A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 185
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
若修空彼無願耶。乃至廣說。問何故作此 論。答為止撥無去來二世。及說無未來修 者意。欲顯有去來世亦有未來修故作斯 論。修有四種。一得修。二習修。三對治修。四 除遣修。此中依二修作論。謂得修習修。 若修空彼無願耶。設修無願彼空耶。答應 作四句。有修空非無願。謂已得空現在 前。此是佛或獨覺聲聞為現法樂住等故。 起已得空三摩地現在前。爾時彼勢力尚不 及自類無間剎那。況能修餘未來功德。然 現前位即是習修。有修無願非空。謂已得 無願現在前。若未得無願現在前不修空。 已得無願現在前者。如前釋。未得無願現 在前不修空者。謂見道中集現觀四心頃。 道現觀三心頃。以見道中對治決定及是不 共對治故。不異諦修有俱修。謂未得空現 在前。若未得無願現在前修空。若未得無 相及未得世俗智現在前修空。無願未得 空現在前者。謂依空三摩地入正性離生 苦現觀四心頃。若依空三摩地離欲界乃至 無所有處染。或以空為加行彼一切加行無 間解脫道。及離非想非非想處染。除最後解 脫道。若依空三摩地信勝解練根作見至。 或以空為加行彼加行無間解脫道。及時解 脫練根作不動。除最後解脫道。若依空三 摩地雜修靜慮初後心頃。若依空三摩地 起念住無色解脫義辯二無礙解。有說。唯 義無礙解於如是時未得空現在前。亦修 無願未得無願現在前。修空者謂依無願 三摩地入正性離生。苦現觀四心頃道類智 時。若依無願離欲界乃至非想非非想處 染。或無願為加行。彼一切加行無間解脫道。 若依無願信勝解練根作見至。時解脫練根 作不動。或無願為加行。彼一切加行無間解 脫道。若依無願雜修靜慮初後心頃。若起 無漏他心智通。若依無願起念住無色解脫 義辯二無礙解。於如是時未得無願現在 前亦修空未得無相現在前。修空無願者 見道中無於修道無學道中。若依無相離 欲界乃至無所有處染。或無相為加行彼一 切加行無間解脫道。及離非想非非想處染。 除最後解脫道。若依無相信勝解練根作 見至。或無相為加行彼一切加行無間解脫 道及時解脫練根作不動。除最後解脫道。 若依無相雜修靜慮初後心頃。若依無相 起念住無色解脫義無礙解。於如是時未 得無相現在前。修空無願。未得世俗智現 在前修空無願者。謂聖者以世俗道離欲 界乃至無所有處染。或世俗道為加行彼一 切加行無間解脫道。及離非想非非想處染。 及信勝解練根作見至。時解脫練根作不動。 以世俗為加行彼加行道雜修靜慮中間心 頃引發五通諸加行道。五無間道二解脫道。 及有漏他心智通解脫道。起無量世俗解脫 勝處遍處不淨觀持息念。世俗念住七處善 三義觀世俗無礙解無諍願智邊際智。空空 無願無願無相無相入滅定想微細心。於如 是時未得世俗智現在前。修空及無願有 俱不修。謂已得無相現在前。若未得無相 現在前不修空無願。若已得世俗智現在 前。若未得世俗智現在前不修空無願。一 切異生染污心無記心在無想定滅盡定。生 無想天已得無相現在前者如前釋。未得 無相現在前不修空無願者。謂見道中滅 現觀四心頃。不修空無願如前釋。已得世 俗智現在前者如前釋。未得世俗智現在 前不修空無願者。謂聖者聞思所成慧入 滅定微微心。一切異生者謂此中所說三三 摩地唯無漏故。異生皆無故無修義。染污心 者謂染污心是順退分性。沈重懈怠相應。要 順勝進性輕舉精進相應心方能修故。無記 心者謂無記心不堅不住不實羸劣如朽敗 種。要堅住實強盛心。方能修故。在無想定滅 盡定者。謂彼無心。要有心位方能修故。生 無想天者。有說。生彼於一切時不起善 心。有說。生彼雖起善心而非修所依。雖 前已遮一切異生。而復遮無想定。無想天者 以彼是世俗所尚。或疑有修故於如是時 不修空及無願。 若修空彼無相耶。設修無相彼空耶。答應 作四句。有修空非無相。謂已得空現在 前。若未得空現在前不修無相。若未得 無願現在前修空非無相。已得空現在前 者如前釋。未得空現在前不修無相者。 謂依空三摩地入正性離生苦現觀四心頃。 未得無願現在前。修空非無相者。謂依無 願入正性離生苦現觀四心頃。有修無相 非空。謂已得無相現在前。若未得無相現 在前不修空。已得無相現在前者如前釋。 未得無相現在前不修空者。謂見道中滅 現觀四心頃。有俱修謂未得空現在前修 無相。若未得無相現在前修空。若未得無 願及未得世俗智現在前修空無相。未得 空現在前修無相者。謂依空三摩地離欲 界乃至無所有處染。廣如前兼修無願說。未 得無相現在前修空者。謂依無相三摩地 離欲界乃至無所有處染。或無相為加行彼 一切加行無間解脫道。及離非想非非想處 染。除最後解脫道。若依無相練根作見至。 以無相為加行彼加行無間解脫道。及時 解脫練根作不動。除最後解脫道。若依無 相雜修靜慮初後心頃。若依無相起念住 無色解脫義無礙解。於如是時未得無相 現在前亦修空。未得無願現在前修空無 相者。謂道類智時。若依無願三摩地離欲 界乃至非想非非想處染。廣如前兼修空說。 未得世俗智現在前修空無相者。謂聖者 以世俗道離欲界乃至無所有處染。廣如 前兼修空無願說。有俱不修。謂已得無願現 在前。若未得無願現在前不修空無相。若 已得世俗智現在前。若未得世俗智現在前 不修空無相。一切異生染污心無記心在無 想定滅盡定。生無想天已得無願現在前 者如前釋。未得無願現在前不修空無相 者。謂見道中集現觀四心頃。道現觀三心頃。 已得世俗智現在前者如前釋。未得世俗 智現在前不修空無相者。謂聖者聞思所 成慧入滅定微微心。一切異生乃至生無 想天者如前釋。 若修無願彼無相耶。設修無相彼無願耶。 答應作四句。有修無願非無相。謂已得 無願現在前。若未得無願及未得空現在 前不修無相。已得無願現在前者如前釋。 未得無願現在前不修無相者。謂依無 願入正性離生苦現觀四心頃。集現觀四心 頃。道現觀三心頃。未得空現在前不修無 相者。謂依空三摩地入正性離生苦現觀 四心頃。有修無相非無願。謂已得無相現 在前。若未得無相現在前不修無願。已得 無相現在前者如前釋。未得無相現在前 不修無願者。謂見道中滅現觀四心頃。有 俱修謂未得無願現在前修無相。若未得 無相現在前修無願。若未得空及未得世 俗智現在前修無願無相。此隨所應如前 廣釋。有俱不修。謂已得空及已得世俗智 現在前。若未得世俗智現在前不修無願 無相。一切異生染污心無記心。在無想定滅 盡定生無想天。此亦隨應如前廣釋。 頗有結空所斷非無願無相耶。乃至廣說。 有二種決定。一對治決定。二作用決定。此中 依對治決定而作論非作用決定。所以者 何。無有道理。二三摩地俱時作用。何況有 三。頗有結空所斷非無願無相耶。答無。以 無如是類結唯是空所對治故。頗有結無 願所斷非空無相耶。答有。謂見集見道所斷 結無願斷。以彼唯是無願所對治故。頗有 結無相所斷非空無願耶。答有。謂見滅所斷 結無相斷。以彼唯是無相所對治故。頗有 結空無願所斷非無相耶。答有謂見苦所斷 結空無願斷。以彼唯是空無願所對治故頗 有結空無相所斷非無願耶。答無以無如 是類結唯是空無相所對治非無願故。頗有 結無願無相所斷非空耶。答無。以無如是 類結唯是無願無相所對治非空故。頗有結 空無願無相所斷耶。答有。謂學見迹修所斷 結。空無願無相斷即是聖者三界修所斷 結。以彼是三三摩地所對治故。頗有結非 空無願無相所斷。而是所斷耶。答有。謂異生 所斷結。即諸異生欲界乃至無所有處見修所 斷結。是世俗道所對治故。問彼結豈非空無 願無相所對治耶。答是所對治。然在聖者 非異生。彼在異生故說非空等斷。有說。前 依對治決定而作論。今依作用決定作論。 異生相續中三三摩地定無作用故。說彼結 非空等斷。問若爾者。聖相續中欲界乃至無 所有處。修所斷結亦世俗道斷。何故但說空 等斷耶。答前文應說彼結亦是世俗道斷。 而不說者有何意耶。應知聖者無漏道所 顯故不說世俗道。異生無無漏道故依世 俗道說。是以前說無過。 云何作意入正性離生。乃至廣說。問何故 作此論。答欲止他宗顯己義故。謂或有 說。三三摩地隨一皆能入正性離生。今遮彼 意顯唯二三摩地隨一能入。而非無相 故作斯論。或復有說。唯無相三摩地能入 正性離生。如達摩毱多部說。彼說以無相三 摩地於涅槃起寂靜作意入正性離生。為 遮彼執顯唯無相三摩地不能入正性離 生故作斯論。云何作意入正性離生。答或 無常或苦或空或無我。由此則止三三摩地 及唯無相。能入正性離生者意。此中無常苦 作意與無願三摩地相應。空無我作意與空 三摩地相應。問何故唯此行相入正性離生 非餘耶。答入正性離生者有二種。一愛行。 二見行。愛行者依無願入見行者依空入。 菩薩雖是愛行而能依空入正性離生。愛 行者復有二種。謂我慢增。懈怠增。我慢增者 以無常行相入。懈怠增者以苦行相入。見 行者亦有二種。謂我見增。我所見增。我見增 者以無我行相入。我所見增者以空行相 入。是故唯作此四行相。問此四行相與何位 法相應。有說。與世第一法相應。以說入 正性離生故。有說。與苦法智忍相應。問若 爾。何故言入。答此說已入名入。於近說遠 聲。如言大王從何處來。彼於已來名來。 此亦如是。問爾時亦有餘心所法。何故但 說作意耶。答以唯作意能引發心心所故。 有說。作意於入正性離生最隨順故。 思惟何繫行入正性離生。乃至廣說。問何 故作此論。答欲止尊者達磨怛邏多說頓 思惟三界行入正性離生。又為止說思惟 涅槃入正性離生者意故作斯論。問思惟 何繫行入正性離生。答欲界繫。由此則止 如前二執。問何故但思惟欲界繫行入正性 離生耶。答欲界苦麁顯現見易觀察故。有 說。欲界苦是彼相續現成就故。有說。欲界 繫行具三苦故。是以阿毘達磨者。說觀三 苦諸行入正性離生。非如譬喻者唯說觀 行苦諸行入正性離生。此中不可意諸行 名苦苦。可意諸行名壞苦。順捨諸行名行 苦。有說。欲界苦於修行者現為逼惱極所 厭背故。先觀彼入正性離生。問涅槃亦是 極所欣樂。何不觀彼入正性離生耶。答諸 有情類厭苦心勝非欣涅槃。所以者何。現逼 惱故。不現見故。如諸有情無不畏苦有 不貪樂。問緣何諦忍後能入正性離生。有 說。緣道諦。如是說者。緣苦諦。廣說如雜 蘊初納息。 盡智當言於身循身觀念住耶。乃至當言於 法循法觀念住耶。答盡智應言或於身循身 觀念住。或於受或於心或於法循法觀念 住。如盡智無生智亦爾。問何故作此論。答 為令疑者得決定故。謂有生如是疑。盡 無生智非見性故。亦應非念住性。今欲決 定明此二智。雖非見性。而是念住故作斯 論。復次見蘊中分別見自性念住。今定蘊中 分別非見自性念住。故作斯論。復次加行地 中說修念住有因此故。謂無學地無有念 住。今欲明無學地中有念住故而作此論。 復次經說盡無生智。緣生及後有為境。有 因此故。謂彼但緣生及後有。今欲顯彼緣 一切法。唯除虛空及非擇滅。故作斯論。復 次有執。盡無生智唯總緣五蘊。今遮彼意 顯盡無生智。或總緣五蘊或復別緣。故為 此論。盡智應言或於身循身觀念住者謂緣 色蘊。或於受循受觀念住者謂緣受蘊。或於 心循心觀念住者謂緣識蘊。或於法循法觀 念住者謂緣想蘊行蘊及擇滅。此說不雜緣 法念住。若雜緣法念住則於五蘊。或二二緣。 或三三緣。或四四緣。或五總緣。二二緣者謂 色受緣。色想緣色行緣。色識緣。受想緣。受行 緣。受識緣。想行緣。想識緣。行識緣。三三緣 者。謂色受想緣。色受行緣。色受識緣。色想識 緣。色行識緣。受想行緣。受想識緣。受行識 緣。想行識緣。四四緣者。謂色受想行緣。色 受想識緣。色受行識緣。色想行識緣。受想 行識緣。或五總緣者。謂色受想行識一切總 緣。其擇滅無為若有漏法念住。亦與色等 餘法合緣。此中所說是無漏故唯不雜緣。 諸無漏初靜慮樂諸輕安等覺支樂。此何差 別。答無差別。諸無漏第二靜慮樂。諸輕安 等覺支樂。此何差別答無差別。問何故作此 論。答為止說初二靜慮有無漏樂根者意。 顯彼二地無無漏樂根故作斯論。若有者 不應答言此無差別。所以者何。輕安等覺 支樂。大善地法中輕安為自性。無漏樂根大 地法中受為自性故。又輕安等覺支樂行蘊 攝。無漏樂根受蘊攝。如是二樂便有差別。 而說無差別。故知彼二地無漏樂者即輕安 樂。是故無漏樂根非彼地所有。若從等持 出彼所緣耶。乃至廣說出有五種。一地二行 相三所緣四異類心五剎那。此中但依二出 作論。謂地所緣。若從等持出彼所緣耶。設 從所緣出彼等持耶。答應作四句。有從等 持出非所緣。謂如有一思惟此相入初靜 慮。彼復思惟此相入第二靜慮。此中所緣 以相聲說。如緣色蘊初靜慮等無間緣色 蘊。第二靜慮現在前。緣餘蘊亦爾。是名從 等持出非所緣。問第二靜慮亦是等持。何故 言出。答以地別故。是故前說依二出作 論。謂地所緣。有從所緣出非等持。謂如 有一思惟此相入初靜慮。彼不出初靜 慮。復思惟餘相如緣色蘊。初靜慮等無間 緣受蘊初靜慮現在前。緣餘蘊亦爾。是名 從所緣出非等持。有從等持出亦所緣。謂 如有一思惟此相入初靜慮。彼思惟餘相 入第二靜慮。如緣色蘊。初靜慮等無間緣 受蘊。第二靜慮現在前。緣餘蘊亦爾。是名 從等持出亦所緣。有非從等持出亦非 所緣。謂如有一思惟此相入初靜慮。住經 多時如緣色蘊。初靜慮流注相續多時現 前。緣餘蘊亦爾。如蘊非蘊亦爾。如初靜慮 乃至無所有處亦爾。復有別義。若從等持 出彼行相耶。答應作四句。有從等持出非 行相。謂如有一以此行相入初靜慮。彼復 以此行相入第二靜慮。如無常行相。初靜 慮等無間無常行相第二靜慮現在前。餘行 相亦爾。有從行相出非等持。謂如有一 以此行相入初靜慮。彼不出初靜慮復作 餘行相。如無常行相初靜慮等無間苦行相 初靜慮現在前。餘行相亦爾。有從等持出 亦行相。謂如有一以此行相入初靜慮。以 餘行相入第二靜慮。如無常行相初靜慮 等無間苦行相第二靜慮現在前餘行相亦 爾。有非從等持出亦非行相。謂如有一 以此行相入初靜慮住經多時。如無常行 相初靜慮流注相續多時現前。餘行相亦爾。 如初靜慮乃至無所有處亦爾。復有別義。 若從行相出彼所緣耶。答應作四句。有從 行相出非所緣。謂如有一以此行相思惟 此相。彼不捨此相復作餘行相。如緣色 蘊無常行相等無間緣色蘊苦行相現在前。 緣餘蘊餘行相亦爾。有從所緣出非行相。 謂如有一以此行相思惟此相。即以此行 相復思惟餘相。如緣色蘊無常行相等無 間緣受蘊無常行相。現在前。緣餘蘊餘行 相亦爾。有從行相出亦所緣。謂如有一 以此行相思惟此相。復以餘行相思惟餘 相。如緣色蘊無常行相等無間緣受蘊苦 行相現在前。緣餘蘊餘行相亦爾。有非從 行相出亦非所緣。謂如有一以此行相 思惟此相住經多時。如緣色蘊無常行相 流注相續多時現前。緣餘蘊餘行相亦爾。如 蘊非蘊亦爾。 如說苾芻乃至想定能達聖旨。世尊弟子生 非想非非想處。彼依何定得阿羅漢果。答 無所有處。問何故作此論。答欲令疑者得 決定故。如契經說。有七依定。我說依彼能 盡諸漏。謂初靜慮乃至無所有處。又契經說。 苾芻乃至想定能達聖旨。想定者。謂四靜慮 三無色。能達聖旨者。謂能起智斷煩惱修 道盡漏。或有生如是疑。非想非非想處既 無聖道。若世尊弟子生彼處者。依何能盡 諸漏。將無彼類不由聖道得阿羅漢耶。 為令此疑得決定故。說彼依無所有處 得阿羅漢果。復次為止分別論者說齊有 頂阿羅漢故。彼說世尊弟子生非想非非想 處。於命終時煩惱業命三事俱盡。不由聖 道得阿羅漢果。為止彼意顯盡非俱必 由聖道。故作斯論。問何故但說依無所有 處。非餘地耶。答此於有頂最隣近故。問生 下諸地亦有隣近。下地無漏何故不說依 之盡漏。而但說生有頂者耶。答下諸地中 有自地惑上地聖道易可現前非於下 地。所以者何。下地繫善皆已捨故聖道難起。 由此無有起現前者。生有頂不爾。自地 無聖道。又無上地可依不可不由聖道 而能盡漏。是故下地雖難而起。然彼聖道由 因力強非加行力。暫起現前斷餘煩惱。得 阿羅漢果已。設更住壽經八萬劫。終不重 起以無用故。如說尊者大目揵連言。具壽 我自憶住無所有處定。聞曼陀抧尼池邊 有眾多龍象哮吼等聲。彼尊者為在定聞。 為起定耶。答起定聞。非在定。問何故作此 論。答為令疑者得決定故。如毘柰耶說。尊 者大目揵連告諸苾芻言。具壽我自憶在鷲 峯山住無所有處定。聞曼陀抧尼池邊有 眾多龍象哮吼等聲。時諸苾芻共相謂言。今 此大目揵連自稱得過人法必無是事。應 共壞之。所以者何。住初靜慮者尚不聞聲。 何況住無所有處定。便以此事白佛。佛時 告曰。汝等不應壞大目揵連。所以者何。大 目揵連如想而說。故毘柰耶雖作是說而 不分別。由此或有疑。彼尊者在定聞聲。欲 令此疑得決定故。顯彼尊者起定聞聲。故 作斯論。問諸餘聲聞亦知在定不聞聲故 尚無此說。況大目揵連是最勝聲聞。何故乃 於苾芻眾中說不應說。有說。此不必須通。 所以者何。此是偽毘柰耶故。謂佛滅後有於 素怛纜中置偽素怛纜。毘柰耶中置偽毘 柰耶。阿毘達磨中置偽阿毘達磨。諸偽文 句不應通釋。有說。定海甚深。聲聞如兔不 得其底。唯佛能盡故。彼尊者雖作是說亦 無有過。問彼尊者豈不知在定不聞聲 耶。何故作如是說。答彼尊者於定自在入 出迅疾。雖起定聞作住定想。謂彼先從欲 界善心入初靜慮。從初靜慮入第二靜慮。 如是乃至入無所有處。從無所有處起還 入識處。如是乃至入初靜慮。從此欲界善 心現前聞龍象等聲不起分別。復還從欲 界善心入初靜慮。從初靜慮入第二靜慮。 如是乃至入無所有處。從無所有處起還 入識處。如是乃至入初靜慮。從此欲界善 心現前。不審分別便作是語。我自憶在無 所有處定聞曼陀抧尼池。邊龍象等聲。彼 但於二心起分別知。謂初入定心及後出 定心。於其中間諸心相續。不審分別故作 是說。亦無有過。
Việt dịch
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 185 589 www.daitangkinh.org LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA QUYỂN 185 LUẬN VỀ NHẤT HÀNH (Phần 3) Nếu tu Không thì đó là Vô nguyện chăng? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì ngăn chặn sự gạt bỏ không có hai đời quá khứ-vị lai, và ý nói không có tu thuộc vị lai, muốn hiển bày là có hai đời quá khứ- vị lai, cũng có tu thuộc vị lai, cho nên soạn ra phần luận này. Tu có bốn loại: 1. Tu đạt được. 2. Tu luyện tập. 3. Tu đối trị. 4. Tu loại bỏ. Trong này dựa vào hai loại tu mà soạn luận, đó là tu đạt được và tu luyện tập. Hỏi: Nếu tu Không thì lúc ấy tu Vô nguyện chăng? Giả sử tu Vô nguyện thì lúc ấy tu Không chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc tu Không mà không phải la ø tu Vô nguyện, đó là đã đạt được Không hiện rõ ở trước mắt. Bởi vì đây là pháp mà Đức Phật hoặc là Độc giác-Thanh văn dùng làm nơi an trú trong niềm vui của pháp hiện tại, cho nên khởi lên đã đạt được Tam-ma-địa Không hiện rõ ở trước mắt. Lúc bấy giờ thế lực của pháp ấy hãy còn không bằng sát-na không gián đoạn thuộc chủng loại của mình, huống gì có thể tu công đức vị lai nào khác, nhưng mà phần vị hiện rõ trước mắt tức là tu luyện tập. 2. Có lúc tu Vô nguyện mà không phải là tu Không, đó là đã đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không. 590 BỘ TỲ ĐÀM 6 Đã đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt, giải thích như trước. Chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không, đó là trong Kiến đạo thì Hiện quán về Tập trong bốn tâm, Hiện quán về Đạo trong ba tâm. Bởi vì trong Kiến đạo là đối trị quyết định và đều là đối trị không giống nhau, cho nên không khác với tu về Đế. 3. Có lúc tu cả hai loại, đó là chưa đạt được Không hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì tu Không, nếu chưa đạt được Vô tướng và chưa đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt thì tu Không-Vô nguyện. Chưa đạt được Không hiện rõ ở trước mắt, đó là dựa vào Tam- ma-địa Không, tiến vào Chánh ta ùnh ly sinh, Hiện quán về Khổ trong bốn tâm. Nếu dựa vào Tam-ma-địa Không, lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Vô sở hữu xứ, hoặc là dùng Không làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát; và lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trừ ra đạo giải thoát cuối cùng. Nếu dựa vào Tam-ma-địa Không, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, hoặc là dùng Không làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh- vô gián-giải thoát; và Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, trừ ra đạo giải thoát cuối cùng. Nếu dựa vào Tam-ma-địa Không, tu xen lẫn Tĩnh lự trong tâm đầu và tâm sau. Nếu dựa vào Tam-ma-địa Không, khởi lên Niệm trú-Vô sắc-Giải thoát, Nghĩa-Biện vô ngại giải; c ó người nói: Chỉ riêng Nghĩa vô ngại giải. Những lúc như vậy, chưa đạt được Không hiện rõ ở trước mắt thì cũng tu Vô nguyện. Chưa đạt được Vô nguyện hiện r õ ở trước mắt thì tu Không, đó là dựa vào Tam-ma-địa Vô nguyện, ti ến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ trong bốn tâm, lúc Đạo loại trí hiện khởi. Nếu dựa vào Vô nguyện, lìa nhiễm c ủa cõi Dục cho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, hoặc là Vô nguyện làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát. Nếu dựa vào Vô nguyện, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, hoặc là Vô nguyện làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát. Nếu dựa vào Vô nguyện, tu xen lẫn Tĩnh lự trong tâm đầu và tâm sau. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 185 591 www.daitangkinh.org Nếu khởi lên Tha tâm trí thông vô lậu. Nếu dựa vào Vô nguyện, khởi lên Ni ệm trú-Vô sắc-Giải thoát, Nghĩa-Biện vô ngại giải. Những lúc như vậy, chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì cũng tu Không. Chưa đạt được Vô tướng hiện r õ ở trước mắt thì tu Không-Vô nguyện, trong Kiến đạo không có, ở trong Tu đạo-đạo Vô học. Nếu dựa vào Vô tướng, lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Vô sở hữu xứ, hoặc là Vô tướng làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát; và lìa nhiễm của Phi t ưởng phi phi tưởng xứ, trừ ra đạo giải thoát cuối cùng. Nếu dựa vào Vô tướng, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, hoặc là Vô tướng làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát; và Thời giải thoa ùt luyện căn làm Bất động, trừ ra đạo giải thoát cuối cùng. Nếu dựa vào Vô tướng, tu xen lẫn Tĩnh lự trong tâm đầu và tâm sau. Nếu dựa vào Vô tướng, khởi lên Niệm trú-Vô sắc-Giải thoát, Nghĩa vô ngại giải. Những lúc như vậy, chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì tu Không-Vô nguyện. Chưa đạt được Thế tục trí hiện ro õ ở trước mắt th ì tu Không-Vô nguyện, đó là Thánh giả dùng đạo thế tục lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Vô sở hữu xứ, hoặc là đạo thế tục làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát; và lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, dùng đạo thế tục làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh. Tu xen lẫn Tĩnh lự trong tâm trung gian, dẫn dắt phát khởi năm Thông, là các đạo gia hạnh-năm đạo vô gián-hai đạo giải thoát; và Tha tâm trí thông hữu lậu, là đạo giải thoát. Khởi lên Vô lượng-Giải thoát thế tục-Thắng xứ-Biến xứ, quán Bất tịnh-Trì tức niệm, Niệm trú thế tục, bảy Xứ thiện-ba Nghĩa quán, Vô ngại giải thế tục, Vô tranh- Nguyện trí-Biên t ế trí, Không Không, Vô nguyện Vô nguyện, Vô tướng Vô tướng, tiến vào Định Diệt tận, Tưởng-Tâm vi tế. Những lúc như vậy, chưa đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt thì tu Không-Vô nguyện. 592 BỘ TỲ ĐÀM 6 4. Có lúc không tu cả hai loại, đó là đã đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không-Vô nguyện, nếu đã đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không- Vô nguyện, tất cả dị sinh-tâm nhi ễm ô-tâm vô ký, ở trong Định Vô tưởng-Định Diệt tận, sinh cõi trời Vô Tưởng. Đã đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt, giải thích như trước. Chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không- Vô nguyện, đó là trong Kiến đạo, Hiện quán về Diệt trong bốn tâm; không tu Không-Vô nguyện, giải thích như trước. Đã đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt, giải thích như trước. Chưa đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không- Vô nguyện, đó là Thánh giả dùng Tuệ do Văn-Tư mà thành, tiến vào Định Diệt tận, tâm Vi vi. Tất cả dị sinh, đó là trong này đã nói đến ba Tam-ma-địa chỉ riêng vô lậu, bởi vì dị sinh đều không có cho nên không có nghĩa của tu. Tâm nhiễm ô, đó là bởi vì tâm nhiễm ô là tánh thuận phần lui sụt, tâm tương ưng với nặng nề lười nhác; pha ûi là tánh thuận phần thắng tiến, tâm tương ưng với nhẹ nhàng tinh tiến thì mới có thể tu được. Tâm vô ký, đó là bởi vì tâm vô ký không vững chắc, không tồn tại, không thật sự, yếu kém như hạt giống mục ruỗng; phải là tâm vững chắc-tồn tại-thật sự-mạnh mẽ, thì mới có thể tu được. Ở trong Định Vô tưởng-Định Diệt tận, đó là bởi vì hai Định ấy không có tâm, phải là phần vị có tâm thì mới có thể tu được. Sinh cõi trời Vô Tưởng, có người nó i: Sinh ở cõi trời ấy ở tất cả mọi lúc, không khởi lên tâm thiện. Có người nói: Sinh cõi trời ấy tuy khởi lên tâm thiện mà không phải là nơi nương tựa của tu. Tuy trước đã ngăn chặn tất cả dị sinh, mà còn ngăn chặn Định Vô tưởng và cõi trời Vô tưởng, bởi vì cõi trời ấy là nơi mà thế tục tôn sùng, cho nên ngỡ rằng là có tu. Những lúc như vậy, không tu Không và Vô nguyện. Hỏi: Nếu tu Không thì l úc ấy tu Vô tướng chăng? Giả sử tu Vô tướng thì lúc ấy tu Không chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc tu Không mà không phải la ø tu Vô tướng, đó là đã đạt được Không hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Không hiện rõ ở trước mắt thì không tu Vô tướng, nếu chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 185 593 www.daitangkinh.org ở trước mắt thì tu Không chứ không phải là Vô tướng. Đã đạt được Không hiện rõ ở trước mắt, giải thích như trước. Chưa đạt được Không hiện rõ ở trước mắt thì không tu Vô tướng, đó là dựa vào Tam-ma-địa Không, tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ trong bốn tâm. Chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì tu Không chứ không phải là Vô tướng, đó là dựa vào Vô nguyện, tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ trong bốn tâm. 2. Có lúc tu Vô tướng mà không phải là tu Không, đó là đã đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không. Đã đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt, giải thích như trước. Chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không, đó là trong Kiến đạo thì Hiện quán về Diệt trong bốn tâm. 3. Có lúc tu cả hai loại, đó là chưa đạt được Không hiện rõ ở trước mắt thì tu Vô tướng, nếu chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì tu Không, nếu chưa đạt được Vô nguyện va ø chưa đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt thì tu Không-Vô tướng. Chưa đạt được Không hiện rõ ở trư ớc mắt thì tu Vô tướng, đó là dựa vào Tam-ma-địa Không, lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Vô sở hữu xứ, nói rộng ra như gồm tu Vô nguyện ở trước. Chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt th ì tu Không, đó là dựa vào Tam-ma-địa Vô tướng, lìa nhi ễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Vô sở hữu xứ, hoặc là Vô tướng la øm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát; và lúc lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, trừ ra đạo giải thoát cuối cùng. Nếu dựa vào Vô tướng, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí, dùng Vô tướng làm gia hạnh, thì lúc a áy là đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát; và Thời giải thoát luyện căn la øm Bất động, trừ ra đạo giải thoát cuối cùng. Nếu dựa vào Vô tướng, tu xen lẫn Tĩnh lự trong tâm đầu và tâm sau. Nếu dựa vào Vô tướng, khởi lên Niệm trú-Vô sắc-Giải thoát, Nghĩa vô ngại giải. Những lúc như vậy, chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì cũng tu Không. Chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì tu Không-Vô tướng, đó là lúc Đạo loại trí. 594 BỘ TỲ ĐÀM 6 Nếu dựa vào Tam-ma-địa Vô nguyện, lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nói rộng ra như gồm tu Không ở trước. Chưa đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt thì tu Không-Vô tướng, đó là Thánh giả dùng đạo thế tục lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của Vô sở hữu xứ, nói rộng ra như gồm tu Không-Vô nguyện ở trước. 4. Có lúc không tu cả hai loại, đó là đã đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không-Vô tướng, nếu đã đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Thế tục tr í hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không-Vô tướng, tất cả dị sinh-ta âm nhiễm ô-tâm vô ký, ở trong Định Vô tưởng-Định Diệt tận, sinh cõi trời Vô Tưởng. Đã đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt, giải thích như trước. Chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không- Vô tướng, đó là trong Kiến đạo, Hiện quán về Tập trong bốn tâm, Hiện quán về Đạo trong ba tâm. Đã đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt, giải thích như trước. Chưa đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt thì không tu Không- Vô tướng, đó là Thánh giả dùng T uệ do Văn-Tư mà thành, tiến vào Định Diệt tận, tâm Vi vi. Tất cả dị sinh cho đến sinh cõi trời Vô tưởng, giải thích như trước. Hỏi: Nếu tu Vô nguyện thì lúc ấy tu Vô tướng chăng? Giả sử tu Vô tướng thì lúc ấy tu Vô nguyện chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc tu Vô nguyện mà không phải là Vô tướng, đó là đã đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt và chưa đạt được Không hiện rõ ở trước mắt thì không tu Vô tướng. Đã đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt, giải thích như trước. Chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì không tu Vô tướng, đó là dựa vào Tam-ma-địa Vô nguyện, tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ trong bốn ta âm, Hiện quán về Tập trong bốn tâm, Hiện quán về Đạo trong ba tâm. Chưa đạt được Không hiện rõ ở trước mắt thì không tu Vô tướng, đó là dựa vào Tam-ma-địa Không, tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ trong bốn tâm. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 185 595 www.daitangkinh.org 2. Có lúc tu Vô tướng mà không phải là Vô nguyện, đó là đã đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì không tu Vô nguyện. Đã đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt, giải thích như trước. Chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì không tu Vô nguyện, đó là trong Kiến đạo, Hiện quán về Diệt trong bốn tâm. 3. Có lúc tu cả hai loại, đó là chưa đạt được Vô nguyện hiện rõ ở trước mắt thì tu Vô tướng, nếu chưa đạt được Vô tướng hiện rõ ở trước mắt thì tu Vô nguyện, nếu chưa đạt được Không và chưa đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt thì tu Vô nguyện-Vô tướng. Câu này tùy theo sự thích hợp, giải thích rộng ra như trước. 4. Có lúc không tu cả hai loại, đó là đã đạt được Không và đã đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt, nếu chưa đạt được Thế tục trí hiện rõ ở trước mắt thì không tu Vô nguyện-Vô tướng, tất cả dị sinh-tâm nhiễm ô-tâm vô ký, ở trong Định Vô tưởng-Định Diệt tận, sinh cõi trời Vô Tưởng. Câu này cũng tùy theo sự thích hợp, giải thích rộng ra như trước. Có thể có kiết do Không mà đoạn chứ không phải là Vô nguyện- Vô tướng chăng? Cho đến nói rộng ra. Có hai loại quyết định: 1. Đối trị quyết định. 2. Tác dụng quyết định. Trong này, dựa vào đối trị quyết định mà soạn luận chứ không phải là tác dụng quyết định. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì không có đạo lý về hai Tam-ma-địa có tác dụng cùng lúc, huống gì có ba? Hỏi: Có thể có kiết do Không mà đoạn chứ không phải là Vô nguyện-Vô tướng chăng? Đáp: Không có, bởi vì không có c hủng loại của kiết chỉ là do Không mà đối trị như vậy. Hỏi: Có thể có kiết do Vô nguyện mà đoạn chứ không phải là Không-Vô tướng chăng? Đáp: Có, đó là Vô nguyện đoạn kiết do kiến Tập-kiến Đạo mà đoạn, bởi vì kiết ấy chỉ là do Vô nguyện mà đối trị. Hỏi: Có thể có kiết do Vô tướng mà đoạn chứ không phải là Không-Vô nguyện chăng? Đáp: Có, đó là Vô tướng đoạn ki ết do kiến Diệt mà đoạn, bởi vì kiết ấy chỉ là do Vô tướng mà đối trị. Hỏi: Có thể có kiết do Không-Vô nguyện mà đoạn chứ không 596 BỘ TỲ ĐÀM 6 phải là Vô tướng chăng? Đáp: Có, đó là Không-Vô nguyện đoạn kiết do kiến Khổ mà đoạn, bởi vì kiết ấy chỉ là do Không-Vô nguyện mà đối trị. Hỏi: Có thể có kiết do Không-Vô tướng mà đoạn chứ không phải là Vô nguyện chăng? Đáp: Không có, bởi vì không có c hủng loại của kiết chỉ là do Không-Vô tướng mà đối trị chứ không phải là Vô nguyện như vậy. Hỏi: Có thể có kiết do V ô nguyện-Vô tướng mà đoạn chứ không phải là Không chăng? Đáp: Không có, bởi vì không có chủng loại của kiết chỉ là do Vô nguyện-Vô tướng mà đối trị chứ không phải là Không như vậy. Hỏi: Có thể có kiết do Không-Vô nguyện-Vô tướng mà đoạn chăng? Đáp: Có, đó là Không-Vô nguyện-Vô tướng đoạn kiết do Tu mà đoạn của Học thấy dấu tích, tức là kiết do Tu mà đoạn của ba cõi thuộc phần vị Thánh giả, bởi vì kiết ấy là do ba Tam-ma-địa mà đối trị. Hỏi: Có thể có kiết không phải là do Không-Vô nguyện-Vô tướng mà đoạn, nhưng là đã đoạn chăng? Đáp: Có, đó là kiết đã đoạn của dị sinh, tức là kiết do Kiến-Tu mà đoạn của các dị sinh cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ, bởi vì là kiết do đạo thế tục mà đối trị. Hỏi: Kiết ấy lẽ nào không phải là do Không-Vô nguyện-Vô tướng mà đối trị hay sao? Đáp: Là do Không-Vô nguyện-Vô tướng mà đối trị, nhưng ở Thánh giả chứ không phải là dị sinh, bởi vì kiết ấy ở dị sinh cho nên nói không phải là do Không-Vô nguyện-Vô tướng mà đoạn. Có người nói: Trước dựa vào đối trị quyết định mà soạn luận, nay dựa vào tác dụng quyết định để soạn luận, bởi vì trong sự nối tiếp nhau của dị sinh thì ba Tam-ma-địa chắc chắn không có tác dụng, cho nên nói kiết ấy không phải là do Không-Vô nguyện-Vô tướng mà đoạn. Hỏi: Nếu như vậy thì trong sự nối tiếp nhau của Thánh giả từ cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ, kiết do Tu mà đoạn cũng do đạo thế tục mà đoạn, vì sao chỉ nói là do Không-Vô nguyện-Vô tướng mà đoạn? Đáp: Văn trước nên nói kiết ấy c ũng là do đạo thế tục mà đoạn, nhưng không nói đến là có ý gì vậy? Nên biết rằng đạo vô lậu do Thánh giả mà hiển bày cho nên không nói đến đạo thế tục, dị sinh không có đạo vô lậu cho nên dựa vào đạo thế t ục mà nói, vì vậy trước đây nói không có lỗi. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 185 597 www.daitangkinh.org ra. Thế nào là tác ý tiến vào Chánh tánh lý sinh? Cho đến nói rộng Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày về nghĩa lý của mình. Đó là hoặc có người nói: Ba Tam-ma-địa tùy theo một loại đều có thể tiến vào Chánh tánh ly sinh. Nay ngăn chặn ý đó để hiển bày chỉ có hai Tam-ma-địa tùy theo một loại có thể tiến vào, mà không phải là Vô tướng, cho nên soạn ra phần luận này. Hoặc lại có người nói: Chỉ riêng Tam-ma-địa Vô tướng có thể tiến vào Chánh tánh ly sinh. Như cách nói của Bộ phái Đạt-ma-cúc-đa, họ nói dùng Tam-ma-địa Vô tướng đối với Niết-bàn khởi lên tác ý vắng lặng tiến vào Chánh tánh ly sinh. Bởi vì ngăn chặn ý chấp ấy để hiển bày chỉ riêng Tam-ma-địa Vô tướng không có thể tiến vào Chánh tánh ly sinh, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Thế nào là tác ý tiến vào Chánh tánh ly sinh? Đáp: Hoặc là Vô thường, hoặc là Khổ, hoặc là Không, hoặc là Vô ngã. Bởi vì đây là ngăn chặn ý chấp ba Tam-ma-địa và chỉ riêng Vô tướng có thể tiến vào Chánh tánh ly sinh. Trong này, tác ý về Vô thường-Khổ tương ưng với Tam-ma-địa Vô nguyện, tác ý về Không-Vô ngã tương ưng với Tam-ma-địa Không. Hỏi: Vì sao chỉ có hành tướng này tiến vào Chánh tánh ly sinh chứ không phải là hành tướng nào khác? Đáp: Tiến vào Chánh tánh ly sinh có hai loại: 1. Hành thuộc Ái. 2. Hành thuộc Kiến. Hành thuộc Ái thì tiến vào nhờ Vô nguyện, hành thuộc Kiến thì tiến vào nhờ Không. Bồ-tát tuy là hành thuộc Ái mà có thể dựa vào Không để tiến vào Chánh tánh ly sinh. Hành thuộc Ái lại có hai loại, đó là tăng thêm Ngã mạn, tăng thêm lười nhác. Tăng thêm Ngã mạn thì dùng hành tướng Vô thường để tiến vào, tăng thêm lười nhác thì dùng hành tướng Khổ để tiến vào. Hành thuộc Kiến cũng có hai loại, đó là tăng thêm Ngã kiến, tăng thêm Ngã sở kiến. Tăng thêm Ngã kiến thì dùng hành tướng Vô ngã để tiến vào, tăng thêm Ngã sở kiến thì dùng hành tướng Không để tiến vào. Vì thế cho nên chỉ đưa ra bốn hành tướng này. Hỏi: Bốn hành tướng này tương ưng với pháp ở phần vị nào? Đáp: Có người nói: Tương ưng với Thế đệ nhất pháp, bởi vì nói tiến vào Chánh tánh ly sinh. 598 BỘ TỲ ĐÀM 6 Có người nói: Tương ưng với Khổ pháp trí nhẫn. Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao nói là tiến vào (nhập)? Đáp: Đây là nói đã tiến vào gọi là tiến vào, đối với gần mà nói theo thanh xa; như nói Đại Vương từ nơi nào đến, đó là đối với đã đến gọi là đến, ở đây cũng như vậy. Hỏi: Lúc bấy giờ cũng có tâm s ở pháp khác, vì sa o chỉ nói đến tác ý? Đáp: Bởi vì chỉ riêng tác ý mới có thể dẫn dắt phát khởi tâm-tâm sở. Có người nói: Bởi vì tác ý là tùy thuận nhất đối với tiến vào Chánh tánh ly sinh. Tư duy về hành hệ thuộc nơi nào để tiến vào Chánh tánh ly sinh? Cho đến nói rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Cần phải ngăn chặn cách nói của Tôn giả Đạt-ma-đát-la-đa cho rằng cùng lúc tư duy về hành của ba cõi để tiến vào Chánh tánh ly sinh, và bởi vì ngăn chặn ý nói tư duy về Niết-bàn để tiến vào Chánh tánh ly sinh, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Tư duy về hành hệ thuộc nơi nào để tiến vào Chánh tánh ly sinh? Đáp: Hệ thuộc cõi Dục, bởi vì đây là ngăn cha ën hai ý chấp như trước. Hỏi: Vì sao chỉ tư duy về hành hệ thuộc cõi Dục để tiến vào Chánh tánh ly sinh? Đáp: Bởi vì khổ của cõi Dục biểu hiện thô thi ển, đang thấy, dễ dàng quán sát. Có người nói: Bởi vì khổ của cõi Dục là sự nối tiếp nhau của nơi ấy đang thành tựu. Có người nói: Bởi vì hành hệ thuo äc cõi Dục có đủ ba loại khổ, là vì A-tỳ-đạt-ma nói quán về các hành thuộc ba loại khổ mà tiến vào Chánh tánh ly sinh, chứ không phải là như phái Thí Dụ chỉ nói quán về các hành thuộc hành khổ mà tiến vào Chánh tánh ly sinh. Trong này, các hành không vừa ý gọi là Khổ khổ, các hành vừa ý gọi là Hoại khổ, các hành thuận theo buông xả gọi là Hành khổ. Có người nói: Bởi vì khổ của cõi Dục đang là sự bức não vô cùng chán ngán đối với người tu hành, cho nên trước phải quán sát điều ấy để tiến vào Chánh tánh ly sinh. Hỏi: Niết-bàn cũng là sự vui mừng vô cùng, vì sao không quán sát SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 185 599 www.daitangkinh.org điều ấy để tiến vào Chánh tánh ly sinh? Đáp: Tâm của các loài hữu tình chán ngán đối với khổ đau mạnh hơn chứ không phải là mừng vui đối với Niết-bàn. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì đang bị bức bách phiền muộn, không hiện thấy rõ ràng, như các hữu tình không có ai không sợ kho å đau nhưng có người không ham vui sướng. Hỏi: Sau khi duyên với Nhẫn thuộc Đế nào thì có thể tiến vào Chánh tánh ly sinh? Đáp: Có người nói: Duyên với Đạo đế. Nói như vậy thì duyên với Khổ đế. Nói rộng ra như phẩm thú nhất trong chương Tạp Uẩn. Hỏi: Tận trí nên nói là Niệm trú đối với Thân thuận theo Thân quán sát chăng? Cho đến nên nói là Niệm trú đối với Pháp thuận theo Pháp quán sát chăng? Đáp: Tận trí nên nói hoặc là Niệm trú đối với Thân thuận theo Thân quán sát, hoặc là Niệm trú đối với Thọ-hoặc là đối với Tâm-hoặc là đối với Pháp thuận theo Pháp quán sát. Như Tận trí, Vô sinh trí cũng như vậy. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì làm cho người nghi ngờ có được quyết định. Đó là có người sinh lòng nghi ngờ như vậy: Tận trí-Vô sinh trí bởi vì không phải là tánh thuộc Kiến, cho nên lẽ ra cu õng không phải là tánh thuộc Niệm trú? Nay cần phải quyết định trì nh bày về hai trí này, tuy không phải là tánh thuộc Kiến, mà chính là Niệm trú, cho nên soạn ra phần luận này. Lại nữa, trong chương Kiến Uẩn ph ân biệt về Niệm trú thuộc tự tánh của Kiến, trong chương Định Uẩn này phân biệt về Niệm trú thuộc tự tánh không phải là Kiến, cho nên soạn ra phần luận này. Lại nữa, trong địa gia hạnh nói tu Niệm trú, bởi vì có Nhân này, đó là địa Vô học không có Niệm trú. Nay muốn trình bày trong địa Vô học có Niệm trú, cho nên soạn ra phần luận này. Lại nữa, trong kinh nói Tận trí-Vô sinh trí, duyên với sinh và thân đời sau làm cảnh, bởi vì có Nhân này, đó là hai trí ấy chỉ duyên với sinh và đời sau. Nay muốn hiển bày hai trí ấy duyên với tất cả các pháp, chỉ trừ ra Hư không và Phi trạch diệt, cho nên soạn ra phần luận này. Lại nữa, có người chấp Tận trí-Vô sinh trí chỉ duyên chung với năm uẩn. Nay ngăn chặn ý chấp ấy để hiển bày Tận trí-Vô sinh trí, hoặc là duyên chung với năm uẩn, hoặc là duyên riêng biệt, cho nên soạn ra 600 BỘ TỲ ĐÀM 6 phần luận này. Tận trí nên nói hoặc là Niệm trú đối với Thân thuận theo Thân quán sát, đó là duyên với Sắc uẩn; hoặc là Niệm trú đối với Thọ thuận theo Thọ quán sát, đó là duyên với Thọ uẩn; hoặc là Niệm trú đối với Tâm thuận theo Tâm quán sát, đó là duyên với Thức uẩn; hoặc là Niệm trú đối với Pháp thuận theo Pháp quán sát, đó là duyên với Tưởng uẩn- Hành uẩn và Trạch diệt. Đây là nói về Pháp niệm trú duyên không xen tạp. Nếu Pháp niệm trú duyên xen tạp, th ì đối với năm uẩn, hoặc là hai loại duyên với hai loại, hoặc là ba loại duyên với ba loại, hoặc là bốn loại duyên với bốn loại, hoặc là năm loại duyên chung với nhau. Hai loại duyên với hai loại, đó là Sắc duyên Thọ, Sắc duyên Tưởng, Sắc duyên Hành, Sắc du yên Thức, Thọ duyên Tưởng, Thọ duyên Hành, Thọ duyên Thức, Tưởng duyên Hành, Tưởng duyên Thức, Hành duyên Thức. Ba loại duyên với ba loại, đó là Sắc-Thọ-Tưởng duyên nhau, Sắc- Thọ-Hành duyên nhau, Sắc-Thọ-T hức duyên nhau, Sắc-Tưởng-Thức duyên nhau, Sắc-Hành-Thức duyên nhau, Thọ-Tưởng-Hành duyên nhau, Thọ-Tưởng-Thức duyên nhau, Thọ-Hành-Thức duyên nhau, Tưởng-Hành-Thức duyên nhau. Bốn loại duyên với bốn loại, đó là Sắc-Thọ-Tưởng-Hành duyên nhau, Sắc-Thọ-Tưởng-Thức duyên nhau, Sắc-Thọ-Hành-Thức duyên nhau, Sắc-Tưởng-Hành-Thức duyên nhau, Thọ-Tưởng-Hành-Thức duyên nhau. Năm loại duyên chung với nhau, đó là Sắc-Thọ-Tưởng-Hành- Thức, tất cả duyên chung với nhau. Trạch diệt-Vô vi ấy nếu là Pháp niệm trú hữu lậu, thì cũng duyên kết hợp với pháp khác như Sắc… Tr ong này đã nói đều là vô lậu, cho nên chỉ là duyên không xen tạp. Hỏi: Các niềm vui (lạc) vô lậu của Tĩnh lự thứ nhất, các niềm vui của Khinh an đẳng giác chi, hai loại này có gì sai biệt? Đáp: Không có sai biệt. Hỏi: Các niềm vui vô lậu của Tĩnh lự thứ hai, các niềm vui của Khinh an đẳng giác chi, hai loại này có gì sai biệt? Đáp: Không có sai biệt. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì ngăn chặn ý nói là hai Tĩnh lự đầu có Lạc căn vô lậu, hiển bày về hai địa ấy không có Lạc căn vô lậu, cho nên soạn ra phần SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 185 601 www.daitangkinh.org luận này. Nếu có thì không nên trả lời rằng hai loại này không có sai biệt. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì niềm vui của Khinh an đẳng giác chi, lấy Khinh an trong pháp Đại thiện địa làm tự tánh; Lạc căn vô lậu lấy Thọ trong pháp Đại địa làm tự tánh. Lại nữa, niềm vui của Khinh an đẳng giác chi thuộc về Hành uẩn, Lạc căn vô lậu thuộc về Thọ uẩn, như vậy hai niềm vui sẽ có sai biệt, mà nói là không có sai biệt, cho nên biết niềm vui vô lậu của hai địa ấy tức là niềm vui Khinh an. Vì thế cho nên Lạc căn vô lậu không phải là địa ấy vốn có. Nếu từ Đẳng trì rời ra (xuất) thì đó là sở duyên chăng? Cho đến nói rộng ra. Rời ra có năm loại: 1. Địa. 2. Hành tướng. 3. Sở duyên. 4. Tâm khác loại. 5. Sát na. Trong này, chỉ dựa vào hai loại rời ra mà soạn luận, đó là địa và sở duyên. Hỏi: Nếu từ Đẳng trì rời ra thì đó là sở duyên chăng? Giả sử từ sở duyên rời ra thì đó là Đẳng trì chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc từ Đẳng trì rời ra mà không phải là sở duyên, đó là như có một người tư duy về tướng này tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, người ấy lại tư duy về tướng này tiến vào Tĩnh lự thứ hai. Trong này, sở duyên dùng thanh c ủa Tướng mà nói. Như duyên với Sắc uẩn, Tĩnh lự thứ nhất Đẳng vô gián duyên với Sắc uẩn, Tĩnh lự thứ hai hiện rõ ở trước mắt; duyên với uẩn khác cũng như vậy. Đó gọi là từ Đẳng trì rời ra mà không phải là sở duyên. Hỏi: Tĩnh lự thứ hai cũng là Đẳng trì, vì sao nói là rời ra? Đáp: Bởi vì địa khác nhau, vì t hế cho nên trước đây nói dựa vào hai loại rời ra mà soạn luận, đó là địa và sở duyên. 2. Có lúc từ sở duyên rời ra mà không phải là Đẳng trì, đó là như có một người tư duy về tướng này tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, người ấy không rời ra Tĩnh lự thứ nhất, lại tư duy về tướng khác. Như duyên với Sắc uẩn, Tĩnh lự thứ nhất Đẳng vô gián duyên với Thọ uẩn, Tĩnh lự thứ nhất hiện rõ ở trước mắt; duyên với uẩn khác cũng như vậy. Đó gọi là từ sở duyên rời ra mà không phải là Đẳng trì. 602 BỘ TỲ ĐÀM 6 3. Có lúc từ Đẳng trì rời ra mà cũng là sở duyên, đó là như có một người tư duy về tướng này tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, người ấy tư duy về tướng khác tiến vào Tĩnh lự thứ hai. Như duyên với Sắc uẩn, Tĩnh lự thứ nhất Đẳng vô gián duyên với Thọ uẩn, Tĩnh lự thứ hai hiện rõ ở trước mắt; duyên với uẩn khác cũng như vậy. Đó gọi là từ Đẳng trì rời ra mà cũng là sở duyên. 4. Có lúc không phải là từ Đẳng trì rời ra mà cũng không phải là sở duyên, đó là như có một người tư duy về tướng này tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, an trú trải qua thời gian dài. Như duyên với Sắc uẩn, Tĩnh lự thứ nhất chuyển đổi nối tiếp nhau trải qua thời gian dài hiện rõ trước mắt; duyên với uẩn khác cũng như vậy. Như uẩn, không phải là uẩn cũng như vậy. Như Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Vô sở hữu xứ cũng như vậy. Lại có nghĩa khác, hỏi: Nếu từ Đẳng trì rời ra thì đó là hành tướng chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc từ Đẳng trì rời ra mà không phải là hành tướng, đó là như có một người dùng hành tướng này tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, người ấy lại dùng hành tướng này tiến vào Tĩnh lự thứ hai. Như hành tướng Vô thường của Tĩnh lự thứ nhất Đẳng vô gián, hành tướng Vô thường của Tĩnh lự thứ hai hiện rõ ở trước mắt; hành tướng khác cũng như vậy. 2. Có lúc từ hành tướng rời ra mà không phải là Đẳng trì, đó là như có một người dùng hành tướng này tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, người ấy không rời ra Tĩnh lự thứ nhất, lại dấy lên hành tướng khác. Như hành tướng Vô thường của Tĩnh lự thứ nhất Đẳng vô gián, hành tướng Khổ của Tĩnh lự thứ nhấ t hiện rõ ở trước mắt; hành tướng khác cũng như vậy. 3. Có lúc từ Đẳng trì rời ra ma ø cũng là hành tướng, đó là như có một người dùng hành tướng này tiến va øo Tĩnh lự thứ nhất, dùng hành tướng khác tiến vào Tĩnh lự thứ hai. Như hành tướng Vô thường của Tĩnh lự thứ nhất Đẳng vô gián, hành tướng Khổ của Tĩnh lự thứ hai hiện rõ ở trước mắt; hành tướng khác cũng như vậy. 4. Có lúc không phải là từ Đẳng trì rời ra mà cũng không phải là hành tướng, đó là như có một người dùng hành tướng này tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, an trú trải qua thời gian dài. Như hành tướng Vô thường của Tĩnh lự thứ nhất, chuyển đổi nối SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 185 603 www.daitangkinh.org tiếp nhau trải qua thời gian dài hiện rõ trước mắt; hành tướng khác cũng như vậy. Như Tĩnh lự thứ nhất, cho đến Vô sở hữu xứ cũng như vậy. Lại có nghĩa khác, hỏi: Nếu từ hành tướng rời ra thì đó là sở duyên chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt: 1. Có lúc từ hành tướng rời ra mà không phải là sở duyên, đó là như có một người dùng hành tướng này tư duy về tướng này, người ấy không rời bỏ hành tướng này, lại dấy lên hành tướng khác. Như duyên với Sắc uẩn, hành t ướng Vô thường Đẳng vô gián duyên với Sắc uẩn, hành tướng Khổ hiện rõ ở trước mắt; duyên với uẩn khác-hành tướng khác cũng như vậy. 2. Có lúc từ sở duyên rời ra ma ø không phải là hành tướng, đó là như có một người dùng hành tướng này tư duy về tướng này, người ấy vẫn dùng hành tướng này lại tư duy về tướng khác. Như duyên với Sắc uẩn, hành t ướng Vô thường Đẳng vô gián duyên với Thọ uẩn, hành tướng Vô thường hiện rõ ở trước mắt; duyên với uẩn khác-hành tướng khác cũng như vậy. 3. Có lúc từ hành tướng rời ra mà cũng là sở duyên, đó là như có một người dùng hành tướng này tư duy về tướng này, lại dùng hành tướng khác tư duy về tướng khác. Như duyên với Sắc uẩn, hành tướng Vô thường Đẳng vô gián duyên với Thọ uẩn, hành tướng Khổ hiện rõ ở trước mắt; duyên với uẩn khác-hành tướng khác cũng như vậy. 4. Có lúc không phải là từ hành tướng rời ra mà cũng không phải là sở duyên, đó là như có một người dùng hành tướng này tư duy về tướng này, an trú trải qua thời gian dài. Như duyên với Sắc uẩn, hành t ướng Vô thường chuyển đổi nối tiếp nhau trải qua thời gian dài hiện rõ trước mắt; duyên với uẩn khác- hành tướng khác cũng như vậy. Như uẩn, không phải là uẩn cũng như vậy. Như nói: “Tỳ kheo cho đến Định về Tưởng có thể thông hiểu tôn chỉ của bậc Thánh.” Hỏi: Đệ tử của Đức Thế Tôn sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, ở đó dựa vào Định nào đạt được quả A-la-hán? Đáp: Vô sở hữu xứ. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn làm cho người nghi ngờ có được quyết định. 604 BỘ TỲ ĐÀM 6 Như trong kinh nói: “Có bảy nơi dựa vào Định, Ta nói dựa vào đó có thể trừ hết các lậu, đó là Tĩnh lự thứ nhất cho đến Vô sở hữu xứ.” Lại trong kinh nói: “Tỳ kheo cho đến Định về T ưởng có thể thông hiểu tôn chỉ của bậc Thánh. Định về Tưởng, đó là bốn Tĩnh lự và ba Vô sắc; có thể thông hiểu tôn chỉ của bậc Thánh, đó là có thể khởi lên trí-đoạn phiền não, tu đạo-trừ hết lậu.” Hoặc có người sinh lòng nghi ngờ như vậy: Phi tưởng phi phi tưởng xứ đã không có Thánh đạo, nếu đệ tử của Đức Thế Tôn sinh đến cõi ấy, thì dựa vào đâu có thể trừ hết các lậu, sẽ không có ai đạt được quả A-la-hán, không nhờ vào Thánh đạo của chủng loại ấy chăng? Bởi vì làm cho mối nghi này được quyết định, cho nên nói là họ dựa vào Vô sở hữu xứ đạt được quả A-la-hán. Lại nữa, bởi vì ngăn chặn Luận giả Phân Biệt nói là đến cõi Hữu Đảnh có A-la-hán. Vị ấy nói đệ tử của Đức Thế Tôn sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vào lúc mạng chung thì phiền não-nghiệp-mạng, cả ba sự việc cùng lúc trừ hết, đạt được quả A-la-hán không nhờ vào Thánh đạo. Bởi vì ngăn chặn ý ấy, hiển bày về trừ hết chứ không phải là cùng lúc, nhất định phải nhờ vào Thánh đạo, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Vì sao chỉ nói là dựa vào Vô sở hữu xứ, chứ không phải là nơi khác? Đáp: Bởi vì nơi này gần gũi nhất với cõi Hữu Đảnh. Hỏi: Sinh ở các địa dưới cũng có gần gũi với vô lậu của địa dưới, vì sao không nói dựa vào đó trừ hết lậu, mà chỉ nói là sinh ở cõi Hữu Đảnh? Đáp: Trong các địa dưới có phiền não của địa mình, cho nên Thánh đạo của địa trên có thể dễ dàng hiện rõ trước mắt, chứ không phải là ở địa dưới. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì pháp thiện hệ thuộc địa dưới đều đã rời bỏ, cho nên Thánh đạo khó khởi lên, vì vậy không có người nào khởi lên hiện rõ trước mắt; sinh ở cõi Hữu Đảnh thì không như vậy, địa mình không có Thánh đạo, lại không có địa trên có thể nương tựa, không thể nào không do Thánh đạo mà có thể trừ hết lậu. Vì thế cho nên địa dưới tuy khó mà lại khởi lên. Nhưng Thánh đạo ấy do lực của nhân mạnh mẽ chứ không phải là lực của gia hạnh, tạm thời khởi lên hiện rõ trước mắt đoạn phiền não còn lại, đạt được quả A-la-hán rồi, giả sử trú trong thọ lượng trải qua tám vạn kiếp, rốt cuộc không dấy khởi trở lại, bởi vì không có tác dụng. Như nói: “Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói: Này các vị, tôi tự nhớ lại lúc trú trong Định của Vô sở hữu xứ, nghe bên hồ Mạn-đà-chỉ-ni có SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 185 605 www.daitangkinh.org tiếng gầm rống của rất nhiều voi chúa.” Hỏi: Tôn giả ấy là đang còn Định mà nghe, hay là rời khỏi Định? Đáp: Rời khỏi Định mà nghe, không phải là đang còn Định. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì làm cho người nghi ngờ có được quyết định. Như trong Tỳ-nại-da nói: “Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói với các Tỳ kheo rằng: Này các vị, tôi tự nhớ lại lúc ở núi Thứu Phon g trú trong Định của Vô sở hữu xứ, nghe bên hồ Mạn-đà-chỉ-ni có tiếng gầm rống của rất nhiều voi chúa. Lúc ấy các Tỳ kheo cùng nói với nhau rằng: Nay Đại Mục- kiền-liên này tự nói mình đạt được pháp hơn người, chắc chắn không có điều này, cần phải cùng nhau chỉ trích. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì người trú trong Tĩnh lự thứ nhất hãy còn không nghe tiếng, huống gì trú trong Định của Vô sở hữu xứ? Liền đem việc này thưa với Đức Phật. Lúc ấy Đức Phật bảo rằng: Các ông không nên chỉ trích Đại Mục-kiền- liên. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì Đại Mục-kiền-liên như Tưởng mà nói.” Trong Tỳ-nại-da tuy nói ra điều na øy mà không phân biệt, vì vậy hoặc có người nghi ngờ: Tôn giả ấy đang còn trong Định mà nghe tiếng. Bởi vì muốn làm cho mối nghi này được quyết định, hiển bày về Tôn giả ấy rời khỏi Định mà nghe tiếng, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Các Thanh văn khác cũng biết đang còn trong Định thì không nghe tiếng, cho nên hãy còn không c ó ai nói đến điều này, huống gì Đại Mục-kiền-liên là Thanh văn thù thắng nhất, vì sao ở giữa chúng Tỳ kheo nói ra điều không nên nói? Đáp: Có người nói: Điều này không nhất định phải thông hiểu. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì đây la ø Tỳ-nại-da ngụy tạo, nghĩa là sau khi Đức Phật diệt độ có người đưa Tố-đát-lãm ngụy tạo vào trong Tố- đát-lãm, đưa Tỳ-nại-da ngụy tạo vào trong Tỳ-nại-da, đưa A-tỳ-đạt-ma ngụy tạo vào trong A-tỳ-đạt-ma, cá c văn cú ngụy tạo không cần phải giải thích thông suốt. Có người nói: Biển Định rất sa âu, Thanh văn như Thỏ không đến được đáy biển, chỉ có Đức Phật mới có năng lực thấu hiểu tận cùng, cho nên Tôn giả ấy tuy nói ra điều này mà cũng không có lỗi gì. Hỏi: Tôn giả ấy lẽ nào không biết đang còn trong Định thì không nghe tiếng hay sao, vì sao nói ra lời nói như vậy? Đáp: Tôn giả ấy tự tại đối với Định, tiến vào-rời ra vô cùng nhanh chóng, tuy rời khỏi Định mà nghe nhưng dấy lên Tưởng là trong Định. Nghĩa là Tôn giả ấy trước đó từ tâm thiện của cõi Dục tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, từ Tĩnh lự thứ nhất tiến vào Tĩnh lự thứ hai, như vậy cho đến 606 BỘ TỲ ĐÀM 6 tiến vào Vô sở hữu xứ. Từ Vô sở hữu xứ rời ra lại tiến vào Thức xứ, như vậy cho đến tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, từ đây tâm thiện của cõi Dục hiện rõ trước mắt, nghe tiếng của voi chúa không khởi lên phân biệt. Lại vẫn từ tâm thiện của cõi Dục tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, từ Tĩnh lự thứ nhất tiến vào Tĩnh lự thứ hai, như vậy cho đến tiến vào Vô sở hữu xứ. Từ Vô sở hữu xứ rời ra lại ti ến vào Thức xứ, như vậy cho đến tiến vào Tĩnh lự thứ nhất, từ đây tâm thiện của cõi Dục hiện rõ trước mắt, không phân biệt tường tận liền nói ra điều này: “Tôi tự nhớ lại lúc trú trong Định của Vô sở hữu xứ, nghe bên hồ Mạn-đà-chỉ-ni có tiếng gầm rống của rất nhiều voi chúa.” Lúc ấy chỉ khởi lên phân biệt nhận biết đối với hai tâm, đó là tâm ban đầu tiến vào Định và tâm sau khi rời khỏi Định, đối với sự nối tiếp của các tâm trung gian ấy, không phân biệt tường tận cho nên nói ra điều này, cũng không có lỗi gì.
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt