VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 193Quyển 195 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 194

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

諸有欲令此中通依得修習修作論者。彼
說若修無常想者。謂無常想若現前若不現
前。而修彼思惟無常想者。謂以無常想為
所緣即是無常想。修時緣無常想義。若修
無常想彼思惟無常想耶。答應作四句。有
修無常想不思惟無常想。謂緣餘法修無
常想。如緣色受行識蘊。除無常想餘想蘊。
修無常想緣無為修無常想。問此說在何
位。答此說在增長煗頂位。起身受心念住。及
緣餘法法念住。若初頂忍及增長忍起緣滅
諦法念住。若以滅智離欲界乃至無所有處
染。以身受心念住及緣餘法法念住為加
行。彼一切加行無間解脫道時。離非想非非
想處染說亦爾。唯除第九解脫道時。若以
緣滅諦法念住。信勝解練根作見至。若以身
受心念住。及緣餘法法念住為加行。彼加
行無間解脫道時。無學練根說亦爾。唯除第
九解脫道。若以身受心念住。及緣餘法法念
住雜修靜慮時。若引發神境天眼天耳通
時。若以受心念住及緣餘法法念住起他
心智通時。若起不淨觀持息念初三解脫八

勝處前八遍處法詞二無礙解時。起無諍空
空無願無願無相無相時。有說。除起無願
無願時。起身受心念住及緣餘法法念住
時。諸有欲令一切法是勝義者。起身受心
念住及緣餘法法念住義無礙解。及有欲
令唯涅槃是勝義者。起義無礙解時起身
受心念住。及緣餘法法念住辯無礙解願智
邊際定無色解脫入滅盡定想微細心時。於
如是時修無常想不思惟無常想。有思惟
無常想不修無常想。謂緣無常想修餘想。
餘想者。謂無常苦想苦無我想及餘善染無
記想。此中善想者。謂加行善及生得善想加
行善想。謂聞思修所成。聞思所成如前說。修
所成者。謂緣無常想起非無常行相。修所
成想而不修無常想。問此說在何位。答在
初煗位緣集道諦時。若已入正性離生集
現觀四心頃。道現觀三心頃。若異生離欲界
乃至無所有處染。若以緣無常想法念住為
加行。彼一切加行無間解脫道時。即異生引
發緣無常想法念住。他心智宿住隨念智通
時。即異生起四無量及緣無常想法念住
時。即異生起緣無常想法念住無色解脫。及
起空識無邊處遍處時。是名善想染及無記
想。如前說。是名思惟無常想不修無常想。
有修無常想亦思惟無常想。謂緣無常想
修無常想。如無常想相續現在前時。緣自相
續過未及他相續三世無常想。問此說在何
位。答此說在初煗位。起緣苦諦法念住增
長煗頂起緣無常想法念住初頂忍。及增長

忍。起緣三諦法念住。若起世第一法。若已
入正性離生苦現觀四心頃。及道類智時。若
以緣無常想法念住。離欲界乃至非想非非
想處染。若即以此為加行。彼一切加行無間
解脫道時。若以緣無常想法念住。信勝解練
根作見至。時解脫練根作不動。若即以此
為加行。彼一切加行無間解脫道時。若以緣
無常想法念住雜修靜慮時。若起緣無常
想他心智宿住隨念智通時。起四無量時。諸
有欲令一切法是勝義者。起緣無常想義無
礙解及辯無礙解。願智邊際定無色解脫。入
滅盡定想微細心時。起空識無邊處遍處
時。有說。及起無願無願時。於如是時修
無常想亦思惟無常想。有不修無常想亦
不思惟無常想。謂除前相。問此說在何位。
答此說在初煗位。起緣滅諦法念住時。若
已入正性離生滅現觀四心頃。及餘一切不
緣無常想。亦不修無常想位。如其所應盡
當知。外國師誦亦如前應知。如無常想無
常苦想苦無我想亦爾。差別者。說自名及第
三句中除有說無願無願不淨想厭食想一
切世間不可樂想死想斷想離想滅想。隨應
當知者。謂不淨想等亦應作四句。而有差
別。謂若修不淨想彼思惟不淨想耶。答應
作四句。有修不淨想彼不思惟不淨想。
謂緣餘法修不淨想。問此說在何位。答此
說若以滅道智離欲界。乃至第三靜慮染。
若以身受心念住。及緣餘法法念住為加
行。彼一切加行道最後解脫道時。有說。一切

解脫道時。若依有色定離第四靜慮乃至非
想非非想處染。若以身受心念住。及緣餘法
法念住為加行。彼一切加行道時。若生欲
色界得阿羅漢果最後解脫道時若以滅道
智。信勝解練根作見至。以身受心念住。及
緣餘法法念住為加行。彼加行道時解脫道
不定如前說。時解脫練根作不動。若依有色
定。以身受心念住。及緣餘法法念住為加
行。彼加行道及最後解脫道時。若以身受心
念住。及緣餘法法念住雜修靜慮時。若引
發神境天眼天耳他心智通四無間道一解脫
道。及緣餘法他心智通解脫道時。若起不
淨觀持息念初三解脫八勝處前八遍處法詞
二無礙解時。若依有色定起身受心念住。
及緣餘法法念住時。諸有欲令一切法是
勝義者。依有色定起身受心念住。及緣餘
法法念住義無礙解時。及有欲令唯涅槃
是勝義者。起義無礙解時。若依有色定起
辯無礙解。及起身受心念住。及緣餘法法念
住願智邊際定時。若起無諍時。若依有色
定起空空無願無願無相無相時。於如是
時修不淨想不思惟不淨想。有思惟不淨
想不修不淨想。謂緣不淨想修餘想。餘想
者。謂無常想無常苦想苦無我想。及餘善染
無記想。此中善想者。謂加行善及生得善想
加行善想。謂聞思修所成。聞所成者。謂緣不
淨想起聞所成想。思所成者。謂緣不淨想
起思所成想。修所成者。謂緣不淨想起修
所成想。而不修不淨想。問此說在何位。答

此說在初煗頂忍及增長忍位緣苦集諦。
增長煗頂起緣不淨想法念住。若起世第
一法。若已入正性離生苦集現觀各四心頃。
若以世俗道或苦集智。離欲界乃至第三靜
慮染。一切九無間道八解脫道時。有說。唯無
間道時。若以世俗道離第四靜慮染。以空
無邊處近分緣不淨想。法念住為加行。彼
一切加行無間道時。若以苦集智離第四靜
慮染九無間道九解脫道時。若以苦集智。
信勝解練根作見至。彼無間道時解脫道不
定如前說。若依空無邊處近分。起緣不淨
想法念住時。是名善想。染及無記想如
前說。差別者緣不淨想。於如是時思惟
不淨想不修不淨想。有修不淨想亦思惟
不淨想。謂緣不淨想修不淨想。問此說在
何位。答此說若以世俗道或苦集智。離欲
界乃至第三靜慮染。以緣不淨想法念住為
加行。彼一切加行道最後解脫道時。有說。及
一切解脫道時。若依有色定離第四靜慮乃
至非想非非想處染。若即依此以緣不淨想
法念住為加行。彼一切加行道時。若以緣
苦集諦法念住。信勝解練根作見至。以緣不
淨想法念住為加行。彼加行道時解脫道不
定如前說。若依有色定。時解脫練根作不
動。以緣不淨想法念住為加行。彼加行道
時若以緣不淨想法念住雜修靜慮時。若起
緣不淨想他心智通時。若起宿住隨念智通
時。若起四無量時。若依有色定起緣不淨
想法念住時。諸有欲令一切法是勝義者。

依有色定起緣不淨想義無礙解時。若起
緣不淨想願智邊際定時。於如是時修不
淨想亦思惟不淨想。有不修不淨想亦不
思惟不淨想。謂除前相。問此說在何位。
答此說初煗頂忍及增長忍起緣滅道諦法
念住。若增長煗頂起身受心念住。及緣餘
法法念住。若已入正性離生滅道現觀各四
心頃。若以滅道智離欲界乃至第三靜慮
染。彼一切九無間道八解脫道時。有說。唯無
間道時。若以滅道智離第四靜慮染九無
間道九解脫道時。若以世俗道離第四靜慮
染。即依空無邊處近分。以身受心念住。及
緣餘法法念住為加行。彼加行道九解脫道
時。若依有色定離空無邊處乃至非想非非
想處染。一切無間解脫道時。唯除離非想非
非想處染最後解脫道。若依無色定離空
無邊處染。以身受心念住。及緣餘法法念
住為加行。彼一切加行無間解脫道時。若
依無色定離上三無色染。彼一切加行無間
解脫道時。唯除生欲色界離非想非非想
染最後解脫道。若以緣滅道諦法念住。信勝
解練根作見至。無間道時解脫道不定如前
說。時解脫練根作不動。若依無色以身受
心念住。及緣餘法法念住為加行。彼一切
加行無間解脫道時。唯除最後解脫道。若起
無色解脫後二遍處時。若依無色起身受
心念住。及緣餘法法念住時。若依無色起
義無礙解辯無礙解空空無願無願。無相無
相。及起入滅盡定想微細心時。善位如是。

若染污及無記位不緣不淨想。并一切無心
位。於如是時不修不淨想亦不思惟不
淨想。如不淨想厭食想乃至滅想亦爾。皆
作四句。於中差別如理應思。
若起欲尋彼思惟欲尋耶。答應作四句。
有起欲尋不思惟欲尋。謂緣餘法起欲
尋。如緣色受想識蘊。除欲尋餘行蘊起欲
尋是名起欲尋不思惟欲尋。緣餘法故。
有思惟欲尋不起欲尋。謂緣欲尋起餘
尋。此有三種。謂善染無記。善者。謂加行善
及生得善。加行善中通聞思修所成。聞所成
者。謂緣欲尋起聞所成。思所成者。謂緣欲
尋起思所成。修所成者。謂緣欲尋起修所
成。問此說在何位。答此說初煗頂忍。及增長
忍起緣欲界法念住。若增長煗頂起緣欲
尋法念住。若起世第一法。若已入正性離
生苦現觀二心頃。謂苦法智忍苦法智集現
觀二心頃。謂集法智忍集法智。若以苦集智
離欲界染。以緣欲尋法念住為加行。彼加
行道九無間道九解脫道時。若以世俗智離
欲界染。以緣欲尋法念住為加行。彼加行
道九無間道時。若依未至定為離初靜慮
乃至非想非非想處染。以緣欲尋法念住為
加行。彼一切加行道時。乃至若依第四靜慮
為離第四靜慮乃至非想非非想處染。以緣
欲尋法念住為加行。彼一切加行道時。若
以苦集法智信勝解練根作見至。以緣欲
尋法念住為加行。彼加行無間解脫道時。若
時解脫練根作不動。若以緣欲尋法念住

為加行。彼加行道時。若以緣欲尋法念住
雜修靜慮時。起緣欲尋他心智通時。起緣
欲界宿住隨念智通時。起四無量時。起緣
欲尋法念住時。諸有欲令一切法是勝義
者。起緣欲尋法念住義無礙解時。若起緣欲
尋法念住無諍願智邊際定時。是名善。染污
者。謂緣欲尋起薩迦耶見執我我所。廣說
如前。無記者謂緣欲尋起非如理非不如
理作意。於如是時思惟欲尋不起欲尋。
有起欲尋亦思惟欲尋。謂緣欲尋起欲
尋。如欲尋長時相續現在前時。緣自相續過
未及他相續三世欲尋。有不起欲尋亦不
思惟欲尋。謂除前相外方師誦。謂緣餘法
起餘尋。此中如緣色受想識蘊。除欲尋餘
行蘊起餘尋。緣無為起諸尋。及餘一切不
起欲尋不思惟欲尋位。如欲尋恚尋害
尋亦爾。差別者說自名。若起出離尋。彼思
惟出離尋耶。答應作四句有起出離尋不
思惟出離尋。謂緣餘法起出離尋。如緣
色受想識蘊。除出離尋。餘行蘊起出離尋
緣無為起出離尋。問此說在何位。答此說
依未至初靜慮初煗頂忍及增長忍。起緣滅
諦法念住。若增長煗頂起身受心念住及
緣餘法法念住。若已入正性離生滅現觀四
心頃。若依未至定以滅智離欲界及初靜
慮染。及依初靜慮以滅智離初靜慮染。若
以身受心念住及緣餘法法念住為加行。
彼一切加行無間解脫道時。即依彼二地以
苦集滅智離第二靜慮乃至非想非非想處

染。若以身受心念住及緣餘法法念住為
加行。彼一切加行無間解脫道時。即依彼地
以滅智信勝解練根作見至。若以身受心
念住及緣餘法法念住為加行。彼加行無
間解脫道時。即依彼地以苦集滅智時解
脫練根作不動。若以身受心念住及緣餘法
法念住為加行。彼一切加行無間解脫道時。
若以身受心念住及緣餘法法念住雜修
初靜慮時。若依初靜慮引發神境天眼天
耳他心智通。四無間道一解脫道。及緣餘
法他心智通解脫道時。若依未至起持息
念時。若依未至初靜慮。起初二解脫前四
勝處不淨觀身受心念住。及緣餘法法念住。
諸有欲令一切法是勝義者。起身受心念
住及緣餘法法念住義無礙解。及有欲令
唯涅槃是勝義者。起義無礙解時。即依彼
二地起法無礙解詞無礙解。若身受心念住
及緣餘法法念住辯無礙解時。即依彼二
地起空空無願無願無相無相時。有說。但
起無相無相時。於如是時起出離尋不
思惟出離尋緣餘法故。
有思惟出離尋不起出離尋。謂緣出離尋
起餘尋。此有三種。謂善染無記。善者除思
所成。餘如前說。於修所成中此說在何位。
答此說依靜慮中間。及上三靜慮初煗頂忍。
及增長忍位。起緣三諦法念住。若增長煗頂
位起緣出離尋法念住。若起世第一法。若已
入正性離生。苦集道現觀各四心頃。若依
靜慮中間。以苦集道智離初靜慮染。若即

以此及緣出離尋世俗法念住為加行。彼
一切加行無間解脫道時。即依靜慮中間以
道智離第二靜慮乃至非想非非想處染。若
即以此及緣出離尋苦集智世俗法念住為
加行。彼一切加行無間解脫道時。唯除離有
頂染最後解脫道。若依第二靜慮近分離
初靜慮染。若即依此以緣出離尋法念住
為加行。彼一切加行無間道時。若依第二靜
慮以道智離第二靜慮乃至非想非非想處
染。若即以此及緣出離尋苦集智世俗法念
住為加行。彼一切加行無間解脫道時。唯除
離有頂染最後解脫道。如依第二靜慮。依
第三第四靜慮亦爾。若依空無邊處以道
智離空無邊處乃至非想非非想處染。若即
以此及緣出離尋世俗法念住為加行。彼
一切加行無間解脫道時。唯除離有頂染最
後解脫道。如依空無邊處。依識無邊處無
所有處亦爾。若依非想非非想處為離彼
染。以緣出離尋法念住為加行。彼加行道
時。若依靜慮中間乃至第四靜慮。以苦集道
智信勝解練根作見至。若即以此及緣出
離尋世俗法念住為加行。彼加行無間解脫
道時。即依彼諸地以道智時解脫練根作
不動。若即以此及緣出離尋苦集智世俗法
念住為加行。彼加行道九無間道八解脫道
時。若依無色定以道智時解脫練根作不
動。若即以此及緣出離尋世俗法念住為
加行。彼加行道九無間道八解脫道時。若以
緣出離尋苦集道智。世俗法念住雜修上三

靜慮時。若依上三靜慮。引發緣出離尋他
心智通宿住隨念智通時。若依靜慮中間乃
至第四靜慮起無量時。若起緣出離尋無
色解脫時。若依靜慮中間乃至非想非非想
處。起緣出離尋法念住時。諸有欲令一切
法是勝義者。依靜慮中間乃至第四靜慮。
起緣出離尋苦集道智世俗法念住義無礙
解時。依無色定起緣出離尋道智世俗法
念住義無礙解時。若依靜慮中間乃至非想
非非想處。起緣出離尋辯無礙解時。若起
緣出離尋願智邊際定。及入滅盡定想微細
心時。是名善。染污者。謂緣出離尋起薩迦
耶見執我我所。廣說如前。無記者。謂緣出
離尋起非如理非不如理作意。於如是時
思惟出離尋不起出離尋。
有起出離尋亦思惟出離尋。謂緣出離尋
起出離尋。如出離尋長時相續現在前時。
緣自相續過去未來及他相續三世出離尋。
問此說在何位。答此說依未至初靜慮初煗
頂忍及增長忍位。起緣三諦法念住。若增長
煗頂位起緣出離尋法念住。若起世第一法
若已入正性離生苦集道現觀各四心頃。若
以世俗道苦集道智離欲界染。若即以此
為加行。彼一切加行無間解脫道時。若依未
至初靜慮。以苦集道智離初靜慮染。若即
以此及緣出離尋世俗法念住為加行。彼
一切加行無間解脫道時。即依彼二地以
道智離第二靜慮乃至非想非非想處染。
若即以此及緣出離尋苦集智世俗法念住

為加行。彼一切加行無間解脫道時。唯除
離有頂染最後解脫道。即依彼二地以苦
集道智信勝解練根作見至。若即以此及
緣出離尋世俗法念住為加行。彼一切加行
無間解脫道時。即依彼二地以道智時解
脫練根作不動。若即以此及緣出離尋苦集
智世俗法念住為加行。彼加行道九無間道
八解脫道時。若以緣出離尋苦集道智世俗
法念住雜修初靜慮時。若依初靜慮引發
緣出離尋他心智宿住隨念智通時。若依未
至初靜慮起無量時。及緣出離尋法念住
時。諸有欲令一切法是勝義者。依未至初
靜慮。起緣出離尋苦集道智世俗法念住義
無礙解時。即依彼二地起緣出離尋辯無
礙解時。有說。即依彼二地起空空無願無
願時。如是等時起出離尋亦思惟出離尋。
有不起出離尋亦不思惟出離尋。謂除前
相。問此說在何位。答此說依靜慮中間乃至
第四靜慮。初煗頂忍及增長忍位。起緣滅諦
法念住。若增長煗頂位起身受心念住及緣
餘法法念住。若已入正性離生滅現觀四心
頃。若依靜慮中間。以滅智離初靜慮染。以
身受心念住及緣餘法法念住為加行。彼
一切加行無間解脫道時。即依靜慮中間。
以苦集滅智。離第二靜慮乃至非想非非想
處染。以身受心念住及緣餘法法念住為
加行。彼一切加行無間解脫道時。若依第二
靜慮近分離初靜慮染。以身受心念住及
緣餘法法念住為加行。彼加行道解脫道

時。若依第二靜慮。以苦集滅智。離第二靜
慮乃至非想非非想處染。以身受心念住及
緣餘法法念住為加行。彼一切加行無間解
脫道時。如依第二靜慮乃至依無所有處
亦爾。若依第三靜慮近分離第二靜慮染。
若即依此以身受心念住及餘法法念住為
加行。彼一切加行無間解脫道時。如依第三
靜慮近分。依第四靜慮近分亦爾。若依空
無邊處近分離第四靜慮染。諸說無色近分
有別緣者。彼說若即依此以身受心念住
及緣餘法法念住為加行。諸說無色近分
無別緣者。彼說若即依此以緣餘法法念
住為加行。彼一切加行無間解脫道時。如
依空無邊處近分。乃至依非想非非想處近
分亦爾。若依非想非非想處為離彼染起
身受心念住。及緣餘法法念住為加行。彼
加行道時。若依靜慮中間乃至第四靜慮。以
滅智信勝解練根作見至。以身受心念住
及緣餘法法念住為加行。彼加行無間解脫
道時。若依靜慮中間乃至無所有處。以苦集
滅智。時解脫練根作不動。以身受心念住及
緣餘法法念住為加行。彼一切加行無間解
脫道時。若依非想非非想處。時解脫為練
根作不動故。以身受心念住及緣餘法法
念住為加行。彼加行道時。若以身受心念
住及緣餘法法念住雜修上三靜慮時。若
依上三靜慮引發神境天眼天耳。及緣餘
法他心智宿住隨念智通時。若依靜慮中間
第二靜慮。起初二解脫前四勝處時。若起

第三第八解脫後四勝處十遍處時。若起身
受心念住。及緣餘法法念住四無色解脫時。
若依靜慮中間乃至第四靜慮起不淨觀。及
依靜慮中間第二第三靜慮近分起持息念
時。若依靜慮中間乃至非想非非想處。起身
受心念住及緣餘法法念住時。諸有欲令
一切法是勝義者。依靜慮中間乃至非想非
非想處。起身受心念住及緣餘法法念住
義無礙解。及有欲令唯涅槃是勝義者。即
依彼諸地起義無礙解時。即依彼諸地起
身受心念住。及緣餘法法念住辯無礙解時。
依靜慮中間乃至第四靜慮起法無礙解時。
有說。及依靜慮中間起詞無礙解時。若起
身受心念住。及緣餘法法念住願智邊際定。
及入滅盡定想微細心時。若起無諍時。若
依靜慮中間乃至非想非非想處。起空空無
願無願無相無相時。如是等時不起出離
尋。亦不思惟出離尋。如出離尋。無恚尋無
害尋亦爾。三惡尋三善尋廣說如雜蘊思納
息。

Việt dịch

SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 194 753  
www.daitangkinh.org  


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

QUYỂN 194

LUẬN VỀ TAM HỮU (Phần 3)

Có những người muốn làm cho trong này cùng dựa vào tu đạt
được-tu luyện tập mà soạn luận, họ nói nếu tu Tưởng về Vô thường, thì
đó là Tưởng về Vô thường nếu hiện rõ trước mắt hay là không hiện rõ
trước mắt mà tu; lúc ấy tư duy Tưởng về Vô thường, đó là dùng Tưởng
về Vô thường làm sở duyên, tức là Tưởng về Vô thường, lúc tu thì
duyên với nghĩa của Tưởng về Vô thường.
Hỏi: Nếu tu Tưởng về Vô thường thì lúc ấy tư duy Tưởng về Vô
thường chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc tu Tưởng về Vô t hường mà không tư duy Tưởng về Vô
thường, đó là duyên với pháp khác mà tu Tưởng về Vô thường, như
duyên với Sắc-Thọ-Hành-Thức uẩn, trừ ra Tưởng về Vô thường, còn
lại Tưởng uẩn tu Tưởng về Vô thường, duyên với Vô vi tu Tưởng về Vô
thường.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Ở phần vị Noãn-Đảnh tăng trưởng khởi lên Thân-Thọ-Tâm
niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp khác.
Nếu phần vị Đảnh-Nhẫn ban đầu và phần vị Nhẫn tăng trưởng,
khởi lên Pháp niệm trú duyên với Diệt đế.
Nếu dùng Diệt trí lìa nhiễm cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ, dùng
Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm
gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nói cũng như vậy, chỉ
trừ ra lúc đạo giải thoát thứ chín.
Nếu dùng Pháp niệm trú duyên với Diệt đế, Tín thắng giải luyện
căn làm Kiến chí, nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú
754 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
duyên với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh-vô gián-
giải thoát.
Vô học luyện căn, nói cũng như vậy, chỉ trừ ra đạo giải thoát thứ
chín.
Nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên  với
pháp khác, lúc tu xen lẫn Tĩnh lự.
Nếu lúc dẫn dắt phát khởi Thần cảnhThiên nhãn-Thiên nhĩ
thông.
Nếu dùng Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp
khác, lúc khởi lên Tha tâm trí thông.
Nếu lúc khởi lên quán Bất tịnh-Trì  tức niệm, ba Giải thoát đầu,
tám Thắng xứ, tám Biến xứ trước, Pháp -Từ vô ngại giải; lúc khởi lên
Vô tranh, Không Không, Vô nguyện Vô nguyện, Vô tướng Vô tướng.
Có người nói: Trừ ra lúc khởi lên Vô nguyện Vô nguyện.
Lúc khởi lên Thân-Thọ-Tâm ni ệm trú, và Pháp niệm trú duyên
với pháp khác.
Có những người muốn làm cho tất cả các pháp đều là Thắng
nghĩa, thì khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Nghĩa vô ngại giải
thuộc Pháp niệm trú duyên với pha ùp khác; và có người muốn làm cho
chỉ riêng Niết-bàn là Thắng nghĩa, thì lúc khởi lên Nghĩa vô ngại giải,
khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú, va ø Biện vô ngại giải thuộc Pháp
niệm trú duyên với pháp khác, Nguyện tr í-Định Biên tế-Vô sắc-Giải
thoát, tiến vào Định Diệt tận, Tưởng-Tâm vi tế.
Những lúc như vậy, tu Tưởng về Vô thường, không tư duy Tưởng
về Vô thường.
2. Có lúc tư duy Tưởng về Vô thường mà không tu Tưởng về Vô
thường, đó là duyên với Tưởng về Vô thường mà tu Tưởng khác.
Tưởng khác, đó là Tưởng về V ô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô
ngã và Tưởng thiện-nhiễm-vô ký khác.
Trong này, Tưởng thiện đó là Tư ởng thiện thuộc gia hạnh, và
Tưởng thiện thuộc sinh đắc.
Tưởng thiện thuộc gia hạnh, đó là do Văn-Tư-Tu mà thành.
Do Văn mà thành và do Tư mà thành, nói như trước.
Do Tu mà thành, đó là duyên với Tưởng về Vô thường khởi lên
hành tướng không phải là Vô thường, do Tu mà thành Tưởng nhưng
không tu Tưởng về Vô thường.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Ở phần vị Noãn ban đầu, lúc duyên với Tập-Đạo đế.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 194 755  
www.daitangkinh.org  
Nếu phần vị Thế đệ nhất pháp khở i lên Pháp niệm trú thuộc ba
hành tướng.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Tập trong bốn
tâm, Hiện quán về Đạo trong ba tâm.
Nếu dị sinh lìa nhiễm của c õi Dục cho đến Vô sở hữu xứ, nếu
dùng Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Vô thường làm gia hạnh, thì
lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Ngay lúc dị sinh dẫn dắt phát khởi Tha tâm trí thông-Túc trú tùy
niệm trí thông và Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Vô thường.
Ngay lúc dị sinh khởi lên bốn Vô lượng và Pháp niệm trú duyên
với Tưởng về Vô thường.
Ngay lúc dị sinh khởi lên Pha ùp niệm trú duyên với Tưởng về Vô
thường, Giải thoát của Vô sắc, và lúc khởi lên Biến xứ của Không-Thức
vô biên xứ. Đây gọi là Tưởng thiện.
Tưởng nhiễm và Tưởng vô ký, nói như trước.
Những lúc như vậy, tư duy Tưởng  về Vô thường mà không tu
Tưởng về Vô thường.
3. Có lúc tu Tưởng về Vô thường mà cũng tư duy Tưởng về Vô
thường, đó là duyên với Tưởng về Vô thường mà tu Tưởng về Vô thường,
như lúc Tưởng về Vô thường trải qua thời gian dài nối tiếp nhau hiện rõ
ở trước mắt, duyên với Tưởng về Vô thường trong sự nối tiếp nhau của
mình ở quá khứ-vị lai, và trong sự nối tiếp của người khác ở ba đời.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói ở phần vị Noãn ban đầu, khởi lên Pháp niệm
trú duyên với Khổ đế; phần vị Noãn- Đảnh tăng trưởng, khởi lên Pháp
niệm trú duyên với Tưởng về Vô th ường; phần vị Đảnh-Nhẫn ban đầu
và phần vị Nhẫn tăng trưởng, khởi lên Pháp niệm trú duyên với ba Đế.
Nếu khởi lên Thế đệ nhất pháp.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ trong bốn
tâm, và lúc Đạo loại trí hiện khởi.
Nếu dùng Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Vô thường, lìa nhiễm
cõi Dục cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nếu vẫn dùng loại này làm
gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Nếu dùng Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Vô thường, Tín
thắng giải luyện căn làm Kiến chí, T hời giải thoát luyện căn làm Bất
động. Nếu vẫn dùng loại này làm gia hạnh, th ì lúc ấy là tất cả đạo gia
hạnh-vô gián-giải thoát.
Nếu dùng Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Vô thường, lúc   tu
756 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
xen lẫn Tĩnh lự; nếu lúc khởi lên Tha tâm trí thông-Túc trú tùy niệm trí
thông duyên với Tưởng về Vô thường, lúc khởi lên bốn Vô lượng.
Có những người muốn làm cho tất cả các pháp đều là Thắng
nghĩa, thì lúc khởi lên Nghĩa vô ngại giải duyên với Tưởng về Vô
thường, và Biện vô ngại giải, Nguyện trí-Định Biên tế-Vô sắc-Giải
thoát, tiến vào Định Diệt tận, Tưởng-Ta âm vi tế; lúc khởi lên Biến xứ
của Không-Thức vô biên  xứ.
Có người nói: Và lúc khởi l ên Tam-ma-địa Vô nguyện-Vô
nguyện.
Những lúc như vậy, tu Tưởng về Vô thường, cũng tư duy Tưởng
về Vô thường.
4. Có lúc không tu Tưởng về Vô thường mà cũng không tư duy
Tưởng về Vô thường, đó là trừ ra những tướng trước.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói ở phần vị Noãn ban đầu, lúc khởi lên Pháp niệm
trú duyên với Diệt đế.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Diệt trong bốn
tâm, và tất cả phần vị khác không duyên với Tưởng về Vô thường, cũng
không tu Tưởng về Vô thường.
Như sự thích hợp ấy đều cần phải biết! Các Sư nước ngoài tụng,
cũng như trước nên biết.
Như Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về
Khổ-Vô ngã, cũng như vậy. Sai biệt là nói đến tên gọi của mình, và
trong câu thứ ba trừ ra có người nói Vô nguyện-Vô nguyện.
Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn, Tưởng về Tất cả thế gian
không đáng vui, Tưởng về Chết, Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng
về Diệt, tùy theo thích hợp nên biết!
Nghĩa là Tưởng về Bất tịnh… cũng nên làm thành bốn câu    phân
biệt.
Nhưng mà có sai biệt, đó là hỏi: Nếu tu Tưởng về Bất tịnh thì lúc
ấy tư duy Tưởng về Bất tịnh chăng? Đáp: Nên làm thành bốn câu phân
biệt:
1. Có lúc tu Tưởng về Bất tịnh mà lúc ấy không tư duy Tưởng về
Bất tịnh, đó là duyên với pháp khác mà tu Tưởng về Bất tịnh.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói nếu dùng Diệt-Đạo trí, lìa nhiễm của cõi Dục cho
đến lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ hai,  nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú
và Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 194 757  
www.daitangkinh.org  
đạo gia hạnh và đạo giải thoát cuối cùng.
Có người nói: Lúc ấy là tất cả đạo giải thoát.
Nếu dựa vào Định Hữu sắc, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư cho đến
nhiễm của Phi tưởng phi phi t ưởng xứ, nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm
trú và Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là
tất cả đạo gia hạnh.
Nếu sinh ở cõi Dục-Sắc đạt được  quả A-la-hán, thì cuối cùng là
đạo giải thoát.
Nếu dùng Diệt-Đạo trí, Tín thắng  giải luyện căn làm Kiến chí,
dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú và Pháp niệm trú duyên với pháp khác
làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh; đạo giải thoát thì không
nhất định, nói như trước.
Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, nếu dựa vào Định Hữu
sắc, dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú và Pháp niệm trú duyên với pháp
khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là đa ïo gia hạnh và đạo giải thoát cuối
cùng.
Nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú và Pháp niệm trú duyên với
pháp khác, lúc tu xen lẫn Tĩnh lự; nếu dẫn dắt phát khởi Thần cảnh-
Thiên nhãn-Thiên nhĩ-Tha tâm trí thông, thì lúc ấy là bốn đạo vô gián-
một đạo giải thoát, và Tha tâm trí thông duyên với pháp khác thì lúc ấy
là đạo giải thoát.
Nếu lúc khởi lên quán Bất tịnh-Trì  tức niệm, ba Giải thoát đầu-
tám Thắng xứ, tám Biến xứ trước, Pháp-Từ vô ngại giải.
Nếu dựa vào Định Hữu sắc, lúc khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú
và Pháp niệm trú duyên với pháp khác.
Có những người muốn làm cho tất cả các pháp đều là Thắng
nghĩa, thì dựa vào Định Hữu sắc k hởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và
Nghĩa vô ngại giải thuộc Pháp ni ệm trú duyên với pháp khác; và có
người muốn làm cho chỉ riêng Niết-ba øn là Thắng nghĩa, thì lúc khởi
lên Nghĩa vô ngại giải, nếu dựa vào Định Hữu sắc khởi lên Biện vô
ngại giải, và khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú và Pháp niệm trú duyên
với pháp khác, Nguyện trí-Định Biên tế.
Nếu lúc khởi lên Vô tranh, nếu dựa vào Định Hữu sắc, lúc khởi
lên Không Không, Vô nguyện Vô nguyện,Vô tướng Vô tướng.
Những lúc như vậy, tu Tưởng về Bất tịng, không tư duy Tưởng về
Bất tịnh.
2. Có lúc tư duy Tưởng về Bất tịnh mà không tu Tưởng về Bất
tịnh, đó là duyên với Tưởng về Bất tịnh mà tu Tưởng khác.
758 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Tưởng khác, đó là Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-
Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã và Tưởng thiện-nhiễm-vô ký khác.
Trong này, Tưởng thiện đó là Tư ởng thiện thuộc gia hạnh, và
Tưởng thiện thuộc sinh đắc.
Tưởng thiện thuộc gia hạnh, đó là do Văn-Tư-Tu mà thành.
Do Văn mà thành, đó là duyên với Tưởng về Bất tịnh,  khởi lên
Tưởng do Văn mà thành.
Do Tư mà thành, đó là duyên với Tưởng về Bất tịnh, khởi lên
Tưởng do Tư mà thành.
Do Tu mà thành, đó là duyên với Tưởng về Bất tịnh, khởi lên
Tưởng do Tu mà thành, nhưng không tu Tưởng về Bất tịnh.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói ở phần vị Noã n-Đảnh-Nhẫn ban đầu và phần vị
Nhẫn tăng trưởng duyên với Khổ-Tập đế, phần vị Noãn-Đảnh khởi lên
Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Bất tịnh.
Nếu khởi lên Thế đệ nhất pháp.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ-Tập đều
trong bốn tâm.
Nếu dùng đạo thế tục, hoặc là Khổ-Tập trí, lìa nhiễm của cõi Dục
cho đến nhiễm của Tĩnh lự thứ ba, thì lúc ấy là tất cả chín đạo vô gián-
tám đạo giải thoát.
Có người nói: Lúc ấy chỉ là đạo vô gián.
Nếu dùng đạo thế tục lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, dùng Pháp
niệm trú duyên với Tưởng về Bất tịnh thuộc Cận phần của Không vô
biên xứ làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián.
Nếu dùng Khổ-Tập trí lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, thì lúc ấy là
chín đạo vô gián-chín đạo giải thoát.
Nếu dùng Khổ-Tập trí, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí,
thì lúc ấy là đạo vô gián; đạo gi ải thoát thì không nhất định, nói như
trước.
Nếu dựa vào Cận phần của Không vô biên xứ, lúc khởi lên Pháp
niệm trú duyên với Tưởng về Bất tịnh. Đây gọi là Tưởng thiện.
Tưởng nhiễm và Tưởng vô ký, nói như trước. Sai biệt là duyên với
Tưởng về Bất tịnh.
Những lúc như vậy, tư duy Tưởng về Bất tịnh mà không tu Tưởng
về Bất tịnh.
3. Có lúc tu Tưởng về Bất tịnh mà cũng tư duy Tưởng về Bất tịnh,
đó là duyên với Tưởng về Bất tịnh mà tu Tưởng về Bất tịnh.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 194 759  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói nếu dùng đạo thế tục, hoặc là Khổ-Tập trí, lìa
nhiễm của cõi Dục cho đến lìa nh iễm của Tĩnh lự thứ ba, dùng Pháp
niệm trú duyên với Tưởng về Bất tịnh làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả
đạo gia hạnh và đạo giải thoát cuối cùng.
Có người nói: Và lúc ấy là tất cả đạo giải thoát.
Nếu dựa vào Định Hữu sắc, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư cho đến
nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nếu vẫn dựa vào Định này dùng
Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Bất tịnh làm gia hạnh, thì lúc ấy là
tất cả đạo gia hạnh.
Nếu dùng Pháp niệm trú duyên với Khổ-Tập đế, Tín thắng giải
luyện căn làm Kiến chí, dùng Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Bất
tịnh làm gia hạnh, thì lúc ấy là đa ïo gia hạnh; đạo giải thoát thì không
nhất định, nói như trước.
Nếu dựa vào Định Hữu sắc, Thời giải thoát luyện căn làm Bất
động, dùng Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Bất tịnh làm gia hạnh,
thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Nếu dùng Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Bất tịnh, lúc tu xen
lẫn Tĩnh lự; nếu lúc khởi lên Tha tâm trí thông duyên với Tưởng về Bất
tịnh; nếu khởi lên Túc trú tùy niệm trí thông; nếu lúc khởi lên bốn Vô
lượng.
Nếu dựa vào Định Hữu sắc, lúc khởi lên Pháp niệm trú duyên với
Tưởng về Bất tịnh.
Có những người muốn làm cho tất cả các pháp đều là Thắng
nghĩa, thì dựa vào Định Hữu sắc l úc khởi lên Nghĩa vô ngại giải thuộc
Pháp niệm trú duyên với Tưởng về Bất  tịnh; nếu lúc khởi lên Nguyện
trí-Định Biên tế duyên với Tưởng về Bất tịnh.
Những lúc như vậy, tu Tưởng về Bất tịnh, cũng tư duy Tưởng về
Bất tịnh.
4. Có lúc không tu Tưởng về Bất tịnh mà cũng không tư duy Tưởng
về Bất tịnh, đó là trừ ra những tướng trước.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói ở phần vị Noãn-Đảnh-Nhẫn ban đầu, và phần vị
Nhẫn tăng trưởng, khởi lên Pháp niệm trú duyên với Diệt-Đạo đế; nếu
phần vị Noãn-Đảnh tăng trưởng, khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và
Pháp niệm trú duyên với pháp khác.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Diệt-Đạo đều
trong bốn tâm.
760 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Nếu dùng Diệt-Đạo trí, lìa nhiễm của cõi Dục cho đến nhiễm của
Tĩnh lự thứ ba, thì lúc ấy là tất cả chín đạo vô gián-tám đạo giải thoát.
Có người nói: Lúc ấy chỉ là đạo vô gián.
Nếu dùng Diệt-Đạo trí, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, thì lúc ấy là
chín đạo vô gián-chín đạo giải thoát.
Nếu dùng đạo thế tục, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ tư, vẫn dựa vào
Cận phần của Không vô biên xứ, dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và
Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia
hạnh-chín đạo giải thoát.
Nếu dựa vào Định Hữu sắc, lìa nhiễm của Không vô biên xứ cho
đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì lúc ấy là tất cả đạo vô
gián-giải thoát; chỉ trừ lúc lìa nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là
đạo giải thoát cuối cùng.
Nếu dựa vào Định Vô sắc, lìa nhiễm của Không vô biên xứ, dùng
Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm
gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Nếu dựa vào Định Vô sắc, lìa nhiễm của ba Vô sắc trên, thì lúc
ấy là tất cả đạo gia ha ïnh-vô gián-giải thoát; ch ỉ trừ ra lúc sinh ở cõi
Dục-Sắc lìa nhiễm của Phi tưởng phi  phi tưởng xứ, là đạo giải thoát
cuối cùng.
Nếu dùng Pháp niệm trú duyên với Diệt-Đạo đế, Tín thắng giải
luyện căn làm Kiến chí, thì lúc ấy là đạo vô gián; đạo giải thoát thì
không nhất định, nói như trước.
Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, nếu dựa vào Định Vô sắc,
dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp khác
làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát; chỉ trừ
ra đạo giải thoát cuối cùng.
Nếu lúc khởi lên Vô sắc-Giải thoát, hai Biến xứ sau.
Nếu dựa vào Định Vô sắc, lúc khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú,
và Pháp niệm trú duyên với pháp khác.
Nếu dựa vào Định Vô sắc, lúc khởi lên Nghĩa vô ngại giải-Biện
vô ngại giải, Không Không, Vô nguyện Vô nguyện, Vô tướng Vô tướng,
và lúc khởi lên Tưởng-Tâm vi tế, tiến vào Định Diệt tận. Phần vị thiện
như vậy.
Nếu phần vị nhiễm ô và vô ký thì không duyên với Tưởng về Bất
tịnh, cùng với tất cả phần vị không có tâm.
Những lúc như vậy, không tu Tưởng về Bất tịnh, cũng không tư
duy Tưởng về Bất tịnh.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 194 761  
www.daitangkinh.org  
Như Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn cho đến Tưởng về Diệt
cũng như vậy, đều làm thành bốn câu pha ân biệt, trong đó sai biệt như
lý cần phải suy nghĩ!
Hỏi: Nếu khởi lên Tầm dục, thì lúc ấy tư duy về Tầm dục chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc khởi lên Tầm dục ma ø không tư duy về Tầm dục, đó là
duyên với pháp khác mà khởi l ên Tầm dục; như duyên với Sắc-Thọ-
Tưởng-Thức uẩn, trừ ra Tầm dục, còn lại Hành uẩn khởi lên Tầm dục.
Đó gọi là khởi lên Tầm dục mà không tư duy về Tầm dục, bởi vì duyên
với pháp khác.
2. Có lúc tư duy về Tầm dục ma ø không khởi lên Tầm dục, đó là
duyên với Tầm dục mà khởi lên Tầm khác.
Ở đây có ba loại, đó là thiện-nhiễm-vô ký.
Thiện, đó là thiện thuộc gia hạnh và thiện thuộc sinh đắc.
Trong thiện thuộc gia hạnh bao gồm do Văn-Tư-Tu mà thành.
Do Văn mà thành, đó là duyên với Tầm dục khởi lên do Văn mà
thành.
Do Tư mà thành, đó là duyên với Tầm dục khởi lên do Tư mà
thành.
Do Tu mà thành, đó là duyên với Tầm dục khởi lên do Tu mà
thành.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói ở phần vị Noã n-Đảnh-Nhẫn ban đầu và phần vị
Nhẫn tăng trưởng, khởi lên Pháp niệm trú duyên với cõi Dục; nếu phần
vị Noãn-Đảnh tăng trưởng, khởi lên Pháp niệm trú duyên với cõi Dục.
Nếu khởi lên Thế đệ nhất pháp.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ trong hai
tâm, đó là Khổ pháp trí nhẫn và Khổ pháp trí; Hiện quán về Tập trong
hai tâm, đó là Tập pháp trí nhẫn và Tập pháp trí.
Nếu dùng Khổ-Tập trí, lìa nhiễm c ủa cõi Dục, dùng Pháp niệm
trú duyên với Tầm dục làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh-chín đạo
vô gián-chín đạo giải thoát.
Nếu dùng Thế tục trí, lìa nhiễm của cõi Dục, dùng Pháp niệm trú
duyên với Tầm dục làm gia hạnh, thì lúc  ấy là đạo gia hạnh-chín đạo
vô gián.
Nếu dựa vào Định Vị chí để lìa nh iễm của Tĩnh lự thứ nhất cho
đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, dùng Pháp niệm trú duyên
với Tầm dục làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh; cho đến nếu
762 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
dựa vào Tĩnh lự thứ tư để lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất cho đến nhiễm
của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, dùng Pháp niệm trú duyên với Tầm dục
làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh.
Nếu dùng Khổ-Tập pháp trí, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến
chí, dùng Pháp niệm trú duyên với Tầm dục làm gia hạnh, thì lúc ấy là
đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Nếu Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, nếu dùng Pháp niệm
trú duyên với Tầm dục làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh.
Nếu dùng Pháp niệm trú duyên với Tầm dục, lúc tu xen lẫn Tĩnh
lự, lúc khởi lên Tha tâm trí thông duyên với Tầm dục, lúc khởi lên Túc
trú tùy niệm trí thông duyên với cõi Dục, lúc khởi lên bốn Vô lượng, lúc
khởi lên Pháp niệm trú duyên với Tầm dục.
Có những người muốn làm cho tất cả các pháp đều là Thắng
nghĩa, lúc khởi lên Nghĩa vô ngại giải thuộc Pháp niệm trú duyên với
Tầm dục.
Nếu lúc khởi lên Vô tranh-N guyện trí-Định Biên tế thuộc Pháp
niệm trú duyên với Tầm dục. Đây gọi là thiện.
Nhiễm ô, đó là duyên với Tầm dục mà khởi lên Tát-ca-da kiến,
chấp Ngã-Ngã sở; nói rộng ra như trước.
Vô ký, đó là duyên với Tầm dục mà khởi lên tác ý không phải là
như lý, không phải là không như lý.
Những lúc như vậy, tư duy về Tầm dục mà không khởi lên   Tầm
dục.
3. Có lúc khởi lên Tầm dục mà cũng tư duy về Tầm dục, đó là
duyên với Tầm dục mà khởi lên Tầm dục; như lúc Tầm dục trải qua thời
gian dài nối tiếp nhau hiện rõ ở trước mắt, duyên với Tầm dục trong sự
nối tiếp nhau của mình ở quá khứ-vị lai, và trong sự nối tiếp của người
khác ở ba đời.
4. Có lúc không khởi lên Tầm dục mà cũng không tư duy về Tầm
dục, đó là trừ ra những tướng trước.
Sư nước ngoài tụng: “Đó là duyê n với pháp khác mà khởi lên
Tầm khác.”
Trong này, như duyên với Sắc-Thọ-T ưởng-Thức uẩn, trừ ra Tầm
dục, còn lại Hành uẩn khởi lên Tầm dục; duyên với Vô vi mà khởi lên
các Tầm, và còn lại tất cả các phần vị không khởi lên Tầm dục, không
tư duy về Tầm dục.
Như Tầm dục, Tầm nhuế-Tầm ha ïi cũng như vậy, sai biệt là nói
đến tên gọi của mình.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 194 763  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Nếu khởi lên Tầm xuất ly, th ì lúc ấy tư duy về Tầm xuất ly
chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc khởi lên Tầm xuất ly mà không tư duy về Tầm xuất ly,
đó là duyên với pháp khác mà khởi lên Tầm xuất ly; như duyên với
Sắc-Thọ-Tưởng-Thức uẩn, trừ ra Tầm xuất ly, còn lại Hành uẩn khởi
lên Tầm xuất ly; duyên với Vô vi mà khởi lên Tầm xuất ly.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói dựa vào Vị chí-Tĩ nh lự thứ nhất, phần vị Noãn-
Đảnh-Nhẫn ban đầu và phần vị Nhẫn tăng trưởng, khởi lên Pháp niệm
trú duyên với Diệt đế.
Nếu phần vị Noãn-Đảnh tăng trưởng, khởi lên Thân-Thọ-Tâm
niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp khác.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Diệt trong bốn
tâm.
Nếu dựa vào Định Vị chí, dùng Diệt trí lìa nhiễm của cõi Dục và
nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất; và dựa vào Tĩnh lự thứ nhất, dùng Diệt trí
lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất. Nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và
Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả
đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Vẫn dựa vào hai địa này, dùng Khổ -Tập-Diệt trí lìa nhiễm của
Tĩnh lự thứ hai cho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nếu dùng
Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm
gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Vẫn dựa vào địa ấy, dùng Diệt tr í, Tín thắng giải luyện căn làm
Kiến chí, nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên
với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh-vô gián-giải
thoát.
Vẫn dựa vào địa ấy, dùng Khổ-Tập-Diệt trí, Thời giải thoát luyện
căn làm Bất động, nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú
duyên với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô
gián-giải thoát.
Nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với
pháp khác, lúc tu xen lẫn Tĩnh lự thứ nhất, nếu dựa vào Tĩnh lự thứ nhất
dẫn dắt phát khởi Thần cảnh-Thiên nhãn-Thiên nhĩ-Tha tâm trí thông,
thì lúc ấy là bốn đạo vô gián-một đa ïo giải thoát, và lúc Tha tâm trí
thông duyên với pháp khác là đạo giải thoát.
Nếu dựa vào Định Vị chí, lúc khởi lên Trì tức niệm.
764 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Nếu dựa vào Định Vị chí-Tĩnh lự thứ nhất, khởi lên hai Giải thoát
đầu-bốn Thắng xứ trước, quán Bất tịnh, Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và
Pháp niệm trú duyên với pháp khác.
Có những người muốn làm cho tất cả các pháp đều là Thắng
nghĩa, khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm tr ú, và Nghĩa vô ngại giải thuộc
Pháp niệm trú duyên với pháp khác; và có người muốn làm cho chỉ
riêng Niết-bàn là Thắng nghĩa, lúc khởi lên Nghĩa vô ngại giải. Vẫn
dựa vào hai địa ấy, khởi lên Pháp vô ngại giải và Từ vô ngại  giải.
Nếu lúc Thân-Thọ-Tâm niệm tr ú, và Biện vô ngại biện thuộc
Pháp niệm trú duyên với pháp khác. Va ãn dựa vào hai địa ấy, lúc khởi
lên Không Không, Vô nguyện Vô nguyện, Vô tướng Vô tướng.
Có người nói: Chỉ riêng lúc khởi lên Vô tướng Vô tướng.
Những lúc như vậy, khởi lên Tầm xuất ly mà không tư duy về
Tầm xuất ly, bởi vì duyên với pháp khác.
2. Có lúc tư duy về Tầm xuất ly mà không khởi lên Tầm xuất ly,
đó là duyên với Tầm xuất ly mà khởi lên Tầm khác.
Ở đây có ba loại, đó là thiện-nhiễm-vô ký.
Thiện, đó là trừ ra do Tư mà thành, còn lại nói như trước.
Hỏi: Ở trong phần do Tu mà thành, đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói dựa vào Tĩnh lự trung gian, và ba Tĩnh lự trên,
ở phần vị Noãn-Đảnh-Nhẫn ban đa àu và phần vị Nhẫn tăng trưởng,
khởi lên Pháp niệm trú duyên với ba Đế; nếu phần vị Noãn-Đảnh tăng
trưởng, khởi lên Pháp niệm trú duyên với Tầm xuất ly.
Nếu khởi lên Thế đệ nhất pháp.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ-Tập-Đạo
đều trong bốn tâm.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian, dùng Khổ-Tập-Đạo trí lìa nhiễm
của Tĩnh lự thứ nhất. Nếu vẫn dùng lo ại này và Pháp niệm trú thế tục
duyên với Tầm xuất ly làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô
gián-giải thoát.
Vẫn dựa vào Tĩnh lự trung gian, dùng Đạo trí lìa nhiễm của Tĩnh
lự thứ hai cho đến nhiễm của Ph i tưởng phi phi tưởng xứ. Nếu vẫn
dùng loại này và Pháp niệm trú thế tục thuộc Khổ-Tập trí duyên với
Tầm xuất ly làm gia hạnh, thì lúc a áy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-
giải thoát; chỉ trừ ra lìa nhiễm của H ữu Đảnh là đạo giải thoát cuối
cùng.
Nếu dựa vào Cận phần của Tĩnh lự thứ hai, lìa nhiễm của Tĩnh
lự thứ nhất. Nếu vẫn dựa vào đây, dùng Pháp niệm trú duyên với Tầm
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 194 765  
www.daitangkinh.org  
xuất ly làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ hai, dùng Đạo trí lìa nhiễm của Tĩnh lự
thứ hai cho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nếu vẫn dùng
loại này và Pháp niệm trú thế t ục thuộc Khổ-Tập trí duyên với Tầm
xuất ly làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải
thoát; chỉ trừ ra lìa nhiễm của Hữu Đảnh là đạo giải thoát cuối   cùng.
Như dựa vào Tĩnh lự thứ hai, dựa  vào Tĩnh lự thứ ba-thứ tư cũng
như vậy.
Nếu dựa vào Không vô biến xứ, dùng Đạo trí lìa nhiễm của Không
vô biên xứ cho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nếu vẫn
dùng loại này và Pháp niệm trú thế tục duyên với Tầm xuất ly làm gia
hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia ha ïnh-vô gián-giải thoát; chỉ trừ ra lìa
nhiễm của Hữu Đảnh là đạo giải thoát cuối cùng.
Như dựa vào Không vô biên xứ, dựa vào Thức vô biên xứ-Vô sở
hữu xứ cũng như vậy.
Nếu dựa vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ để lìa nhiễm của địa ấy,
dùng Pháp niệm trú duyên với Tầm xuất ly làm gia hạnh, thì lúc ấy là
đạo gia hạnh.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian cho đến Tĩnh lự thứ tư, dùng Khổ-
Tập-Đạo trí, Tín thắng giải luyện căn làm Kiến chí. Nếu vẫn dùng loại
này và Pháp niệm trú thế tục duyên với Tầm xuất ly làm gia hạnh, thì
lúc ấy là đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Vẫn dựa vào các địa ấy, dùng Đạo tr í, Thời giải thoát luyện căn
làm Bất động, nếu vẫn dùng loại này và Pháp niệm trú thế tục thuộc
Khổ-Tập trí duyên với Tầm xuất ly làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia
hạnh-chín đạo vô gián-tám đạo giải thoát.
Nếu dựa vào Định Vô sắc, dùng Đạo trí, Thời giải thoát luyện căn
làm Bất động, nếu vẫn dùng loại này và Pháp niệm trú thế tục duyên
với Tầm xuất ly làm gia hạnh, thì l úc ấy là đạo gia hạnh-chín đạo vô
gián-tám đạo giải thoát.
Nếu dùng Pháp niệm trú thế tục thuộc Khổ-Tập-Đạo trí duyên với
Tầm xuất ly, lúc tu xen lẫn ba Tĩnh lự trên.
Nếu dựa vào ba tĩnh lự trên, lúc dẫn dắt phát khởi Tha tâm trí
thông-Túc trú tùy niệm trí thông duyên với Tầm xuất ly.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian cho đến Tĩnh lự thứ tư, lúc khởi
lên Vô lượng.
Nếu lúc khởi lên Vô sắc-Giải thoát duyên với Tầm xuất ly.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian cho đến Phi tưởng phi phi   tưởng
766 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
xứ, lúc khởi lên Pháp niệm trú duyên với Tầm xuất ly.
Có những người muốn làm cho tất cả các pháp đều là Thắng
nghĩa, dựa vào Tĩnh lự trung gian c ho đến Tĩnh lự thứ tư, lúc khởi lên
Nghĩa vô ngại giải thuộc Pháp ni ệm trú thế tục do Khổ-Tập-Đạo trí
duyên với Tầm xuất ly.
Dựa vào Định Vô sắc, lúc khởi lên Nghĩa vô ngại giải thuộc Pháp
niệm trú thế tục do Đạo trí duyên với Tầm xuất ly.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian  cho đến Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, lúc khởi lên Biện vô ngại giải duyên với Tầm xuất ly.
Nếu lúc khởi lên Nguyện trí-Định Biên tế duyên với Tầm xuất ly,
và lúc tiến vào Định Diệt tận, Tưởng-Tâm vi tế. Đây gọi là thiện.
Nhiễm ô, đó là duyên với Tầm xuất ly mà khởi lên Tát-ca-da
kiến, chấp Ngã-Ngã sở; nói rộng ra như trước.
Vô ký, đó là duyên với Tầm xuất ly mà khởi lên tác ý không phải
là như lý, không phải là không như lý.
Những lúc như vậy, tư duy về Tầm  xuất ly mà không khởi lên
Tầm xuất ly.
3. Có lúc khởi lên Tầm xuất ly mà cũng tư duy về Tầm xuất ly, đó
là duyên với Tầm xuất ly mà khởi lên Tầm xuất ly; như lúc Tầm xuất ly
trải qua thời gian dài nối tiếp nhau hiện rõ ở trước mắt, duyên với Tầm
xuất ly trong sự nối tiếp nhau của mình ở quá khứ-vị lai, và trong sự nối
tiếp của người khác ở ba đời.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói dựa vào Vị chí-Tĩ nh lự thứ nhất, phần vị Noãn-
Đảnh-Nhẫn ban đầu và phần vị Nhẫn tăng trưởng, khởi lên Pháp niệm
trú duyên với ba Đế.
Nếu phần vị Noãn-Đảnh tăng tr ưởng, khởi lên Pháp niệm trú
duyên với Tầm xuất ly.
Nếu khởi lên Thế đệ nhất pháp.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Khổ-Tập-Đạo
đều trong bốn tâm.
Nếu dùng đạo thế tục, Khổ-Tập-Đạo trí lìa nhiễm của cõi Dục.
Nếu vẫn dựa vào loại này làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia
hạnh-vô gián-giải thoát.
Nếu dựa vào Vị chí-Tĩnh lự thứ nhất, dùng Khổ-Tập-Diệt trí lìa
nhiễm của Tĩnh lự thứ nhất. Nếu vẫn dựa vào loại này và Pháp niệm
trú thế tục duyên với Tầm xuất ly làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo
gia hạnh-vô gián-giải thoát.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 194 767  
www.daitangkinh.org  
Vẫn dựa vào hai địa ấy, dùng Đạo tr í, lìa nhiễm của Tĩnh lự thứ
hai cho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nếu vẫn dựa vào loại
này và Pháp niệm trú thế tục thuộc Khổ-Tập trí duyên với Tầm xuất ly
làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát; chỉ trừ
ra lúc lìa nhiễm của hữu Đảnh là đạo giải thoát cuối cùng.
Vẫn dựa vào hai địa ấy, dùng Khổ -Tập-Đạo trí, Tín thắng giải
luyện căn làm Kiến chí, nếu vẫn dựa vào loại này, và Pháp niệm trú thế
tục duyên với Tầm xuất ly làm gia ha ïnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh-vô
gián-giải thoát.
Vẫn dựa vào hai địa ấy, dùng Đạo trí, Thời giải thoát luyện căn
làm Bất động, nếu vẫn dựa vào loại này, và Pháp niệm trú thế tục thuộc
Khổ-Tập trí duyên với Tầm xuất ly làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia
hạnh-chín đạo vô gián-tám đạo giải thoát.
Nếu Pháp niệm trú thế tục thuộc Khổ-Tập-Đạo trí duyên với Tầm
xuất ly, lúc tu xen lẫn Tĩnh lự thứ nhất.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ nhất lúc  dẫn dắt phát khởi Tha tâm trí-
Túc trú tùy niệm trí thông duyên với Tầm xuất ly.
Nếu dựa vào Định Vị chí-Tĩnh lự thứ nhất, lúc khởi lên Vô lượng,
và lúc khởi lên Pháp niệm trú duyên với Tầm xuất ly.
Có những người muốn làm cho tất cả các pháp đều là Thắng nghĩa,
dựa vào Định Vị chí-Tĩnh lự thứ nhất,  lúc khởi lên Nghĩa vô ngại giải
thuộc Pháp niệm trú thế tục do Khổ-Tập-Đạo trí duyên với Tầm xuất ly;
vẫn dựa vào hai địa ấy, lúc khởi lên Biện vô ngại giải duyên với Tầm
xuất ly.
Có người nói: Vẫn dựa vào hai địa ấy, lúc khởi lên Không Không,
Vô nguyện Vô nguyện.
Những lúc như vậy, khởi lên Tầm xuất ly mà cũng tư duy về Tầm
xuất ly.
4. Có lúc không khởi lên Tầm xua át ly mà cũng không tư duy về
Tầm xuất ly, đó là trừ ra những tướng trước.
Hỏi: Đây là nói đến phần vị nào?
Đáp: Đây là nói dựa vào Tĩnh lự trung gian cho đến Tĩnh lự thứ tư,
phần vị Noãn-Đảnh-Nhẫn ban đầu va ø phần vị Nhẫn tăng trưởng, khởi
lên Pháp niệm trú duyên với Diệt đế.
Nếu phần vị Noãn-Đảnh tăng trưởng, khởi lên Thân-Thọ-Tâm
niệm trú và Pháp niệm trú duyên với Tầm xuất ly.
Nếu đã tiến vào Chánh tánh ly sinh, Hiện quán về Diệt trong bốn
tâm.
768 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian, dùng Diệt trí lìa nhiễm của Tĩnh
lự thứ nhất, dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với
pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy la ø tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải
thoát.
Vẫn dựa vào Tĩnh lự trung gian, dùng Khổ-Tập-Diệt trí lìa nhiễm
của Tĩnh lự thứ hai cho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, dùng
Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm
gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Nếu dựa vào Cận phần của Tĩnh lự thứ hai, lìa nhiễm của Tĩnh lự
thứ nhất, dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với
pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh-đạo giải thoát.
Nếu dựa vào Tĩnh lự thứ hai, dùng  Khổ-Tập-Diệt trí, lìa nhiễm
của Tĩnh lự thứ hai cho đến nhiễm của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, dùng
Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm
gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Như dựa vào Tĩnh lự thứ hai, cho đến dựa vào Vô sở hữu xứ cũng
như vậy.
Nếu dựa vào Cận phần của Tĩnh lự thứ ba, lìa nhiễm của Tĩnh lự
thứ hai, nếu vẫn dựa vào loại na øy dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và
Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả
đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Như dựa vào Cận phần của Tĩnh lự thứ ba, dựa vào Cận phần của
Tĩnh lự thứ tư cũng như vậy.
Nếu dựa vào Cận phần của Không vô biên xứ, lìa nhiễm của Tĩnh
lự thứ tư:
Những người nói Cận phần của Vô sắc có duyên khác, đó là nói
nếu vẫn dựa vào loại này dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm
trú duyên với pháp khác làm gia hạnh.
Những người nói Cận phần của Vô sắc không có duyên khác, đó
là nói nếu vẫn dựa vào loại na øy dùng Pháp niệm trú duyên với pháp
khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Như dựa vào Cận phần của Không vô biên xứ, cho đến dựa   vào
Cận phần của Phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng như vậy.
Nếu dựa vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ để lìa nhiễm của địa ấy,
thì lúc khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với
pháp khác làm gia hạnh, lúc ấy la ø đạo gia hạnh. Nếu dựa vào Tĩnh lự
trung gian cho đến Tĩnh lự thứ tư, dùng Diệt trí, Tín thắng giải luyện căn
làm Kiến chí, dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú  duyên
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 194 769  
www.daitangkinh.org  
với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh-vô gián-giải
thoát.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian cho đến Vô sở hữu xứ, dùng Khổ-
Tập-Diệt trí, Thời giải thoát luyện căn làm Bất động, dùng Thân-Thọ-
Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với pháp khác làm gia hạnh, thì
lúc ấy là tất cả đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát.
Nếu dựa vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Thời giải thoát vì luyện
căn làm Bất động, dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú
duyên với pháp khác làm gia hạnh, thì lúc ấy là đạo gia hạnh
Nếu dùng Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với
pháp khác, lúc tu xen lẫn ba Tĩnh l ự trên, nếu dựa vào ba Tĩnh lự trên
dẫn dắt phát khởi Thần cảnh-Thiên nhãn-Thiên nhĩ, và Tha tâm trí-Túc
trú tùy niệm trí thông duyên với pháp khác.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian-Tĩnh lự thứ hai, lúc khởi lên hai
Giải thoát đầu-bốn Thắng xứ trước.
Nếu lúc khởi lên Giải thoát  thứ ba-thứ tám, bốn Thắng xứ sau-
mười Biến xứ.
Nếu lúc khởi lên Thân-Thọ-Ta âm niệm trú, và bốn Vô sắc-Giải
thoát thuộc Pháp niệm trú duyên với pháp khác.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian c ho đến Tĩnh lự thứ tư khởi lên
quán Bất tịnh, và dựa vào Tĩnh lự trung gian-Cận phần của Tĩnh lự thứ
hai-thứ ba lúc khởi lên Trì tức niệm.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian  cho đến Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, lúc khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú, và Pháp niệm trú duyên với
pháp khác.
Có những người muốn làm cho tất cả các pháp đều là Thắng
nghĩa, dựa vào Tĩnh lự trung gian cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm trú, va ø Nghĩa vô ngại giải thuộc Pháp
niệm trú duyên với pháp khác; và có người muốn làm cho chỉ riêng
Niết-bàn là Thắng nghĩa, vẫn dựa vào các địa ấy lúc khởi lên Nghĩa vô
ngại giải. Vẫn dựa vào các địa a áy, lúc khởi lên Thân-Thọ-Tâm niệm
trú, và Biện vô ngại giải thuộc Pháp niệm trú duyên với pháp khác.
Dựa vào Tĩnh lự trung gian cho đến Tĩnh lự thứ tư, lúc khởi lên
Pháp vô ngại giải.
Có người nói: Và dựa vào Tĩnh lự trung gian, lúc khởi lên Từ vô
ngại giải.
Nếu lúc khởi lên Thân-Thọ -Tâm niệm trú, và Nguyện trí-Định
Biên tế thuộc Pháp niệm trú duyên với pháp khác, và lúc tiến vào Định
770 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Diệt tận, Tưởng-Tâm vi tế.
Nếu lúc khởi lên Vô tranh.
Nếu dựa vào Tĩnh lự trung gian  cho đến Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, lúc khởi lên Không Không, Vô nguyện Vô nguyện, Vô tướng Vô
tướng.
Những lúc như vậy, không khởi lên Tầm xuất ly mà cũng không
tư duy về Tầm xuất ly.
Như Tầm xuất ly, Tầm vô nhuế-Tầm vô hại cũng như vậy. Ba
Tầm ác-ba Tầm thiện, nói rộng ra  như phẩm luận về Tư trong chương
Tạp Uẩn.


„
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt