A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 187
阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545
Hán văn
五百大阿羅漢等造 三藏法師玄奘奉 詔譯 8 見蘊1 念住納息1 見蘊第八中念住納息第一之一 有四念住。謂身受心法念住。如是等章。及 解章義既領會已。應廣分別。問何故作此 論。答為欲解釋契經義故。如契經說。有 四念住。謂身念住。乃至法念住。雖作是說 而不分別。若修身念住彼受耶。乃至廣說。 彼經是此論所依根本。彼所不分別者。今 盡應說故作斯論。然佛說有三種念住。一 自性念住。二相雜念住。三所緣念住。於何 處說自性念住耶。答如契經說。有一趣道 能令有情清淨超滅憂苦。謂四念住。何等為 四。謂於身循身觀念住。乃至於法循法觀 念住。復何處說相雜念住耶。答如契經說。 若有說。善法聚者即四念住。是為正說。所 以者何。淳具圓滿善法聚者唯四念住。何等 為四。謂於身循身觀。乃至廣說。復何處說 所緣念住耶。答如契經說。若有說。一切法 即四念住。是為正說。所以者何。具足攝受一 切法者唯四念住。何等為四。謂於身循身 觀念住。乃至廣說。此中三經標句如其次第。 別說自性相雜所緣念住。釋句皆說自性念 住。以循觀言俱目慧故。問何故世尊於標 句中。或說自性念住。或說相雜念住。或說 所緣念住。於釋句中唯說自性念住耶。答 欲令勝義念住無失壞故。念住有二種。一 勝義。二世俗。自性念住是勝義。餘是世俗。勝 義念住於一切時不可失壞。故佛於釋句 中皆說自性。有說。由自性念住力故相雜 所緣說名念住。有說。欲顯三種念住俱以 慧為自性故。謂一慧性由俱有法相雜助 伴。能有所作即名相雜念住。由所緣力能 遍隨觀即名所緣念住。由佛於契經中說 此三種念住故。阿毘達磨者亦於處處依 三種念住而作論。云何知然。如說。云何身 念住。謂緣身慧。乃至云何法念住。謂緣法慧。 是謂說自性念住處。此即契經所說。有一 趣道乃至廣說。如說。云何身念住。謂身增 上道所生有漏無漏善。乃至云何法念住。謂 法增上道所生有漏無漏善是。謂說相雜念 住處。此即契經所說。善法聚者。即四念住。乃 至廣說。如說。云何身念住。謂十色處及法處 所攝色。云何受念住。謂六受身。云何心念住。 謂六識身。云何法念住。謂受蘊所不攝非色 法處是。謂說所緣念住處。此即契經所說。 一切法者。即四念住。如是阿毘達磨所說與 契經相應。是故此中亦依三種念住而作 論。 問世尊為何等有情說自性念住。乃至為 何等有情說所緣念住耶。答為即愚彼三 種有情說三念住。謂愚自性念住者為說 自性念住。乃至愚所緣念住者為說所緣念 住。復次有情行有差別。謂初業等。為初 業者說所緣念住。為已習行說相雜念住。 為已超作意說自性念住。復次有情樂欲 有差別。謂廣略中樂略者為說自性念住。 樂中者為說相雜念住。樂廣者為說所緣 念住。復次有情根有差別。謂利中鈍為利 根說自性念住。為中根說相雜念住。為鈍 根說所緣念住。復次有情智有差別。謂開 發生智分別生智引導生智。開發生智為說 自性念住。分別生智為說相雜念住。引導生 智。為說所緣念住。為如是等所化有情故。 佛說此三種念住。 問此三念住誰斷煩惱。答唯相雜念住能斷 煩惱非餘。問何故自性念住不能斷煩惱 耶。答若離助伴唯慧不能斷煩惱故。問何 故所緣念住不能斷煩惱耶。答彼作意普 散故。唯總略所緣作意能斷煩惱。問何故相 雜念住能斷煩惱耶。答具二緣故。謂攝受 助伴故。及總略所緣作意故。問若爾。修餘念 住應成無用。答彼能引發相雜念住非為 無用。有說。斷有二種。一暫時斷。二究竟斷。 修餘念住能暫時斷故非無用。相雜念住復 有三種。謂聞思修所成差別。問此三何者能 斷煩惱。答修所成能斷煩惱非餘。問何故 聞所成不能斷煩惱耶。答此必依名乃於 義轉。唯不待名於義轉道能斷煩惱。問何 故思所成不能斷煩惱耶。答由此作意是 不定地所攝故。唯定地所攝道能斷煩惱。問 何故修所成能斷煩惱耶。答具二緣故。謂 不待名於義轉故。及定地所攝故。問若爾。 修餘二種應成無用。答彼能引發修所成 故。謂聞所成能引發思所成。思所成能引 發修所成。修所成能斷煩惱。故非無用。有 說。斷有二種。如前廣說。修所成念住復有 四種。謂身受心法。問此四何者能斷煩惱。答 法念住能斷煩惱非餘。問何故前三念住不 能斷煩惱耶。答彼是自相作意所攝故。唯 共相作意所攝道能斷煩惱。有說。彼一一蘊 各別緣故。要總緣四蘊五蘊或離蘊道能 斷煩惱。問若爾。修前三種應成無用。答能 引發法念住故。謂身念住能引受念住。受念 住能引心念住。心念住能引法念住。法念 住能斷煩惱。故非無用。有說。要先分別諸 蘊。後方能總緣而斷煩惱。故非無用。有說。 斷有二種。如前廣說。法念住復有二種。一 雜緣。二不雜緣。若緣想行蘊及無為名不 雜緣。若於五蘊或二二緣或三三緣或四四 緣或五總緣及無為名為雜緣。問此中何等 法念住。能斷煩惱。答二俱能斷。謂若緣苦 集道諦斷煩惱道。是雜緣法念住。若緣滅諦 斷煩惱道。是不雜緣法念住。 此中或總說一念住。謂大地法慧根慧力正 見擇法覺支。或說二。謂有漏無漏縛解繫不 繫。或說三。謂軟中上品。或聞思修所成。或 說四。謂身受心法。或說五。謂三界繫學無 學。或說六。謂有漏無漏各有軟中上品。或 說八。謂身受心法各有有漏無漏。或說九。 謂軟軟乃至上上。或說十二。謂身受心法各 有軟中上品。復有別說十二。如契經說。於 內身住循身觀。於外身住循身觀。於內外 身住循身觀。如身三種。乃至法亦爾。或說 十八。謂有漏無漏各有軟軟乃至上上品。或 說二十四。謂身受心法軟中上品各有有漏 無漏。或說三十六。謂身受心法各有軟軟乃 至上上品。復有別說三十六。如契經說。於 內身住厭逆想。於內身住不厭逆想。於內 身住俱離捨正念正知。如於內身。於外身 內外身亦爾。如於身有九。乃至於法亦爾。 或說七十二。謂身念住有漏無漏各有軟軟 乃至上上品。如身念住有十八。乃至法念住 亦爾。若約相續剎那分別則有無量念住。 問若爾者。世尊何故於一等廣說四念住。 於無量略說四念住耶。答為對治四顛倒 故。謂對治於不淨淨想顛倒故說身念住。 對治於苦樂想顛倒故說受念住。對治於 無常常想顛倒故說心念住。對治於無我 我想顛倒故說法念住。有說。為對治四食 故。謂對治段食故說身念住。對治觸食故 說受念住。對治識食故說心念住。對治意 思食故說法念住。有說。為對治四識住故。 謂對治色近行識住故說身念住。對治受 近行識住故說受念住。對治住彼識故說 心念住。對治想近行行近行識住故說法 念住。有說。為對治五蘊故。謂對治色蘊 故說身念住。對治受蘊故說受念住。對 治識蘊故說心念住。對治想蘊行蘊故說 法念住。有說。為對治四種不修故。謂 對治不修身故說身念住。對治不修戒故 說受念住。對治不修心故說心念住。對治 不修慧故說法念住。有說。與四修同法故。 說四念住。謂與修身同法故說身念住。與 修戒同法故說受念住。與修心同法故說 心念住。與修慧同法故說法念住。問念住 以何為自性。為以念為以慧耶。若以念 者。此說云何通。如說於身循身觀。乃至廣 說。若以慧者。何故名念住。又契經說當云 何通。如說於何處應觀念根。謂於四念 住。答應說慧為自性。問若爾。何故名念住 耶。答念於此住等住。各住故名念住。如象 馬等所住處名象馬等住。此亦如是。有說。 此由念力能於所緣起差別廣博作用。而 不失壞故名念住。有說。由念力故此瑜伽 師審記所緣。於所緣境忘已還憶。故名念 住。有說。此修行者於所緣中先以念安住 然後觀察。復於所緣先通達已後以念安 住為守護故。如守門者故名念住。有說。 此修行者於所緣境。先以念攝持。後以慧觀 察。而斷煩惱。譬如田夫先以左手攬取草 等。後以右手執鎌刈之。此亦如是。故名 念住。有說。此瑜伽師被念鎧甲。於心相續 上。執慧刀杖在生死陣中。不為煩惱怨 所降伏。而能降伏於彼故名念住。有說。為 遮取自性過故說名念住。若名慧住者便 有取自性過失。有說。為顯非唯自性能 有所作故名念住。由是等緣。但名念住不 名慧住。問契經所說復云何通。如說於何 處應觀念根謂於四念住。答以念根於 念住位作用增上故作是說。如信根於四 證淨位作用增上故。佛復說。於何處應觀 信根謂於四證淨。如是精進根於四正斷。 定根於四靜慮。慧根於四聖諦亦爾。故世 尊乃至復說。於何處應觀慧根於四聖諦。 此亦如是。是謂念住自性。 已說自性。所以今當說。何故名念住。念住 是何義。答念於此住等住各住。廣說如前。 已總說念住所以。一一所以今當說。問何故 名身念住。答此念住緣身故名身念住。問 餘念住亦緣身。謂受念住緣六受身。心念住 緣六識身。法念住緣六想身六思身等。何故 不皆名身念住耶。答此中所說緣身者。謂 緣色身。餘念住緣非色身故不名身念住。 有說。若緣麁顯易見。現見身者名身念住。 餘念住緣微隱難見難覺。不現見身故不 名身念住。有說。若所緣身是極微聚所成 者彼名身念住。餘所緣身非極微聚所成 故。彼不名身念住。有說。若緣於身而能知 所知俱時生者名身念住。餘雖緣身而能知 所知不俱生故不名身念住。雖法念住中 有俱生者以少故不說。如緣身故名身念 住。如是緣受故名受念住。緣心故名心念 住。緣法故名法念住。問一切皆是法一切皆 唯有法故。何故唯一名法念住非餘耶。答 雖一切皆是法。而但立一為法念住。如十 八界皆是法。而但立一為法界。十二處皆是 法。而但立一為法處如法界法處如是法 智擇法覺支。法隨念法證淨法無礙解法寶 法歸亦爾。有說。法念住有一名。餘念住有 二名。有說。法念住有共名。餘念住有共不 共名。有說。一切有為法由生所起。生是彼所 緣故名法念住。有說。一切法由名所顯。名 是彼所緣故名法念住。有說。諸有為相是一 切有為法之幖幟。印此諸相墮在彼所緣 中故名法念住。有說。空解脫門覺諸法法 性。此空攝在彼所緣中。故名法念住。問若 爾者。薩迦耶見亦覺諸法補特伽羅性。何故 不依彼立名耶。答彼非真實覺。此是真實 覺。故無有過。有說。慧能分別諸法自相共 相。安立諸法自相共相。損害事愚及所緣愚。 於諸法中不增減轉。此慧墮在彼所緣中。故 名法念住。有說。滅諦涅槃是勝義法常住不 變。此法攝在彼所緣中。故名法念住。有說。 此念住能緣多法。謂色非色相應不相應。有 所依無所依。有行相無行相。有所緣無所緣。 有警覺無警覺。是故名法念住。有說。身念住 緣身不緣緣身慧。受念住緣受不緣緣受 慧。心念住緣心不緣緣心慧。法念住緣身 亦緣緣身慧。緣受心法亦緣緣受心法慧。是 故唯此名法念住。有說。身念住緣身不緣 身生老無常。受念住緣受不緣受生老無常。 心念住緣心不緣心生老無常。法念住緣 身亦緣身生老無常。緣受心法亦緣受心法 生老無常。是故唯此名法念住。有說。齊此 諸瑜伽師我想一合想皆得止息。法想差別 想修習圓滿。故名法念住。謂瑜伽師分析 身已便計受為我分析受已。便計心為我 分析心已。便計法為我分析法已。便知 一切非我有情唯空行聚。是故齊此法想圓 滿名法念住。已說念住一一所以。彼次第今 當說。何故世尊先說身念住。乃至後說法 念住耶。答顯示隨順故。謂若如是次第顯 示則於文字言說隨順。有說。說受隨順故。 謂若作如是次第。則於師說及弟子受皆 得隨順。有說。此依生起次第故。次第有三 種。一生起次第。二顯示次第。三現觀次第。生 起次第者。如此念住。及靜慮無量無色解脫 勝處遍處等。顯示次第者。謂正斷神足根力 覺支道支等。現觀次第者。謂四聖諦。以瑜伽 師先起身念住故佛前說。乃至後起法念 住故佛後說。問因論生論。何故諸瑜伽師先 起身念住。乃至後起法念住耶。答依麁細 次第故。謂五蘊中色蘊最麁。故先觀察起身 念住。四無色蘊中受蘊最麁。故次觀察起受 念住。問受等無方所。如何可施設麁細耶。 答雖無方所麁細而有行相麁細。亦可施 設。此中受行相麁如說我手足等痛。又說 我受如是如是苦故。受等蘊雖非色而如 色施設麁細。四無色蘊中識蘊最細。而先想 行蘊觀察起心念住者。以想行蘊與涅槃 最微細法合施設故。彼最後觀察起法念 住。有說。從不可知本際以來男為女色女 為男色。是生染處。故先觀色起身念住。染 著此色由貪樂受。故次觀受。起受念住。貪 樂由於心不調伏。故次觀心起心念住。心 不調伏由煩惱未斷。故最後觀法起法念 住。有說以色可施設有增減。有取捨相似 相續故。先觀色起身念住。於觀色時起身 輕安及心輕安。由此為先引起樂受。故次 觀受起受念住。於觀受時。引起勝義境界 了別。故次觀識起心念住。彼作是念。若處 起心亦起心所。故最後觀法起法念住。有 說。身愚能持受愚乃至心愚能持法愚。非 身愚不轉能轉受愚。乃至非心愚不轉能 轉法愚故。四念住如是次第起。有說。身不 愚能引受不愚。乃至心不愚能引法不愚。 非身不愚不起能起受不愚。乃至非心不 愚不起能起法不愚。故四念住如是次第 起。有說。身觀能引受觀。乃至心觀能引法 觀。非身觀不起能起受觀。廣說如上。有 說。身觀與受觀為因為根為眼為道為 漸為能作為緣生為起集為等起。受觀 與心觀。心觀與法觀亦爾。餘如前說。有 說。身觀與受觀。為加行為門為依。乃至 心觀與法觀亦爾。餘如前說。有說。身觀與 受觀。為依止為迹處。乃至心觀與法觀亦 爾。餘如前說。問若爾。身觀復以誰為依止 迹處耶。答以先所得奢摩他相。為依止為 迹處。如說。彼先得不動奢摩他故。身輕輭 相從足至頂周遍積聚。由此能起身念住乃 至法念住。有說。彼於相續中分別諸處起 四念住。謂瑜伽師先欲知諸色處故。先分 別十色處及法處所攝色。是故先起身念住。 次即於法處分別諸受故。次起受念住。次 即於法處。分別想行蘊及三無為故。次起 法念住。彼復作是念。除此有何。即如實知 餘有意處。由此即分別意處。故最後起心 念住。諸瑜伽師若依自相觀則先起法念 住。後起心念住。若依共相觀則先起心念 住。後起法念住。故四念住如是次第起。 問為先起緣內念住。為先起緣外念住耶。 若爾有何過。若先起緣內念住者。經說云 何通。如說新學苾芻具淨尸羅意樂圓滿。 欲疾除斷欲貪瞋者。應往澹泊路詣死屍 所善取其相。或青淤或膿爛。乃至廣說。若 先起緣外念住者。餘經說復云何通。如說先 於內身住循身觀。次於外身。乃至廣說。答 應作是說。先起緣內念住。所以者何。以有 我故有我所。有我執故有我所執。有我 見故有我所見。有五我見故有十五我所 見。有我愚故有我所愚。有我愛故有眾具 愛。為長養內我求外資具故。問若爾。前所 引經云何通。答彼是念住加行非根本念住。 云何知然。即彼經說善取相已速還本處。 憶念先所取相。若能者善。若不能者復往屍 所。更善取相馳還本處。洗足入房敷座而 坐。以勝解作意令所取相明了現前。是名 念住加行。若時以外所取相置於內身。而 觀察者乃名入根本念住。有說。彼契經說。 果勝作意非念住位。云何知然。即彼經說。 彼新學苾芻得學意已。若欲往澹泊路者 隨欲而往。此中新學苾芻即預流者。及一來 者。故知彼契經說果勝作意非念住位。 如契經說。於內身住循身觀。於外身住 循身觀。於內外身住循身觀。乃至廣說。 問此中何者名內身等。何者名外身等答自 相續所攝色名內身。他相續所攝色。及非 有情數色名外身。內法外法說亦爾。自相續 所攝受名內受。他相續所攝受名外受。內心 外心說亦爾。有餘師說。有情數色名內身。 非有情數色名外身。內法外法說亦爾。受心 如前說。脅尊者言。現在名內。過去未來及 無為名外。問何故現在名內。過去未來及無 為名外耶。答以現在法多令有情攝受貪 著。非過去未來及無為故。此中於內身住 循身觀者。住內身自相觀。於外身住循身 觀者。住外身自相觀。於內外身住循身觀 者。住內外身共相觀。乃至法亦爾。有說。於 內身住循身觀者。住內身廣觀。於外身 住循身觀者。住外身廣觀。於內外身住循 身觀者。住內外身略觀。乃至法亦爾。有說。 於內身住循身觀者。對治我執。於外身 住循身觀者。對治我所執。於內外身住循 身觀者。對治我我所執。乃至法亦爾。如我 執我所執。我見我所見說亦如是。有說。於 內身住循身觀者。對治五我見。於外身 住循身觀者。對治十五我所見。於內外身 住循身觀者。對治二十種薩迦耶見。乃至法 亦爾。如我見我所見。如是我愚我所愚說亦 爾。有說。於內身住循身觀者。對治我愛。 於外身住循身觀者。對治眾具愛。於內外 身住循身觀者。對治俱愛。乃至法亦爾。問 齊何當言身念住。乃至法念住圓滿耶。答 由二緣故當知圓滿。一分別所緣。二善根 增。分別所緣者。謂若時能以剎那極微分 析所緣。或唯以剎那分析所緣。善根增者。 謂依下生中依中生上。齊此應知念住圓 滿。有說。由轉加行應知圓滿。謂瑜伽師先 分別身。分別身已轉身覺慧次分別受。 分別受已轉受覺慧次分別心。分別心已 轉心覺慧分別於法。譬如農夫引水溉田。 初畦滿已引溉第二。第二滿已引溉第三。第 三滿已引溉第四。此亦如是。有說。齊怨害 相成應知圓滿。怨害相有二種。一令不憙 樂。二令生瞋恚。此中但說令不憙樂名怨 害相。謂瑜伽師分別身已便於身不生憙 樂。而憙樂受等。分別受已復於受不生憙 樂。而憙樂心等。分別心已復於心不生憙 樂。而憙樂於法。分別法已。便於一切境界 不生憙樂應知。爾時念住圓滿。
Việt dịch
QUYỂN 187 CHƯƠNG VIII: KIẾN UẨN Phẩm Thứ Nhất: LUẬN VỀ NIỆM TRÚ LUẬN VỀ NIỆM TRÚ (Phần 1) Có bốn Niệm trú, đó là Thân-Thọ-Tâm-Pháp niệm trú. Các chương như vậy và giải thích về nghĩa của từng chương đã lĩnh hội rồi, tiếp theo cần phải phân biệt rộng ra. Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này? Đáp: Bởi vì muốn giải thích nghĩa lý trong kinh. Như trong kinh nói: “Có bốn Niệm trú, đó là Thân niệm trú cho đến Pháp niệm trú.” Trong kinh tuy nói ra điều này mà không phân biệt, nếu tu Thân niệm trú thì đó là Thọ niệm trú chăng? Cho đến nói rộng ra. Kinh ấy là nơi nương tựa căn bản của luận này, điều gì trong kinh không phân biệt, thì nay đều cần phải nói, cho nên soạn ra phần luận này. Hỏi: Nhưng mà Đức Phật nói có ba loại Niệm trú: 1. Niệm trú thuộc tự tánh. 2. Niệm trú xen lẫn nhau. 3. Niệm trú thuộc sở duyên. Ở nơi nào nói đến Niệm trú thuộc tự tánh? Đáp: Như trong kinh nói: “Có một đạo hướng về, có thể làm cho hữu tình thanh tịnh, vượt lên diệt hết buồn khổ, đó là bốn Niệm trú. Như thế nào là bốn? Đó là Niệm trú đối với thân thuận theo thân quán sát, cho đến Niệm trú đối với pháp thuận theo pháp quán sát.” Hỏi: Lại ở nơi nào nói đến Niệm trú xen lẫn nhau? Đáp: Như trong kinh nói: “Nếu có người nói: Tụ pháp thiện ấy tức là bốn Niệm trú. Đây là cách nói chính xác. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tụ pháp thiện đầy đủ trọn vẹn hoàn toàn thì chỉ có bốn Niệm trú. Như SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 187 633 www.daitangkinh.org thế nào là bốn? Đó là Niệm trú đối với thân thuận theo thân quán sát, cho đến Niệm trú đối với pháp thuận theo pháp quán sát.” Hỏi: Lại ở nơi nào nói đến Niệm trú thuộc sở duyên? Đáp: Như trong kinh nói: “Nếu có người nói: Tất cả các pháp tức là bốn Niệm trú. Đây là cách nói chính xác. N guyên cớ thế nào? Bởi vì thâu nhiếp tiếp nhận đầy đủ tất cả các pháp thì chỉ có bốn Niệm trú. Như thế nào là bốn? Đó là Niệm trú đối với thân thuận theo thân quán sát, cho đến Niệm trú đối với pháp thuận theo pháp quán sát.” Trong này, câu nêu ra của ba kinh thì như thứ tự ấy nói riêng biệt về Niệm trú thuộc tự tánh-xen lẫn-sở duyên, câu giải thích đều nói đến Niệm trú thuộc tự tánh, bởi vì nói t huận theo quán sát đều là thuộc về Tuệ. Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn ở trong câu nêu ra, có lúc nói đến Niệm trú thuộc tự tánh, có lúc nói đến Niệm trú xen lẫn nhau, có lúc nói đến Niệm trú thuộc sở duyên; ở trong câu giải thích chỉ nói đến Niệm trú thuộc tự tánh? Đáp: Bởi vì muốn làm cho Thắng nghĩa của Niệm trú không có gì sai lạc. Niệm trú có hai loại: 1. Thắng nghĩa. 2. Thế tục. Niệm trú thuộc tự tánh là Thắng ng hĩa, còn lại là Thế tục. Niệm trú thuộc Thắng nghĩa ở tất cả mọ i lúc không có thể sai lạc, cho nên Đức Phật ở trong câu giải thích đều nói đến tự tánh. Có người nói: Do lực của Niệm trú thuộc tự tánh, cho nên xen lẫn- sở duyên đều gọi là Niệm trú. Có người nói: Bởi vì muốn hiển bày về ba loại Niệm trú đều dùng Tuệ làm tự tánh, nghĩa là tánh của một Tuệ do pháp vốn có(câu hữu) xen lẫn nhau làm bạn giúp đỡ, có thể có những việc làm thì gọi là Niệm trú xen lẫn nhau; do lực của sở duyên có thể tùy thuận quán sát khắp nơi thì gọi là Niệm trú thuộc sở duyên. Bởi vì Đức Phật ở trong kinh nói đến ba loại Niệm trú này, cho nên trong A-tỳ-đạt-ma cũng ở mọi nơi dựa vào ba loại Niệm trú mà soạn luận. Làm sao biết như vậy? Như nói: “Thế nào là Thân niệm trú? Đó là Tuệ duyên với thân. Cho đến thế nào là Pháp niệm trú? Đó là Tuệ duyên với pháp.” Đó gọi là nơi nói đến Niệm trú thuộc tự tánh. Đây chính là trong kinh đã nói: “Có một đạo hướng về…” Như nói: “Thế nào là Thân niệm trú? Đó là thân tăng thượng do 634 BỘ TỲ ĐÀM 6 đạo mà sinh ra thiện hữu lậu-vô lậu. Cho đến thế nào là Pháp niệm trú? Đó là pháp tăng thượng do đạo mà sinh ra thiện hữu lậu-vô lậu.” Đó gọi là nơi nói đến Niệm trú xen lẫn nha u. Đây chính là trong kinh đã nói: “Tụ pháp thiện ấy tức là bốn Niệm trú…” Như nói: “Thế nào là Thân niệm trú? Đó là mười Sắc xứ và Sắc do Pháp xứ thâu nhiếp. Thế nào là T họ niệm trú? Đó là sáu Thọ thân. Thế nào là Tâm niệm trú? Đó là sáu Thức thân. Thế nào là Pháp niệm trú? Đó là Thọ uẩn vốn không thâu nhiếp Pháp xứ thuộc phi Sắc.” Đó gọi là nơi nói đến Niệm trú thuộc sở duyên. Đây chính là trong kinh đã nói: “Tất cả các pháp tức là bốn Niệm trú…” Như vậy, A-tỳ-đạt-ma đã nói t ương ưng với kinh, vì thế cho nên trong này cũng dựa vào ba loại Niệm trú mà soạn luận. Hỏi: Đức Thế Tôn vì những hữu tình nào mà nói đến Niệm trú thuộc tự tánh, cho đến vì những hữu tình nào mà nói đến Niệm trú thuộc sở duyên? Đáp: Vì chính những hữu tình ngu muội đối với ba loại ấy mà nói đến ba Niệm trú, nghĩa là người ngu muội đối với Niệm trú thuộc tự tánh thì vì họ mà nói đến Niệm tr ú thuộc tự tánh, cho đến người ngu muội đối với Niệm trú thuộc sở d uyên thì vì họ mà nói đến Niệm trú thuộc sở duyên. Lại nữa, hành của hữu tình có sai biệt, đó là mới bắt đầu sự ng- hiệp…, vì người mới bắt đầu sự nghiệp thì nói đến Niệm trú thuộc sở duyên, vì người đã luyện tập thực hành thì nói đến Niệm trú xen lẫn nhau, vì người đã vượt lên trên tác ý thì nói đến Niệm trú thuộc tự tánh. Lại nữa, ý thích của hữu tình có sai biệt, đó là mở rộng-tóm lược và bình thường, vì người thích tóm l ược thì nói đến Niệm trú thuộc tự tánh, vì người thích bình thường th ì nói đến Niệm trú xen lẫn nhau, vì người thích mở rộng thì nói đến Niệm trú thuộc sở duyên. Lại nữa, căn cơ của hữu tình có sai biệt, đó là nhanh nhạy-trung bình và chậm chạp, vì người căn cơ nhanh nhạy thì nói đến Niệm trú thuộc tự tánh, vì người căn cơ trung bình thì nói đến Niệm trú xen lẫn nhau, vì người căn cơ chậm chạp thì nói đến Niệm trú thuộc sở duyên. Lại nữa, trí của hữu tình có sai biệt, đó là mở mang sinh ra trí- phân biệt sinh ra trí và dẫn dắt si nh ra trí, vì người mở mang sinh ra trí thì nói đến Niệm trú thuộc tự tánh, vì người phân biệt sinh ra trí thì nói đến Niệm trú xen lẫn nhau, vì người dẫn dắt sinh ra trí thì nói đến Niệm trú thuộc sở duyên. Vì những loại hữu tình đã hóa độ như vậy, cho nên SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 187 635 www.daitangkinh.org Đức Phật nói về ba loại Niệm trú này. Hỏi: Ba loại Niệm trú này thì loại nào đoạn phiền não? Đáp: Chỉ có Niệm trú xen lẫn nha u có thể đoạn phiền não chứ không phải là loại nào khác. Hỏi: Vì sao Niệm trú thuộc tự tánh không có thể đoạn phiền não? Đáp: Bởi vì nếu lìa bạn gi úp đỡ, chỉ riêng Tuệ thì không có thể đoạn phiền não. Hỏi: Vì sao Niệm trú thuộc sở duyên không có thể đoạn phiền não? Đáp: Bởi vì tác ý lúc ấy tản mác khắp nơi, chỉ riêng tác ý tổng quát tóm lược sở duyên thì mới có thể đoạn phiền não. Hỏi: Vì sao Niệm trú xen lẫn nhau có thể đoạn phiền não? Đáp: Bởi vì có đủ hai duyên, đó là thâu nhiếp tiếp nhận bạn giúp đỡ, và tác ý tổng quát tóm lược sở duyên. Hỏi: Nếu như vậy thì tu Niệm trú khác sẽ trở thành vô dụng? Đáp: Những loại ấy có thể dẫn dắt phát khởi Niệm trú xen lẫn nhau chứ không phải là vô dụng. Có người nói: Đoạn có hai loại: 1. Đoạn trong thời gian ngắn. 2. Đoạn đến cuối cùng. Bởi vì tu Niệm trú khác có thể đoạn trong thời gian ngắn, cho nên không phải là vô dụng. Niệm trú xen lẫn nhau lại có ba loại, đó là do Văn-Tư-Tu mà thành sai biệt. Hỏi: Ba loại này thì loại nào có thể đoạn phiền não? Đáp: Do Tu mà thành có thể đoạn phiền não chứ không phải là loại nào khác. Hỏi: Vì sao do Văn mà thành không có thể đoạn phiền não? Đáp: Bởi vì loại ấy cần phải dựa vào tên gọi mới chuyển đối với nghĩa, chỉ có loại không cần đến tên gọi chuyển đối với nghĩa, thì nói là có thể đoạn phiền não. Hỏi: Vì sao do Tư mà thành không có thể đoạn phiền não? Đáp: Bởi vì loại này tác ý là do địa không nhất định thâu nhiếp, chỉ do địa nhất định thâu nhiếp thì nói là có thể đoạn phiền não. Hỏi: Vì sao do Tu mà thành có thể đoạn phiền não? Đáp: Bởi vì có đủ hai duyên, đó là không cần đến tên gọi chuyển đối với nghĩa, và do địa nhất định thâu nhiếp. 636 BỘ TỲ ĐÀM 6 Hỏi: Nếu như vậy thì tu hai loại còn lại sẽ trở thành vô dụng? Đáp: Những loại ấy có thể dẫn dắt phát khởi dó Tu mà thành, nghĩa là do Văn mà thành có thể dẫn dắt phát khởi do Tư mà thành, do Tư mà thành có thể dẫn dắt phát khởi do Tu mà thành, do Tu mà thành có thể đoạn phiền não, cho nên không phải là vô dụng. Có người nói: Đoạn có hai loại, nói rộng ra như trước. Niệm trú do Tu mà thành lại có bốn loại, đó là Thân-Thọ-Tâm- Pháp. Hỏi: Bốn loại này thì loại nào có thể đoạn phiền não? Đáp: Pháp niệm trú có thể đoạn phiền não chứ không phải là loại nào khác. Hỏi: Vì sao ba Niệm trú trước không có thể đoạn phiền não? Đáp: Bởi vì những loại ấy là do tác ý thuộc tự tướng thâu nhiếp, chỉ do tác ý thuộc cọng tướng tha âu nhiếp thì nói là có thể đoạn phiền não. Có người nói: Bởi vì mỗi một uẩn ấy đều duyên riêng biệt, cần phải duyên chung với bốn uẩn-năm uẩn, hoặc là lìa uẩn thì nói là có thể đoạn phiền não. Hỏi: Nếu như vậy thì tu ba loại trước sẽ trở thành vô dụng? Đáp: Bởi vì có thể dẫn dắt phát khởi Pháp niệm trú, nghĩa là Thân niệm trú có thể dẫn dắt Thọ niệm trú, Thọ niệm trú có thể dẫn dắt Tâm niệm trú, Tâm niệm trú có thể dẫn dắt Pháp niệm trú, Pháp niệm trú có thể đoạn phiền não, cho nên không phải là vô dụng. Có người nói: Trước hết cần phải phân biệt về các uẩn, sau đó mới có thể duyên chung mà đoạn phiền não, cho nên không phải là vô dụng. Có người nói: Đoạn có hai loại, nói rộng ra như trước. Pháp niệm trú lại có hai loại: 1. Duyên xen tạp. 2. Duyên không xen tạp. Nếu duyên với Tưởng-Hành-Thức uẩn và Vô vi thì gọi là duyên không xen tạp; nếu đối với năm uẩn, hoặc là hai duyên với hai, hoặc là ba duyên với ba, hoặc là bốn duyên với bốn, hoặc là duyên toàn bộ năm uẩn và Vô vi thì gọi là duyên xen tạp. Hỏi: Trong này Pháp niệm trú loại nào có thể đoạn phiền não? Đáp: Cả hai loại đều có thể đoạn phiền não, nghĩa là nếu duyên với Khổ-Tập-Đạo đế nói là đoạn phiền não, thì đó là Pháp niệm trú duyên xen tạp; nếu duyên với Diệt đế nói là đoạn phiền não, thì đó là SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 187 637 www.daitangkinh.org Pháp niệm trú duyên không xen tạp. Trong này, hoặc nói là chung một Niệm trú, đó là pháp Đại địa, Tuệ căn, Tuệ lực, Chánh kiến, Trạch pháp giác chi. Hoặc nói là hai, đó là hữu lậu- vô lậu, ràng buộc-giải thoát, hệ thuộc-không hệ thuộc. Hoặc nói là ba, đó là phẩm Hạ-Trung-Thượng, hoặc là do Văn- Tư-Tu mà thành. Hoặc nói là bốn, đó là Thân-Thọ-Tâm-Pháp. Hoặc nói là năm, đó là hệ thuộc ba cõi-Học-Vô học. Hoặc nói là sáu, đó là hữu la äu-vô lậu đều có phẩm Hạ-Trung- Thượng. Hoặc nói là tám, đó là Thân-Thọ-Tâm-Pháp đều có hữu lậu-vô lậu. Hoặc nói là chín, đó là phẩm Hạ Hạ cho đến Thượng Thượng. Hoặc nói là mười hai, đó là Thân-Thọ-Tâm-Pháp đều có phẩm Hạ-Trung-Thượng. Lại có nơi khác nói là mười hai, như trong kinh nói: “Trú vào thân bên trong thuận theo thân quán sát, trú vào thân bên ngoài thuận theo thân quán sát, trú vào thân bên trong-bên ngoài thuận theo thân quán sát; như ba loại về thân, cho đến pháp cũng như vậy.” Hoặc nói là mười tám, đó là hữu lậu-vô lậu đều có phẩm Hạ Hạ cho đến Thượng Thượng. Hoặc nói là hai mươi bốn, đó là Thân-Thọ-Tâm-Pháp thuộc phẩm Hạ-Trung-Thượng đều có hữu lậu-vô lậu. Hoặc nói là ba mươi sáu, đó là Thân-Thọ-Tâm-Pháp đều có phẩm Hạ Hạ cho đến Thượng Thượng. Lại có nơi khác nói là ba mươi sáu, như trong kinh nói: “Trú vào thân bên trong tưởng về chán ngán trái ngược, trú vào thân bên trong tưởng về không chán ngán trái ngược, trú vào thân bên trong đều lìa bỏ Chánh niệm-Chánh tri; như đối với thân bên trong, đối với thân bên ngoài, đối với thân bên trong-bên ngoài cũng như vậy. Như đối với thân có chín loại, cho đến đối với pháp cũng như vậy.” Hoặc nói là bảy mươi hai, đó là Thân niệm trú thuộc hữu lậu-vô lậu đều có phẩm Hạ Hạ cho đến Thượng Thượng, như Thân niệm trú có mười tám loại, cho đến Pháp niệm trú cũng như vậy. Nếu dựa theo sát-na nối tiếp nhau để phân biệt thì có vô lượng Niệm trú. Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao Đ ức Thế Tôn đối với một loại nói 638 BỘ TỲ ĐÀM 6 rộng ra là bốn Niệm trú, đối với vô lượng nói tóm lược là bốn Niệm trú? Đáp: Bởi vì đối trị bốn loại điên đảo, đó là đối trị điên đảo đối với Bất tịnh tưởng là Tịnh cho nên nói về Thân niệm trú, đối trị điên đảo đối với Khổ tưởng là Lạc cho nên nói về Thọ niệm trú, đối trị điên đảo đối với Vô thường tưởng là Thường cho nên nói về Tâm niệm trú, đối trị điên đảo đối với Vô ngã tưởng là Ngã cho nên nói về Pháp niệm trú. Có người nói: Bởi vì đối trị bốn loại Thực, đó là đối trị Đoàn thực cho nên nói về Thân niệm trú, đối trị Xúc thực cho nên nói về Thọ niệm trú, đối trị Thức thực cho nên nói về Tâm niệm trú, đối trị Ý tư thực cho nên nói về Pháp niệm trú. Có người nói: Bởi vì đối trị bốn lo ại Thức trú, đó là đối trị Thức trú hiện hành gần với Sắc cho nên nói về Thân niệm tr ú, đối trị Thức trú hiện hành gần với Thọ cho nên nói về Thọ niệm trú, đối trị trú vào Thức ấy cho nên nói về Tâm niệm tr ú, đối trị Thức trú hiện hành gần với Hành-hiện hành gần với Tưởng cho nên nói về Pháp niệm trú. Có người nói: Bởi vì đối trị năm Uẩn, đó là đối trị Sắc uẩn cho nên nói về Thân niệm trú, đối trị Thọ uẩn cho nên nói về Thọ niệm trú, đối trị Thức uẩn cho nên nói về Tâm niệm trú, đối trị Tưởng uẩn-Hành uẩn cho nên nói về Pháp niệm trú. Có người nói: Bởi vì đối trị bốn loại không tu, đó là đối trị không tu Thân cho nên nói về Thân niệm trú, đối trị không tu Giới cho nên nói về Thọ niệm trú, đối trị không tu Tâm cho nên nói về Tâm niệm trú, đối trị không tu Tuệ cho nên nói về Pháp niệm trú. Có người nói: Bởi vì pháp giống nhau với bốn loại tu cho nên nói về bốn Niệm trú, đó là pháp giống nhau với tu Thân cho nên nói về Thân niệm trú, pháp giống nhau với tu Giới cho nên nói về Thọ niệm trú, pháp giống nhau với tu Tâm cho nên nói về Tâm niệm trú, pháp giống nhau với tu Tuệ cho nên nói về Pháp niệm trú. Hỏi: Niệm trú lấy gì làm tự tánh, là lấy Niệm hay là lấy Tuệ? Nếu lấy Niệm thì ở đây nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Đối với thân thuận theo thân quán sát…” Nếu lấy Tuệ thì vì sao gọi là Niệm trú? Lại trong kinh nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Nên quán sát Niệm căn ở nơi nào? Đó là đối với bốn Niệm trú.” Đáp: Nên nói lấy Tuệ làm tự tánh. Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao gọi là Niệm trú? Đáp: Niệm ở nơi này, trú-cùng trú-đều trú, cho nên gọi là Niệm trú; như chỗ ở của voi ngựa… gọi là voi ngựa cùng trú, ở đây cũng như SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 187 639 www.daitangkinh.org vậy. Có người nói: Đây là do lực của Niệm có thể đối với sở duyên dấy khởi tác dụng rộng lớn sai biệt, mà không sai lạc cho nên gọi là Niệm trú. Có người nói: Do lực của Niệm cho nên Sư Du-già này ghi nhớ rõ ràng sở duyên, đối với cảnh sở duyên quên rồi lại nhớ, cho nên gọi là Niệm trú. Có người nói: Người tu hành này ở trong sở duyên, trước phải dùng Niệm để an trú, sau đó mới quán sát, lại đối với sở duyên trước phải thông suốt rồi, sau đó dùng Niệm an trú để giữ gìn, như người giữ cổng, cho nên gọi là Niệm trú. Có người nói: Người tu hành na øy đối với cảnh sở duyên, trước phải dùng Niệm để thâu nhiếp giữ gì n, sau đó dùng Tuệ quán sát mà đoạn phiền não, ví như người làm ruộng trước dùng tay trái gom lấy cỏ dại, sau dùng tay phải cầm liềm cắt đứt, ở đây cũng như vậy, cho nên gọi là Niệm trú. Có người nói: Sư Du-già này khoác áo giáp của Niệm, ở trong sự nối tiếp nhau của tâm, cầm dao gậy của Tuệ, ở giữa trận chiến của sinh tử không bị giặc phiền não làm cho khuất phục, mà có thể làm cho giác phiền não phải khuất phục, cho nên gọi là Niệm trú. Có người nói: Bởi vì ngăn chặn lỗi giữ lấy tự tánh, cho nên gọi là Niệm trú; nếu gọi là Tuệ trú thì sẽ có lỗi lầm giữ lấy tự tánh. Có người nói: Bởi vì hiển bày không phải là chỉ riêng tự tánh có thể có những việc làm, cho nên gọi là Niệm trú. Bởi vì những duyên như vậy, cho nên chỉ gọi là Niệm trú chứ không gọi là Tuệ trú. Hỏi: Trong kinh đã nói lại hiểu thế nào? Như nói: “Nên quán sát Niệm căn ở nơi nào? Đó là đối với bốn Niệm trú.” Đáp: Bởi vì Niệm căn có tác dụng tăng thượng đối với phần vị Niệm trú, cho nên đưa ra cách nói này. Như Tín căn có tác dụng tăng thượng đối với phần vị của bốn Chứng tịnh, cho nên Đức Phật lại nói: “Nên quán sát Tín căn ở nơi nào? Đó là đối với bốn Chứng tịnh.” Như vậy, Tinh tiến căn đối với bốn Chánh đoạn, Định căn đối với bốn Tĩnh lự, Tuệ căn đối với bốn Thánh đế cũng như vậy. Vì vậy, Đức Thế Tôn cho đến lại nói: “Nên quán sát Tuệ căn ở nơi nào? Đó là đối với bốn Thánh đế.” Ở đây cũng như vậy. Đó gọi là tự tánh của Niệm trú. Đã nói về tự tánh, nay sẽ nói đến nguyên cớ. Hỏi: Vì sao gọi là Niệm trú, Niệm trú là nghĩa gì? 640 BỘ TỲ ĐÀM 6 Đáp: Niệm ở nơi này, trú-cùng trú-đều trú, nói rộng ra như trước. Đã nói chung về nguyên cớ của Niệm trú, nay sẽ nói đến nguyên cớ của từng loại một. Hỏi: Vì sao gọi là Thân niệm trú? Đáp: Niệm trú này duyên với thân cho nên gọi là Thân niệm trú. Hỏi: Niệm trú khác cũng duyên với thân, đó là Thọ niệm trú duyên với sáu Thọ thân, Tâm niệm trú duyên với sáu Thức thân, Pháp niệm trú duyên với sáu Tưởng thân-sáu Tư thân…, vì sao không cùng gọi là Thân niệm trú? Đáp: Trong này đã nói duyên với thân, đó là duyên với Sắc thân, Niệm trú khác bởi vì duyên với thân không phải là Sắc, cho nên không gọi là Thân niệm trú. Có người nói: Nếu duyên với thân hiện bày thô thiển-dễ thấy- đang thấy thì gọi là Thân niệm trú, Niệm trú khác bởi vì duyên với thân sâu kín vi tế-khó thấy-khó hiểu-không hiện thấy, cho nên không gọi là Thân niệm trú. Có người nói: Nếu thân sở duyên là do cực vi tích tụ mà thành thì thân ấy gọi là Thân niệm trú, thân sở duyên khác không phải là do cực vi tích tụ mà thành, cho nên thân ấy không gọi là Thân niệm trú. Có người nói: Nếu duyên với thâ n mà chủ thể nhận biết-pháp đã nhận biết (năng tri-sở tri) cùng lúc sinh khởi thì gọi là Thân niệm trú, Niệm trú khác tuy duyên với thân chủ thể nhận biết-pháp đã nhận biết không cùng lúc sinh khởi, cho nên không gọi là Thân niệm trú; tuy trong Pháp niệm trú có cùng lúc sinh khởi, mà bởi vì số ít cho nên không nói. Như duyên với thân cho nên gọi là Thân niệm trú, như vậy duyên với thọ cho nên gọi là Thọ niệm trú, duyên với tâm cho nên gọi là Tâm niệm trú, duyên với pháp cho nên gọi là Pháp niệm trú. Hỏi: Tất cả đều là pháp, tất cả đều chỉ có pháp, vì sao chỉ ri êng một loại gọi là Pháp niệm trú chứ không phải là những loại khác? Đáp: Tuy tất cả đều là pháp, mà chỉ thiết lập một loại là Pháp niệm trú. Như mười tám Giới đều là pháp, mà chỉ thiết lập một loại là Pháp giới; mười hai Xứ đều là pháp, mà chỉ thiết lập một loại là Pháp xứ. Như Pháp giới-Pháp xứ, như vậy Pháp trí, Trạch pháp giác chi, Pháp tùy niệm, Pháp chứng tịnh, Pháp vô ngại giải, Pháp bảo, Pháp quy cũng như vậy. Có người nói: Pháp niệm trú có một tên gọi, Niệm trú khác có hai tên gọi. SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 187 641 www.daitangkinh.org Có người nói: Pháp niệm trú có tên gọi chung, Niệm trú khác có tên gọi chung-không chung. Có người nói: Tất cả pháp hữu vi do sinh mà khởi lên, sinh là sở duyên của nó, cho nên gọi là Pháp niệm trú. Có người nói: Tất cả pháp do tên gọi mà hiển bày, tên gọi là sở duyên của nó, cho nên gọi là Pháp niệm trú. Có người nói: Các tướng hữu vi la ø dấu hiệu của tất cả pháp hữu vi, tức là các tướng này rơi vào ở trong sở duyên của nó, cho nên gọi là Pháp niệm trú. Có người nói: Không giải thoát môn nhận hiểu về pháp tánh của các pháp, Không này thâu nhiếp ở tr ong sở duyên của nó, cho nên gọi là Pháp niệm trú. Hỏi: Nếu như vậy thì Tát-ca-da kiến cũng nhận hiểu về tánh Bổ- đặc-già-la của các pháp, vì sao không dựa vào đó để thiết lập tên gọi? Đáp: Đó không phải là sự nhận hiểu chân thật, đây là sự nhận hiểu chân thật, cho nên không có lỗi gì. Có người nói: Tuệ có thể phân bi ệt về tự tướng-cọng tướng của các pháp, an lập về tự tướng-cọng tướng của các pháp, ngu muội về sự tổn hại và ngu muội về sở duyên, ở trong các pháp thay đổi không tăng giảm, Tuệ này rơi vào trong sở duyên của nó, cho nên gọi là Pháp niệm trú. Có người nói: Diệt đế Niết-ba øn là pháp Thắng nghĩa thường trú không thay đổi, pháp này thâu nhiếp ở trong sở duyên của nó, cho nên gọi là Pháp niệm trú. Có người nói: Niệm trú này có thể duyên với nhiều pháp, đó là Sắc-không phải Sắc, tương ưng-không tương ưng, có sở y-không có sở y, có hành tướng-không có hành tướng, có sở duyên-không có sở duyên, có cảnh giác-không có cảnh giác, vì thế cho nên gọi là Pháp niệm trú. Có người nói: Thân niệm trú duyên với thân chứ không duyên với Tuệ duyên với thân, Thọ niệm trú duyên với thọ chứ không duyên với Tuệ duyên với thọ, Tâm niệm trú duyên với tâm chứ không duyên với Tuệ duyên với tâm, Pháp niệm trú duyên với thân cũng duyên với Tuệ duyên với thân, duyên với Thọ-Tâm-Pháp cũng duyên với Tuệ duyên với Thọ-Tâm-Pháp, vì thế cho nên chỉ riêng loại này gọi là Pháp niệm trú. Có người nói: Thân niệm trú duyên với thân chứ không duyên với sinh-lão-vô thường của thân, Thọ niệm trú duyên với thọ chứ không duyên với sinh-lão-vô thường của thọ, Tâm niệm trú duyên với tâm chứ 642 BỘ TỲ ĐÀM 6 không duyên với sinh-lão-vô thường của tâm, Pháp niệm trú duyên với thân cũng duyên với sinh-lão-vô thường của thân, duyên với Thọ-Tâm- Pháp cũng duyên với sinh-lão-vô thường của Thọ-Tâm-Pháp, vì thế cho nên chỉ riêng loại này gọi là Pháp niệm trú. Có người nói: Đến đây các Sư Du-già tưởng về Ngã-tưởng về một tập hợp đều được dừng lại, tu tập đầy đủ trọn vẹn tưởng về Pháp-tưởng về sai biệt, cho nên gọi là Pháp niệm trú. Nghĩa là Sư Du-già phân tích về Thân rồi liền cho rằng Thọ là Ng ã, phân tích về Thọ rồi liền cho rằng Tâm là Ngã, phân tích về Tâm rồi liền cho rằng pháp là Ngã, phân tích về Pháp rồi thì biết tất cả không phải là Ngã, hữu tình chỉ là tập hợp của hành trống rỗng. Vì thế cho nên đến đây tưởng về Pháp đầy đủ trọn vẹn, gọi là Pháp niệm trú. Đã nói về nguyên cớ của từng loạ i Niệm trú, nay sẽ nói đến thứ tự của nó. Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn trước tiên nói đến Thân niệm trú, cho đến cuối cùng mới nói đến Pháp niệm trú? Đáp: Bởi vì biểu hiện rõ ràng về sự tùy thuận. Nghĩa là nếu biểu hiện rõ ràng theo thứ tự như vậy, thì tùy thuận đối với văn tự-ngôn thuyết. Có người nói: Bởi vì tùy thuận với người thuyết giảng-người tiếp nhận. Nghĩa là nếu đưa ra theo thứ t ự như vậy, thì đối với thầy thuyết giảng và đệ tử tiếp nhận đều được tùy thuận. Có người nói: Bởi vì đây là dựa vào sinh khởi theo thứ tự. Thứ tự có ba loại: 1. Sinh khởi theo thứ tự. 2. Biểu hiện rõ rằng theo thứ tự. 3. Hiện quán theo thứ tự. Sinh khởi theo thứ tự, là như Niệm trú này, và Tĩnh lự-Vô lượng- Vô sắc-Giải thoát-Thắng xứ-Biến xứ… Biểu hiện rõ rằng theo thứ tự, đó là Chánh đoạn-Thần túc-Căn-Lực-G iác chi-Đạo chi… Hiện quán theo thứ tự, đó là bốn Thánh đế. Bởi vì Sư Du-già đầu tiên khởi lên Thân niệm trú, cho nên Đức Phật nói đến trước; cho đến cuối cùng khởi lên Pháp niệm trú, cho nên Đức Phật nói đến sau. Hỏi: Dựa vào luận mà sinh ra luận, vì sao các Sư Du-già đầu tiên khởi lên Thân niệm trú, cho đến cuối cùng khởi lên Pháp niệm trú? Đáp: Bởi vì dựa vào thô-tế theo thứ tự. Nghĩa là trong năm uẩn thì Sắc uẩn là thô thiển nhất, cho nên đầu tiên quán sát khởi lên Thân niệm trú; trong bốn uẩn không có Sắc thì Thọ uẩn là thô thiển nhất, cho nên SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 187 643 www.daitangkinh.org tiếp theo quán sát khởi lên Thọ niệm trú. Hỏi: Thọ… không có nơi chốn, làm sao có thể thi thiết thô-tế? Đáp: Tuy không có nơi chốn thô-tế mà có hành tướng thô-tế, cho nên cũng có thể thi thiết. Trong nà y, hành tướng thô của Thọ, như nói tay chân của tôi đau nhức, lại nói tôi nhận chịu khổ sở như vậy-như vậy. Các uẩn như Thọ… tuy không phải Sắc mà thi thiết thô-tế như Sắc. Trong bốn uẩn không có Sắc thì Thức uẩn là vi tế nhất, mà đầu tiên quán sát về Tưởng-Hành uẩn khởi lên Tâm niệm trú, bởi vì kết hợp thi thiết Tưởng-Hành uẩn và Niết-bàn là pháp vi tế nhất, cho nên cuối cùng quán sát về pháp ấy khởi lên Pháp niệm trú. Có người nói: Từ vô thỉ cho đến ngày nay, nam vì sắc của nữ, nữ vì sắc của nam, là nơi sinh ra nhiễm ô, cho nên đầu tiên quán sát về Sắc khởi lên Thân niệm trú; đắm tr ước Sắc này bởi vì tham cảm thọ vui thú, cho nên tiếp theo quán sát về Thọ khởi lên Thọ niệm trú; tham cảm thọ vui thú bởi vì không điều p hục đối với tâm, cho nên tiếp theo quán sát về Tâm khởi lên Tâm niệm trú; không điều phục đối với tâm bởi vì phiền não chưa đoạn, cho nên cuối cùng quán sát về Pháp khởi lên Pháp niệm trú. Có người nói: Bởi vì Sắc có thể th i thiết có tăng-giảm, có lấy-bỏ, nối tiếp nhau tương tự, cho nên đầu tiên quán sát về Sắc khởi lên Thân niệm trú. Vào lúc quán sát về Sắc, khởi lên thân Khinh an và tâm Khinh an, từ đây làm đầu tiên dẫn dắt khởi lên cảm thọ vui vẻ, cho nên tiếp theo quán sát về Thọ khởi lên Thọ niệm trú. Vào lúc quán sát về Thọ, dẫn dắt khởi lên Thắng nghĩa phân biệt rõ ràng về cảnh giới, cho nên tiếp theo quán sát về Thức khởi lên Tâm niệm trú. Lúc ấy dấy lên ý niệm này: Nếu nơi nào khởi tâm thì cũng khởi tâm sở. Cho nên cuối cùng quán sát về Pháp khởi lên Pháp niệm trú. Có người nói: Thân ngu có thể giữ lấy Thọ ngu, cho đến Tâm ngu có thể giữ lấy Pháp ngu; không phải là Thân ngu không chuyển mà có thể chuyển Thọ ngu, cho đến không phải là Tâm ngu không chuyển mà có thể chuyển Pháp ngu, cho nên bốn Niệm trú khởi lên theo thứ tự như vậy. Có người nói: Thân không ngu có thể dẫn dắt Thọ không ngu, cho đến Tâm không ngu có thể dẫn dắt Pháp không ngu; không phải là Thân không ngu không khởi lên mà có thể khởi lên Thọ không ngu, cho đến không phải là Tâm không ngu không khởi lên mà có thể khởi lên Pháp không ngu, cho nên bốn Niệm trú khởi lên theo thứ tự như vậy. Có người nói: Thân quán sát có thể dẫn dắt Thọ quán sát, cho đến 644 BỘ TỲ ĐÀM 6 Tâm quán sát có thể dẫn dắt Ph áp quán sát; không phải là Thân quán sát không khởi lên mà có thể khởi lên Thọ quán sát, nói rộng ra như trên. Có người nói: Thân quán sát cùng với Thọ quán sát làm nhân-làm căn-làm mắt-làm đạo-làm từng bước-làm năng tác-làm duyên sinh-làm khởi tập-làm đẳng khởi, Thọ quán sát cùng với Tâm quán sát, Tâm quán sát cùng với Pháp quán sát cũng như vậy, còn lại nói như trước. Có người nói: Thân quán sát cùng với Thọ quán sát làm gia hạnh- làm cửa ngõ-làm nơi nương tựa, c ho đến Tâm quán sát cùng với Pháp quán sát cũng như vậy, còn lại nói như trước. Có người nói: Thân quán sát cùng với Thọ quán sát làm nơi nương tựa-làm dấu tích để lại, cho đến Tâm quán sát c ùng với Pháp quán sát cũng như vậy, còn lại nói như trước. Hỏi: Nếu như vậy thì Thân quán sa ùt lại dùng pháp nào làm nơi nương tựa-làm dấu tích để lại? Đáp: Dùng tướng Xa-ma-tha đã đạt được trước đây làm nơi nương tựa-làm dấu tích để lại, như nói: Bởi vì trước đây đạt được Xa-ma-tha bất động, cho nên tướng của thân nhẹ nhàng mềm mại, tích tụ khắp nơi từ chân đến đầu, vì vậy có thể khởi lên Thân niệm trú cho đến Pháp niệm trú. Có người nói: Lúc ấy phân biệt về các Xứ ở trong sự nối tiếp nhau khởi lên bốn Niệm trú, đó là Sư Du-già đầu tiên muốn biết về các Sắc xứ, cho nên trước phải phân biệt về mười Sắc xứ và Sắc do Niệm xứ thâu nhiếp, vì thế cho nên trước tiên khởi lên Thân niệm trú. Tiếp theo ngay nơi Pháp xứ phân biệt về các Thọ, cho nên tiếp theo khởi lên Thọ niệm trú. Tiếp theo ngay nơi Pháp xứ phân biệt về Tưởng-Hành uẩn và ba Vô vi, cho nên tiếp theo khởi lên Pháp niệm trú. Lúc ấy lại dấy lên ý niệm này: Trừ pháp này ra còn có pháp nào? Liền biết như thật còn có Ý xứ, vì vậy liền phân biệt về Ý xứ, cho nên cuói cùng khởi lên Tâm niệm trú. Các Sư Du-già nếu dựa vào tự tướng để quán sát, thì trước tiên khởi lên Pháp niệm trú, sau cùng khởi lên Tâm niệm trú; nếu dựa vào cọng tướng để quán sát, thì trư ớc tiên khởi lên Tâm niệm trú, sau cùng khởi lên Pháp niệm trú, cho nên bốn Niệm trú khởi lên theo thứ tự như vậy. Hỏi: Là trước tiên khởi lên Niệm trú duyên với bên trong, hay là trước tiên khởi lên Niệm trú duyên với bên ngoài? Nếu như vậy thì có gì sai? Nếu trước tiên khởi lên Niệm trú duyên với bên trong, thì kinh nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Tỳ kheo mới học vốn có Thi-la thanh tịnh, SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 187 645 www.daitangkinh.org ý thích đầy đủ trọn vẹn, muốn nha nh chóng đoạn trừ dục-tham-sân, nên hướng về con đường vắng vẻ hiu quạnh, đi đến nơi đặt xác chết, cố gắng giữ lấy tướng ấy, hoặc là bầm xanh, hoặc là nát rữa…” Nếu trước tiên khởi lên Niệm trú duyên với bên ngoài , thì kinh khác nói lại hiểu thế nào? Như nói: “Trước tiên trú vào thân bên trong thuận theo thân quán sát, tiếp theo trú vào thân bên ngoài…” Đáp: Nên đưa ra cách nói này: Trước tiên khởi lên Niệm trú duyên với bên trong. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì có Ngã cho nên có Ngã sở, có Ngã chấp cho nên có Ngã sở chấp, có Ngã kiến cho nên có Ngã sở kiến, có năm Ngã kiến cho nên có mười lăm Ngã sở kiến, có Ngã ngu cho nên có Ngã sở ngu, có Ngã ái cho nên có nhiều vật dụng yêu quý, vì nuôi lớn Ngã bên trong cho nê n cầu mong vật dụng cung cấp bên ngoài. Hỏi: Nếu như vậy thì kinh đã dẫn ra trước đó nên hiểu thế nào? Đáp: Đó là Niệm trú gia hạnh chứ không phải là Niệm trú căn bản. Vì sao biết như vậy? Bởi vì ngay kinh ấy nói: “Cố gắng giữ lấy tướng rồi nhanh chóng trở về nơi của mình, nhớ lại tướng đã giữ lấy trước đây. Nếu có thể nhớ lại thì t ốt, nếu không có thể nhớ lại thì tiếp tục đi đến nơi đặt xác chết, lại cố gắng giữ lấy tướng chạy nhanh về nơi của mình, rửa tay chân sạch sẽ, đi vào phòng trải chỗ ngồi mà ngồi, dùng tác ý thắng giải khiến cho tướng đã giữ lấy trước đây hiện rõ trước mắt.” Đó gọi là Niệm trú gia hạnh. Nếu lúc dùng tướng đã giữ lấy bên ngoài, đặt vào thân bên trong mà quán sát, thì mới gọi là tiến vào Niệm trú căn bản. Có người nói: Kinh ấy nói đến quả thuộc tác ý thắng giải chứ không phải là phần vị Niệm trú. Vì sao biết như vậy? Bởi vì ngay kinh ấy nói: “Lúc ấy Tỳ kheo mới học đa ït được ý về Học rồi, nếu muốn hướng về con đường vắng vẻ hiu quạnh, thì tùy theo ý muốn mà đi đến.” Trong này, Tỳ kheo mới học tức là hàng Dự lưu và hàng Nhất lai, cho nên biết kinh ấy nói đến quả thuộc tác ý thắng giải chứ không phải là phần vị Niệm trú. Như trong kinh nói: “Trú vào thân bên trong thuận theo thân quán sát, trú vào thân bên ngoài thuận t heo thân quán sát, trú vào thân bên trong-bên ngoài thuận theo thân quán sát...” Hỏi: Trong này, loại nào gọi là Thân bên trong…, loại nào gọi là Thân bên ngoài…? Đáp: Sắc do sự nối tiếp nhau c ủa mình thâu nhiếp, gọi là Thân bên trong; Sắc do sự nối tiếp nhau nơi khác, và Sắc thuộc số phi hữu 646 BỘ TỲ ĐÀM 6 tình, gọi là Thân bên ngoài. Pháp bên trong-Pháp bên ngoài, nói cũng như vậy. Thọ do sự nối tiếp nhau của mình thâu nhiếp, gọi là Thọ bên trong; Thọ do sự nối tiếp nhau nơi khác, gọi là Thọ bên ngoài. Tâm bên trong-Tâm bên ngoài, nói cũng như vậy. Có Sư khác nói: Sắc thuộc số hữu tình gọi là Thân bên trong, Sắc thuộc số phi hữu tình gọi là Thân bên ngoài; Pháp bên trong-Pháp bên ngoài, nói cũng như vậy. Tâm-Thọ nói như trước. Hiếp Tôn giả nói: “Hiện tại gọi là bên trong, quá khứ-vị lai và Vô vi gọi là bên ngoài.” Hỏi: Vì sao hiện tại gọi là bên trong, quá khứ-vị lai và Vô vi gọi là bên ngoài? Đáp: Bởi vì pháp hiện tại phần nhiều làm cho hữu tình thâu nhiếp tiếp nhận tham trước, chứ không phải là quá khứ-vị lai và Vô vi. Trong này, trú vào thân bên trong thuận theo thân quán sát, là trú vào thân bên trong quán sát về tự tướng; trú vào thân bên ngoài thuận theo thân quán sát, là trú vào tha ân bên ngoài quán sát về tự tướng; trú vào thân bên trong-bên ngoài thuận theo thân quán sát, là trú vào thân bên trong-bên ngoài quán sát về cọng tướng. Cho đến Pháp cũng như vậy. Có người nói: Trú vào thân bên trong thuận theo thân quán sát, là trú vào thân bên trong quán sát rộng ra; trú vào thân bên ngoài thuận theo thân quán sát, là trú vào tha ân bên ngoài quán sát rộng ra; trú vào thân bên trong-bên ngoài thuận theo thân quán sát, là trú vào thân bên trong-bên ngoài quán sát tóm lược. Cho đến Pháp cũng như vậy. Có người nói: Trú vào thân bên trong thuận theo thân quán sát, là đối trị về Ngã chấp; trú vào thân bên ngoài thuận theo thân quán sát, là đối trị về Ngã sở chấp; trú vào thân bên trong-bên ngoài thuận theo thân quán sát, là đối trị về Ngã chấp-Ngã sở chấp. Cho đến Pháp cũng như vậy. Như Ngã chấp-Ngã sở chấp, Ngã kiến-Ngã sở kiến nói cũng như vậy. Có người nói: Trú vào thân bên trong thuận theo thân quán sát, là đối trị về năm Ngã kiến; trú vào thân bên ngoài thuận theo thân quán sát, là đối trị về mười lăm Ngã sở kiến; trú vào thân bên trong-bên ngoài thuận theo thân quán sát, là đối trị về hai mươi loại Tát-ca-da kiến. Cho đến Pháp cũng như vậy. Như Ngã kiến-Ngã sở kiến, như vậy Ngã ngu-Ngã sở ngu nói cũng như vậy. Có người nói: Trú vào thân bên tr ong thuận theo thân quán sát, là đối trị về Ngã ái; trú vào thân bên ngoài thuận theo thân quán sát, SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 187 647 www.daitangkinh.org là đối trị về nhiều vật dụng yêu quý; trú vào thân bên trong-bên ngoài thuận theo thân quán sát, là đối trị cả hai loại ái. Cho đến Pháp cũng như vậy. Hỏi: Đến đâu thì nên nói là Th ân niệm trú đầy đủ trọn vẹn, cho đến Pháp niệm trú đầy đủ trọn vẹn? Đáp: Dựa vào hai duyên cho nên biết là đầy đủ trọn vẹn: 1. Phân biệt sở duyên. 2. Căn thiện tăng lên. Phân biệt sở duyên, đó la ø nếu lúc có thể dùng cực vi và sát-na để phân biệt về sở duyên, hoặc là chỉ dùng sát-na để phân biệt về sở duyên. Căn thiện tăng lên, đó là dựa vào phẩm Hạ sinh ra phẩm Trung, dựa vào phẩm Trung sinh ra phẩm Thượng. Đến đây thì nên biết là Niệm trú đầy đủ trọn vẹn. Có người nói: Dựa vào chuyển đổi gia hạnh cho nên biết là đầy đủ trọn vẹn, đó là Sư Du-già trước tiên phân biệt về Thân, phân biệt về Thân rồi chuyển sang Tuệ nhận hiểu về Thân; tiếp theo phân biệt về Thọ, phân biệt về Thọ rồi chuyển sang Tuệ nhận hiểu về Thọ; tiếp theo phân biệt về Tâm, phân biệt về Tâm rồi chuyển sang Tuệ nhận hiểu về Tâm, phân biệt đối với Pháp. Ví như nông phu dẫn nước tưới ruộng, thửa ruộng thứ nhất đầy rồi dẫn sang tưới cho thửa ruộng thứ hai, thửa ruộng thứ hai đầy rồi dẫn sang tưới cho thửa ruộng thứ ba, thửa ruộng thứ ba đầy rồi dẫn sang tưới cho thửa ruộng thứ tư; ở đây cũng như vậy. Có người nói: Đến lúc tướng oán hại thành tựu thì nên biết là đầy đủ trọn vẹn. Tướng oán hại có hai loại: 1. Khiến cho không vui mừng. 2. Khiến cho sinh ra tức giận. Trong này chỉ nói khiến cho không vui mừng gọi là tướng oán hại, đó là Sư Du-già phân biệt về Thân rồi liền đối với Thân không sinh ra vui mừng, mà vui mừng đối với Thọ…; phân biệt về Thọ rồi lại đối với Thọ không sinh ra vui mừng, mà vui mừng đối với Tâm…; phân biệt về Tâm rồi lại đối với Tâm không sinh ra vui mừng, mà vui mừng đối với Pháp; phân biệt về Pháp rồi thì đối với tất cả cảnh giới không sinh ra vui mừng. Nên biết lúc bấy giờ là Niệm trú đầy đủ trọn vẹn. 648 BỘ TỲ ĐÀM 6 LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt
Mở nguồn Việt