VI DIỆU PHÁP
Abhidhamma Piṭaka · Pāli · Việt · English · Chú giải
Đọc:
← A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận ← Quyển 195Quyển 197 →

A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa Luận · Quyển 196

阿毘達磨大毘婆沙論 · T1545

Hán văn

見相應受幾隨眠隨增乃至廣說。問何故作
此論。答為止撥無世俗正見者意。顯實有
世俗正見是修所斷及遍行隨眠之所隨增。
又遮說有修所斷疑隨眠者意。顯疑隨眠
唯見所斷。故作斯論。問如夜見物。杌耶人
耶。此疑豈非修所斷耶。答此於彼事未了
故疑。了時便斷非隨眠性。問此中何故但依
見疑而作論。答彼作論者意欲爾故。乃至廣
說。復次唯此二種互不相應而俱緣四諦。
俱通遍行。俱緣有漏無漏。俱緣有為無為。
於餘煩惱為勝。貪瞋慢雖互不相應。而不
能通緣四諦。唯不遍行。但緣有漏。但緣有
為無明雖緣四諦。亦是遍行通緣有為無
為有漏無漏。而與一切煩惱相應皆非增
勝。是故此中但依見疑而作論。見相應受幾
隨眠隨增。答三界有漏緣及無漏緣見彼相
應無明隨眠隨增此則總說。若別說者見相
應受差別有五。謂見苦所斷乃至修所斷。此
中見苦所斷見相應受見苦所斷一切。及見集
所斷遍行隨眠隨增。見集所斷見相應受見
集所斷。一切見苦所斷遍行隨眠隨增。見滅

所斷見相應受。見滅所斷無漏緣見彼相應
無明見滅所斷。一切有漏緣。及遍行隨眠隨
增。見道所斷見相應受見道所斷無漏緣見
彼相應無明見道所斷。一切有漏緣及遍行
隨眠隨增。修所斷見相應受修所斷一切。及
遍行隨眠隨增。此中隨增差別應作四句。或
有隨眠於見相應受所緣故隨增非相應
故。或有隨眠於見相應受相應故隨增非
所緣故。或有隨眠於見相應受所緣故隨
增亦相應故。或有隨眠於見相應受非所
緣故隨增亦非相應故。初句者謂除有漏緣
見彼相應無明。諸餘有漏緣隨眠。第二句者
謂無漏緣見彼相應無明。第三句者謂。有漏
緣見彼相應無明。第四句者謂除無漏緣見
彼相應無明。諸餘無漏緣隨眠。
見不相應受幾隨眠隨增。答除無漏緣見彼
相應無明。餘隨眠隨增。此則總說。若別說者。
見不相應。受差別有五。謂見苦所斷乃至修
所斷。此中見苦所斷見不相應受。見苦所斷
一切及見集所斷遍行隨眠隨增見集所斷見
不相應受。見集所斷一切。及見苦所斷遍行
隨眠隨增。見滅所斷見不相應受。除見滅所
斷邪見彼相應無明諸餘見滅所斷及遍行
隨眠隨增。見道所斷見不相應受。除見道所
斷邪見彼相應無明。諸餘見道所斷。及遍行
隨眠隨增。修所斷見不相應受。修所斷一切
及遍行隨眠隨增。此中隨增差別亦作四句。
或有隨眠於見不相應受。所緣故隨增非
相應故。乃至廣作四句。第一句者謂有漏緣

見彼相應無明。第二句者謂除無漏緣見彼
相應無明。諸餘無漏緣隨眠。第三句者謂除
有漏緣見彼相應無明。諸餘有漏緣隨眠。第
四句者謂無漏緣見彼相應無明。
疑相應受幾隨眠隨增。答三界見所斷有漏
緣。及無漏緣疑彼相應無明隨眠隨增。此則
總說。若別說者疑相應受差別有四。謂見苦
集滅道所斷。此中見苦所斷見集所斷如前
說。見滅所斷疑相應受。見滅所斷疑彼相應
無明見滅所斷一切有漏緣。及遍行隨眠隨
增。見道所斷疑相應受。見道所斷疑彼相應
無明。見道所斷一切有漏緣。及遍行隨眠隨
增。此中隨增差別亦作四句。或有隨眠。於
疑相應受。所緣故隨增非相應故。乃至廣
作四句。第一句者謂除有漏緣疑彼相應無
明。諸餘見所斷有漏緣隨眠。第二句者謂無
漏緣疑彼相應無明。第三句者謂有漏緣疑
彼相應無明。第四句者謂除無漏緣疑彼相
應無明。諸餘無漏緣隨眠。
疑不相應受幾隨眠隨增。答除無漏緣疑彼
相應無明。餘隨眠隨增。此則總說。若別說者
疑不相應受差別有五。謂見苦所斷乃至修
所斷。此中見苦所斷見集所斷如前說。見滅
所斷疑不相應受。除見滅所斷疑彼相應無
明。諸餘見滅所斷。及遍行隨眠隨增。見道所
斷疑不相應受。除見道所斷疑彼相應無明。
諸餘見道所斷。及遍行隨眠隨增。修所斷疑
不相應受。修所斷一切及遍行隨眠隨增。此
中隨增差別亦作四句。或有隨眠於疑不

相應受所緣故。隨增非相應故。乃至廣作
四句。第一句者謂有漏緣疑彼相應無明。第
二句者謂除無漏緣疑彼相應無明。諸餘無
漏緣隨眠。第三句者謂除有漏緣疑彼相應
無明。諸餘有漏緣隨眠。第四句者無漏緣疑
彼相應無明。
因道緣起法幾界幾處幾蘊攝。答十八界十
二處五蘊。此中因者六因。謂相應乃至能作。
道者八支聖道。謂正見乃至正定。緣起者十
二支緣起。謂無明乃至老死。此因道緣起具
攝一切界處蘊法。問因及緣起可爾。道云何
亦具攝耶。答此文應作是說。因及緣起十八
界十二處五蘊攝。道三界二處五蘊攝。而不
作是說者。當知此中總說因道緣起攝一
切界處蘊非一一攝。復有說者。因道緣起
法皆謂六因此皆因之差別名故。如施設論
說。因道路等盡同一義。是以皆攝十八界
等。有作是說。因謂一切有為法。如品類足
說。因法云何。謂一切有為法由此具攝十八
界等。道即是因此因與誰為道與所得果。
由此亦攝十八界等。緣起亦是一切有為法。
如品類足說。緣起法云何。謂一切有為法。由
此亦攝十八界等。除眼觸等起想受心相應
法及耳觸等起想受心不相應法。餘法幾界
幾處幾蘊攝。答十八界十二處五蘊等起有
二種。謂因及剎那。此中但說剎那等起。以
說相應不相應故。問此所說中除何相應
不相應法。取何餘法界處蘊攝耶。答此中
除眼觸聚中非觸想受心。餘相應法及耳觸

聚中生老住無常。取所餘法界處蘊攝。所以
者何。此所說中若法是眼觸等起想受心相
應。及耳觸等起想受心不相應者。是所除彼
眼觸聚中觸雖與想受心相應。而非眼觸
等起自體。於自體無等起義故。想雖眼觸
等起及受心相應。而非想相應自體。於自
體無相應義故。受心說亦爾。是故眼觸聚
中觸想受心皆非所除。餘相應法眼觸等起
及想受心相應故乃是所除。耳觸聚中觸非
耳觸等起。亦非想受心不相應。想雖耳觸等
起及想不相應。而與受心相應。受心說亦
爾。餘心所法雖耳觸等起。而與想受心相
應。是故耳觸聚中心心所法皆非所除。彼俱
起生老住無常耳觸等起。及想受心不相應
故乃是所除是名所除法。餘法云何。謂六觸
身六想身六受身六識身。及耳鼻舌身意觸
聚中餘相應行蘊。除耳觸聚中生老住無常。
餘不相應行蘊一切色無為。如是餘法十八
界十二處五蘊攝。乃至除身觸等起想受心
相應法。及意觸等起想受心不相應法。餘法
幾界幾處幾蘊攝。答十八界十二處五蘊。此
中展轉相望所除所取准前應廣釋。有餘於
此作差別說。謂除眼觸等起想受心不相應
法。及耳觸等起想受心相應法。餘法十八界
十二處五蘊攝乃至除身觸等起想受心不
相應法。及意觸等起想受心相應法。餘法攝
如前說復有於此作差別說。謂除眼觸等
起想受心相應法。及耳觸等起想受心相應
法。餘法攝如前說。乃至除身觸等起想受心

相應法。及意觸等起想受心相應法餘法攝
如前說。復有於此作差別說。謂除眼觸等
起想受心不相應法。及耳觸等起想受心不
相應法。餘法攝如前說。乃至除身觸等起想
受心不相應法。及意觸等起想受心不相應
法。餘法攝如前說。
4 智納息1
見蘊第八中智納息第四之一
若事能通達彼事能遍知耶。如是等章及解
章義。既領會已次應廣釋。問何故作此論。
答欲止他說忍即是智性者意。顯示諸忍
與自所斷疑得俱生。未重審決不得名
智。故作斯論。事有五種一自性事二繫事
三所緣事四因事五攝受事。自性事者如世
尊說。我當為汝說四十四智事。及七十七
智事。謂緣有支智以事聲說。尊者妙音作
如是說。彼經說所緣事。謂諸有支是智所緣
故說名事。然彼契經說智為事非諸有支。
以後釋中但說智故。繫事者如前一行中
說。若事愛結繫彼事亦恚結繫耶。謂五部煩
惱於五部法或所緣故繫。或相應故繫。彼五
部法以事聲說。所緣事者如品類足說。一
切法皆智所知隨其事。云何隨其事。謂隨
其所行隨其境界隨其所緣。諸智所行境
界所緣以事聲說。因事者如品類足說。有
事法無事法即是有因法無因法又如世尊
伽他中說。
苾芻心寂靜能永斷諸事
生死畢竟滅更不受諸有
此中諸因以事聲說。一切生死無不由因。

諸因若斷生死便滅不受諸有得般涅槃。
攝受事者如契經說。棄捨所攝受田事宅事
財寶等事。又如世尊伽他中說。
人於田事財牛馬童僕等
男女諸親欲各別而耽愛
又在家者作如是言。我已取彼爾所事。彼
猶負我爾所事。諸如是等名攝受事。復有
五種事。一界事二處事三蘊事四世事五剎
那事。於十種事中此中依自性事而作論。
謂忍智等自性以事名說。
若事能通達彼事能遍知耶。答應作四句。此
中能通達依無漏道智遍知說能如實知故
能遍知。依無漏道證斷遍知說能永斷煩
惱。故此二互有長短故應作四句。有事能
通達非遍知。謂苦集滅道智不斷諸煩惱。
此則見道中諸所有智。及修道等中除正斷
煩惱道餘四諦智。如是諸智是能通達如實
智性故非遍知。不斷煩惱故。有事能遍知
非能通達。謂苦集滅道忍斷諸煩惱。此則見
道中斷煩惱諸忍。若未離欲染者通法忍
類忍。若已離欲染者唯類忍。如是諸忍是
能遍知永斷煩惱故非能通達非如實智
性故。問若諸忍非能通達者品類足說當云
何通。如彼說能通達云何。謂善慧。所通達
云何。謂一切法忍是善慧自性。何故此中說
非能通達耶。答此文應作是說。若事是
能通達彼事亦是能遍知。若事是能遍知彼
事亦是能通達。而不作是說者有別意趣。
謂此中依智遍知說能通達。依能證斷遍

知說能遍知故不應難。有事能通達亦能
遍知。謂苦集滅道智斷諸煩惱此則修道中
正斷煩惱。道苦等四智是能通達如實智性
故亦能遍知永斷煩惱故。有事非能通達
亦非能遍知。謂苦集滅道忍不斷諸煩惱。
此則已離欲染者於見道中四法忍非能
通達。非如實智性。故亦非能遍知不永斷
諸煩惱故。彼所對治煩惱先已斷故。
若事能厭彼事能離耶。答應作四句。此中厭
者於有漏法厭行相轉。離者能離所斷煩
惱。此二互有長短故應作四句。有事能厭
非能離。謂苦集忍智不斷諸煩惱。此則已
離欲染入見道者。於見道中苦集法忍。及
一切苦集智。於修道等中除正斷煩惱道。
餘苦集智是能厭緣可厭事轉故。非能離
不斷煩惱故。有事能離非能厭。謂滅道忍
智斷諸煩惱。此則未離欲染者。見道中滅
道法忍。及一切滅道類忍。於修道中正斷煩
惱。滅道二智。如是忍智是能離能斷煩惱
故。非能厭緣可欣事轉故。有事能厭亦能
離。謂苦集忍智斷諸煩惱。此則未離欲染
者。於見道中苦集法忍。及一切苦集類忍。於
修道中正斷煩惱道苦集二智。如是忍智是
能厭緣可厭事轉故。亦能離斷諸煩惱故。
有事非能厭亦非能離。謂滅道忍智不斷
諸煩惱。此則已離欲染者。於見道中滅道
法忍及一切滅道智。於修道等中除正斷煩
惱道餘滅道智。如是忍智非能厭緣可欣
事轉故。亦非能離不斷煩惱故。若事能

厭彼事修厭耶。答若事能厭彼事亦修厭。此
中修者得修習修。於見道中苦集忍智。於
修道等中唯苦集智。如是忍智是能厭緣可
厭事轉故。亦能修厭以厭行相於現在未
來或一或俱修故。有事修厭非能厭。謂滅
道智斷諸煩惱。此則於修道中以滅道智
離三界染時。於未來世修苦集智厭行相
故說名修厭。緣滅道諦可欣事轉故不名
能厭。問有滅道智現在前時。不斷煩惱而
亦能修厭。如在修道無學道中一切離染加
行解脫勝進道時。滅道二智及則以此二智練
根雜修靜慮。引發諸通諸無礙解無色解脫。
及念住等諸功德時。亦能修厭而非能厭。此
中何故不說耶。答亦應說而不說者當知
此義有餘。有說。此中說決定者。謂滅道智
斷諸煩惱。無間道時決定能修苦集二智。唯
未曾得而現前故。餘時不定或是曾得或未
曾得。若是曾得則不能修是故不說。有說。
此中說最初位不說餘位。有說。此中隨其
顯相以要言之。是故不說餘位修厭。
若事能離彼修厭耶。答應作四句。有事能
離非修厭。謂滅道忍斷諸煩惱此則未離
欲染者。於見道中滅道法忍。及一切滅道
類忍。如是諸忍是能離斷煩惱故非修厭。
爾時唯修欣行相故。有事修厭非能離。謂
苦集忍智不斷諸煩惱。此則已離欲染者
見道中苦集法忍。及一切苦集智。於修道等
中除正斷煩惱道餘苦集智。如是忍智是
修厭。爾時能修厭行相故。非能離不斷煩

惱故。問有滅道智現在前時。不斷煩惱亦
修厭非離。如在修道無學道中。一切離染
加行解脫勝進道時。滅道二智及則以此二
智練根雜修靜慮。引發諸通諸無礙解無色
解脫。及念住等諸功德時。亦修厭而非離
此中何故不說。答亦應說。而不說者當知
此義有餘。有說。此中說決定者。謂彼諸位
苦集二智決定。修厭滅道二智則不決定。以
曾得者現在前時不修厭故。有事能離亦修
厭。謂苦集忍智及滅道智斷諸煩惱。此則未
離欲染者於見道中苦集法忍。及一切苦
集類忍。於修道中正斷煩惱道苦集滅道智。
如是忍智是能離斷諸煩惱故亦修厭。爾時
能修厭行相故。有事非能離亦非修厭。謂
滅道忍智不斷諸煩惱。此則已離欲染者
於見道中滅道法忍。及一切滅道智。於修
道等中曾得滅道智現在前時。如是忍智非
離不斷煩惱故亦非修厭。爾時不修厭行
相故。前來所說厭離及修諸句差別。皆依無
漏法類忍智分位差別。不依餘者乘前通
達遍知事故。通達遍知唯無漏故。
問如所說厭體性是何。為是無貪為是慧
耶。設爾何失。若是無貪此文所說當云何通。
如說有事能厭亦能離。謂苦集忍智斷諸煩
惱。雜蘊所說復云何通。如說云何習厭離貪。
謂無學厭相應無貪無瞋無癡。非無貪與無
貪可說相應。自性與自性不相應故。若
是慧者則上所說復云何通。如說云何習
厭離貪。謂無學厭相應無貪無瞋無癡。無癡

則慧非慧與慧可說相應。所以如前。此
中有說。厭體性是無貪。問若爾者此文所說
當云何通。如說有事能厭亦能離乃至廣
說。答彼中說厭相雜法名厭。謂無貪與忍
智相應說為忍智。問雜蘊所說復云何通。如
說云何習厭離貪乃至廣說。答彼文應作是
說。厭相應無瞋無癡善根。不應說無貪而
說者當知是誦者隨言勢增益。有作是說。
厭體是慧。問若爾者則雜蘊所說復云何通。
如說云何習厭離貪乃至廣說。答彼文應作
是說。厭相應無貪無瞋不應說無癡。而說
者當知是誦者隨言勢增益。評曰。應說厭
體性異非無貪非慧。別有心所法名厭與
心相應。此則攝在復有所餘心所法中。此中
說無漏厭。然亦有有漏厭。謂與不淨觀持
息念。念住三義觀七處善。煗頂忍世第一法。
見道中現觀邊世俗智。修道等中如病如癰
如箭行相靜慮無量無色解脫勝處遍處等
相應。廣說過四大海今略說爾所。如是厭
所厭事應作四句。有厭非所厭。謂無漏厭。
有所厭非厭謂除有漏厭餘有漏法。有厭
亦所厭謂世俗厭。有非厭非所厭謂除無
漏厭餘無漏法。問若緣一切法作無我行
相。當說是欣相作意厭相作意耶。設爾何失。
若是欣相作意者。云何亦緣厭事轉耶。若是
厭相作意者云何亦緣欣事轉耶。答應作
是說是欣相作意。問若爾云何亦緣厭事
轉耶。答彼觀行者於可欣事深樂觀察。雖
緣無量可厭事猶故生欣。如於銅錢聚上

置一金錢。以金錢故而於彼聚生欣樂心。
此亦如是。
若法與彼法作因。或時此法不與彼法。作
因耶。答無時非因。問何故作此論。答為
止愚於因緣法執因緣性非實有者意。顯
因緣法體性實有故作斯論。有說。此中依
一因作論。謂相應因。以相應因諸心心所
同取一緣恒不相離通三世故。有說。此
中依二因作論。謂相應俱有。以此二因俱
通三世不相離故。有說。此中依三因作
論。謂相應俱有異熟。此三於果有勝功能
通三世故。有說此中依四因作論。謂相應
俱有異熟能作。以此四因通三世故。有說。
此中依五因作論。謂除遍行因。有說。此中
依六因作論。問若法未至已生位則不能
為同類遍行因。至已生位方能為因。如何
依六因作論說無時非因耶。答此依最後
位說。謂未來法至正生位定能為因。從此
以後無時非因故作是說。問若爾者等無
間緣何故不作是說。如說若法與彼法作
等無間。或時此法不與彼法作等無間耶。
答若時此法未至已生。然心心所法應為
等無間緣者。至正生位定能為緣。何故不
說無時非等無間耶。答彼亦應作是說
而不說者。當知欲現種種文種種說莊嚴
於義令易解故。復次欲現二門二略二階
二影二明二炬互相顯示。如此彼亦爾。如
彼此亦爾故。餘義廣說如雜蘊智納息。
若法與彼法作等無間。或時此法不與彼

法作等無間耶。答若時此法未至已生。問
何故作此論。答為止愚於等無間緣法執
等無間緣法非實有者意。顯等無間緣法體
是實有故作斯論。問若時此法未至已生
者此法是何。為前為後為前法未至已生
位不與後法作等無間。若至便作等無間
耶。為後法未至已生位。不與前法作等
無間。若至便作等無間耶。如世第一法生
苦法智忍為世第一法未至已生位。不與
苦法智忍為等無間。若至便作等無間耶。
為苦法智忍未至已生位。不與世第一法
為等無間若至便作等無間耶。若前法未
至已生位。不與後法作等無間。若至便作
者有心位可爾。無心位云何可爾。如入無
想定或滅盡定經七晝夜或復多時。若入定
心至已生位。則與出定心為等無間者
應第二剎那出定心則生。所以者何。若法
與彼法為等無間緣取彼為果必無有
法。或諸有情若藥草若呪術若佛若獨覺若
到究竟聲聞。有能障彼令第二剎那不得
生者。是則二無心定應永不起。若後法未
至已生位不與前法作等無間。若至便作
者豈不苦法智忍未至已生位。亦與世第
一法為等無間耶。此中有說。若前法未至
已生位。不與後法作等無間。若至便作。問
若然者有心位可爾無心位云何可爾。答此
中說有心位不說餘位。有說。設依無心
位說亦無有過。謂入定心現在前時頓取
諸定及出心果。亦與最初剎那定果後諸定

剎那。及出定心生時與果非取先已取故。評
曰。彼不應作是說。所以者何。無有等無
間緣異時取果異時與果。若此時取果。則此
時與果故。有作是說。若後法未至已生位
不與前法作等無間。若至便作。問豈不苦
法智忍未至已生位亦與世第一法為等
無間耶。答爾時雖與世第一法作等無間。
而非等無間緣。若至已生位亦名等無間
亦名等無間緣。如等無間等無間緣。如是
等無間有等無間相續有相續亦爾。餘義廣
說如雜蘊智納息。

Việt dịch

QUYỂN 196

LUẬN VỀ TƯỞNG (Phần 2)

Kiến tương ưng với Thọ có mấy tùy miên tùy tăng? Cho đến nói
rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì ngăn chặn ý gạt bỏ không có Chánh kiến thế tục, hiển
bày thật sự có Chánh kiến thế tục là tùy tăng của tùy miên do Tu mà
đoạn và tùy tăng của tùy miên biến hành; vả lại, ngăn chặn ý nói là
có tùy miên Nghi do Tu mà đoạn, hiển bày về tùy miên Nghi chỉ là do
Kiến mà đoạn, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Như ban đêm trông thấy vật, hoài nghi là cây cột chăng,
hay là người chăng? Nghi này lẽ nào không phải là do Tu mà đoạn hay
sao?
Đáp: Lúc này đối với sự việc ấy chưa rõ ràng cho nên nghi ngờ,
lúc rõ ràng thì đoạn mất chứ không phải là tánh thuộc tùy miên.
Hỏi: Trong này vì sao chỉ dựa vào Kiến-Nghi mà soạn luận?
Đáp: Bởi vì đó là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến
nói rộng ra.
Lại nữa, chỉ có hai loại này không tương ưng với nhau mà cùng
duyên với bốn Đế, cùng bao gồm biến hành, cùng duyên với hữu lậu-vô
lậu, cùng duyên với hữu vi-vô vi, đối với phiền não khác là hơn hẳn.
Tham-Sân-Mạn tuy không tương ưng với nhau, mà không có thể cùng
duyên với bốn Đế, chỉ là không biến hành, chỉ duyên với hữu lậu, chỉ
duyên với hữu vi. Vô minh tuy duyên với bốn Đế, cũng là biến hành
cùng duyên với hữu vi-vô vi, hữu lậu-vô lậu, mà tương ưng với tất cả
phiền não; đều không phải là tăng mạnh hơn hẳn, vì thế cho nên trong
này chỉ dựa vào Kiến-Nghi mà soạn luận.
Hỏi: Kiến tương ưng với Thọ có mấy tùy miên tùy tăng?
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 196 793  
www.daitangkinh.org  
Đáp: Tùy miên duyên hữu lậu của ba cõi và Kiến duyên vô lậu,
Kiến ấy tương ưng với tùy miên Vô minh tùy tăng. Đây là nói tổng quát.
Nếu nói riêng biệt thì Kiến tương ưng với Thọ sai biệt có năm, đó là do
kiến Khổ mà đoạn cho đến do Tu mà đoạn.
Trong này, Kiến tương ưng với Thọ do kiến Khổ mà đoạn, là tất
cả tùy miên do kiến Khổ mà đoạn, và tùy miên biến hành tùy tăng do
kiến Tập mà đoạn; Kiến tương ưng với Thọ do kiến Tập mà đoạn, là
tất cả tùy miên do kiến Tập mà đoạ n, và tùy miên biến hành tùy tăng
do kiến Khổ mà đoạn; Kiến tương ưng với Thọ do kiến Diệt mà đoạn,
là Kiến duyên vô lậu do kiến Diệt mà đoạn, Kiến ấy tương ưng với Vô
minh, tất cả tùy miên duyên hữu lậu, và tùy miên biến hành tùy tăng
do kiến Diệt mà đoạn; Kiến tương ưng với Thọ do kiến Đạo mà đoạn,
là Kiến duyên vô lậu do kiến Đạo mà đoạn, Kiến ấy tương ưng với Vô
minh, tất cả tùy miên duyên hữu lậu, và tùy miên biến hành tùy tăng do
kiến Đạo mà đoạn; Kiến tương ưng với Thọ do Tu mà đoạn, là tất cả tùy
miên và tùy miên biến hành tùy tăng do Tu mà đoạn.
Trong này, tùy tăng sai biệt nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Hoặc có tùy miên đối với Kiến tương ưng với Thọ, bởi vì sở
duyên cho nên tùy tăng chứ không phải là bởi vì tương ưng.
2. Hoặc có tùy miên đối với Kiến tương ưng với Thọ, bởi vì tương
ưng cho nên tùy tăng chứ không phải là bởi vì sở duyên.
3. Hoặc có tùy miên đối với Kiến tương ưng với Thọ, bởi vì sở
duyên cho nên tùy tăng mà cũng là bởi vì tương ưng.
4. Hoặc có tùy miên đối với Kiến tương ưng với Thọ, không phải
là bởi vì sở duyên cho nên tùy tăng cũng không phải là bởi vì tương
ưng.
Câu thứ nhất, đó là trừ ra Kiến duyên hữu lậu, Kiến ấy tương ưng
với Vô minh, còn lại các tùy miên duyên hữu lậu.
Câu thứ hai, đó là Kiến duyên vô lậu, Kiến ấy tương ưng với  Vô
minh.

minh.
Câu thứ ba, đó là Kiến duyên hữu lậu, Kiến ấy tương ưng với Vô
Câu thứ tư, đó là trừ ra Kiến duyên vô lậu, Kiến ấy tương ưng với
Vô minh, còn lại các tùy miên duyên vô lậu.
Hỏi: Kiến không tương ưng với Thọ có mấy tùy miên tùy tăng?
Đáp: Trừ ra Kiến duyên vô lậu, Kiến ấy tương ưng với Vô  minh,
còn lại các tùy miên tùy tăng. Đây là nói tổng quát. Nếu nói riêng biệt
thì Kiến không tương ưng với Thọ sai biệt có năm, đó là do kiến   Khổ
794 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
mà đoạn cho đến do Tu mà đoạn.
Trong này, Kiến không tương ưng với Thọ do kiến Khổ mà đoạn,
là tất cả tùy miên do kiến Khổ mà đoạn, và tùy miên biến hành tùy tăng
do kiến Tập mà đoạn; Kiến không tương ưng với Thọ do kiến Tập mà
đoạn, là tất cả tùy miên do kiến Ta äp mà đoạn, và tùy miên biến hành
tùy tăng do kiến Khổ mà đoạn; Kiến không tương ưng với Thọ do kiến
Diệt mà đoạn, là trừ ra Tà kiến do kiến Diệt mà đoạn, Tà kiến ấy tương
ưng với Vô minh, còn lại các tùy miên, và tùy miên biến hành tùy tăng
do kiến Diệt mà đoạn; Kiến không tương ưng với Thọ do kiến Đạo mà
đoạn, là Tà kiến do kiến Đạo mà đo ạn, Tà kiến ấy tương ưng với Vô
minh, còn lại các tùy miên, và tùy miên biến hành tùy tăng do kiến Đạo
mà đoạn; Kiến không tương ưng với Thọ do Tu mà đoạn, là tất cả tùy
miên và tùy miên biến hành tùy tăng do Tu mà đoạn.
Trong này, tùy tăng sai biệt cũng làm thành bốn câu phân biệt:
1. Hoặc có tùy miên đối với Kiến không tương ưng với Thọ, bởi vì
sở duyên cho nên tùy tăng chứ không phải là bởi vì tương ưng.
2. Hoặc có tùy miên đối với Kiến không tương ưng với Thọ, bởi vì
tương ưng cho nên tùy tăng chứ không phải là bởi vì sở duyên.
3. Hoặc có tùy miên đối với Kiến không tương ưng với Thọ, bởi vì
sở duyên cho nên tùy tăng mà cũng là bởi vì tương ưng.
4. Hoặc có tùy miên đối với Kiến không tương ưng với Thọ, không
phải là bởi vì sở duyên cho nên tùy tăng cũng không phải là bởi vì tương
ưng.
Câu thứ nhất, đó là Kiến duyên hữu lậu, Kiến ấy tương ưng với
Vô minh.
Câu thứ hai, đó là trừ ra Kiến duyên vô lậu, Kiến ấy tương ưng với
Vô minh, còn lại các tùy miên duyên vô lậu.
Câu thứ ba, đó là trừ ra Kiến duyên hữu lậu, Kiến ấy tương ưng
với Vô minh, còn lại các tùy miên duyên hữu lậu.
Câu thứ tư, đó là Kiến duyên vô lậu, Kiến ấy tương ưng với    Vô
minh.

Hỏi: Nghi tương ưng với Thọ có mấy tùy miên tùy tăng?
Đáp: Tùy miên duyên hữu lậu do kiến Khổ mà đoạn của ba cõi và
Nghi duyên vô lậu, Nghi ấy tương ưng với tùy miên Vô minh tùy tăng.
Đây là nói tổng quát. Nếu nói riêng biệt thì Nghi tương ưng với Thọ sai
biệt có bốn, đó là do kiến Khổ-Tập-Diệt-Đạo mà đoạn.
Trong này, Nghi tương ưng với Thọ do kiến Khổ mà đoạn và do
kiến Tập mà đoạn, nói như trước; Nghi tương ưng với Thọ do kiến Diệt
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 196 795  
www.daitangkinh.org  
mà đoạn, là Nghi do kiến Diệt ma ø đoạn, Nghi ấy tương ưng với Vô
minh, tất cả tùy miên duyên hữu lậu, và tùy miên biến hành tùy tăng
do kiến Diệt mà đoạn; Nghi tương ưng với Thọ do kiến Đạo mà đoạn,
là Nghi do kiến Đạo mà đoạn, Nghi  ấy tương ưng với Vô minh, tất cả
tùy miên duyên hữu lậu, và tùy mie ân biến hành tùy tăng do kiến Đạo
mà đoạn.
Trong này, tùy tăng sai biệt cũng làm thành bốn câu phân biệt:
1. Hoặc có tùy miên đối với Nghi tương ưng với Thọ, bởi vì sở
duyên cho nên tùy tăng chứ không phải là bởi vì tương ưng.
2. Hoặc có tùy miên đối với Nghi tương ưng với Thọ, bởi vì tương
ưng cho nên tùy tăng chứ không phải là bởi vì sở duyên.
3. Hoặc có tùy miên đối với Nghi tương ưng với Thọ, bởi vì sở
duyên cho nên tùy tăng mà cũng là bởi vì tương ưng.
4. Hoặc có tùy miên đối với Nghi tương ưng với Thọ, không phải
là bởi vì sở duyên cho nên tùy tăng cũng không phải là bởi vì tương
ưng.
Câu thứ nhất, đó là trừ ra Nghi duyên hữu lậu, Nghi ấy tương ưng
với Vô minh, còn lại các tùy miên duyên hữu lậu do Kiến mà đoạn.
Câu thứ hai, đó là Nghi duyên vô lậu, Nghi ấy tương ưng với  Vô
minh.

minh.
Câu thứ ba, đó là Nghi duyên hữu lậu, Nghi ấy tương ưng với Vô
Câu thứ tư, đó là trừ ra Nghi duyên vô lậu, Nghi ấy tương ưng với
Vô minh, còn lại các tùy miên duyên vô lậu.
Hỏi: Nghi không tương ưng với Thọ có mấy tùy miên tùy tăng?
Đáp: Trừ ra Nghi duyên vô lậu, Nghi ấy tương ưng với Vô  minh,
còn lại các tùy miên tùy tăng. Đây là nói tổng quát. Nếu nói riêng biệt
thì Nghi không tương ưng với Thọ sai bi ệt có năm, đó là do kiến Khổ
mà đoạn cho đến do Tu mà đoạn.
Trong này, Nghi không tương ưng với Thọ do kiến Khổ mà đoạn
và do kiến Tập mà đoạn, nói như trước; Nghi không tương ưng với Thọ
do kiến Diệt mà đoạn, là trừ ra Ng hi do kiến Diệt mà đoạn, Nghi ấy
tương ưng với Vô minh, còn lại các tùy miên, và tùy miên biến hành tùy
tăng do kiến Diệt mà đoạn; Nghi không tương ưng với Thọ do kiến Đạo
mà đoạn, là trừ ra Nghi do kiến Đạ o mà đoạn, Nghi ấy tương ưng với
Vô minh, còn lại các tùy miên, và tùy miên biến hành tùy tăng do kiến
Đạo mà đoạn; Nghi không tương ưng với Thọ do Tu mà đoạn, là tất cả
tùy miên và tùy miên biến hành tùy tăng do Tu mà đoạn.
796 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Trong này, tùy tăng sai biệt cũng làm thành bốn câu phân biệt:
1. Hoặc có tùy miên đối với Nghi không tương ưng với Thọ, bởi vì
sở duyên cho nên tùy tăng chứ không phải là bởi vì tương ưng.
2. Hoặc có tùy miên đối với Nghi không tương ưng với Thọ, bởi vì
tương ưng cho nên tùy tăng chứ không phải là bởi vì sở duyên.
3. Hoặc có tùy miên đối với Nghi không tương ưng với Thọ, bởi vì
sở duyên cho nên tùy tăng mà cũng là bởi vì tương ưng.
4. Hoặc có tùy miên đối với Nghi không tương ưng với Thọ, không
phải là bởi vì sở duyên cho nên tùy tăng cũng không phải là bởi vì tương
ưng.
Câu thứ nhất, đó là Nghi duyên hữu lậu, Nghi ấy tương ưng với
Vô minh.
Câu thứ hai, đó là trừ ra Nghi duyên vô lậu, Nghi ấy tương ưng với
Vô minh, còn lại các tùy miên duyên vô lậu.
Câu thứ ba, đó là trừ ra Nghi duyên hữu lậu, Nghi ấy tương ưng
với Vô minh, còn lại các tùy miên duyên hữu lậu.
Câu thứ tư, đó là Nghi duyên vô la äu, Nghi ấy tương ưng với Vô
minh.
Hỏi: Pháp thuộc Nhân-Đạo-D uyên khởi thâu nhiếp mấy Giới-
mấy Xứ-mấy Uẩn?
Đáp: Mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.
Trong này, Nhân là sáu nha ân, đó là Tương ưng cho đến Năng
tác; Đạo là tám chi Thánh đạo, đó là Chánh kiến cho đến Chánh định;
Duyên khởi là mười hai chi Duyên khởi, đó là Vô minh cho đến Lão-tử.
Nhân-Đạo-Duyên khởi này thâu nhiếp đầy đủ tất cả Giới-Xứ-Uẩn.
Hỏi: Nhân và Duyên khởi thì có thể như vậy, Đạo thì tại sao cũng
thâu nhiếp đầy đủ?
Đáp: Văn này nên đưa ra ra cách nói này: Nhân và Duyên khởi
thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn, Đạo thâu nhiếp ba
Giới-hai Xứ-năm Uẩn. Nhưng mà không đưa ra cách nói này, thì nên
biết là trong này nói tổng quát Nhân-Đạo-Duyên khởi thâu nhiếp tất cả
Giới-Xứ-Uẩn chứ không phải là thâu nhiếp từng loại một.
Lại có người nói: Pháp thuộc Nhân-Đạo-Duyên khởi đều nói là
sáu Nhân, bởi vì đây đều là tên gọi sai biệt của Nhân, như luận Thi
Thiết nói: “Nhân-Đạo lộ… đều cùng chung một nghĩa, vì vậy đều thâu
nhiếp mười tám Giới…”
Có người đưa ra cách nói này: Nhân đó là tất cả pháp hữu vi, như
luận Phẩm Loại Túc nói: “Pháp thuộc  Nhân là thế nào? Đó là tất cả
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 196 797  
www.daitangkinh.org  
pháp hữu vi, vì vậy thâu nhiếp đầy đủ mười tám Giới… Đạo tức là Nhân,
Nhân này cùng với pháp nào làm Đạo mang lại quả đã đạt được? Vì vậy
cũng thâu nhiếp mười tám Giới…” Duyên khởi cũng là tất cả pháp hữu
vi, như luận Phẩm Loại Túc nói: “Pháp thuộc Duyên khởi là thế nào?
Đó là tất cả pháp hữu vi, vì vậy cũng thâu nhiếp mười tám Giới…”
Hỏi: Trừ ra Nhãn xúc cùng khởi  lên pháp tương ưng với Tưởng-
Thọ-Tâm, và Nhĩ xúc cùng khởi lên pháp không tương ưng với Tưởng-
Thọ-Tâm, pháp còn lại thâu nhiếp mấy Giới-mấy Xứ-mấy Uẩn?
Đáp: Mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.
Cùng khởi lên(đẳng khởi) có hai loại, đó là nhân và sát-na. Trong
này chỉ nói đến sát-na cùng khởi lên, bởi vì nói về tương ưng và không
tương ưng.
Hỏi: Trong này đã nói trừ ra pháp tương ưng-không tương ưng
nào, chọn lấy pháp còn lại nào thâu nhiếp Giới-Xứ-Uẩn?
Đáp: Trong này trừ ra không phải  là Xúc-Tưởng-Thọ-Tâm trong
tụ Nhãn xúc, còn lại pháp tương ưng, và sinh-lão-trú-vô thường trong tụ
Nhĩ xúc, chọn lấy những pháp còn lại thâu nhiếp Giới-Xứ-Uẩn. Nguyên
cớ thế nào? Bởi vì trong này đã nói nếu pháp là Nhãn xúc cùng khởi lên
tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, và Nhĩ xúc cùng khởi lên không tương
ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, là những pháp đã trừ ra.
Trong tụ Nhãn xúc ấy, Xúc tuy tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm
mà không phải là Nhãn xúc cùng khởi lên, bởi vì tự Thể đối với tự Thể
không có nghĩa cùng khởi lên; Tưởng tuy là Nhãn xúc cùng khởi lên và
tương ưng với Thọ-Tâm, mà không pha ûi là tương ưng với Tưởng, bởi
vì tự Thể đối với tự Thể không có nghĩa tương ưng; Thọ-Tâm nói cũng
như vậy. Vì thế cho nên trong tụ Nh ãn xúc, Xúc-Tưởng-Thọ-Tâm đều
không phải là những pháp đã trừ ra, còn lại pháp tương ưng, bởi vì Nhãn
xúc cùng khởi lên và tương ưng với  Tưởng-Thọ-Tâm, chính là những
pháp đã trừ ra.
Trong tụ Nhĩ xúc, Xúc không phải là Nhĩ xúc cùng khởi lên, cũng
không phải là không tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm; Tưởng tuy là Nhĩ
xúc cùng khởi lên và không tương ưng với Tưởng, mà tương ưng với
Thọ-Tâm; Thọ-Tâm nói cũng như vậy. Còn lại tâm sở pháp tuy là Nhĩ
xúc cùng khởi lên, mà tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm. Vì thế cho nên
trong tụ Nhĩ xúc, tâm-tâm sở pha ùp đều không phải là những pháp đã
trừ ra, bởi vì pháp ấy cùng lúc khởi lên sinh-lão-trú-vô thường; Nhĩ xúc
cùng khởi lên và tương ưng với Tư ởng-Thọ-Tâm, chính là những pháp
đã trừ ra.
798 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Pháp còn lại là thế nào? Đó là sáu Xúc thân-sáu Tưởng thân-sáu
Thọ thân-sáu Thức thân, và Hành uẩn tương ưng khác trong tụ Nhĩ-Tỷ-
Thiệt-Thân-Ý xúc, trừ ra sinh-la õo-trú-vô thường trong tụ Nhĩ xúc, còn
lại Hành uẩn không tương ưng, tất cả Sắc-Vô vi. Như vậy, pháp còn lại
thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.
Hỏi: Cho đến trừ ra Thân xúc c ùng khởi lên pháp tương ưng với
Tưởng-Thọ-Tâm, và Ý xúc cùng khởi lên pháp không tương ưng với
Tưởng-Thọ-Tâm, pháp còn lại th âu nhiếp mấy Giới-mấy Xứ-mấy
Uẩn?
Đáp: Mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.
Trong này, lần lượt chuyển tiếp hướng về với nhau đã trừ ra-đã
chọn lấy, dựa theo trước nên giải thích rộng ra.
Có người khác đối với điều này đưa ra cách nói sai biệt, đó là trừ
ra Nhãn xúc cùng khởi lên pháp không tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm,
và Nhĩ xúc cùng khởi lên pháp tư ơng ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, pháp
còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn; cho đến trừ ra
Thân xúc cùng khởi lên pháp không tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, và
Ý xúc cùng khởi lên pháp tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, pháp còn lại
thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.
Lại có người đối với điều này đưa ra cách nói sai biệt, đó là trừ ra
Nhãn xúc cùng khởi lên pháp tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, và Nhĩ
xúc cùng khởi lên pháp tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, pháp còn lại
thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai X ứ-năm Uẩn; cho đến trừ ra Thân
xúc cùng khởi lên pháp tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, và Ý xúc cùng
khởi lên pháp tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, pháp còn lại thâu nhiếp
mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.
Lại có người đối với điều này đưa ra cách nói sai biệt, đó là trừ ra
Nhãn xúc cùng khởi lên pháp không tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, và
Nhĩ xúc cùng khởi lên pháp không tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, pháp
còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn; cho đến trừ ra
Thân xúc cùng khởi lên pháp không tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, và
Ý xúc cùng khởi lên pháp không tương ưng với Tưởng-Thọ-Tâm, pháp
còn lại thâu nhiếp mười tám Giới-mười hai Xứ-năm Uẩn.

-------------------------------
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 196 799  
www.daitangkinh.org  
CHƯƠNG VIII: KIẾN UẨN (Tiếp Theo)

Phẩm Thứ Tư: LUẬN VỀ TRÍ
LUẬN VỀ TRÍ (Phần 1)
Nếu Sự có thể thông đạt thì Sự ấy có thể biết khắp chăng? Các
chương như vậy và giải thích về nghĩa của từng chương đã lĩnh hội rồi,
tiếp theo nên giải thích rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì cần phải ngăn chặn về ý của người khác nói Nhẫn tức
là tánh thuộc Trí, hiển bày rõ ràng về các Nhẫn đạt được sinh khởi cùng
lúc với Nghi do mình đã đoạn, nhưng chưa thẩm định trở lại thì không
được gọi là Trí, cho nên soạn ra phần luận này.
Sự có năm loại:
1. Sự thuộc tự tánh.
2. Sự thuộc ràng buộc.
3. Sự thuộc sở duyên.
4. Sự thuộc về Nhân.
5. Sự thuộc nhiếp thọ.
Sự thuộc tự tánh, như Đức Thế Tôn nói: “Ta sẽ vì ông mà nói về
Sự của bốn mươi bốn Trí, và Sự của bảy mươi bảy Trí.” Đó là Trí duyên
với chi Hữu dùng thanh Sự mà nói.
Tôn giả Diệu Âm đưa ra cách nói như vậy: “Kinh ấy nói Sự thuộc
sở duyên, đó là bởi vì các chi Hữu là sở duyên của Trí, cho nên gọi là
Sự.”
Nhưng kinh ấy nói Trí là Sự chứ không phải là các chi Hữu, bởi vì
trong phần giải thích sau chỉ nói về Trí.
Sự thuộc ràng buộc, nói như trong phần Nhất Hành trước đây: Nếu
Sự do kiết Ái ràng buộc thì Sự ấy cũng do kiết Nhuế ràng buộc chăng?
Đó là phiền não thuộc năm Bộ đối với pháp thuộc năm Bộ, hoặc bởi vì
sở duyên cho nên ràng buộc, hoặc bởi vì tương ưng cho nên ràng buộc,
pháp thuộc năm Bộ ấy dùng thanh Sự mà nói.
Sự thuộc sở duyên, như luận Phẩm Loại Túc nói: “Tất cả các pháp
đều do Trí nhận biết tùy theo Sự của nó. Thế nào là tùy theo Sự của
nó? Đó là tùy theo sở hành của nó, tùy theo cảnh giới của nó, tùy theo
sở duyên của nó.” Các Trí sở hành-cảnh giới-sở duyên dùng thanh Sự
mà nói.
800 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
Sự thuộc về Nhân, như luận Phẩm Loại Túc nói: “Pháp có Sự-
pháp không có Sự, tức là pháp có nhân-pháp không có nhân.” Lại như
Đức Thế Tôn nói trong bài tụng:
“Tỳ kheo tâm yên lặng vắng vẻ,
Có thể vĩnh viễn đoạn mọi Sự,
Sinh tử đến cuối cùng diệt hết,
Không còn thọ nhận các quả báo.”
Trong này, các nhân dùng thanh Sự mà nói, tất cả sinh tử không
có pháp nào không dựa vào nhân, các nhân nếu đoạn thì sinh tử không
còn, không thọ nhận các quả báo, được nhập Niết-bàn.
Sự thuộc nhiếp thọ, như trong kinh nói: “Rời bỏ các Sự đã nhiếp
thọ như ruộng đất-nhà cửa-tiền bạc châu báu…” Lại như Đức Thế Tôn
nói trong bài tụng:
“Người đối với ruộng đất-tài sản,
Trâu-ngựa cùng tôi tớ hầu hạ,
Bà con thân thích và nam nữ,
Ham muốn khác nhau mà đắm trước.”
Vả lại, người tại gia dấy lên nói như vậy: Mình đã giữ lấy bao
nhiêu việc của họ, họ hãy còn thua bấy nhiêu việc của mình. Những
loại như vậy gọi là Sự thuộc nhiếp thọ.
Lại có năm loại Sự:
1. Sự thuộc về Giới.
2. Sự thuộc về Xứ.
3. Sự thuộc về Uẩn.
4. Sự thuộc về Thế.
5. Sự thuộc về Sát-na.
Ở trong mười loại Sự, trong này dựa vào Sự thuộc tự tánh mà soạn
luận, đó là tự tánh của các Nhẫn-Trí dùng tên gọi về Sự mà nói.
Hỏi: Nếu Sự có thể thông đạt (thông đạt) thì Sự ấy có thể biết
khắp (biến tri) chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân  biệt. Trong này, có thể thông
đạt là dựa vào Trí biết khắp về đạo vô lậu mà nói, bởi vì có thể biết như
thật; có thể biết khắp là dựa va øo chứng đoạn biết khắp về đạo vô lậu
mà nói, bởi vì có thể vĩnh viễn đoạn phiền não. Bởi vì hai loại này cùng
có dài-ngắn, cho nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có Sự có thể thông đạt mà không phải là có thể biết khắp, đó
là Khổ-Tập-Diệt-Đạo trí không đoạn các phiền não. Đây là các Trí vốn
có trong Kiến đạo, và trong Tu đạo…tr ừ ra đạo đích thực đoạn phiền
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 196 801  
www.daitangkinh.org  
não, còn lại Trí thuộc bốn Đế. Như vậy các Trí là có thể thông đạt, bởi
vì tánh thuộc Trí như thật; không phả i là biết khắp, bởi vì không đoạn
phiền não.
2. Có Sự có thể biết khắp mà không phải là có thể thông đạt, đó
là Khổ-Tập-Diệt-Đạo nhẫn đoạn các phiền não. Đây là các Nhẫn đoạn
phiền não trong Kiến đạo, nếu chưa lìa nhiễm cõi Dục thì bao gồm
Pháp nhẫn-Loại nhẫn, nếu đã lìa nhiễm cõi Dục thì chỉ có Loại nhẫn.
Như vậy các Nhẫn là có thể biết khắp, bởi vì vĩnh viễn đoạn phiền não;
không phải là có thể thông đạt, bởi vì không phải là tánh thuộc Trí như
thật.
Hỏi: Nếu các Nhẫn không phải là có thể thông đạt, thì luận Phẩm
Loại Túc nói nên hiểu thế nào? Như luận ấy nói: “Có thể thông đạt là
thế nào? Đó là Tuệ thiện. Đã được thông đạt là thế nào? Đó là tất cả
các Pháp nhẫn, là tự tánh của Tuệ thiện.” Vì sao trong này nói không
phải là có thể thông đạt?
Đáp: Văn ấy nên đưa ra cách nói này: “Nếu Sự là có thể thông
đạt thì Sự ấy cũng là có thể biết khắp, nếu Sự là có thể biết khắp thì Sự
ấy cũng là có thể thông đạt.” Nhưng mà không đưa ra cách nói này là
có ý nghĩa khác, đó là trong này dựa vào Trí biết khắp mà nói là có thể
thông đạt, dựa vào có thể chứng đoạn bi ết khắp mà nói là có thể biết
khắp, cho nên không cần phải vặn hỏi.
3. Có Sự có thể thông đạt mà cũng có thể biết khắp, đó là Khổ-
Tập-Diệt-Đạo trí đoạn các phiền não. Đây là đạo đích thực đoạn phiền
não trong Tu đạo, bốn Trí như Khổ... là có thể thông đạt, bởi vì tánh
thuộc Trí như thật; cũng có thể biế t khắp, bởi vì vĩnh viễn đoạn phiền
não.
4. Có Sự không phải là có thể t hông đạt mà cũng không phải là
có thể biết khắp, đó là Khổ-Tập-Diệt-Đạo nhẫn không đoạn các phiền
não. Đây là đã lìa nhiễm cõi D ục, bốn Pháp nhẫn ở trong Kiến đạo
không phải là có thể thông đạt, bởi vì không phải là tánh thuộc Trí như
thật; cũng không phải là có thể biết khắp, bởi vì không vĩnh viễn đoạn
các phiền não, bởi vì phiền não do pháp ấy đối trị đã đoạn trước rồi.
Hỏi: Nếu Sự có thể chán ngán (yế m) thì Sự ấy có thể lìa bỏ (ly)
chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt. Trong này, chán ngán là
đối với pháp hữu lậu do hành tướng chán ngán mà chuyển, lìa bỏ là có
thể lìa bỏ phiền não đã đoạn. Bởi vì hai loại này cùng có dài-ngắn, cho
nên làm thành bốn câu phân biệt:
802 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
1. Có Sự có thể chán ngán mà không  phải là có thể lìa bỏ, đó là
Khổ-Tập nhẫn trí không đoạn các phiền não. Đây là đã lìa nhiễm cõi
Dục tiến vào Kiến đạo, Khổ-Tập pha ùp nhẫn và tất cả Khổ-Tập trí ở
trong Kiến đạo, ở trong Tu đạo… trừ ra  đạo đích thực đoạn phiền não,
còn lại Khổ-Tập trí là có thể chán ngán, bởi vì duyên với sự đáng chán
ngán mà chuyển; không phải là có thể lìa bỏ, bởi vì không đoạn phiền
não.
2. Có Sự có thể lìa bỏ mà không phải  là có thể chán ngán, đó là
Diệt-Đạo nhẫn trí đoạn các phiền não. Đây là chưa lìa nhiễm cõi Dục,
Diệt-Đạo pháp nhẫn và tất cả Diệt-Đạo loại nhẫn trong Kiến đạo, Diệt
trí-Đạo trí đích thực đoạn phiền não ở trong Tu đạo. Như vậy Nhẫn trí
là có thể lìa bỏ, bởi vì có thể đoạn phiền não; không phải là có thể chán
ngán, bởi vì duyên với sự đáng vui mừng mà chuyển.
3. Có Sự có thể chán ngán mà cũng có thể lìa bỏ, đó là Khổ-Tập
nhẫn trí đoạn các phiền não. Đây là c hưa lìa nhiễm cõi Dục, Khổ-Tập
pháp nhẫn và tất cả Khổ-Tập loạ i nhẫn ở trong Kiến đạo, ở trong Tu
đạo là đạo đích thực đoạn phiền não, Khổ trí-Tập trí. Như vậy Nhẫn trí
là có thể chán ngán, bởi vì duyên v ới sự đáng chán ngán mà chuyển;
cũng có thể lìa bỏ, bởi vì đoạn các phiền não.
4. Có Sự không phải là có thể cha ùn ngán mà cũng không phải là
có thể lìa bỏ, đó là Diệt-Đạo nhẫn trí không đoạn các phiền não. Đây
là đã lìa nhiễm cõi Dục, Diệt-Đạo pháp nhẫn và tất cả Diệt-Đạo trí ở
trong Kiến đạo, ở trong Tu đạo… trừ ra  đạo đích thực đoạn phiền não,
còn lại Diệt-Đạo trí. Như vậy Nhẫn trí không phải là có thể chán ngán,
bởi vì duyên với sự đáng vui mừng mà chuyển; cũng không phải là có
thể lìa bỏ, bởi vì không đoạn phiền não.
Hỏi: Nếu Sự có thể chán ngán thì Sự ấy là Tu chán ngán chăng?
Đáp: Nếu Sự có thể chán ngán thì Sự ấy cũng là Tu chán ngán.
Trong này, Tu là tu đạt được và tu luyện tập, ở trong Kiến đạo là Khổ-
Tập nhẫn trí, ở trong Tu đạo…thì chỉ có Khổ-Tập trí. Như vậy Nhẫn trí là
có thể chán ngán, bởi vì duyên với sự đáng chán ngán mà chuyển; cũng
có thể Tu chán ngán, bởi vì hành tướng chán ngán ở hiện tại-vị lai, hoặc
là tu một loại, hoặc là tu cả hai loại.
Có Sự là Tu chán ngán mà không phải là có thể chán ngán, đó là
Diệt-Đạo trí đoạn các phiền não. Đây là ở trong Tu đạo lúc dùng Diệt-
Đạo trí lìa nhiễm của ba cõi, tu Khổ-Tập trí thuộc hành tướng chán ngán
ở đời vị lai, cho nên gọi là Tu chán ngán; duyên với Diệt-Đạo đế là sự
đáng vui mừng mà chuyển, cho nên không gọi là có thể chán ngán.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 196 803  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Có lúc Diệt-Đạo trí hiện rõ ở trước mắt, không đoạn phiền
não mà cũng có thể Tu chán ngán, như ở trong Tu đạo-đạo Vô học, lúc
Diệt trí-Đạo trí lìa nhiễm thì tất cả là đạo gia hạnh-giải thoát-thắng tiến,
và ngay lúc ấy dùng hai trí này luyện căn-tu xen lẫn Tĩnh lự, lúc dẫn dắt
phát khởi các Thông, các Vô ngại giải, Vô sắc-Giải thoát, và các công
đức như Niệm trú…, cũng có thể Tu chán ngán mà không phải là có thể
chán ngán, vì sao trong này không nói?
Đáp: Cũng cần phải nói mà không  nói đến thì nên biết là nghĩa
này có khác.
Có người nói: Trong này nói đến nghĩa quyết định, đó là Diệt trí-
Đạo trí đoạn các phiền não, lúc đạo vô gián thì quyết định có thể có thể
tu Khổ trí-Tập trí, chỉ là chưa từng đạt được mà hiện rõ trước mắt; lúc
khác thì không nhất định, hoặc là đa õ từng đạt được, hoặc là chưa từng
đạt được, nếu là đã từng đạt được  thì không có thể tu, vì thế cho nên
không nói.
Có người nói: Trong này nói đến pha àn vị đầu tiên chứ không nói
đến những phần vị khác.
Có người nói: Trong này tùy theo tướng hiển bày của phần vị ấy
để nói đến điều chủ yếu của nó, vì thế cho nên không nói đến tu chán
ngán của những phần vị khác.
Hỏi: Nếu Sự có thể lìa bỏ thì đó là Tu chán ngán chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có Sự có thể lìa bỏ mà không phải là Tu chán ngán, đó là Diệt-
Đạo nhẫn đoạn các phiền não. Đây là chưa lìa nhiễm cõi Dục, Diệt-Đạo
pháp nhẫn và tất cả Diệt-Đạo loại nhẫn ở trong Kiến đạo. Như vậy các
Nhẫn là có thể lìa bỏ, bởi vì đoa ïn phiền não; không phải là Tu chán
ngán, bởi vì lúc bấy giờ chỉ tu về hành tướng vui mừng.
2. Có Sự là Tu chán ngán mà không phải là có thể lìa bỏ, đó là
Khổ-Tập nhẫn trí không đoạn các phiền não. Đây là đã lìa nhiễm cõi
Dục, Khổ-Tập pháp nhẫn và tất cả Khổ-Tập trí trong Kiến đạo, ở trong
Tu đạo…trừ ra đạo đích thực đoạn phiền não, còn lại Khổ-Tập trí. Như
vậy Nhẫn trí là Tu chán ngán, bởi vì lúc bấy giờ có thể tu về hành tướng
chán ngán; không phải là có thể lìa bỏ, bởi vì không đoạn phiền não.
Hỏi: Có lúc Diệt-Đạo trí hi ện rõ ở trước mắt, không đoạn phiền
não, cũng Tu chán ngán mà không pha ûi là lìa bỏ, như ở trong Tu đạo-
đạo Vô học, lúc Diệt trí-Đạo trí lìa nhiễm thì tất cả là đạo gia hạnh-giải
thoát-thắng tiến, và ngay lúc ấy dù ng hai trí này luyện căn-tu xen lẫn
Tĩnh lự, lúc dẫn dắt phát khởi các Thông, các Vô ngại giải, Vô sắc-Giải
804 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
thoát, và các công đức như Niệm trú…, cũng Tu chán ngán mà không
phải là lìa bỏ, vì sao trong này không nói?
Đáp: Cũng cần phải nói mà không  nói đến thì nên biết là nghĩa
này có khác.
Có người nói: Trong này nói đến nghĩa quyết định, đó là các phần
vị ấy thì Khổ trí-Tập trí quyết định Tu chán ngán, Diệt trí-Đạo trí thì
không quyết định, bởi vì lúc đã từng đa ït được hiện rõ ở trước mắt thì
không Tu chán ngán.
3. Có Sự có thể lìa bỏ mà cũng Tu chán ngán, đó là Khổ-Tập
nhẫn trí và Diệt trí-Đạo trí đoạn các  phiền não. Đây là chưa lìa nhiễm
cõi Dục, Khổ-Tập pháp nhẫn và tất cả Khổ-Tập loại nhẫn ở trong Kiến
đạo, ở trong Tu đạo là đạo đích thực đoạn phiền não, và Khổ-Tập-Diệt-
Đạo trí. Như vậy Nhẫn trí là có th ể lìa bỏ, bởi vì đoạn các phiền não;
cũng Tu chán ngán, bởi vì lúc ba áy giờ có thể tu về hành tướng chán
ngán.
4. Có Sự không phải là có thể lìa bỏ mà cũng không phải là Tu
chán ngán, đó là Diệt-Đạo nhẫn trí không đoạn các phiền não. Đây
là đã lìa nhiễm cõi Dục, Diệt-Đạo pha ùp nhẫn và tất ca û Diệt-Đạo trí ở
trong Kiến đạo, ở trong Tu đạo… lúc Diệt-Đạo trí đã từng đạt được hiện
rõ ở trước mắt. Như vậy Nhẫn trí không phải là có thể lìa bỏ, bởi vì
không đoạn phiền não; cũng không phải là Tu chán ngán, bởi vì lúc bấy
giờ không tu về hành tướng chán ngán.
Từ trước đến đây đã nói đến các câu sai biệt chán ngán-lìa bỏ và
Tu, đều dựa vào phần vị sai biệt của Pháp-Loại-Nhẫn-Trí vô lậu, không
dựa vào pháp nào khác là bởi vì tiếp theo Sự thông đạt-biết khắp ở phần
trước, bởi vì thông đạt-biết khắp chỉ là vô lậu.
Hỏi: Như đã nói thì Thể tánh của  chán ngán là gì, là không có
tham hay là Tuệ? Giả sử như vậy th ì có gì sai? Nếu là không có tham
thì văn này đã nói nên hiểu thế nào? Như nói: “Có Sự có thể chán ngán
mà cũng có thể lìa bỏ, đó là Khổ- Tập nhẫn trí đoa ïn các phiền não.”
Trong chương Tạp Uẩn đã nói lại hiểu thế nào? Như nói: “Thế nào là
luyện tập chán ngán lìa bỏ tham? Đó là Vô học chán ngán tương ưng
với không có tham-không có sân-không có si.” Không phải là không có
tham cùng với không có tham mà có thể nói là tương ưng, bởi vì tự tánh
không tương ưng với tự tánh. Nếu là Tuệ thì ngay trên đây đã nói lại
hiểu thế nào? Như nói: “Thế nào là luyện tập chán ngán lìa bỏ tham?
Đó là Vô học chán ngán tương ưng với không có tham -không có sân-
không có si.” Không có si tức là Tuệ, không phải là Tuệ cùng với Tuệ
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 196 805  
www.daitangkinh.org  
mà có thể nói là tương ưng, nguyên cớ như trước.
Đáp: Trong này có người nói: Thể tánh của chán ngán là không
có tham.
Hỏi: Nếu như vậy thì văn này đã nói nên hiểu thế nào? Như nói:
“Có Sự có thể chán ngán mà cũng có thể lìa bỏ...”
Đáp: Trong đó nói đến pháp xen tạp với chán ngán gọi là chán
ngán, nghĩa là không có tham tương ưng với Nhẫn trí nói là Nhẫn trí.
Hỏi: Trong chương Tạp Uẩn đã nói lại hiểu thế nào? Như nói:
“Thế nào là luyện tập chán ngán lìa bỏ tham?...”
Đáp: Văn ấy nên đưa ra cách nói này, chán ngán tương ưng với
căn thiện không có sân-không có si, không cần phải nói là không có
tham mà nói đến thì nên biết là người tụng thuận theo xu thế tăng thêm
của ngôn từ.
Có người đưa ra cách nói này: Thể tánh của chán ngán là Tuệ.
Hỏi: Nếu như vậy thì ngay trong chương Tạp Uẩn đã nói lại hiểu
thế nào? Như nói: “Thế nào là luyện tập chán ngán lìa bỏ tham?...”
Đáp: Văn ấy nên đưa ra cách nói này, chán ngán tương ưng với
căn thiện không có tham-không có sân, không cần phải nói là không
có si mà nói đến thì nên biết là người tụng thuận theo xu thế tăng thêm
của ngôn từ.
Lời bình: Nên nói Thể tánh của chán ngán khác biệt, không phải
là không có tham, không phải là Tuệ.
Có tâm sở pháp riêng biệt gọi là chán ngán tương ưng với tâm,
ngay loại này thâu nhiếp ở trong đó lại có những tâm sở pháp khác.
Trong này nói đến chán ngán thuộc vô lậu, nhưng cũng có chán ngán
thuộc hữu lậu, đó là tương ưng với quán Bất tịnh-Trì tức niệm, Niệm
trú-ba Nghĩa quán-bảy Xứ thiện, Noãn-Đảnh-Nhẫn-Thế đệ nhất pháp,
Thế tục trí Hiện quán biên trong Kiến đạo, hành tướng như bệnh hoạn-
như ung nhọt-như mũi tên trong Tu đạo…, Tĩnh lự-Vô lượng-Vô sắc-Giải
thoát-Thắng xứ-Biến xứ… Nói rộng ra vượt quá bốn biển lớn, nay nói
tóm lược bấy nhiêu mà thôi. Như vậy, Sự chán ngán-đã chán ngán, nên
làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc chán ngán mà không phải là đã chán ngán, đó là chán
ngán thuộc vô lậu.
2. Có lúc đã chán ngán mà không phải là chán ngán, đó là trừ ra
chán ngán thuộc hữu lậu, còn lại pháp hữu lậu.
3. Có lúc chán ngán cũng đã ch án ngán, đó là chán ngán thuộc
thế tục.
806 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
4. Có lúc không phải là chán ngán cũng không phải là đã chán
ngán, đó là trừ ra chán ngán thuộc vô lậu, còn lại pháp vô lậu.
Hỏi: Nếu duyên với tất cả các pháp làm hành tướng Vô ngã, thì
nên nói là tác ý thuộc tướng vui m ừng, hay là tác ý thuộc tướng chán
ngán? Giả sử như vậy thì có gì sai? Nếu là tác ý thuộc tướng vui mừng,
thì tại sao cũng duyên với sự chán ngán mà chuyển? Nếu là tác ý thuộc
tướng chán ngán, thì tại sao cũng duyên với sự vui mừng mà chuyển?
Đáp: Nên đưa ra cách nói như va äy: Là tác ý thuộc tướng vui
mừng.
Hỏi: Nếu như vậy thì tại sao c ũng duyên với sự chán ngán mà
chuyển?
Đáp: Lúc ấy người tu Quán hành rất thích quán sát đối với sự
đáng vui mừng, tuy duyên với vô lượng s ự đáng chán ngán mà sinh ra
vui mừng như cũ; như ở trên đống tiền bằng đồng đặt vào một đồng tiền
vàng, bởi vì đồng tiền vàng mà đối với đống tiền bằng đồng ấy vẫn sinh
tâm vui thích, ở đây cũng như vậy.
Hỏi: Nếu pháp làm Nhân cho pháp ấy, thì có lúc pháp này không
làm Nhân cho pháp ấy chăng?
Đáp: Không có lúc nào không phải là Nhân.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Vì ngăn chặn ý của người ngu đối với pháp Nhân duyên
chấp rằng tánh của Nhân duyên không phải là có thật, hiển bày về Thể
tánh của pháp Nhân duyên là có thật, cho nên soạn ra phần luận này.
Có người nói: Trong này dựa vào một  Nhân mà soạn luận, đó là
nhân Tương ưng, bởi vì nhân Tương ưng và các tâm-tâm sở pháp cùng
giữ lấy một duyên luôn luôn không tách rời nhau, và bao gồm cả ba
đời.
Có người nói: Trong này dựa vào hai Nhân mà soạn luận, đó là
nhân Tương ưng-Câu hữu, bởi vì hai Nhân này cùng bao gồm cả ba đời
và không tách rời nhau.
Có người nói: Trong này dựa vào ba  Nhân mà soạn luận, đó là
nhân Tương ưng-Câu hữu-Dị thục, bởi vì ba Nhân này có công năng thù
thắng đối với quả và bao gồm cả ba đời.
Có người nói: Trong này dựa vào bốn Nhân mà soạn luận, đó là
nhân Tương ưng-Câu hữu-Dị thục-Năng tác, bởi vì bốn Nhân này bao
gồm cả ba đời.
Có người nói: Trong này dựa vào năm Nhân mà soạn luận, đó là
trừ ra nhân Biến hành.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 196 807  
www.daitangkinh.org  
Có người nói: Trong này dựa vào sáu Nhân mà soạn luận.
Hỏi: Nếu pháp chưa đến phần vị  đã sinh thì không có thể làm
nhân Đồng loại-Biến hành, đến phần vị  đã sinh thì mới có thể làm
Nhân, làm sao dựa vào sáu Nhân mà soạn luận, lại nói là không có lúc
nào không phải là Nhân?
Đáp: Đây là dựa vào phần vị cuối cùng mà nói, nghĩa là pháp
vị lai đến phần vị đang sinh nhất định có thể làm Nhân, từ đây về sau
không có lúc nào không phải là Nhân, cho nên đưa ra cách nói này.
Hỏi: Nếu như vậy thì Đẳng vô gián duyên vì sao không đưa ra
cách nói này, như nói: Nếu pháp làm Đẳng vô gián cho pháp ấy, thì có
lúc pháp này không làm Đẳng vô gián cho pháp ấy chăng?
Đáp: Nếu lúc pháp này chưa đến đã sinh.
Hỏi: Nhưng tâm-tâm sở pháp thuận theo làm Đẳng vô gián duyên,
đến phần vị đang sinh nhất định có thể làm duyên, vì sao không nói
không có lúc nào không phải là Đẳng vô gián?
Đáp: Điều ấy cũng cần phải đưa  ra cách nói này mà không nói
đến, thì nên biết là muốn hiển bày các loại văn từ-các loại giải thích,
để chỉnh lý đối với nghĩa khiến cho dễ dàng hiểu được.
Lại nữa, muốn nêu rõ hai môn loại-hai phương thức-hai tầng bậc-
hai hình ảnh-hai ánh sáng-hai ngọn đuốc hiển bày rõ ràng lẫn nhau, bởi
vì như pháp này-pháp ấy cũng như vậy, như pháp ấy-ph áp này cũng
như vậy. Nghĩa còn lại nói rộng ra  như phẩm luận về Trí trong chương
Tạp Uẩn.
Hỏi: Nếu pháp làm Đẳng vô gián cho pháp ấy, thì có lúc pháp này
không làm Đẳng vô gián cho pháp ấy chăng?
Đáp: Nếu lúc pháp này chưa đến đã sinh.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Vì ngăn chặn ý  của người ngu đối với pháp Đẳng vô gián
duyên chấp rằng pháp Đẳng vô gián duyên không phải là có thật, hiển
bày về Thể của pháp Đẳng vô gián duyên là có thật, cho nên soạn ra
phần luận này.
Hỏi: Nếu lúc pháp này chưa đến  đã sinh thì pháp này là gì, là
trước hay là sau? Hay là pháp trước chưa đến phần vị đã sinh, thì không
làm Đẳng vô gián cho pháp sau, nếu đến thì làm Đẳng vô gián chăng?
Hay là pháp sau chưa đến phần vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián
cho pháp trước, nếu đến thì làm Đẳng vô gián chăng? Như Thế đệ nhất
pháp sinh khởi Khổ pháp trí nhẫn, vì Thế đệ nhất pháp chưa đến phần
vị đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho Khổ pháp trí nhẫn, nếu đến
808 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 
thì làm Đẳng vô gián chăng? Hay vì Khổ pháp trí nhẫn chưa đến phần vị
đã sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho Thế đệ nhất pháp, nếu đến thì
làm Đẳng vô gián chăng? Nếu pháp trước chưa đến phần vị đã sinh, thì
không làm Đẳng vô gián cho pháp sau, nếu đến thì làm Đẳng vô gián,
phần vị có tâm thì có thể như vậy, phần vị không có tâm thì làm sao có
thể như vậy? Như tiến va øo Định Vô tưởng, hoặc la ø Định Diệt tận trải
qua bảy ngày đêm, hoặc là trải qua thời gian dài; nếu tâm tiến vào Định
đến phần vị đã sinh, lập tức làm Đẳng vô gián cho tâm rời khỏi Định,
thì lẽ ra tâm rời khỏi Định ở sát-na thứ hai đã sinh. Nguyên cớ thế nào?
Bởi vì nếu pháp làm Đẳng vô gián duyên cho pháp ấy mà giữ lấy pháp
ấy làm quả, thì chắc chắn không có pháp nào, hoặc là các hữu tình nếu
dùng cỏ thuốc-hoặc là chú thuật, hoặc là Phật-hoặc là Độc giác, hoặc
là Thanh văn đến bậc cuối cùng, c ó thể có năng lực ngăn cản pháp ấy
khiến cho sát-na thứ hai không được sinh khởi, vậy thì hai Định không
có tâm sẽ vĩnh viễn không dấy khởi. Nếu pháp sau chưa đến phần vị đã
sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho pháp trước, nếu đến thì làm Đẳng
vô gián, lẽ nào không phải Khổ pháp trí nhẫn chưa đến phần vị đã sinh,
cũng làm Đẳng vô gián cho Thế đệ nhất pháp hay sao?
Đáp: Trong này có người nói: Nếu pháp trước chưa đến phần vị đã
sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho pháp sau, nếu đến thì làm Đẳng
vô gián.
Hỏi: Nếu như vậy thì phần vị có ta âm thì có thể như vậy, phần vị
không có tâm thì làm sao có thể như vậy?
Đáp: Trong này nói đến phần vị  có tâm chứ không nói đến phần
vị nào khác.
Có người nói: Giả sử dựa vào phần vị không có tâm mà nói thì
cũng không có lỗi, nghĩa là lúc tâm tiến vào Định hiện rõ ở trước mắt,
cùng lúc chọn lấy quả của các Định và quả của tâm rời khỏi Định, cũng
mang lại quả của Định trong sát-na đầu tiên, các Định trong sát-na sau
và lúc tâm rời khỏi Định sinh khởi, mang lại quả chứ không phải là chọn
lấy quả, bởi vì trước đã chọn lấy.
Lời bình: Người ấy không nên đưa ra cách nói này. Nguyên cớ thế
nào? Bởi vì không có Đẳng vô gia ùn duyên lúc khác chọn lấy quả mà
lúc khác mang lại quả, cho nên nếu lúc này chọn lấy quả thì ngay lúc
này mang lại quả.
Có người đưa ra cách nói này: Nếu pháp sau chưa đến phần vị đã
sinh, thì không làm Đẳng vô gián cho pháp trước, nếu đến thì làm Đẳng
vô gián.
SỐ 1545 - LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA, Quyển 196 809  
www.daitangkinh.org  
Hỏi: Lẽ nào không phải Khổ pháp trí nhẫn chưa đến phần vị đã
sinh, cũng làm Đẳng vô gián cho Thế đệ nhất pháp hay sao?
Đáp: Lúc bấy giờ tuy làm Đẳng vô gián cho Thế đệ nhất pháp mà
không phải là Đẳng vô gián duyên, nếu đến phần vị đã sinh thì cũng gọi
là Đẳng vô gián, cũng gọi là Đẳng vô gián duyên.
Như Đẳng vô gián và Đẳng vô gián duyên, như vậy Đẳng vô gián
có Đẳng vô gián, Tương tục có Tương tục cũng như vậy. Nghĩa còn lại
nói rộng ra như phẩm luận về Trí trong chương Tạp Uẩn.


„
810 BỘ TỲ ĐÀM 6
 
 


LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
Dịch giả: Thích Tịnh Hạnh
Mở nguồn Việt