VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 187Quyển 189 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 188

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

復次有三種念住。謂聞思修所成差別。此中
有說。於佛所說十二分教。受持讀誦思量分

別名聞所成念住。依聞起思。依思起修。
依修能斷煩惱。如依金鑛出金。依金
出金剛。依金剛能壞石等堅物。脅尊者言。
於佛所說十二分教。受持讀誦思量分別。是
生得慧。依生得慧起聞所成念住。依聞起
思。依思起修。依修能斷煩惱。如依種子
生芽。依芽生莖。依莖生枝葉。依枝葉生
花菓。問此三念住何差別。有說。名則差別。
謂此名聞所成念住。乃至此名修所成念
住。有說。聞所成念住一切時依名於義轉。
謂素怛纜說有何義。毘柰耶說有何義。阿毘
達磨說有何義。鄔波拕耶說有何義。阿遮利
耶說有何義。餘書論說有何義。思所成念住
或依名。或不依名於義而轉。修所成念住
一切時離名於義轉。譬如三人俱在池浴。
初人未學浮。第二半學。第三善學。未學浮
者一切時依岸浴。半學浮者或依岸或離岸
而浴。善學浮者恒時離岸在中而浴。如第
一人聞所成亦爾。如第二人。思所成亦爾。
如第三人修所成亦爾。是謂此三念住差
別。
問此聞思修所成念住。何界有幾種。答欲界
有二。謂聞思所成非修。所以者何。欲界是
不定界非修地非離染地。作意修時便墮
思中故。色界有二。謂聞修所成非思。所以
者何。色界是定界是修地是離染地。作意思
時便墮修中故。無色界有一。謂修所成。然
修所成亦不墮界。有餘師說。欲界具有三
種。餘如前說。有說。欲色界各具三種。餘如

前說。有說。三界皆具三種。唯修所成亦不
墮界。評曰。初說者好。問此諸念住誰為誰
因。答聞為三種因。思唯思因非聞因。以彼
劣故非修因。以界別故。修唯修因非聞因。
以彼劣故非思因。以彼劣及界別故。誰為
誰果。答聞唯聞果思聞思果非修。修聞修果
非思。
問此三念住誰現前修幾。答聞所成現前時
唯修聞非思修。思所成現前時唯修思非聞
修。此中聞思剎那現前時以習修故名修。
非修未來以勢劣故。則以此故唯修自不
修他。修所成現前時能修三種。聞思自力
雖不能修未來。而由他力有未來修義。
問聞思修所成念住。佛獨覺聲聞各有幾種。
答佛具三種而修所成為勝。以自然覺及
具力無畏等功德故。獨覺亦具有三而思所
成為勝。以自思惟覺而無力無畏等功德
故。聲聞亦具三種而聞所成為勝。以從聞
他音入聖道故。如說。
我聖弟子聞杖具足斷不善法修習善法。
復有三種念住。謂言說究竟念住。思惟究竟
念住。出離究竟念住。應知此三則聞思修所
成念住。如其次第。然聞等三種念住一切皆
可名聞所成。如說。
多聞能知法多聞能離罪
多聞捨無義多聞得涅槃
一切皆可名思所成。如說。思者是業。慮者
是慧。彼所說慮則思所成。一切皆可名。修
所成如說。云何應修法。謂一切善有為法。

問何謂念住加行。云何自相種性雜緣。及
聞思修所成念住生起次第。答不淨觀持息
念界作意。是謂念住加行。則此為先入自
相種性身念住。則身念住為先入自相種
性受念住。則受念住為先入自相種性心
念住。則心念住為先入自相種性法念住。
從自相種性法念住起雜緣法念住。從雜
緣法念住起三義觀。從三義觀有聞所成
身念住。先作無常乃至無我行相緣苦諦
起次作因。乃至緣行相緣集諦起。次作道
乃至出行相緣道諦起。從此無間有聞所
成受念住心念住。各作十二行相緣三諦
起亦爾。從此無間有聞所成法念住。先作
無常乃至無我行相緣苦諦起次作因。乃至
緣行相緣集諦起次作滅。乃至離行相
緣滅諦起次作道。乃至出行相緣道諦起。
從聞所成法念住無間。有思所成身念住
作十二行相緣三諦起。從此無間有受
念住作十二行相緣三諦起。從此無間有
心念住作十二行相緣三諦起從此無間
有法念住作十六行相緣四諦起。從思所
成法念住有修所成法念住先作無常。乃
至無我行相緣苦諦起次作因。乃至緣行
相緣集諦起次作滅。乃至離行相緣滅
諦起次作道。乃至出行相緣道諦起。如是
緣四諦作十六行相法念住名為初煗。是
謂念住加行所引自相種性雜緣。及聞思修
所成念住生起次第。問何故聞思所成念住
皆初起身念住緣三諦作十二行相。後乃

起餘念住。而修所成念住初則起法念住
緣四諦作十六行相耶。答未曾得種性故。
漸次得行相故。先觀麁蘊後觀細蘊。於五
蘊中色蘊最麁。先觀彼故初起身念住。然
身受心皆三諦攝故。身念住緣三諦作十二
行相。如是聞所成身念住。引起聞所成受念
住。聞所成受念住引起聞所成心念住。聞所
成心念住引起聞所成法念住。此聞所成法
念住緣四諦作十六行相。聞所成四念住
漸圓滿已。便能引起思所成四念住。思所
成四念住漸圓滿已。復能引起修所成法念
住。此曾得種性故於一切蘊行相堅住。故
初則起法念住。先緣苦諦作四行相。乃至
後緣道諦作四行相。如契經說。如是修
直正願念住能破無明發起於明。此中說。
何名修直正願念住耶。有作是說。此中說
苦法智忍以此能破無明。則欲界見苦所
斷十隨眠發起於明則苦法智。有說。此中
說道類智忍以此能破無明。則色無色界
見道所斷十四隨眠發起於明則道類智。有
說。此中說金剛喻定以此能破無明。則非
想非非想處軟軟品煩惱發起於明則盡智。
有說。此中說一切無間道以此能破無明。
則彼所斷煩惱品發起於明則彼品解脫
道脇尊者言。此中說方便善巧所攝受善慧
名修直正願念住。以此能破無明。則三
不善根發起於明則三善根。
如薄伽梵說伽他言。
若叢網便著無愛誰能將
佛所行無邊無迹何迹引

此中佛所行者。謂四念住。問佛為得念住邊
際而般涅槃。為不得邊際而便般涅槃耶。
設爾有何過。若言得者。何故說佛所行無
邊。若不得者。何故說佛得盡智時事善究
竟。答有因緣故可言得邊際。有因緣故可
言不得邊際。謂依牽引故可言得邊際。
依受用故可言不得邊際。復次依獲得故
可言得邊際。依在身故可言不得邊際。復
次依成就故可言得邊際。依現前故可
言不得邊際。
如契經說。何謂非苾芻所行處。應言五妙
欲。是何謂是苾芻所行處。應言四念住是。
問五妙欲亦隨入念住中。何故說非所行處
耶。答依能觀者故作是說。謂若不如理觀
名非所行處。若如理觀名所行處。
如契經說。有三念住聖者應習。若有聖者
善習此時乃應御眾。云何為三。謂如來為
弟子說法時起深憐愍義利悲心告言。此
為利益此為安樂此為利益安樂。若弟子
眾恭敬屬耳住奉教心。行法隨法不越聖
教受學學處。如來於彼亦不喜慶心不踊
悅。唯住正捨正念正知。是名第一念住。若
有聖者善習此時乃應御眾。復次如來為
弟子說法時起深憐愍。乃至義利悲心告
言。此為利益此為安樂此為利益安樂。若
弟子眾不恭敬不屬耳不住奉教心。不
行法隨法違越聖教不受學學處。如來於
彼亦不恚恨心無憂慼。唯住正捨正念正
知。是名第二念住。若有聖者善習此時乃

應御眾。復次如來為弟子說法時起深憐
愍。乃至此為利益安樂。若一分弟子眾恭敬
屬耳乃至受學學處。一分弟子眾不恭敬
不屬耳乃至亦不受學學處。如來爾時於
敬受者亦不歡喜心不踊悅。於不敬受者
亦不恚恨心無憂慼。唯住正捨正念正知。
是名第三念住。若有聖者善習此時乃應
御眾。問若爾者。但應有二念住。謂於敬
受及於不敬受。云何說三種耶。答隨眾會
有三故說三種。謂有眾會一切敬受。有眾
會一切不敬受。有眾會一分敬受。一分不
敬受。是故隨彼說三念住。問若爾。便應說
七念住。謂前四及此三種。答此中三種則
入前四。以俱是前雜緣外法念住所攝故。
問佛說法時若皆敬受便應無三念住。若
有不敬受者。將無世尊於非田非器雨正
法雨。如是佛說法則為唐捐。答世尊為人
說法欲令人解。若當人不解者亦有天能
解之。如是念住有三。亦非佛唐捐說法。所
以者何。以人不解故念住有三。天能解故
不於非田非器而雨法雨。有說。佛說法時
欲令彼彼有情得阿羅漢果。彼不得阿羅
漢果而得不還果。故念住有三。亦非佛唐
捐說法。所以者何。以不得阿羅漢果故。念
住有三。以得不還果故。不唐捐說法。復次
佛說法時欲令彼彼有情得不還果。彼不
得不還果而得一來果。廣說如前。如是欲
令得一來果。預流果。順決擇分善根。順解
脫分善根順福分善根。展轉次第廣說亦爾。

復次佛說法時欲令彼彼有情得現法果。
彼不得現法果而能種當來善根故。念住
有三亦非佛唐捐說法。廣說如前。問何故
弟子敬受教時。佛不生喜。不敬受時佛不
生憂耶。答佛知有情有如是種性差別。
惡意樂者行惡。善意樂者行善。若當惡意
樂者行善可於彼生喜。善意樂者行惡可
於彼生憂。但不如是。種性別故。如知外物
種性差別。鐵鑛出鐵金鑛出金是故於銷
鍊時。從鐵鑛得鐵心不生憂。從金鑛
得金心不生喜。若當與此相違得者可生
憂喜。然無是事種性異故。世尊亦爾。知諸
有情種。性差別不生憂喜。有作是說。佛已
善斷愛恚法故。謂喜似愛憂似恚。佛於愛
恚皆已善斷。故無憂喜。復有說者。佛已善
修空為根本而作是念。誰為恭敬者。誰為
不恭敬者。唯空行聚故於眾會不生憂喜。
如契經說。有一趣道能令有情清淨。謂四
念住。乃至廣說。問云何名一趣道。為以能
超越一界故名一趣道。為以能超越一趣
故。為以能超越一生故為以能通達一
諦故。為以能趣一究竟故。名一趣道。為
以但有一道故名一趣道耶。設爾何過。若
以能超越一界故名一趣道者。則非一趣
道界有三故。若以能超越一趣故名一趣
道者。亦非一趣道趣有五故。若以能超越
一生故名一趣道者。亦非一趣道生有四
故。若以能通達一諦故名一趣道者。亦非
一趣道諦有四故。若以能趣一究竟故名

一趣道者。亦非一趣道。以究竟有二種。
一事究竟。二功用究竟故。若以但有一道
故名一趣道者。亦非一趣道以道有多種。
謂隨信行道隨法行道信勝解道見至道時解
脫道不時解脫道故。云何言有一趣道耶。
答則由前所說緣及餘緣故名一趣道。由
前所說緣者。謂以能超越一界故名一趣
道。則無色界。以超此界者。更不生三
界故。亦以能超越一趣故名一趣道。則
天趣。以超此趣者更不往五趣故。亦以
能超越一生故名一趣道。則化生。以超
此生者更不受四生故。亦以能通達一諦
故名一趣道。則道諦。以此諦從無始時來
未曾得故。及未曾通達故。亦以趣一究竟
故名一趣道。則事究竟。以修功用究竟皆
為得事究竟故。亦以但有一道故名一趣
道。則聖道。問豈不有隨信行道乃至不時
解脫道如是便有多道耶。答一切皆是趣
苦滅行故說名一道。如趣苦滅行。如是趣
有滅。世間滅。生死滅。流轉滅。生老病死滅行
說亦爾。是名由前所說緣故。名一趣道。及
餘緣故者。謂無異趣故不退還故。至不退
解脫故。至背五趣之一趣故。如說涅槃是
阿羅漢趣。由如是義名一趣道。復有說者。
能對治異道故名一趣道。謂諸外道或執
不食為道。或執隨日轉為道。或執臥灰飲
風服水茹菜噉菓裸形麁衣臥不平等各以
為道。佛為對治彼異道故說一趣道。此意
義言。彼種種道皆非真道但是惡邪妄道。是

不善士所習近道。非諸善士所習近道。所以
者何。真道唯一。謂四念住。或有說者。能趣
一解脫宮門故名一趣道。此中應引嗢底
迦經所說喻。如彼說。佛告嗢底迦。如國邊
城。其牆堅厚却敵樓櫓埤堄寮窓並皆嚴備。
唯有一門委一人捉。其人聰慧多聞善習應
入者聽不應者止。彼每巡城察之乃至不
見獸往來處。況餘門耶。嗢底迦當知。彼守
門者。雖不知日日有爾所有情入城出
城。然其定知諸有入出皆由此門不從餘
門。如是如來雖不作意知爾所有情已般
涅槃。爾所有情當般涅槃。然其定知諸有情
類已般涅槃未般涅槃。皆由此道不依餘
道。是故以能趣一解脫宮門故名一趣道。
問正斷神足根力覺支道支為是一趣道不。
若是者。何故彼經唯說念住名一趣道。不
說餘耶。若非者何故唯念住是一趣道非
餘耶。答應說彼亦是一趣道。問若爾者何
故彼經而不說耶。答應說而不說者。當知
此義有餘。有說。若說念住當知亦已說正
斷等。有說。念住是一趣亦是道。正斷等是一
趣而非道。以非一切皆是慧故。有說。念住
從初業地乃至盡無生智作用恒勝。正斷
等不爾。有說。念住能分別諸法自相共相
能建立諸法自相共相。能害事愚及所緣愚。
於諸法中不增減轉。正斷等不爾。有說。念
住如有目者能將導所餘如盲。菩提分法
趣涅槃宮而無異趣。如明眼者引諸盲人
令隨正路不行非道。念住亦爾。是故。彼經

唯說念住名一趣道而不說餘。
如契經說。有一趣道能令有情清淨超滅
憂苦。乃至能證隨正理法。謂聖正三摩地及
彼因緣彼眾具。問何故世尊或說般若為一
趣道。或說等持為一趣道耶。答隨所化有
情所未具者而說故。謂所化有情或有闕
奢摩他。或有闕毘鉢舍那。若闕奢摩他者
為說等持為一趣道。若闕毘鉢舍那者。為
說般若為一趣道。般若者則前所說念住。
以念住慧為性故。
如契經說。若有能辦四念住則能辦正
如理。若能辦正如理則能辦聖道。若能
辦聖道則能辦甘露。若能辦甘露則
能解脫生老病死愁歎憂苦諸熱惱法。問念
住正如理聖道。甘露何差別。答名則差別謂
名念住乃至名甘露。有說。念住則顯念
住。正如理顯正斷神足根力覺支。聖道顯道
支甘露顯彼果。有說。念住顯所緣念住。正
如理顯相雜念住。聖道顯自性念住。甘露
顯彼果。有說。念住顯聞所成念住。正如理
顯思所成念住。聖道顯修所成念住。甘露
顯彼果。有說。念住顯言說究竟念住。正如
理顯思惟究竟念住。聖道顯出離究竟念住。
甘露顯彼果。有說。念住顯見道。正如理顯
修道。聖道顯無學道。見地修地無學地說亦
爾。甘露顯彼果。有說。念住顯未知當知根
正如理顯已知根。聖道顯具知根。甘露顯
彼果。是謂念住正如理聖道甘露差別。
若修身念住彼受耶。乃至廣說。修有四種。

謂得修習修對治修除遣修。得修習修謂一
切善有為法。對治修除遣修謂一切有漏法。
西方師言。修有六種。謂前四及防護修分別
修。防護修者。謂修根如說。如是六根善調
善護善守善防能感當來樂受異熟。分別修
者。謂修身如說此身髮毛爪齒。乃至廣說。
迦濕彌羅國諸師言。此後二修則前對治除
遣修攝四修義如智蘊等處廣說。此中依
二修作論。謂得修習修。依此二修於諸位
中修念住有差別。謂初煗位中緣三諦法。
念住現在修。未來修四。一行相現在修。未來
修四。同分修非不同分。緣滅諦法念住現
在修則此未來修。一行相現在修。未來修
四。亦同分修非不同分。非初蘊滅觀。能修
緣蘊道。故增長煗緣三諦。四念住隨一現在
修。未來修四。同分不同分修。一行相現在修。
未來修十六。緣滅諦法念住現在修。未來修
四。一行相現在修。未來修十六。問何故初煗
唯同分修非不同分。增長煗同分不同分修
耶。答初煗是未曾得種性。初緣諦起行相勢
力劣故唯同分修非不同分。增長煗是曾得
種性。已緣諦起行相勢力強勝故能同分不同
分修。初頂位中緣四諦法念住現在修。未來
修四。同分不同分修。一行相現在修。未來修
十六。增長頂位緣三諦四念住隨一現在修。
未來修四。同分不同分修。一行相現在修。未
來修十六。緣滅諦法念住現在修。未來修四。
一行相現在修。未來修十六。初忍及增長位
俱緣四諦法念住現在修。未來修四。同分不

同分修。一行相現在修。未來修十六。問何故
初忍及增長位皆唯法念住現在修耶。答以
忍近見道故與見道相似。如見道中唯法
念住現在修忍亦爾。尊者妙音說曰。順決擇
分善根二在欲界。謂煗頂。二在色界謂忍世
第一法。若依彼說初忍緣三諦法念住現
在修。未來修四。一行相現在修。未來修四同
分修非不同分。緣滅諦法念住現在修則
此未來修非初蘊滅觀能修緣蘊道。故一行
相現在修。未來修四。同分修非不同分。增長
忍緣三諦四念住隨一現在修。未來修四。同
分不同分修。一行相現在修。未來修十六。緣
滅諦法念住現在修。未來修四。一行相現在
修。未來修十六。問何故初忍唯同分修。增長
忍亦不同分修耶。答如前廣說。評曰。前說者
好然順決擇分善根順見道故。初起位中現
在皆唯修法念住。於增長位有四念住隨
一現前。從初忍位近見道故於一切時現
在唯修法念住。世第一法位亦唯法念住現
在修。未來修四。一行相現在修。未來修四。同
分修非不同分。問世第一法亦是曾得種性
已緣諦起行相。何故唯同分。修非不同分
耶。答世第一法是極隣近見道善根最與見
道相似。如見道中唯同分修非不同分。世
第一法亦爾。有說。世第一法是見道前行修
治道者故。如見道唯同分修。有說。世第一
法唯有爾所行相可修。如裸形者無衣可
奪。應知增上忍亦爾。餘忍位中隨減所緣
則不修彼念住行相。如應當知。

Việt dịch

QUYỂN 188

LUẬN VỀ NIỆM TRÚ (Phần 2)


biệt.
Lại nữa, có ba loại Niệm trú, đó là do Văn-Tư-Tu mà thành sai

Trong này, có người nói: Đối với mười hai phần giáo mà Đức Phật
đã nói ra, thọ trì-đọc tụng-suy nghĩ -phân biệt, gọi là Niệm trú do Văn
mà thành, dựa vào Văn khởi lên Tư, dựa vào Tư khởi lên Tu, dựa vào
Tu có thể đoạn phiền não; như dựa vào quặng vàng c hế ra vàng, dựa
vào vàng chế ra kim cương, dựa vào kim cương có thể cắt đứt vật cứng
như sắt-đá…
Hiếp Tôn giả nói: “Đối với mười hai phần giáo mà Đức Phật đã
nói ra, thọ trì-đọc tụng-suy nghĩ-phân biệt, là Tuệ thuộc sinh đắc, dựa
vào Tuệ thuộc sinh đắc khởi lên Ni ệm trú do Văn mà thành, dựa vào
Văn khởi lên Tư, dựa vào Tư khởi lên Tu, dựa vào Tu có thể đoạn phiền
não; như dựa vào hạt giống sinh ra mầm non, dựa vào mầm non sinh ra
thân cây, dựa vào thân cây sinh ra cành-lá, dựa vào cành lá sinh ra hoa
quả.”
Hỏi: Ba Niệm trú này có gì sai biệt?
Đáp: Có người nói: Tên gọi tức la ø sai biệt, đó là loại này gọi là
Niệm trí do Văn mà thành, cho đến loại này gọi là Niệm trú do Tu mà
thành.
Có người nói: Niệm trú do Văn mà thành ở tất cả mọi lúc dựa vào
tên gọi mà chuyển đối với nghĩa, nghĩa là Tố-đát-lãm nói có nghĩa gì,
Tỳ-nại-da nói có nghĩa gì, A-tỳ-đạt-ma nói có nghĩa gì, Ô-ba-đà-da nói
có nghĩa gì, A-già-lợi-da nói có nghĩ a gì, sách luận khác nói có nghĩa
gì? Niệm trú do Tư mà thành hoặc là dựa vào tên gọi, hoặc là không
dựa vào tên gọi mà chuyển đối với nghĩa. Niệm trú do Tu mà thành ở
tất cả mọi lúc lìa tên gọi mà chuyển đối với nghĩa; ví như ba người cùng
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 188 649  
www.daitangkinh.org  
tắm gội ở hồ nước, người thứ nhất chưa học cách bơi, người thứ hai học
chưa thành thạo, người thứ ba học đã thành thạo. Người chưa học cách
bơi thì tất cả mọi lúc dựa vào ven bờ mà tắm gội; người học chưa thành
thạo thì có lúc dựa vào ven bờ, có lúc rời xa bờ mà tắm gội; người học
đã thành thạo thì luôn luôn rời xa bờ, ở giữa hồ nước mà tắm gội. Như
người thứ nhất, do Văn mà thành cũng như vậy; như người thứ hai, do
Tư mà thành cũng như vậy; như người thứ ba, do Tu mà thành cũng như
vậy. Đó gọi là sự sai biệt của ba loại Niệm trú này.
Hỏi: Niệm trú do Văn-Tư-Tu mà th ành này, cõi nào có mấy
loại?
Đáp: Cõi Dục có hai loại, đó là do Văn-Tư mà thành chứ   không
phải là do Tu. Nguyên cớ thế nào? Bởi  vì cõi Dục là cõi không nhất
định, không phải là địa của tu, không phải là địa của lìa nhiễm, cho nên
lúc tác ý về Tu thì rơi vào trong Tư. Cõi Sắc có hai loại, đó là do Văn-Tu
mà thành chứ không phải là do Tư. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì cõi Sắc
là cõi nhất định, là địa của tu, là địa của lìa nhiễm, cho nên lúc tác ý về
Tư thì rơi vào trong Tu. Cõi Vô sắc có một loại, đó là do Tu mà thành,
nhưng do Tu mà thành cũng không rơi vào cõi.
Có Sư khác nói: Cõi Dục có đủ ba loại, còn lại nói như trước.
Có người nói: Cõi Dục-Sắc đều có đủ ba loại, còn lại nói như
trước.
Có người nói: Ba cõi đều có đủ ba loại, chỉ riêng do Tu mà thành
cũng không rơi vào cõi.
Lời bình: Cách nói thứ nhất là hợp lý.
Hỏi: Các Niệm trú này, loại nào làm nhân của loại nào?
Đáp: Văn làm nhân của ba loại. Tư chỉ làm nhân của Tư chứ
không phải là nhân của Văn, bởi vì kém hơn loại ấy; không phải là nhân
của Tu, bởi vì cõi khác nhau. Tu chỉ làm nhân của Tu chứ không phải là
nhân của Văn, bởi vì kém hơn loại ấy; không phải là nhân của Tư, bởi
vì kém hơn loại ấy và cõi khác nhau.
Hỏi: Loại nào làm quả của loại nào?
Đáp: Văn chỉ là quả của Văn, Tư là quả của Văn-Tư chứ không
phải là Tu, Tu là quả của Văn-Tu chứ không phải là Tư.
Hỏi: Ba Niệm trú này, loại nào hi ện rõ trước mắt thì tu mấy
loại?
Đáp: Lúc do Văn mà thành hiện rõ trước mắt thì chỉ tu về Văn chứ
không phải là Tư-Tu, lúc do Tư mà thành hiện rõ trước mắt thì chỉ tu về
Tư chứ không phải là Văn-Tu.
650 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Trong này, lúc sát-na thuộc Văn-Tư  hiện rõ trước mắt, bởi vì tu
luyện tập cho nên gọi là tu; không phải là tu thuộc vị lai, bởi vì thế lực
yếu kém. Bởi vì như vậy cho nên chỉ tu về loại của mình chứ không tu
về loại khác. Lúc do Tu mà thành hiện rõ trước mắt, có thể tu cả ba loại.
Lực của Văn-Tư tuy không có thể tu thuộc vị lai, mà nhờ vào lực khác
cho nên có nghĩa của tu thuộc vị lai.
Hỏi: Niệm trú do Văn-Tư-Tu mà thành, Phật-Độc giác và Thanh
văn đều có mấy loại?
Đáp: Phật có đủ ba loại nhưng do Tu mà thành là hơn hẳn, bởi vì
tự nhiên Giác ngộ và đầy đủ các công đức Lực-Vô úy… Độc giác cũng
có đủ ba loại nhưng do Tư mà thành là hơn hẳn, bởi vì tự mình tư duy
Giác ngộ mà không có các công đức Lực-Vô úy… Thanh văn cũng có
đủ ba loại nhưng do Văn mà thành là hơn hẳn, bởi vì thuận theo nghe
âm thanh của người khác mà tiến vào Thánh đạo. Như nói: “Đệ tử bậc
Thánh của Ta, đầy đủ đa văn, đoạn pháp bất thiện, tu tập pháp thiện.”
Lại có ba loại Niệm trú, đó là Niệm trú thuộc ngôn thuyết cứu
cánh, Niệm trú thuộc tư duy cứu cánh, Niệm trú thuộc xuất ly cứu cánh.
Nên biết ba loại này tức là Ni ệm trú do Văn-Tư-Tu mà thành, như thứ
tự ấy. Nhưng ba loại Niệm trú như Văn…, tất cả đều có thể gọi là do Văn
mà thành, như nói:
“Đa văn có thể nhận biết pháp,
Đa văn có thể lìa tội lỗi,
Đa văn rời bỏ pháp vô nghĩa,
Đa văn đạt được pháp Niết-bàn.”
Tất cả đều có thể gọi là do Tư mà thành, như nói: “Tư ấy là nghiệp,
Lự ấy là Tuệ.” Lự đã nói đến ấy tức là do Tư mà thành. Tất cả đều có thể
gọi là do Tu mà thành, như nói:“Pháp cần phải tu, đó là tất cả pháp thiện
hữu vi.”
Hỏi: Thế nào gọi là Niệm trú gia hạnh, thế nào là tự tướng-chủng
tánh duyên xen tạp, và Niệm trú do Văn-Tư-Tu mà thành sinh khởi theo
thứ tự?
Đáp: Quán Bất tịnh-Trì tức ni ệm-Tác ý về Giới, đó gọi là Niệm
trú gia hạnh.
Ngay pháp này làm đầu tiên tiến  vào tự tướng-chủng tánh của
Thân niệm trú, ngay Thân niệm trú làm đầu tiên tiến vào tự tướng-
chủng tánh của Thọ niệm trú, ngay Thọ niệm trú làm đầu tiên tiến vào
tự tướng-chủng tánh của Tâm niệm trú, ngay Tâm niệm trú làm đầu
tiên tiến vào tự tướng-chủng tánh của Pháp niệm trú.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 188 651  
www.daitangkinh.org  
Từ tự tướng-chủng tánh của Pha ùp niệm trú khởi lên Pháp niệm
trú duyên xen tạp, từ Pháp niệm trú duyên xen tạp khởi lên ba Nghĩa
quán.
Từ ba Nghĩa quán có Thân niệm trú do Văn mà thành, đầu tiên
khởi lên duyên với Khổ đế làm ha ønh tướng Vô thường cho đến hành
tướng Vô ngã, tiếp theo khởi l ên duyên với Tập đế làm hành tướng
Nhân cho đến hành tướng Duyên, tiếp theo khởi lên duyên với Đạo đế
làm hành tướng Đạo cho đến hành tướng Xuất.
Từ đây không gián đoạn có Thọ niệm trú-Tâm niệm trú do Văn
mà thành, đều khởi lên duyên với ba Đế làm mười hai hành tướng cũng
như vậy.
Từ đây không gián đoạn có Pháp niệm trú do Văn mà thành, đầu
tiên khởi lên duyên với Khổ đế làm  hành tướng Vô thường cho đến
hành tướng Vô ngã, tiếp theo khởi lên duyên với Tập đế làm hành
tướng Nhân cho đến hành tướng Duyên, tiếp theo khởi lên duyên với
Diệt đế làm hành tướng Diệt cho đến hành tướng Ly, tiếp theo khởi lên
duyên với Đạo đế làm hành tướng Đạo cho đến hành tướng Xuất.
Từ Pháp niệm trú do Văn mà thành không gián đoạn, có Thân
niệm trú do Tư mà thành khởi lên duyên với ba Đế làm mười hai hành
tướng. Từ đây không gián đoạn có Thọ niệm trú khởi lên duyên với ba
Đế làm mười hai hành tướng. Từ đây không gián đoạn có Tâm niệm
trú khởi lên duyên với ba Đế la øm mười hai hành tướng. Từ đây không
gián đoạn có Pháp niệm trú khởi lên duyên với bốn Đế làm mười sáu
hành tướng.
Từ Pháp niệm trú do Tư mà tha ønh, có Pháp niệm trú do Tu mà
thành, đầu tiên khởi lên duyên với  Khổ đế làm hành tướng Vô thường
cho đến hành tướng Vô ngã, tiếp theo khởi lên duyên với Tập đế làm
hành tướng Nhân cho đến hành tướng Duyên, tiếp theo khởi lên duyên
với Diệt đế làm hành tướng Diệt cho đến hành tướng Ly, tiếp theo khởi
lên duyên với Đạo đế làm hành tướng Đạo cho đến hành tướng Xuất.
Như vậy, Pháp niệm trú duyên với bốn Đế làm mười sáu hành
tướng, gọi là Nhẫn ban đầu. Đó gọi  là do Niệm trú gia hạnh đã dẫn
dắt tự tướng-chủng tánh duyên xen tạp, và Niệm trú do Văn-Tư-Tu mà
thành sinh khởi theo thứ tự.
Hỏi: Vì sao Niệm trú do Văn-Tư đều đầu tiên khởi lên Thân niệm
trú duyên với ba Đế làm mười hai hành tướng, sau mới khởi lên Niệm
trú khác, nhưng Niệm trú do Tu mà thành thì đầu tiên đã khởi lên Pháp
niệm trú duyên với bốn Đế làm mười sáu hành tướng?
652 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Đáp: Bởi vì chủng tánh chưa từng đạt được, bởi vì hành tướng từng
bước đạt được, cho nên đầu tiên quán sát về uẩn thô thiển, sau đó quán
sát về uẩn vi tế. Ở trong năm uẩn thì Sắc uẩn là thô thiển nhất, bởi vì
đầu tiên quán sát về uẩn ấy, cho nên đầu tiên khởi lên Thân niệm trú.
Nhưng Thân-Thọ-Tâm đều thâu nhiếp ba Đế, cho nên Thân niệm trú
duyên với ba Đế làm mười hai hành tướng. Như vậy, Thân niệm trú do
Văn mà thành dẫn dắt khởi lên Th ọ niệm trú do Văn mà thành, Thọ
niệm trú do Văn mà thành dẫn dắt khởi lên Tâm niệm trú do Văn mà
thành, Tâm niệm trú do Văn mà thành dẫn dắt khởi lên Pháp niệm trú
do Văn mà thành. Pháp niệm trú do  Văn mà thành này duyên với bốn
Đế làm mười sáu hành tướng. Bốn ni ệm trú do Văn mà thành dần dần
đầy đủ trọn vẹn rồi, thì có thể dẫn dắt khởi lên bốn niệm trú do Tư mà
thành. Bốn niệm trú do Tư mà thành dần dần đầy đủ trọn vẹn rồi, lại có
thể dẫn dắt khởi lên Pháp niệm trú do Tu mà thành. Bởi vì chủng tánh
này chưa từng đạt được, hành tướng tồn tại vững chắc đối với tất cả các
uẩn, cho nên đầu tiên đã khởi lên Pháp niệm trú, trước phải duyên với
Khổ đế làm bốn hành tướng, cho đến sau đó duyên với Đạo đế làm bốn
hành tướng.
Như trong kinh nói: “Như vậy, tu chân chánh nguyện Niệm trú, có
thể phá tan Vô minh, phát khởi đối với Minh.”
Hỏi: Trong này nói pháp nào gọi là tu chân chánh nguyện  Niệm
trú?
Đáp: Có người đưa ra cách nói này: Trong này nói đến Khổ pháp
trí nhẫn, bởi vì pháp này có thể phá tan Vô minh, tức là mười tùy miên
do kiến Khổ mà đoạn của cõi Dục; phát khởi đối với Minh, tức là Khổ
pháp trí.
Có người nói: Trong này nói đến Đa ïo loại trí nhẫn, bởi vì pháp
này có thể phá tan Vô minh, tức là mười bốn tùy miên do kiến Đạo mà
đoạn của cõi Sắc-Vô sắc; phát khởi đối với Minh, tức là Đạo loại trí.
Có người nói: Trong này nói đến Định Kim cang dụ, bởi vì pháp
này có thể phá tan Vô minh, tức la ø phiền não thuộc phẩm Hạ Hạ của
Phi tưởng phi phi tưởng xứ; phát khởi đối với Minh, tức là Tận trí.
Có người nói: Trong này nói tất cả đạo vô gián, bởi vì pháp này có
thể phá tan Vô minh, tức là phẩm ph iền não do đạo ấy mà đoạn; phát
khởi đối với Minh, tức là đạo giải thoát thuộc phẩm ấy.
Hiếp Tôn giả nói: “Trong này nói đến Tuệ thiện do phương tiện
thiện xảo mà thâu nhiếp tiếp nhận, gọi là tu chân chánh nguyện Niệm
trú, bởi vì pháp này có thể phá tan Vô minh, tức là ba căn bất thiện; phát
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 188 653  
www.daitangkinh.org  
khởi đối với Minh, tức là ba căn thiện.”
Như Đức Thế Tôn nói bài tụng rằng:
“Nếu mạng lưới dày thì vướng mắc,
Không có Ái người nào giữ được,
Sở hành của Phật là vô biên,
Không dấu tích-dấu nào dẫn lối?”
Trong này, sở hành của Phật, đó là bốn Niệm trú.
Hỏi: Đức Phật là đạt được giới  hạn (biên tế) của Niệm trú mà
nhập Niết-bàn, hay là không đạt được giới hạn của Niệm trú mà đã
nhập Niết-bàn? Giả sử như vậy thì có gì sai? Nếu nói là đạt được, thì vì
sao nói sở hành của Phật là vô biên? Nếu không đạt được, thì vì sao nói
lúc Đức Phật đạt được Tận trí thì việc làm viên mãn cứu cánh?
Đáp: Có nhân duyên cho nên có thể nói là đạt được giới hạn, có
nhân duyên cho nên có thể nói là không đạt được giới hạn. Đó là dựa
vào dẫn dắt cho nên có thể nói là đạt được giới hạn, dựa vào thọ dụng
cho nên có thể nói là không đạt được giới hạn.
Lại nữa, dựa vào đạt được cho nên có thể nói là đạt được giới hạn,
dựa vào thân tướng cho nên có thể nói là không đạt được giới hạn.
Lại nữa, dựa vào thành tựu cho nên có thể nói là đạt được giới
hạn, dựa vào hiện tiền cho nên có thể nói là không đạt được giới hạn.
Như trong kinh nói: “Thế nào gọi là không phải nơi thực hành của
Tỳ kheo? Nên nói chính là năm dục tuyệt vời (Diệu dục). Thế nào gọi
là nơi thực hành của Tỳ kheo? Nên nói chính là bốn Niệm trú.”
Hỏi: Năm dục tuyệt vời cũng thuận theo đưa vào trong Niệm trú,
vì sao nói không phải là nơi thực hành?
Đáp: Dựa vào người chủ động quán sát, cho nên đưa ra cách nói
này. Đó là nếu quán sát không như lý thì gọi là không phải nơi thực
hành, nếu quán sát như lý thì gọi là nơi thực hành.
Như trong kinh nói: “Có ba loại Niệm trú, Thánh giả nên luyện
tập. Nếu có Thánh giả khéo léo luyện tập, thì lúc này mới thích hợp để
điều khiển mọi người.
Thế nào là ba loại? Đó là lúc Như Lai thuyết pháp cho đệ tử, khởi
lòng thương xót sâu sắc, tâm Bi hợp với  lợi ích mà nói cho biết rằng:
Đây là lợi ích, đây là an lạc, đây là lợi ích an lạc. Nếu chúng đệ tử cung
kính, tập trung lắng nghe, tr ú trong tâm vâng theo l ời dạy, thực hành
giáo pháp-tùy thuận giáo pháp, không vượt bỏ Thánh giáo, tiếp nhận
học hỏi các Học xứ, thì Như Lai đối với chúng ấy cũng không vui mừng,
tâm không hớn hở, chỉ an trú trong Ch ánh xả-Chánh niệm-Chánh tri.
654 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Đó gọi là Niệm trú thứ nhất. Nếu có Thánh giả khéo léo luyện tập, thì
lúc này mới thích hợp để điều khiển mọi người.
Lại nữa, lúc Như Lai thuyết pháp cho đệ tử, khởi lòng thương xót
sâu sắc, tâm Bi hợp với lợi ích mà nói cho biết rằng: Đây là lợi ích, đây
là an lạc, đây là lợi ích an lạc. Nếu chúng đệ tử không cung kính, không
tập trung lắng nghe, không trú trong tâm vâng theo lời dạy, không thực
hành giáo pháp-tùy thuận giáo pha ùp, vượt bỏ Thánh giáo, không tiếp
nhận học hỏi các Học xứ, thì Như Lai đối với chúng ấy cũng không tức
giận, tâm không buồn phiền, chỉ an trú trong Chánh xả-Chánh niệm-
Chánh tri. Đó gọi là Niệm trú thứ hai. Nếu có Thánh giả khéo léo luyện
tập, thì lúc này mới thích hợp để điều khiển mọi người.
Lại nữa, lúc Như Lai thuyết pháp cho đệ tử, khởi lòng thương xót
sâu sắc, tâm Bi hợp với lợi ích mà nói cho biết rằng: Đây là lợi ích, đây
là an lạc, đây là lợi ích an la ïc. Nếu một phần chúng đệ tử cung kính,
tập trung lắng nghe, cho đến tiếp nhận học hỏi các Học xứ; một phần
chúng đệ tử không cung kính, không tập trung lắng nghe, cho đến cũng
không tiếp nhận học hỏi các Học xứ. Lúc bấy giờ Như Lai đối với người
cung kính tiếp nhận, cũng không vui mừng, tâm không hớn hở;   đối
với người không cung kính tiếp nhận, c ũng không tức giận, tâm không
buồn phiền, chỉ an trú trong Chánh xả-Chánh niệm-Chánh tri. Đó gọi là
Niệm trú thứ ba. Nếu có Thánh giả khéo léo luyện tập, thì lúc này mới
thích hợp để điều khiển mọi người.”
Hỏi: Nếu như vậy thì chỉ cần có hai loại Niệm trú, đó là đối với
người cung kính tiếp nhận và đối với người không cung kính tiếp nhận,
vì sao phải nói đến ba loại?
Đáp: Bởi vì thuận theo chúng hội có ba loại, cho nên nói đến ba
loại. Đó là có chúng hội mà tất  cả đều cung kính tiếp nhận, có chúng
hội mà tất cả đều không cung kính tiếp nhận, có chúng hội thì một phần
cung kính tiếp nhận và một phần không cung kính tiếp nhận, vì thế cho
nên thuận theo điều ấy mà nói đến ba loại Niệm trú.
Hỏi: Nếu như vậy thì phải nói đến bảy loại Niệm trú, đó là bốn
loại trước đây và ba loại này?
Đáp: Trong này, ba loại tức là đưa vào trong bốn lo ại trước đây,
bởi vì đều là do Pháp niệm trú bên ngoài duyên xen tạp trước đây thâu
nhiếp.
Hỏi: Lúc Đức Phật thuyết pháp, nếu tất cả đều cung kính tiếp
nhận, thì lẽ ra không có ba loạ i Niệm trú; nếu có người không cung
kính tiếp nhận, thì Đức Thế Tôn sẽ không rưới làn mưa Chánh pháp  ở
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 188 655  
www.daitangkinh.org  
nơi không phải là ruộng đất, không phải là đồ đựng. Như vậy, Đức Phật
thuyết pháp sẽ trở thành uổng phí?
Đáp: Đức Thế Tôn thuyết pháp cho mọi người, muốn làm cho mọi
người hiểu biết; nếu như mọi người không hiểu biết, thì cũng có chư
Thiên có thể hiểu biết. Như vậy Ni ệm trú có ba loại, cũng không phải
là Đức Phật thuyết pháp uổng phí. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì mọi người
không hiểu biết, cho nên Niệm trú có ba loại; bởi vì chư Thiên có thể
hiểu biết, cho nên không phải ở nơi không phải là ruộng đất, không phải
là đồ đựng mà rưới làn mưa Chánh pháp.
Có người nói: Lúc Đức Phật thuyết pháp thì muốn làm cho tất cả
hữu tình đạt được quả A-la-hán, h ọ không đạt được quả A-la-hán mà
đạt được quả Bất hoàn, cho nên Niệm trú có ba loại, cũng không phải
là Đức Phật thuyết pháp uổng phí. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì không đạt
được quả A-la-hán, cho nên Niệm trú có ba loại; bởi vì đạt được quả Bất
hoàn, cho nên không phải là thuyết pháp uổng phí.
Lại nữa, lúc Đức Phật thuyết pháp thì muốn làm cho tất cả hữu tình
đạt được quả Bất hoàn, họ không đạt  được quả Bất hoàn mà đạt được
quả Nhất lai, nói rộng ra như tr ước. Như vậy muốn làm cho đạt được
quả Nhất lai, quả Dự lưu, căn thiện  thuận phần Quyết trạch, căn thiện
thuận phần Giải thoát, căn thiện thuận phần Phước, lần lượt chuyển tiếp
theo thứ tự nói rộng ra cũng như vậy.
Lại nữa, lúc Đức Phật thuyết pháp thì muốn làm cho tất cả hữu
tình đạt được quả trong pháp hiện tại, họ không đạt được quả trong pháp
hiện tại mà có thể gieo trồng căn thiện cho tương lai, cho nên Niệm trú
có ba loại, cũng không phải là Đức Phật thuyết pháp uổng phí, nói rộng
ra như trước.
Hỏi: Vì sao lúc đệ tử cung kính tiếp nhận, Đức Phật không sinh
lòng vui mừng; lúc đệ tử không cung kính tiếp nhận, Đức Phật không
sinh lòng buồn phiền?
Đáp: Đức Phật biết rõ hữu tình có chủng tánh sai biệt như vậy,
người ý thích xấu ác thì làm điều xấu ác, người ý thích tốt đẹp thì làm
điều tốt đẹp. Nếu như người ý thích xấu ác mà làm điều tốt đẹp thì nên
sinh lòng vui mừng đối với họ, người ý thích tốt đẹp mà làm điều xấu
ác thì nên sinh lòng buồn phiền đối với họ, nhưng mà không phải như
vậy, bởi vì chủng tánh khác biệt. Như biết rõ chủng tánh sai biệt của
mọi vật bên ngoài, quặng sắt thì sản xuất ra sắt, quặng vàng thì sản xuất
ra vàng, vì thế cho nên lúc nấu chảy, từ quặng sắt có được sắt mà tâm
không sinh buồn phiền, từ quặng vàng có được vàng mà tâm không sinh
656 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
vui mừng. Nếu như có được trái ngược với điều này thì có thể sinh lòng
buồn phiền-vui mừng, nhưng mà không có điều này, bởi vì chủng tánh
khác nhau. Đức Thế Tôn cũng như vậy, biết rõ các chủng tánh sai biệt
của hữu tình, cho nên không sinh lòng buồn phiền-vui mừng.
Có người đưa ra cách nói này: Bởi vì Đức Phật đã khéo đoạn các
pháp yêu-ghét. Đó là vui mừng tựa như yêu, buồn phiền tựa như ghét,
Đức Phật đối với yêu-ghét đều đã khéo đoạn, cho nên không có buồn
phiền-vui mừng.
Lại có người nói: Đức Phật đã khéo tu pháp Không làm căn bản
mà dấy lên nghĩ rằng: Ai là người cung kính, ai là người không cung
kính, chỉ là tập hợp của hành trống rỗng? Vì thế đối với chúng hội
không sinh lòng buồn phiền-vui mừng.
Như trong kinh nói: “Có một đạo hướng về, có thể làm cho hữu
tình thanh tịnh, đó là bốn Niệm trú…”
Hỏi: Vì sao gọi là một đạo hướng về, là bởi vì có thể vượt lên trên
một cõi cho nên gọi là một đạo hướng về, là bởi vì có thể vượt lên trên
một nẽo cho nên gọi là một đạo hướng về, là bởi vì có thể vượt lên trên
một sinh loại cho nên gọi là một đa ïo hướng về, là bởi vì có thể thông
đạt một Đế cho nên gọi là một đạo hướng về, là bởi vì có thể hướng
đến một nơi cuối cùng cho nên gọi là một đạo hướng về, hay là bởi vì
chỉ có một đạo cho nên gọi là một đạo hướng về? Giả sử như vậy thì có
gì sai? Nếu bởi vì có thể vượt lên trên một cõi cho nên gọi là một đạo
hướng về, thì không phải là một đạo hướng về, bởi vì có ba cõi? Nếu
bởi vì có thể vượt lên trên một nẽo cho nên gọi là một đạo hướng về, thì
cũng không phải là một đạo hướng về, bởi vì có năm nẽo? Nếu bởi vì
có thể vượt lên trên một sinh loại cho nên gọi là một đạo hướng về, thì
cũng không phải là một đạo hướng về, bởi vì có bốn sinh loại? Nếu bởi
vì có thể thông đạt một Đế c ho nên gọi là một đạo hướng về, thì cũng
không phải là một đạo hướng về, bởi vì có bốn Đế? Nếu bởi vì có thể
hướng đến một nơi cuối cùng cho nên gọi là một đạo hướng về, thì cũng
không phải là một đạo hướng về, bởi vì nơ i cuối cùng có hai loại, một
là việc làm đến nơi cuối cùng, hai là công dụng đến nơi cuối cùng? Nếu
bởi vì chỉ có một đạo cho nên gọi là một đạo hướng về, thì cũng không
phải là một đạo hướng về, bởi vì đạo c ó nhiều loại, đó là đạo của Tùy
tín hành, đạo của Tùy pháp hành, đạo của Tín thắng giải, đạo của Kiến
chí, đạo của Thời giải thoát, đạo của  Bất thời giải thoát? Vì sao nói là
có một đạo hướng về?
Đáp: Tức là dựa vào duyên mà trước đây đã nói và duyên  khác,
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 188 657  
www.daitangkinh.org  
cho nên gọi là một đạo hướng về.
Dựa vào duyên mà trước đây đã nói, nghĩa là bởi vì có thể vượt
lên trên một cõi cho nên gọi là một đạo hướng về, t ức là cõi Vô sắc;
bởi vì vượt lên trên cõi này, cho nên không còn sinh vào ba cõi. Cũng
bởi vì có thể vượt lên trên một nẽo cho nên gọi là một đạo hướng về,
tức là nẽo Trời; bởi vì vượt lên trên nẽo này, cho nên không còn đi đến
năm nẽo. Cũng bởi vì có thể vượt lên trên một sinh loại cho nên gọi là
một đạo hướng về, tức là Hóa sinh; bởi  vì vượt lên trên sinh loại này,
cho nên không còn nhận chịu bốn sinh loại. Cũng bởi vì có thể thông
đạt một Đế cho nên gọi là một đạo hướng về, tức là Đạo đế; bởi vì Đế
này từ vô thỉ cho đến ngày nay chưa từng đạt được, và bởi vì chưa từng
thông đạt. Cũng bởi vì có thể hướng đến một nơi cuối cùng cho nên gọi
là một đạo hướng về, tức là việc làm đến nơi cuối cùng; bởi vì tu tập
công dụng đến nơi cuối cùng, đều là vì đạt được việc làm đến nơi cuối
cùng. Cũng bởi vì chỉ có một đạo cho nên gọi là một đạo hướng về, tức
là Thánh đạo.
Hỏi: Lẽ nào không phải là có đa ïo của Tùy tín hành cho đến đạo
của Bất thời giải thoát, như vậy thì sẽ có nhiều đạo?
Đáp: Bởi vì tất cả đều là hướng đến hành diệt Khổ, cho nên gọi là
một đạo. Như hướng đến hành diệ t Khổ, như vậy hướng đến hành diệt
quả báo, diệt thế gian, diệt sinh tử, diệt lưu chuyển, diệt sinh-già-bệnh-
chết cũng như vậy. Đó gọi là dựa vào duyên mà trước đây đã nói, cho
nên gọi là một đạo hướng về.
Và dựa vào duyên khác, đó là bởi vì không có hướng về nơi khác,
bởi vì không lui sụt trở lại, bởi vì đến giải thoát không lui sụt, bởi vì đến
một nẽo rời xa năm nẽo, như nói Ni ết-bàn là nơi A-la-hán hướng đến.
Bởi vì nghĩa như vậy, cho nên gọi là một đạo hướng về.
Lại có người nói: Bởi vì có thể đối trị với đạo khác, cho nên gọi
là một đạo hướng về. Đó là các ngoại đạo, hoặc chấp không ăn là đạo,
hoặc là chấp xoay chuyển theo mặt tr ời là đạo, hoặc chấp nằm trên
tro-hít hơi gió-uống nước lã- ăn rau cỏ-ăn trái cây- thân hình lõa lồ-áo
vải thô-nằm không bằng…, tất cả đều cho là đạo. Đức Phật vì đối trị với
các ngoại đạo ấy, cho nên nói một đạo hướng về. Ý nghĩa này nói: Các
loại đạo ấy đều không phải là đạo thật sự mà chỉ là đạo tà ác hư vọng,
là đạo mà hạng người bất thiện đã luyện tập gần gũi, chứ không phải là
đạo của các bậc Thiện sĩ đã luyện tập gần gũi. Nguyên cớ thế nào? Bởi
vì đạo thật sự chỉ có một, đó là bốn Niệm trú.
Hoặc có người nói: Có thể hướng đến một cửa của cung điện giải
658 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
thoát, cho nên gọi là một đạo hướng về. Trong này nên dẫn ra thí dụ
trong kinh Ốt-để-ca đã nói, như kinh ấy nói: “Đức Phật bảo với Ốt-để-
ca: Như khu thành ở biên giới quốc gia, tường thành dày chắc đẩy lùi
quân địch, lầu cao quan sát canh gác  nghiêm ngặt, cửa lớn-cửa nhỏ
thảy đều trang bị cẩn thận, chỉ có một cổng ra vào giao cho một người
canh gác. Người ấy thông minh hiểu biết nhiều lại khéo léo luyện tập,
người nào nên đi vào thì cho phép đi vào, người nào không nên đi vào
thì ngăn lại. Người ấy luôn luôn đi  tuần tra quanh khu thành xem xét,
thậm chí không thấy nơi nào có thú vật qua lại, huống là có cổng nào
khác ư? Này Ốt-để-ca nên biết, người gác cổng ấy tuy không biết hàng
ngày có bao nhiêu hữu tình đi vào  khu thành-đi ra khu thành, nhưng
người ấy chắc chắn biết các hữu tình ra-vào đều đi qua cổng này chứ
không từ cổng nào khác. Như vậy, Như Lai tuy không tác ý biết rõ bao
nhiêu hữu tình đã nhập Niết-bàn, bao nhiêu hữu tình sẽ nhập Niết-bàn,
nhưng mà chắc chắn biết các loại hữu tình đã nhập Niết-bàn-chưa nhập
Niết-bàn, đều do đạo này chứ không dựa  vào đạo nào khác.” Do đó,
bởi vì có thể hướng đến một cửa của  cung điện giải thoát, cho nên gọi
là một đạo hướng về.
Hỏi: Chánh đoạn-Thần túc-Căn-Lực-Giác chi-Đạo chi đều là một
đạo hướng về chăng? Nếu là một đạo hướng về, thì tại sao kinh ấy chỉ
nói Niệm trú gọi là một đạo hướng  về, chứ không nói đến pháp khác?
Nếu không phải là một đạo hướng về, thì tại sao chỉ riêng Niệm trú là
một đạo hướng về, chứ không phải là pháp khác?
Đáp: Nên nói những pháp ấy cũng là một đạo hướng về.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao kinh ấy lại không nói đến?
Đáp: Cần phải nói mà không nói đến, thì nên biết là nghĩa này
có khác.
Có người nói: Nếu nói đến Niệm trú thì nên biết là cũng đã nói
đến Chánh đoạn…
Có người nói: Niệm trú là một hướng về cũng là đạo, Chánh
đoạn… là một hướng về mà không phải là đạo, bởi vì không phải tất cả
đều là Tuệ.
Có người nói: Niệm trú từ địa bắt đầu sự nghiệp cho đến Tận trí-
Vô sinh trí đều có tác dụng luôn luôn thù thắng, Chánh đoạn… thì không
như vậy.
Có người nói: Niệm trú có thể phân biệt về tự tướng-cọng tướng
của các pháp, có thể kiến lập về tự tướng-cọng tướng của các pháp,
có thể làm hại cái ngu về sự và cái ngu về sở duyên, ở trong các  pháp
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 188 659  
www.daitangkinh.org  
chuyển đổi không tăng-giảm, Chánh đoạn… thì không như vậy.
Có người nói: Niệm trú như pháp có mắt có thể dẫn dắt những pháp
phần Bồ-đề khác như mù hướng đến cung điện Niết-bàn mà không có
hướng về nơi khác, như người mắt sáng dẫn dắt những người mù khiến
cho đi theo con đường ngay thẳng chứ không đi vào con đường sai trái;
Niệm trú cũng như vậy, vì thế cho nên kinh ấy chỉ nói Niệm trú gọi là
một đạo hướng về mà không nói đến pháp nào khác.
Như trong kinh nói: “Có một đạo hướng về, có thể làm cho hữu
tình thanh tịnh, vượt lên diệt hết buồn khổ, cho đến có thể chứng được
pháp thuận theo Chánh lý, đó là Th ánh Chánh Tam-ma-địa và nhân
duyên của pháp ấy, những vật dụng của pháp ấy.”
Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn có lúc nói Bát-nhã là một đạo hướng về,
có lúc nói Đẳng trì là một đạo hướng về?
Đáp: Bởi vì tùy theo hữu tình đã được hóa độ, có điều gì chưa đầy
đủ mà nói. Nghĩa là hữu tình đã được hóa độ, hoặc có người thiếu về
Xa-ma-tha, hoặc có người thiếu về T ỳ-bát-xá-na. Nếu người thiếu về
Xa-ma-tha thì vì họ nói Đẳng trì là một đạo hướng về, nếu người thiếu
về Tỳ-bát-xá-na thì vì họ nói Bát-nhã là một đạo hướng về. Bát-nhã tức
là Niệm trú đã nói trước đây, bởi vì Niệm trú lấy Tuệ làm tánh.
Như trong kinh nói: “Nếu có người có thể biện giải về bốn Niệm
trú thì có thể biện giải về Chánh như lý, nếu có thể biện giải về Chánh
như lý thì có thể biện giải về Thánh đạo, nếu có thể biện giải về Thánh
đạo thì có thể biện giải về Cam lộ, nếu có thể biện giải về Cam lộ thì có
thể thoát khỏi các pháp bức bách phiền muộn như sinh-già-bệnh-chết-
sầu than-buồn khổ.”
Hỏi: Niệm trú-Chánh như lý-Thánh đạo-Cam lộ sai biệt thế nào?
Đáp: Tên gọi tức là sai biệt, đó là tên gọi Niệm trú cho đến tên
gọi Cam lộ.
Có người nói: Niệm trú tức là hiển bày về Niệm trú, Chánh như lý
hiển bày về Chánh đoạn-Thần túc-Ca ên-Lực-Giác chi, Thánh đạo hiển
bày về Đạo chi, Cam lộ hiển bày về quả của pháp ấy.
Có người nói: Niệm trú hiển bày về Niệm trú thuộc sở duyên,
Chánh như lý hiển bày về Niệm trú xen tạp nhau, Thánh đạo hiển bày
về Niệm trú thuộc tự tánh, Cam lộ hiển bày về quả của pháp ấy.
Có người nói: Niệm trú hiển bày về Niệm trú do Văn mà thành,
Chánh như lý hiển bày về Niệm trú do Tư mà thành, Thánh đạo hiển
bày về Niệm trú do Tu mà thành, Ca m lộ hiển bày về quả của pháp
ấy.
660 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Có người nói: Niệm trú hiển ba øy về Niệm trú thuộc ngôn thuyết
cứu cánh, Chánh như lý hiển bày về Niệm trú thuộc tư duy cứu cánh,
Thánh đạo hiển bày về Niệm trú thuộc  xuất ly cứu cánh, Cam lộ hiển
bày về quả của pháp ấy.
Có người nói: Niệm trú hiển bày về Kiến đạo, Chánh như lý hiển
bày về Tu đạo, Thánh đạo hiển bày về đạo Vô học, Kiến địa-Tu địa-địa
Vô học nói cũng như vậy, Cam lộ hiển bày về quả của pháp ấy.
Có người nói: Niệm trú hiển bày về Vị tri đương căn, Chánh như
lý hiển bày về Dĩ tri căn, Thánh đa ïo hiển bày về Cụ tri căn, Cam lộ
hiển bày về quả của pháp ấy.
Đó gọi là sự sai biệt của Niệm trú-Chánh như lý-Thánh đạo-Cam
lộ.
Nếu tu Thân niệm trú thì lúc ấy tu Thọ niệm trú chăng? Cho đến
nói rộng ra.
Tu có bốn loại, đó là tu đạt được-tu luyện tập-tu đối trị-tu loại bỏ.
Tu đạt được-tu luyện tập, đó là tất cả pháp thiện hữu vi; tu đối trị-tu loại
bỏ, đó là tất cả pháp hữu lậu.
Các Sư phương Tây nói: “Tu có sáu loại, đó là bốn loại trước và
tu phòng hộ-tu phân biệt. Tu phòng hộ, đó là tu về Căn, như nói: Sáu
căn như vậy khéo điều phục-khéo bảo vệ-khéo giữ gìn-khéo ngăn ngừa
thì có thể cảm đến dị thục Lạc thọ ở tương lai. Tu phân biệt, đó là tu về
Thân, như nói: Thân này là tóc-lông-răng-móng…”
Các Sư nước Ca-thấp-di-la nói: “Hai loại tu sau này tức là thuộc
về tu đối trị-loại bỏ ở trước.”
Nghĩa về bốn loại tu nói rộng ra như chương Trí Uẩn…
Trong này, dựa vào hai loại tu mà soạn luận, đó là tu đạt được-tu
luyện tập. Dựa vào hai loại tu này, ở trong các phần vị tu về Niệm trú
có sai biệt. Đó là trong phần vị Noãn ban đầu duyên với ba Đế, Pháp
niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại, một hành tướng là tu hiện tại,
vị lai tu bốn hành tướng, tu đồng phần chứ không phải là không đồng
phần; duyên với Diệt đế, Pháp niệm trú là tu hiện tại, ngay loại này tu
ở vị lai, một hành tướng là tu hiện tại, vị lai tu bốn hành tướng, cũng tu
đồng phần chứ không phải là không đồng phần, bởi vì không phải là
ban đầu quán về uẩn diệt đi mà có thể tu về đạo duyên với uẩn. Phần
vị Noãn tăng trưởng duyên với ba Đ ế, bốn Niệm trú tùy theo một loại
là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại, tu đồng phần và không đồng phần, một
hành tướng là tu hiện tại, vị lai tu mười sáu hành tướng; duyên với Diệt
đế, Pháp niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại, một hành tướng là tu
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 188 661  
www.daitangkinh.org  
hiện tại, vị lai tu mười sáu hành tướng.
Hỏi: Vì sao Noãn ban đầu ch ỉ tu đồng phần chứ không phải là
không đồng phần, Noãn tăng trưởng thì tu đồng phần và không đồng
phần?
Đáp: Noãn ban đầu là chủng ta ùnh chưa từng đạt được, ban đầu
duyên với Đế khởi lên hành tướng, bởi vì thế lực yếu kém cho nên chỉ
tu đồng phần chứ không phải là không đồng phần; Noãn tăng trưởng là
chủng tánh đã từng đạt được, đã duyên với Đế khởi lên hành tướng, bởi
vì thế lực mạnh mẽ cho nên có thể tu đồng phần và không đồng phần.
Trong phần vị Đảnh ban đầu duyên với bốn Đế, Pháp niệm trú
là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại, tu đồng phần và không đồng phần, một
hành tướng là tu hiện tại, vị lai tu  mười sáu hành tướng. Phần vị Đảnh
tăng trưởng duyên với ba Đế, bốn Niệm trú tùy theo một loại là tu hiện
tại, vị lai tu bốn loại, tu đồng phần và không đồng phần, một hành tướng
là tu hiện tại, vị lai tu mười sáu hành tướng; duyên với Diệt đế, Pháp
niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại, một hành tướng là tu hiện tại,
vị lai tu mười sáu hành tướng.
Phần vị Nhẫn ban đầu và tăng trưởng đều duyên với bốn Đế, Pháp
niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu  bốn loại, tu đồng phần và không đồng
phần, một hành tướng là tu hiện tại, vị lai tu mười sáu hành tướng.
Hỏi: Vì sao phần vị Nhẫn ban đầu và tăng trưởng đều chỉ có Pháp
niệm trú là tu hiện tại?
Đáp: Bởi vì Nhẫn gần với Ki ến đạo cho nên tương tự với Kiến
đạo, như trong Kiến đạo chỉ có Pháp niệm trú là tu hiện tại, Nhẫn cũng
như vậy.
Tôn giả Diệu Âm nói rằng: “Căn thiện thuận phần quyết trạch,
hai loại ở cõi Dục đó là Noãn-Đảnh, hai loại ở cõi Sắc đó là Nhẫn-Thế
đệ nhất pháp.”
Nếu dựa vào cách nói ấy thì Nhẫn ban đầu duyên với ba Đế, Pháp
niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại, một hành tướng tu ở hiện tại,
vị lai tu bốn hành tướng, tu đồng phần chứ không phải là không đồng
phần; duyên với Diệt đế, Pháp niệm trú là tu hiện tại, ngay loại này tu ở
vị lai, bởi vì không phải là ban đầu quán về uẩn diệt đi mà có thể tu về
đạo duyên với uẩn, cho nên một hành tướng là tu hiện tại, vị lai tu bốn
hành tướng, tu đồng phần chứ không phải là không đồng phần. Phần vị
Nhẫn tăng trưởng duyên với ba Đế, bốn Niệm trú tùy theo một loại là tu
hiện tại, vị lai tu bốn loại, tu đồng phần và không đồng phần, một hành
tướng là tu hiện tại, vị lai tu mười sáu hành tướng; duyên với Diệt   đế,
662 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Pháp niệm trú là tu hiện tại, vị lai tu bốn loại, một hành tướng là tu hiện
tại, vị lai tu mười sáu hành tướng.
Hỏi: Vì sao Nhẫn ban đầu ch ỉ tu đồng phần, Nhẫn tăng trưởng
cũng tu không đồng phần?
Đáp: Nói rộng ra như trước.
Lời bình: Cách nói trước là hợp lý. Nhưng căn thiện thuận phần
quyết trạch, bởi vì thuận với Kiến đạo, cho nên trong phần vị ban đầu
khởi lên, hiện tại đều chỉ tu về Pháp niệm trú; ở phần vị tăng trưởng có
bốn Niệm trú tùy theo một loại hiện rõ trước mắt. Từ phần vị Nhẫn ban
đầu bởi vì gần với Kiến đạo, cho nên ở tất cả mọi lúc thì hiện tại chỉ tu
về Pháp niệm trú. Phần vị Thế đệ nhất pháp cũng chỉ là Pháp niệm trú
tu ở hiện tại, vị lai tu bốn loại, một hành tướng tu ở hiện tại, vị lai tu bốn
hành tướng, tu đồng phần chứ không phải là không đồng phần.
Hỏi: Thế đệ nhất pháp cũng là chủng tánh đã từng đạt được, đã
duyên với Đế khởi lên hành tướng, vì  sao chỉ tu đồng phần chứ không
phải là không đồng phần?
Đáp: Thế đệ nhất pháp là căn th iện rất gần gũi với Kiến đạo,
rất tương tự với Kiến đạo, như trong Kiến đạo chỉ có tu đồng phần chứ
không phải là không đồng phần, Thế đệ nhất pháp cũng như vậy.
Có người nói: Bởi vì Thế đệ nhất pháp là căn thiện đi trước Kiến
đạo, thuộc về tu đối trị, cho nên như Kiến đạo chỉ có tu đồng phần.
Có người nói: Thế đệ nhất pháp chỉ có bấy nhiêu hành tướng có
thể tu, như người trần truồng không có áo quần có thể làm mất đi, nên
biết Nhẫn tăng thượng cũng như vậy. Trong phần vị Nhẫn còn lại tùy
theo sở duyên giảm bớt, thì không tu về hành tướng của Niệm trú ấy,
như thích hợp nên biết!

„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt