cũng không có đủ Thánh đạo. Tĩnh lự thứ tư chỉ là thân Phật đầu tiên đạt được mà không có đủ Thánh đạo, cho nên không gọi là Luân. Chỉ có cõi Phạm Thế là nơi đầu tiên có thể đạt được, và cũng đầy đủ Thánh đạo, cho nên gọi là Phạm luân. Có người nói: Bởi vì có thể đạt được trong sự nối tiếp nhau của người tu Phạm hạnh, cho nên gọi là Phạm luân. Có người nói: Bởi vì đối trị với phi phạm hạnh, cho nên gọi là Phạm luân. Có người nói: Bởi vì đối trị với phiền não phi phạm hạnh do Kiến mà đoạn của ba cõi, cho nên gọi là Phạm luân. Có người nói: Đây là nhờ Phạm Vương khuyến thỉnh mà chuyển, cho nên gọi là Phạm luân. Có người nói: Đức Phật là bậc Đại Phạm, pháp do Đức Phật đã tuyên thuyết-phân biệt-khai thị, cho nên gọi là Phạm luân. Có người nói: Pháp được tuyên thuyết bằng Phạm âm, cho nên gọi là Phạm luân. Có người nói: Chỉ có Thánh đạo cu ûa cõi Phạm Thế mới có năng lực đối trị với rất nhiều pháp không phải là Phạm hạnh. Rất nhiều pháp không phải là Phạm hạnh, đó là phiền não do Kiến-Tu mà đoạn của ba cõi, hoặc là phiền não bất thiện-v ô ký, hoặc là phiền não có dị thục- không có dị thục, hoặc là phiền não sinh ra hai quả-sinh ra một quả, SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 182 541 www.daitangkinh.org hoặc là phiền não tương ưng với không có Tàm-không có Quý, hoặc là phiền não không tương ưng với không c ó Tàm-không có Quý, hoặc là phiền não có sự-không có sự, hoặc là phiền não do Nhẫn mà đối trị-do Trí mà đối trị. Những phiền não nh ư vậy gọi là rất nhiều pháp không phải là Phạm hạnh. Có người nói: Bởi vì chỉ riêng c õi Phạm Thế có nhiều quả của Phạm hạnh, cho nên gọi là Phạm luân. Nhiều quả của Phạm hạnh, đó là bốn quả Sa-môn, ba Tĩnh lự trên chỉ có hai quả Sa-môn, Vô sắc chỉ có một quả Sa-môn, chỉ riêng trong cõi Phạm Thế có đủ bốn quả Sa-môn. Hoặc là chín quả Biến tri, ba Tĩnh lự trên chỉ có năm quả Biến tri, Vô sắc chỉ có hai quả Biến tri, chỉ riêng cõi Phạm Thế có đủ chín quả Biến tri. Hoặc là tám mươi chín quả Sa- môn, chỉ riêng cõi Phạm Thế có đủ chứ không phải là ở địa trên. Vì t hế cho nên Thánh đạo gọi là Phạm luân. Hỏi: Vì sao chỉ nói Kiến đạo gọi là Pháp luân chứ không phải là gì khác? Đáp: Trước đây nói nghĩa về chuyển động không dừng là nghĩa của Luân, Kiến đạo là đạo nha nh chóng, đạo không khởi tâm mong mỏi, là đạo tùy thuận nhất đối với sự chuyển động không dừng, cho nên chỉ có Kiến đạo gọi là Pháp luân. Có người nói: Trước đây nói nghĩa về rời bỏ nơi này hướng đến nơi kia là nghĩa của Luân, trong Kiến đạo rời bỏ Hiện quán về Khổ hướng đến Hiện quán về Tập, cho đến rời bỏ Hiện quán về Diệt hướng đến Hiện quán về Đạo, vì thế cho nên chỉ có Kiến đạo gọi là Pháp luân. Có người nói: Bởi vì bốn sự việc cho nên gọi là Luân: 1. Rời bỏ nơi này. 2. Hướng đến nơi kia. 3. Chưa hàng phục thì làm cho hàng phục. 4. Đã hàng phục thì giữ gìn che chở. Trong Kiến đạo cũng như vậy, rời bỏ nơi này là rời bỏ Hi ện quán về Khổ, hướng đến nơi kia là hướng đến Hiện quán về Tập, chưa hàng phục thì làm cho hàng phục tức là Hiện quán về Tập, đã hàng phục th ì giữ gìn che chở tức là Hiện quán về Khổ, cho đến Diệt-Đạo nói cũng như vậy, cho nên gọi là Pháp luân. Có người nói: Nghĩa về xoay tr òn là nghĩa của Luân, giống như bánh xe xoay tròn liên tục. Như vậy, Nhẫn-Trí trong Kiến đạo xoay tròn liên tục, nghĩa là sau Nhẫn thì Trí hiện rõ ở trước mắt, sau Trí thì Nhẫn hiện rõ ở trước mắt, phẩm Pháp-phẩm Loại xoay tròn liên tục cũng như 542 BỘ TỲ ĐÀM 6 vậy, cho nên gọi là Pháp luân. Có người nói: Nghĩa về trên-dưới là nghĩa của Luân, giống như bánh xe lúc phía trên-lúc phía dưới. Như vậy, Kiến đạo duyên với cảnh trên-cảnh dưới, nghĩa là duyên với cõi Dục rồi liền duyên với Hữu Đảnh, duyên với Hữu Đảnh rồi lại duyên với cõi Dục, đối trị trên-dưới nói cũng như vậy, cho nên gọi là Pháp luân. Có người nói: Kiến đạo giống như pháp của nan hoa-ổ trục-vành bánh xe, cho nên nói là Luân; giống như bánh xe thì ổ trục ở chính giữa, nan hoa dựa vào ổ trục dựng lên, vành bánh xe giữ lấy nan hoa. Như vậy, trong Kiến đạo thì Khổ-Tập nhẫn-trí như nan hoa, Diệt nhẫn-Diệt trí như ổ trục, Đạo nhẫn-Đạo trí như vành bánh xe, bởi vì tất cả duyên với Đạo. Có người nói: Khổ-Tập-Diệt nha ãn-trí như nan hoa, ba Đế như ổ trục, Đạo đế như vành xe. Hoặc có người nói: Nhẫn-Trí của ba Đế như nan hoa, Đạo nhẫn- Đạo trí như vành bánh xe, bốn Đế như ổ trục. Hoặc có người nói: Chánh kiến-Chánh tư duy-Chánh cần như nan hoa, Chánh ngữ-Chánh nghiệp-Chánh mạng như ổ trục, Chánh niệm- Chánh định như vành bánh xe. Hoặc có người nói: Chánh tư duy-Chánh cần-Chánh niệm-Chánh định như nan hoa, Chánh ngữ-Chánh nghiệp-Chánh mạng như ổ trục, Chánh kiến như vành bánh xe. Hoặc có người nói: Chỉ có Chánh định như vành bánh xe, còn lại nói như trước. Có người nói: Nghĩa về hàng phục bốn phương là nghĩa của Luân, như Chuyển Luân Vương vốn có vòng xe báu, hàng phục tất cả kẻ địch khắp bốn châu. Như vậy, hành giả dùng vòng xe Kiến đạo hàng phục tất cả phiền não khắp bốn Đế, cho nên gọi là Pháp luân. Có người nói: Phiền não do Kiến mà đoạn gọi là pháp luân sai trái, bởi vì có thể khởi lên tám chi Ta ø; Kiến đạo là đối trị gần của nó, cho nên gọi là Pháp luân. Tôn giả Diệu Âm nói rằng: “Tám chi Đạo thuộc Học lần lượt chuyển đổi hòa hợp, cùng l úc chuyển đến trong sự nối tiếp nhau của người khác, cho nên gọi là Pháp luân. Tám chi Đạo này thù thắng nhất ở phần vị Kiến đạo, vì thế cho nên chỉ riêng Kiến đạo gọi là Pháp luân.” Hỏi: Đến đâu thì nên gọi là chuyển Pháp luân? Đáp: Nếu lúc Tỳ kheo A-nhã-đa Kiều-trận-na thấy pháp. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 182 543 www.daitangkinh.org Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này? Đáp: Trước đây tuy hiể n bày về tự tánh của Pháp luân mà chưa hiển bày về tác dụng, nay muốn hiển bày về điều đó, cho nên soạn ra phần luận này. Có người nói: Bởi vì ngăn chặn Bộ phái Ma ha Tăng-kỳ nói rằng Pháp luân lấy lời nói làm tự tánh. Họ đưa ra cách nói này: Tất cả lời nói của Đức Phật đều là Pháp luân, nế u cho rằng Thánh đạo là Pháp luân thì ở dưới cội cây Bồ-đề đã chuyển Pháp luân, tại sao đi đến nước Bà- la-ni-tư mới gọi là chuyển Pháp luân? Bởi vì ngăn chặn ý chấp ấy để hiển bày Thể của Pháp luân chỉ là Thánh đạo, không phải là tánh thuộc lời nói của Đức Phật. Nếu như là lời nói của Đức Phật, thì lẽ ra bên cội cây Bồ-đề thuyết pháp cho người buôn đã gọi là chuyển Pháp luân, tại sao về sau đến nước Bà-la-ni-tư mới nói là chuyển Pháp luân? Vì thế biết rằng lúc bấy giờ khiến cho tr ong thân người khác có Thánh đạo khởi lên thì mới gọi là chuyển Pháp lua ân. Bởi vì Pháp luân lấy Thánh đạo làm Thể, cho nên nói đến lúc Tỳ kheo A-nhã-đa Kiều-trận-na thấy pháp, gọi là Đức Phật chuyển Pháp luân. Hỏi: Nếu như vậy thì Đức Phậ t ở dưới cội cây Bồ-đề đã chuyển Pháp luân, tại sao ở nước Bà-la-n i-tư mới nói là lần đầu chuyển Pháp luân? Đáp: Chuyển Pháp luân có hai loại: 1. Chuyển trong sự nối tiếp nhau của mình. 2. Làm cho chuyển trong sự nối tiếp nhau của người khác. Dưới cội cây Bồ-đề là tự mình chuyển Pháp luân, ở nước Bà-la- ni-tư là làm cho người khác chuyển Pháp luân. Bởi vì Đức Phật lấy sự lợi ích cho người làm sự nghiệp chính, cho nên dựa vào làm cho người khác chuyển, nói là lần đầu chuyển Pháp luân. Có người nói: Chuyển Pháp luân có hai loại: 1. Giống nhau. 2. Không giống nhau. Dưới cội cây Bồ-đề đã chuyển Ph áp luân là pháp tự lợi mình giống với Nhị thừa, ở nước Bà-la-ni- tư đã chuyển Pháp luân là pháp lợi ích cho người không giống với Nhị thừa, bởi vì dựa vào không giống nhau mà nói, cho nên nói là ở nước ấy lần đầu chuyển Pháp luân. Có người nói: Trái lại với điều này gọi là giống nhau-không giống nhau, dựa vào giống nhau mà nói là chuyển; như giống nhau-không giống nhau, đã từng-chưa từng cũng như vậy. Có người nói: Nếu vào lúc chuyển hơn hẳn Độc giác thì mới nói 544 BỘ TỲ ĐÀM 6 là lần đầu chuyển, nghĩa là bởi vì các vị Độc giác cũng có thể tự mình chuyển, nhưng không làm cho người khác chuyển, chỉ có Đức Phật cũng có thể làm cho người khác chuyển. Có người nói: Nếu vào lúc chuyển có người làm chứng thì mới nói là lần đầu chuyển, nghĩa là năm Tỳ kheo chứng lý Vô ngã thì mới là người làm chứng cho Đức Phật chuyển Pháp luân. Có người nói: Ở nước Bà-la-ni-tư đã chuyển Pháp luân, là quả của công lao ngày xưa Đức Phật đã tu khổ hạnh trải qua ba Vô số kiếp, cho nên nói là lần đầu chuyển. Nguyên cớ t hế nào? Bởi vì nếu Đức Phật muốn nhập Niết-bàn thì ở nơi Đức Phậ t quá khứ đã có thể tùy ý, sở dĩ trải qua ba Vô số kiếp tinh tiến ch ịu khó tu tập trăm ngàn khổ hạnh, cầu sự thiện xảo đối với Uẩn-Xứ- Giới là đều làm lợi ích cho hữu tình đã được hóa độ, luôn luôn dấy lên nguyện này: Nguyện cho tôi chứng được Vô thượng Bồ-đề, sẽ mở cánh cửa Cam lộ cho hữu tình, khiến cho đều thoát khỏi ngục tù của sinh tử. Vì thế, nay đã chuyển chính là quả của sự khổ hạnh ngày xưa. Có người nói: Nếu có thể hàng phục được phiền não trong thân người khác, thì mới gọi là tác dụng đích thực của Pháp luân. Như vòng báu của Luân Vương hàng phục nơi khác, không phải là chỉ hàng phục nơi cung điện cư trú của mình; Pha ùp luân của Như Lai cũng như vậy. Dựa vào điều này cho nên nói là Đức Phật lần đầu chuyển Pháp luân. Hỏi: Nếu lúc trong thân ấy sinh khởi Thánh đạo thì ngay lúc ấy gọi là chuyển Pháp luân, tại sao nói là Đức Phật chuyển Pháp luân? Đáp: Dựa vào nhân có thể chuyển, cho nên đưa ra cách nói này. Nghĩa là trong thân ấy vốn có Thánh đạo, nếu Đức Thế Tôn không dùng ngôn thuyết tự mình làm cho chuyển, thì Thánh đạo ấy không biết do đâu có thể sinh khởi. Thánh đạo ấy sinh khởi đều nhờ vào lực của Đức Phật, cho nên nói là Đức Phật lần đầu chuyển Pháp luân. Như Chuyển Luân Vương chưa lấy vòng báu đặt vào tay tr ái để chuyển sang tay phải, thì các Thiên thần cũng không có thể chuyển, phải là Luân Vương chuyển rồi thì họ mới có thể chuyển được, cho nên nói là Luân Vương có thể chuyển chứ không phải là các Thiên thần; ở đây cũng như vậy. Có người nói: Dựa vào duyên mở bày giác ngộ, cho nên đưa ra cách nói này. Nghĩa là trong thân ấy tuy có Thánh đạo, thậm chí nếu chưa dùng ánh sáng của l ời Đức Phật dạy mà chiếu rọi tiếp xúc, thì Thánh đạo ấy không biết do đâu có t hể sinh khởi. Thánh đạo ấy sinh khởi đều nhờ vào lực của Đức Phật, cho nên nói là Đức Phật lần đầu chuyển Pháp luân. Ví như trong hồ có nhiều loại hoa sen như Ốt-bát- SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 182 545 www.daitangkinh.org la…, thậm chí nếu chưa dùng ánh sáng mặt trời mà chiếu rọi tiếp xúc, thì không nở rộ-không bung tròn-không tỏa hương, lúc ánh sáng mặt trời chiếu rọi thì nở rộ-bung tròn-tỏa hương; ở đây cũng như vậy. Có người nói: Dựa vào duyên loại bỏ chướng ngại, cho nên đưa ra cách nói này. Nghĩa là trong thân ấy tuy có Thánh đạo, nếu Đức Phật không dùng Danh-Cú-Văn thân khéo léo tài tình chưa hề có để loại bỏ chướng ngại vốn có trong thân ấy, thì Thánh đạo ấy không biết do đâu có thể sinh khởi. Thánh đạo ấy sinh khởi là nhờ Đức Phật loại bỏ chướng ngại, cho nên nói là Đức Phật lần đầu chuyển Pháp luân. Có người nói: Dựa vào duyên cung cấp giúp đỡ, cho nên đưa ra cách nói này. Nghĩa là trong thân ấy tuy có Thánh đạo, nếu Đức Phật không dùng làn nước Chánh pháp để tưới mát, thì mầm non Thánh đạo không biết do đâu có thể sinh khởi. Mầm non Thánh đạo ấy sinh khởi là nhờ vào sự cung cấp giúp đỡ của Đức Phật, cho nên nói là Đức Phật lần đầu chuyển Pháp luân. Như hạt giống trong kho bởi vì thiếu đi nhiều duyên, cho nên mầm non sẽ không sinh ra, nên biết mầm non sinh ra là do lực của duyên cung cấp giúp đỡ; ở đây cũng như vậy. Có người nói: Dựa vào duyên chỉ bày dẫn dắt, cho nên đưa ra cách nói này. Nghĩa là trong thân ấy t uy có Thánh đạo, nếu không có ngôn thuyết của Như Lai chỉ bày dẫn dắt, thì Thánh đạo trong thân ấy không chuyển, Đức Phật mở bày rõ ràng cho nên Thánh đạo ấy chuyển, cho nên nói là Đức Phật lần đầu chuyển Pháp luân. Như trong ngôi nhà tối tăm dùng đèn đuốc chiếu rọi rõ ràng thì nhìn thấy các loại vật dụng có thể lấy ra; ở đây cũng như vậy. Có người nói: Nhờ hai nhân-hai duyên mà sinh khởi Chánh kiến: 1. Nghe pháp âm của người khác. 2. Tác ý như lý. Do nghe pháp âm của người khác, cho nên nói là Đức Phật lần đầu chuyển; do tác ý như lý cho nên nói là người ấy tự chuyển. Có người nói: Nếu người đầy đủ bốn pháp thì gọi là có nhiều việc làm, đó là thân cận bậc Thiện sĩ, lắng nghe Chánh pháp, tác ý như lý, pháp tùy pháp hành. Do thân cận bậc Thiện sĩ, lắng nghe Chánh pháp, cho nên nói là Đức Phật chuyển Pháp luân; do tác ý như lý, pháp tùy pháp hành, cho nên nói là người ấy tự chuyển Pháp luân. Hỏi: Kiều-trận-na trú trong Khổ pháp trí nhẫn thì nên nói là Đức Phật lần đầu chuyển Pháp luân, vì sao cho đến lúc Đạo loại trí mới gọi là chuyển? Đáp: Lúc Khổ pháp trí nhẫn t uy có thể gọi là chuyển, mà chưa 546 BỘ TỲ ĐÀM 6 đến cuối cùng; lúc Đạo loại trí thì đối với chuyển mới đến cuối cùng. Có người nói: Lúc Đạo loại tr í bởi vì có đủ ba nhân duyên, cho nên gọi là chuyển: 1. Rời bỏ đạo đã từng có. 2. Đạt được đạo chưa từng có. 3. Chứng cùng một Vị đoạn kiết. Có người nói: Lúc Đạo loại trí bởi vì có đủ năm nhân duyên, cho nên gọi là chuyển: 1. Rời bỏ đạo đã từng có. 2. Đạt được đạo chưa từng có. 3. Chứng cùng một Vị đoạn kiết. 4. Lập tức đạt được tám trí. 5. Cùng lúc tu mười sáu hành tướng. Rời bỏ đạo đã từng có, là rời bỏ Kiến đạo. Đạt được đạo chưa từng có, là đạt được Tu đạo. Chứng cù ng một Vị đoạn kiết , là Tập chứng đoạn do Kiến mà đoạn của ba cõi. Lập t ức đạt được tám trí, là lập tức đạt được bốn Pháp trí và bốn Loại trí. Cùng lúc tu mười sáu hành tướng, đó là cùng lúc tu bốn hành tướng về Khổ, cho đến bốn hành tướng về Đạo. Có người nói: Lúc Đạo loại trí bởi vì đã đoạn tất cả phiền não do Kiến mà đoạn, không còn quan hệ của phiền não; phiền não do Nhẫn đã sửa trị, vĩnh viễn hại đến Kiến thuộc tánh Tà, cho nên vào lúc bấy giờ mới nói là chuyển. Có người nói: Ở đây đã nói đến c huyển, là dựa vào Bổ-đặc-già- la đến quả vị có thể nói ra-có t hể tính đếm, pháp có tướng có thể nói được-có thể thi thiết được mà nói, không phải là đối với thời gian trước không gọi là chuyển. Có người nói: Ở đây đã nói đến chuyển, là dựa theo nơi chốn có thể mạng chung rồi thọ sinh mà nói, không phải là đối với thời gian trước không gọi là chuyển. Như trong kinh nói: “Lúc Đức Phật nói về pháp môn này, Tỳ kheo Kiều-trận-na và tám vạn chư Thiên, viễn trần-ly cấu, ở trong các pháp sinh ra pháp nhãn thanh tịnh.” Trong này, viễn trần là xa rời tùy miên, ly cấu là lìa bỏ triền cấu, ở trong các pháp là ở trong bốn Thánh đế, sinh ra pháp nhãn thanh tịnh là sinh ra pháp nhãn thanh tịnh thấy rõ bốn Thánh đế. Hỏi: Lúc Đức Phật nói về pha ùp môn này, thì năm Tỳ kheo đều thấy pháp, vì sao chỉ nói đến Kiều-trận-na? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 182 547 www.daitangkinh.org Đáp: Bởi vì Kiều-trận-na thấy pháp đầu tiên, nghĩa là Kiều-trận- na đã tiến vào Kiến đạo, bốn người còn lại hãy còn ở trong phần vị của căn thiện thuận phần quyết trạch. Có người nói: Bởi vì Đức T hế Tôn có nguyện từ đời trước (túc nguyện) đối với vị ấy, cho nên lấy vị ấy làm đầu tiên mà chuyển Pháp luân, vì thế cho nên chỉ nói đến vị a áy. Vì vậy, Đức Phật bảo với Kiều- trận-na rằng ông đã hiểu chưa? Vị ấy thưa rằng đã hiểu. Lần thứ hai-thứ ba cũng lại như vậy, bởi vì điều này cho nên gọi vị ấy là A-nhã-đa. Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn ba lần hỏi vị ấy? Đáp: Lúc ấy Kiều-trận-na thấy Thánh đế rồi, Đức Thế Tôn liền khởi lên trí của đời trước-đời sau (tiền-hậu tế trí) để quán sát như vậy: Vì Kiều-trận-na đã phải nhận ch ịu nhiều Uẩn-Giới-Xứ nối tiếp nhau của nẽo ác, hay vì mình đã trải qua nhiều Sát-na, Lạp-phược, Mâu-hô- lật-đa trong ba Vô số kiếp quá khứ? Qu án sát rồi liền thấy Kiều-trận- na đã phải nhận chịu nhiều Uẩn- Giới-Xứ nối tiếp nhau của địa ngục vô gián, chứ không phải là mình đã tr ải qua nhiều Sát-na, Lạp-phược, Mâu-hô-lật-đa trong ba Vô số kiếp quá khứ. Thấy rồi liền dấy lên nghĩ rằng: Mình ở trong ba Vô số kiếp tu vô lượng trăm ngàn khổ hạnh khó làm, nay đạt được quả vị Vô t hượng Chánh đẳng Bồ-đề, chỉ khiến cho Kiều-trận-na trú trong pháp không si nh khởi đối với bấy nhiêu Uẩn- Giới-Xứ nối tiếp nhau của địa ngục vô gián, giả sử mình liền nhập Niết-bàn thì đã làm thỏa mãn kết quả đối với công lao vất vả của mình, huống là làm những việc khác hay sao? Vì vậy ba lần hỏi vị ấy. Lại nữa, Đức Phật thấy từ vô thỉ cho đến ngày nay, Kiều-trận-na khởi lên phiền não ràng buộc tất cả hữu tình, tất cả hữu tình cũng khởi lên phiền não ràng buộc Kiều-trận-na. Lại thấy Kiều-trận-na thọ thai ở trong sự nối tiếp nhau của tất cả hữu tình, tất cả hữu tình thọ thai ở trong sự nối tiếp nhau của Kiều-trận-na. Trải qua tổn hại lẫn nhau, trải qua ăn nuốt lẫn nhau, nói cũng như vậy. Như thấy đời trước, thấy đời sau cũng như vậy. Đức Phật thấy điều này r ồi, liền dấy lên nghĩ rằng: Mình chỉ khiến cho một người như Kiều-trận-na lìa xa những sự việc như vậy đối với tất cả hữu tình, thì đối với khổ hạnh mà mình đã tu trong ba Vô số kiếp đã làm thỏa mãn kết quả, huố ng là còn lợi ích cho vô lượng hữu tình hay sao? Trong lòng rất vui mừng, vì vậy ba lần hỏi vị ấy. Có người nói: Bởi vì ngăn cha ën sự phỉ báng, cho nên ba lần hỏi vị ấy. Nghĩa là lúc Đức Phật còn làm Bồ-tát, chán ngán cảnh già-bệnh- chết, rời khỏi thành Kiếp-tỷ-la- phiệt-suất-đổ, cầu trí tuệ Vô thượng, lúc ấy vua Tịnh Phạn sai năm người họ Thích đi theo để cung cấp hầu 548 BỘ TỲ ĐÀM 6 hạ, hai người là bà con bên mẹ, ba người là bà con bên cha. Hai người bà con bên mẹ thì chấp là hưởng thụ dục lạc đạt được thanh tịnh, ba người bà con bên cha thì chấp là khổ hạnh đạt được thanh tịnh. Lúc ấy Bồ-tát đang tu khổ hạnh, tâm c ủa hai người bà con bên mẹ không thể nào chịu nổi, liền bỏ mà đi. Bồ-ta ùt biết đằng sau khổ hạnh không phải là đạo, liền rời bỏ mà nhận lấy cơm canh-cháo sữa, lấy dầu xoa thân, luyện tập công hạnh Trung đạo (xử trung), ba người bà con bên cha đều nói là Bồ-tát cuồng loạn thất chí, cũng lại bỏ mà đi. Ngay sau đó có hai cô gái, đó là Nan-đà và Nan-đà-bạt-la, cùng đến cung cấp hầu hạ. Lúc bấy giờ Bồ-tát liền dấy lên nghĩ rằng: Nếu năm người ấy không rời bỏ mình thì lẽ nào để cho ha i cô gái đến gần gũi với nhau? Bồ-tát nhận ăn cháo sữa mười sáu lần rồi tha ân lực tăng mạnh lên, từ bên người cắt cỏ tốt bụng nhận lấy bó cỏ rồi đi đến tán cây Bồ-đề, tự trải cỏ làm chỗ ngồi mà ngồi xếp bằng tròn, phát ra lời thề như vậy: Nay tôi sẽ không rời khỏi chỗ ngồi này, vì làm cho quân đội của ma phải hàng phục, vĩnh viễn đoạn trừ các phiền não, chứng được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề! Phát ra lời thề này rồi lập tức phá tan ba mươi sáu Câu-chi quân đội của ác ma, trong ba mươi bốn tâm đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, dùng Phật nhãn quán xét kha ép tất cả thế giới, người nào nên nghe Chánh pháp của mình đầu tiên thì mình sẽ nói cho người ấy. Quán xét rồi liền biết Ốt-đạt-l ạc-ca-hạt-la-ma-tử nên nghe pháp của mình đầu tiên. Lúc ấy có Thiên thần liền thưa với Đức Phật rằng: Ốt- đạt-lạc-ca-hạt-la-ma-tử đã qua đời hôm qua. Có người nói: Bảy ngày. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn cũng khởi lên trí kiến biết là vị ấy đã qua đời, liền thương xót than rằng: Người ấy mất đi lợi ích to lớn, nếu người ấy nghe pháp của mình nói ra thì sẽ có được hiểu biết đúng đắn! Đức Thế Tôn tiếp tục quán xét trừ người ấy ra, người nào nên nghe pháp của mình đầu tiên thì mình sẽ nói cho người ấy. Quán xét rồi liền biết Át-la-đồ-ca-la-ma nên nghe pháp của mình đầu tiên. Thiên thần lại thưa rằng: Át-la-đồ-ca-la-ma qua đời đến nay đã bảy ngày. Có người nói: Hôm qua. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn cũng khởi lên trí kiến biết là vị ấy đã qua đời mà thương xót than rằng: Người ấy mất đi lợi ích to lớn, nếu người ấy nghe pháp của mình nói ra thì sẽ có được hiểu biết đúng đắn! Hỏi: Lúc Đức Phật mới đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, vì sao không nói pháp cho hai người ấy, mà để họ qua đời không được nghe pháp, lẽ nào không phải là lỡ mất thời cơ giáo hóa hay sao? SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 182 549 www.daitangkinh.org Đáp: Có người nói: Lúc Đức Thế Tôn mới thành Phật, chưa khởi tâm nói pháp cho người khác, lại chưa dùng Đại Bi duyên với cảnh giới của hữu tình, cho nên không có lỗi để lỡ mất thời cơ hóa đạo. Tôn giả Diệu Âm nói rằng: “Lúc Đức Phật mới đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, bởi vì quý trọng Chánh pháp cho nên nhiều ngày suy nghĩ, hãy còn không kịp khởi tâm ăn uống, huống là có thể khởi tâm nói pháp cho người khác sao?” Lại có người nói: Lúc mới thành Phật, chưa kiến lập về ba tụ hữu tình sai biệt, bởi vì chưa biết loại nào thích hợp để hóa đạo và loại nào không phải là thích hợp, cho nên không có sai sót. Có người nói: Lúc ấy căn thiện của hai người chưa chín muồi, chưa có thể nghe pháp. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Đức Phật thành đạo rồi, lúc ấy người thứ nhất nếu trải qua năm mươi bảy ngày mà còn sống, thì sẽ có thể nghe pháp. Có người nói: Năm mươi sáu ngày. Có người nói: Bốn mươi chín ngày. Lúc ấy người thứ hai nếu trả i qua năm mươi mốt ngày mà còn sống, thì sẽ có thể nghe pháp. Có người nói: Năm mươi ngày. Có người nói: Bốn mươi ba ngày. Vì vậy không phải là Đức Phật để lỡ mất thời cơ giáo hóa. Đức Thế Tôn có lúc giữ lại thọ mạng hiện hành của mình chờ đợi người được hóa độ, như chờ đợi Tô-bạt-đà-la… Nếu có thể giữ lại thọ mạng hiện hành của người khác, thì điều này không hề có. Hỏi: Vì sao Đức Phật thương xót than thở? Đáp: Trước đó Đức Phật lấy hai người ấy làm thầy luyện tập về Định thế tục, không đạt được pháp cha ân thật, nay Đức Phật tự mình chứng được pháp Vô thượng chân thật, muốn giúp cho họ nhận biết về pháp ấy, và muốn dùng pháp mà mình đa õ chứng làm lợi ích cho họ, nhưng họ đã qua đời, vì vậy cho nên thương xót than thở. Hỏi: Trước đây nói nếu người ấy nghe pháp của mình nói ra thì sẽ có được hiểu biết đúng đắn, là dựa vào phần vị nào mà nói có được hiểu biết đúng đắn? Đáp: có người nói: Đây là nói đến phần vị tiến vào Chánh tánh ly sinh. Có người nói: Phần vị trú trong căn thiện thuận phần quyết trạch. Có người nói: Phần vị khởi lên căn thiện thuận phần quyết trạch. Nói như vậy thì cho đến khiến họ trừ bỏ tăng thượng mạn về Nhất 550 BỘ TỲ ĐÀM 6 thiết trí, biết là chỉ riêng Đức Phật Thế Tôn có đủ Nhất thiết trí, lúc bấy giờ gọi là có được hiểu biết đúng đắn. Đức Thế Tôn tiếp tục quán xét trừ hai người ấy ra, người nào là nên nghe pháp của mình đầu tiên thì mình sẽ nói cho người ấy. Quán xét rồi liền biết năm người như Kiều-trận-na nên nghe pháp của mình đầu tiên, liền dấy lên nghĩ rằng: Họ đều là bà con thân thuộc của cha mẹ mình, trước đây cung kính cung dưỡng cho mình, nay muốn đền đáp thì biết họ ở nơi nào? Thiên thần liền rằng: Nay ở tại vườn Nai của người Tiên thuộc nước Bà-la-ni-tư. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn cũng khởi lên trí kiến biết là họ ở nơi ấy, liền rời cội cây Bồ-đề đi bộ mà đến nước Bà-la-ni-tư. Hỏi: Đức Phật vốn có Thần túc thù thắng nhất, vì sao đi bộ đến nơi ấy? Đáp: Bởi vì cung kính tôn trọng đối với pháp, cho nên không dùng Thần túc. Nhưng vào lúc đi thì ch ân luôn luôn cách mặt đất khoảng chừng bốn ngón tay, mỗi một dấu chân đều có vòng tròn tốt lành đáng yêu, tướng Thiên bức luân (tướng tốt thứ 2) rõ ràng như ban ngày, hình bóng của thân đã tiếp xúc cho đến bảy ngày có thể khiến cho hữu tình nào đến nơi ấy thì các căn cảm được yên lành. Từ từ đi đến nước Bà-la-ni-tư. Lúc bấy giờ năm người bỗng nhiên từ xa trông thấy Đức Phật, liền cùng nhau đưa ra quy ước: Kiều-đáp- ma kia lười nhác ngạo mạn-mong cầu nhiều, cuồng loạn thất chí, trống rỗng chứ không đạt được gì, bây giờ lại đến đây muốn tự mình kêu gọi dụ dỗ, mỗi người chúng ta không nên chà o hỏi cung kính-trò chuyện với ông ta, chỉ trải một chỗ ngồi bình thường để mặc ông ta có ngồi hay không? Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn từ từ đi đến gần, do uy đức của Ngài thúc bách, khiến cho họ rời bỏ quy ước ban đầu, bất giác cùng lúc từ chỗ ngồi mà đứng dậy đi nhanh đến trước đón chào, chắp tay thưa hỏi cung kính. Trong đó có người trải chỗ ngồi sạch sẽ khác, có người đón lấy y của Đức Phật, có người đón lấy bình bát của Đức Phật, có người mang nước đến, có người rửa chân cho Đức Phật, cùng thưa với Đức Phật rằng: Xin mời đến chỗ ngồi! Đức Ph ật liền dấy lên nghĩ rằng: Người ngu si như vậy, tự mình đưa ra quy ước, trong chốc lát lại phá bỏ. Lúc ấy Đức Phật đến chỗ ngồi thư thái mà ngồi, uy quang tuyệt diệu như núi Diệu Cao. Lúc này, na êm người tuy là cung kính mà hãy còn gọi Đức Phật là Tỳ kheo (cụ thọ), hoặc lại xưng Đức Phật là Kiều- đáp-ma. Đức Phật liền nói cho biết rằng: Các ông đừng gọi Như Lai là SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 182 551 www.daitangkinh.org Tỳ kheo, cũng đừng xưng đến họ tên, nếu cố ý như vậy thì sẽ suốt đời mang lấy lợi ích vô nghĩa, nhận chịu các khổ đau khốc liệt. Nguyên cớ thế nào? Bởi và Như Lai đã chứng Vô thượng Bồ-đề, an ổn trong Niết- bàn, vượt qua sinh-già-bệnh-chết, giác ngộ về tánh của tất cả các pháp, cứu giúp cho tất cả, là bậc tôn quý trong ba cõi, thành tựu vô biên pháp công đức. Lúc ấy năm người nói: Tỳ kheo vẫn là Kiều-đáp-ma ngày xưa, thân hình-việc làm không khác nga øy xưa, lười nhác ngạo mạn-mong cầu nhiều, cuồng loạn thất chí, rời bỏ khổ hạnh, nhận lấy đồ ăn thức uống ngon lành, lấy dầu xoa thân, da dẻ hồng hào trơn láng, tuy biết Tỳ kheo tự nói mình chứng được Vô thượng Bồ-đề, an ổn trong Niết-bàn, nhưng ai sẽ tin mà không cho phép chúng tôi xưng đến họ tên? Đức Thế Tôn bảo rằng: Nay các ông nhìn diện mạo-uy quang-các căn và cử chỉ của Ta lẽ nào cùng với ngày xưa giống nhau hay sao? Năm người trả lời rằng: Chúng tôi nhìn Tỳ kheo thật sự khác với ngày xưa. Đức Phật nói rằng: Nếu Ta không chứng được pháp thì lẽ nào có được như vậy, các ông nên lấy điều na øy để chứng thực biết rằng Ta chứng được Vô thượng Bồ-đề, vì sao vẫn đối với Như Lai mà sinh lòng không tin tưởng? Ngay sau đó Đức Thế Tôn từ từ giáo hóa dạy dỗ để điều phục họ. Vào thời gian buổi sáng nói pháp-khuyên nhủ-giảng dạy cho hai người, để ba người còn lại đi vào thôn làng khất thực, họ đã khất thực đầy đủ cho sáu người. Vào th ời gian buổi chiều nói pháp-khuyên nhủ-giảng dạy cho ba người, để hai người còn lại đi vào thôn làng khất thực, họ đã khất thực đa ày đủ cho năm người, bởi vì tánh của Đức Thế Tôn lìa bỏ ăn phi thời. Giáo hóa trải qua ba tháng như vậy. Có người nói: Bốn tháng. Khiến cho căn thiện của năm người ấy chín muồi rồi, vào ngày mồng tám thuộc nửa sáng của tháng Ca-lật-để-ca, Như Lai chuyển Pháp luân Chánh giáo (chánh pháp luân) cho họ. Lúc ấy Kiều-trận-na thấy pháp đầu tiên, Đức Phật đã ba lần hỏi ông đã hiểu chưa? Đây là ý hỏi rằng: Nay ông nhìn Ta là lười nhác ngạo mạn-mong cầu nhiều, cuồng loạn thất chí, không chứng được Vô thượng Bồ-đề, an ổn trong Niết-bàn, mà lừa dối ông chăng? Cho nên ba lần hỏi có hiểu ha y không? Vị ấy vẫn ba lần trả lời rằng đã hiểu. Đây là ý trả lời rằng: Nay con nhìn Đức Phật thật sự không phải là lườ i nhác ngạo mạn-mong cầu nhiều, cũng không phải là cuồng loạn thất chí, lại thật sự chứng được Vô thượng Bồ- đề, an ổn trong Niết-bàn mà không phải là lừa dối con, nay con là người làm chứng cho Đức Phật. Cho nên ba lần trả lời là đã hiểu. Vì vậy để 552 BỘ TỲ ĐÀM 6 ngăn chặn sự phỉ báng, mà Đức Phật ba lần hỏi vị ấy. Có người nói: Bởi vì hiển bày về nguyện xưa (bổn nguyện) đã thỏa mãn, cho nên ba lần hỏi. Sự việc ấy như thế nào? Từng nghe thời quá khứ, trong kiếp Hiền này có vị vua tên gọi Yết-lợi, lúc ấy có vị người Tiên hiệu là Nhẫn Nhục, ở trong một khu rừng chịu khó tu khổ hạnh. Lúc ấy vua Yết-lợi trừ ra những người đàn ông, cùng với quyến thuộc trong cung làm các kỹ nhạc, dạo chơi trong khu rừng, thỏa ý vui chơi trải qua thời gian dài mệt mỏi chán ngán cho nên ngủ say. Những mỹ nữ trong cung bởi vì hoa trái cho nên đi đến mọi nơi trong khu rừng, từ xa trông thấy người Tiên ở nơi cư trú của mình đang ngồi trang nghiêm suy nghĩ, liền cùng nhau chạy đến tập trung nơi ấy, đến rồi cúi đầu lễ lạy mà ngồi vây quanh. Người Tiên liền vì họ mà nói về lỗi lầm của dục, đó là các dục đều là pháp bất tịnh xấu xa, là pháp đáng quở trách, là pháp đáng chán ngán lo sợ, người nào có trí mà lại thường gần gũi pháp ấy, các chị đều nên sinh lòng chán ngán rời bỏ! Nhà vua từ giấc ngủ tỉnh dậy, không thấy các mỹ nữ liền dấy lên nghĩ rằng: Mong là không có người nào dụ dỗ cướp đi chăng? Liền rút gươm nhọn đi khắp nơi tìm kiếm, mới thấy các mỹ nữ vây quanh mà ngồi ở bên cạnh người Tiên, trong lòng vô cùng giận dữ, là Đại quỷ nào dụ dỗ các mỹ nữ của Ta? Lập tức đi đến trước mặt hỏi rằng: Nhà ngươi là ai? Trả lời rằng: Tôi là người Tiên. Lại hỏi: Ở đây làm chuyện gì? Trả lời rằng: Tu đạo Nhẫn nhục. Nhà vua dấy lên nghĩ rằng: Người này thấy Ta giận dữ cho nên liền nói là tôi tu Nhẫn nhục, nay Ta thử xem. Liền tiếp tục hỏi: Ông đạt được Định Phi tưởng phi phi tưởng chăng? Trả lời rằng: Không đạt được. Lần lượt vặn hỏi cho đến: Ông đạt được Tĩnh lự thứ nhất chăng? Trả lời rằng: Không đạt được. Nhà vua càng tức giận hơn nói rằng: Ông là người chưa lìa dục, tại sao tùy ý nhìn ngắm các mỹ nữ của Ta, còn nói tôi là người tu Nhẫn nhục, hãy duỗi một cánh tay thử xem có thể Nhẫn được hay không? Lúc bấy giờ người Tiên liền duỗi một cánh tay, nhà vua dùng gươm sắc chặt đứt, như chặt đứt ngó sen rơi ở trên mặt đất. Nhà vua lại vặn hỏi: Nhà ngươi là người nào? Trả lời rằng: Tôi là người tu Nhẫn nhục. Lúc ấy nhà vua lại khiến duỗi một cánh tay còn lại, lập tức tiếp tục chặt đứt, vặn hỏi như trước. Người Tiên cũng như trước trả lời rằng: Tôi là người tu Nhẫn nhục. Như vậy tiếp đến chặt đứt hai chân, lại cắt hai lỗ tai, còn cắt đứt SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 182 553 www.daitangkinh.org lỗ mũi, mỗi một lần vặn hỏi và trả lời đều như trước. Làm cho bảy phần thân thể của người Tiên rơi trên mặt đất, làm thành bảy vết thương rồi, tâm nhà vua liền dừng lại. Người Tiên nói rằng: Nay nhà vua vì sao tự mình sinh ra mệt mỏi chán ngán, giả sử chặt đứt tất cả thân thể của tôi nát vụn giống như hạt cải, thậm ch í là bụi nhỏ thì tôi cũng không sinh khởi một niệm tức giận, đó nói là Nhẫn nhục rốt cuộc không có gì khác. Lại phát ra nguyện này: Như ông hôm nay, tôi thật sự không có tội, mà chặt đứt thân tôi khiến cho thành ba ûy phần, làm ra bảy vết thương; tôi ở đời vị lai, lúc đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, vì tâm Đại Bi không đợi ông thỉnh cầu, đầu tiên khiến cho ông tu bảy loại đạo, đoạn trừ bảy tùy miên! Nên biết rằng người Tiên Nhẫn Nhục lúc bấy giờ, nay chính là Đức Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni; vua Y ết-lợi lúc ấy, nay chính là Tỳ kheo Kiều-trận-na. Vì thế cho nên Kiều-trận-na thấy Thánh đế rồi, Đức Phật dùng thần lực trừ bỏ chướng ngại tối tăm của vị ấy, khiến cho nhớ lại sự việc của đời quá khứ, vị ấy liền tự thấy mình là vua Yết-lợi, Đức Phật là người Tiên, tự mình dùng gươm sắc chặt đứt bảy phần thân thể của Đức Phật làm ra bảy vết thương, Đức Phật không tức giận mà lại dùng thệ nguyện muốn làm lợi ích cho mình. Cho nên Đức Phật Thế Tôn ba lần hỏi có hiểu hay không? Đây là ý hỏi rằng: Ta lẽ nào làm trái với nguyện xưa hay sao, lẽ nào không như thệ nguyện trước kia đã đền đáp đầy đủ hay sao? Lúc ấy trong lòng Kiều-trận-na vô cùng hổ thẹn, chắp tay cung kính, cũng ba lần trả lời là đã hiểu. Đây là ý trả lời rằng: Thật sự biết Đức Thế Tôn không trái với nguyện xưa, như thệ nguyện trước kia đều đã đền đáp đầy đủ, con vốn ngu si gây ra tội ác vô cùng ấy, chỉ mong Đức Thế Tôn thương xót tha cho tội nặng của con. Vì thế cho nên Đức Phật ba lần hỏi vị ấy để làm trọn vẹn nguyện xưa. Có người nói: Đức Thế Tôn hi ển bày về mình có năng lực khéo léo nói pháp, cho nên ba lần hỏi vị ấy. Nghĩa là ý này nói Ta ở trong ba Vô số kiếp, tu vô lượng tra êm ngàn khổ hạnh khó làm mà chứng được pháp, bởi vì khéo léo giảng giải khi ến cho người ấy trong chốc lát đã đạt được hiểu biết rõ ràng. Vì thế cho nên ba lần hỏi vị ấy. Có người nói: Đức Thế Tôn khiến cho bốn người còn lại nghe mà sinh tâm dũng mãnh, nối tiếp nhau tiến vào Kiến đạo, cho nên ba lần hỏi vị ấy. Có người nói: Đức Thế Tôn muốn hiển bày trong cách nói pháp khéo léo, Thầy và đệ tử đối với pháp đã chứng, xem xét tường tận chân thật lìa xa tăng thượng mạn, không giống như ngoại đạo đối với pháp 554 BỘ TỲ ĐÀM 6 chưa đạt được, khởi lên tăng thượng mạn nói là đã đạt được, vì vậy ba lần hỏi vị ấy. Hỏi: Đức Phật lần đầu chuyển Pháp luân thì có tám vạn chư Thiên cũng cùng thấy pháp, tại sao chỉ nói là vì năm người như Kiều-trận-na… mà chuyển Pháp luân? Đáp: Trong này chỉ nói đến việc la øm chính thức, chư Thiên nhờ vào năm người cho nên được nghe chứ không phải là việc làm chính thức, vì vậy không nói đến. Có người nói: Loài người thấy pháp trước, cho nên chỉ nói đến loài người. Có người nói: Loài người thấy và đang thấy, chư Thiên không phải là đang thấy. Có người nói: Thân tướng-oai nghi-vi ệc làm của Đức Phật cùng với loài người chắc chắn giống nhau, chư Thiên thì không như vậy. Có người nói: Nếu ở nơi này gọi la ø pháp diệt thì ở nơi này gọi là chuyển Pháp luân, nghĩa là tuy trong loài trời có chứng được Cam lộ, nhưng nếu trong loài người không có thì gọi là pháp diệt, cho nên chỉ nói là vì loài người mà chuyển Pháp luân. Có người nói: Trong loài người thì đệ tử của Đức Phật có bốn chúng sai biệt, trong loài trời thì không như vậy. Có người nói: Đức Phật chuyển Ph áp luân, lấy loài người làm chứng, chứ không lấy loài trời làm chứng. Có người nói: Trong loài người có người có thể chuyển và người được chuyển, vì vậy nói đến loài người; trong loài trời chỉ có người được chuyển chứ không có người có thể chuyển, vì thế cho nên không nói. Có người nói: Trong loài người có thể đạt được các loại công đức thù thắng, trong loài trời thì không như vậy, vì thế cho nên chỉ nói là vì loài người mà chuyển Pháp luân.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt